We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 12 November 2012

Bò (VC) :Giữ Tù hay Tù Giữ Bò

Con Bò

Trại còn mười hai tù binh, mười sáu công an, hơn bốn trăm con bò. Công an giữ tù. Tù giữ bò. Cứ như thế mà thống trị nhau. Nhưng luôn luôn cái gì ít thì có giá, ở đây tù ít hơn công an, bò nhiều hơn tất cả, cho nên công an gọi tù là các Bác hoặc các Bố, còn bò thì cứ bị giết thịt hoài! Từ trước tới nay công an vẫn gọi tù là anh xưng tôi đồng hạng, dù người tù ấy bảy, tám chục tuổi còn công an mới mười chín, hai mươi! Kể ra vai vế thì phải là ông cháu, phúc đức dày phải là cụ cháu. Nhưng thời này phúc đức rất là mỏng! Anh tôi suốt thành quen miệng và quen tai, kẻ nói không ngượng miệng người nghe cũng không còn chói tai. Con cháu cũng không thấy mình là sách mé hỗn láo vô phép mất dạy. Cha ông cũng không thấy phiền muộn vì bị xúc phạm. Chẳng qua là cái chính sách đàn áp khống chế nó xiềng xích đầu óc người ta lại thành quen rồi. Bọn khủng bố còn tập cho tù nhân chịu đựng cái sức ép lún xuống một độ sâu hơn nữa, chúng lên lớp rằng chính sách cải tạo là một chính sách giáo dục, trại giam là trường học, tù nhân là học trò, còn chúng tự nhận là...
thầy! Chúng nói hoài nói mãi suốt mấy chục năm, nói từ Bắc vô Nam, từ Nam ra Bắc, ai nói khác đi chúng bắt bẻ, buộc tội ngay. Miết rồi quen, vợ con họ hàng ở nhà có ai hỏi cũng quen miệng trả lời nhà tôi đi... học, bố cháu đi học, chú ấy, bác ấy đi học... thậm chí đến các hãng thông tấn, các tờ báo quốc tế có khi cũng dùng những từ ngữ giả mạo đó để mô tả một tội ác giam cầm đày đọa khủng bố con người kinh khủng nhất. Trong tù có anh cũng dễ dãi hoặc dại khờ tưởng mình đi học chứ không phải đi tù! Có người, có lúc, có nơi... cũng là do quá nhu nhược vì bị khống chế tinh thần mà như vậy thôi. Thế nhưng từ ngày chúng thả rất đông chỉ còn giữ lại hơn trăm cho cả nước thì nhiều cái phải thay đổi. Phân trại K2 biến thành chuồng bò. Trại này trước kia có thời đã nhốt tới một ngàn tư, trong nhiều năm chúng thả dần hoặc đưa đi trại khác, số tù binh giảm xuống chỉ còn mười hai người. Cái thay đổi đầu tiên là cách xưng hô, từ trưởng trại gọi bố trước rồi đến tất cả đám cán bộ bên dưới như được mặc nhiên hợp thức hoá, đều bố bố con con hoặc bác bác tôi tôi... Khởi đầu là:
Ợ Trong khi chờ quyết định của Trung ương về trường hợp của các bác bị sót tên, ban giám thị nhờ các bác coi giùm... đàn bò!

Thế là mười hai bố sĩ quan cấp tá tù binh biến thành dân chăn bò hết. K trưởng còn nói:
Ợ Các bác muốn ở chỗ nào thì ở, muốn ăn gì cứ lấy ăn, chắc cũng không lâu đâu, ít bữa nữa rồi các bác cũng về hết thôi.

Trong khu trại giam không canh gác ấy các bác tuỳ ý chọn chỗ nào mát, chỗ nào thích thì mắc võng, căng mùng, giải chiếu nằm... Xoài, đu đủ, chuối, rau, quả... các bác vừa ăn vừa phá. Các bác còn đùa với nhau:
Ợ Ở tù lâu đến nỗi lên chức bác tù, bố tù rồi thì không còn gì để mà ẪbìnhỮ nữa.

Ợ Nó gọi mình bằng thằng chán rồi bây giờ mới gọi bằng bố, đúng là lũ con bất hiếu.

Ợ Nó gọi bằng bố nhưng lại bắt bố đi chăn bò, thêm một tội bất hiếu nữa.

Ợ Trước mặt bố bố con con kiếm điếu thuốc thẳng hút chứ sau lưng nó vẫn chửi mình là thằng tù đấy.

Ợ Ịương nhiên, nói dại nếu đang đêm có lệnh trên bảo chúng đem các bố đi bắn thì chúng nó cũng sốt sắng làm. Bố thông cảm!

Ợ Thế cho nên nói năng thế nào thì nói, vấn đề không có gì thay đổi.

Ợ Thôi cũng được, mình còn đang ở tù, nó có lễ phép giả bộ cũng được, mình biết thế và đừng có cảm động sảng mất lập trường chính nghĩa... Miễn sao mình thoải mái mà sống cho qua ngày. Vấn đề không giản dị đâu, không phải là sót tên đâu, có một ẩn ý gì đây, bọn cóc cắn ở dưới này chúng đâu có biết gì cho nên cũng phải nói đại là sót tên cho nó xuôi tai, chứ thực ra bọn đầu sỏ chúng nó có tính đến một âm mưu gì đó.

Một nhà phân tách tình hình, tay cầm roi bò vung lên cao khua khua như cowboy Texas, phán:
Ợ Các bác thông cảm, thả hết các bác ra, chúng nó đâu còn gì để mặc cả, cũng phải giữ lại một cái gì đó để làm giá chứ! Thử hỏi bây giờ, trong cái nông nỗi này, vườn không nhà trống, bạn bè năm châu sau nhân nghĩa miệng nay đều lảng tránh, nhà cháu nhảy cỡn lên làm anh hùng mãi cũng đã thấy là vô bổ, bèn phải thực tế đi tìm những cái gì cụ thể một tí, mà đi tìm ở đâu bây giờ, tìm chỗ nào thì cũng phải đổi chác, ngay khi đàm phán cũng đã cần phải có cái gì làm quà tặng cơ mà, thế cho nên các bác bị giữ lại là để có cái mà làm giá, các bác sẽ là quà tặng, là vật trao đổi, là con tin không chừng... hà hà... tiền không đấy!

Một ý kiến rất tếu:
Ợ Dằn chảo hả?

Ợ Chứ sao! Tổng bí thư nói thả hết là một nhẽ, còn những tên bí thư khác, tên bộ nội vụ, anh em chúng nó phải tính đến đường cùng của chúng, thả hết để mà tay không à? Thế cho nên phải sót tên một mớ, các bác số đen, tử vi của các bác chưa hết sao triệt, có lẽ vẫn còn la hầu, kế đô... gì đó nằm ngăn cản nên các bác chưa về, âu cũng là cái số... Coi như mấy anh em mình còn bị kẹt lại là do tử vi!

Ợ Chúng nó dồn hết các nơi về đây, mỗi nơi Ẫsót tênỮ mấy chục, gom về bên K1 cả rồi, nghe đâu hơn trăm, gồm tướng tá...

Ợ Như vậy hơn triệu anh hùng nay còn hơn trăm gom về đây... Cả chế độ với chính phủ và quân đội, chính nghĩa và hùng mạnh, sau mười bốn năm sụp đổ và tứ tán, nay còn lại vỏn vẹn trong cái chai này!

Ợ Coi như... số của mình xấu nên bị kẹt lại, còn ở tù, trong khi tất cả các anh em khác đã thoát, nhưng hãy nghĩ là chúng ta bây giờ là phần đọng lại của cả một tập thể, chúng ta là những gì còn lại của cái đã mất, chúng ta là đại diện, là biểu tượng của chế độ chúng ta. Ngay giữa lòng cái xã hội khốn nạn này, giữa nơi giam cầm này, giữa chốn rừng thiêng nước độc này, giữa cảnh nhục nhã khốn khổ này, giờ đây, chúng ta hãy tỉnh táo mà nhìn nhận vai trò hiện hữu của chúng ta. Trong đau thương! Cũng giờ đây, những chiến hữu khác, kẻ thì đã chết, kẻ thì đã ra tù nhưng đang phải ẩn nhịn cơ cực nơi âm thầm nào đó, cũng có một số đã thoát nạn và đang yên bình xa xôi... Nhưng, vâng, nhưng chỉ có những kẻ số xui này, chỉ những kẻ bị kẹt này, chỉ những con tin này, chỉ những kẻ làm món hàng trao đổi này, chỉ những thứ bị Ẫdằn chảoỮ này là đang còn ở đây. Vâng chỉ còn chúng ta đây thôi ở trong cái chai. Chúng ta là những người tù binh cuối cùng.

Ợ Và có thể là những tù binh vô thừa nhận!

Cho đến bây giờ thì vấn đề đã rõ ràng. Ịến lúc phải giải quyết thôi không còn câu giờ thêm được nữa, không còn làm cao làm giá gì với ai được nữa, không còn giữ được nữa thì phải thả, không còn áp chế như trước được nữa thì phải nhân nghĩa Ẫbà tú đểỮ! Một bác già phát biểu:
Ợ Thằng chó nào cũng đểu cả, ngoài miệng đứa nào cũng nhân nghĩa. Thằng bỏ tù mình cũng nói Ẫđất này nhân nghĩaỮ, thằng đồng minh với mình cũng nói Ẫnhân quyềnỮ, nhưng chẳng thằng nào thật lòng với các bác cả đâu. Ịứa nào cũng có chính sách của chúng nó, mà chính sách thì tùy quyền lợi và nhu cầu mà chúng hoạch định ra, thế cho nên khi cần bỏ các bác thì chúng trói gô các bác lại bỏ đấy cho quân thù vào hốt, xong sẽ la ầm lên đòi hỏi nhân quyền; khi cần giết thì chúng giết các bác không chút nương tay nhưng khi không giữ được thì chúng thả ra và nói nhân nghĩa... Các bác cứ việc ở tù tỉnh bơ, ở tù đã đến nước này thì còn cần chó gì nữa! Thử hỏi bây giờ chúng làm gì được mình nào? Làm gì tôi? Làm chó gì tôi. Tận Ẫcùng bằng sốỮ rồi là hết. Lâu cứt trâu hóa bùn...

Những năm tháng sau cùng của đời tù binh chúng tôi trở thành dân chăn bò chuyên nghiệp. Họ ẪnhờỮ thì các bác ẪgiúpỮ! Lúc đầu tưởng chỉ ẪgiúpỮ mấy ngày, sót tên dò lại mấy hồi, ai ngờ dò lại hơn ba năm nữa chưa thấy tên đâu, mấy ngày của cộng sản hóa ra mấy năm. Ịược cái suốt mười mấy năm nghe chúng xạo thành nghe quen, nó muốn nói gì thì nói, các ẪbácỮ cũng không chấp. Những ngày đầu các vị cao bồi già cũng bối rối trong cái Ẫcương vịỮ lạ mới này. Hơn bốn trăm con bò thả ra rừng trong giờ hành chánh, các bác chia nhau đi bao quanh đàn bò, nếu con nào đi lạc ra ngoài vòng phải đuổi nó vào đàn. Ịến giờ nghỉ lùa chúng về chuồng. Những ngày đầu vào nghề thì lo lắm vì bò là loại động vật nổi tiếng là... ngu, chúng đi lang thang bất kể qui định trại giam, cho nên có ngày lạc mất gần trăm con, các bác già lo lắng đi các ngả rừng tìm bò lạc. Có bác còn tính nhẩm mỗi con trung bình ba chỉ vàng, mười con ba lạng, trăm con ba chục lạng...
chia đều cho mười hai bác, mỗi bác ngót ba ẪcâyỮ, gom nhau mà đền nhà nước. Ịi tù phải đăng ký, ghi tên tuổi, đóng tiền ăn, mang theo tiền tiêu, thuốc men, quần áo chăn mùng mền... đủ dùng cho một tháng Ẫhọc tậpỮ. Ịến năm thứ mười bảy vẫn chưa mãn... khoá học, lại để mất bò thì phải đền. Tài sản xã hội chủ nghĩa là Ẫthiêng liêngỮ, không ai được đụng tới, không được để mất mát, mọi người đều phải bảo vệ nó. Nghe chưa? Người ta nói ra rả từ năm 75 như thế. Cũng may là đến chiều tối lũ bò lạc lục tục từ các ngả trong rừng lần lượt về đủ cả. Có bác già khen lũ bò này khôn, biết tìm đường về chuồng. Cũng có bác già thì chửi chúng Ẫngu như bòỮ, thoát thân tự do trong rừng không ở lần về chuồng bị nhốt rồi ra còn bị giết thịt nữa. Người khen, kẻ chê, chẳng biết thế nào là đúng sai nữa.

Có bác già kinh nghiệm thì nói:
Ợ Bò cũng sợ rừng và đêm tối, như...

Ợ Như gì?

Ợ Như người ta.

Người ta có sợ hãi hay không thì còn tranh cãi và tuỳ, nhưng người ta khôn bỏ mẹ, những ngày sau đó các bác không rỗi hơi đi tìm bò lạc nữa, thây kệ, chúng sẽ tự tìm về. Ịúng như vậy, mỗi buổi chiều lùa bò về thấy thiếu các bác đóng cửa chuồng, đi tắm rửa nghỉ ngơi, lát sau trời nhá nhem tối lũ bò lạc kéo về nằm lền khên trước cổng chuồng kêu rống inh ỏi. Bác tổ trưởng nói:
Ợ Lúc nãy thiếu mười lăm con, ông nào rảnh chịu khó ra mở cổng chuồng cho chúng vào xem có đủ không giùm tôi chút.

Một bác gắt gỏng:
Ợ Thây kệ nó, ai bảo về trễ ở ngoài ráng chịu, phạt không cho vào nữa.

Một bác già khác:
Ợ Lúc vào chuồng chúng cũng chen nhau giành giật mà vào, về trễ không được vào thì kêu rống lên. Nhốt trong chuồng giống như ở tù sao chúng lại đòi vào nhỉ?

Một bác nằm đong đưa trên võng hút thuốc lá thở khói mù mịt:
Ợ Ờ, kỳ nhỉ, sao lũ bò lại đòi vào chuồng nhỉ?

Ợ Ông hỏi đểu bỏ mẹ đi ấy!

Ợ Người ta chửi bò ngu, cũng đúng, nhưng có khi ngu si dốt nát không biết suy nghĩ gì cả hóa ra lại có... hạnh phúc.

Ợ Vậy hạnh phúc là cái gì trong cõi người ta?

Hôm sau bên trại K1 đem sang đổi một con bò kéo xe. Con bò kéo xe cũ rất lớn và rất hung dữ, nó mới húc chết một người nên không ai dám đánh xe bò cả. Ịó là một con bò lớn nhất trại, nó lại rất đẹp, bộ lông màu huyết dụ nên tù đặt cho nó cái tên là Thắm. Và lập tức cả trại gọi nó bằng cái tên ấy. Ở trại tù có nhiều tiếng do tù đặt ra rồi trở thành tiếng chính thức dùng trong trại. Trưởng trại là một anh trung tá công an mới học lớp ba nhưng anh ta rất ma mãnh, anh ta nói với đám nhân viên dưới quyền:
Ợ Tụi bay đừng lý luận cãi vã với mấy bố già, nói không lại họ đâu, kể cả lý luận về chính trị chủ nghĩa cộng sản, sẽ bị họ vặn hỏi là bí đấy. Tao chủ trương nhốt, mấy bố ấy lộn xộn là nhốt, thế là sợ.

Anh ta rất lưu manh, cả khu rừng lá bị anh ta cho tù vào cưa hết cây đem bán lấy tiền một phần bỏ túi, một phần xây cất lung tung lấy tiếng với cấp trên là biết làm kinh tế sinh lời nhiều của cải cho nhà nước. Anh ta lập những trại nhỏ vào sâu trong rừng để tiện đường khai thác gỗ qua mặt kiểm lâm. Trại có các phân trại như K1, K2, K3... bây giờ bày ra những trại nhỏ vài ba cái nhà, đem máy điện vào thắp sáng trưng, đào ao đắp đập ngăn nước thành hồ, đắp đường... nhưng chưa biết đặt tên là gì, nghe tù gọi đó là K Mini, là Hồ Thiên Ân... anh ta chịu liền, thế là thành tên luôn, cả trại đều gọi như thế. Nhưng một công an lại hỏi Mini là gì, Thiên Ân là gì hả bố già? Một bố già bèn lấy bài mười mấy năm trước ra đọc: ỮMini là chữ của đế quốc, Thiên Ân là chữ của phong kiến, bậy, không nên dùng.Ữ Anh ta ngớ người ra một lát rồi lẩm bẩm ẪBây giờ còn phong kiến với đế quốc gì nữa hả bố?Ữ ẪÀ, nếu thế thì thôi.Ữ Cũng như chữ Ẫthăm nuôiỮ, lúc đầu họ không chịu, Ẫbộ nhà nước không nuôi nổi các anh hay sao mà gia đình phải nuôi, gia đình lên thăm gặp và Ẫđộng viênỮ tinh thần các anh thôi...Ữ Nhưng rồi chết đói nhiều quá mang tiếng với thế giới bèn phải để gia đình đi nuôi hàng tháng, lần nào cũng phải ẪthămỮ bằng gạo và mì, thịt, cá, tôm khô, lạp xưởng, bột ngọt... dùng cho đến kỳ ẪthămỮ tới. Do đó Ẫthăm nuôiỮ là thăm nuôi, tiếng gọi chính thức không né vào đâu được. Vì thế tù đặt tên con bò là Thắm thì nó phải được gọi là Thắm, tất cả, và cả chính con Thắm nữa, nó cũng phải nhận cái tên đó. Khi một bác già gọi ẪThắmỮ thì nó phải biết là bác gọi mình.

Hồi tháng trước cô Thủy nữ tù đánh xe bò từ K1 sang lấy phân, cô thì nhỏ người mảnh mai xinh xắn, con Thắm to lớn dềnh dàng ngang bướng vừa đi vừa rống, đến trước cổng chuồng bò cô hỏi một bác già:
Ợ Chú ơi chuồng bò ở đâu chú chỉ dùm cháu...

Ợ Cô hỏi chuồng bò...

Ợ Dạ, cháu đi lấy phân.

Ợ Biết, thấy đánh xe bò là biết đi lấy phân, nhưng cô hỏi chuồng bò ở đâu hả, nó ở trong túi tôi này...

Cô Thủy dậm chân xuống đất bành bạch:
Ợ Người ta phải xúc cho đủ một xe phân, sợ không kịp, mà chú còn nói rỡn...

Ợ Tại cô đứng ngay trước cổng chuồng bò rồi hỏi nó ở đâu...

Cô Thủy ngoái đầu nhìn vào trong cái cổng lớn:
Ợ Ịây là cổng trại mà...

Ợ À như vậy là cô chưa rõ đó thôi, phân trại này bỏ rồi, bây giờ làm nơi nhốt bò, nhà cửa trong đó rỡ đi hết rồi, vào trong đó mà lấy phân nhiều lắm.

Cô Thủy bẽn lẽn quay xe đi về phía cổng chuồng. Chừng mươi phút sau có tiếng kêu, người ta chạy vào thấy cô Thủy lăn lộn trên nền đất đầy phân, con Thắm thì dậm chân gầm gừ. Cô bị con Thắm húc vào bụng, cái đầu sừng đâm thành một vết bầm tím to bằng quả chanh. Người ta khiêng cô đi bệnh xá nhưng ngày hôm sau bụng cô chương lớn lên rồi mê man luôn cho đến khi chết. Từ hôm đó ai thấy con Thắm cũng sợ tránh xa, nghe nói nó bị cột lại đánh đòn nhiều lắm, những người thương cô Thủy đánh nó. Và nó được trả về đàn, đến lần các bác già chăn bò sợ. Chẳng lẽ ở tù mười bốn năm không chết, nay người ta về hết còn mình sót tên ở lại chờ... cho bò đá thì vô lý quá! Mà cũng đáng ngại lắm, thường những hoạn nạn nó hay tới vào những lúc bất ngờ, có khi khó khăn gian khổ trải qua hết rồi tưởng thoát, thế mà... họa vô đơn chí... năm phút cuối cùng của cuộc chiến mà chết thì đau... Năm phút cuối cùng của cuộc chiến trước bị đồng minh và lãnh đạo lừa phỉnh trói tay bỏ lại cho địch bắt làm tù binh vô thừa nhận... đã là đau, chẳng lẽ đau thêm lần nữa. Con Thắm đến chỗ nào, các bác lảng đi nơi khác, chẳng tội gì... Hình như anh chàng cũng buồn, nó lững thững đi theo đàn, nó nổi bật giữa đàn bò cỏ vì nó cao to hơn hẳn, màu lông thật đep, tướng đi chững chạc. Có lúc con Thắm lơ đãng đứng nhìn về một nơi xa xôi nào đó, có lúc nó uể oải gặm mấy cọng cỏ, cũng có khi nó đi lẻ một mình phía sau cùng của đàn. Nó là nơi cho bác già tổ trưởng đổ xuống những cơn nóng giận, bác già đưa ra cho toàn thể cácỮthành viênỮtrong tổ chăn bò một nguyên tắc kỳ cục: với lũ bò là phải nện, mỗi người phải có một cây gậy cầm sẵn nơi tay, con nào chậm chạp bướng bỉnh là phang ngay cây lên lưng lên đầu... tay phang miệng la hét dường như bác có nỗi niềm ấm ức gì đó trong lòng. Gặp con Thắm đủng đỉnh còn ăn đòn nhiều hơn:
Ợ Mày là quân giết người, là đồ sát nhân...

Các bác già khác đứng nhìn vị lãnh đạo mà lòng ái ngại, một nói:
Ợ Ịiên cả rồi...

Một khác vung roi đánh lung tung vào đàn bò, miệng cũng la hét:
Ợ Ịừng tưởng tao không biết đánh! Cũng đừng tưởng tao không biết chửi thề! Ịù má!

Lũ bò chạy cuống quýt! Các bác già khác đứng ngơ ngác nhìn! Ịêm đó có hai bác già uống rượu đế say khướt, nôn mửa tùm lum, hình như nửa đêm về sáng trong cơn mê có bác còn khóc thút thít như trẻ thơ. Ịêm không trăng sao, rừng Lá suối Lạnh, âm u và lạnh lẽo! Sáng sau các bác lùa bò tới một vùng cỏ trống và bằng phẳng cho chúng gặm cỏ. Hai bác già một ngồi một nằm dưới một tàn cây lớn trấn giữ không cho lũ bò lội qua suối. Cánh đồng mênh mông một màu trắng của loài bông cỏ. Một đàn bướm vàng nhiều vô số kể, từ đâu tới chập chờn trải rộng khắp cánh đồng. Mỗi con bướm chỉ nhỏ bằng móng tay, vàng, rực rỡ, đan lấy nhau thành một tấm thảm. Bác già ngồi nheo mắt nhìn ra xa:
Ợ Một nền mây trắng, bên trên lại trải thêm một giải tơ vàng.

Bác già nằm:
Ợ Thế còn đàn bò?

Ợ Chúng đang bơi trên biển trắng vàng.

Ợ Biển gì?

Ợ Ịể lim dim mắt lại chút nữa xem đã, biển gì nào, làm gì có biển vừa trắng vừa vàng...

Ợ Có chứ, biển mộng...

Ợ Xạo...

Ợ Trong một cơn mê sảng hồi bị sốt cấp tính có lúc tôi đã thấy mình chập chờn ngụp lặn trên một mặt biển như thế này...

Ợ À, mộng mị.

Ợ Nhưng là có thực.

Ợ Ờ, nhiều cái tưởng là không nhưng lại có thực, biết đâu đấy.

Hai con bê cái sóng đôi nhau gặm cỏ, cả hai cùng màu vàng nhạt. Theo sau là con Thắm. Một chú bò đực đến gần bèn bị con Thắm đuổi đánh. Bác già nằm, nhỏm ngay dậy, cả hai bác đều dõi theo cảnh đánh ghen:
Ợ Tới rồi.

Ợ Hoá ra chúng nó cũng biết yêu.

Ợ Hoá ra chúng nó cũng biết ghen.

Ợ Ghê thật.

Còn xảy ra nhiều lần nữa. Cứ có con đực nào đến gần là con Thắm đánh đuổi. Hai con cái tơ thì vẫn bình thản vô tình, coi như mình không can dự gì tới cái mâu thuẫn ngàn đời ấy.

Ợ Cậy to con lớn xác làm trùm thiên hạ.

Ợ Nhà độc tài độc quyền...

Ợ Tham.

Ợ Ích kỷ.

Chợt con Thắm cào cào hai chân trước mấy cái khiến những bụi cỏ bật rễ, rồi nó nhảy hai chân trước lên lưng một con bê tơ, con tơ này phải đứng khựng lại, sức nặng quá lớn của con đực Thắm làm cho con bê muốn quị xuống, trong khi ấy con tơ kia vẫn thản nhiên gặm cỏ kế bên. Nhưng rồi sau mấy cái xông xáo, con Thắm xìu xuống, cái sinh dục của nó đỏ hỏn lòng thòng như một giải cờ gặp nước. Con tơ thoát nạn tiếp tục đi bên con bạn, lững thững, gặm cỏ... Con Thắm chán chường theo sau... Hai bác già ngồi ngó kẻ bất lực.
Có những khi người ta muốn lật đổ một cái gì đó nhưng sức không đủ đành ngậm ngùi nhìn... Ẫnước chảy hoa trôiỮ. Buổi sáng hôm đó, con Thắm còn cố gắng nhảy thêm mấy lần nữa, khi thì với con cái này, khi thì với con cái kia, nhưng không lần nào thành công cả. Có lần còn thê thảm đến nỗi hai chân trước mới chỉ gác lên lưng con tơ thì đã tuột xuống ngay. Hai bác già lắc đầu:
Ợ Chấp nhận đau thương cho rồi.

Ợ Lực bất tòng tâm.

Ợ Ngày tàn của bạo chúa.

Ịến gần trưa các bác già lùa đàn bò về gần tới chuồng thì có hai công an ôm hai khẩu AK đi theo đội hình hàng ngang tiến tới in như trong bài tập tấn công. Có anh còn đi theo thế lom khom như đang xung trận thật sự. Anh ta lên đạn cái xoạch. Một bác già đứng lại hỏi:
Ợ Cán bộ làm cái gì thế?

Thiếu uý công an tên là Chức nói:
Ợ Bắn con Thắm?

Ợ Sao bắn nó?

Ợ Ban giám thị cho... làm thịt.

Bác già thở phào:
Ợ Tưởng cán bộ đi tấn công quân đế quốc bành trướng gì chứ, làm như đi trận thiệt ấy, thôi khóa an toàn lại, để lùa cả đàn vào chuồng rồi muốn bắn con nào thì bắn.

Nhưng anh ta không nghe, anh ta lăm lăm khẩu súng tiến đến gần con Thắm. Ịàn bò nối đuôi nhau vào chuồng, một bác già đứng đếm. Thiếu uý công an Chức chặn con Thắm lại bên hàng rào tre, con Thắm nhìn chăm chăm vào người công an và khẩu súng rồi nó đủng đỉnh gặm mấy cọng cỏ bên đường. Một bác già nói với một bác già bạn:
Ợ Mình tránh ra phía sau nó kẻo lỡ mang họa.

Ợ Ừa, mình đứng ngoài cuộc chiến...

Tên Chức giương súng lên nhắm ngay đầu con Thắm, chỉ cách mục tiêu chừng bốn mét, anh ta lấy thế đứng hai chân dạng ra... đùng, đùng, đùng... một bác già la lên:
Ợ Ba phát là báo động có tù trốn.

Tên Chức ẪđùngỮ thêm một phát nữa, bác già lại la lớn:
Ợ Bốn phát là báo động cháy. Coi chừng bên K1 nghe bắn lại tưởng bên này có tù trốn hay có hỏa hoạn họ kéo nhau sang bây giờ...

Tên Chức bắn thêm một phát nữa là năm, năm phát AK nhưng con Thắm vẫn đứng sững, máu me ròng ròng chảy xuống từ miệng, tai, cổ nó... và con Thắm chợt lầm lũi đi về hướng tên Chức, anh ta hoảng sợ bỏ chạy. Người công an kia nói:
Ợ Ịồng chí lui ra để tôi xử nó cho.

Con Thắm chậm chạp tách bầy, nó đi về phía khe suối cạn, hai người công an vẫn khư khư ôm hai khẩu súng đi theo sau nó trong một tư thế hết sức thận trọng. Hai con bê cái vẫn sánh đôi bên nhau bình an đi vào chuồng. Bác già lúc nãy chửi đổng:
Ợ Bố tiên sư quân bạc tình. Chớ hề ngoái đầu lại nhìn lấy một lần vĩnh biệt. Chúng làm như không hề biết, không hề nghe, không hề thấy...

Bác già kia đáp:
Ợ Bác thông cảm, chúng nó là súc vật không có ý thức.

Ợ Thế nếu là người thì sao?

Con Thắm bị lùa xuống một chỗ trũng, sau đó thêm một phát súng nổ nữa thì nó quị. Hai người công an đứng trên bờ nhìn xuống hồi lâu rồi một anh mới xách cái búa nhảy xuống. Anh ta nhắm ngay sọ con Thắm mà bổ, con vật chồm dậy đứng sững, người công an liệng búa nhảy vội lên bờ. Hai người lại đứng trên nhìn xuống con vật, lúc đó nó đã máu me cùng mình. Thêm một phát súng nữa con Thắm lại quị, người cầm búa nhảy xuống bổ nhát thứ nhì, con vật lại chồm lên đứng sững, lại vứt búa nhảy lên bờ. Cứ như thế cả thảy bốn lần bắn bốn lần bổ búa và cuối cùng thì con vật cũng chẳng vùng dậy được lần thứ năm. Một bác già làm tính nhẩm rồi tổng kết trận đánh như sau:
Ợ Chín viên đạn AK cộng với bốn búa kết liễu một kiếp kéo xe.

Chiều hôm đó các bác già được nhà bếp cấp phát thịt bò làm bữa cơm tối nhưng không có bác nào dám ăn. Các bác kiêng, sợ xui, vì nó là con bò húc chết người. Bèn cho hai anh công an có công lớn trong vụ hạ sát con Thắm. Hai anh này, một anh nấu thịt, một anh đạp xe ra chợ Sông Giêng mua rượu đế. Tối đó hai kẻ thắng trận được một bữa nhậu liên hoan mừng công hể hả mãi tới khuya còn khướt. Sáng sau một bác già cầm roi ra cổng đi thả bò, gặp Chức, bác hỏi:
Ợ Tối qua đạt yêu cầu?

Chức cười ngoác miệng tới mang tai:
Ợ Quá đã, quá đã.

Ợ ẪCũng đủ lãng quên đời...Ữ hả?

Ợ Mà sao các bố không ăn thịt bò...?

Ợ Ăn chứ, nhưng không phải lúc nào cũng ăn...

Ợ Các bố lạ nhẩy!

Bác già định nói gì đó nhưng không hiểu sao lại thôi. Bác đi một quãng chợt đứng lại vạch ống quần lên đến đùi, bác gãi gãi cái đầu gối mấy cái, rồi mới đi tiếp về phía những con bò.

Chuyện này có lẽ chẳng ai để ý tới và có lẽ cũng chẳng có ai còn nhớ tới. Thế nhưng không hiểu sao hình ảnh con Thắm tội nghiệp, hình ảnh cô Thủy xinh đẹp, hình ảnh các bác tù binh già lầm lì khốc liệt, khu rừng Lá âm u, và tính chất súc vật của một nền văn minh cộng sản, nó cứ ám ảnh lẽo đẽo theo tôi hoài. Tại sao, tại sao nhỉ, người ta, đôi khi, lại không quên được những chuyện mà người khác không chú ý tới.

(HB/5.18.1993)

 Thảo Trường

Những người làm việc cho đến chết



Nghe tôi quyết định về hưu cho khỏe cái thân già, ông John lững thững đến gặp tôi, và nói:
“Về hưu làm chi? Phải làm việc cho đến khi chết. Một đời đẹp nhất, có ý nghĩa nhất, đáng sống và ích lợi nhất là làm việc cho đến chết. Có việc làm đều đều, hàng ngày bận rộn, sẽ kéo dài tuổi thọ. Anh cứ xem, chiếc xe mà chạy đều đều, thì không có gì xẩy ra, cứ để nó nằm yên vài ba tháng, thì bình điện hết, máy trục trặc, chạy cà rịch, cà tang, và chết máy mãi. Về hưu, là tự ký cho mình bản án tử hình, mà chưa hành quyết. Bởi thế nên ông David Brown ở tuổi 70, làm việc bận trộn hơn hồi 35 tuổi, bấy giờ, trong cùng một lúc, ông lo sản xuất bốn cuốn phim, vài chương trình truyền hình, ba vở kịch ở Broadway và Luân Đôn, lại phải đi đây đi đó trên thế giới, bận lu bù. Ông nầy viết sách, hô hào làm việc cho đến chết.”

Tôi cười trả lời:
“Tội nghiệp ông già. Chắc ông ta nợ nần ngập đầu, phải làm việc lu bù ở tuổi 70 để trả nợ cho kịp trước khi chết chăng? Ông có theo dạo Phật không? Có tin nợ kiếp nầy chưa trả hết, thì phải đầu thai để kiếp sau trả lại? Ở Mỹ, nợ ngập đầu, cứ khai phá sản cái rụp, là không còn nợ ai đồng nào, khỏe ru. ”

“Ông nầy là đa triệu phú, không nợ nần ai xu teng nào cả."

“Giàu thế thì tội chi mà làm việc cho hao tâm tổn sức. Mai mốt chết, để tiền lại cho các ông chủ tịch hội từ thiện tiêu xài hoang phí. Các ông ấy tự trả lương bạc triệu cho chính các ông, ở khách sạn cả mấy ngàn đồng mỗi đêm, tiệc tùng xa xỉ, như báo đã phanh phui mấy năm trước. Ông John ơi, ngay cả chính ông, thâm niên trên 45 năm, hưu được 100% tiền lương rồi, sao còn nấn ná chi đây? Chờ chi nữa? Mỗi ngày phải dậy sớm đi làm, chiều ra về trong guồng xe mắc cửi, nối đuôi sốt ruột. Vào sở để tụi con nít nó hỗn hào, nói nặng lời, đôi khi còn hoạnh họe lên mặt, dạy đời.”

Ông Ken ngồi bên cạnh cười và chen vào câu chuyện của chúng tôi:
“Anh biết tại sao ông Tom không dám về hưu? Ở nhà mệt hơn đi làm. Đi làm thì lao động trí óc, có chuyên môn, chứ về nhà, vợ sai làm lao động chân tay. Cứ cưng làm việc nầy, cưng làm việc kia, suốt ngày. (honey do this, honey do that...) không kịp thở. Nào là nhổ cỏ, cắt cây, hốt rác, bứng cây nầy, trồng cây kia, hút bụi thảm, sửa ống khóa, sơn hàng rào, ôi thôi đủ thứ cực nhọc. Thế thì thà chi vào sở trốn việc nhà, là an toàn và hợp lý nhất. Khà, khà, khà”

Chúng tôi cười theo. Ông John nói rằng:
“Việc nhà thì dễ lắm. Bỏ ra mấy chục đồng, thuê người ta đến chăm sóc, là xong ngay. Vấn đề là, nếu không đi làm việc, thì hôm nay sẽ nói chuyện vui đùa với ai, ai rảnh rỗi nghe mình nói, và giờ xả hơi có ai cùng đi bộ, trưa nay đi ăn với ai, quán nào. Hay là khi ở nhà, thì làm biếng rồi nằm dài cho thân thể nó oải ra, không muốn động đậy? Chết sớm lắm. Nghỉ việc, về hưu là chính mình đục lỗ, cho thuyền mình chìm sớm”

Ông Ken lại chêm lời vào:
“Anh chưa biết đó, có nhiều vợ chồng già, ở nhà không có việc chi làm, vào ra đụng mặt nhau mãi, phát bực, đâm ra gầm gừ, gây gổ nhau. Bởi vậy, anh đừng ngạc nhiên khi nghe tin những cặp vợ chồng già cóc đế, sắp được diêm vương gởi giấy mời rồi, cũng đem nhau ra tòa li dị ào ào. Không có gì lạ cả.”

Ông John lắc dầu nói:
“Nếu mỗi ngày thức dậy, mà biết mình không có việc chi để làm, không còn ích lợi cho xã hội nữa, thì thà chết đi còn hơn. Tôi thấy nhiều ông già ngồi phơi nắng trước sân hàng giờ mỗi ngày như con chó già, ruồi đậu cũng không thèm đuổi, kẻ lạ đến không thèm sủa. Sống như vậy thì có ích gì? Mấy ông nầy, mà đứng dậy, đi kiếm việc làm, thì sẽ thấy khỏe, trẻ ra, nhanh nhẹn trở lại, và có thể sống lâu hơn cả vài chục năm. Làm việc, là một phương thuốc hữu hiệu nhất để chữa bệnh uể oải, mệt nhọc, và chán nản, quẩn trí trong tuổi già.”

Tôi hỏi:
“Thế thì các cụ già không đau lưng, nhức xương, mệt mỏi sao? Có được bao nhiêu người không bị bệnh trong tuổi già để theo đuổi công việc như ông nói?”

“ Đương nhiên, già thì nhức lưng, mỏi xương. Nhưng nếu còn làm việc, các thứ bệnh đó tự dưng không phát tác hoành hành. Tôi đọc báo, thấy miền nam nước Nam Hàn, có vùng, rất nhiều cụ già trên dưới chín mươi tuổi, còn cuốc đất, lao động đồng áng mỗi ngày. Nhờ làm việc mà các cụ khỏe mạnh và sống lâu.”

Tôi thở dài, thật dài cho ông John nghe:
“Cực thế, thì sống lâu làm chi? Tôi thà sống ít năm mà sung sướng, còn hơn sống cực khổ vất vả cho đến trăm tuổi.”

Ông John nói tiếp:
“Không phải sống già để chịu cực. Trong công việc, tìm ra nguồn vui. Những người tiếp tục làm việc, không cần biết đến tuổi già, thì họ sẽ được trẻ mãi. Trẻ từ thể chất đến tinh thần. Anh có thấy các ông bà ca sĩ, nghệ sĩ không? Trông họ như không bao giờ già, không biết già là gì. Họ vẫn say sưa đánh đàn, say sưa ca hát, tiếp tục vui cười, làm tiền, mua vui cho thiên hạ. Có những người sáu bảy chục tuồi, mà tâm hồn, thể xác của họ trông như ba bốn mươi thôi. Những người nầy, cuộc sống hứa hẹn đến trên chín mươi tuổi trong khang kiện. Nầy, anh có biết ông George Burns không? Ông nầy hứa hẹn sẽ trình diễn, đóng phim cho đến trăm tuổi đó. Gần trăm tuổi, ông vẫn đi tán tỉnh các cụ già, vẫn thích chuyện gối chăn. Ông ấy tự thấy ông như ở tuổi ba bốn mươi.”

Tôi định nói cho ông Jonh nghe rằng, bên xứ tôi, già mà dê như vậy, thì thiên hạ sẽ gọi là ông “già dịch”. Nhưng tôi không biết chữ nào trong tiếng Anh, dịch cho thật sát nghĩa với chữ “già dịch”, nên chỉ nói:
“Ông John ơi, nếu tôi không lầm, thì giấc mơ của người Mỹ là được về hưu sớm. Họ chuẩn bị cho đời sống hưu trí ngay từ khi mới bắt đầu đi làm việc, ở tuổi trên hai mươi. Nhiều luật lệ, nhiều cơ chế tài chánh khuyến khích họ chuẩn bị cho ngày về hưu được sớm hơn, vững vàng hơn?”

“Hừ, về hưu là một ác mộng mà người ta không biết. Đang mạnh khỏe đi làm, thì mong về hưu. Cho rằng về hưu sẽ được sung sướng, hạnh phúc. Chưa có kinh nghiệm về hưu sao họ biết về hưu là sung sướng? Tất cả đều là tưởng tượng, mơ mộng, mong mỏi mà thôi. Rõ là đứng núi nầy trông núi kia. Chưa về hưu thì mong về hưu. Chưa có vợ thì mong có vợ, có rồi mới phờ người ra, vợ nó đì cho hộc mật. Chưa có con, thì mong . Có thì cũng vui thật, nhưng từ đó thì lu bù công việc, nuôi con, dạy con, đón đưa đi học, giải trí, thỏa mãn đòi hỏi, chi phí đại học, mọi việc đều hướng về con cái, mà cha mẹ thì phải hy sinh tất cả . Không còn biết đến mình nữa. Nếu đứa con nên người, thì may mắn, nếu nó hư hỏng, thì còn khổ dài dài. Anh phải biết, thống kê ghi rõ ràng, trên 61% người đã về hưu, trở lại làm việc khác sau sáu tháng nhàm chán, nghỉ ngơi. Nhàn rỗi quá, dễ sinh ra rượu chè be bét, dễ bài bạc bê tha, và cũng dễ quẩn trí mà tự tử nữa. Đó, trường hợp ông Frank, mới về hưu hơn một năm, đã đút súng vào mồm mà bóp cò. Nếu cứ đi làm việc, thì bây giờ ông ta cũng đang vui vẻ, đùa nghịch với các ông bạn già ở đây. Rõ ràng đấy nhé, tuần trước báo đăng, đa số các ông về hưu, đều bị nhồi máu cơ tim sau một năm nghỉ làm việc.”

Tôi hỏi ông John:
“ Thế ông có ý niệm chi về chữ nhàn của đông phương không? Nhàn là một trạng thái tâm linh an bình, hạnh phúc, gạt bỏ ra ngoài các lo âu cơm áo bình thường, thảnh thơi vui thú .”

“Nhàn, tôi nghi ngờ lắm. Cứ bảy ngày trong tuần xem truyền hình cho bét con mắt ra, đọc sách cho nhức con ngươi, thân thể thì uể oải, mỏi mệt, rã rời. Không ích lợi cho ai cả. Đất nước nầy không khá vì những công việc như vậy. Tôi nghĩ lại, có lần thất nghiệp, buổi sáng tôi ngồi bên cửa nhìn sinh hoạt của thiên hạ mà lòng muốn điên lên. Người ta thì vội vàng lái xe đi làm việc rần rần, xếp hàng chờ lên xe buýt, xe điện, ai cũng có một nơi để mà tới, một công việc mà làm hôm nay, để hy vọng lảnh lương vào cuối tuần, cuối tháng. Mình không có chi làm cả, cũng không có hy vọng, cũng không có vui vẻ. Nếu phải bỏ ra 15 năm, 25 năm về hưu, không làm gì cả, thì thật là kinh khủng. Mấy ông già suy nhược tinh thần sớm, cũng vì cái trống rỗng, cái chán chường ngày tháng ám ảnh. Anh nói rằng nhàn, tôi dã từng đi trên du thuyền nhiều lần, trông mấy ông già bà già, họ làm cho họ chậm chạp thêm. Giống như họ đã chết rồi mà chưa chôn cất, họ lờ đờ, chậm chạp, như không còn tha thiết gì nửa với cõi sống nầy, sức lực họ tiêu tán đâu cả. Họ bị ám ảnh bởi cái ý niệm hưu trí, tuổi tác, họ đóng kịch già. Họ cố làm cho họ già thêm. Thử so sánh với mấy ông già, tuổi tác cao hơn, làm cho mấy hãng truyền hình, những ông già còn hoạt động, còn làm việc, trông nhanh nhẹn, sâu sắc, ý tưởng tích cực.”

Tôi cười, và nghĩ rằng, còn được đi làm việc, thì cũng vui, cũng tốt, nhưng nếu được về hưu, thì vui hơn, tốt hơn, tôi sẽ chọn con đường vể hưu. Sống để làm việc, góp chút công ích cho xã hội, thì cũng tốt. Tôi đã đóng góp mấy chục năm, lâu rồi, thì thời gian còn lại dành riêng cho tôi, cũng không ai chê trách gì. Tôi chỉ cười mà đáp lại lòng tốt của ông John dành cho. Nói cho tôi biết mặt khác của vấn đề.

Mấy anh bạn trẻ nghe tôi về hưu, có anh đến hỏi:
“Thích thú quá, khi về hưu, anh định có mở hãng kỹ sư tư vụ cố vấn không ? Với mấy mươi năm kinh nghiệm trong nghề, anh được làm chủ, và hốt tiền thiên hạ. Khi nào có công việc gì, chúng tôi có thể làm được, thì anh chúng kêu tôi với.”

Tôi cười mà nói:
“Đã về hưu rồi, thì phủi tay luôn. Làm thêm chi cho mệt nhọc, thêm lo lắng. Muốn kiếm thêm tiền ư? Sao không cứ ngồi lại đây, mỗi tháng lãnh lương, công việc nhàn nhã, khỏe khoắn, chung quanh lại có bạn bè quen biết lâu ngày, thì có hơn không. Các anh tưởng ra mở hãng kỹ sư cố vấn khỏe lắm sao? Bắt cho được khế ước là một vấn đề lớn. Công việc lại bị thúc hối như chạy giặc, lại bị hoạnh họe đủ thứ. Tội chi chui đầu vào cái rắc rối, khó khăn?”

“Thế thì anh không dự định kinh doanh nào khác sau khi về hưu sao? Uổng quá.”

“Kinh doanh cái gì? Thống kê cho biết cứ một trăm người ra kinh doanh thương mãi, thì chỉ có chừng năm người thành công, còn chín mươi lăm người phá sản, mất hết cả vốn lẫn lời. Người làm kinh doanh, phải làm việc từ mười hai, đến mười lăm tiếng mỗi ngày, cực hơn đi cày ruộng. Tôi đâu có ngu dại gì. Mà tôi hỏi các anh, kiếm thêm tiền làm chi? Nếu mình đã đủ sống, thong dong, không túng thiếu, không nợ nần, không lo lắng đến vần đề tài chánh.”

Nhiều người trong sở, nói với tôi rằng:
“Về hưu làm chi? Sau khi về hưu, rất dễ chết. Cứ nhìn gương các ông Xoài, ông Ổi, ông Cam, ông Bưởi, và nhiều ông khác nữa, chỉ về hưu chưa đầy năm, là chết, có ông chỉ sống ngắn ngủi thêm mấy tháng thôi.”

Họ không biết là các ông ấy bệnh hoạn, sức cùng lực kiệt rồi, không lết đến sở được nữa, mới đâm đơn về hưu. Đâu phải vì về hưu mà chết sớm. Các ông ấy, mà còn đi làm, thì chết mau hơn.

Mấy ông bạn văn nghệ nghe tôi về hưu, họ mừng và nói:
“Bây giờ thì tha hồ mà viết văn làm thơ nhé. Có thì giờ, viết cho được vài ba tác phẩm để đời.”

Nghe mà tôi chỉ cười, bởi họ nói không đúng ý tôi. Vì sau khi về hưu, thì tôi sẽ không dùng thì giờ mà viết truyện, làm thơ cho mệt. Nghỉ ngơi, tà tà cho sướng. Viết cho được tác phẩm để đời, đâu phải là dễ, mà có làm được cũng không nên làm, mà phí phạm ngày tháng ngắn ngủi của tuổi già. Một ông bạn tôi tìm ra cái chân lý thật giản dị: Đọc khỏe hơn viết, đọc thú hơn viết, để người khác viết cho mình đọc, tội chi ngồi viết mệt nhọc, mà người khác có khi còn chê bai, ghét bỏ. Viết lách, thường được ví như con tằm nhả tơ. Tội chi mà nhả tơ cho hao mòn thân xác, làm con ve, con bướm nhởn nhơ bay lượn, ca hát thì có thích hơn là cúi đầu trên trang giấy không? Khi nào hứng lắm, thì mới viết cho vui, chứ không phải viết để làm văn chương.
Có mấy ông bạn quý, nói vói giọng trang trọng:
“Sau khi về hưu, cởi bỏ được gánh nặng cơm áo, ràng buộc, thì sẽ có thời giờ thực hiện được những mộng lớn, mộng bé hằng ôm ấp. Thật sung sướng.”

Tôi trả lời thẳng rằng:
“Không mộng lớn, không mộng nhỏ chi cả. Đã gần cuối đời rồi, thì giờ còn bao nhiêu nữa mà chạy theo ảo vọng? Uổng khoảng thời gian ngắn ngủi quý báu còn lại. Những cái mộng lớn mộng bé kia, nếu có thành, thì e cũng chỉ là hư không, vô nghĩa mà thôi. Sống sao cho tự cảm thấy mình sung sướng, nhàn nhã, thảnh thơi. Khi còn trẻ, còn nhiều năng lực, còn nhiều thì giờ, mà không thực hiện được điều mình muốn, thì mong chi làm được trong thời tuổi già sức yếu?”

Có người e ngại rằng, sau khi về hưu thì tài chánh eo hẹp, sẽ chật vật, phải ăn tiêu dè xẻn, phải tính từng đồng, từng xu, mệt lắm. Tôi cứ nhìn vào ông hàng xóm của tôi mà suy ra cho người khác. Sau khi về hưu, ông đi chơi đây đó. Hơn năm mươi phần trăm thời gian của ông là vắng nhà. Ông mua đủ thứ máy móc tân tiến, đời mới nhất, năm cái computer, nhiều máy thu, máy phát, đủ các thứ dĩa ca nhạc, phim truyện. Cái mối lo âu lớn nhất của ông, là làm sao tiêu cho hết tiền trong tháng, gắng tiêu cho hết sạch, bởi tháng sau sẽ có tiền khác đến, không tiêu hết, nó tích tụ lại, thêm mệt, thêm rộn trí.

Thực sự, về tiền bạc, thì không chừng, có nhiều bao nhiêu cũng thiếu, mà có ít bao nhiêu cũng thừa. Thiếu hay thừa, nằm trong tâm mỗi người, không phải nằm ở con số. Biết đủ là đủ. Biết thong thả là thong thả. Đừng có túng thiếu, đừng có thèm thuồng mà không được, thì là đủ và vui. Ăn uống có là bao nhiêu trong tuổi già, có khi muốn ăn, mà không ăn được nữa mà.

Một anh bạn cứ thắc mắc hỏi, sau khi về hưu làm chi cho hết thì giờ. Tôi thấy mấy ông bạn tôi, ông nào còn đi làm việc, thì còn có thì giờ để sinh hoạt với bạn bè, làm việc nầy việc kia cho các hội đoàn, cho các nhóm, mà ông nào đã về hưu, thì cũng than là bận rộn lắm, không có thì giờ để viết bài cho các tập san ái hữu. Khó hiểu, nhưng nghe nhiều người bảo thế, thì tôi cũng cứ tin đi cho khỏe. Nghe về hưu còn bận rộn hơn khi di làm, tôi cũng hơi e ngại với quyết định về hưu. Bận rộn hơn đi làm, thì tội chi về hưu cho mệt?

Năm ngoái, có ông bạn gởi cho tôi một nghiên cứu và thống kê, với lời kết luận khác với thống kê của nhà nước Mỹ. Lại thống kê. Như có kẻ bảo rằng, thống kê là phản bội, thiếu khoa học. Thiếu khoa học sao người ta cứ dùng mãi, phản bội sao lại phản ánh được khá nhiều sự thực? Thống kê đó, dựa vào tuổi về hưu và tuổi chết của nhân viên các công ty lớn tịa Mỹ như Boeing, Lockheed, AT&T, Lucent vân vân, và đưa ra một bảng số kết quả, làm nhiều người giật mình. Đại khái, như sau:
Về hưu lúc 50 tuổi, sẽ chết lúc 86 tuổi.
Về hưu lúc 55 tuổi, sẽ chết lúc 83 tuổi
Về hưu lúc 60 tuổi, sẽ chết lúc 75 tuổi
Về hưu lúc 65 tuổi, sê chết lúc 67 tuổi.

Đó là thống kê nêu số trung bình, nếu dựa theo các con số đó, thì rất nhiều ông cụ trong sở tôi, đáng ra đã chết từ năm bảy năm trước rồi. Thế mà các cụ vẫn khỏe mạnh, ung dung, yêu đời, và còn khuyên người khác hãy làm việc cho đến chết. Hoặc cho đến khi chết gục trên bàn làm việc. Trong sở tôi, cũng có nhiều ông chết gục trên bàn, chết quỵ trong thang máy, mà mấy ông chết gục nầy, tuổi tác thường dưới năm mươi lăm.

Những người chủ trương làm việc cho đến khi chết, cũng đúng. Đúng theo quan niệm của họ. Họ có hoàn cảnh riêng, ý thích riêng. Tôi chủ trương rằng, đi làm để kiếm sống, khi đã có đủ sống, thì tội chi mà đi làm.
Còn có việc làm cũng sướng, được nghỉ ngơi, đi chơi thì sướng hơn. Nếu phải chọn lựa, thì cứ chọn cái hơn, tội chi! Một ông bạn, suốt đời chăm chỉ làm việc, không đi chơi đâu, không phí thì giờ họp mặt bạn bè bù khú, nói chuyện vô bổ, tào lao. Sau khi bệnh, được thay gan thay thận, dù rất yếu đuối, và thỉnh thoảng còn lên cơn sốt hâm hấp, bất cứ, ai mời đi đâu cũng đi, xa mấy cũng lấy máy bay đến cho được. Họp mặt, ăn cưới, ông đến từ đầu và ngồi lại cho đến những phút cuối cùng.

Về hưu, làm gì, đi đâu, cả đời làm việc quen rồi, nếu ở không đi chơi, không có việc làm, thì chịu chi cho thấu. Như con ngựa kéo xe, quen nhọc nhằn hàng ngày, nếu được thả rong trên đồi cỏ, thì không chịu nổi, nhớ cái càng xe, nhớ đến những ngày nặng nhọc, chạy cho ói cỏ, chạy sùi bọt mép ra. Có phải nhiều người, sợ về hưu, sẽ lâm vào hoàn cảnh con ngựa nhớ cái càng xe nhọc nhằn trên cổ chăng?

Tràm Cà Mau

Khốn Nạn Cho Kẻ Nào Còn Ý Nghỉ: “Nữ Nhi Ngoại Tộc”



Bạo Lực Với Phụ Nữ



Bạn thân, 
Phụ nữ Việt trước giờ vẫn thiệt thòi đủ thứ.
 
Thời xưa thì bảo rằng 10 cô con gái không bằng 1 cậu con trai.Bây giờ thì không tệ như thế, nhưng khi các bà vợ có thai, thế nào cũng được mong đợi rằng nên sinh trai hơn, chỉ vì kiểu nói người xưa là “nữ nhi ngoại tộc” -- nghĩa là, sinh con gái kể như là thuộc dòng họ khác rồi, vì lớn lên là sẽ phải thuộc hoàn toàn về họ nhà chồng.


Thế rồi, khi tới tuổi đi học, bao giờ ba mẹ cũng ưu tiên cho con trai, hy sinh cho con trai đi học nhiều phương tiện hơn, thậm chí có khi còn khuyên bảo chị nên nhường cho em trai ra Sài Gòn đi học, bởi vì con gái học cao khó kiếm chồng...

Thiệt thòi biết là bao nhiêu.


Thông tấn Infonet còn rọi một tia sáng vào hoàn cảnh phụ nữ: bạo lực. Bản tin viết:

“Gần 14% nữ công nhận chịu bạo lực
violence

TS. Nguyễn Thị Vân Anh, Phó phòng Kế hoạch Sở Y tế HN cho biết, trên địa bàn TP. Hà Nội có 8 KCN với gần 102.000 công nhân. Nghiên cứu của Sở Y tế HN về vấn đề SKSS và bạo lực gia đình mới đây ở hơn 1.100 nữ công nhân tại 12 nhà máy cho thấy: 13,3% nữ công nhân ở nhà máy đã từng phải nạo thai. Trong số họ, 31% nạo thai năm ngoái, một số nạo thai nhiều lần trong suốt nhiều năm qua.

Tỉ lệ nữ công nhân bị bạo lực bởi chồng và bạn tình ở mức 13,5% - nhiều nhất là bạo lực tình cảm, tiếp đến là về thể chất, kinh tế và tình dục. Nạn nhân thường là các cô gái trẻ, không đáp ứng được nhu cầu tình dục của bạn tình và không có khả năng làm anh ta thỏa mãn. Đáng lo là có đến 72% chị em từng nghe hoặc biết đến Luật phòng chống bạo hành gia đình nhưng chưa hiểu gì về Luật.

Theo đánh giá của cán bộ y tế KCN Bắc Thăng Long, hiện tượng QHTD, sống chung trước hôn nhân, viêm nhiễm đường sinh sản và nạn phá thai phổ biến. Cán bộ y tế xã Kim Chung, Đông Anh - nơi tập trung nhiều công nhân cũng nhận định: "Sống chung trước hôn nhân rất phổ biến. Thậm chí có trường hợp một ngày QHTD với nhiều người khác nhau, trong khi họ lại thiếu kiến thức dẫn đến việc có thai ngoài ý muốn, rồi đi nạo phá thai".

Trong khi đó, hoạt động tư vấn về các biện pháp tránh thai đáng tin cậy như đặt vòng hoặc viên tránh thai tại các KCN chưa tốt khiến nhiều nữ công nhân không sử dụng các biện pháp tránh thai hiệu quả mà lựa chọn biện pháp tránh thai tự nhiên rủi ro cao như xuất ngoài âm đạo và tính vòng kinh (13,21% nữ công nhân trong độ tuổi từ 20-24; 11% công nhân trong độ tuổi từ 25-29)...”

Biết bao nhiêu là nước mắt trong đời này cho phận nữ...

Biết bao giờ mới được bình đẳng? Câu hỏi khó đáp vậy.

------------

Cô Con Gái : Ðể hiểu rõ nhà cầm quyền CS Việt Nam

Phương Uyên thì đứng còn đảng CSVN thì quỳ
 
Sau buổi họp báo công bố thông tin khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Phương Uyên, sinh viên ÐH Công Nghệ Thực Phẩm Sài Gòn và Ðinh Nguyên Kha (ở Long An) vì “có dấu hiệu của tội tuyên truyền chống nhà nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam,” nhà cầm quyền có vẻ cho rằng đã tạm dập tắt được ngọn lửa dư luận khỏi bùng lên thành đám cháy.
Và nhân thể, dằn mặt luôn giới trí thức nhân sĩ, tất cả những ai quan tâm lên tiếng về trường hợp Nguyễn Phương Uyên.

Nguyễn Phương Uyên không phải người đầu tiên và càng không phải là người cuối cùng bị nhà nước Việt Nam bắt bớ, giam cầm, kết án một cách tùy tiện, phi nhân, bất chấp dư luận trong nước và quốc tế.
Càng ngày, khi thực trạng xã hội càng tồi tệ về mọi mặt, khi những mâu thuẫn dồn nén giữa người dân và nhà cầm quyền càng lớn, thì nguy cơ số người phải bước chân vào trại giam với tội danh “tuyên truyền” hay “có hoạt động chống phá nhà nước” sẽ càng nhiều hơn.
Chính vì vậy, càng phải chuẩn bị tâm lý và hiểu rõ những luận điệu, chiêu trò mà giới công an đã, đang và sẽ áp dụng với những người bị bắt bởi những tội danh trên.
Chiêu thứ nhất là bôi nhọ những người đã dám dấn thân. Bôi nhọ đời tư, danh tiếng. Không từ một ai. Bôi nhọ lý tưởng, mục đích dấn thân, việc làm của họ.

Không phải là những người bất đồng chính kiến, nhà hoạt động dân chủ hay những người yêu nước. Mà là những kẻ chống phá nhà nước, chống phá nhân dân, những kẻ vi phạm pháp luật.
Hay tầm thường hơn, những con người lạc đường, mê muội, bị các lực lượng phản động, thù địch lôi kéo, xuống đường đi biểu tình hoặc làm việc này việc kia vì tiền...
Nhân vật nào càng được dư luận trong và ngoài nước quan tâm thì càng bị nhà cầm quyền sử dụng hệ thống truyền thông báo chí trong tay để bôi nhọ nặng nề. Kể cả nhào nặn thành những vụ án hình sự kiểu như “hai bao cao sư đã qua sử dụng” trong trường hợp Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ hay tội “trốn thuế” của nhà báo Nguyễn Văn Hải tức blogger Ðiếu Cày...
Và tất nhiên, lờ tịt những yếu tố có liên quan đến thái độ phản đối việc Trung Quốc xâm lược Việt Nam, kêu gọi bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải của người bị bắt. Bởi tử huyệt của nhà cầm quyền là ở đó.
Là mối quan hệ bất xứng giữa hai đảng cộng sản, hai nhà nước Việt Nam-Trung Quốc và tất cả những hệ lụy, mất mát, thiệt thòi, nguy hiểm cho vận mệnh đất nước, dân tộc Việt Nam từ mối quan hệ này và thái độ bạc nhược, lệ thuộc của nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, trong phần lớn các vụ án có liên quan đến yếu tố chính trị, nhà cầm quyền luôn tìm cách gán ghép người bị bắt với “những tổ chức phản động” nào đó, thường có dính dáng đến cộng đồng người Việt ở nước ngoài.
Ðây là một thủ đoạn nhằm gây chia rẽ người trong nước với người ngoài nước. Ðồng thời dập tắt từ trong trứng nước mọi nguy cơ liên kết, tập hợp thành tổ chức của những người có tư tưởng phản kháng chế độ.
Và rõ ràng, nhà cầm quyền đã thành công trong việc tạo ra tâm lý nghi kỵ, e ngại của người trong nước khi luôn tìm cách tránh xa các tổ chức, nhất là của người Việt ở hải ngoại.
Tâm lý không thiện cảm với những hoạt động dân chủ ở hải ngoại, còn là hệ quả của cả một quá trình bao nhiêu năm dài người Việt sống trong nước, “lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa VN,” bị nhồi sọ về một chế độ miền Nam Cộng Hòa “thối nát, không có chính nghĩa, là tay sai của Mỹ.” Lá cờ vàng ba sọc đỏ của chế độ miền Nam Cộng Hòa vì vậy, nhiều khi cũng phải chịu số phận tương tự.
Và khi một người bị bắt nào đó bị nhà cầm quyền gán ghép với các tổ chức hoặc hình ảnh lá cờ Vàng, thì nhiều bạn trẻ sống trong nước sẵn sàng “ném đá” ngay. Có thể thấy rõ điều này khi đọc những bình luận bên dưới những bài báo trong nước viết về Nguyễn Phương Uyên.
Gây chia rẽ giữa người trong và ngoài nước, nhà cầm quyền cũng luôn chú ý gây chia rẽ giữa người có đạo, đặc biệt là Thiên Chúa Giáo, và người ngoài đạo, hoặc giữa các thành phần nhân dân với nhau: giữa trí thức văn nghệ sĩ và giới công nhân, nông dân-dân oan...
Nếu chưa đủ mức răn đe, thì người bị bắt thậm chí còn bị gán ghép cho tội “khủng bố.” Từ vợ chồng bà Nguyễn Thị Phượng bị bắt vào tháng 4 năm 2012, Luật Sư Nguyễn Quốc Quân bị bắt ngày 17 tháng 4 năm 2012 cho đến mới đây nhất, Ðinh Nguyên Kha cũng bị công an gán cho tội danh này.
Mục đích của việc nâng lên tội khủng bố như ai cũng có thể nhìn ra, trước hết là nhằm “khủng bố” tinh thần chính người bị bắt, khiến họ sợ hãi trước bản án nặng nề có thể bị tuyên mà “ngoan ngoãn, biết điều” hơn. Thứ hai là làm cho người thân, bạn bè cho đến dư luận e ngại, không dám lên tiếng ủng hộ họ.
Nhà văn Phạm Thị Hoài trong bài viết “Thông điệp của chính quyền” có nói đến sự sợ hãi của nhà cầm quyền về khả năng hình thành của các tổ chức chống đối. Không chỉ thế, họ cũng sợ hãi mọi cái gì gợi nhớ đến những cách thức mà họ đã từng sử dụng thành công để phá hoại miền Nam trước kia.
Chẳng hạn, biểu tình phản đối TQ xâm lược ở Sài Gòn luôn luôn bị ngăn chặn quyết liệt hơn so với Hà Nội vì Sài Gòn có “truyền thống” xuống đường, biểu tình chống Mỹ từ xưa.
Ðoàn Huy Chương, Ðỗ Thị Minh Hạnh và Nguyễn Hoàng Quốc Hùng là những nhà hoạt động công đoàn lao động, đã lên tiếng vì quyền lợi của giai cấp công nhân, nhưng lại bị cáo buộc “xúi giục, kích động” công nhân của một nhà máy sản xuất giày ở Trà Vinh đình công và bị kết án nặng nề từ 7-9 năm tù. Bởi những gì họ làm chẳng khác gì cách mà đảng cộng sản Việt Nam, luôn tự cho là đảng của giai cấp công nhân và nông dân, đã sử dụng.
Một thủ đoạn nữa là gây nhiễu thông tin. Khi không thể ngăn chặn toàn bộ thông tin bên ngoài thì nhà cầm quyền tương kế tựu kế, làm nhiễu thông tin, khiến người dân hoang mang không còn biết tin vào đâu, cái gì đúng cái gì sai.
Vụ lá thư giả mạo tiếp theo lá thư của các nhân sĩ trí thức gửi cho chủ tịch nước kêu gọi trả tự do cho sinh viên Nguyễn Phương Uyên, vụ ép các em học sinh trường ÐH Công Nghệ Thực Phẩm TP HCM phải nhận không gửi thư kêu cứu khi bạn bị “mất tích,” hay phủ nhận luôn Nguyễn Phương Uyên không phải là cán bộ đoàn... là những ví dụ mới nhất.
Cuối cùng là màn “nhận tội và xin khoan hồng.” Cái này thật ra cũng nằm trong chuyện bôi nhọ cá nhân, khi mới sử dụng một, hai lần thì có làm cho dư luận choáng váng hiểu nhầm nhân cách người bị bắt, nhưng dần dần mọi người hiểu được màn dàn dựng này của công an và không còn tin nữa.
Hiểu rõ những luận điệu, chiêu trò của nhà nước cộng sản Việt Nam để không nao núng, bất ngờ trước mọi việc họ làm. Ðặc biệt là những ai đã, đang và sẽ lên tiếng vì một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước, dân tộc Việt Nam.
Hiểu rõ đâu là điểm yếu nhất, là tử huyệt của nhà cầm quyền, để tiếp tục làm những gì mà họ sợ.
Khi nhà cầm quyền sợ sự liên kết, tổ chức, thì mọi người càng phải đoàn kết giữa người Việt trong và ngoài nước, giữa mọi tổ chức, mọi cá nhân bất kể tôn giáo, nhân thân, quá khứ chính trị.
Khi nhà cầm quyền càng bắt bớ, giam cầm, kết án người bất chấp luật pháp thì càng phải dựa vào luật pháp của chính nhà nước Việt Nam và quốc tế để vạch ra những sai trái. Từ quyền giữ im lặng, quyền có luật sư khi bị hỏi cung, được xét xử công khai, được biện hộ, tranh cãi trước tòa cho đến quyền được kháng án, được thăm nuôi, được đối xử như những con người trong trại giam...
Dù biết rằng nhà nước Việt Nam sẽ không bao giờ đáp ứng dù nhỏ nhất những quyền này, nhưng trước nhân dân và thế giới, bản chất của nền tư pháp Việt Nam, của chế độ Việt Nam cũng bị lột trần, dẫn đến việc họ phải chạy theo dư luận, chữa cháy, chống đỡ. Càng chống càng lộ ra nhiều điểm sơ hở, sai trái.
Khi nhà cầm quyền càng vu cáo, bôi nhọ, trưng ra những bằng chứng giả mạo thì càng phải vạch ra sự giả mạo ấy.
Và dần dà, khi đối chiếu mọi luồng thông tin từ nhiều phía, người dân sẽ hiểu đâu là sự thật.

VGCS Câm Thù Người Việt Tỵ Nạn :Bằng Cách Đưa Người Thiếu Đạo Đức Qua Nước Anh Trồng Cần Sa

Việt Ly Huơng  tặng lại câu thơ  : CHXHCNVN

Mất Dạy


“Quê hương là chùm đng cướp

Đi buôn* mà không kiếm được tiền

Đng  không cho lớn nổi thành người *(như tao)!”

 
--
*(
Buôn bán trồng marajuana hay cannabis )  * (Như tao là đảng cướp)

 ----

Cảnh sát Anh phá vỡ mạng lưới người Việt trồng cần sa,13 người bị bắt


Cảnh sát Anh tấn công vào nơi trồng cần sa. Ảnh của báo Liverpool.Cảnh sát Anh tấn công vào nơi trồng cần sa. Ảnh của báo Liverpool.

Hôm qua 10/11/2012, theo báo chí Anh, một mạng lưới người Việt trồng và buôn bán cần sa đã bị cảnh sát Anh Quốc bắt giữ tại Liverpool, thành phố cảng ở bờ Tây Anh Quốc. Mười ba người đã bị câu lưu, với số lượng cần sa (còn gọi là marajuana hay cannabis) trị giá hơn một triệu bảng Anh. Đây là vụ bắt giữ được coi là lớn nhất từ trước đến nay.

Thông tín viên Lê Hải tường trình từ Luân Đôn:
11/11/2012
----  
Border Agency and Merseyside Police Vietnamese drug farm raids see 13 arrested and £1m cannabis seized 
  By Daniel Johnson Nov 8 2012 Cảnh sát Anh tấn công vào nơi trồng cần sa. Ảnh của báo Liverpool.Police teams break down a door at a property on Gilroy Road Kensington Liverpool as part of early morning raids.. Police teams break down a door at a property on Gilroy Road Kensington Liverpool as part of early morning raids.. Properties were also raided in nearby Molyneux Road and Sheil Road, West Derby Road, Tuebrook, Ruskin Street and Smeaton Street, in Kirkdale, and Cecil Road, Seaforth. Detective Inspector Paul Roche, who headed the operation, believed each of the nine premises had several hundred thousand pounds worth of cannabis. He told the ECHO: “I’m very pleased with the way the operation has gone this morning. “We’ve had a few ups and downs and times when we thought this day wouldn’t come. “But its come together nicely this morning with the staff all working very well together and the results show.” Police said the suspects were most likely locked in the houses in poor conditions with food in the freezer to last several months. DI Roche added: “They obviously get trafficked into the country, under duress or willingly having paid a bounty to get into the UK. “One of the larger factories we discovered a few months ago, you wouldn’t put animals in it. “It’s horrendous the conditions these people are living in.” 
Read more: Liverpool Echo http://www.liverpoolecho.co.uk/liverpool-news/useful-information/2012/11/08/merseyside-police-vietnamese-drug-farm-raids-see-13-arrested-and-1m-cannabis-seized-100252-32191737/2/#ixzz2BxkHyImJ

Bài Xem Nhiều