We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 21 November 2012

Chuyện Cảm Động :"Người Cha Yêu Dấu"





        Anh hẹn chị ra quán cà phê trước nhà ga chính của thành phố Bremen. Câu đầu tiên khi gặp anh, chị nói trong sự cáu gắt, ông lại bán xe rồi hay sao mà lại đi tàu lên đây.
   
        Anh cúi đầu trả lời lý nhí trong sự hổ thẹn, ừ, bán rồi, vì cũng không có nhu cầu lắm. Chị sầm mặt xuống, ông lúc nào cũng vậy, suốt đời không thể ngóc đầu lên được, hẹn tôi ra đây có chuyện gì vậy?
   
        Khó khăn lắm anh mới có thể nói với chị điều anh muốn nhờ cậy. Chị cũng khó khăn lắm mới có thể trả lời từ chối anh, nhưng mà gia đình tôi đang yên lành, nếu đưa con bé về e rằng sẽ chẳng còn được bình yên.
   
        Anh năn nỉ, nhưng thật sự là anh rất bối rối, con bé đã đến tuổi dậy thì, anh là đàn ông, không thể gần gũi và dạy dỗ chu đáo cho nó được, anh chưa bao giờ cầu xin em điều gì, chỉ lần này thôi, chỉ nửa năm hay vài ba tháng cũng được, em là phụ nữ, em gần nó, em hướng dẫn và khuyên bảo nó trong một thời gian, để nó tập làm quen với cuộc sống của một thiếu nữ, sau đó anh lại đón nó về.
  
        Chị thở dài, ông lúc nào cũng mang xui xẻo đến cho tôi, thôi được rồi, ông về đi, để tôi về bàn lại với chồng tôi đã, có gì tôi sẽ gọi điện thông báo cho ông sau. Anh nhìn chị với ánh mắt đầy hàm ơn. Anh đứng dậy, đầu cúi xuống như có lỗi tiễn chị ra xe rồi thở dài, lùi lũi bước vào nhà ga đáp tàu trở lại Hamburg.
   
        Anh và chị trước kia là vợ chồng. Họ yêu nhau từ hồi còn học phổ thông. Anh đi lao động xuất khẩu ở Đông Đức. Chị theo học Đại học Sư phạm Hà Nội 1. Ngày bức tường Berlin sụp đổ, anh chạy sang phía Tây xin tị nạn. Chị tốt nghiệp Đại học và về làm giáo viên cấp 3 huyện Thái Thụy, Thái Bình. Họ vẫn liên lạc và chờ đợi nhau.
  
       Khi đã có giấy tờ cư trú hợp lệ, anh về làm đám cưới với chị, rồi làm thủ tục đón chị sang Đức.
  
       Vừa sang Đức, thấy bạn bè anh ai cũng thành đạt. Đa số ai cũng có nhà hàng, hay cửa tiệm buôn bán. Chỉ có anh là vẫn còn đi làm phụ bếp thuê cho người ta. Chị trách anh vô dụng. Anh không nói gì, chỉ hơi buồn vì chị không hiểu, để có đủ tiền bạc và điều kiện lo thủ tục cho chị sang được đây, anh đã vất vả tiết kiệm mấy năm trời mới được. Nên không dám mạo hiểm ra làm ăn
   
"Đồ cù lần, đồ đàn ông vô dụng...", đó là câu nói của miệng chị dành cho anh, sau khi anh và chị có bé Hương.
  
          Bé Hương sinh thiếu tháng, phải nuôi lồng kính đến hơn nữa năm mới được về nhà.    
 Khi bác sĩ thông báo cho vợ chồng anh biết bé Hương bị thiểu năng bẩm sinh. Giông tố bắt đầu thực sự nổi lên từ đó. Chị trách anh, đến một đứa con cũng không làm cho ra hồn, thì hỏi làm được gì chứ. Anh ngậm đắng nuốt cay nhận lỗi về mình và dồn hết tình thương cho đứa con gái xấu số.
   
         Bé Hương được 3 tuổi, chị muốn ly dị với anh. Chị nói, ông buông tha cho tôi, sống với ông đời tôi coi như tàn. Anh đồng ý, vì anh biết chị nói đúng. Anh là người chậm chạp, không có chủ kiến và không có chí tiến thân, sống an phận thủ thường. Nếu cứ rằng buộc sẽ làm khổ chị.
  
         Bé Hương 3 tuổi mà chưa biết nói. Chị cũng rất thương con, nhưng vì bận bịu làm ăn nên việc chăm sóc con bé hầu hết là do anh làm. Vì vậy mà con bé quấn quít bố hơn mẹ.
  
        Biết vậy nên chị cũng rất yên tâm và nhẹ nhõm nhường quyền nuôi dưỡng con bé cho anh khi làm thủ tục ly hôn.
  
        Ly dị được gần 1 năm thì chị tái giá. Chị sinh thêm một đứa con trai với người chồng mới.
  
       Thành phố Bremen là thành phố nhỏ. Người Việt ở đó hầu như đều biết nhau. Chị cảm thấy khó chịu khi thỉnh thoảng bắt gặp cha con anh đi mua sắm trên phố. Chị gặp anh và nói với anh điều đó. Anh biết ý chị nên chuyển về Hamburg sinh sống.
  
        Chị không phải là người vô tâm, nên thỉnh thoảng vẫn gửi tiền nuôi dưỡng con cho anh. Trong những dịp năm mới hay noel, chị cũng có quà riêng cho con bé, nhiều năm, nếu có thời gian, chị còn đến trực tiếp tặng quà cho con bé trước ngày lễ giáng sinh nữa.
 
         Thấm thoát đó mà giờ đây con bé đã sắp trở thành một thiếu nữ. Tuy chị không biết cụ thể thế nào. Nhưng chị biết dù con bé lớn lên trong tật nguyền hẩm hiu, nhưng anh rất thương nó. Chị cũng biết con bé gặp vấn đề trong giao tiếp, phải đi học trường khuyết tật. Nhưng con bé rất ngoan. Anh cũng không phải vất vả vì nó nhiều. Nó bị bệnh thiểu năng, trí tuệ hạn chế, phát âm khó khăn. Tuy vậy nó vẫn biết tự chăm sóc mình trong sinh hoạt cá nhân. Thậm chí nó còn biết giúp anh một số công việc lặt vặt trong nhà.
  
         Chồng chị đã đồng ý cho chị đón con bé về tạm sống với chị vài tháng, với điều kiện trong thời gian con bé về sống chung với vợ chồng chị, anh không được ghé thăm. Chị cũng muốn thế, vì chị cảm thấy hổ thẹn khi phải tiếp xúc với vẻ mặt đần đần dài dại của anh.
  
         Vợ chồng chị đã mua nhà. Nhà rộng, nên con bé được ở riêng một phòng. Chị đã xin cho con bé theo học tạm thời ở một trường khuyết tật ở gần nhà. Con bé tự đi đến trường và tự về được.
  
        Đi học về, nó cứ thui thủi một mình trong phòng. Đứa em trai cùng mẹ của nó, mẹ nó, và bố dượng nó rất ít khi quan tâm đến nó. Niềm vui duy nhất của nó là chờ điện thoại của bố. Nó phát âm không chuẩn và nói rất khó khăn, nên hầu như nó chỉ nghe bố nói chuyện. Bố dặn dò nó rất nhiều và thỉnh thoảng còn hát cho nó nghe.
  
         Em trai nó học thêm Piano, nên nhà mẹ nó có cái đàn Piano rất đẹp để ở phòng khách. Có lần nó sờ và bấm bấm vài nốt. Mẹ mắng nó không được phá đàn của em. Nên từ đó nó không dám đụng đến nữa. Có hôm anh gọi điện thoại cho nó, nó nghèn nghẹn nói lỏm bỏm,.. đàn..đàn...klavia....con muốn... Anh thở dài và hát cho nó nghe.
   
         Tháng đầu, hầu như ngày nào anh cũng gọi điện thoại cho nó. Rồi thưa dần, thưa dần. Cho đến một ngày anh không gọi cho nó nữa. Sau một tuần đăng đẳng không nghe anh gọi điện thoại. Con bé bỏ ăn và nằm bẹp ở nhà không đi học. Chị không biết gì cứ mắng nó dở chứng.
  
        Một đêm, chị bỗng bật choàng dậy khi nghe tiếng đàn Piano vang lên. Chị chạy ra phòng khách, thấy con bé đang ngồi đánh đàn say sưa. Nó vừa đánh vừa hát thì thầm trong miệng. Chị cứ há hốc mồm ra kinh ngạc. Chị không thể tưởng tượng nổi là con bé chơi Piano điêu luyện như vậy. Chị chợt nhớ ra, đã có lần anh nói với chị, con bé ở trường khuyết tật có học đàn Piano, cô giáo khen con bé có năng khiếu. Lần đó chị tưởng anh kể chuyện lấy lòng chị nên chị không quan tâm
 
        Chị đến gần sau lưng nó, và lặng lẽ ngắm nhìn nó đánh đàn. Chị cúi xuống và lắng nghe con bé hát thầm thì cái gì.
   
          Chị sởn cả da gà, khi chị nghe con bé hát rõ ràng từng tiếng một, mà lại là hát bằng tiếng Việt hẳn hoi: "...Nhớ những năm xa xưa ngày cha đã già với bao sầu lo...sống với cha êm như làn mây trắng...nhớ đến năm xưa còn bé, đêm đêm về cha hôn chúng con....với tháng năm nhanh tựa gió..ôi cha già đi cha biết không...".
   
         Chị vòng tay ra trước cổ nó và nhẹ níu, ôm nó vào lòng. Lần đầu tiên chị ôm nó âu yếm như vậy. Chị thấy tay mình âm ấm. Nó ngừng đàn đưa tay lên ôm riết tay mẹ vào lòng ngực. Nó khóc. Chị xoay vai nó lại, nhìn vào khuôn mặt đầm đìa nước mắt của nó hỏi, con sao vậy hả con yêu của mẹ. Nó ngước nhìn mẹ nó rất trìu mến rồi chìa cho mẹ nó một tờ giấy giấy khổ A4 đã gần như nhàu nát.

         Chị cầm tờ giấy và chăm chú đọc, rồi thở hắt ra nhìn nó hỏi, con biết bố con bị ung thư lâu chưa. Nó chìa 4 ngón tay ra trước mặt mẹ. Chị hỏi, 4 tháng rồi hả. Nó gật đầu.
   
 Chị nhìn chăm chăm vào tờ giấy, và từ từ ngồi thụp xuống nền nhà, rũ rượi thở dài.
  
        Con bé hốt hoảng đến bên mẹ, ôm mẹ vào lòng, vuốt mặt mẹ, rồi vừa ấp úng nói vừa ra hiệu cho mẹ. Đại ý là nó diễn đạt rằng: -" Bố lên ở trên Thiên Đường rồi, mẹ yên tâm, con đã xin vào nội trú ở trường dưới Hamburg, ngày mai con sẽ về dưới đó, con không ở lại đây lâu để làm phiền mẹ và em đâu, con về ở tạm đây là vì bố muốn thế, bố muốn mình ra được nhẹ nhàng và yên tâm là có mẹ ở bên con.."
  
        Chị cũng ôm nó vào lòng, vỗ vỗ vào vai nó và nói, con gái ngoan của mẹ, ngày mai nếu mẹ sắp xếp được công việc, mẹ sẽ đưa con về Hamburg....
   
        Tôi nghe người ta kể chuyện lại chuyện đó, khi đi dự một cuộc biểu diễn nghệ thuật của học sinh khuyết tật và khiếm thị.
   
        Khi thấy em gái đệm đàn piano cho dàn đồng ca, cứ khăng khăng đòi phải đàn và hát bài hát "Người Cha Yêu Dấu" bằng tiếng Việt trước, sau đó mới chịu đệm đàn cho dàn đồng ca tiếng Đức. Quá kinh ngạc nên tôi cứ gạn hỏi mãi người trong ban tổ chức. Cuối cùng họ đã kể cho tôi nghe câu chuyện như vậy.
    

06.12.11
tn
Mời nghe nhạc phẩm PAPA ( Paul ANKA )



----

Xin Chỉ Giùm Họ : Ước Gặp Lại Những Người Ơn Cũ

Câu chuyện thật là cảm động. Các bạn chuyển tiếp đến thân hữu khác để tìm giúp. Hy vọng ước mong của cô này sẽ thành sự thật.
         
 
 Những Người Thầy: Chuyện Thật Với Mong Ước Gặp Lại Những Người Ơn Cũ


Hôm nay đọc bài “Thầy Tôi” trên Báo, làm cho tôi chạnh nhớ lại mình cũng có một vị Thầy không phải dạy ở nhà trường, vì tôi chưa bao giờ được cắp sách đến trường tại VN hồi tuổi ấu thơ.Tôi vốn sinh ra trong gia đình nghèo ở Quảng Trị, năm lên 8 tuổi tôi đã rời xa gia đình vào Huế ở giúp việc (gọi là ở đợ) cho gia đình ông Đỗ Trí, Trung úy Trưởng Ty An ninh ở Thành Nội Huế cho đến năm 1962.Trong nhà có một cậu Gia sư tên là Phú, đến ở trọ dạy kèm để chờ ngày thi Tú tài. Châu là cô bé 11 tuổi con gái đầu lòng của ông bà Trí, nhỏ thua tôi ba tuổi.Một bữa nọ, Châu không thuộc bài, tôi bồng đứa em nhỏ của Châu ngồi chơi trước thềm, tôi trả bài dùm cho Châu, cậu Phú nhìn ra thấy tôi và hỏi rằng “Hoa ơi, làm sao em thuộc bài?”- Thì em nghe Cậu giảng đêm hôm qua mà, thế là từ dạo ấy cậu Phú thương tình âm thầm đưa bài vở của Châu học cho tôi sao chép.Để đáp lại công ơn cậu Phú, tôi giặt áo dùm, đôi lúc thấy bữa ăn còn lại ít quá, tôi nhường lại phần ăn của mình cho cậu ấy.Ngày tháng trôi qua tôi không nhớ rõ là bao? Nhưng một ngày buồn lại đến!Cậu nói là cậu đi nhập ngũ, chúc Hoa dùng chút vốn liếng chữ nghĩa ấy mà tiến lên với đời nhé. Cậu còn dặn là hãy đọc truyện nhiều là em biết chữ thôi! Rất tiếc ngày ấy tôi không xin địa chỉ Cậu, và hỏi quê quán Cậu ở đâu? Cậu dáng người cao, da ngâm, hơi rỗ một tí. Cậu ơi, hiện giờ Cậu ở đâu? Có còn sống không? hay đã bỏ mình ngoài chiến trận như bao Anh hùng khác? Cậu là bậc Thầy rất vĩ đại của em, Cậu có biết không?Em mang theo hình bóng Cậu suốt cả cuộc đời mình. Khi Cậu đi rồi em cũng thôi ở nhà ông Trí, về quê học may. Năm 1966 quê em lại chiến tranh khói lửa. Ba em lúc ấy ở Tiểu Đoàn 22 Pháo Binh, nên gia đình em vào Tam Kỳ.Ở đó, em gặp được người Thầy thứ hai là Chị Lý Thị Bích Thuỷ, quán may em ở gần trường đánh máy chữ. Không có hàng may, em thường đứng trước trường nhìn vào mà ước mơ... mình cũng được như họ.Vài ngày như thế trôi qua, một hôm em đang mơ màng thì một bàn tay đặt nhẹ trên vai em, “Ê bồ, sao ngày nào cũng đứng nhìn vậy? Em mắc cở bỏ chạy, thì Chị Thuỷ níu lại hỏi cho rõ chuyện. Tủi thân, em oà khóc... Từ đó Thuỷ làm bạn, và trả tiền cho em đi học. Vài tháng sau em được Thuỷ xin cho đi làm Thơ Ký đánh máy cho Bộ Hải Quân Hoa Kỳ tại Chu Lai. Trước khi đi làm, Thuỷ dạy cho em, thuộc hết vần ABC và đếm từ One đến One hundred.Năm 1968, Chị Thuỷ và Huyền (tức là Hoa, tên em hồi đó) mất liên lạc! Năm 2000 Huyền có vào Chu Lai và tìm được Chị Toàn, Chị cho địa chỉ Thuỷ ở Fort Lauderdale. Về lại Mỹ, Huyền hết sức vất vả mà cũng không tìm được! Với tâm nguyện của Huyền, ước mong một phép lạ, cho Huyền gặp được hai người Thầy mà Huyền đã mang theo hình bóng từ 40-50 năm nay.Mỗi lần đi đâu đông người Việt, Huyền không quên hỏi tên của hai vị, nếu không gặp được hai vị trong những ngày còn lại cuối cuộc đời, Huyền vẫn mãi mang theo hình bóng hai vị Thầy khả ái đến kiếp hậu lai. Hiện tại, nếu còn thở Huyền vẫn còn hy vọng...Ngoài ra, nhắn tin: Em Đỗ Thị Minh Châu, bây giờ em và gia đình ở đâu? Chị không biết tên của Mẹ em, chỉ biết tên và cấp bậc của Ba em mà thôi! Châu rất đẹp, ông bà Trí cũng rất đẹp và rất phúc hậu, người di cư 1954, đọc được câu chuyện nầy Ai có biết tin, xin cho Huyền tin để được liên lạc.Tự truyện này cũng là lời nhắn tin rất tha thiết, mong được hồi âm.Trương Thị Thu Huyền ( tức Hoa) -- 724.667.2345 (cell)
 

Lầm Chết :"Chưa Đi, Chưa Biết ..Âu Châu "

"Chưa Đi, Chưa Biết ..Âu Châu 
Di rồi ..."
 
 Chưa đi chưa biết Châu Âu
Đi rồi mới biết đứng sau Hoa Kỳ
Thích đi thì cứ việc đi
Đi rồi mới thấy Hoa Kỳ ngon hơn.

Châu Âu nguyên là quê cha đất tổ, cội nguồn của những người Mỹ hiện nay. Trong những thế kỷ qua, ngoài những người đi chinh phục  vùng đất mới, những cố đạo đi truyền giáo, phần đông họ đều tức tưởi bỏ quê hương, đi tha phương, cầu thực vì nhiều lý do: chính trị, tôn giáo, kinh tế, văn hoá… Nhưng  khi có điều kiện, các thế hệ của họ đều muốn thực hiện một cuộc hành trình về quê hương, thăm mồ mả ông bà, họ hàng thân thích.
Đối với hắn ta, được sinh ra ở nơi cuối cùng của mảnh đất hình chữ S, vùng đất có “muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lền như bánh canh”, nên hắn ta chả có dính líu, dù chỉ 1 miligram nào với lục địa này cả, mà hắn vẫn muốn đi một lần cho biết với thiên hạ. Chả là trong lúc họp bạn bè, họ thường kể nhau nghe các cuộc du ngoạn ở cõi trời Tây, mà chẳng thấy hắn góp chuyện, họ bảo hắn nên thử một lần để biết đá, biết vàng với anh em.
Phải đợi đến 5, 7 năm sau khi vợ chồng hắn chấm dứt sự nghiệp “hắn ta hừng đông đi cày bừa, vợ hắn ta hừng đông đi cày bừa” sau 25 năm  định cư ở đất nước này.
 
                            Cửa hàng Louis Vuitton trên đại lộ Champs Élysées, Paris.
 
Sáu tháng sau ngày về hưu, hắn tập họp và so sánh một số công ty du lịch. Cuối cùng hắn chọn một tour 15 ngày đi 8 nước từ Anh Quốc của Ritz Tour, vì giá rẻ hơn các công ty khác gần 1/3. Nói là rẻ, nhưng chi phí cho 2 người ngốn hơn 8 tháng lương của hắn. Hắn chặc lưỡi:

- Hưu rồi thì hưởng, kẻo có gì thì xuống âm phủ, biết có hay không?

Hắn bật ngửa, khi nhận được giấy thông báo bằng tiếng Tàu và tiếng Anh. Thì ra đây là mt công ty Tàu núp bóng Tây. Thôi lỡ rồi. Ván đã đóng thuyền. gỡ ra sứt mẻ hết
!
Đến phi trường Heathrow vào lúc 6:30 sáng sau chuyến bay đêm. Vừa mệt, vừa đói, mà không thấy ai đón. Vừa bực mình vừa lo, vì không có phone, lại ở xứ lạ, quê người
.
Mãi đến gần 4 giờ chiều, trưởng đoàn mới xuất hiện dẫn theo một đám con trời, đang xí xô xí xào. Tour guide xin lỗi đến trễ, vì phải đi khắp phi trường để gom người lại, đến từ nhiều nơi ở Mỹ, Đài Loan và Trung Hoa. Hắn nhìn đám khách trú mà chán chường: ở Việt Nam thì chúng cướp đảo, lấn biển, hà hiếp ngư dân, coi như chỗ không người. Qua đến đây, đi chơi thì bị chúng vây tứ bề thọ địch.
Hắn than thầm: “Ta đã lạc vào rừng Hoa...Kiều.
May mắn là trong đám ấy, có hai vợ chồng Tàu gốc Chợ Lớn, nên hai cặp Hoa-Việt này không  cần khẩu hiệu “14 chữ vàng, 8 việc tốt”, cũng trở thành đồng minh bất đắc dĩ trong chuyến du lịch này. Cả đoàn kéo nhau ra Chinatown London ăn cơm chiều, về khách sạn, nhận phòng, tắm rửa xong là hơn 11 giờ khuya, phải đi ngủ sớm, vì ngày mai phải lên đường lúc 7:30 giờ.
 
                       Thành phố nước Venice, chỗ nào cũng... (người) Tầu.
 
Đường xá Luân Đôn nhỏ hẹp, nên thường chỉ một chiều. Đường hơi lớn thì có 3 làn xe, hai xuôi và một ngược, đầy nghẹt các loại xe nhà, bus, camion và xe đạp, mô tô chen nhau ở giữa. Lề đường là chỗ đậu xe, nên đi bộ phải len lỏi qua lại.

Các tour thăm nuớc Anh, Pháp, Ý thường tập trung vào các lâu đài nguy nga, cung điện xa hoa của vua chúa ngày xưa, các bảo tàng, các nhà thờ đồ sộ, đi rất mỏi cẳng, nên hắn không thích thú lắm, vậy mà hàng vạn du khách  chầu chực quanh điện Buckingham hàng giờ, không phải để diện kiến dung nhan của Nữ Hoàng Elizabeth II, mà chỉ để  xem toán lính Hoàng Gia đổi phiên gác, và chụp ảnh với các vệ binh mang hia đội mão màu mè gác ớ tháp Luân Đôn, thường gọi là BeefEaters.

Sau buổi ăn tối tự túc ở Chinatown, cả đoàn lên xe về khách sạn, thì một hành khách phốp pháp, có lẽ dân Hoa Lục, kêu khó chịu. Cả xe lo lắng, người đưa thuốc cảm, kẻ lấy thuốc tiêu chảy cho bà ta, nhưng bà ta không  chịu lấy. Gần đến khách sạn thì bà ta ôm bụng rên rỉ, lảm nhảm lung tung. Hắn quay lại hỏi ông bạn mình, bà ta nói gì vậy.

- À, cái này nó đang kêu đau quá và chưởi cha thằng chồng nó.

Tài xế, trưởng đoàn và cả xe đều hết hồn, vì bà ta có triệu chứng sắp sanh. Gặng hỏi thêm, bà ta mới thú thật là có thai đã 8 tháng, nhưng có lẽ vì đi nhiều và bị xì trét nên có thể sanh sớm.

Trưởng đoàn vò tai,  bứt tóc kêu trời:

- You kill me. Ngộ xẩy lá! Ngộ xẩy là cái chắc !

Cả xe nhớn nháo, lo lắng cho cuộc hành trình có nhiều sóng gió. Một mặt vỗ về, bảo bà bầu ráng chịu đau và bớt chưởi, trưởng đoàn hối tài xế gọi ambulance và cảnh sát giúp đỡ.

Một cảnh hiếm có xảy ra ở Luân Đôn: xe cảnh sát chớp đèn hú còi  tò tí te chạy trước, xe bus đầy khách chạy bạt mạng theo sau, ồn ào lẫn tiếng rên, tiếng chưởi, và lời bàn tán hươu, vượn của khách:

- Bà này tính toán hay quá. Thay vì phải vào xuởng đẻ ở Hoa Lục. Bà ta chọn xứ này có những phương tiện y khoa tốt nhất để sinh con, có quốc tịch ngay, không cần thủ tục nhiêu khê!

Tour guide chạy ra chạy vào bệnh viện như gà mắc đẻ, thông báo với đoàn là bác sĩ giữ anh ta lại với sản phụ chờ sanh xong, đề phòng trường hợp bất trắc, vì bà ta sanh sớm và không nói được tiếng Anh.

Tài xế trở thành trưởng đoàn bất đắc dĩ, đành chở khách về khách sạn để wait and see. Đến nơi thì  hơn 11 giờ đêm, nhà hàng đã đóng cửa. May là nhớ lời bạn bè đi trước, hắn có thủ sẵn vài tô mì ăn liền. Ăn vội vàng, tắm rửa xong là đi ngủ để chờ ngày mai que sera, sera….

Hôm sau, ăn sáng xong mà chẳng thấy tăm hơi ông trưởng đoàn đâu cả. Cả đám tụ tập tại lobby khách sạn bàn ra, tán vào om tỏi như cái chợ trời. Thật là không sai tí nào, vì có câu “một anh /chị Ba là một cái chợ Nhỏ (Ở Thủ Đức), hai anh/chị Ba là cái  Chợ Lớn và ba anh Ba/Chị Ba là một Chinatown. Khách đi ngang, ai cũng nhìn vào.

Vì không có điện thoại tay, nên tin tức đều thông qua bác tài, nhận từ bệnh viện gọi về. Khách đoàn gần 50 người, không có khả năng hiểu tiếng Anh giọng Scottish nặng như cối đá của bác tài, hắn đành nhảy ra làm phát ngôn viên của đoàn, chuyển tin tức từ bác tài sang ông bạn Chợlớn của hắn, ông này lại dịch sang  tiếng Quảng, tiếng Quan Thoại gì đó cho đồng hương. Không  biết họ có hiểu gì không, nhưng thấy họ gật đầu và đồng loạt:

- Hầy, hẩu, hẩu la!

Đến trưa thì trưởng đoàn báo cho biết là bà Hoa Lục đã sinh được một đứa con vuông và bà mẹ thì vẫn tròn vo. Hắn đang làm thủ tục hành chính, mua vé phi cơ cho mẹ con về nước. Tổn phí rất cao, nhưng bà ta quẹt thẻ là xong ngay.

Trưởng đoàn về đến khách sạn lúc gần 1 giờ, mặt mày bơ phờ, nhưng vui vẻ thông báo:

- Ăn trưa tự túc, một giờ nữa sẽ đi xem thành phố Lông Đông.

Định vào nhà hàng ăn, nhưng toàn thứ không hạp khẩu vị, giá lại ở trên trời. Vì chưa kịp đổi tiền Anh, nếu trả bằng đô, họ sẽ tính tỷ giá 1=1.94 đô. Đành vớt thêm 2 tô ramen nữa.

Cả buổi chiều lang thang hết lâu đài Windsor, nơi nghỉ mát mùa Đông của Hoàng Gia Anh trên bờ sông Thames, qua chụp ảnh đồng hồ Big Ben, London Tower, quảng trường Trafalgar… đến hơn 6 giờ chiều là mõi nhừ chân cẳng, thở không ra hơi, nên chẳng ai buồn nói chuyện nữa.

Lại vô cao lâu ăn nữa. Tiệm khá chật, bàn 12 người, dọn từng món, ra món nào xào món đó. Ăn sạch sành sanh không chừa một hột cơm!

Bổn cũ soạn lại. Ngày mai phải lên xe lúc 7:30 để đi qua Pháp bằng đường hầm Chunnel (Channel+Tunnel) dưới đáy biển. Ai trễ sẽ tự túc sang Pháp.

Ngồi trên xe lửa, nghĩ bậy bạ: rủi đường hầm rò rỉ. nước biển tràn vô thì thấy ông bà, ông vãi ngay. Để bớt lo, hắn cùng ông bạn đi kiếm cà phê thử: cà phê trên xe lửa có màu đen đen, đậm hơn nước lã một tí, bán 2 euro một ly nhỏ.

Vừa xuống ga Paris Nord, trưởng đoàn nhắc luôn miệng:

- Coi chừng móc túi, giữ chặt túi, giỏ, mắt phải láo liêng, kẻo không còn tiền và passport về Mỹ đó.

Trước khi vào thăm bảo tàng Louvres, đoàn được dẫn vào khu ăn uống, giống như các Food Court ở Mỹ, để ăn tự túc. Thức ăn phần lớn là của dân Bắc Phi. Giá cũng trời ơi. Bốn người đành gặm McDonald, chỉ lối 40 Euro thôi. Xong thì phải sắp hàng, trả 80 xu để giải quyết việc “thoát nước”. Nếu đưa 1 euro thì miễn thối lại.

Lại lục tục rồng rắn để vào trong bảo tàng. Người đâu mà đông vô kể. Sơ ý là lạc đoàn ngay, không thể tìm được. Đâu cũng thấy treo bảng: “Coi chừng móc túi!” Trèo lên, tuột xuống, qua, lại những phòng trưng bày rộng mênh mông, xem những bức tranh nổi tiếng, các tượng của các vị thần La mã và Hy lạp. các cổ vật của nền văn minh xưa…

Chiều tối ra Quận 13, tức là Chinatown  Made in France để xực phàn, về khách sạn thì đã khuya.

Như cái đồng hồ, ăn sáng xong là lên xe để đi thăm Kinh Đô Ánh Sáng. Chỉ đứng nhìn các cột sắt đen xì của tháp Eiffel, chớ không có thì giờ để lên trên. Đi ngang Khải Hoàn Môn, điện Invalides và bách bộ, đi mua sắm trên đại lộ Champs Élysées.  Lề của đại lộ này rộng mênh mông, nhưng người qua lại như nêm, phải chen nhau mà đi. Các cửa hàng bán đồ hiệu thường nhỏ, chỉ trừ Louis Vuitton và cửa hàng bán mỹ phẩm, nước hoa là đồ sộ. Không kể bảo vệ đi lòng vòng trong tiệm, cửa hàng nào cũng có hai tên mặc đồ complet đứng canh ngay cửa ra vào. Đặc biệt, muốn vào tiệm LV phải sắp hàng, chỉ được vào một lần 4 người, và hàng không đề giá (có lẽ sợ khách yếu bóng vía, yếu tim khi nhìn thấy giá). Muốn mua thì đem đến quầy trả tiền. Thế mà cũng đắt như tôm càng tươi, người mua phần đông là dân Hoa Lục, có người mua vài cái.

Chiều đến, lại tự túc, tự cường kiếm  ăn. Trưởng đoàn đề nghị ăn cơm Tây cho sang trọng. Mỗi phần gồm có beefsteak bò Kobé, sò, tôm nướng và rượu chát chỉ có 60 euro thôi, chưa kể típ và thuế. Chỉ có 7,8 người tham dự, còn lại thì tay cầm hay mì gói tiếp tục.

Tối đến, hắn gặp một bà đi ăn cơm Tây về. Bà này nói nhỏ với hắn:

- Ngộ phải trả 130 euro cho buổi ăn tối nay. Chỉ có 4 con sò, 4 con tôm nhỏ, một miếng thịt bít tết vừa đủ ăn và một ly rượu chát. Bánh mì không có bơ, và xà lách không có dressing như ở Mỹ.

May mắn là hắn không nghe lời dụ dỗ của tour guide, đỡ mất 260 euro cho hai vợ chồng.

Lại y chang:  hấp tấp đi ngủ, lật đật thức dậy, vội vàng ăn sáng để qua Thụy Sĩ.

Xe đi qua nhiều đường hầm xuyên núi trong 6 tiếng để vào thành phố Lucerne. Một thành phố nhỏ. đẹp, điễn hình cho các thành phố ở Thụy Sỹ. Đây là thành phố đồng hồ. Nơi nào, phố nào cũng là tiệm đồng hồ. Cũng loại, đủ hiệu: Rolex, Omega, Philip Patek, Tissot …đủ kiểu từ vài trăm đến vài ngàn Euro, giá còn mắc hơn ở Mỹ. Vậy mà các anh Ba, chị Ba, có lẽ là họ Mao, vẫn mua thoái mái.

Đoàn đi du ngoạn và ăn trưa trên tàu chạy trên hồ Lucern, bằng tiền túi, có một dĩa nui vớì gà nướng và nước lọc. kem giá 35 E. Đi thăm thành phố, có vẻ sang trọng, đường sá sạch sẽ, ít xe hơi, Đến 4 giờ là tiếp tục qua Ý.

Trên đường đi Venice, xe ngừng ở thành phố nhỏ Verona. Nếu Shakespear không dựng lại thiên tình sử bi thảm của Roméo và Juliet, thì chẳng ai biết đến Verona. Thành phố có một con đường lớn mang tên Julietta, nhưng không thấy có đường Roméo.

Thành phố nào ở Ý cũng có nhiều nhà thờ đồ sộ, các quảng trường mênh mông và các con đường lót đá. Đi ngoằn ngoèo trong các đường nhỏ hẹp, hai bên là cửa hàng, tiệm, quán ăn, đoàn đến một ngõ hẹp, qua một hành lang ngắn, hai bên tường  trét đầy chewing gum technicolor, chi chít những câu  “I love you” bằng hàng trăm thứ ngôn ngữ. Xem kỹ, không thấy “tiếng nước ta”, hắn lấy cây Bic ra, tìm chỗ trống, nắn nót câu “N  iêu M” để tạo “thương hiệu Việt Nam” tại đế quốc La mã!

Qua hành lang là một sân nhỏ, trước nhà của Juliet nổi danh thế giới: một căn nhà  hẹp, tầng trên có một lang cang nhỏ. Căn nhà cổ xưa, tường tróc vôi gần hết, dán đầy thơ tình của du khách gởi cho nàng Juliet bất hạnh. Trước nhà là bức tượng của nàng, nhỏ nhắn, xinh đẹp, trong bộ váy giản dị. Du khách đứng xếp hàng để chụp ảnh với nàng.

Khác với Đại Học Harvard (Mỹ), khi đứng bên tượng của ông để chụp ảnh kỷ niệm, khách phương xa đều cố nhón chân lên để sờ chiếc giày của ông, mong sau này con cháu họ sẽ được nhận làm môn đệ ở đây. Ở Verona, khách cũng chờ đến lượt để chụp ảnh bên tượng nàng Juliet, nhưng không biết có nghe lời xúi bậy của tour guide để có một tình yêu tuyệt vời, vĩnh cửu (sic), mà ông nào, chàng nào cũng đưa bàn tay nhám nhúa, để rờ cho được trái lê của nàng Juliet đáng thương. Báo hại một bên của nàng, bị hàng triệu, hàng triệu bàn tay sờ mó liên tục, trong nhiều năm, nên nó bóng nhẩy và mòn hẳn một bên!

Nhìn căn nhà của Juliet, hắn thấy không giống tí nào so với nhà của nàng trong phim Roméo và Juliet chiếu năm 1968: một căn biệt thự sang trọng, đẹp của dòng họ Capulet, trên là một lan cang chạy dài đến bên một cây cao, để hàng đêm, chàng Roméo, từ cây này, trèo sang lang cang để  tò tí với nàng Juliet, do tài tử Olivia Hussey đóng. Cô nàng tài tử này, không thể hiện được tính cách của nàng Juliet: y phục quá cầu kỳ, rườm rà, và nhất là vòng số 1 của nàng, quá cỡ thợ mộc, như cặp dừa xiêm so với Juliet thật, chỉ là hai trái cam sành thôi!

Trưởng đoàn bảo hắn mua vé vào xem nhà và ngôi mộ của Juliet. Hắn từ chối vì không đáng phải tốn để xem một căn nhà xưa và một ”nắm đất sè sè bên đàng”. Nghĩa Trang Arlington đẹp đẽ, hào hùng và trang nghiêm biết bao, là nơi đáng xem hơn!

Sáng lại đi sớm để đến thành phố nước Venice. Đường xa nên cứ hai tiếng, xe lại ngừng cho hành khách mua quà vặt, thư giãn tay chân và xã nước. Có nơi thu tiền vào toilet, có nơi không, nhưng hầu hết đều giống nhau: các bàn ngồi thì trơ trọi, không có tấm lót ngồi, có lẽ để tiết kiệm hay sợ du khách chôm ?

Xe vào bãi đậu rộng lớn, có gần 20,30 chiếc bus đang thả khách xuống. Khách lần lượt xuống tàu. Tàu nhỏ lối 50 người, tàu lớn thì 100, 150 khách, thi nhau đưa khách ra thành phố nổi.

Bước chân lên bờ, hắn tưởng đã đến Hồng Kông hay Thượng Hãi, chớ không phải Venice. Chỗ nào cũng Tàu, cũng nghe tiếng Tàu. Tàu trên cầu, Tàu trong quán, trong tiệm, nhà hàng, nhà thờ. Thứ gì họ cũng mua, sắm, món gì họ cũng ăn. Cửa hàng bán đồ  cao cấp cũng có Tàu thu ngân. thợ may cũng Tàu, bán hàng lưu niệm cũng anh Ba, thậm chí người thu tiền ở toilet cũng là a Xẫm.Có thể nói trong số 10 du khách ở đây, chỉ có một Tây, một Nhật, một Đại Hàn, còn 7 phần là Tàu: ”Dưới kinh tàu chạy, trên bờ Tàu đi ”

Có một nhà hàng Tàu nho nhỏ trong hẽm. Nhìn giá thực đơn hơi ớn. Chỉ dám gọi hai diã cơm chiên trứng, cở bằng một chén cơm nhỏ, cũng giá 6E/dĩa và một bình trà. Ăn xong, nhìn bill thấy bình trà tính 3E (ở Mỹ uống thoải mái) định nói là mắc, nhưng nhìn kỹ lại là con số 8, hết nói luôn. Trả gần 30 E cho buổi ăn đủ tráng bao tử, mà đoạn trường từng khúc!

Ai cũng ghi tên đi  thuyền gondola cho biết mùi. Mổi chiếc chở được 4 hay 6 người, chèo quanh co trong các kinh chật hẹp,tôi tối trong thành phố, lối hơn 30 phút là xong.Hắn không thấy thi vị hay thơ mộng gì theo như bạn bè kể.

Nhớ  lần đi du lịch xanh ở miền Tây trên chiếc thuyền nhỏ. Cô lái đò ; tóc bới cao đưa cái ót trắng ngần, thân hình chắc nịch trong chiếc bà ba trắng ; ngồi sau thuyền, đưa mái chèo nhịp nhàng trên con lạch nhỏ, đầy lục bình, dưới sông là cá đớp mồi, đàn bướm lượn trên tàng dừa nước. Phong cảnh thật hữu tình và thanh bình vô tả. Xuồng ghé vào vườn cây, khách vừa uống dừa xiêm vừa  thưởng thức trái cây từng mùa: ổi, xoài, mận, sa bô chê,mít… và đi thăm xưởng kẹo dừa, kẹo đậu phộng, kẹo chuối..

Buổi ăn trưa được dọn ra ở giũa vườn, dưới những tàng cây ăn trái. Khách được đãi những đặc sãn miền sông nước: cá tai tượng chiên xù, canh chua mẽ nấu cá lóc trứng, tôm thẻ hấp nước dừa, chuột đồng nướng, đùi ếch chiên bơ, rau đồng nội, mỗi người một xị nước mắt quê hương. Vừa ăn vừa nghe đờn ca tài tữ. Nếu có các cô đầu tham gia, thì khách sẽ được thưởng thức  “ Tom tom ,chát chát. Thiên đàng Cực Lạc là đâu tá ? Cực Lạc là đây chín rõ mười”.Vậy mà phí tổn chẳng mắc hơn chuyến ngồi gondola nhạt phèo hôm nay.

Nghe đồn café espresso Ý là số 1, uống rất phê, nên hắn vào tiệm gọi một ly.

- Đứng hay ngồi?- anh chàng Ý hỏi hắn.

Hắn ớ người ra:

- Đứng, ngồi là thế nào ?

Anh bồi  đáp tỉnh bơ:

- Đứng đây uống thì 2E, ngồi bàn đằng kia thì 15E.

Lạ nghe! Đúng là càng đi càng học được nhiều điều mới mẻ. Hắn đã từng uống nhiều kiểu, nhiều loại hình cà phê: cà phê tù bằng cơm cháy, cà phê bít tất bằng bắp xay ở lề đường, cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc ở Givral, cà phê võng, cà phê đèn mờ, cà phê không đèn, cà phê ôm trong vườn, cà phê nằm trong chòi, và bây giờ được biết thêm 2 loại cà phê. Không cần suy nghĩ hắn gọi:

- Cho cái espresso to stand!

Rời Venice, xe trực chỉ Florence, Đây là trung tâm văn hoá,, nghệ thuật, khoa học… của thời kỳ Phục Hưng ở Ý, nên có nhiều nhà thờ, lâu đài ,tượng đài, bảo tàng.. ở khắp nơi. Nhưng cái đinh của Florence là tháp nghiêng Pisa, có 6 tầng, cao 55m, cất bằng đá cẫm thạch trắng. Tháp được xây vào năm 1173, mới được vài tầng thì méo xẹo, phải tạm ngưng. Mãi đến gần 200 năm sau, khi gia cố một bên, mới  xây tiếp, nhưng tháp vẫn nghiêng từ từ, đến nay thì ẹo 1 góc lối 4 độ.

Nhiều năm trước, sau khi thăm và khảo sát tháp, một đoàn chuyên gia địa chất và kiến trúc Nhật đề nghị với Florence là họ sẽ kéo tháp thẳng lại, hoàn toàn miễn phí,  nhưng thành phố từ chối. Hỏi lý do thì họ trả lời rằng:

- Cả trăm năm nay, thành phố sống nhờ cái tháp nghiên chiềng này. Để các ông dựng đứng lại, thì ma nào đến đây xem cái tháp thẳng. Chúng tôi sẽ thất nghiệp cả lũ à? Vì thế cái tháp vẫn tiếp tục nghiêng như dáng đứng cà ẹo của người mẫu Victoria Secret và thành phố cứ thế mà thu tiền.

Ông bạn hắn rũ lên xem tháp, hắn từ chối và nói:

- Lên trên đó, nó sập, làm sao chạy kịp!

Ông bạn lắc đầu, hết ý.

Florence là thành phố hơi vọng cổ (tồn cổ). Toilet trả tiền nhưng vẫn xài bàn cầu ngồi xổm, giật nước bằng dây xích. Ngoài đường có người còn chạy xe Mobylette và Vélosolex. Khách sạn đưa cho khách chìa khóa phòng cổ điển, cột vào một miếng thép nặng cở 300 gram ghi số phòng, với lời dặn đáng giá 200 euro:

- Đừng làm mất!

Lên xe tiến về thủ đô của Đế Quốc La mã. Dọc đường một trường hợp hi hữu xảy ra tại trạm nghỉ trên xa lộ. Guide dặn hành khách trở lại xe sau 30 phút vì đường còn xa. Quá 15 phút rồi mà vẫn thiếu một người, đó là ông bạn của hắn. Trưởng đoàn và hắn đi khắp các khu chợ, cây xăng, nhà hàng, kêu ơi ới mà chẳng thấy tăm hơi hắn đâu cả. Định vào toilet kiếm, thì thấy ông ta vừa ra, mặt hơi tẽn tò.

Lên xe, truởng đoàn và cả xe cự nự, trách anh ta không đúng giờ. Bị cằn nhằn hoài, anh ta mới lên tiếng:

- Các bạn thông cảm cho tôi. Chuyện này ngoài ý muốn mà!

Ngừng một chút, anh ta tiếp:

- Khi xong rồi thì  không thấy cuộn giấy  đâu cả. Lại không có nước. Trong 36 kế, không có kế nào giải quyết cas này. Tôi phải sử dụng kế thứ 37: “tuột xà lỏn”, thay cho giấy.

Nghe tả oán, cả đoàn thông cảm và cười muốn vỡ xe luôn. Rút kinh nghiệm, từ đó về sau, đi đâu ai cũng thủ sẵn vài tờ giấy trong túi, phòng khi emergency, không mất “nội y”.

Trước khi vào thành phố, xe ngừng ở một nhà hàng ngoại ô để khách tự túc ăn tối. Xong về khách sạn là đã tối, chẳng thấy mặt mũi Rome by night  ra thế nào.

Vẫn vũ như cẩn., ăn sáng xong là lên xe ngay, đi thăm bảo tàng Vatican.

Đến nơi, đứng xếp hàng bốn vào cái đuôi dài cả trăm thước. Hơn 9 giờ mà chưa thấy nhúc nhích gì cả. Guide thông báo phải mua vé vào cửa,không rẽ đâu. Nếu ai không đi, thì theo anh ta đi ngắm thành phố !Tiều Châu có nói “Đâu lứng tăng kể “(Đứng lâu tê cẳng), nên hai cặp theo chàng guide đi lòng vòng xem con cháu của César và Nero qua lại!

Đến trưa, đang đi thì bỗng nhiên hai chân hắn biểu tình, từ chối không hoạt động nữa. Hắn ngồi đại bên đường, thở dốc, mồ hôi ra ướt cả áo. Hắn biết bộ máy của hắn, sản xuất từ Thế Chiến thứ 2, đang cần đại, đại tu ngay, sau nhiều ngày chạy hết công suất, nếu tiếp tục, sẽ banh ta lông ngay.

Thấy tình hình không mấy khả quan, cả bốn người đều đồng ý,  không đi tiếp đến Đức và Hòa Lan nữa. Ngày mai sẽ về sớm.

Ra phi trường để đổi vé. Hảng phi cơ mau mắn đổi vé cho hai cặp để làm vui lòng khách đến, nhưng không hài lòng khách đi, vì charge  penalty cho cái tội đi không đúng ngày và không đúng phi trường. Thẻ của hắn bị lủng một lỗ khá lớn.

Đang đứng xếp hàng để đi taxi từ phi trường, một tài xế đến khều hắn, chỉ ra ngoài xe van và nói đi ngay. Vừa đóng cửa xe, tên tài xế nói ngay:

- Mỗi người 15E, và đừng quên tiền tip nhé. Nhìn mặt tên tài xế, hắn thấy giống các tên trong phim The Godfather, nên im lặng, cho an toàn.

Trả 65E cho chuyến xe 15 phút về khách sạn, hắn thấy tiếc ơi là tiếc.

Ra đến phi trường, anh chàng guide cười với hắn:

- Khi nào các ông sẽ đi với công ty chúng tôi nữa?.

Không trả lời, hắn kéo vali vào trong.

Phi trường Rome to lớn, nhưng hơi lộn xộn và không được sạch sẽ cho lắm. Hắn và ông bạn suýt trể chuyến bay vì có thay đổi về gate, mà chẳng thông báo trên loa cho khách biết như ở Mỹ. Tình cờ nhìn lên bảng điện tử mới hú hồn!.

Tuần sau gặp lại bạn bè trong quán cà phê Dunkin, họ hỏi thăm chuyến ngao du thế nào. Hắn trả lời lơ lửng, không hào hứng lắm:
- Cũng được.

- Vậy tao muốn đi một lần cho biết, mầy có ý kiến gì không ? Một tên bạn hỏi

Suy nghĩ một lát hắn chậm rãi trả lời:

- Nếu mầy là Công Giáo, muốn đi hành hương ở các thánh địa như Lourdes, Fatima hay Vatican thì tốt thôi. Nếu không, phải có bạn bè, thân nhân bên đó thì mới thích. Ngoài hai trường hợp đó, mày muốn đi thì trước hết mày phải có khá nhiều tiền, để xài cho đã. Phải có một sức khỏe tốt để thức khuya, dậy sớm,
có bộ giò cứng để lê lết khắp hang cùng, ngõ hẻm, lên thang, xuống hầm, có bộ mông to để ngồi 5.7 tiếng trên xe, chọn hãng du lịch nào kha khá chút. Đi đâu nhớ bỏ túi tiền xu để đóng góp vào kỹ nghệ nước thải của Châu Âu, và nhớ thủ vài tờ giấy phòng trường hợp...

Tao có bài thơ này tặng mày trước khi đi:
Chưa đi chưa biết Châu Âu
Đi rồi mới biết đứng sau Hoa Kỳ
Thích đi thì cứ việc đi
Đi rồi mới thấy Hoa Kỳ ngon hơn.

Tác giả : Kông Li
 

TẠ ƠN CHIẾN SĨ CỘNG HÒA.: Nhân Mùa Lễ THANKSGIVING 2012.

           THANKSGIVING: TẠ ƠN CHIẾN SĨ CỘNG HÒA.





Con Người được tác tạo với hai phần tuy khác biệt nhưng lại hòa nhập với nhau làm một: Thể Xác và Tinh Thần. Tùy theo giáo dục gia đình và học đường và tùy theo nhận thức mà Con Người sinh hoạt theo từng đẳng cấp: Hướng Hạ, Nhân Bản, Hướng Thượng và Cao Thượng. Tầng lớp Hướng Hạ sống miễn cưỡng, buông thả và không biết chăm sóc bản thân mình, để mặc cho thể xác và tinh thần bệnh hoạn, mặc cho những kết quả của sự buông thả của mình lôi kéo mình đi vào một tương lai vô định. Lớp Nhân Bản sống đúng theo những nhu cầu căn bản của Nhân Loại, sống bình dị, và biết lo lắng cho thân thể và tinh thần mình tráng kiện. Giá trị cao hơn một cấp là lớp Hướng Thượng, tầng cấp này là những nhà giáo dục, những nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nghệ sĩ chân chính, kiến trúc sư…luôn tìm cách vươn lên một tầm cao hơn thế đứng hiện tại, đặt tâm hồn và trí thức mình hướng về việc làm cho Nhân Loại thăng hoa cũng như thích chia xẻ những điều Hay, Đẹp cho người khác. Phần thưởng mà họ mong muốn là những nụ cười hạnh phúc của thiên hạ. Vượt qua những đẳng cấp ấy là lớp người Cao Thượng, sẵn sàng hy sinh mình cho niềm vui và hạnh phúc của người khác, tuy biết rằng một khi hy sinh Thể Xác thì Tinh Thần cũng tan biến, sự hiện diện của cá nhân mình trên mặt đất này sẽ không còn nữa. Lớp người Cao Thượng này không hề nghĩ đến đau đớn của Thể Xác một khi chấp nhận hy sinh. Họ cũng không cần Quá Khứ, Hiện Tại, và Tương Lai của chính mình, vì nếu đã hy sinh Thể Xác, thì mọi liên hệ của Quá Khứ, Hiện Tại và Tương Lai đều biến mất trong chớp mắt. Sự hy sinh như thế là tận cùng của sự thất thoát và lỗ lã.
Vậy, họ là ai? Với khoa học, họ là những người miệt mài với các công thức y khoa hay các thí nghiệm vật lý, hóa học,  chấp nhận hy sinh mọi nhu cầu cá nhân cho nhân loại được khỏe mạnh, tiện nghi và thăng tiến xã hội. Với tôn giáo, họ là những người Tử Vì Đạo, vì lòng tin của mình cho một thế giới tốt đẹp hơn. Với Việt Nam, họ là những Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã đấu tranh cho sự trường tồn của Dân Tộc, cho ý thức Dân Chủ và cho Nhân Quyền được tôn trọng. 

Tuong dai chien si  Uc-Viet, Brisbane,Australia

Những người lính Cộng Hòa, một khi đã chấp nhận ra chiến trường thì coi cái chết bản thân nhẹ tựa lông hồng, coi thương tật vĩnh viễn là sự may mắn cho gia đình, trong khi đó lại coi sự tồn vong của đất nước như một trách nhiệm đương nhiên, không cần giải thích. Những người lính ấy cười ngạo nghễ trước Thần Chết, khinh bỉ mũi súng của quân thù, xung phong vào chỗ đạn lửa như vào chốn nghỉ ngơi, chẳng hề nhớ tiếc đến nụ cười hay ánh mắt của người đẹp đằng sau, quên tất cả những lời ước hẹn “anh sẽ trở về với em”, mà chỉ biết đến nhiệm vụ phải hoàn thành, phải đưa dân ra khỏi vòng binh khói, phải cứu bạn ra khỏi chỗ pháo dập, và phải diệt bọn tà ma quỷ quái đang đặt mìn, đắp mô trên tỉnh lộ, đang chĩa pháo vào khu dân cư, hay đang chuẩn bị hành hình những viên chức xã ấp là những người phục vụ dân chúng. Trong số những người lính anh dũng ấy, có biết bao nhiêu khuôn mặt non trẻ, chưa hề biết một nụ hôn ngọt ngào như thế nào, chưa hề biết cảm xúc ra sao khi được một bàn tay ngà chạm nhẹ đến cổ áo, quấn cho anh chiếc khăn quàng của em gái hậu phương…Và cũng có biết bao người lặng lẽ chia tay với người vợ trẻ và mấy đứa con thơ, cố bịt tai để khỏi nghe tiếng khóc tiễn đưa, cố nhắm mắt để khỏi nhìn thấy những giọt lệ tuôn trào ướt áo, và cũng lặng lẽ băng mình vào sương khói mờ mịt mà chẳng dám quay lại, nói lời “hẹn tái ngộ”, vì biết có “tái”, có “ngộ” không sau trận chiến đẫm máu này…
Họ, những Thiên Thần Mũ Đỏ, Mũ Xanh, Mũ Nâu, những Anh Hùng Tiếp Vận, Kỵ Binh, Hải Quân, Không Quân, Công Binh, Pháo Binh, Địa Phương Quân, Truyền Tin, Bộ Binh, Thủy Quân Lục Chiến, những Anh Thư Nữ Quân Nhân, các Anh Hùng Biệt Kích, Lôi Hổ, Biệt Hải, Giang Đoàn, Lực Lượng Đặc Biệt… đã chấp nhận trở về trong “hòm gỗ cài hoa” hay “trên đôi nạng gỗ”, hoặc trong tấm “poncho” lạnh lẽo, dưới những cơn mưa phũ phàng và trong tiếng gầm của đạn pháo tiễn đưa.
Họ, những chàng trai hay những thiếu nữ mắt sáng quắc như ánh sao, hồn rực lửa yêu từng tấc đất quê hương, đã là những Thiên Thần Hộ Mệnh cho miền Nam sống an lành trong biết mấy thập niên, và những tưởng sẽ  tiếp tục giang cánh tay bảo vệ mạng sống người dân mãi mãi, nhưng không ngờ, bị bạn bè phản bội, bán đứng cho giặc, nên đành bẻ gẫy kiếm gươm, chôn vùi vũ khí và chôn cả quãng đời chiến đấu dang dở trong ngục tù Cộng Sản.
Thế đó, mà giờ đây, có bao người còn nhớ đến lời CÁM ƠN NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG HÒA? Trong lễ Thanksgiving của thiên hạ, có bao người biết ngả mũ, cúi đầu trước anh linh lẫm liệt của hơn bao chiến sĩ đã hy sinh Thể Xác và Tinh Thần cho quê hương, cho lịch sử và cho ba triệu người vượt biển an toàn? Có bao người đang giầu sang, hạnh phúc biết bắt tay và nói lời CÁM ƠN người lính Cộng Hòa đang vất vả ngược xuôi trong xứ lạ?
Vậy, trong không khí mừng lễ Tạ Ơn của thiên hạ, xin những ai đọc bài này, hãy quay sang bên cạnh về phía những người chiến sĩ cũ và một lần nói lên lời CÁM ƠN NGƯỜI CHIẾN SĨ CỘNG HÒA. Cám ơn anh, cám ơn chị, cám ơn em, cám ơn chiến hữu, cám ơn các Niên Trưởng, cám ơn tất cả những ai đã tham gia vào cuộc chiến bảo vệ Tự Do ấy. Nếu không có Tâm Hồn Cao Thượng của các anh, các chị, các em.. đã xả thân hy sinh, thì cả thế hệ chúng ta, đã không thể như hiện tại…
Tạ Ơn Người.
Chu Tất Tiến, 
Thanksgiving 2012.

Bài Xem Nhiều