We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 13 November 2012

Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân


Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu nổi tiếng với những mùa đông dài băng gía, nhưng lại rất đẹp vào ngày hè và lãng mạng vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy lòng mình trăn trở. Không phải tò mò vì những cuộc tình cháy bỏng trong "Rừng Na-Uy", cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mãnh lực quyến dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đã làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả một đời.

Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng cả nhà theo cha tôi vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh. Ngay từ năm tôi học lớp đệ lục trường nữ trung học Huyền Trân, cũng đã có vài chàng học trò khờ khạo si tình, đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng có vài chàng SVSQ Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số trời, trái tim tôi chỉ rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của tôi, hai người học cùng lớp thời còn ở trường Võ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám cưới, kết thúc một cuộc tình đầu thật dễ thương, không có nhiều lãng mạng, cũng chẳng có điều gì trắc trở. Ông xã tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám cưới, đôi giầy saut của anh còn bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ chức tại một nhà hàng nằm gần bờ biển, không xa tòa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu Thân.
02RungKhocGiuaMuaXuan4 2010
Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng, rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên, không an toàn khi tôi phải sống một mình. Chỉ khi nào tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh. Mãi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu lòng. Một đứa con trai bụ bẫm. Có lẽ vì nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên.

Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành tai đều có một "lỗ tai nhỏ" như ba nó. Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y viện.

Sau khi xuất viện, đôi chân còn đi khập khiễng, nên anh được chuyển về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm một số đàn bà  con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm sau khi Cao Nguyên vừa tròn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nhì.
03RungKhocGiuaMuaXuan4 2010
Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và yêu nhau. Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố "đi dăm phút trở về chốn cũ" ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, còn những ngày mưa bùn bám dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở về sau những cuộc hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong quân y viện. Với họ thì đúng là "may mà có anh đời còn dễ thương". Trong số ấy đã có biết bao người trở thành góa phụ!

04RungKhocGiuaMuaXuan4 2010Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc. Một buổi sáng, từ bản doanh Liên Đoàn về, hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ, chỉ mang những gì cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con, theo anh vào hậu cứ.
 
Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều đã ngồi sẵn trên xe.
Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác trước những người từng bao năm sống chết với mình nay vội vàng bỏ đi không một tiếng gĩa từ. Đang giữa mùa xuân mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ xuống khi đoàn xe vừa ra khỏi thành phố. Đến ngã ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước chúng tôi dày đặc xe và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả xe gắn máy. Tôi nghe chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một số đơn vị Biệt Động Quân còn được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ cho đoàn quân di tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một hành quân triệt thoái.

Hơn một ngày mò mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xã Hậu Bổn vào lúc trời sắp tối. Vừa dừng lại chưa kịp ăn cơm thì bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và người dẫm lên nhau trong cơn hốt hoảng. Địch đã bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên cường, nhưng địch qúa đông, mà bên ta thì vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn. Trong lúc nguy nan này trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh. Một chiếc phản lực cơ dội bom nhầm vào quân bạn. Đoàn xe vội vã rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc thì lại bị địch tấn công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị thương. Cả đoàn xe không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng rừng tìm đường về Củng Sơn.

Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh sĩ, vợ con. Tôi dắt theo Cao Nguyên còn chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi trong rừng. Tiếng súng vẫn còn ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng tôi mệt lả cũng là lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi dưới một gốc cây, rồi cùng một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt qúa, tôi ngủ vùi một giấc, thức giấc thì trời vừa sáng.. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không còn đủ sức để bồng Cao Nguyên, nên chồng tôi phải dùng cái võng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài được phủ bằng cái áo giáp.

Vừa ra khỏi bìa rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi cùng hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, mình đầy máu. Tôi nghĩ họ cũng là những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt dìu nhau đi tìm sự sống. Hình như họ không còn mang theo bất cứ thứ gì. Nhìn nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng.. Chồng tôi bàn bạc cùng một số bạn trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, tìm một lộ trình khác mà đi, để tránh sự phát hiện của địch. Vừa rời đoàn người chừng vài phút thì đạn pháo thi nhau rớt xuống. Tiếng la khóc thất thanh cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua một cơn địa chấn.

Trong nhóm chúng tôi cũng đã có một số người đã chết. Đến lúc này thì mạnh ai nấy tìm đường sống. Gia đình tôi cùng gia đình vài người bạn nữa chạy vào khu rừng phía trước, nơi không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ chồng tôi chỉ còn dùng để mong cứu được vợ con mình. Địch quân tràn ngập. Một số đơn vị tan rã. Đồng đội kẻ chết người bị thương. Có thể một số đã bị bắt. Tôi không thể tưởng tượng được số mệnh bi thảm của những người lính Biệt Động một thời oanh liệt trên khắp chiến trường, giờ này lại tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suýt bật khóc, khi nghe cấp chỉ huy truyền lệnh từ ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: "Đạp lên mà đi!" Trong cả đời binh nghiệp, chắc những người lính không còn nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.

Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy trò chưa kịp nắm tay mừng rỡ thì súng nổ. Địch quân phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con, điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán địch quân bị tiêu diệt.

Chồng tôi quay lại tìm và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi tiếp.

Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn người. Tôi hình dung cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi nghiệp cho những người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, vì đó là sở trường của họ, nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể đi nổi, nghe lời chồng tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em phòng thủ, chồng tôi trở lại phụ lo chỗ nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc, không ngủ được. Chồng tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây.. Anh ôm tôi thật chặt vào lòng, thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai còn lòng dạ nào để lãng mạn yêu thương, nhưng có lẽ anh đã tội nghiệp cho một người con gái đã trót chọn chồng là lính chiến. Và cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi.

Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch. Cũng là lần cuối tôi chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán từng toán nhỏ, xông vào lòng địch mà đánh, tiếng thét "Biệt Động Quân Sát" vang dội cả một vùng. Nghe súng nổ, tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh tay trong trận đánh hôm qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi vùng giao chiến. Đã vậy anh còn phải dìu theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi thất lạc nhau kể từ phút ấy. Tôi còn lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau lưng ngay cả những khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn hình hài bé nhỏ của con tôi. Hình ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu mà tôi đã đọc.

Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường mòn, chúng tôi lại nghe súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn nổ, bảo chúng tôi nằm rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường mòn, chạy về bên hướng rừng bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến bìa rừng, tôi thấy mấy người lính BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi được biết những người lính này bị địch bao vây, đã tự sát để cùng chết chung với giặc.

Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa thì chúng tôi bị đám khá đông VC chặn lại.
Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược ra sau, ngồi theo hàng dọc quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi cố ý tìm xem, nhưng không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Lòng tôi lo âu vô hạn. Từ lúc ấy, tiếng súng tạm im, chỉ còn tiếng quát thoát và tiếng nói rất khó nghe của đám người thắng trận. Tất cả chúng tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện Củng Sơn
(Sơn Hòa).

Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ còn lại một điều may mắn. Chị giúp việc rất tốt bụng và trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng cho tôi. Chị đi đâu đó xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đã trải qua hai ngày đói khát. Nhìn đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi và đứa con trai giờ này không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.

Cuối cùng thì tôi cũng lần mò về đến Nha Trang, khi thành phố này cũng vừa lọt vào tay giặc.
Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào lòng và khóc như mưa. Tôi không đủ can đảm để mang tin buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương vừa mới về nhà, chồng tôi và cháu Cao Nguyên còn đang mất tích. Cả nhà chồng kéo sang thăm tôi, bồng cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày liền khi nhận được tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận tình chăm lo, sức khỏe tôi đã gần bình phục, tôi xin được trở lại Phú Bổn tìm chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và cha mẹ chồng đều ái ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho đứa em trai út của chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.

Mặc dù đã chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đã chuẩn bị tinh thần, nhưng tôi thực sự kinh hãi những gì trước mắt, khi nhìn thấy ngổn ngang bao nhiêu xe cộ bị đốt cháy, những bộ xương người còn vương vãi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp vội bên đường. Cả một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên Đường đã giúp tôi và cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm một vài người dân, được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang còn giam ở Thuần Mẫn. Chúng tôi đến đó, trình giấy phép đi tìm chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào trại. Sau khi tên VC trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh, tôi xin được gặp bất cứ sĩ quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại đội phó lúc chồng tôi còn ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi chiến đấu dưới ngọn đồi gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố tìm cách đưa cháu Cao Nguyên đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê năm người thượng, theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi còn nhớ, trở lại khu đồi thấp, rồi bung ra xa đi tìm. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ tìm được mấy bộ xương người, một số mộ vô danh, nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm tuyệt vọng, không chỉ cho tôi, mà cho cả nhà chồng.

Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu đích tôn của ông bà.
Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.

Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn, tìm đến chân đồi, dưới gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào lòng, thắp hương tưởng niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đã dùng dao khắc đậm tên anh và cháu Cao Nguyê vào thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi mơ hồ như có tiếng khóc từ gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây khác, từ những khúc gỗ nằm vương vãi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh não nùng, xé ruột.

Tôi đã mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi định cư sau chuyến vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Thánh 5 năm 1985, cha mẹ chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe vượt biển. Tôi, cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đình chồng. Tôi cũng xin được một chỗ cho chị giúp việc lúc trước
(chị đã về quê trên vùng quê Diên Khánh, sau ngày cùng tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài sản của nhà chồng và của tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.

Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ chồng cháu về lại Việt Nam trình diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi chồng tôi và Cao Nguyên còn sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh mình. Chúng tôi đến đây vào giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.

Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đã được tráng nhựa và đổi tên thành Quốc Lộ 25.
Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng cháu Thùy Dương, còn có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc ngày xưa. Chúng tôi đến Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả không còn gì dấu vết của chiến tranh. Người ta đã cố tình trát phấn tô son lên thành phố núi này để có dáng dấp của thời kỳ đổi mới. Màu sắc lòe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa kệch cỡm, những ngôi nhà sàn "cải biên" thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm chơ vơ giữa một vùng nghèo nàn mang tên "thị xã". Nhìn dãy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện trong những đám mây mù, lòng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đã bao lần tôi đến thăm chồng, để được hòa mình vào đơn vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi ấy tôi đã vinh dự chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng gắn huy chương lên ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đã trở thành huyền thoại.

Sau khi thuê phòng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi đường đến tháp Yang Mun và tháp Drang Lai. Vì nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai ngôi tháp này linh thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xâm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi lá xâm tôi bốc trúng lại là bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:
Từ phen chiếc lá lìa rừng
Thăm tìm luống những liệu chừng nước mây
Rõ ràng hoa rụng hương bay
Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi.

Tôi bán tín bán nghi, vì nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện cúng bái, mê tín dị đoan, bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả truyện Kiều. Nghĩ như vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của mình, tôi cũng thấy lòng buồn vô hạn. Trở về phòng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của người dân tộc, vừa đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ. Tôi cũng muốn mua mấy con gà, để cúng chồng tôi. Khi còn sống anh thích ăn gà luộc. Bà còn cho biết thêm dân chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai, Bahnar, Hroi và M'dhur. Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xã này từ 10 tới 20 cây số.

Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đã nghe tiếng người réo gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói gì. Chợ phiên nhóm rất sớm. Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa trước nhà trọ. Tôi có cảm giác lạ lẫm vì đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của người sắc tộc. Đã vậy vợ chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố giải thích về nguồn gốc người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ xíu được nhốt trong những trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà béo nhất, bảo người chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông người Thượng vừa đen vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sõi...Khi Anh xăn tay áo lên và thò tay vào lồng gà, tôi bỗng giật mình khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có hình dáng đầu một con cọp. Tôi nhớ tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích của VC vào trại gia binh ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để lại một vết sẹo có hình ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn mang trên vai áo.

Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nhìn vào mặt anh ta. Cũng hai con mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái tóc mầu nâu sậm như mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh người Thượng ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên vành tai của Cao Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nhìn kỹ vào tai anh người thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành tai. Bất giác, tôi ôm chầm lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói một tràng tiếng Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nhìn tôi, không biết xảy ra điều gì. Nghĩ tới chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ, tôi báo cháu Thùy Dương đi gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước.

Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị:
- Chị nhìn kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?

Sau một lúc nhìn không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời tôi mà thì thầm một mình:
- Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?

Rồi chị nhìn thẳng vào mặt anh ta hỏi:
- Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?

Anh người Thượng lắc đầu.
- Tao là thằng Ksor Tlang.

Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau khi đếm xong anh trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:
- Mày bắt cái con gà nhiều tiền qúa!

Tôi mất hết bình tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta, rồi chạy vào phòng trọ tìm bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những gì đã xảy ra. Có lẽ bà ta là người có tai mắt ờ đây, nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy ba phút hai gã công an chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ. Chưa kịp nói gì, bà chủ kéo tay hai gã công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến nơi, gã công an nói một tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu gì nhưng thấy anh bán gà gân cổ cãi lại. Cuối cùng hai người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố tình chống lại. Chúng tôi đi theo phía sau trở về phòng trọ.

Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gã công an giúp tôi, dịch lại các điều trao đổi giữa tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách tìm ra tông tích của anh ta. Tôi vội nhét vào tay bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.
- Em có cha mẹ không? Tên ông bà là gì?
- Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H'lum, mẹ tôi tên H'Nu
- Có anh em không?
- Không.
- Anh có nhớ ngày sinh không?
- Không.
(Gã công an nhìn sang tôi, bảo là sẽ đi tìm khai sinh sau)

- Anh có nhớ lúc còn nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?
- Không! Thì chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
- Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết vì sao mà có cái sẹo này không?
(Gã công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)

- Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.

Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều gì, tôi lại hỏi:
- Cha mẹ anh đang ở đâu?
- Buôn Ban Ma Dek.
(Gã công an nhìn tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)

- Anh ở chung với cha mẹ anh?
- Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
- Đã có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.

Tôi đề nghị hai gã công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về buôn Ban Ma Dek. Sau khi hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gã công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi phải thuê xe ôm, vì về buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ nhà trọ gọi dùm chúng tôi bảy cái xe ôm.

Cha mẹ của anh bán gà đã khá gìa, trước đây chỉ sống lẻ loi trong núi nên không nói được tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của lão công an người Thượng. Vợ và hai con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nhìn.

Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi khóc lóc, năn nỉ và nhờ gã công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực.
- Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi phải nằm suốt sau tảng đá to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo rằn ri, bị thương nặng lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên lưng có mang một đứa bé.

Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.
- Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.

Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:
- Tôi đã chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới lên ăn thịt.

Chúng tôi theo sau hai người công an dìu ông gìa đi về phía khu rừng.
Tôi khóc ngất khi nhìn thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được rào lại bằng những que gỗ nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi ngước lên dáo dác tìm Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ chồng tôi. Nó đang đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng, đen đúa. Tôi chạy lại ôm hai đứa nhỏ vào lòng, nhưng cả hai đứa trố mắt nhìn tôi dửng dưng, xa lạ.

Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông gìa mới cùng vợ chồng và hai đứa con thằng Ksor Tlang về nhà trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học trò thông dịch. Suốt một đêm, tôi, cháu Thùy Dương và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước mắt, xin vợ chồng Ksot Tlang và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi tôi sẽ tìm cách đưa sang Na Uy. Cả hai ông bà gìa, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha Trang và chu cấp cho ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông gìa một mực chối từ, bảo là họ không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng mãi mãi là nhà của họ. Họ không thể nào sống xa rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.

Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đã ở lại đây hơn hai tuần rồi. Ban đầu tôi tính xin phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng tôi, mang về an táng ở nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đã đổi ý. Bởi anh phải nằm ở đây, bên cạnh đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đã trở thành người Thượng và chắc không biết gì về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại với bao đồng đội, một thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang còn phảnh phất quanh đây. Tôi mướn thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có hình chân dung của anh, mà có tấm ảnh anh chụp chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh nhật bốn tuổi của Cao Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào tôi cũng mang theo.

Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng, nơi đã cưu mang nó.
Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đã vận vào cuộc đời của nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều gì cho đứa con trai ruột thịt máu mủ của mình, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng nó và ông bà cha mẹ nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng rãi hơn, sắm cho vợ chồng nó và hai đứa con một số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc mãi nó mới chịu nhận, cùng số tiền 200 đô la.

Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gã công an!

Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên ngôi nhà sàn mới. Buổi chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với tôi và vợ chồng Thùy Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó qùy bên cạnh tôi, cúi đầu nói điều gì lầm thầm trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi ngồi khóc một mình. Tôi nghĩ tình mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đã phạt tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên, nhưng không bảo vệ được con mình, để mất nó trong núi rừng này từ ngày nó mới lên bốn tuổi.


Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày xưa, mang theo trong lòng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng giữa bầu trời nhuộm màu ảm đạm. Nhìn núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá không còn nữa, mà tất cả đều mang hình dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng điệp. Tai tôi nghe trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng khóc của người hay tiếng khóc của cây?

Phạm Tín An Ninh
14/01/2010


  --------

Sài Gòn Tuyết Trắng :Vì Ðâu Nên Nỗi?

Vì Ðâu Nên Nỗi?


Cuộc chiến Việt Nam kết thúc đã hơn 37 năm, nhưng nhiều người Việt vẫn băn khoăn, thắc mắc tại sao chiến cuộc chấm dứt bất ngờ, mau lẹ và thảm hại cho miền Nam Việt Nam đến thế.  Trong việc góp phần vào việc giải đáp những thắc mắc đó, Việt Thức đăng bài sau đây trích từ cuốn Sài Gòn Tuyết Trắng của Vũ Thụy Hoàng, xuất bản năm 2000. Tác giả đã từng ở trong ngành báo chí trên 45 năm, trong đó có 33 năm với báo The Washington Post và đã về hưu từ năm 2000.
Vì Ðâu Nên Nỗi?                                                
Nhiều người dân Sài Gòn không khỏi sững sờ nhìn thấy đa số binh sĩ trong những toán quân Việt Cộng chiến thắng tiến vào thành phố là những thiếu niên, mặt mũi non choẹt, thân hình nhỏ bé, gày ốm, điệu bộ quê mùa, khờ khạo.
“Nhìn chúng, mình tức muốn ứ máu. Vừa tức! Vừa nhục! Tại sao quân đội mình hùng mạnh, võ khí tối tân mà lại thua thảm hại trước tụi con nít như vậy?” một cựu thiếu tá Bộ Tổng Tham Mưu quân lực Việt Nam Cộng Hòa nhớ lại ngày mặc chiếc áo thung bước ra khỏi sở, khi xe tăng Việt Cộng đã chiếm xong cơ sở đầu não của quân đội. “Sau này vào trại cải tạo phải nghe những giảng viên ngu dốt của nó nói còn ngọng…thế mà mình lại thua. Tức thật!”   
Nam Việt Nam không những thất trận, mà còn thua một cách thê thảm và mau lẹ làm nhiều người ngỡ ngàng. Tại sao miền Nam Việt Nam sụp đổ như thế? Vì đâu nên nỗi? 
Câu hỏi này vẫn từng ám ảnh một số người, trong đó có nhiều người chạy ra hải ngoại. Ðã có những câu trả lời hoặc giải thích việc thua trận của miền Nam Việt Nam dưới nhiều khía cạnh và nhãn quan khác nhau. Vì Mỹ bỏ rơi Việt Nam. Vì Mỹ không chủ tâm đánh thắng Hà Nội. Vì Mỹ không viện trợ đủ cho Nam Việt Nam. Vì giới lãnh đạo miền Nam Việt Nam yếu kém, tham nhũng. Vì cấp chỉ huy quân sự bỏ chạy. Vì lính Việt Nam bỏ ngũ, lo chạy vợ con. Vì cộng sản tuyên truyền giỏi và xâm nhập lũng đoạn hàng ngũ quốc gia.   
Mỗi trả lời đều có lý và đúng theo một khía cạnh của nó. Chiến tranh Việt Nam rất phức tạp vì kéo dài quá lâu và qua nhiều chính phủ khác nhau, nên khó nói được cái nào là nhân, cái nào là quả, lý do nào là chính, lý do nào là phụ. Mỗi cái đều có dính líu và liên hệ với nhau, như những mắt đan của tấm lưới. Thiết nghĩ chúng ta nên nhìn vào một số những sự kiện sau đây:
Chênh lệch lực lượng– Khi Cộng quân mở cuộc tấn công năm 1975, Nam Việt Nam ở thế bất lợi. Cán cân lực lượng tác chiến đã nghiêng về phía Cộng quân. Ðiều này thể hiện rõ ngay từ khi hiệp định Ba Lê thành hình. Trước năm 1973, Cộng quân ở Nam Việt Nam phải đương đầu với trên một triệu quân của Nam Việt Nam, cộng thêm trên 600.000 quân của Mỹ và đồng minh, được yểm trợ mạnh mẽ bằng phi pháo. Khi quân đội đồng minh rút đi hết, để lại một lỗ trống quá lớn quân lực Nam Việt Nam làm sao lấp nổi. Tổng Thống Thiệu nhận thấy điều đó nên khăng khăng không chấp nhận bản dự thảo hiệp định, theo đó 148.000 quân Bắc Việt(1) không rút khỏi Nam Việt Nam. Thiệu, trong bài diễn văn từ chức ngày 21/4/75, đã nói nếu ký hiệp định hồi đó là “phản quốc, là bán đứng Việt Nam cho Cộng sản.”(2) Việt Nam chỉ miễn cưỡng ký bản hiệp định khi được Tổng Thống Nixon cam kết mật là Mỹ sẽ “phản ứng mạnh mẽ và nhanh chóng” nếu Cộng quân gây chiến lại.(3)
Lực lượng Cộng quân Bắc Việt không những không rút đi, mà còn được tiếp tục tăng cường và bổ sung bằng quân xâm nhập mới, cùng chiến cụ tối tân hơn, để chuẩn bị cuộc chiến. Cộng quân được trang bị và hiện đại hóa hơn. Họ tổ chức “những binh chủng cơ động,” tập luyện “tác chiến hợp đồng binh chủng,” đưa “xe tăng, xe bọc thép, tên lửa, pháo tầm xa, pháo cao xạ vào tới rừng cao su Nam Bộ.” Cộng quân còn xây dựng cả hệ thống đường xâm nhập 20.000 cây số, trong đó có đường Ðông Trường Sơn mới hoàn thành, rộng tám thước, chạy hai chiều trong cả bốn mùa. Lính từ bắc vào nam đi xe cơ giới, và có 10.000 xe vận tải hỗ trợ cho chiến trường.(4) Cạnh đường Ðông Trường Sơn là 5.000 cây số ống dẫn dầu chạy từ Ðồng Hới tới Lộc Ninh. Một hệ thống giây điện thoại liên lạc thẳng với Hà Nội đã được thiết lập.(5) Riêng năm 1973 Cộng quân xâm nhập thêm 75.000 quân với 400 chiến xa. Một trung đoàn hỏa tiễn SAM cùng 13 trung đoàn phòng không được đưa thêm vào riêng trong khoảng thời gian từ đầu năm đến cuối tháng 4/1973.(6) Khi mở cuộc tân công năm 1975, Cộng quân có 19 sư đoàn, cộng thêm những trung đoàn pháo binh, thiết giáp, cao xạ và đặc công.(7) Cộng quân đã dốc toàn lực vào chiến trận, đưa hết lực lượng thiết giáp vào nam,(8) đưa sáu trong số tám sư đoàn trừ bị chiến lược vào chiến trận.(9) Với lực lượng và hệ thống tiếp liệu như trên, Cộng quân đã trở thành một đạo quân hiện đại.(10)
Trong lúc Cộng quân tăng cường mạnh mẽ như thế, lực lượng Nam Việt Nam chỉ nhận được chiến cụ do Mỹ để lại, và được thay thế theo nguyên tắc “một đổi một” của hiệp định Ba Lê. Quân viện của Mỹ cho Việt Nam lại dần dần bị cắt giảm, làm khả năng tác chiến của Nam Việt Nam giảm đi tới 60%, theo lời Thiệu.(11)
Với cán cân lực lượng mất thăng bằng đó, Văn Tiến Dũng nhận định: “Ta thế ngày càng chủ động và mạnh lên, địch ngày càng bị động và yếu đi.”(12)
Chủ động chiến trường– Chiếm ưu thế về quân sự, Cộng quân lại duy trì được thế chủ động vẫn thường nắm giữ trên chiến trường. Muốn tung ra chiến dịch tấn công, Cộng quân chỉ việc chọn địa diểm. định ngày giờ, rồi tập trung quân và đồ tiếp liệu để tấn công. Khi Việt Nam và đồng minh mở cuộc tấn công, Cộng quân thường lẩn trốn nếu thấy mình yếu thế, và chỉ giao tranh nếu thấy đương đầu được với địch hoặc không thể tránh né được. Mỹ Việt hành quân xong, Cộng quân quay trở về. Cộng quân còn lợi điểm là muốn nghỉ ngơi, dưỡng sức chỉ việc kéo quân qua Miên, Lào. Trước hè 1973 họ còn sợ phi cơ Mỹ oanh tạc, sau này họ ngang nhiên đi lại dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh.
Khi mở những trận đánh lớn, Cộng quân thường phối hợp đánh phá và quấy rối ở các vùng khác để làm kế nghi binh, đánh lạc hướng địch nhận biết chiến trường chủ yếu và cầm chân lực lượng địch khỏi tiếp cứu nhau. Sau đó Cộng quân cắt đường, cô lập mục tiêu, mở cuộc tấn công và chờ đánh quân tiếp viện.
Cũng vậy, năm 1975 Cộng quân gia tăng đánh phá ở vùng Pleiku, Kontum, quấy rối ở Gia Nghĩa, gia tăng áp lực ở Quảng Trị, trong lúc chọn Ban Mê Thuột làm mục tiêu tấn công. Ðể đánh Ban Mê Thuột, Văn Tiến Dũng dùng lực lượng tấn cộng đông gấp năm lần rưỡi quân trú phòng, sau khi đã cắt các đường giao thông đi tới thành phố.(13) Tướng Phú và Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn biết được ý đồ của địch thì đã quá trễ. Và cho dù có đoán trước được cuộc tấn công của địch, Ban Mê Thuột có thể cầm cự lâu hơn, nhưng số mạng Ban Mê Thuột có lẽ không thay đổi.(14) Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, người chỉ huy cuộc rút quân khỏi Pleiku, cũng cho rằng nếu đoán trúng được ý định của địch, cùng lắm cả sư đoàn 23 từ Pleiku kéo về thì Ban Mê Thuột cũng chỉ làm được như sư đoàn 18 ở Xuân Lộc mà thôi.(15)
Thế chủ động của Cộng quân còn được dễ dàng vì Cộng quân chỉ lo tấn công, không phải lo nhiều về phòng thủ. Cộng quân ở miền nam không có lãnh thổ, căn cứ, đường xá, cầu cống để bảo vệ, trong lúc Nam Việt Nam phải rải mỏng quân khắp nơi để phòng thủ các cơ sở hạ tầng đó.
Trong khi ấy Bắc Việt, nơi phát xuất các nguồn lực chiến tranh của Cộng quân, không sợ bị xâm chiếm, chỉ bị Mỹ oanh tạc hạn chế trước năm 1973.
TT Richard Nixon & Cố Vấn An ninh Quốc gia kiêm Ngoại Trưởng Henry Kissinger
Mỹ không trở lại tham chiến– Nắm được ưu thế về quân sự và giữ được chủ động trên chiến trường, Hà Nội biết rằng ưu thế đó có thể bị đảo lộn nếu không lực hùng mạnh, ghê gớm của Mỹ can thiệp. Cộng quân đã biết sức mạnh của không quân Mỹ trong kỳ chiến tranh, và trong cuộc tấn công năm 1972 khi Cộng quân tung nhiều chiến xa vào trận chiến. 450 chiến xa và 50.000 Cộng quân đã bị Không Quân Mỹ tiêu diệt trong cuộc tấn công này.(16) Khi bàn thảo mở chiến dịch Tây Nguyên, đánh Ban Mê Thuột, Hà Nội đã đắn đo, suy nghĩ về khả năng can thiệp của Mỹ. Khi thấy chiếm được Phước Long rồi mà Mỹ bỏ qua không can thiệp, Lê Duẩn cho rằng Mỹ một khi rút đi sẽ khó trở lại tham chiến nữa. Do đấy Bộ Chính Trị Hà Nội mới chấp thuận mở chiến dịch đánh lớn dự trù cho hai năm 1975-76.(17)
Mỹ không trở lại tham chiến làm Hà Nội nức lòng, trái lại làm Nam Việt Nam nhụt chí, mất tự tin trong cuộc kháng cự chống trả Cộng quân. Sau khi rút khỏi miền Trung, Nam Việt Nam càng ngoảnh trông về phía Mỹ, trông đợi những đoàn máy bay B.52 tới dội bom xuống đoàn quân Bắc Việt khơi khơi tiến trên các trục lộ. Giới lãnh đạo Việt Nam tin vào lời cam kết của Mỹ sẽ hành động tức thời và mạnh mẽ để cứu nguy cho Nam Việt Nam. Quân dân lúc thường vẫn nghĩ “Mỹ đời nào bỏ.” Trông đợi vào Mỹ, nhiều người Việt còn coi Mỹ như vạn năng. Việc gì Mỹ nhúng tay vào thì thành công. Việc gì Mỹ bỏ thì không còn mấy hy vọng thành tựu. Nay càng trông càng không thấy B.52, tinh thần quân dân trở nên nao núng. Câu “Mỹ đời nào bỏ” được thay thế bằng câu “Mỹ bỏ đi là hết.” Tâm trạng này cùng với những tin đồn đại về việc chia cắt đất đai, đã đẩy Nam Việt Nam mau tới chỗ sụp đổ.
Chán ghét chiến tranh– Vụ Mỹ không tham chiến trở lại là hậu quả của tình trạng chán ghét chiến tranh đã lên cao. Hồi Mỹ mới tham chiến, 70% dân Mỹ tán thành việc gửi quân qua Việt Nam Nhưng dần dần phong trào phản chiến lan rộng vì số thương vong ngày một cao, số thanh niên bị gọi nhập ngũ ngày một đông, chiến phí ngày một tăng vọt, thất vọng trước sự hùng mạnh của một đại cường quốc mà không diệt được địch quân bé nhỏ của một nước hậu tiến. Ðến năm 1968 sau vụ tấn công Tết Mậu Thân, số người Mỹ ủng hộ việc tham chiến tụt xuống 45%. Ðến năm 1975 khi Cộng quân khởi đầu cuộc tấn công, số người Mỹ chống đối việc viện trợ thêm cho Nam Việt Nam lên tới 78%.
Những cuộc biểu tình với hàng trăm ngàn người tham dự được tổ chức tại các thành phố lớn. Từ 1967-71 năm nào cũng có những cuộc biểu tình lớn ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Cuộc biểu tình năm 1969 có từ 250.000 đến nửa triệu người. Họ ngăn chặn nhân viên vào công sở làm việc. Chính phủ phải huy động 9.000 binh sĩ và 3.000 cảnh sát để phòng bị.(18) Ðến đầu thập niên 1970 việc chống đối chiến tranh Việt Nam ăn sâu vào nền văn hóa chính trị Mỹ, ảnh hưởng đến mọi giai tầng xã hội Mỹ.(19)
Việc chống đối chiến tranh không phải chỉ có trong phe tả, mà ở cả phe hữu. Một số người hăng hái chống Cộng cũng phản đối vì cho rằng Mỹ chưa thẳng tay đánh mạnh với Cộng sản như đánh thẳng ra miền Bắc Việt Nam hoặc oanh tạc đê điều Hà Nội để sớm kết thúc chiến tranh.
Trước khí thế lên cao của phong trào phản chiến, Nixon khi ra tranh cử năm 1968 cũng phải ám chỉ sẽ chấm dứt chiến tranh. Kỳ vận động tranh cử năm 1972 Nixon cố làm hết cách để có “hòa bình trong danh dự” là bằng chứng biểu hiệu ước muốn của hầu hết người Mỹ muốn rút khỏi Việt Nam.(20)
Cử tri Mỹ qua lá phiếu đi bầu đã ảnh hưởng mạnh đến chính quyền, đến đường lối của chính phủ. Tổng Thống Lyndon Johnson quyết định không ra tranh cử năm 1968 cũng vì vấn đề Việt Nam. Khi tinh thần phản chiến ăn sâu vào quốc hội, ảnh hưởng còn mạnh hơn nữa.
Khi Mỹ rút hết quân khỏi Việt Nam do hiệp định Ba Lê, việc chống đối chiến tranh vẫn không tắt hẳn. Sau hiệp định Ba Lê, hai phía Việt Nam vẫn còn những cuộc đụng độ, và phi cơ Mỹ đã bí mật oanh tạc các căn cứ Cộng quân ở Miên, Lào. Trước viễn ảnh chiến tranh có thể tái diễn và nguy cơ Mỹ bị lôi vào chiến cuộc trở lại, quốc hội Mỹ liền thông qua quyết nghị Quyền Chiến Tranh, buộc tổng thống phải thông báo cho quốc hội trong vòng 48 giờ việc đưa quân tham chiến ở nước ngoài, và việc tham chiến đó, nếu không được chấp thuận, phải chấm dứt trong 60 ngày. Tổng Thống cũng có thể xin gia hạn thêm 30 ngày nữa sau thời hạn 60 ngày với lý do phối trí để rút quân được an toàn. Nixon cho rằng quyết nghị đó hạn chế quyền của tổng thống, nên phủ quyết. Nhưng quốc hội với đa số lớn đã bác quyền phủ quyết của Nixon. Ðạo luật Quyền Chiến Tranh có hiệu lực, triển vọng Mỹ tái chiến ở Việt Nam trở nên khó khăn. Rồi Nixon, người được các giới Việt Nam cho là có lập trường cứng rắn với Cộng sản, phải từ chức vì vụ Watergate vào tháng 8/1974.
Vụ Watergate cũng bắt nguồn từ chiến tranh Việt Nam. Khi phong trào phản chiến lên cao, Nixon muốn theo dõi và thu thập tin tức về những nhóm phản chiến. Một toán “thợ ống nước” được thành lập để bịt lại những chỗ xì tin tức cho báo chí như vụ tiết lộ tài liệu của Ngũ Giác Ðài về Việt Nam. Toán thợ ống nước sau đó đột nhập vào trụ sở đảng Dân Chủ ỏ tòa nhà Watergate và bị phát giác.
Ngoài việc Nixon ra đi, quân viện Mỹ cho Việt Nam cũng giảm dần. Năm 1973 Việt Nam được Mỹ viện trợ 1 tỷ 6, Năm 1974 xuống còn 1 tỷ 1. Tới tài khóa 1975, Văn Phòng Tùy Viên Quân Sự Mỹ đề nghị 1 tỷ 600 triệu Mỹ kim, nhưng Bộ Quốc Phòng đưa sang quốc hội có 1 tỷ 400 triệu. Các ủy ban tại quốc hội cắt xuống còn một tỷ, và sau cùng quốc hội chấp thuận có 700 triệu.(21) Nhưng với vật giá gia tăng và lạm phát vì giá dầu tăng vọt, số ngân khoản trên chỉ có mãi lực bằng 20% số ngân khoản được cấp phát của năm trước.(22)
Tại Việt Nam tinh thần phản chiến không bộc lộ công khai và rộng lớn vì những vụ biểu tình dù nhỏ cũng bị nhà cầm quyền dập tắt ngay, nhưng tâm trạng chán ghét chiến tranh và ước vọng hòa bình thể hiện dưới nhiều hình thức thụ động và tế nhị.
Cuộc bầu cử tổng thống năm 1967 cho thấy một phần ước vọng hòa bình của người dân. Luật sư Trương Ðình Dzu, một ứng cử viên ít được biết đến trong chính trường, đã bất ngờ về hạng nhì trong 11 liên danh tranh cử, vượt hẳn trên một số chính khách có tên tuổi khác, và chỉ đứng sau liên danh Thiệu-Kỳ. Dưới chiêu bài hòa bình, Dzu chủ trương ngưng bắn, đình chỉ oanh tạc miền Bắc Việt Nam và thương thuyết với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Trong một cuộc bầu cử bị chính quyền chi phối nhiều, và việc cổ võ hòa bình bị coi là thân Cộng, Dzu đứng hạng nhì làm nhiều người ngạc nhiên và cho thấy nhiều người Việt mong mỏi chiến tranh chấm dứt. Dzu đã thắng phiếu nhiều ở miền quê, nơi người dân phải chịu đựng những tai họa chiến tranh nhiều nhất.
Nhạc Trịnh Công Sơn, bị coi là phản chiến, đã thịnh hành khắp các thôn xóm qua tiếng hát đượm buồn, gợi cảm của Khánh Ly. Những lời ca diễn tả tang tóc của chiến tranh đã phù hợp với tâm trạng của nhiều người.
Ðối với nhiều thanh niên và binh sĩ, tình trạng mệt mỏi, chán ghét chiến tranh được ẩn núp dưới những hình thức thích ứng. Công chức, tư chức thường tìm kế để khỏi động viên, để được hoãn dịch. Thanh niên tìm cách tránh nhập ngũ. Một số bị gọi vào lính, rồi sau đào ngũ để lo cho gia đình. Số đào ngũ mỗi tháng từ 15.000 đến 20.000,(23) tức là mỗi năm mất đi khoảng 200.000 quân. Rồi còn nạn vắng mặt lâu ngày không có phép, chạy chọt để làm lính ma, lính kiểng, có chỗ ngồi ở hậu cứ.
Dân quê ở đồng ruộng thường phải đi hàng hai: ngày theo Quốc gia, tối theo Cộng sản, để được an thân.
TT Nguyễn Văn Thiệu & TT Richard Nixon
Mỹ Việt không hiểu nhau– Mỹ, Việt là đồng minh với nhau trong gần suốt cuộc chiến, nhưng trong nhiều trường hợp không hiểu được ý của nhau. Không hiểu nhau, thì hành động không đúng ý mong muốn của bên kia.
Mỹ can dự vào Việt Nam, đài thọ chiến phí và vũ khí từ đầu thập niên 1950 vì Mỹ muốn theo chiến lược “be bờ” toàn cầu để ngăn chặn làn sóng đỏ khỏi tràn xuống vùng Ðông Nam Á. Người Việt thấy Mỹ viện trợ, rồi sau tham chiến ở Việt Nam, thì coi đó là trách nhiệm của Mỹ, công việc Mỹ phải làm, chứ không nương theo sự cộng tác đó để vươn lên chỗ tự lực, tự cường.
Nhiều người Việt thấy Mỹ đổ quân ào ạt vào Việt Nam khoảng giữa thập niên 1960 và bỏ tiền xây dựng nhiều căn cứ và cơ sở ở Việt Nam như Cam Ranh, Ðà Nẵng, Long Bình thì cho rằng Mỹ không bao giờ bỏ Việt Nam. Các cơ sở đó to thật đối với Việt Nam, nhưng có thấm gì so với những cơ sở khác tại Mỹ.
Mỹ đưa ra chương trình Việt Nam hóa chiến tranh là để sửa soạn rút chân ra khỏi bãi lầy. Việt Nam ban đầu không hiểu được ý định của Mỹ, vẫn nghĩ rằng Mỹ có rút sẽ để lại “một lực lượng trú phòng” tại Việt Nam. Thiệu và Nixon gặp nhau ở đảo Midway vào tháng 6, 1969, rồi loan báo bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam. Các chiến lược gia Việt Nam sau đấy vẫn muốn Mỹ duy trì khoảng 200.000 quân tác chiến và yểm trợ tại những căn cứ Ðà Nẵng, Cam Ranh và Vũng Tàu, khi chương trình Việt Nam hóa chiến tranh được hoàn tất vào cuối năm 1972.(24) Như Mỹ từng để quân ở Ðại Hàn, ở Âu châu, Việt Nam hy vọng lực lượng trú phòng đó sẽ là một bảo đảm cho Nam Việt Nam nếu Bắc Việt xâm lăng.
Ðể thử lửa chương trình Việt Nam hóa, quân lực Việt Nam mở cuộc hành quân qua Kampuchia năm 1970 và Hạ Lào năm 1971. Cả hai cuộc hành quân đều không đạt kết quả mong muốn. Cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào Tchepone ở Lào suýt thành thảm bại nếu không có không quân Mỹ cứu kịp.(25) Thế mà cả Thiệu lẫn Nixon đều cho là thành công. Mỹ khen có tính cách xã giao, khuyến khích và để có cớ rút đi. Mỹ, khi li dị hoặc sa thải nhân viên, vẫn công khai có lời lẽ ca ngợi, tâng bốc. Việt Nam được Mỹ khen, không nhìn thấy nhược điểm của mình, không nhận thức được thực trạng mối liên lạc giữa mình với Mỹ.
Khi hiệp định Ba Lê sắp ra đời, thấy quân Mỹ phải rút đi mà Cộng quân Bắc Việt còn nằm lại ở miền nam sẽ là mối nguy lớn, Nam Việt Nam đòi Mỹ cam kết sẽ hành động mạnh nếu Cộng quân gây chiến lại. Hiệp định Ba Lê được ký kết. Mỹ hài lòng vì đạt được “hòa bình trong vinh dự” như lời Nixon. Thiệu, dù biết không ký cũng không được, cũng an tâm vì có lời cam kết.
Lời cam kết không được thi hành vì người cam kết không còn tại chức. Dù còn ở lại, Nixon cũng không dễ gì thực hiện lời cam kết khi quốc hội và dân chúng Mỹ vì quá chán ghét chiến tranh đã hạn chế quyền tổng thống đưa quân đi tham chiến ở nước ngoài. Tổng Thống Gerald Ford, người kế vị Nixon, khi nghe Alexander Haig yêu cầu can thiệp để cứu Nam Việt Nam đã nói dân Mỹ “không còn lòng dạ nào tiếp chiến nữa.”(26)
Nam Việt Nam có thể phải bám vào lời cam kết đó vì không còn gì khác để níu kéo Mỹ. Nhưng việc trông cậy vào lời cam kết còn cho thấy Nam Việt Nam không am hiểu tình hình chính trị Mỹ. Tại Nam Việt Nam tổng thống dễ dàng chi phối quốc hội. Tại Mỹ quốc hội thường gây khó khăn cho tổng thống. Với những cuộc biểu tình khổng lồ chống đối chiến tranh, với một quốc hội không muốn Mỹ trở lại tham chiến, tổng thống Mỹ có dám vì Việt Nam đi ngược lại?
Vấn đề tái can thiệp đã được đề cập đến nhiều lần và nhiều viên chức Mỹ đã cho thấy quân Mỹ khó có thể trở lại Việt Nam. Ngay sau khi hội kiến với Nixon ở San Clemente vào tháng 4/1973 để bàn về vấn đề Việt Nam sau hiệp định Ba Lê, Tổng Thống Thiệu đã được Nixon xác nhận lời cam kết sẽ can thiệp nếu Bắc Việt xâm lăng. Thiệu cũng tỏ ý tin tưởng là không lực Mỹ sẽ oanh tạc Việt Cộng ở Kampuchia, thì đại sứ Mỹ Ellsworrth Bunker nói liền triển vọng Mỹ tái chiến ở Việt Nam “rất xa vời.”(27)
Việt Nam như một cô gái đã trao cả số phận mình trong tay một công tử hào hoa và nghĩ cuộc tình bền chặt mãi mãi. Khi chàng trai bay nhảy trở về nguyên quán, nàng vẫn nghĩ chàng sẽ trở lại và cứ đợi chờ.
Người dân Mỹ quen với những thể thức dân chủ như bầu cử tự do, tự do ngôn luận, tự do báo chí, trong lúc nhà cầm quyền Việt Nam, vì phải đương đầu với cộng sản trong những công tác địch vận, phá hoại và khuynh đảo, nên nhìn những định chế đó như cản trở và nguy hại cho quyền hạn và địa vị của mình. Người dân Mỹ vì vậy nhìn những chế độ ở Nam Việt Nam là độc tài, thiếu dân chủ.
Nhiều hình ảnh trên truyền hình và các phương tiện truyền thông cho thấy những khía cạnh tham nhũng, thối nát, độc tài, vi phạm nhân quyền ở Nam Việt Nam, mà không cho thấy được những điều tương tự trong chế độ Bắc Việt.
Nhiều người Mỹ đã không nhạy bén mau lẹ để nhận biết những mánh lới che đậy của Việt Cộng. Phải qua mấy năm họ mới biết Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam là con đẻ của Hà Nội và do Hà Nội chỉ huy, và cuộc chiến tại miền Nam Việt Nam do Hà Nội chủ trương.
Sách lược của Mỹ cũng không thuần nhất, thiếu dứt khoát và không rõ rệt. Mỹ sang giúp Việt Nam sau năm 1954 chỉ cốt giúp phòng vệ trong trường hợp Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam. Khi Bắc Việt không xua quân qua sông Bến Hải mà tiến hành cuộc chiến phá hoại nhằm lật đổ chế độ ở Nam Việt Nam thì Mỹ lo giúp Nam Việt Nam chống trả cuộc chiến tranh du kích. Khi Bắc Việt đẩy mạnh chiến tranh du kích và phối hợp với trận địa chiến, Mỹ cho Bắc Việt nếm đòn chiến tranh bằng cách dội bom dần dần lên phía bắc theo kiểu leo thang, lúc oanh tạc, lúc đình chỉ. Cuộc oanh tạc nhằm ngăn chặn nguồn xâm nhập người và chiến cụ từ bắc vào nam, nhằm đánh bại ý đồ xâm chiếm miền Nam Việt Nam, chứ không nhằm đánh bại Bắc Việt. Khi kết quả không đạt như ý muốn, chiến tranh vẫn tiếp diễn, Mỹ thương thuyết để có “hòa bình trong danh dự” mà rút đi. Rút ra rồi, Mỹ không muốn trở lại bãi lầy vừa thoát.
Giới lảnh đạo Việt Nam tất nhiên có trách nhiệm trong việc Nam Việt Nam sụp đổ. Các nhà lãnh đạo Việt Nam, chính trị cũng như quân sự, vì quá lệ thuộc vào Mỹ, quá trông đợi vào Mỹ, nên có nhiều bất động, ít sáng kiến trong việc hoạch định chính sách, không thích ứng mau lẹ trước những thay đổi và biến chuyển của tình hình, ít dự phóng cho tương lai và thiếu những kế hoạch dự phòng trong trường hợp khẩn cấp.
Mỹ bắt đầu rút chân khỏi Việt Nam từ năm 1969 mà giới lảnh đạo Việt Nam không cải tổ quân đội cho thích hợp với vai trò mới trên chiến trường, ngoài việc tiếp nhận vũ khí và chiến cụ của Mỹ. Họ vẫn nghĩ Mỹ không rút đi hết. Năm 1969 giới lãnh đạo Việt Nam nghĩ Mỹ để lại 200.000 quân trú phòng. Ðến năm 1971 khi quân Mỹ ở Việt Nam còn 200.000, Tổng Thống Thiệu còn nghĩ Mỹ để lại Việt Nam ít là 50.000 quân sau năm 1973. Thiệu cũng nói Việt Nam cần không lực Mỹ yểm trợ trong nhiều năm nữa.(28) Ðến khi Mỹ rút rồi thì vẫn trông đợi vào “phản ứng tức thời và mạnh mẽ” của Mỹ trong việc đương đầu với Cộng sản.
Thái độ quá trông đợi này phải chăng là hậu quả của quá khứ phải dựa nhiều vào người ngoài, trước là Pháp, sau là Mỹ. Xuất thân từ quân đội và chế ngự sân khấu chính trị Việt Nam từ sau Tổng Thống Diệm, các tướng lãnh Việt Nam đã ở trong những lực lượng từng đóng giữ vai trò bổ túc trong gần suốt cuộc chiến. Quân đội Việt Nam hình thành lúc đầu là để bổ sung cho lực lượng viễn chinh Pháp trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ nhất. Lớn mạnh lên và được Mỹ huấn luyện sau năm 1954, quân đội Việt Nam lại cũng đóng vai phụ thuộc trên chiến trường từ năm 1965 cho tới ngày Mỹ rút.
Về mặt chính trị, Thiệu cũng như nhiều chính trị gia và tướng lãnh khác đều biết sự tồn tại của mình tùy thuộc nhiều vào Mỹ. Vụ Thiệu-Kỳ đứng chung nhau trong kỳ bầu cử năm 1967 cũng có bàn tay Mỹ (xem chương 5, Sài Gòn Tuyết Trắng) Trong vụ bầu cử tổng thống năm 1971 Mỹ cũng cố sắp xếp để trước là Dương Văn Minh, sau là Kỳ tham gia bầu cử để khỏi có độc diễn. (xem chương 8, Sài Gòn Tuyết Trắng)
Ngoài việc củng cố địa vị của Thiệu, Mỹ đã cài người trong các cơ cấu chính trị, quân sự và hành chánh của Việt Nam, cùng theo dõi các hoạt động của chính phủ Việt Nam. Mỹ đã “mua chuộc, hối lộ và bán” nhiều nhân vật trong guồng máy chính quyền Việt Nam. Phủ Tổng Thống và Phủ Thủ Tướng đều bị Mỹ đặt máy ghi âm để nghe lén các cuộc thảo luận và chuyện trò. Nghiệp đoàn và các đảng phái đối lập cũng bị Mỹ mua chuộc, chi phối. (29)
Tại các phủ bộ khác, những chương trình, kế hoạch dễ được thực hiện nếu được Mỹ tán thành yểm trợ về ngân sách.
Trong hoàn cảnh đó, các nhà lãnh đạo Việt Nam không đủ lực để có đường lối hành động độc lập, không dám làm gì mất lòng Mỹ, hoặc đi ngược lại đường lối Mỹ đã vạch ra.
Về mặt quân sự, quân đội lệ thuộc gần như hoàn toàn vào Mỹ, từ võ khí, quân trang, quân dụng, cho tới cả phi pháo yểm trợ lúc có cuộc hành quân lớn. Cố vấn Mỹ trong nhiều trường hợp là người thực sự điều khiển trận đánh, vì giữ vai trò quyết định trong việc làm kế hoạch hành quân và xin phi pháo yểm trợ.
Theo Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, tư lệnh sư đoàn 25 Bộ Binh, tâm trạng của các chỉ huy trưởng không phải là tâm trạng chiến đấu. Khi trận đánh trở nên gay go, họ không muốn chiến đấu nữa. Họ muốn dựa vào Mỹ. Khi không có Mỹ giúp, họ bỏ chạy. Ðó là bịnh mà quân đội Việt Nam mắc phải.(30)
Vì quá trông đợi vào Mỹ, giới lãnh đạo Việt Nam không có cả kế hoạch dự phòng trong trường hợp khẩn cấp. Vụ rút quân khỏi Pleiku không được trù liệu từ trước, không có hoạch định với chi tiết rõ rệt, mà chỉ được quyết định và thi hành trong hai ngày. Rút quân bình thường đã là khó. Rút quân trong trường hợp vội vã, hấp tấp với lực lượng của cả một quân đoàn, cộng thêm với thân nhân và gia đình đông đảo của binh sĩ, trong lúc địch lại có lực lượng hùng hậu bố trí sẵn ở gần, làm sao thoát hỏi thảm họa?
“Có nghĩ rồi mà không dám nói ra,” như lời Ðại Tướng Cao Văn Viên nói với Thiệu, “vì sợ bị coi là đi ngược lại chính sách của tổng thống, là chủ bại.” Câu nói của Viên hé lộ người lãnh đạo không cởi mở để dễ dàng đón nhận những ý kiến trái ngược với mình, và do đấy cộng sự viên không dám trình bày ý kiến mà giữ thái độ ù lì, bất động. Thiệu tập trung quyền hành trong tay, liên lạc thẳng với các tướng quân đoàn. Bộ Tổng Tham Mưu không có điều hành chiến trường, mà chỉ là “hộp thư” chuyển lệnh của tổng thống.(31)
Ðảo chánh cũng là mối quan tâm khiến các nhà lãnh đạo phải lo đề phòng, nên khó dồn hết tâm lực vào việc nước. Những cuộc chính biến và biểu tình từ sau vụ đảo chánh Ngô Ðinh Diệm hẳn đã làm người cầm quyền lo củng cố địa vị và phòng ngừa biến động.
Rã ngũ để lo cho thân nhân là một yếu tố nữa làm Nam Việt Nam mau sụp đổ. Trước kia trong những cuộc tấn công hay chiến đấu phòng vệ, người lính Nam Việt Nam ít phải lo cho thân nhân nên chiến đấu với nhiều quả cảm. Nhưng vào năm 1975 khi phải rút chạy, họ không muốn bỏ rơi vợ con, hoặc để vợ con bị Việt Cộng sát hại, nên lo tìm kiếm vợ con để mang theo. Cảnh quân dân lẫn lộn rút khỏi Pleiku, cảnh thành phố Ðà Nẵng đông nghẹt dân và lính từ những vùng khác kéo về, đã làm mất khả năng tác chiến của đơn vị đi cùng. Tình trạng đó sau lan sang các vùng khác.
Sự suy sụp tinh thần trong một số trường hợp đã biến đổi người lính ưu tú trở thành tàn bạo. Trong lúc hoảng sợ, chạy Việt Cộng, có binh sĩ thiết giáp cán đè lên chiến hữu,(32) có anh lính Thủy Quân Lục Chiến bắn sĩ quan Bộ Binh theo kiểu hành quyết để giữ chỗ trên tàu,(33) có binh sĩ thám báo đạp đàn bà trẻ con để leo lên máy bay ra khỏi Ðà Nẵng.(34)
Quân dân không nhiệt tình lắm với cuộc chiến là một yếu tố. Không bị kiềm tỏa và kiểm soát chặt chẽ như ở những vùng Cộng sản, nhiều người dân miền nam coi cuộc chiến đấu chống Cộng là công việc của chính quyền. Chính quyền là guồng máy công chức và quân đội. Nhưng đa số công chức và binh sĩ không gắn bó với chế độ, không coi mình là người của chế độ, mà chỉ muốn là kẻ bàng quan, làm xong công việc mình phải làm để cấp trên khỏi xài xể, khiển trách hoặc thuyên chuyển. “Tà tà” là danh từ phổ thông trong giới công bộc nhà nước và trong hàng ngũ quân nhân. “Ăn giải gì?” là câu nhiều người bảo nhau để lơ là với công việc.
Tìm cách trốn tránh công việc và tìm chỗ nhàn hạ bằng nhiều mưu kế khác nhau đã được nhà văn Lê Văn Phúc diễn tả trong cuốn Tôi Làm Tôi Mất Nước.
Quân dân xa vời và cách biệt với chính quyền vì cho rằng mình phải khổ cực để phục vụ cho một giai cấp được nhiều ưu đãi. Thanh niên bị nhập ngũ không vui lòng khi thấy những con nhà lãnh đạo, con các tướng không hề khoác áo nhà binh, nói gì áo trận. Không thấy tin tức nào nói con các tướng đi trận, trong khi đọc sách báo thấy Trung Úy Bernard De Lattre de Tassigny của Pháp tử trận ở Ninh Bình, trong lúc bố làm tổng tư lệnh quân đội viễn chinh tại Ðông Dương. Bảo Ðại muốn lấy lòng tướng De Lattre đã đề nghị lấy Bernard về làm võ phòng, nhưng De Lattre không chịu. Trung Úy hải quân John McCain đi oanh kích Bắc Việt và bị bắn rơi, bị tù sáu năm, trong lúc bố làm đô đốc, rồi làm tư lệnh các lực lượng Mỹ tại Thái Bình Dương chỉ huy những cuộc oanh kích Bắc Việt. Ðại úy Charles Robbs vẫn lên đường sang Việt Nam làm đại đội trưởng Thủy Quân Lục Chiến kỳ Tết Mậu Thân, trong lúc vợ mới cưới được mấy tháng đang mang bầu mà bố vợ là Tổng Thống Lyndon Johnson quyền thế nhất thế giới.
Việc tưởng thưởng trong quân đội cũng có nhiều hoen ố. Có những quân nhân ngồi văn phòng hay hậu cứ mà lên lon nhanh, đoạt huy chương anh dũng bội tinh dành cho chiến binh ngoài mặt trận, trong khi người chiến sĩ vào sinh ra tử, lập nhiều chiến tích lại bị cướp công. Có binh sĩ Thủy Quân Lục Chiến ngồi “quanh năm suốt tháng ở hậu cứ…chưa hề nghe tiếng súng bắn ngược” lại được chọn làm chiến sĩ xuất sắc đi dự đại hội ở Sài Gòn.(35)
Người bị động viên thì bị giữ lâu trong quân đội, còn người được hoãn dịch tiếp tục ở nhà.
Bị giữ mãi trong đời lính, nhiều quân nhân không còn hăng hái. Một số bỏ đội ngũ, mỗi tháng cả 20.000 người. Hầu hết những người này đào ngũ không phải vì theo Việt Cộng, mà chỉ là để lo cho gia đình.
Tham nhũng và hối mại quyền thế cũng làm dân chúng xa cách chính quyền, dù tệ nạn đã trở thành một tập tục truyền thống của Việt Nam. Với quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ,” những người lên cầm quyền khó giữ bàn tay trong sạch.
Cộng sản có sách lược rõ ràng và chỉ có mục tiêu theo đuổi từ đầu tới cuối. Trong cuộc chiến dài 30 năm, Cộng sản nắm giữ chiêu bài chống ngoại xâm, dành độc lập, thống nhất lãnh thổ để vận động quần chúng. Trước kia Việt Minh hô hào dân chúng chống Pháp để dành độc lập. Sau này Cộng sản cổ võ nhân dân chống Mỹ để giải phóng miền nam với khẩu hiệu “Ðánh cho Mỹ cút Ngụy nhào.”
Ðể đạt mục tiêu, Cộng sản mở cuộc chiến toàn diện, dốc toàn lực vào chiến tranh, huy động mọi nhân lực và vật lực cho chiến trường, mở trận tuyến trên các lãnh vực quân sự, chính trị, kinh tế, ngoại giao, tuyên truyền, địch vận. Thể chế độc tài, kiểm soát chặt chẽ, thông tin bưng bít, tuyên truyền xuyên tạc đã giúp Cộng sản đẩy mạnh dân chúng tham gia cuộc chiến.
Ở thế yếu lúc ban đầu, Cộng sản chủ trương đánh đến cùng, không có thời hạn, nêu cao khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi.” Bị bom đạn tàn phá, bị thất thế, Cộng sản vẫn bền bỉ chịu đựng.
Tại các nước Pháp, Mỹ, chiến tranh kéo dài làm họ suy nhụt ý chí chiến đấu, tạo ra những bất mãn và chống đối chiến tranh. Khi gặp sự chống đối lên cao của quần chúng, chính phủ những nước đó không thể không theo ý nguyện của người dân. Chiến tranh Ðông Dương lần thứ nhất vào lúc cuối đã làm nhiều chính phủ Pháp bị lật đổ. Tại Mỹ các tổng thống can dự vào chiến cuộc Việt Nam lần lượt ra đi vì mãn nhiệm kỳ. Chính phủ mới lên, đường lối và chính sách cũng đổi mới theo. Tại Nam Việt Nam sau vụ đảo chánh Tổng Thống Ngô Ðình Diệm, có tới chín chính phủ thay nhau trong khoảng 19 tháng.(36)
Tại Hà Nội giới lãnh đạo vẫn thuần nhất trong suốt ba chục năm chiến tranh, không có đảo chánh hay chỉnh lý. Hồ Chí Minh chết, Lê Duẩn lên thay, vẫn tiếp tục cuộc chiến như trước.
Nhìn lại những sự kiện trình bày trên, việc Mỹ không tái chiến ở Việt Nam vì dân Mỹ quá chán ghét chiến tranh là yếu tố trội yếu hơn cả để chiến tranh Việt Nam chấm dứt. Cả hai phía Nam Việt Nam và Bắc Việt Nam đều chú mục và nghiêm chỉnh cứu xét khả năng Mỹ trở lại tham chiến để từ đó hoạch định đường lối hành động.
Hà Nội đắn đo, suy tính vì biết Mỹ tái chiến có thể bẻ gãy chiến dịch tấn công của Cộng quân. Tin rằng Mỹ rút ra rồi sẽ khó trở lại, Hà Nội tiến hành chiến dịch Tây Nguyên. Hà Nội dự trù cuộc tổng công kích trong hai năm 1975-76, nhưng chưa đầy hai tháng đã đạt được thắng lợi.
Sài Gòn biết thực lực của mình và trông đợi vào không lực Mỹ để đẩy lui cuộc tấn công của Cộng sản. Sài Gòn nghĩ Mỹ sẽ yển trợ mình một khi Bắc Việt mở cuộc tấn công lớn, và sẽ tiếp cứu nếu Nam Việt Nam lâm nguy.
Cả Bắc Việt Nam lẫn Nam Việt Nam đều biết cuộc tấn công của Cộng quân có ít cơ may thành công nếu Mỹ trở lại. Ðiều khác nhau là Bắc Việt đoán đúng Mỹ không trở lại, còn Nam Việt Nam lầm tin Mỹ sẽ đến cứu.
Vũ Thụy Hoàng
Chú thích
1. Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 737
2. New York Times, ngày 22/4/1975.
3. Nguyễn Tiến Hưng, Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập
4. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân, trang 51
5. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân, trang 19-21
6. Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 738
7. Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 737
8. Kutler, Stanley C., Encyclopedia of the Vietnam War, trang 232
9. Lee, Edward J. & Haynsworth, Toby, White Christmas in April, trang 44
10. Currey, Cecil, Victory At No Cost tr. 293-294
11. New York Times ngày 22/4/1975)
12. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân, trang 25
13. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân, trang
14. Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 772
15. Nói chuyện với Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất ngày 30/10/1999 tại Virginia
16. Kutler, Stanley C., Encyclopedia of the Vietnam war, trang 188
17. Văn Tiến Dũng, Ðại Thắng Mùa Xuân, trang 27-28
18. Washington Post ngày 27/9/1969
19. Kutler, Stanley C., Encyclopedia of the Vietnam war, trang 44
20. Kutler, Stanley C., Encyclopedia of the Vietnam war, trang 44
21. Lee, Edward J. & Haynsworth, Toby, White Christmas in April, trang 43
22. Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 746
23 Davidson, Philip B., Vietnam at War, trang 749
24. Washington Post ngày 27/9/1969
25. Kutler, Stanley C., Encyclopedia of the Vietnam war, trang 85
26. Lee, Edward J. & Haynsworth, Toby, White Christmas in April, trang 26
27. Washington Post ngày 7/4/1973
28. Washington Post ngày 17/9/1971
29. Snepp, Frank, Decent Interval, trang 13-15
30. Larry Engelmann, Tears Before the Rain, trang 242
31. Nguyễn Tiến Hưng, Hồ Sơ Mật Dinh Ðộc Lập, trang 451
32. Cao Xuân Huy, Tháng Ba Gãy Súng, trang 116-119
33. Cao Xuân Huy, Tháng Ba Gãy Súng, trang 121-124
34. Butler, David, Fall of Saigon, trang 161-164
35. Cao Xuân Huy, Tháng Ba Gãy Súng, trang 28
36. Tucker, Spencer C., Vietnam, trang 124

Bài Xem Nhiều