We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 16 November 2012

Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm: Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa


Images intégrées 1
Khi nói đến chủ quyền của hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, thì cho dù là phía đảng Cộng sản Hà Nội, và ngay những người đã và đang chống đối người đã sáng lập ra Thể Chế Cộng Hòa, và cũng là vị Tổng Tư Lệnh Đầu tiên của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa; đồng thời là người lãnh đạo Nền Đệ Nhất Việt Nam: Cố tổng Thống Ngô Đình Diệm, cũng không phủ nhận được những sự kiện đã được khắc ghi vào vào bia đá của lịch sử:
Ngoài những sự kiện lịch sử hiển nhiên ấy, thì không một ai phủ nhận được một chúng tích lịch sử về chủ quyền trên đảo Hoàng Sa. Đó là, tấm hình chụp Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đi thăm viếng đồng bào tại Cù Lao Lý Sơn, tức Cù Lao Ré, thuộc quần đảo Hoàng Sa.
Quả đúng như thế, vì ngay sau khi ổn định được những nạn sứ quân cát cứ, vượt qua những thử thách, khó khăn do những âm mưu của ngoại nhân cố tình phá hoại, cho đến ngày bầu cử Quốc Hội Lập Hiến, vào ngày 4-3-1956; sau đó, Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa, do Quốc Hội Lập Hiến biểu quyết ngày 20-10-1956, đã được ban hành ngày 26-10-1956, với đầy đủ Tam quyền Phân lập: Lập Pháp - Hành Pháp và Tư Pháp.
Lịch sử đã khắc ghi, năm 1954, căn cứ theo Hiệp định Genève về Việt Nam, thì trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền của nước Việt nam Cộng Hòa. Tháng 4-1956, khi quân Pháp rút khỏi miền Nam Việt Nam, quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã ra tiếp thu các đảo và quần đảo trên Biển Đông. Kể từ 1956, về pháp lý và trên thực tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục có nhiều hành động công khai để khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:
Ngày 22-8-1956, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã đổ bộ lên các đảo chính của quần đảo Trường Sa, dựng cột đá chủ quyền và treo lá Cờ vàng Ba Sọc Đỏ trên các đảo. Ngày 22-10-1956, Sắc lệnh số 143/NV của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lỵ tại miền Nam. Trong danh sách các đơn vị hành chính theo Sắc lệnh đó có Bà Rịa-Vũng Tàu được đổi thành tỉnh Phước Tuy và đảo Hoàng Sa (Sắc lệnh chú thích là Spratly) trong quần đảo Trường Sa thuộc về tỉnh Phước Tuy cùng tên với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía bắc. Ngày 13-7-1961, Sắc lệnh số 174/NV của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa Thiên, (nay thuộc tỉnh Quảng Nam).
Ngoài những sự kiện ấy, để khẳng định một cách đanh thép trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên các quần đảo Hoàng Sa. Vì thế, nên vào năm 1961, chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã đích thân ra thăm viếng Cù Lao Ré (tức Cù Lao Lý Sơn), như tấm hình chụp ở phía trên của bài viết, là một chứng tích, để mãi mãi, đời đời cho hậu thế còn tưởng nhớ đến những bước chân lưu dấu lịch sử của cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Và ngoài những sự kiện lịch sử ấy, trong khi ở ngoài Bắc, của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, thì chẳng riêng là "lịch sử" do đảng Cộng sản viết, mà những kẻ được cho là "nhà báo, nhà văn-nhà thơ đã từng viết về đất nước Việt Nam là: "từ Hà Giang hoặc từ Lạng Sơn đến mũi Cà Mau". Nhưng tại đất nước Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ đã cho in những con tem có in hình một bản đồ của nước Việt Nam trọn vẹn từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; và Bộ Quốc Gia Giáo Dục Đệ nhấtViệt Nam Cộng Hòa còn có những sách Giáo Khoa, cho học sinh từ lớp tư, lớp ba ở bậc tiểu học phải học về địa lý như sau:
Nước Việt Nam hình cong chữ S, từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau; hoặc bài thuộc lòng:
Từ Nam Quan, đến Cà Mau
Non sông gấm vóc, nghèo giàu kết thân.
Yêu nhau như thể tay chân,
Ra ngoài chị ngã, em nâng ngay vào.
Núi kia ai đắp nên cao,
Tình Dân Tộc, nghĩa Đồng Bào thiết tha.
Cùng nhau chung một mầu da,
Cùng dòng máu Việt, một nhà Lạc Long.
Chúng ta dòng giống Tiên Rồng,
Đừng quên rằng: Bắc-Nam-Trung một nhà.
Qua những bài học cho học sinh từ bậc tiểu học, đã cho mọi người hiểu được: Chính phủ Đệ Nhất Cộng Hòa đã KHÔNG ký vào Hiệp định Genève, 1954 về Việt Nam, cho nên không chấp nhận sự chia cắt đất nước. Bởi vậy, nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm của Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa đã có mưu cầu Bắc tiến, để giải cứu đồng bào miền Bắc đang phải sống dưới chế độ Cộng sản vô thần, mà qua đó, chúng ta đã từng nghe nhạc sĩ Lam Phương đã viết lên những lời tha thiết :
"Anh cùng em xây một nhịp cầu, để mai đây, quan Nam về Thăng Long đem thanh bình về sưởi ấm muôn lòng".
Lịch sử vốn như ánh mặt Trời. Vì thế, cho nên bàn tay của con người không bao giờ che khuất được những sự thật lịch sử ấy. Nên biết và nên nhớ: Sắc lệnh của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Đình Diệm đã công bố vào ngày 13/7/1961, trước cả thế giới, với Sắc lệnh này, chính phủ của Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa đã khẳng định chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa. Đồng thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm cũng đã cho xây dựng Bia Chủ Quyền trên cả quần đảo Trường Sa.
"Ẩm thủy tư nguyên", hay Uống nước nhớ nguồn - Ăn quả nhớ kẻ trồng cây. Vậy, những người đã và đang núp dưới chiếc bóng và cũng là vầng hào quang của nước Việt Nam Cộng Hòa-Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa- Chiến Sĩ Cộng Hòa và các tổ chức "chính trị- tranh đấu" dưới danh nghĩaViệt Nam Cộng Hòa. Tất cả những người ấy, nếu còn có chút lương tri của một con người thật sự, thì không bao giờ cho phép mình được quên rằng: Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã tận hiến cả đời mình đối với Tổ Quốc và Dân Tộc - Người đã khai sáng Thể Chế Cộng Hòa Việt Nam, và là người đã từng khẳng định trước cả thế giới về chủ quyền của nước Việt Nam Cộng Hòa trên cả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa; và cũng chính Tổng Thống Ngô Đình Diệm; Người đã lưu dấu bước chân lịch sử trên đảo Hoàng Sa.
Paris, 14/10/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
--------------------------------------------------


Đệ nhất Cộng Hòa Việt Nam


Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Đệ nhất Cộng hòa (1955-1963) là chính phủ của Việt Nam Cộng hòa được thành lập sau cuộc trưng cầu dân ý năm 1955miền Nam Việt Nam. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý là quốc trưởng Bảo Đại Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy bị truất phế và chính thể Quốc gia Việt Nam bị giải tán. Thay vào đó thủ tướng Ngô Đình Diệm đứng ra lập nền cộng hòa với lập trường chống cộng sản. Năm 1956 Quốc hội Lập hiến chính thức soạn một hiến pháp mới và khai sinh nền cộng hòa. Được sự hậu thuẫn của Mỹ và các nước Tây phương, nền Đệ nhất Cộng hòa đã thành công trong việc thống nhất quyền lực, dẹp các lực lượng vũ trang giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo và diệt nhóm Bình Xuyên.


Quốc huy Đệ nhất Cộng hòa (1955 – 1963)

Images intégrées 3Sắc lệnh số 174-NV ngày 13/7/1961 của
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà Ngô Đình Diệm

Images intégrées 4
Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa, quần đảo Trường Sa
(1961)

Images intégrées 5
Hình tem bản đồ Việt Nam Cộng Hòa từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau
Images intégrées 6


Images intégrées 7
Images intégrées 8


Images intégrées 9

Images intégrées 10


Images intégrées 11
Images intégrées 13

Images intégrées 14

Images intégrées 15

Images intégrées 16

Images intégrées 17

Images intégrées 18

Images intégrées 19
Chiến Sĩ Cộng Hòa
Images intégrées 20

Washington: Biểu Tình -Tọa Kháng và Tuyệt Thực 24 Giờ vì Nhân Quyền Việt Nam, trước Tòa Đại Sứ CSVG

Ngày 14 tháng 11, 2012

THÔNG BÁO SỐ 2

Biểu Tình, Tọa Kháng và Tuyệt Thực Trước Tòa Đại Sứ CSVN tại Washington D.C. và Cuộc Vận Động Quốc Hội Hoa Kỳ nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2012

Kêu gọi đồng hương khắp nơi cùng nhau đoàn kết thành
“Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”
lên án nhà cầm quyền CSVN chà đạp nhân quyền

Kính thưa quý đồng hương, quý hội đoàn, tổ chức, chính đảng, và quý cơ quan truyền thông bạn:

Chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”, với chỉ tiêu là 100,000 chữ ký từ đồng bào trong và ngoài nước vì nhân quyền cho Việt Nam nhân ngày Quốc Tế Nhân Quyền, đến ngày hôm nay đã vượt trên 80,000!  Mục đích thỉnh nguyện thư là gửi Hội Đồng Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Châu Âu và các Quốc Gia Tự Do kêu gọi sự quan tâm và can thiệp của quốc tế trước tình hình vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Việt Nam.

Để đánh dấu Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 2012 và nói lên sức mạnh của “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói”, SBTN và các đoàn thể sẽ tổ chức 2 sinh hoạt đấu tranh tại Washington D.C. như sau:

1.    Biểu Tình, Tọa Kháng và Tuyệt Thực 24 Giờ vì Nhân Quyền Việt Nam
·         Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12, 2012 lúc 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa: biểu tình, tuần hành.
·         Từ 12 giờ trưa Thứ Bảy, ngày 8 tháng 12 đến 12 giờ trưa, Chủ Nhựt, ngày 9 tháng 12, 2012: tọa kháng, tuyệt thực 24 giờ
·         Địa điểm: Tòa Đại Sứ CSVN (cũng là nơi cư ngụ của quan chức CSVN) tại Washington D.C.
·         Chương trình với sự tham gia của nhiều phái đoàn người Việt đến từ khắp nơi Hoa Kỳ; phát biểu và tâm tình của các nhà đấu tranh trong nước, các vị lãnh đạo trong cộng đồng, giới trẻ; văn nghệ đấu tranh; và cuộc tuyệt thực 24 giờ của các vị lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, các vị đại diện trong cộng đồng, giới trẻ và nhạc sĩ Trúc Hồ.

2.    Cuộc Vận Động Quốc Hội Hoa Kỳ vì Các Nhà Đấu Tranh Nhân Trong Nước
·         Thứ Hai, ngày 10 tháng 12, 2012 (Ngày Quốc Tế Nhân Quyền) lúc 8 giờ sáng đến 4 giờ chiều.
·         Địa điểm: Quốc Hội Hoa Kỳ và các văn phòng làm việc.
·         Chương trình gồm các buổi gặp gỡ giữa nhiều phái đoàn cộng đồng người Việt đến từ khắp nơi Hoa Kỳ và các Dân Biểu, Thượng Nghị Sĩ Quốc Hội.

Đài SBTN cùng với các hội đoàn, cơ quan truyền thông, tha thiết kêu gọi đồng hương khắp nơi cùng tham gia vào chiến dịch “Triệu Con Tim, Một Tiếng Nói” qua hai sinh hoạt cụ thể trên để phản đối các bản án phi lý gần đây, đồng thời đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam phải tôn trọng những quyền căn bản của người dân, đã được công nhận trong bản tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền mà Việt Nam đã ký kết.

Chúng tôi cũng kêu gọi sự hợp tác của tất cả các cơ quan truyền thông, báo chí, hội đoàn, tổ chức để cùng tham gia và quảng bá phong trào này.

Xin quý đồng hương khắp nơi trong và ngoài nước tiếp tục ký tên vào thỉnh nguyện thư tại www.DemocracyForVietnam.net

Hãy vì Quê Hương và Đồng bào, cùng nhau hành động vì Nhân Quyền Việt Nam!

Trân trọng

SBTN, cùng với sự tham gia và hỗ trợ từ:

Human Rights For VN PAC
Tổ Chức Dân Chủ Nhân Dân
Đảng Việt Tân
Đài Truyền Hình SBTN
Đài Truyền Hình SET
Đài Truyền Hình VHN
Trung Tâm Băng Nhạc Asia
Đài Radio Bolsa / Radio San Jose
Đài  Radio Tiếng Nước Tôi San Diego, Sacramento, Atlanta, Austin, Kansas City, Boston, Phoenix, và tại Úc Đại Lợi TNT: Adelaide, Melbourne, Brisbane và Sydney
Báo Viet Times Atlanta, Toronto
Đại Đạo Thanh Niên Cao Đài (Nam Cali)
Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu (Nam Cali)
Đoàn Thanh Niên Phật Giáo Hòa Hảo (Nam Cali)
Đoàn Thanh Thiếu Niên Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam
Gia Đình Phật Tử Điều Ngự
Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức - Miền Tây Nam Hoa Kỳ
Liên Hội Học Sinh Trung Học Việt Nam (Vietnamese American High Schools Alliance)
Thanh Niên Tin Lành Lutheran
Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam Miền Nam California
Văn Phòng Giới Trẻ Công Giáo - Giáo Phận Orange
Liên Hội Cựu Chiến sĩ VNCH Nam Cali
Liên Hội Võ Bị Đà Lạt 
Liên Cồng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ
Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Georgia (VAC-GA)
Liên Hội Người Việt Canada
Cộng Đồng Người Việt Arizona
Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Colorado

Danh sách các đoàn thể tại Úc Châu tham gia cuộc Vận Động Triệu Con Tim

Nhóm Trẻ Sóng Việt
Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan/Trừ Bị Thủ Đức/NSW Nguyễn Văn Thông
Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan/Trừ Bị Thủ Đức/NSW Trần Văn Chinh
Ban Hợp Ca Mây Bốn Phương
Tập Thể Chiến Sĩ VNCH/Úc Châu
Hậu Duệ VNCH/NSW
Khối 1706 Yểm trợ phong trào đấu tranh tự do dân chủ VN
Đài Phát Thanh Tiếng Nước Tôi Úc Châu 24/24
Đài Phát Thanh Việt Nam Sydney Radio
Hội Cao Niên Canterbury.
Hội Thương Phế Binh Quân Lực VNCH/NSW

Ban Tổ Chức sẽ tiếp tục cập nhật danh sách các hội đoàn tham gia hỗ trợ cho chiến dịch. 

Muốn biết thêm chi tiết, xin vào trang nhà www.sbtn.tv hoặc www.democracyforvietnam.net

Mỗi ngày phải cười ít nhứt 3 lần


Có khi nào bất chợt ta nhớ lại trong ngày hôm nay ta có cười không và cười được bao nhiêu lần? Cái cười lần cuối là từ lúc nào? Cách nay một ngày, hai ngày, hay xa hơn nữa? Cười luôn luôn có thể đem lại nhiều hiệu quả đáng quan tâm cho cơ thể của chúng ta. Vậy tại sao ta không gở bỏ đi cái “mặt nạ", tức tác phong mà xã hội đã gán ép cho ta? Tại sao ta không nhẹ nhàng buông thả con người của mình để có những khoảnh khắc hạnh phúc? Hãy cười với nhau cho vui đời!


Người ta cười được mấy lần trong ngày?

Đời sống ở các nước phát triển, nhứt là ở các thành phố lớn, không tránh khỏi cho người dân phải lo chạy đua với cái đồng hồ, những ưu tư, những căng thẳng do đó người ta ngày càng ít có thì giờ dành cho cái cười thật sự thoải mái.

Nhớ lại năm 1939, người ta có được hai mươi phút mỗi ngày để cười. Đến những năm 1980, người ta còn lại 6 phút trong ngày để cười. Và ngày nay, chỉ có 60 giây trong ngày để cho một phần ba người lớn cười.

Tính trung bình, người ta ngày nay có được từ 10 tới 15 lần cười thoải mái trong ngày trong lúc đó trẻ con 4 tuổi có thể cười tới 400 lần một cách vui vẻ tự nhiên, không bị chọc cười.

Cái cười nên được hiểu đúng mức vì nó là nguồn gốc của những phản ứng dây chuyền lợi lạc cho cơ thể của chúng ta.

Theo kết quả của một nghiên cứu y khoa ở Huê Kỳ thì cười là phương thuốc trị bịnh căng thẳng (stress) hiệu quả vô cùng. Nụ cười tự nhiên thôi cũng đã làm giảm những nhịp tim.

Một công trình nghiên cứu của Đại học Kansas xác nhận khả năng huyền diệu của cái cười là thủ tiêu rất nhanh sự căng thẳng. Không riêng hiệu quả tốt về tâm lý mà cười còn đề phòng bịnh tim mạch nữa.

Để chứng minh cười đem lại lợi lạc cho sức khỏe, những nhà nghiên cứu ở Đại học Kansas trắc nghiệm phản ứng của 169 sinh viên trong tình trạng căng thẳng. Những người này được chỉ dẫn ngậm chiếc đũa ở miệng, thọc hai tay vào chậu nước đông đá, để xem có ai cười được và ai không cười. Những người cười cho thấy ngay độ căng thẳng nhẹ hơn những người giữ gương mặt trầm lặng. Những nhà khoa học ghi nhận những người cười tự nhiên làm những bắp thịt ở vành miệng và mắt vận động nên nhịp tim thấp hơn những người kia.

Người ta cho rằng có cười gượng đi nữa thì vẫn còn hơn có cái mặt chầm dầm rất nhiều. Cái cười e thẹn hay cười toét miệng, cả hai đều có tác dụng làm chậm lại nhịp tim và thư giãn cơ thể con người bằng như một phiên thể dục. Người ta chứng minh được khi cười, hệ thống thần kinh trung ương và những hạch tiết ra chất làm thư giãn cơ thể. Não tiết ra những chất làm giảm đau đớn và đem lại cảm giác thoải mái vô cùng.


Đi học cười

Phải chăng vì cười rất quan trọng cho sức khỏe con người nên mới có trường dạy cười và người học phải trả tiền và giá đắc hơn học chữ hay học nghề. Những người đi học trường dạy cười phần lớn thuộc giới y khoa và xã hội-giáo dục.

Ở Đức gần Thành phố Koln có một Trung tâm dạy cười do một nhà tâm lý học và một bác sĩ thần kinh điều khiển. Tiền học cho một giờ là 250 euros. Ở Bỉ và Pháp cũng có vài Trung tâm ở mỗi nơi dạy cười. Người tham dự rất đông.

Chính Ấn Độ là nơi mở ra trước phương pháp dưỡng sinh này.

Có phải cái cười đúng là mười thang thuốc bổ không?

Bà Corinne Cosseron ở thành phố Frontignan thuộc Tỉnh Hérault, miền Tây-Nam nước Pháp, mở một Trường học Quốc tế dạy cười. Từ năm 2002, trường đào tạo được hơn 2000 hoạt náo viên với 200 khóa dạy cười và hai mươi khóa “chuyên viên” cho những ai muốn đi xa hơn. Trong trường hợp này, đó là những người có quyền mở những Câu lạc bộ cười để làm ăn sau khi trình môt tiểu luận và thông qua môt chương trình thực tập. Cũng có những người sau khi học xong ở trường, họ đi làm việc ở những Trung tâm y khoa hay xã hội-giáo dục.

Trong chương trình học có ba buổi thực tập từ một tuần tới mười ngày để tìm hiểu thật sâu về cười. Như thực tập thiền định hay yoga về cười. Những người tham dự nằm ngửa, đầu liền nhau và để cho những tràng cười phát ra tự nhiên.

Khóa học cười này giá bao nhiêu? Phải 800 euros cho tư nhân và 1200 euros cho những người tới học do xí nghiệp đài thọ.

Trường dạy cười được trang trí nhiều màu sắc vui tươi. Phòng học trải thảm, chung quanh lát kiếng, với vườn tược và hồ bơi. Ngoại cảnh đẹp, chim hót líu lo, hoa nở hương thơm ngát. Tất cả giúp cho mọi người tới đây được thư giãn tự nhiên và không thấy khó chịu vì bị cho là dị hợm không giống ai hết.

Cười đem lại lợi lạc cho tất cả mọi người. Ai cũng có thể thực nghiệm thử một lần. Trong những lúc khó khăn hay trước một thách thức, cười vẫn có thể làm lắng dịu. Cười tạo ra môt không gian tự do để người ta sống trong giây phút thực tại, làm tan biến ưu phiền thì sự căng thẳng làm sao tồn tại được? Một bác sĩ thần kinh nói cười là một phản ứng sống động hiện diện ở mọi người từ lúc mới sanh ra cho tới khi chết, là một sức mạnh chống lại trạng thái căng thẳng hữu hiệu vô cùng. Cười tốt cho tim mạch vì nó đem lại năng lượng, cải thiện hô hấp, làm cho giấc ngủ ngon. Cười có thể làm giảm cơn đau. Nhiều người khác cho rằng cười là một liều thuốc hạnh phúc kỳ diệu.

Một bác sĩ tham dự xong một khóa học cười cho biết từ nay bà sẽ dạy bịnh nhơn của bà cười để bà đo lường sự hiệu quả của cười như thế nào khi bà khám bịnh. Trong một nhà dưỡng lão phần đông bị bịnh quên (Alzheimer), người ta làm cho bịnh nhơn cười vui. Bác sĩ sau đó khám nhận thấy có vài hiện tượng tích cực như có người nhớ lại chuyện vừa xảy ra trong ngày. Trước kia, họ quến hết. Bác sĩ cho rằng không nên tách phần thể chất ra khỏi phần tâm thần là điều thiết yếu trong việc chữa bịnh. Cười vẫn là chủ lực đem lại sức khỏe cho mọi người.

Một nhóm nhơn viên y khoa gồm nhiều nghành nghề khác nhau thực hiện chung một chương trình là đi tới nhiều cơ sở y tế địa phương khác mở những buổi dạy cười. Bác sĩ nhìn nhận cười là một cách chữa trị bổ sung cho phương pháp chữa bịnh lo âu hay trầm cảm rất hữu hiệu.

Bà Corinne Cosseron quả quyết cười nhiều trong nhóm, cười đóng một vai trò xã hội, thắt chặt thêm những liên hệ và mở rộng sự thân thiện.


Sức mạnh của cười

Ngoài tác dụng kỳ diệu về y học, cười còn có thêm sức mạnh tranh đấu chánh trị cũng không kém. Người ngoại quốc khi tiếp xúc với người Việt Nam thường có nhận xét “Người Việt Nam rất dễ cười. Nhưng không biết ý nghĩa cái cười của họ là đồng ý hay bất mãn, vui hay buồn,...” Vậy những người Việt Nam tranh đấu chống cộng sản ở Việt Nam có nên sử dụng cái cười như một vũ khí chống lại công an đàn áp không?

Rất nên. Cười làm dịu đi sự hung hăng của bạo chúa. Cười để không chấp hành mệnh lệnh của đối phương. Thât đúng vậy! Cười là một trong những vũ khí hữu hiệu cho những người tranh đấu chỉ có sức mạnh là chánh nghĩa, lẽ phải, để chinh phục sự áp chế thô bạo. Nó là một khả năng bẩm sanh của con người nên nó có thể nhắm bất kỳ ai để tấn công, là một phương tiện để tự bảo vệ chống lại sự thất vọng, tức giữ niềm tin trong đời sống cũng như trong sự tranh đấu.

Cười trong nhiều trường hợp hàm nghĩa bất tuân là vũ khí của những người tranh đấu bất bạo động. Sự sợ hãi làm mềm người khi bước vào cuộc tranh đấu nhưng nó lại tan biến ngay ở người biết làm cho mọi người cưòi. Khi người ta thấy mệnh lệnh không còn quan trọng nữa thì quyền lực cũng trở thành vô hiệu. Cười lúc này là để báo cho mọi người rằng không có nguy hiểm. Chọc cười người đại diện cho quyền lực, trước tiên, không gì khác hơn là gởi tới cho mọi người cái tín hiệu rằng người đó không còn nguy hiểm nữa. Mọi người nhận được tín hiệu “không có nguy hiểm” có thể cùng cười với nhau để xác nhận họ hết sợ hãi và họ có thể thư giãn được. Trong tranh đấu, người ta cười và nhằm thẳng đối phương, điều này có sức trấn an chiến hữu, nâng cao tinh thần tranh đấu, đem lại tự tin và khả năng đề kháng trước đối phương.

Trong một cuộc xung đột, một bên làm cho đối phương cười được, cái cười có tính truyền nhiễm nên sẽ lan rộng ra. Mọi người sẽ chú ý vào người làm cho cười, việc này tự nhiên trở thành một cuộc biểu tình và cười trở thành sự thật hay lẽ phải.

Cười là một hình thức truyền thông rất hữu hiệu vì đó là điều làm cho cười có giá trị thuyết phục cao và nhạy bén. Và khi người này cười thì người kia phải cười theo.

Cưòi nói lên sự chống đối quyết liệt và vô hiệu hóa đối phương. Nó làm tan biến sự hận thù nên nó làm suy yếu đối phương bằng cách làm cho đối phương cảm thấy ngờ vực việc làm của mình, làm mất sự đoàn kết nhằm mục tiêu của đối phương. Đôi khi cười đem lại cho đối phương sự cảm mến người mà trước đây họ phải đàn áp bằng vũ lực. Ai cũng thấy khó mà đàn áp, bắt bớ kẻ đã làm cho mình cười, kẻ không còn biết sợ, mà cũng không tỏ sụ khinh bỉ mình, trái lại, nó còn tỏ ra biết kính trọng mình vì nó mời mình cùng cười với nó.

Đưa cái cười vào hành động tranh đấu, chính là hành động với niềm vui và phấn khởi. Niềm vui sẽ lây lan ra đông đảo quần chúng, sẽ thu hút quần chúng về với mục tiêu của mình. Cái nghiêm chỉnh trong hành động tranh đấu từ xưa nay vẫn giữ một khoảng cách giữa hai bên. Điếu này có lợi cho lực lượng đàn áp.

Cười là phương tiện và chìu kích thiết yếu của hành động tranh đấu bất bạo động.

Phương thức tranh đấu bất bạo động cười có thể áp dụng trong những cuộc tranh đấu chống độc tài cộng sản như ở Việt Nam.

Người Việt Nam chúng ta có tiếng là dân tộc dể cười. Vậy từ nay thử đem lại cho cái cười vốn có của chúng ta một ý nghĩa mới tích cực. Cười tranh đấu chống bạo quyền cộng sản Hán ngụy Hà Nội.



Nguyễn thị Cỏ May

*** Mời tìm đọc thêm Désobéir par le RIRE, tác giả tập thể là những người bất tuân, do nhà xuất bản Le passage clandestin, Paris

Chết Tập Thể Trong Tù Cải Tạo

Chết Tập Thể Trong Tù Cải Tạo
CHS/PCT/ ĐN54-60,Cựu tù nhân cải tạo Chế Văn Thức
Click to expand image to full size (186.90 Kb)

Lời nói đầu: Khi chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) non trẻ của Miền Nam Việt Nam bị sụp đổ bởi sự phản bội của nước bạn đồng minh. Quân cộng miền Bắc tiến chiếm Miền Nam, trên thế giới đã có một nhận định cho rằng: sẽ có cuộc tắm máu xảy ra.

Nhưng không, rút kinh nghiệm của các nước cộng sản anh em và của chính Cộng Sản Việt Nam (CSVN) qua những lần tắm máu, sau khi cướp được chính quyền, bị thế giới lên án nặng nề. Lần này, sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, CSVN không áp dụng thủ đoạn tắm máu mà thi hành chính sách KHÔ MÁU! Đối với Quân Dân Cán Chính VNCH.

Bài viết sau đây, tôi kể lại một chuyện thật, không hư cấu, một trong trăm ngàn sự thật về chính sách đối xử tàn độc của chế độ CSVN với nhân dân Miền Nam Việt Nam! Đề tài khô khan, mong người đọc thông cảm.


TRẠI TÙ SUỐI MÁU, Biên Hòa.
Phản Kháng Của Tù Cải Tạo Trong Đêm Noel 1978.

Sau ba năm lao động khổ sai trên vùng rừng núi cao nguyên Lambiang (Lâm Viên) cuối dãy Trường Sơn. Những sĩ quan QLVNCH, người tù chính trị không án, được ngụy trang dưới mỹ từ “cải tạo”, do các đơn vị bộ đội quản lý từ sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Nay vì nhu cầu cuộc chiến xâm chiếm nước láng giềng Cambodia vào cuối năm 1978, bộ đội đã chuyễn chúng tôi trở về trại Suối Máu, Biên Hòa, giao qua ngành công an quản lý.

Tùy tình thân giữa bạn tù với nhau, trong các ngày lễ lớn của bất cứ tôn giáo nào, hay những ngày lễ Quốc Gia, ngày tết Dương Lịch, tết Nguyên Đán, chúng tôi từng nhóm tụ năm tụ bảy hàn huyên tâm sự. Chiều hôm 24 tháng 12 năm 1978, từng nhóm bạn gom góp mỗi người một ít đường, gạo nếp, đốt lửa đó đây dọc theo hè nhà, nấu chè lạc để có bửa ăn chung đón mừng ngày Chúa Giáng Sinh. Trên vọng gác, công an trông thấy dấu hiệu lạ trong các khu giam tù từ K1, đên các khu K2, K3. Khoảng 7 giờ tối, từng toán công an võ trang vào bên trong tuần tra, hỏi chúng tôi chuyện gì mà tụ tập, chúng tôi giải thích. Toán tuần tra rão quanh một vòng rồi trở ra ngoài.

Đến 8 giờ tối, hầu hết các K vang lên tiếng cười cùng tiếng vỗ tay. Khu K1 nơi giam tù sĩ quan cấp Thiếu và Trung úy, tuổi chừng 20 đến 30 rất trẻ, còn tràn đầy sinh khí, ồn ào náo động nhất, họ hát Thánh ca, tình ca với những chiếc đàn guitar tự chế.

Các toán công an võ trang trở vào, ra lệnh “cải tạo viên “ giải tán vào bên trong láng (nhà). Chưa đến 10 giờ đêm, giờ ngủ theo quy định của trại, họ cưỡng lệnh không chịu vào. Có tiếng súng nổ, công an võ trang bắt đi ba người tù đem ra ngoài khu giam.

Lập tức, toàn thể tù nhân khu K1 gọi nhau tập trung ở sân trước đối diện với cửa ra vào Ban giám thị trại. Họ dùng tay làm loa che miệng, đồng thanh kêu gọi Giám thị trại thả người trở vào, cũng hướng về các khu K2 giam tù cấp Tá, khu K3 cấp Đại úy để thông báo tình hình và xin tiếp tay yểm trợ, bằng cách tất cả tù nhân ra khỏi láng, làm theo những gì bạn tù K1 yêu cầu với Giám thị trại.

Bên ngoài, Giám thị trại vẫn im lìm, bên trong âm thanh hò reo của tù nhân vang dội toàn khu trại tù Suối Máu. Ngay lúc này, tại K2 các bạn tù cấp Tá, nhanh chóng thành lập Ủy Ban Hành Động (UBHĐ). Thiếu tá Không Quân Lê Thanh Hồng Vân vóc người to cao, làm Trưởng UBHĐ (hiện nay anh đang định cư tại Florida). Thiếu tá Pháo binh Lê Văn Sanh làm Phó Trưởng Ban (nay anh định cư tại Texas) và nhiều thành viên cho từng bộ phận, như bộ phận Hành Động, bộ phận An Ninh, bộ phận Kế Hoạch. Một số thành viên trong UBHĐ chui hàng rào kẻm gai, sang K1 hổ trợ và bàn kế hoạch. Hàng rào kẽm gai ngăn giữa các K trước đấy rất kiên cố, nhưng sau ba năm do bộ đội quản lý, cán binh bộ đội nhổ bớt cọc sắt ấp chiến lược và tháo lấy kẽm gai để làm việc riêng tư, nên nay hàng rào thưa trống, người chui qua lại rất dễ dàng.

Đã giữa khuya, Giám thị trại vẫn không động tỉnh. Bước đầu UBHĐ kêu gọi nhau hát các bản Thánh ca, trong đó bản HANG BELEM :

Ðêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời
Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa.
Trong hang bê-lem ánh sáng tỏa lan tưng bừng . . .

là bản nhạc dễ hát nhất, hầu như ai cũng hát được, không phân biệt tôn giáo, các bạn tù Ki Tô Hữu hát lớn mọi người cùng hát theo, lặp đi lặp lại liên hồi, chen lẫn với tiếng vổ tay, tiếng kêu gọi thả tù. Trời về khuya tỉnh mịch, âm thanh vang dội đến tận vùng dân cư nhà thờ Hố Nai, Biên Hòa.

Có tiếng động cộc cạch từ những loa phóng thanh đặt sẳn trong các K giam tù, để Giám thị trại thông báo chỉ thị, mở đài (radio) phát thanh Hà Nội, đài Saigòn giải phóng cho tù nhân nghe tin tức vào mỗi sáng sớm và chiều tối. Giám thị trại lên tiếng:

"Yêu cầu tất cả “trại viên cải tạo” trong các K giải tán trở vào láng để ngủ, sau đó Ban giám thị sẽ cho ba trại viên trở vào."

Không ai bảo ai mọi người đồng loạt trả lời:

“ Phải thả người vào trước đã”.

Hai bên, lời qua tiếng lại giằng co mãi, lồng trong tiếng hát Thánh ca mỗi lúc một vang dội hơn, mặc dù đêm đông giá lạnh nhưng mọi người vẫn kiên trì ngồi dưới sương khuya.

Từ xa vọng lại tiếng động cơ nổ rầm rì, rồi dần dần nghe rõ tiếng xích sắt của xe tăng nghiền trên mặt đường nhựa, từ hướng nhà thờ Hố Nai tiến về trại tù Suối Máu. Bọn cai tù lượng định tình thế, kéo dài thời gian xin chỉ thị cấp trên, điều động xe tăng đến mặt trước của trại tù để thị oai. Không nao núng, UBHĐ đưa ra quyết định, gọi lớn ra bên ngoài:

” Nếu ban giám thị trại không thả người vào, đêm nay tất cả trại viên cải tạo sẽ không vào ngủ”.

Tiếng gầm gừ của máy nổ, tiếng xích sắt của tăng nghiền trên mặt đường mỗi lúc nghe ác liệt hơn, rồi từng loạt đại liên trên tăng thay nhau nổ dòn, đạn hú xé không gian, xẹt ánh lửa vèo vèo ngang qua các nóc nhà trại giam.

Trước tình huống đã cởi lưng cọp không thể lùi, UBHĐ họp bàn quyết định, thông báo cho Giám thị trại:

”Ngày mai toàn thể trại viên cải tạo sẽ TUYỆT THỰC nếu trại không thả người vào”.

Đồng thời loan báo đến các K:

“Yêu cầu tất cả các toán anh nuôi, sáng ngày mai KHÔNG ĐƯỢC RA BỘ CHỈ HUY LÃNH GẠO VÀ THỰC PHÂM, cho đến khi Ban giám thị trại thả người vào.”

Tiếng hát Thánh ca tiếng vỗ tay, tiếng gọi thả tù vẫn tiếp tục vang vang trong đêm khuya. UBHĐ kêu gọi các bạn tù lớn tuổi vào láng để nghỉ trước, nhưng không một ai chịu rời chỗ. Biện pháp TUYỆT THỰC của tù nhân là sự việc bất ngờ đối với Giám thị trại. Phần chủ động của quyết định này thuộc về phía tù nhân. Không một toán anh nuôi nào có thể cưởng lại, không chấp hành, nếu họ muốn sống còn.

Thấy tình thế không thuyết phục được đám tù nhân nếu không thả tù.

Giám thị trại Bằng lên tiếng yêu cầu toàn thể trại viên cải tạo giải tán vào ngủ. Ba trại viên sẽ trở vào khi làm xong kiểm điểm trong một thời gian ngắn.

Cùng lúc ấy tiếng máy nổ của xe tăng xa dần khu trại tù Suối Máu.

Khuya lắm rôi, tù nhân vẫn ngồi hát Thánh ca. Bổng có tiếng dây xích sắt lỏn cỏn va chạm vào trụ cổng K1, của mở ba bạn tù bước vào bên trong. Tiêng hoan hô, reo hò gọi tên ba bạn tù. UBHĐ thông báo đến mọi người trở vào láng và bỏ lệnh tuyệt thực, để ngày mai các toán anh nuôi tiếp tục làm nhiệm vụ cơm nước.


ĐƯỜNG VÀO ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Noel, 24 tháng 12 năm 1978, đã là ngày 25 tháng 11 năm Mậu Ngọ, chỉ còn đúng một tháng đến tết Kỷ Mùi 1979. Thời gian này, nước lớn đàn anh Trung Cộng dạy cho bọn đàn em CSVN một bài học ở địa đầu giới tuyến. Không khí trong trại tù sôi sục về thời sự nghe được qua loa phóng thanh của trại.

Sau đêm tù cải tạo phản kháng, chúng tôi nghĩ sẽ có sự trừng phạt đến với một số người. Nhưng không, Giám thị trại, những con cáo già không biểu lộ một thái độ hằn học nào. Ngược lại cục trại giam đưa cán bộ tuyên huấn đến trại nói chuyện về tình hình biên giới Việt Trung, tuyên truyền, đề cao bộ đội cộng sản ở tuyến đầu chống trả quân bành trướng Trung Quốc v.v…

Giám thị trưởng trại tỏ ra thân thiện vui vẽ, liên tiếp vào trại tập họp “trại viên cải tạo” nói chuyện về chánh sách cải tạo khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân . . . Ngoài ra, giám thị trại bàn đến ngày tết truyền thống, tết Kỷ Mùi, đề ra kế hoạch thi đua, mừng đón Xuân. Mục đích đánh lạc hướng kế hoạch đòn thù mà chúng sẽ áp dụng.

Sau những ngày tết Kỷ Mùi, đầu tháng 2-1979, bửa cơm chiều vừa xong, tù nhân cấp Tá ở K2 chúng tôi, có lệnh tập trung lên hội trường làm việc. Lệnh tập họp bất thường vào chiều tối, mọi người đã đoán có điều bất thường sẽ đến. Quanh hội trường công an võ trang canh gác. Trên bục, giám thị trưởng đọc “lệnh chuyễn trại”.

Trong đời người tù cải tạo, chuyễn trại là cả một cực hình, một nỗi kinh hoàng không kể xiết. Danh sách đen, hơn 350 tù cấp Thiếu, Trung và Đại tá chúng tôi, lần lược được gọi tên, tách riêng, ra sân xếp thành từng đội 30 người. Lệnh cho chúng tôi trở về láng thu xếp tù trang rồi đi ngủ.

Khi có lệnh tất cả tập họp lên sân trại. Chúng tôi được phát một khúc bánh mì bột bo bo kẹp chút thịt heo mỡ. Đúng 4 giờ sáng tiếng ì ầm của đoàn xe Molotova tiến vào trước cổng trại.

Đoàn xe tù lên đường còn trong đếm tối, mãi đến lúc bình minh ló dạng, chúng tôi mới biết đoàn xe đang chạy trên Quốc lộ I, đi về hướng Bắc. Mỗi xe tù có một công an võ trang đi theo, nhưng họ ngôi cùng tài xế ở trước xe, do vậy ở phía sau chúng tôi bàn tán với nhau, đoán già đoán non đủ thứ. Đến trưa đoàn xe tù vào thành phố Phan Rang, đoàn xe ngừng lại ở đầu thành phố. Tài xế vào phố ăn trưa, mỗi chúng tôi cầm khúc bánh mì bo bo ngao ngán.

Người bán hàng rong trong phố, thấy có đoàn xe vừa dừng ở bên ngoài, họ kéo nhau chạy ra, phụ nữ già trẻ có, các cháu nam nữ tuổi rất nhỏ, quần áo bạc màu, rạn rách. Trên tay mỗi người một cái mẹt, một chiếc rổ rá đựng ít củ khoai lang, củ mì (sắn) luộc, mớ trái cây, các loại bánh gói lá chuối. Ra đến nơi, ban đầu họ không biết xe chở khách gì, họ chạy ùa đến rao bán mớ hàng trên tay. Có sự đồng ý của công an võ trang, một số anh em tù chúng tôi đứng lên trong xe, chìa tiền mua thức ăn. Bất chợt một phụ nữ lớn tuổi trong nhóm, nhìn thấy chữ CẢI TẠO thật to, dấu đóng trên lưng áo, trên quần tù nhân. Bà ta la lớn lên gần như gào thét:

“Các chú CẢI TẠO tụi bay ơi, các chú cải tạo tụi bay ơi, đưa lên cho các chú đi đừng lấy tiền của các chú, đưa lẹ lên ”.

Cả nhóm nghe theo lời bà. Chúng tôi cầm tiền, cúi gập người xuống năn nĩ các cháu nhỏ lấy tiền, nhưng chúng lắt đầu lia lịa, chúng chia nhau chạy khắp đoàn xe tù, ném đồ ăn lên xe. Một vài cháu lớn tuổi khỏe hơn, chạy thật nhanh vào trong phố gọi thêm các bạn mang hàng ra cho, ra đến nơi đoàn xe tù đã nổ máy chuyễn đi, họ ném theo lên xe tù những gì họ có trên rổ rá và đứng nhìn theo cho đến khi đoàn xe khuất xa – Mắt tôi cay cay nhỏ lệ, không phải chỉ lúc đó mà chính lúc này, tôi đang kể lại ký ức khó quên trong đời tù cải tạo, sau 30 tháng Tư-1975 – Xin nói rõ, trong giai đoạn đầu vào trại tù, bộ đội quản lý, không thu giữ tiền bạc và đồng hồ, nhẩn vàng.

Đoàn xe tù tiếp tục lăn bánh về hướng bắc Quốc lộ I, chúng tôi không đoán được sẽ đi về đâu. Khoảng 4 giờ chiều đoàn xe qua cầu đập Đồng Cam, rồi qua khỏi thị xã Tuy Hòa, Phú Yên đến quận Tuy An, đoàn xe rẽ trái, băng qua thiết lộ hỏa xa, dẫn vào quận Đồng Xuân. Lúc này tôi nhận ra địa danh vì tôi đã từng hành quân trên Khu 22 Chiến Thuật này gồm ba tỉnh: Bình Định, Phú Yên và Phú Bổn.

Trồi lên hụp xuống trên một độc đạo tung bụi đỏ mịt mù, đoàn xe mang chúng tôi vào một thung lũng rọ heo xa hun hút, dưới khí trời vàng vàng mờ ảo trong ánh nắng chiều. Đoàn xe dừng lại trước cổng một trại giam, tứ bề vòng rào lưới B40 và kẽm gai kiên cố. Trại cải tạo XUÂN PHƯỚC quận Đồng Xuân tỉnh Phú Yên, trại tù mang bí số A20. Những trại tù có mang bí số, trực thuộc Cục Quản Lý Trại Giam Trung Ương điều hành, là những trại tù nổi tiếng khắc nghiệt đối với tù nhân


CẢNH ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN
Trước khi vào đến trại giam A20, đoàn xe vượt qua một đoạn đường, bên phải là sườn đồi đất đỏ sỏi đá, bên trái là một cánh đông đất sét với những thửa rộng lúa cháy vàng bởi nắng hạn. Một cảnh tượng hải hung, thoạt đầu chúng tôi không ai hiểu nổi là hình ảnh gì, mặc dù chúng tôi cũng trong thân phận người tù!

Trên những thửa ruộng khô, đất đai nứt nẻ, lố nhố những toán người không áo không mũ nón, vỏn vẹn chỉ chiếc quần cụt, để lộ đôi ống xương chân khẳng khiu, thân hình da bọc xương với chiếc đầu lâu sậm màu! Hình ảnh ma quái này, ngày nay nếu sống ở Mỹ chúng ta có thể tưởng tượng được. Vào dịp lễ Halloween 31 tháng 10 mỗi năm, trong các của tiệm bán đồ trang trí lễ ma, chưng bày những bộ xương người, đầu lâu trắng hếu, trông ghê rợn, thì cảnh tượng trên cánh đồng khô, người tù đang lao động giống y chang như vậy. Ở đây những bộ xương ma quái kia biết cử động, đôi tay xương xẩu, nặng nề mệt nhọc nâng cây cuốc đưa lên thả xuống, đang đào xới thửa ruộng đất khô cằn chai cứng!

Trước cổng trại, chúng tôi được lùa xuống sắp hàng trên một sân gạch rộng lớn. Trời đã chiều, từ nhiều hướng các đội tù lao động lần lượt kéo về, sắp hàng chờ khám xét nhập trại. Chúng tôi sửng sờ, tận mắt nhìn rõ những bộ áo quần tù, xám tro bạc màu, rách tả tơi, bay phất phơ trên những bộ xương với có chiếc đầu lâu mà chúng tôi đã nhìn thấy trên cánh đồng trước đó. Những người tù đã cởi bỏ áo quần để không cho thấm ướt mồ hôi, hầu giữ ấm được thân thể khi về trại.

Thành phần tù gì? Họ là ai? Họ là tù hình sự. Phần lớn là con cháu của quân nhân, công chức VNCH. Tuổi chừng 15 đến 30, vào tù cải tạo vì không chịu thi hành nghĩa vụ quân sự, không muốn đem thân bỏ mạng nơi chiến trường Cambodia. Không thi hành nghĩa vụ lao động, theo chính sách cưỡng bức lao động cá nhân, hay buộc phải đi lao động thay thế cho thân nhân già yếu trong gia đình. Công tác lao động thường là công trình thủy lợi, đào kênh dẫn nước, vào núi chẻ đá, khuân vác đất đá, đốn gỗ, xây đập ngăn nước. Một thành phần nữa, là con cháu các gia đình “ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân” bị chính quyền địa phương đẩy đi vùng “kinh tế mới”, cuộc sống thiếu thốn quá khổ, bỏ trốn về các thành phố, mua lén bán chui, kiếm sống, giúp đở mẹ, anh em, trong khi ông, cha đang trong tù cải tạo! Chỉ có dưới chế độ cộng sản, mới có chuyện ba thế hệ gặp nhau trong nhà TÙ!

Chúng tôi tù chính trị, được nhốt chung với tù hình sự trong trại giam Xuân Phước, nhưng ở riêng một khu, cách nhau một sân rộng và nhà hội trường. Trại cấm chúng tôi “liên hệ” với tù hình sự, nhưng rồi đó đây chúng tôi cũng tiếp xúc được.

Dãy nhà tôi ở mang số 8, gọi là láng 8, dài chừng 50 met, nơi tôi ở, sát cạnh một “trạm xá”, ngôi nhà nhỏ diện tích độ 10 x 5 mét, mái tranh vách đất, chỉ một cửa nhỏ ra vào . Nói là trạm xá nhưng nhiều ngày, chẳng thấy y tá hay y sĩ vãng lai, cũng không thấy khám bệnh. Thì ra nơi đó, các cháu bị bệnh lao phổi đến thời kỳ quá nặng, cán bộ trại đưa vào cách ly, nằm chờ chết. Tiếng ho sùng sục bên trong liên hồi vọng ra.

Những cháu còn chút sức, lê thân ra ngoài hóng nắng, mở nút áo để lộ thân hình da bọc xương, đầu trọc không còn chút tóc, người co quắp, thở hỗn hễn, đứt đoạn từng hơi! Dãy nhà 8 nằm cuối cùng, sát hàng rào trại, nên họ ngăn một đoạn ngay đầu nhà, chừng 5 met làm thành một phòng nhỏ, phòng xác! Do vậy, bọn tù ở láng 8 chúng tôi, nhìn qua khe cửa, mỗi ngày chứng kiến ít nhất có từ 2 đến 3 xác chết, quấn bằng manh chiếu hay mền. Trên đầu chiếc giường tre, ngọn đèn dầu leo lắc, một chén cơm có cắm đôi đủa. Họ đưa xác vào đó ban đêm sau 7 giờ tối, khi chúng tôi đã vào bên trong láng ngủ và cửa khóa chặt. Ngày hôm sau, lúc chúng tôi xuất trại đi lao động bên ngoài, cán bộ trại cho đội tù hình sự, có tên Đội Tự Giác, dùng xe cải tiến, loại xe thùng có 2 bánh sắt, chở xác chết ra chôn ở một ven rừng đất đỏ, nghĩa địa của trại.

Những lần đi lao động ngang qua đây, chúng tôi đã thấy nhiều nấm mộ lắm rồi.

Tù cải tạo thuộc diện tù chính trị như chúng tôi, thời kỳ do bộ đội quản lý, mặc dù lao động khổ sai trong vùng rừng núi Trường Sơn, nhưng khi làm lao động có thể đi lại đó đây, tìm kiếm rau lá, bẩy chuột, bắt rắn cóc nhái . . . cải thiện bửa ăn, phụ thêm mớ thực phẫm, do vợ con thân nhân, cực khổ gồng gánh, vượt vạn dặm thăm nuôi. Thân xác chúng tôi cũng đã kiệt quệ, nhưng chưa đến nổi nào.

Đến lúc vào tay ngành công an quản lý, tại trại tù A20 này, quy chế đời sống chúng tôi không khác gì so với các cháu tù hình sự. Phần ăn mỗi bửa đều giống nhau. Nấu bếp làm cơm do tù hình sự phụ trách. Bửa ăn sáng trước giờ đi đồng lao động, mỗi phần ăn độ 4, 5 lát “sâm”. gọi là sâm cho vui, cũng để đánh lừa cái miệng, thực ra nó là những lát mì (củ sắn).

Mì do tù nhân trồng trọt, đến mùa thu hoach (bới lấy củ), cán bộ trại bắt tù nhân ngồi giữa đồi trọc, mỗi người một khúc gỗ, một con dao lớn, chặt củ sắn thành nhiều lát, có bề dày bằng nữa đầu lóng tay, những lát mì tung ra phơi nắng ngay tại chỗ, trên nền đất cát đỏ, qua nhiều ngày đêm, bất kể nắng mưa sương gió, cát bụi bám đầy. Đến lúc lát mì khô đã đổi sang màu sậm, được đưa vào các kho chứa, bao bọc bởi những mành tre thưa mỏng, không đủ sức che mưa gió. Những lát mì đóng lại thành cục, lên men trắng, men vàng rồi men đỏ, lát mì không còn lên men được nữa, trở thành những lát Sâm Cao Ly màu đen lánh!

Phần cơm trưa và cơm chiều giống nhau. Chén cơm chỉ là một chén sâm, cỏng lưa thưa một vài hạt cơm! Thức ăn là tô canh rau xanh, rau do tù trồng, được bón loại phân XANH, tức phân người trộn với lá cây xanh, phân lấy từ cầu tiêu nổi có thùng chứa. Những lúc trời nắng hạn, không sản xuất đủ rau xanh, thay canh bằng lưng nửa chén mắm thối!. Cai tù thầu mua tất cả các loại cá do ngư dân đánh bắt, không đủ phương tiện ướp lạnh, không đủ muối ướp mặn, đã ươn sình, thối rữa. Lâu lâu, xe tải chở cá vào trại, đã nghe mùi hôi tanh. Chúng đổ cá vào hồ làm mắm, hồ xây bằng xi măng rất lớn, tường cao 2 mét, chia thành bốn ngăn khoản 3x2 mét, mặt trên bịt kín, chừa một nắp đậy vuông.

Cá không ăn muối cá ươn, ở đây cá đã ươn sình, đưa vào hồ làm mắn, đổ thêm nước lã, lại không bỏ đủ muối, cá lên men mục nát rất nhanh, trở thành nước mắn. Màu nước mắm đen ngồm, tựa nước ống cống chợ cầu ông Lãnh, Saigon! Những khi toán anh nuôi mở nắp hầm lấy mắm, mùi thối xông lên nồng nặc, tỏa đi khắp khu trại giam, đến nín thở. Cầm chén mắm, không cách nào tôi đưa chén mắm lên miệng được, cho dù dùng mấy ngón tay cố bóp kín lỗ mũi. Tôi không ăn được mắm thối, nhưng cũng không đổ bỏ đi. Đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái cựu Chỉ huy trưởng Tổng Y Viện Cộng Hòa Saigon, khuyên tôi:

“Anh không ăn được anh cho người khác, tuy mắm thối nhưng nó có chất đạm, rất cần cho cơ thể hiện nay”.

Tôi đã đưa mắm cho người bạn, Đại tá Nguyễn Văn Luật, cùng đội lao động với tôi.

Người tù chính trị trong ngục tù cải tạo, có được sự sống còn, phải nhắc đến công lao vô bờ bến của những người vợ. Mãi mãi tôi ghi nhớ công ơn vợ tôi. Nhờ vợ, hơn một năm tôi thoát khỏi cảnh ăn mắm thối. Trước tết Kỹ Mùi-1979, từ Đà Nẵng vợ tôi lặn lội vào trại tù Suối Máu, Biên Hòa thăm nuôi. Khi ngang qua vùng Nha Trang, vợ tôi mua được 12 con mực khô lớn, loại xuất khẩu, họ đem bán chui.

Ngày đầu mới chuyễn đến trại tù A20 này, công an cán bộ khám xét tù trang, tất cả thức ăn do gia đình tiếp tế đều bị tịch thu, tiền bạc đồng hồ, nhẫn vàng bị thu giữ. May mắn cho tôi, tên công an cán bộ lo xốc xáo quần áo, chăm chú lục tìm những thứ mà chúng có thể bỏ túi luôn được.

Chiếc bao cát tôi đựng mấy con mực và gói muối bột, rơi ra một bên nằm cạnh chân tôi. Lẹ chân tôi hất nhẹ vào đống đồ đã khám xong, nhờ vậy tôi giữ được bao thức ăn vợ tôi vừa tiếp tế. Hàng tuần, trại cho tù xuống bếp hâm đồ ăn một lần vào buổi trưa. Tôi cắt một đoạn mực, chừng một lóng tay, xé thật nhỏ cho vào lon ghi-gô thêm chút muối bột, đun sôi làm thành nước mắm, ăn tằn tiện thoát nổi khổ húp mắn thối mỗi bửa!


CHẾT TẬP THỂ TRONG TRẠI TÙ CẢI TẠO.
Click to expand image to full size (88.40 Kb)


Từ môi trường sống đó, ngoài bệnh lao như đã kể trên, hầu hết là ở các cháu tù hình sự. Nhiều thứ bệnh khác thi nhau hoành hành trên thân xác người tù, nhất là bệnh kiết lỵ, loại bệnh dễ lây lan, nguy hiễm, tử vong cao.

Người bệnh, bụng đau nhói ruột co thắt, hậu môn luôn bị thúc dục đi tiêu liên tục, nhưng rất khó khăn, chỉ tiêu ra chút ít đờm giãi lẫn lộn máu tươi. Không thuốc men chửa trị, nhiều bệnh nhân kiệt sức không lê ra được khỏi nơi nằm, tiểu tiện tại chỗ, mùi hôi tanh xông lên, từng đàn ruồi nhặng vù vù bay lượn, trông phát khiếp!

Địa ngục trần gian, đại học máu, những ngôn từ dành để chỉ “ Trại Cải Tạo” dưới chế độ cộng sản, không sai chút nào! Cộng sản Bắc Việt cưởng chiếm được Miền Nam, chia người dân Miền Nam ra ba thành phần: Ngụy quân, ngụy quyền và ngụy dân, điều tôi không bịa đặt, mà lời nói ra từ cửa miệng bọn cán bộ tuyên huấn, trong những lần tiếp xúc với tù nhân.

Một trong những đòn phép tàn độc cộng sản Hà Nội dùng để trả thù nhân dân Miền Nam là: chính sách Bao Tử. Dùng bao tử để hành hạ thân xác con người, bỏ ĐÓI con người, làm cho con người mất hết lý trí, tiêu tan ý chí kháng cự. Nhưng chúng đã lầm!

Nói đến đói trong trại tù cải tạo, thú thật, tôi viết lên điều này, xin người đọc đừng cho tôi chê trách ai đó. Nếu ai chưa chịu đựng qua cái đói trong ngục tù cải tạo, khi nghe nói đến đói, không thể có cảm nhận như người tù cải tạo đã ĐÓI! họ đơn thuần thấy cái bao tử thiếu thiếu vì lỡ một bửa cơm, hay một vài ngày phải nhịn ăn để trị bệnh. Đói trong trại cải tạo là một đòn thù ác nghiệt, có tính toán của cộng sản.

Bao tử người tù cải tạo, lúc nào cũng trống trơn, cơ trắng bao tử chà xát vào nhau, một cảm giác đau đớn không biết diễn tả thế nào cho đúng. Ăn rồi cũng như chưa ăn!, khổ cho cái bao tử cứ bị đánh lừa triền miên. Sau bửa cơm, tôi buồn tình dùng đũa, gõ vào miệng chén, ngâm nga:

Mình ngỡ những chưa ăn
ai ngờ đã ăn rồi.
Mình ngỡ những chưa ăn,
ai ngời đã ăn xong!
Ôi tấm thân tù tội ...
Khi viết bài này tôi mới biết, vô tình tôi đã đổi lời một đoạn ngắn trong bản nhạc của một nhạc sĩ ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản, nhạc sĩ Trịnh CS, bài “ Tình Nhớ “ (Tình ngỡ đã quên đi, như lòng cố lạnh lùng...). Lời tôi đổi, nói lên được tính dã man của con người cộng sản, mà Trịnh CS là một.

Các cháu tù hình sự, không còn lối thoát với cơn đói hoành hành thân xác. Trong những giờ làm lao động bên ngoài, các cháu vớ được bất cứ con trùng gì, như dế, châu chấu, cào cào, bọ ngựa hay cả con trùn, các cháu chỉ cần ngắt chân, lặt cánh, phủi phủi rồi đưa vào miệng ăn sống ngon lành! Gặp bửa, có cháu bắt được nhiều mồi hơn ăn tại chỗ không hết, dấu cán bộ, nhắt vào lai ống quần, tay áo, đem về trại đến đêm lén lút ăn tiếp. Ăn để mà sống qua ngày, đa số ngả bịnh, chết lai rai mỗi ngày.

Trại có một đội lao động gọi là Đội tự giác, nhân số khoảng 40, tất cả đều là các cháu tù hình sự. Được tuyển chọn từ những cháu học tập cải tạo “có tiến bộ”, sinh hoạt “có thành tích”!

Đội tự giác xử dụng khoảng 20 chiếc xe cải tiến, xe thùng có hai bánh niềng sắt. Nhận công việc làm từ cán bộ trại và được tự do ra vào trại để thi hành công tác, có công an Quản giáo giám thị, nhưng không có công an võ trang theo canh giữ. Sức khỏe các cháu Đội tự giác có phần khá hơn, nhờ những lúc chuyên chở thực phẩm từ Bộ chỉ huy trại vào khu giam tù, các cháu có cơ hội bòn tỉa được vài chút thức ăn, tuy vậy cũng không thấm đủ vào đâu, đói vẫn hoàn đói!

Những ngày không có công tác chuyên chở, đội tự giác cũng phải lao động cuốc đất trên các ruộng rẫy, nhưng các cháu Đội tự giác được đi lại dễ dãi hơn. Từ đó các cháu cử hai người đi tìm các loại rau cỏ có thể ăn được, dùng chiếc thùng lớn nấu nước để uống trong lúc làm lao động. Gần cuối giờ, cho rau vào thùng nấu chín, mang về trại chia nhau ăn, phụ thêm cho bửa cơm tù chẳng đủ vào đâu!

Mùa hè, miền rừng núi nắng cháy, rau cỏ dại không còn. Lâu lâu, gặp một vài cơn mưa giông, các vườn trồng cây mì (sắn) được bón phân xanh, gặp mưa rào đâm chồi nhanh hơn loại cây cỏ khác. Các cháu Đội tự giác vào vườn mì, hái đọt mì cho vào thùng nấu làm canh. Khoảng giữa tháng 5 năm 1981, đêm khuya đang ngủ, cửa nhà giam số 8 của chúng tôi có tiếng động mở khóa, cán bộ trực trại rọi đèn pin, bước vào gọi lớn: “Anh Khái, anh Nhu, mau theo tôi “ (tức đại tá bác sĩ Nguyễn Văn Khái và đại tá bác sĩ Phạm Văn Nhu )

Cán bộ trực trại dẫn 2 bác sĩ qua khu tù hình sự. Chừng 15 phút sau, hai vị bác sĩ quay trở về nhà giam số 8, vào trong cửa nói lớn:

"Các cháu Đội tự giác ăn canh đọt mì, trúng độc tình trạng rất nguy kịch, xin các bạn ai còn đường, còn đậu xanh, vui lòng nhín cho một ít để chúng tôi cấp tốc cứu các cháu"

Gom góp được một ít đường đậu, hai bác sĩ vội vã quay nhanh trở lại khu giam tù hình sự. Hơn một tiếng đồng hồ sau, hai bác sĩ trở về láng, trầm buồn nói nho nhỏ:

“Cả đội tự giác chết hết rồi ! cháu Sơn ( đội trưởng) to khỏe như vậy cũng đã chết ngay, may ra còn sống được hai em, nhờ đương bị bịnh, ăn ít hơn!”

Đây đó có tiếng sụt sùi vì qúa xúc động, cảm thương cho các cháu! Tôi thực sự lại khóc khi viết đến đây.

Thật vô nhân, tàn ác, giam tù bỏ đói, bệnh hoạn không thuốc men. Gặp lúc nguy ngập như vầy, không phương tiện cứu chữa. Bác sĩ “ngụy quân” đem giam tù đã 6 năm, hai bàn tay trắng, tài nào cứu được mạng người sắp chết. Vậy mà bọn chúng cũng trơ mặt, há mồm lên tiếng kêu, cứu người.

Xế chiều ngày hôm sau, đội tù chúng tôi đang cuốc đất trên thửa ruộng cạnh ven rừng. Xa xa về hướng trại giam, chúng tôi thấy một đoàn xe cải tiến chừng hơn 15 chiếc, các cháu tù hình sự, một đứa kéo, hai đứa đẩy phía sau xe, hì hục kéo qua con đường đất đỏ dưới chân đồi. Chúng tôi đoán biết đó là đoàn xe chở thi hài 37 cháu trong Đội tự giác đã chết tối hôm qua,

Khi đoàn xe gần đến sau lưng chúng tôi, không ai bảo ai, chúng tôi tự động quay mặt về đoàn xe chở xác, bỏ cuốc xẽm xuống đất, tay dở nón mũ áp vào ngực, đứng cúi đầu. Hai công an võ trang canh gác, đứng trên bờ ruộng, ngạc nhiên hét lớn:

- Các anh làm gì vậy, làm gì vậy, tất cả làm việc đi, làm việc đi.

Mặc cho tên công an võ trang quát tháo, chúng tôi cứ tiếp tục đứng im, chờ cho đoàn xe đưa ma qua hết, chúng tôi mới trở lại làm việc. Không có lấy một chiếc quan tài, thi hài của các cháu được bó trong những chiếc chiếu, chăn mền mà các cháu đã dùng để ngủ! Hai ba thi hài chất lên một xe, đưa ra chôn ở một triền đồi, nơi đã có nhiều mộ của các cháu tù hình sự chết lai rai trước đó, tù nhân chính trị chúng tôi cũng đã có người vĩnh viễn nằm đó.

Đến nay, nghĩa địa này đã nằm sâu dưới đáy đập nước thủy điện Xuân Phước, Phú Yên!

Viết để Tưởng Niệm các bạn tù chính trị, các cháu tù hình sự đã bỏ mình trong ngục tù Xuân Phước. Chắc các bạn, các cháu đã siêu thoát về một thế giới Vĩnh Hằng. Cầu xin các bạn, các cháu hộ trì lại cho Đất Nước Việt, Dân Tộc Việt sớm thoát khỏi chế độ cộng sản tàn bạo, vô nhân!


California, Tháng Tư Đen 2012
CHS/PCT/ĐN5460
Cựu TNCT Chế Văn Thức

Việt Nam và Khủng Hoảng : Ngày Phán Xét Gần Đến



Việt Nam và Khủng Hoảng :
khủng hoảng công lý, khủng hoảng luật pháp
hay khủng hoảng của một chế độ chánh trị.

Bắt người trái phép, xử án vội vàng
sau của một sự khủng hoảng về Công lý (la Justice)
phải chăng có một sự khủng hoảng về Luật pháp (le Droit),
hay là một cuộc khủng hoảng do một chế độ chánh trị lỗi thời ?
 
1/ Suốt cả tháng 10 và đầu tháng 11, thế giới theo dõi cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ. Ở Pháp, mặc dù là ngày trong tuần phải thức dậy sớm đi làm, nhưng vẫn có nhiều gia đình thức khuya để theo dõi kết quả, đa số dân chúng Pháp chuộng Tổng thống Obama, đa số dân chúng âu châu chuộng Tổng thống Obama, mặc dù kết quả bầu cử Tổng thống Mỹ chẳng « ăn nhậu » gì với đời sống hằng ngày của dân chúng Pháp và âu châu (hình như đa số dân chúng các quốc gia trên thế giới đếu chuộng Tổng thống Obama, trừ xứ Pakistan, đất nước đã chấp nhận chứa chấp Ben Laden). Song song với bầu cử Tổng thống Mỹ, cũng có một cuộc bầu bán để thay thế người đứng đầu một quốc gia không kém phần to lớn, nếu không nói là quốc gia số một về tiềm lực kinh tế, ấy mà thế giới không một lời, có chăng chỉ vài bài báo trên những báo chí cơ quan truyền thông rất ư là chuyên nghiệp chánh trị ! Đó là Trung quốc.
Đó mới thấy cái bất công của các cơ quan truyền thông âu mỹ đối với tin tức của thế giới á đông ta ! Một trận bão Sandy tàn phá thành phố New York, thiên hạ nín thở theo dõi, chỉ mới chết vài chục mạng mà ôi thôi, ông thị trưởng nầy quýnh quáng, ông thị trưởng nọ đã vội vàng thay đổi lập trường sợ ông Tổng thống đương nhiệm quên mình. Hai ông ứng cử viên đang mùa vận động bầu cử gần kề, rất nghề nghiệp, ngưng cuộc chạy đua bầu cử, kẻ đi thăm ủy lạo, người quyên gạo thăm lo, săn sóc người bị nạn. Còn cơn bão Sơn tinh thổi từ Phi luật tân vào Việt Nam, thổi qua Trung quốc, sập nhà, sập cửa, lũ lụt trôi người, dân Việt Nam cũng có người mất của, mất nhà, dân Trung quốc, chắt cũng có thiệt hại, có người mất của, mất mạng nhưng « no thing », « nín thinh », chẳng ai nói tới, tây cũng chẳng nói, mà ta cũng im hơi, mà chẳng nghe thị trưởng, chánh ủy, đã đành mà chủ tịch chủ tiếc gì cũng tịch ngòi luôn. Thật là nhà giàu đứt tay bằng nhà nghèo đổ ruột !
Một cái gì không ổn trong lòng người, trong cái nhìn thiên hạ. Xứ nhà giàu nó ít quen với thiên tai hơn xứ nghèo chăng ? nên nó gặp thiên tai là nó bấn cả người lên, còn nhà nghèo quê ta, quen với thiên tai bão lụt rồi, chết vài tên, trôi vài cái nhà, dầm dò gì ba cái lẻ tẻ ấy ?
Thật là :
Khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ, khủng hoảng lương tâm, khủng hoảng tình thương !
 
2/ Người công dân thế giới âu mỹ lo âu cho đời sống cá nhơn, dư luận xã hội đòi Tổng thống tương lai hay ông Tổng đương nhiệm phải lo an sinh xã hội, công ăn việc làm cho người dân : ở kỳ bầu cử vừa qua ở Mỹ, ông ứng cử viên nầy đề nghị phải để chánh phủ lo lắng sức khỏe và bảo hiểm xã hội : Obama care. Ông ứng cử viên kia thì ví vốn gốc dân Huê kỳ là gốc làm ăn tự do, tư bản chủ nghĩa, dân Mỹ là dân làm ăn cá thể, tự do cá nhơn, hãy tự do tự túc, tự lực cánh sinh, tự tìm việc làm, bổn phận chánh phủ là xây dựng kinh tế cho giàu mạnh, phát triển tốt thì khi kinh tế giàu mạnh thì tự nhiên mọi người đều có công ăn việc làm, sung túc, sung mãn, thì tự nhiên tự bảo hiểm tự bảo vệ sức khỏe của mình. Tổng thống Obama thắng cử nhờ biết nghe ngóng và lo đến những ưu tư của các nhóm thiểu số, có kẻ tuy nhập cư không giấy phép nhưng đã tham gia vào nguồn kinh tế quốc gia, vi vậy ngày nay phải nghĩ đến cách thức hợp thức hóa họ ; có những kẻ trời sanh « không yêu người khác giới » - mà đồng giới luyến ái- trời sanh chỉ yêu người đồng giới, nay muốn được hợp thức hóa, làm giấy hôn thú, cưới nhau « trước mặt Chúa và công luận » (devant Dieu et les hommes), … và ông Tổng thống mới còn hứa nhiều chuyện nữa ( bên Pháp ông Tổng mới cũng hứa những chuyện xêm xêm như vậy, hình như thế giới âu mỹ đang chú ý đến những « vấn đề xã hội » như vậy ! một lần nữa, phải chăng có một khác biệt giữa Đông và Tây khá rõ ràng giữa những bực thang quan trọng giải quyết những « vấn đề xã hội » … Một thí dụ làm sau giải quyết những « trắc trở nghề nghiệp » của tình yêu , nói rõ hơn,… vấn đề và quan niệm « phá thai » ngày nay của thế giới âu mỹ... một tệ nạn xã hội ? Thê nhưng giữa « cho phép » phá thai trong một môi trường y khoa sạch sẻ và « cấm phá thai » là cả một vấn đề - nhơn đạo và luân lý. « Phá thai » ở Pháp trước những năm 1970 mang tội giết người và ra toà đi tù, tội cả người phụ nữ phá thai, và tội cả người y sĩ hay cô mụ giúp đở phá thai. Nhưng « cấm phá thai » là giết cả tương lai, giết cả một đời người phụ nữ : cấm phá thai, đưa đế vấn nạn « phá thai lậu » lén lút trong tình trạng kém vệ sinh, đem đến những tai nạn hoặc chết người hoặc biến người phụ nữ nạn nhân thành phế nhân, chưa nói đến đứa con « không tình yêu » hay « đứa con do tai nạn » ấy có thể phá vỡ tương lai của một đời người con gái, hay biến thành những « tệ nạn xã hội »…. 
 
3/ Nhưng đấy là giá phải trả cho một sanh hoạt dân chủ, đó là biểu hiện của một sức sống dân chủ âu mỹ của ngày nay… mỗi ngày là một thách thức … do các đòi hỏi của các nhóm thiểu số…Xã hội tương lai phải chăng không còn là một xã hội tập thể do một nhóm đa số cấm quyền mà là xã hôi tổng hợp các nhóm thiểu số. Giải đáp có còn là giải đáp của nhóm đa số ? hay là giải đáp là giải đáp của tổng hợp các nhóm thiểu số. Toàn cầu hóa là sống chung hòa bình ; là sự hài hòa giữa nhiều văn hóa, nhiều tôn giáo, nhiều tập tục khác nhau. Nhiều dân tộc trên thế giới vẫn còn chưa quen hẳn với quan niệm toàn cầu hóa ấy : mới bước vào toàn cầu hóa kinh tế, toàn cầu hóa công nghiệp đã bở ngở rồi. Một thí dụ, ngày nay, chỉ mới bước toàn cầu hóa kinh tế, chỉ mới bước vào toàn cầu hóa công nghiệp mà các cán bộ đảng Cộng sản Việt Nam đã hô hoán là coi chừng diễn biến hòa bình rồi. Mới bắt đầu toàn cầu hóa thông tin là làm ngay điều luật số 88 « …tuyên truyền chống lại Nhà nước Xã hội Chủ nghĩa ». Nhưng chưa đủ ! Trung quốc tuy tâm mơ, tuy lòng muốn, tham vọng đầy mình, làm đệ nhứt bá chủ hoàn cầu đệ nhứt thiên hạ, muốn đi xe hơi hạng sang, muốn dùng hàng hiệu, nhưng vẫn đi sợ dư luận thế giới, kiểm soát gắt gao mạng lưới internet, bloggers…sợ chỉ trích, sợ phê phán, nhưng không hiểu rằng, có phê phán, có chỉ trích, có cho điểm, …có tranh luận, … mới có tiến triển, và phát triển.
4/ Người dân Tàu, người dân Việt chừng nào chấp nhận được như công dân Mỹ là đã hoàn toàn chấp nhận một Tổng thống người da đen, hay công dân thành phố Paris chấp nhận một ông Thị trưởng gay-đồng tình luyến ái. Nhưng người dân Pháp vẫn chưa hoàn toàn thoải mái, vì người bạn đời của ông Thị trưởng pê-đê, vẫn chưa có mặt trong những buổi tiếp tân như một phu nhơn. Trái lại đệ nhứt phu nhơn nước Pháp đương thời, chỉ là người « bạn tình đời » của Tổng thống Pháp thôi, không có giấy hôn thú. ( Cũng là lạ, ngày nay con số những « người tình khác giới » ( hétérosexuels) sống chung với nhau không hôn thú càng ngày càng đông, con trai trưởng người viết sống với « người tình má mấy đứa nhỏ » đã trên 20 năm, đã có 7 mặt con với nhau, và vẫn không cần hôn thú để - kính trọng người đàn bà, để giữ lý lịch người đàn bà, không lấy tên chồng, nam nữ bình quyền – yêu nhau, trọng lời hứa, giữ lời nguyền hơn trọng mãnh giấy - Và trái lại ngày nay, phong trào đòi lấy nhau, có hôn thú với nhau lại do nhóm đồng tình luyến ái ).
Thật là :
Khủng hoảng tư tưởng, khủng hoảng giá trị, khủng hoảng luân lý, khủng hoảng đạo đức !
 
5/ Nói lòng vòng thế giới, xin trở về Việt Nam. Hai tháng qua, tình hình Việt Nam sau Đại hội Đảng cộng sản không có gì thay đổi. Vật giá vẫn leo thang, tình hình tham nhũng vẫn chẳng thay đổi, có thay đổ chăng là thay đổi ông trách nhiệm chống tham nhũng : ông Phú Trọng thay ông Tấn Dũng làm « xếp phong trào » chống tham nhũng ! Chống tham nhũng là làm sao ? không thấy ông Phú Trọng ra chỉ thị gì cho chương trình chống tham những cả, cũng như khi xưa ông Tân Dũng cũng không có cái gì gọi là chống tham nhũng ngoài những tuyên bố và khẩu hiệu trong những buổi họp hay đại hội, tiểu hội gì gì đó. Một thay đổi nữa là ông Tấn Sang cũng sẽ thay ông Tấn Dũng làm « xếp xòng » Quân đội, Tổng tư lịnh quân đội nhơn dân. Thế là ông Tấn Dũng tuy không bị hề hấn gì sau cuộc « chỉnh lý » nho nhỏ của Đại hội đảng nhưng vẫn bị « lọt lon », tuy vẫn giữ chức Thủ tướng, nhưng mất quyền sanh sát cai quản các « sòng hụi tham nhũng » và mất quyền « duyệt binh » và « chia lon lá » các tướng lãnh, các quân khu và quan trọng hơn, hết được « dùng » quân đội « hù dọa » các « đồng nghiệp và đồng chí » mình. Ngày nay người dân Việt Nam trong nước mới hiểu rõ cái thực hư của một Đại hôi đảng Cộng sản : Đại hội đảng là nơi chia chát, sắp xếp quyền lợi các quan chức cầm quyền … Còn vận nước, vận dân ? xin lỗi, get lines, xếp hàng, đứng sau vận quyền lợi cá nhơn, cả vận Đảng cũng đứng sau cá nhơn. Các cá nhơn dựa nhau, dùng Đảng để chia chát cầm quyền. Chương trình chống tham nhũng ? Làm gì có tham nhũng mà chống ! Tổ chức kinh tài Nhà nước từ thời xa xưa là phương pháp cho thầu và nhà thầu sống được là do lấy tiền cò (từ ngữ « cò » = là không có nghĩa là « cò con » mà do dịch từ pháp ngữ là commission = là tiền công của một dịch vụ do com = avec, + mission = dịch vụ, công việc, nhiệm vụ : đó là một số tiền bắt buộc trả cho một nhiệm vụ, trả công, hồi xưa dân Sài gòn mình gọi là tiền « huê hồng ». Mà thật vậy, cúng Phật còn phải có nải chuối, vào chùa cũng phải cúng dường ; vào nhà thờ với Chúa phải tiền quyên, tiền góp ; qua cầu, tiền mãi lộ ; gặp cảnh sát công an công lộ cũng phải tiền đường… Văn hóa thiên hạ trên thế giới đều từ ngàn xưa, thời Chúa Giê – Xu, hay thời Khổng tử đi thuyết giảng, đi đường, đã phải đóng tiền mãi lộ rồi, (Ma – thi –ơ trước khi theo làm tông đồ của Giê – Xu là một anh thầu chợ và lấy thuế chợ. ..). Ngày nay, cả nước Việt Nam được Đảng Cộng sản cắt ra từng ô, từng khu, từng khâu… cho thầu và các nhà thầu phải lấy tiền cò, trước để sống, sau là lấy lại sở hụi, vốn thầu…từ chổ đứng anh công an, từ chổ làm anh bưu điện, từ chổ khai thuế anh hải quan, chuyến bay chị tiếp viên hành không, công sở, xí nghiệp anh công nhơn viên… tùy chổ ngon, chổ dở, là giá cả cao thấp, mắc mỏ….Xin kể một chuyện nho nhỏ rất điển hình, người viết có một ông anh bà con cán bộ bằng cấp cao, kỹ sư và phó tiến sĩ, nghề nghiệp tốt, chuyên viên được dịp đi tu nghiệp ở Pháp. Nhận được cú điện thoại, cùng bà xã mình đi gặp, mời đi chơi và đi ăn nhà hàng á đông, bà vợ mình thấy cách ăn quá bạo của ông anh bà con, nói nhỏ với mình, ông ấy chắc không quen ăn các món ăn pháp của cantine sở, nên đói… mình bèn hỏi ông ăn uống thế nào … ông không trả lời, chỉ than với mình là tại sao ở các khách sạn Pháp không có nước sôi nóng ở vòi nước nóng ? Mình chở ông về, cùng lên phòng khách sạn của ông anh, mở vòi nước nóng, nước nóng phỏng tay, phải mở vòi lạnh mới sử dụng được. Mình bảo có nước nóng đấy. Anh trả lời nhưng không đủ nóng … « để ăn mì gói ». Tội nghiệp ! ông anh bèn nói với mình làn tuy có phần tiền đường chi phí đời sống qua ngày ở đây, nhưng vì hà tiện, nên nhờ anh em sứ quán thuê khách sạn rẻ, hai thằng cùng đi tu nghiệp, ngủ chung và ăn mì gói để dư tiền mang về. Thê thảm chưa ? Cán bộ chuyên nghiệp, kỹ sư, phó tiến sĩ đấy ! anh em đọc giả hải ngoại mình quen làm việc ở Pháp, ở Mỹ, ở Úc, … làm gì có chuyện ấy, dù sao …Chuyện ấy cũng đã trên năm năm rồi không biết bây giờ còn không ? Hà tiện, ngắt bớt, ăn chận, …trên phần tiền đường của mình, nhưng nếu ngắt bớt, ăn chận trên tiền hành chánh, trên phẩm chất nguyên liệu, trên phẩm chất vật dụng, hàng hoá… ? hiện tượng rút ruột công trình vẫn còn thông dụng … Vì vậy ta không lạ gì với phẩm chất hàng hóa Trung Quốc, Việt Nam, nhái, dỏm, rút ruột công trinh, ăn gian, để vừa có lời, vừa cạnh tranh với hàng tây phương …Hàng dỏm, hàng xấu, hàng độc hại của Trung quốc và Việt Nam do tình trạng tham nhũng mà ra ! Suốt ngày tìm cách kiếm tiền, thì làm sao có sáng kiến sản xuất được ?
 
6/ Chừng nào còn chế độ độc đảng, độc tài, không có các đảng đối lập để kiểm soát (checking) không có nguy hiểm bị thay đổi (balancing) thì tham nhũng sẽ còn. Tham nhũng là một tệ hại, nhưng xài bậy, phung phí cũng là những vấn nạn và tệ hại xã hội. Lạm dụng tiền của công để phung phí đãi đằng, liên hoan, lễ lạc, hội họp, …cũng là những cản trở của một xã hội tiên tiến. Trong khi Đảng làm đại hội để đấm đá, chia quyền, phân lực thì bỏ quên người dân, mặc cho đời sống dân chúng, ngày thêm cơ cực ; họ bỏ rơi lãnh thổ và lãnh hải quốc gia cho Đại Hán Trung quốc, Tàu Cộng lấn chiếm, mặc cho ngư phủ Việt Nam bi bức hiếp, không còn phương tiện ra khơi mưu sanh trong an toàn sanh mạng và tài sản, mặc cho tiều phu, cho các dân sắc tộc cao nguyên Việt Nam bị ngăn cấm đi lại, không còn đất còn rừng để khai thác làm ăn sanh sống.
 
Để bảo vệ chế độ, bộ máy đảng Cộng sản Việt Nam đã làm dụng Luật pháp cho bộ máy công an thẳng tay đàn áp dân chúng: dân oan, vì bị cướp đất, vì bị đuổi nhà, (nói là để quy hoạch nhưng thật bán đất cho đầu cơ địa ốc làm giàu cán bộ) nổi lên chống đối khắp nơi. Chánh sách độc tài cầm quyền, độc tài suy nghĩ, kiểm soát tư tưởng, kiểm soát cả đức tin, tín ngưởng và cả tổ chức thờ phượng, vì muốn kiểm soát nên bóp nghẹt các hoạt động tôn giáo truyền thống, gây khó khăn cho các Sư sãi, Linh mục, Mục sư ngoài « luồng », ngoài kiểm soát, ngoài « hệ thống quốc doanh », ngăn chặn mọi « phản biện » của giới trí thức, cấm người dân suy nghĩ, đệ đạt « nguyện vọng tập thể ». Tệ hại hơn cả, khủng bố, đánh đập, giam cầm, bỏ tù, không thông qua xét xử ( Bùi Minh Hằng …) hoặc xét chiếu lệ để kết án phi lý thật nặng nề đối với nhiều nhà tranh đấu dân chủ chỉ có tội là phản kháng Trung Cộng xâm lăng, (bloggers “Điếu Cày” Nguyễn Văn Hải, nhà báo Tạ Phong Tần và “Anh Ba Saigon” Phan Thanh Hải …) hay gần đây, ngày 30/10, kết án tù hai nhạc sĩ yêu nước Việt Khang (Võ Minh Trí) và Trần Vũ Anh Bình về tội danh “Tuyên truyền lật đổ nhà nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.
 
Khủng hoảng chế độ, khủng hoảng quản trị, khủng hoảng dân chủ, khủng hoảng luật pháp, khủng hoảng công lý !
 
Thay lời kết :

Nếu chúng ta định nghĩa « công bằng pháp luật » là nền tảng của « công lý » và « hệ thống tư pháp » thì ngày nay ở Việt Nam chúng ta nhận xét rằng hệ thống tư pháp phục vụ càng ngày càng « bất công » chẳng những đối với « pháp danh nhơn » (justiciables) nói riêng mà cả đối xã hội nói chung. Nước Việt Nam ngày nay, muốn bước vào thương trường quốc tế, muốn bước vào chánh trường quốc tế, phải có một bộ Luật rõ ràng, phải có một hệ thống Luật pháp rõ ràng.
Ấy là một ưu tư, và đặc biệt cho nước Việt Nam. Hãy cố gắng học hỏi các quốc gia trên thế giới, với những bộ luật « thực nghiệm » có quy ước, quy chế thành văn (như nước Pháp) cho đến các quốc gia với những « luật common law » (án lệ và tục lệ biến thành luật lệ).
Tiến trình hoạt động tư pháp ở Việt Nam bị bế tắc, trở ngại ? hay công lý bị trở ngại ? nghĩa là ngày nay chúng ta không định nghĩa được công lý , vậy thì :

Công lý và luật pháp : Công lý là gì ? Luật pháp là gì ? ai làm luật ?
Vớ vẫn, đặt một câu hỏi như vậy, một nhà luật học như chúng tôi, được đào luyện tại một quốc gia có một bộ Luật bộ như Bộ luật Napoléon.

Cái gì công bằng, đúng với công lý là phù hợp với luật pháp ? Và luật pháp là những quy ước, quy chế thành văn. Ông thẩm phán, ông quan tòa chỉ chiếu vào quy chế thành văn, thành luật ấy mà phán xét rằng một hành động đúng hay sai (đối với luật). Luật lệ đo lường hành động đúng hay sai đối với quy chế biến thành luật. Dễ quá !

. Nhưng cái khó của luật pháp là các quy chế thành văn thành luật ấy, mặc dù thành văn không thể đo lường trước, tiên liệu, và giải quyết mọi khía cạnh. Các nhà đại luật gia vẫn thường nhắc nhở rằng hãy giữ tinh thần « làm luật » (esprit de loi) hãy giữ những hướng đi, những nguyên tắc của luật học, và đừng đi vào chi tiết của hệ thống sanh hoạt hằng ngày phức tạp của con người. Một luật lệ tốt là một luật lệ muôn thuở, phi thời gian tính và phi nhơn cách (une bonne loi est intemporelle et impersonnelle – câu định nghĩa của một trong những thầy luật của chúng tôi không nhớ của thầy nào). Vì vậy đừng nói đến luật xã hội chủ nghĩa !

« Mọi hành động xâm phạm đến người khác buộc người xâm phạm phải bồi thường » (Tout fait quelconque de l’homme qui cause à autrui un dommage, oblige celui par la faute duquel il est arrivé, à le réparer) : Điều 1383 của bộ Dân luật nước Pháp là một thí dụ, chỉ có hai câu để đưa ra những nguyên tắc. Nhưng những nguyên tắc ấy đã mở rộng cho hàng trăm trang giấy cho các án lệ, công việc của các vị thẩm phán, các quan tòa là áp dụng những nguyên tắc ấy cho đúng vào những trường hợp kiện tụng khác nhau, mỗi trường hợp, mỗi biệt lệ.

Công lý không cứ ở bài viết, câu viết. Công lý là ở cái áp dụng từ cái nhản quan, góc độ nhìn của vị thẩm phán, quan tòa, bồi thẩm đoàn với ánh sáng của thực tại.

. Cái khó khăn thứ hai, và là cái ưu tư của nhà luật học ngày nay là một điều luật (thành văn) bất cứ ai cũng viết được và có thể viết một cách bừa bãi.
Bừa bãi, vô trách nhiệm, chúng tôi muốn nói rằng : đáng lý một điều luật phải được viết trong tinh thần có chiều sâu, phi thời gian tính, minh bạch, rõ ràng, và có tính cách phổ thông, trái lại các luật lệ ngày nay được viết với nhiều chi tiết, nhiều phần linh tinh, bổ túc, biệt lệ, trái với tính cách phổ thông. « Ai cũng phải biết luật » (Nul n’est sensé d’ignorer la loi) : nhưng làm sao biết được khi có một sự lạm phát luật lệ, hằng trăm quy ước chồng chất lên nhau, cái nọ bổ túc cái kia, cái nọ phản ý cái kia. Quy chế công nhơn, quy chế công dân, cái gì cũng luật nầy luật nọ, kể cả luật giao thông, ..

Trong thời gian nhiệm kỳ dân cử, một thời gian nhiệm kỳ Quốc hội là một thời gian để các vị dân cử làm luật. Những luật lệ, những quy chế sanh ra cho một nhiệm kỳ, sống với thời gian của nhiệm kỳ của nhà dân cử làm luật có còn đủ hiệu quả không ? Vì ai cũng làm luật được cả. Chúng tôi muốn nói đến những vị dân cử ấy. Và quyền lập pháp được xữ dụng tối đa. Mỗi nhiệm kỳ dân biểu, thậm chí mỗi thay đổi chánh phủ, những vị tân cử đều muốn để tên mình « lưu lại một cái gì với núi sông ». Rồi tranh cải giữa « phe cầm quyền » và « phe đối lập ». Làm luật để « giúp chánh phủ phe ta », nên rất nhiều luật do « chánh phủ tổ chức viết ra »..pháp trị là vậy.
Vì vậy, luật lệ hiện hành cũng do các nhà chánh trị làm ra. Và chúng ta cũng nhớ lại câu nói bất hủ của anh dân biểu Laignel (đệ tam cộng hòa Pháp) phán cho phe đối lập lúc bấy giờ : « quý vị sai về mặt luật học, vì quý vị là một thiểu số chánh trị,(vous avez juridiquement tort parce que vous êtes politiquement minoritaires) »

Luật lệ đã biến thành công cụ chánh quyền, và không còn phục vụ công lý và xã hội nữa.
« Sức mạnh bất công của Luật lệ » Câu nói bất hủ nầy của François Mitterrand, cựu Tổng thống của nước Pháp vào cuối thế kỷ qua đã nói rõ cho chúng ta cái mâu thuẩn giữa luật lệ và công lý. Trong quyển « Luật lệ, quyền làm luật và nền tự do (Droit, Législation et Liberté) », Frédérick Von Hayek, một trong những vị thầy về Luật học của chúng tôi cho rằng những quy chế luật pháp đang quản lý đời sống chúng ta không có gì liên hệ đến Luật lệ cả, vì thiếu ánh sáng Công lý. Khủng hoảng về Luật và Công lý là một trong những đề tài Thầy Hayek thường nói đến.
Những quy chế luật hiện hành (la législation) là luật thực nghiệm (droit positif). Luật thực nghiệm là những đạo luật được đề nghị và đã được thông qua bởi cơ quan lập pháp (và những dân cử lập pháp), và những án lệ biến thành án luật hiện hành .

Nhưng quy chế luật hiện hành (la législation) bỏ quên tinh thần làm luật bởi hai lẽ : lẽ thứ nhứt la phe phái, lẽ thứ hai là tham vọng .

Về phe phái. Nhà làm luật phải bảo vệ phe hành pháp của mình, các người đã bầu cho mình. Như vậy luật lệ biến thành một công cụ chánh trị bảo vệ một nhóm người , một giai cấp, tính chất phổ thông không còn nữa, chỉ còn tính chất đặc biệt : priva lex.

Về mặt tham vọng, phức tạp hơn. Nhà chánh trị nào cũng có tham vọng tạo một cuộc cách mạng xã hội, tổ chức lại xã hội, xã hội mới, con người mới .. « phải có danh gì với núi sông ». Hai lẽ ấy đều nguy hiểm cả, vì nhà làm luật quên đi cái tính chất phổ thông của một điều luật, tính chất phi thời gian tính, phi nhơn cách. Une bonne loi est intemporelle et impersonnelle.

Vì vậy, nếu người làm chánh trị có một ý thức hệ cộng sản làm một bộ luật xâm phạm chủ quyền con người, đời sống, tự do và tư hữu luật ấy có phải là công lý không ?
Hỏi tức là trả lời.

Công lý và luật lệ là những cố gắng tìm những phương cách giải quyết với những đề nghị điều chỉnh, sòng phẳng (solutions ajustées) những liên hệ giữa những con người. Luật lệ giúp đở con người giải quyết những khó khăn ấy. Luật lệ phải là một quá trình tiến triển thận trọng, chín chắn, kiên trì để bảo vệ nhơn cách, nhơn phẩm va tự do cá nhơn. Con người phải là trọng tâm của mọi ưu tư công lý, vì luật lệ, công lý là của con người, cho con người.

Ubi lex, ubi justicia. Ở đâu có luật ở đấy có công lý. Và chúng tôi cũng mong rằng Ubi jus, ubi lex, ở đâu có luật, công lý phải được thực hành.

Mong lắm !
Phan Văn Song.

Bài Xem Nhiều