We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 5 December 2012

Hồ Chí Minh Nuốt Lời Thề : Cộng Sản “Toàn quốc kháng chiến”

Ngày 19/12/1946: Hồ Chí Minh trốn chạy


Hồ Chí Minh đi mặt trận
Ngày 19-12-1946 được đảng Cộng Sản (CS) gọi là ngày “Toàn quốc kháng chiến”, vì vào ngày đó, Hồ Chí Minh lên tiếng kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Dân chúng Việt Nam vốn yêu nước và căm thù giặc Pháp bảo hộ từ 1884, nên khi nghe lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, liền đứng lên đáp lời sông núi, hưởng ứng cuộc kháng chiến chống Pháp. Thật ra, lý do sâu xa đưa đến việc Hồ Chí Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến là do việc Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD) bị Pháp dồn vào thế bí, phải hô hào kháng chiến, nhằm tìm cách trốn chạy khỏi Hà Nội ngày 19-12-1946.
1.- LỜI THỀ CHỐNG PHÁP
Sau Đại hội đảng CSĐD tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ 13 đến 15-8-1945, Hồ Chí Minh tổ chức tiếp “Đại hội đại biểu quốc dân” ngày 16-8-1945, cũng tại Tân Trào, để thành lập “Uỷ Ban Dân Tộc Giải Phóng Việt Nam”, có tính cách như Chính phủ Cách mạng Lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.
Trong khi đó, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng ngày 14-8-1945. Quân đội Nhật tại Đông Dương buông súng, chờ đợi giải giới. Chính phủ Trần Trọng Kim sụp đổ. Chính phủ nầy không có bộ Quốc phòng, không có quân đội nên không có ai giữ gìn an ninh xã hội trong thời gian chuyển tiếp. Lực lượng võ trang Việt Minh cộng sản tự do thao túng.
Từ Tuyên Quang, Hồ Chí Minh cùng lực lượng Việt Minh đến Hà Nội ngày 21-8-1945 và xuất hiện trước công chúng ngày 28-8-1945. Sau lễ thoái vị của vua Bảo Đại (trị vì 1925-1945) tại Huế ngày 30-8, thì tại Hà Nội, Hồ Chí Minh gấp rút ra mắt chính phủ lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, tại bãi Cột Cờ (Rond point Puginier), mới được đổi tên thành công viên Ba Đình từ đầu tháng 8-1945.
Tại buổi lễ, sau khi đọc bản “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh hô to hai lời thề. Thứ nhứt, lời thề của Chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà: “Chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Quốc dân đại biểu đại hội cử lên, xin thề rằng: Chúng tôi sẽ kiên quyết lĩnh đạo làm dân giữ vững nền độc lập cho Tổ quốc và thực hiện bản chương trình của Việt Minh, đang mang lại tự do, hạnh phúc cho dân tộc. Trong lúc giữ nền độc lập, chúng tôi quyết vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, dù phải hy sinh tính mệnh cũng không từ.” Thứ hai, lời thề của Quốc dân: “Chúng tôi, toàn thể dân Việt Nam xin thề: Kiên quyết một lòng ủng hộ chính phủ Lâm thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ủng hộ chủ tịch Hồ Chí Minh. (Xin thề!) Chúng tôi xin thề cùng chính phủ giữ quyền độc lập hoàn toàn cho Tổ quốc, chống mọi mưu mô xâm lược, dù có phải chết cũng cam lòng. (Xin thề) Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp. (Xin thề!)” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam, Hà Nội: Nxb.Thông Tấn, 2005, tr. 26.)
2.- HỒ CHÍ MINH NUỐT LỜI THỀ
Tuy thề như trên, nhưng chỉ nửa năm sau, Hồ Chí Minh vội nuốt lời thề. Nguyên trước khi Nhật Bản đầu hàng, Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ) gởi cho Nhật một tối hậu thư, gọi là tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945, theo đó sau khi quân đội Nhật đầu hàng, tại Đông Dương quân Nhật sẽ bị giải giới do quân THQDĐ ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16.
Tối hậu thư Potsdam không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương. Điều nầy sẽ tạo ra một khoảng trống hành chánh và chính trị tại Đông Dương một khi những quyết định trong tối hậu thư Potsdam được thi hành, vì nếu Nhật đầu hàng, chính phủ Trần Trọng Kim do Nhật bảo trợ, sẽ sụp đổ, thì ai sẽ là người có thẩm quyền tại Đông Dương? Đây là kẻ hở mà tân tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman muốn tạo cơ hội cho Pháp trở lại Đông Dương nhằm lấy lòng Pháp, để Pháp ủng hộ chủ trương của Hoa Kỳ về việc ngăn chận sự bành trướng của Liên Xô ở Âu Châu. (Robert S. McNamara, In Retrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31.)
Ngày 14-8-1945, Nhật hoàng tuyên bố đầu hàng. Quân đội Anh đến Sài Gòn ngày 13-9-1945 và quân đội THQDĐ đến Hà Nội ngày 14-9-1945. Về phía Pháp, để tìm cách trở lại Đông Dương, Pháp ký với Anh tạm ước về hành chính và tư pháp tại London ngày 8-10-1945, theo đó Anh giao quyền cho Pháp cai trị phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, tr. 275.) Sau đó, Pháp ký với THQDĐ hiệp ước tại Trùng Khánh (Chongqing) ngày 28-2-1946, nội dung là Trung Hoa chịu cho quân Pháp thay thế ở bắc vĩ tuyến 16, và ngược lại Pháp nhường cho Trung Hoa nhiều quyền lợi kinh tế ở Bắc Kỳ cũng như ở Trung Hoa. (David G. Marr, Vietnam 1945, the Quest for Power, University of California Press, 1995, tr. 544.)
Pháp theo quân Anh, tái chiếm Nam Kỳ, rồi tiến quân ra Trung v à Bắc Kỳ. Trong lúc nầy, Việt Minh và Hồ Chí Minh gặp ba trở lực cùng một lúc: 1) Quân THQDĐ. 2) Các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc trở về Việt Nam sau thế chiến 2 như Việt Nam Quốc Dân Đảng (VNQDĐ), Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách)…. 3) Quân Pháp từ trong Nam ra Bắc.
Nhằm đối phó với các đảng phái Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc, Hồ Chí Minh hối lộ các tướng lãnh THQDĐ để họ sớm đem quân về nước theo hiệp ước Trùng Khánh, và khi quân Pháp đến Hải Phòng sáng ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh kiếm cách thỏa hiệp với Pháp. Vào chiều ngày 6-3-1946, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, Hồ Chí Minh, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, ký thỏa ước Sơ bộ với đại diện Pháp là Jean Sainteny. Theo thỏa ước nầy, Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp (điều 1); Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật (điều 2).
Hồ Chí Minh mới thề chống Pháp đó, nay cũng chính Hồ Chí Minh nuốt lời thề, ký thỏa ước hợp thức hóa sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam. Như thế chưa đủ. Hồ Chí Minh còn theo phái đoàn Phạm Văn Đồng qua Paris dự hội nghị Fontainebleau và Hồ Chí Minh ký Tạm ước (Modus Vivendi) tối 14-9-1946 với Marius Moutet, bộ trưởng Pháp quốc hải ngoại. Tạm ước gồm 14 điều khoản, nhượng bộ để cho Pháp tái tục các hoạt động kinh tế, tài chính, giao thông, văn hóa trên toàn quốc Việt Nam.
3.- CĂNG THẲNG VIỆT PHÁP SAU CÁC THỎA ƯỚC
Tạm yên với THQDĐ và với Pháp sau thỏa ước Sơ bộ (6-3-1946), Việt Minh và Hồ Chí Minh kiếm cách tấn công các đảng phái chính trị đối lập như VNQDĐ, Việt Cách, Đại Việt, và những người không theo Việt Minh. Lãnh tụ các đảng phái nầy hoặc bị giết, hoặc phải lẫn trốn hoặc bỏ qua Trung Quốc. Tuy nhiên, về phía Pháp, thì Pháp càng ngày càng tăng quân và gây hấn ở Bắc Kỳ.
Ngoài những tranh chấp nhỏ, cuộc đụng độ Việt Pháp lớn đầu tiên xảy ra ở Bắc Ninh ngày 3-8-1946. Uỷ ban Liên kiểm Việt Pháp đến can thiệp, nhưng không giải quyết được cuộc tranh chấp. Ngày hôm sau, Pháp đòi đóng quân tại trại lính khố xanh cũ. Việt Minh không chấp thuận. Pháp dùng phi cơ oanh tạc, và chiếm luôn thị xã Bắc Ninh. Sau đó, Pháp tự ý kiểm soát quan thuế ở Hải Phòng kể từ 10-10-1946.
Tại Lạng Sơn, ngày 20-11-1946, quân Pháp tìm kiếm mộ địa người Pháp bị Nhật giết trong thời chiến tranh, có cả ban Liên kiểm Việt Pháp đến chứng kiến. Hôm sau, quân Pháp tiếp tục công việc thì bị Việt Minh tấn công. Hai bên đụng độ nặng. Quân Pháp chết 9 người. Thương thuyết suốt ba ngày không được, đại tá Sizaire chiếm thành Lạng Sơn ngày 24-11-1946.
Tại Hải Phòng, ngày 20-11-1946, một chiếc xà-lúp (chaloupe) của người Trung Hoa chở nhiên liệu vào biển cửa Cấm ở Hải Phòng, với giấy phép do Sở Thương chánh Việt cấp. Pháp cho tàu chận xét, và kéo chiếc xà-lúp về đồn Pháp. Quân Tự vệ Việt Minh ngăn chận tàu Pháp. Hai bên xô xát và nổ súng. Uỷ ban Liên kiểm Việt Pháp từ Hà Nội xuống Hải Phòng dàn xếp, nhưng tình hình vẫn căng thẳng.
Đại tá Pierre-Louis Débes gởi tối hậu thư ngày 23-11-1946 cho nhà cầm quyền Việt Minh phải rút hết tự vệ ra khỏi thành phố Hải Phòng, dẹp bỏ các chướng ngại vật, nếu không Débes sẽ hành động từ 10 giờ sáng 24-11-1946. Phía Việt Minh không phúc đáp. Thế là Débes ra lệnh cho phi cơ oanh tạc và chiến hạm tấn công bằng đại bác, gây thiệt hại nặng nề cho người Việt. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, Sài Gòn: 1965, California: Nxb. Xuân Thu tái bản, tr. 29.)
Quyền cao ủy Đông Dương, trung tướng Jean Valluy ra lệnh cho thiếu tướng Louis Morlière, chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ, và đại tá Pierre-Louis Débes phải làm chủ tình hình Hải Phòng và kiểm soát thuế quan. Débes liền cho quân Pháp tấn công và hoàn toàn làm chủ Hải Phòng ngày 2-12-1946.
Về phía Việt Minh, Việt Minh âm thầm chuẩn bị chiến tranh. Lúc đó, Hà Nội có 5 tiểu đoàn Vệ quốc quân và 10,000 tự vệ của 17 khu phố. Việt Minh lùng bắt và giết hại Pháp kiều cùng binh sĩ Pháp khắp nơi, làm cho tình hình mỗi ngày mỗi trầm trọng. Lo ngại chiến tranh xảy ra, dân Việt bắt đầu tản cư khỏi thành phố, về các vùng thôn quê chung quanh.
Ngày 7-12-1946, Võ Nguyên Giáp gởi thông tư khẩn cấp, yêu cầu các đơn vị quân đội phải hoàn tất việc chuẩn bị tấn công vào ngày 12-12-1946. Từ 10-12-1946, các công sở được lệnh thu xếp hồ sơ, dụng cụ để tản cư ra vùng nông thôn lân cận.
Trong khi đó, tại Pháp, cuộc bầu cử quốc hội ngày 10-11-1946 đem thắng lợi cho các đảng khuynh tả, trong đó đảng CS Pháp dẫn đầu. Các đảng khuynh tả đưa Léon Blum thuộc đảng Xã Hội, lên lập chính phủ ngày 16-11-1946. Tân chính phủ chủ trương thương thuyết với Việt Minh để tìm kiếm một giải pháp chính trị, nhưng các tướng lãnh Pháp ở Đông Dương lại quyết tâm áp lực Việt Minh.
Quyền cao uỷ Đông Dương, tướng Jean Valluy, ra Hải Phòng họp với Louis Morlière, Pierre-Louis Débes và Jean Sainteny ngày 17-12. Hôm sau, ngày 18-12-1946, một chiếc xe của Pháp bị tấn công trước bộ Tài chính và bộ Giao thông tại Hà Nội. Trưa đó, Pháp giao cho Việt Minh một thư báo tin Pháp sẽ chiếm trụ sở hai bộ đó, đồng thời yêu cầu Việt Minh dẹp bỏ những chướng ngại vật, nếu không Pháp sẽ tự mình khai thông đường phố. Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ nhất. Cùng ngày 18-12-1946, thiếu tá Pháp Jean Julien gởi cho Việt Minh một thư khác phàn nàn rằng cảnh sát Việt Minh không chu toàn nhiệm vụ và cho biết nếu việc nầy tiếp tục, Pháp sẽ đảm trách giữ gin an ninh Hà Nội từ ngày 20-12-1946. Việt Minh xem đây là tối hậu thư thứ hai. (Stein Tonnesson, Vietnam 1946 – How the War Began, University of California Press, tr. 198.) Cũng trong ngày 18-12-1946, Hoàng Hữu Nam (tức Phan Bôi, em chú bác ruột với Phan Khôi), thứ trưởng bộ Nội vụ Việt Minh, họp công chức tại Hà Nội, ra lệnh tản cư. (Đoàn Thêm, sđd. tr. 30.)
Sáng 19-12-1946, tướng Morlière, tư lệnh lực lượng Pháp ở Bắc Kỳ, gởi thư cho Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi), buộc Việt Minh phải tước khí giới quân Tự vệ ở Hà Nội, chấm dứt bạo động, đình chỉ việc chuẩn bị chiến tranh, và để cho Pháp bảo vệ an ninh thành phố Hà Nội. Đồng thời Morlière đề nghị với Hoàng Hữu Nam triệu tập cuộc họp khẩn cấp để tìm biện pháp tránh xung đột. Việt Minh cho đây là tối hậu thư thứ ba của người Pháp ở Hà Nội. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 204.)
Để Pháp khỏi nghi ngờ về những chuẩn bị của Việt Minh ngày hôm đó, Hoàng Hữu Nam trả lời rằng vấn đề sẽ được cứu xét trong phiên họp hằng tuần vào ngày hôm sau, thứ Sáu 20-12-1946. Hồ Chí Minh viết thư ngắn cho đại diện Pháp là Jean Sainteny yêu cầu Sainteny thương thuyết với thứ trưởng ngoại giao Việt Minh là Hoàng Minh Giám. Sainteny hẹn sẽ gặp Giám vào ngày hôm sau (20-12). Võ Nguyên Giáp cố gắng thuyết phục tướng Louis Morlière rằng để làm cho tình hình bớt căng thẳng, quân Pháp phải tỏ thiện chí bằng cách bỏ lệnh cấm trại, cho lính nghỉ ngơi. Morlière đồng ý.
Tuy nhiên lúc 5 giờ chiều ngày 19-12, Louis Morlière nhận được tin tình báo cho biết VM sẽ tấn công tối hôm đó, nên Morlière đổi ý, duy trì lệnh cấm trại, không cho quân Pháp ra khỏi căn cứ, đồng thời tập trung thường dân Pháp vào những khu vực gần căn cứ Pháp để dễ bảo vệ, và chuẩn bị đối phó với tình hình. (phối hợp các tài liệu: Stein Tonnesson, sđd. tt. 203-204, Đoàn Thêm, sđd. tr. 30 và Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 370-371.)
4.- 19-12-1946: HỒ CHÍ MINH BỎ TRỐN
Nếu quân đội Pháp nắm giữ an ninh Hà Nội, nghĩa là kiểm soát cả lực lượng võ trang VM, thì sinh mệnh của chính phủ Hồ Chí Minh, lãnh đạo mặt trận VM và đảng CSĐD hoàn toàn nằm trong tay quân đội Pháp. Đó là điều VM không thể chấp nhận được, nhưng lúc đó VM yếu thế, không đủ sức đánh Pháp. Hồ Chí Minh liền họp Trung ương đảng CSĐD (TƯĐCSĐD) để quyết định.
Đảng CSĐD đã được Hồ Chí Minh tuyên bố giải tán ngày 11-11-1945, và thay bằng Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mã Khắc Tư [Mác-xít] do Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) làm tổng thư ký. Tuy nhiên, theo lời Hồ Chí Minh “dù là bí mật, đảng [CSĐD] vẫn lãnh đạo chính quyền và nhân dân.” (Hồ Chí Minh toàn tập, [tập 6], xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 2000, tr. 161.)
Hồ Chí Minh trốn khỏi Hà Nội, qua Hà Đông từ 26-11-1946. (Stein Tonnesson, sđd. tr. 199.) Ông triệu tập cuộc họp Trung ương đảng CSĐD trong hai ngày 18 và 19-12-1946, tại Vạn Phúc (Hà Đông). Không thể để Pháp bắt, cũng không thể âm thầm nhục nhã bỏ trốn khỏi Hà Nội, Việt Minh và đảng CSĐD không còn con đường nào khác là phải tấn công Pháp và kêu gọi toàn quốc kháng chiến, để có lý do chính đáng giải thích sự thoát thân khỏi Hà Nội trong danh dự. Vì vậy, trong hội nghị nầy, TƯĐCSĐD quyết định phát động cuộc chiến chống Pháp trên toàn quốc. Hội nghị còn thông qua báo cáo về đường lối trường kỳ kháng chiến của Trường Chinh, về kế hoạch quân sự của Võ Nguyên Giáp và “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh”. (Lê Mậu Hãn chủ biên, Đại cương lịch sử Việt Nam, tập III, Hà Nội: Nxb. Giáo Dục, 2001, tr. 48.)
Theo điều thứ 29 của Hiến Pháp ngày 9-11-1946, nếu nhà nước “muốn tuyên chiến thì phải có hai phần ba số nghị viện có mặt bỏ phiếu thuận.” Sau đó, điều thứ 38 ghi rằng: “Khi Nghị viện không họp được, Ban thường vụ cùng với Chính phủ có quyền quyết định tuyên chiến hay đình chiến.” Tuy hiến pháp nầy không được ban hành và bị bãi bỏ ngày 14-11-1946, tức 5 ngày sau khi được quốc hội thông qua, nhưng lúc đó ban thường trực quốc hội đã được bầu lên. Ban thường trực quốc hội có mặt thường xuyên ở Hà Nội, nhưng không được Hồ Chí Minh tham khảo ý kiến về một việc trọng đại ảnh hưởng đến vận mệnh của toàn dân, mà Hồ Chí Minh chỉ hội ý riêng với TƯĐCSĐD, rồi quyết định tấn công Pháp.
Điều nầy có nghĩa là không phải quốc hội Việt Nam hay ban thường trực quốc hội Việt Nam, tức không phải đại biểu nhân dân Việt Nam quyết định chiến tranh, mà Hồ Chí Minh, mặt trận VM, TƯĐCSĐD tự ý quyết định mở cuộc tấn công Pháp, rồi áp đặt chiến tranh lên dân tộc Việt Nam.
Nhớ lại lịch sử nước ta thời nhà Trần (1226-1400), vào tháng 11 năm giáp thân (1284), được tin nhà Nguyên (Trung Hoa) gởi quân tấn công nước ta, vua Trần Nhân Tông (trị vì 1279-1293) triệu mời các bô lão khắp nước đến điện Diên Hồng ở kinh đô Thăng Long để tham khảo ý kiến. Tất cả những người có mặt đồng thanh trả lời là: “Phải đánh” (Quyết chiến). Vào thế kỷ 13, việc đi lại khó khăn, triệu mời đại biểu dân chúng không dễ, Trần Nhân Tông còn hỏi ý dân để chống ngoại xâm. Trong khi đó, giữa thế kỷ 20, Hồ Chí Minh chỉ hỏi ý đảng của ông ta tức đảng CSĐD, mà không cần hỏi ý dân, cũng không cần hỏi ý quốc hội hay ban thường vụ quốc hội đang có mặt tại Hà Nội.
Cần chú ý là khi Pháp nhờ người Anh, đưa quân tái chiếm Nam Bộ từ tháng 9-1945, rồi lại đưa quân tiến ra Trung và Bắc Kỳ, thì tổ quốc Việt Nam thực sự lâm nguy từ lúc đó. Dầu vậy, Hồ Chí Minh không kêu gọi toàn dân chống Pháp, mà Hồ Chí Minh kiếm cách thương thuyết với Pháp để duy trì quyền bính. Nay không còn thương thuyết được nữa, hết cách thỏa thuận, Hồ Chí Minh mới quyết định đánh Pháp vì Hồ Chí Minh và đảng CS lâm nguy chứ không phải vì tổ quốc Việt Nam lâm nguy. Như thế chiến tranh bùng nổ tối 19-12-1946 là chiến tranh giữa Việt Minh và đảng CSĐD với Pháp, chứ không phải giữa dân tộc Việt Nam với Pháp.
Khi mặt trận Việt Minh cướp chính quyền ngày 2-9-1945, đảng CSĐD quyết định là đảng nắm độc quyền điều khiển mặt trận Việt Minh, và một mình cai trị đất nước không chia sẻ quyền lực cho bất cứ ai, bất cứ tổ chức nào. (Philippe Devillers, Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) Nay Việt Minh bị Pháp dồn vào đường cùng. Việt Minh một mình không thể đối phó nổi với Pháp, nên Việt Minh kêu gọi toàn quốc kháng chiến, không phải vì mục đích bảo vệ nền độc lập dân tộc, mà vì bảo vệ sự sống còn của đảng CS.
Chống ngoại xâm là truyền thống lâu đời của người Việt. Từ khi người Pháp đặt nền bảo hộ năm 1884, người Việt Nam liên tục nổi lên chống Pháp. Nay nghe được lời kêu gọi kháng chiến chống Pháp, dân chúng Việt Nam nô nức hưởng ứng ngay vì lòng yêu nước, thương nòi, chứ dân chúng hoàn toàn không nghi ngờ và không hay biết những âm mưu và thủ đoạn mà lúc đó Việt Minh giấu kín. Nhờ vậy, Hồ Chí Minh và đảng CSĐD thoát khỏi nguy cơ bị Pháp tiêu diệt ở Hà Nội vào năm 1946.
Như thế, ngày 19-12-1946 chỉ là ngày Hồ Chí Minh và Trung ương đảng CS trốn chạy. Chiến tranh bùng nổ.
(Toronto, 01-12-2012)
© Trần Gia Phụng

VN xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới: Cám ơn "Sài Gòn" vẫn còn cơm trắng...

Sài Gòn cơm trắng...

Cơm rất giàu chất xơ và là nguồn thực phẩm giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường đến 25%.Chị Hương, một người bán cơm trắng nói: “Người ta bán hàng cơm, chủ yếu lời vào thức ăn. Khi công nhân đến mua cơm trắng, các quán cơm chẳng bao giờ bán. Bởi vậy, người nghèo phải tìm tới ga tàu lửa này để mua cơm ăn qua ngày”.

Sài Gòn, bề nổi là một thành phố lộng lẫy, sực mùi dầu thơm và những nhà hàng tiệm ăn sang trọng. Nhưng vẫn còn đó một Sài Gòn của những người lao động mà bữa cơm chiều chỉ là bát cơm không, mua ở cổng nhà ga.

Phố cơm trắng
Khu vực quanh ga Sài Gòn có nhiều nhà trọ lụp xụp. Những người từ xa xuống sân ga thường thuê trọ để bán báo, đánh giày, bán vé số, làm công nhân. Họ còn bỡ ngỡ, chưa dám đi đâu xa, vả lại cuộc sống quanh nhà ga cũng không đắt đỏ như trong khu trung tâm.

Một sạp bán cơm trắng (cơm không)
Những ngóc ngách chật chội và có phần hôi hám, nhà cửa cáu bẩn, những chung cư cũ kỹ phơi đầy quần áo cũ, lúc nào cũng nườm nượp người lao động lấm lem. Giữa hàng vạn con người khuôn mặt nhầu nhĩ ấy, đã ra đời phố bán "cơm không" mà người Sài Gòn gọi là phố cơm trắng quanh nhà ga xe lửa.
Mỗi người bán cơm trắng có dăm bảy cái nồi, mỗi nồi nấu được gần yến gạo. Họ không bán thức ăn, chỉ vài hàng có bán thêm dưa hành, nước mắm, nước tương. Cơm và dưa món để trong bao ni lông. Cơm tính theo cân, người ta cũng thường gọi là “cơm ký”.
Chị Hồng, một người bán cơm trắng 12 năm nay, cho biết vợ chồng chị thay nhau nấu cơm bán. Mỗi cân cơm chỉ lãi được 500 – 1.000 đồng nên không đủ tiền thuê nhân công: “Chúng tôi chỉ lấy công làm lãi. Bán cơm giá cao chút lập tức người ta không mua nữa. Công nhân nghèo lấy tiền đâu mà mua”.

Khách hàng của cơm trắng khá đa dạng
Mỗi ngày chị Hồng dậy từ 4 giờ sáng, nấu cơm bán đến gần 9 giờ đêm. Cứ mỗi cân gạo nấu được hai cân cơm. Chị nói: “Gạo ngon mọi người thường ăn giá 18.000- 20.000 đồng/kg, gạo chúng em nấu bán ở đây chỉ 12.000 đồng/kg. Dân cần ăn no chứ chưa cần ăn ngon”.
Một cân cơm bán giá 8.000 đồng, đủ cho ba công nhân ăn. Tính ra mỗi bữa một người chỉ phải bỏ ra 2.700 đồng. “Một ly trà đá giờ đã 2.000 đồng” - chị Hồng nói. Một ngày chị Hồng bán khoảng 450 kg cơm trắng.
Chị Hương, một người bán cơm trắng khác nói: “Người ta bán hàng cơm, chủ yếu lời vào thức ăn. Khi công nhân đến mua cơm trắng, các quán cơm chẳng bao giờ bán. Bởi vậy, người nghèo phải tìm tới ga tàu lửa này để mua cơm ăn qua ngày”.

Đến Tết mới được ăn ngon
Ông Sáu chạy xích lô. Khi nào đói và rảnh khách lại tạt vào mua 3.000 đồng cơm trắng buộc vào xe. Ông có hai chai nước lớn lấy từ vòi, khát thì cúi xuống mà uống. Ông Long chạy xe ôm, chiều tối ghé mua vài lạng cơm, giữ nó như giữ bảo bối vậy. Cầm bịch cơm trắng nom ông cười thật hiền.

Chị Hương nói với tôi: “Khách mua đủ lứa tuổi. Trẻ em đánh giày, phụ nữ bán báo, người già bán vé số”. Chị nói: “Lắm người chỉ mua vài ngàn, nhưng vẫn bán. Cơm cháy thường để cho mấy người neo đơn, nghèo khổ. Lắm khi thấy tội quá, không nỡ lấy tiền”.
Thùy, sinh viên một trường cao đẳng nói: “Chúng em ba đứa thuê một phòng, tháng mất tám trăm ngàn. Phòng trọ nhỏ, chủ không cho nấu cơm vì sợ cháy nhà. Ăn cơm hàng thì đắt đỏ lắm, mà không no, nên mỗi bữa lại ra đây mua một cân cơm trắng”.
Quanh ga tàu có tới cả chục quán cơm bụi. Nhưng giờ giá thuê mặt bằng tăng, giá điện nước, gạo, thịt rau đều tăng, giá cơm bụi tăng liên tục. “Cơm rẻ nhất cũng phải 20.000 đồng một suất. Nếu cả ba đứa đi ăn thì mất 60.000 đồng”.
Hỏi ăn cơm trắng hoài sao nuốt nổi và sức đâu học hành? Thùy nói: “Chúng em mua thêm trứng luộc”.
Chị Hằng bán hàng rong, là khách quen của phố cơm trắng. Chị nói là “đi bán suốt từ sáng sớm đến tối mịt, lấy đâu thời gian nấu cơm”.
Hàng bán bữa được bữa mất. Họ từ miền Trung vào, thuê nhà trọ gần Bệnh viện Da liễu. Đói thì mua cơm, ngồi gốc cây chia nhau mà ăn. Lắm khi trời nắng nuốt không nổi. Một chị bán hàng rong nói: “Muốn ăn cơm ngon thì chờ đến Tết về quê”.
Tìm nguồn sống
Trời nắng, xe cộ, bụi bặm, tiếng còi tàu rắt réo. H., một học viên theo học nghề điện, ngồi đạp xe lăn đi tìm mua cơm trắng. H. nói: “Chi phí học hành đắt đỏ lắm, em phải tiết kiệm để đỡ cho gia đình”. H. không chỉ mua cơm cho mình mà còn mua cho nhiều bạn khác.

Một khách của cơm trắng Ảnh: T.N.A .

Nhìn cảnh người ngồi xe lăn, len lỏi giữa phố xá đầy bụi bặm và xe cộ nơi ga tàu, mới biết người ta cần cơm trắng đến như thế nào.
Anh Thời, công nhân một nhà máy cách phố cơm trắng hàng cây số nói: “Ngày nào cũng như ngày nào, tôi đều mua cơm ở đây ăn. Đồng tiền trượt giá, gạo thịt đều tăng, giá thuê nhà tăng. Phải sống như thế này, cầm cự, chứ còn biết làm sao bây giờ? Có cái bỏ vào miệng là tốt rồi, cầu gì ăn ngon”.
Anh mua hai ngàn đồng tiền cơm cộng thêm ba ngàn dưa món: “Muốn đổi khẩu vị thì mua mấy ngàn đậu phụ chấm với nước tương”.
Ngồi bên vệ đường cùng phố cơm trắng, tôi mới phát hiện ra phần lớn những khách hàng phố này đều độ tuổi thanh thiếu niên, sinh viên, người lao động trẻ. Họ đều đang tuổi ăn, tuổi lớn, độ tuổi lao động quan trọng nhất của xã hội. Đa phần khách mua cơm trắng đều gày gò, xanh xao, có người tay run, giọng nói phều phào.
Chị Hồng nói: “Không ít người là khách quen của chúng tôi đến cả chục năm ròng. Nghĩ mà thương”.
Phố Nguyễn Thông nằm sát cổng ga Sài Gòn có lẽ là một bức tranh tương phản của cuộc đời hôm nay. Phố này nổi tiếng bán rượu Tây với hàng chục tiệm rượu. Những chai rượu được thiết kế cầu kỳ, rượu ngâm với sâm Cao Ly, rượu lâu năm đến từ các nước… có giá vài triệu đồng, thậm chí có chai mấy chục triệu đồng. Nhưng cũng ở phố Nguyễn Thông, nơi cuối con phố giáp với ga tàu, những ngõ nhỏ tối tăm và những hàng cơm trắng bày bán trên vỉa hè, nườm nượp các vị khách.
Quan sát hơn 20 người mua cơm trắng tại quán này, tôi thấy tất cả họ đều chỉ có một nhu cầu: “Bán cho tôi cơm thường”. Người đàn bà bán báo mua 3.000 đồng cơm thường ấy. Chị cầm chặt nắm cơm trong tay, như sợ sẽ đánh rơi một vật quý giá.
Chị Loan, người bán báo đi dép lê, cầm trên tay những tờ báo in đậm dòng tít nói về các tập đoàn nhà nước làm ăn thua lỗ ném hàng ngàn tỷ đồng xuống sông xuống biển, những tòa nhà con em quan chức tỉnh nọ lên đến hàng trăm tỷ được xây dựng chỉ để cho họ hưởng lạc… Người đàn bà bán báo dạo ghé vào mua cơm trắng, ánh mắt chị buồn hiu hắt.
Theo Trần Nguyễn Anh (TPO)
[Quay lại]

Có 18 ý kiến
Top of Form


§  nghoa
02/06/2012 11:12
Tôi rất xúc động và rơi nước mắt khi đọc xong bài báo nầy. Vâng! còn rất nhiều-rất nhiều người cần cơm trắng như thế và tôi cũng rất yêu quý họ. Họ chính là những người ĂN ĐẺ SỐNG chứ không phải SỐNG ĐỂ ĂN. Và chính họ cũng là những người đóng góp công sức không nhỏ cho xã hội, họ rất đáng được kính trọng.
§  Nguyễn Tấn Phát
02/06/2012 12:58
Cảm động từ tận đáy lòng, bài báo giàu cảm xúc thật. Tôi thật sự xúc động.
§  le minh tuan
02/06/2012 13:07
Có gì đâu nhỉ ! Cuộc sống nhiều khi với tô cơm trắng mà sống tốt là được rồi. Về mua bó rau là xong, đỡ bệnh. Bình thường thôi.
§  NT
02/06/2012 13:19
Đúng vậy, tôi cũng rất xúc động khi đọc bài báo này. Lại chạnh lòng khi thấy cảnh những người giầu có vào những nhà hàng sang trọng, gọi món đắt tiền thừa mứa ăn không hết bỏ đi, các người hãy đọc những bài báo như thế này để thấy được ở đâu đó còn rất nhiều người nghèo khổ. Tôi rất tâm đắc đoạn kết của bài viết!
§  Tài Lanh
02/06/2012 14:37
Báo đã giới thiệu một địa chỉ để những người cùng khổ tìm đến trong lúc thời buổi đồng lương ngày càng teo. Tôi cũng ở gần nhưng thú thật đâu có biết chổ này nếu không được báo giới thiệu. xin cám ơn báo
§  hungsg
02/06/2012 14:39
hỡi những người đã từng ăn 1 bát phở bò kobe (bò kobe giả) gần 1 triệu đồng 1 bát hãy đọc những bài báo như vậy mới biết trân trọng cuộc đời đã cho ta những gì và sẽ lấy lại như thế nào.
§  Trương Đình Khang
02/06/2012 14:40
Đọc xong bài viết tôi thật sự ngẹn ngào, xúc động và xen lẫn sự căm phẫn...cảm ơn những nhà báo có tâm như thế! Các bạn hãy viết nhiều về những trường hợp như thế để đánh thức lương tâm của con người trước khó khăn của đồng loại
§  Trần Văn
02/06/2012 14:48
Thật là vất vả cho một kiếp người! Nhưng cuộc sống của họ thật đáng trân trọng. Những gì mà họ hằng mơ ước cho một sự đổi đời sau mấy chục năm qua đã được chứng minh chỉ là lý thuyết. Đây mới là hình ảnh của tầng lớp nghèo ở thành thị, còn ở nông thôn, vùng sâu vùng xa thì cảnh nghèo đôi khi còn xót xa hơn. Ước gì khoảng vài ngàn tỉ mà các tập đoàn làm ăn thua lỗ (hay đã lọt vào túi quan tham) nằm trong tờ báo mà chị Loan đang cầm, rơi lên đời họ thì phận người đã đỡ khổ hơn!
§  Trung Nhân
02/06/2012 15:08
Đọc xong bài báo này, tôi cảm thấy mình bị "nhặm"mắt...!
§  Anh Khoa
02/06/2012 16:55
Một cân cơm bán giá 8.000 đồng, đủ cho ba công nhân ăn. Sắp tới nếu phải đóng phí giao thông và phí hạn chế lưu thông một năm thì bằng bao nhiêu cân cơm, bao nhiêu bữa ăn của người nghèo nhỉ? Ở trên cao Trời có thấu cho chăng?
§  Hulk
02/06/2012 16:58
Khi gặp những người bán hàng dạo, đặc biệt có những người bế theo em bé, tôi vẫn mua đồ của họ, cố tình trả nhiều tiền hơn và không lấy tiền trả lại. Những đồng tiền của họ kiếm được tuy rất ít, nhưng đó là những đồng tiền sạch sẽ. Tuy họ lam lũ nhưng họ đáng tôn trọng và đáng quý trọng hơn rất nhiều kẻ khác.
§  thay hai
02/06/2012 17:01
cuộc đời mà, có người giàu và cũng có người nghèo. Tại sao chỉ có ga Hòa Hưng mới bán cơm trắng? Trong khi rất nhiều chỗ trong thành phố này tập trung rất đông người lao động.
§  Lan Quỳnh
02/06/2012 17:02
Đọc mà rơi nước mắt.Người nghèo mỗi bữa có 3000 cơm trắng trong khi các tập đoàn vứt đi hàng trăm tỷ !
§  LAH
02/06/2012 17:06
Dân chúng ta nhiều người vẫn chạy ăn từng bữa, đắp đổi sống qua ngày, trong khi quan chức nhà nước thì tham nhũng tiền nghìn tỉ, xây dinh thự mua xe sang. Không biết bao giờ cái cảnh bất công này mới chấm dứt ?
§  kimchung
02/06/2012 17:19
Những buổi sáng cha đi đến bến tàu Chờ hàng đổ xuống vác cho mau Những bao hàng nặng không bằng thuế Cha vác bao giờ hết khổ đau? Mười lăm năm mồ hôi thấm trên những bến tàu Trên bến phà, trên công trường và trong xưởng máy Đời công nhân thợ thuyền vẫn khổ Mùa xuân đến cơm không đủ ăn Mùa đông sang áo không đủ mặc Dòng nước đen hững hờ trôi Tìm đâu ánh sáng cuộc đời Trong xóm nghèo lao động xơ xác Đường tối tăm quanh năm bùn lầy ……. Bài hát Người cha bến tàu – Nhạc sĩ Trần Long Ẩn sáng tác từ năm 1970 theo ý thơ Võ Thiền Quang. Bây giờ là năm 2012, đã qua nửa thế kỷ, hát lại, vẫn rất hợp với tình cảnh hiện nay của nhiều công nhân Chẳng lẻ .......
§  Bác Sỉ xe lửa
02/06/2012 17:46
Bài báo thật cảm động.Mong rằng cuộc sống bớt những cảnh nén tiền công xuống biển. quan chức bớt tiệc tùng thừa mứa. thì đời sống dân nghèo cũng bớt khổ cực nhiều lắm.
§  Nguyễn Minh Trí
02/06/2012 17:58
Lâu lắm rồi mới đọc được bài báo đầy tính nhân văn. Nhờ bài này tôi mới tin xã hội này còn nhiều điều tốt. Đoạn kết rất ấn tượng, so sánh 2 cảnh trên cùng một con đường quá tuyệt.
§  Thích Câu Cá
02/06/2012 18:01
Thì là cuộc đời, người giàu kẻ nghèo, những con người làm chính sách, làm vĩ mô, hay là đầy tớ của dân - họ - chính họ, chắc là không có ăn cơm, chỉ ăn đồ ăn, ăn cao sơn mỹ vị, đi máy bay, trực thăng, ngồi trên xe hơi, họ - chính họ, cũng đi từ trong nghèo khổ đi lên, đất nước đổi mới hơn 20 năm thôi, họ giàu từ đổi mới. họ không phải không thấy mà cố tình lẩn tránh ánh nhìn vào tầng lớp nghèo không có cơm ăn...tôi cũng đã khóc khi đọc bài này, cám ơn tác giả.

QUYỀN BÌNH ĐẲNG TÍCH CỰC, THỰC HỮU, KIỂM SOÁT BẮT BUỘC ĐỂ BẢO VỆ.

" Mọi người đều có điạ vị xã hội như nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được ưu đải hay bị thiệt thòi vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 và 3, Hiến Pháp 1949 Cộng hoà Liên Bang Đức).

Nền Cộng Hoà có nhiệm vụ dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện kinh tế và xã hội là những chướng ngại vật, trong khi giới hạn thực sự tự do và bình đẳng của người dân, cản trở mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

A - Luật thực định và quy trách.
Chủ đề của điều đang bàn nói về quyền bình đẳng, một trong những đặc tính nền tảng của thể chế Nhân Bản và Dân Chủ.
Quyền bình đẳng được tuyên bố dưới hai hình thức:
- thuyết lý ( formelle), điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD.
- và tích cực và thực hữu ( substantielle), điều 3 đoạn 2, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc.
Nhưng chúng ta sẽ không thể hiểu được sứ điệp cao cả Văn Bản Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ, mà chúng ta mong muốn cho tương lai Việt Nam, nếu chúng ta bình luận tách biệt hai phần được trích dẫn , như là hai phần của một bản văn không liên hệ gì nhau.
Bởi lẽ cả hai đều liên hệ với con người , như là nhân vị ( persona) có phẩm giá và các quyền tự do của mình bất khả xâm phạm, liên hệ đến Phẩm Giá Con Người và Tự Do Cá Nhân, hai đề tài chúng ta đã có dịp bàn đến.
Và liên hệ với hai điều vừa kể ( nhân phẩm và tự do cá nhân bất khả xâm phạm), là một số các quyền liên hệ để bảo đảm cho con người có được một cuộc sống xứng đáng với địa vị con người của mình, chúng tôi sẽ liệt kê dựa vào Hiến Pháp Nhân Bản và Dân Chủ Ý Quốc ở những dòng tới.

Trở lại đề tài chính, đoạn 1, quyền bình đẳng cá nhân được tuyên bố dưới hình thức tiêu cực thuyết lý ( negativa e formale):
" Mọi người đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được ưu đải hay bị thiệt thòi vì lý do phái giống, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội " ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

Đọc điều tuyên bố vừa kể, chúng ta có cảm tưởng đọc những lời tuyên bố về bình đẳng đã từng gặp ở các hiến pháp thể chế tự do của thời trước thế chiến II, hay không có gì mới lạ đối với các Hiến Pháp Cộng Sản, kể cả Hiến Pháp 1977 Liên Bang Sô Viết và 1992 CSVN .
Các Hiến Pháp đặt nhân phẩm và quyền bất khả xâm phạm của con người trên luật tự nhiên hay theo quan niệm thoả ước, trong đó có cả hiến pháp Weimar 1919 của Đức, một lời tuyên bố trên nguyên tắc để tuyên bố, và dành cho Quốc Gia mọi quyền lập luật tùy hỷ, " État de législation ".
Chúng ta có cảm tưởng như vậy, vì chúng ta đã quên rằng những lời tuyên bố Hiến Pháp chúng ta mong ước cho tương lai của Việt Nam phải chứa những điều khoản luật có giá trị bắt buộc và có chủ thể được chỉ định để quy trách, như tinh thần của Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, thoát xuất từ kinh nghiệm độc tài hãi hùng của Hitler:

- " Các quyền căn bản được kể sau đây có giá trị bắt buộc đối với các cơ chế Quốc Gia, lập pháp, hành pháp và tư pháp, như là những quyền đòi buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Và với điều khoản vừa kể, Hiến Pháp đã đặt con người với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình như là giá trị nền tảng của hệ thống luật pháp thực định ( lois positives) cho thể chế Quốc Gia, đặt vào chính trong thân bài của Hiến Pháp và quy trách cho ai là chủ thể phải chịu trách nhiệm hình luật, dân luật và cả luật hành chánh, nếu quyền của con người bị xúc phạm.
Nói cách khác, Thế Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, mà chúng ta mong cho Việt Nam trong tương lai, không đặt nền tảng trên quan niệm trừu tượng về con người, mà trên nền tảng pháp luật thực định.
Bởi vì nền tảng củaThể Chế và Dân Chủ đa nguyên, trên đó Việt Nam tương lai được xây dựng là nền tảng của một thể chế nhằm tổ chức cuộc chung sống Cộng Đồng Quốc Gia, dựa trên pháp luật thực định ( lois positives) , có hiệu lực luật định, để xếp đặt và điều hành cuộc sống giữa người và người, hoạt động của người nầy liên hệ và hỗ tương người khác được thực thi trôi chảy và hữu hiệu.
Nói như vậy, không có nghĩa là nền tảng Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của Việt Nam trong tương lai không chấp nhận
- quan niệm trừu tượng về con người,
- quan niệm luật tự nhiên,
- quan niệm tôn giáo và triết học,
mà là, ngoài ra quan niệm luật tự nhiên được tiên định trước (présupposé), Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của chúng ta còn
- cần đặt giá trị về nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của con người trong mối liên hệ ảnh hưởng hỗ tương giữa người với người trong cuộc sống xã hội
. và với những phương thức bảo đảm mối liên hệ hỗ tương đó bằng hệ thống pháp luật thực định.

Con người với nhân phẩm cao cả của mình trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của chúng ta
- là con người cao cả với những giá trị của mình,
- nhưng không trừu tượng và đơn độc,
- mà là con người được Hiến Pháp " nhận biết và bảo vệ "( Điều 1, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 CHLBD) nhân phẩm của mình trong liên đới với những chủ thể con người khác, cũng có nhân vị đồng đẳng như mình , cùng sống và cùng hoạt động với mình trong cộng đồng Quốc Gia để đem lại lợi ích cho chính mình và cho cuộc sống chung.
Đó là quan niệm con người toàn diện ( persona integrale)
- trong chiều sâu thẩm của một nhân vị,
- trải ra trong chiều rộng đối với đồng bào và người đồng loại của mình trong tương quan xã hội,
- và trong chiều hướng thượng của mình đối với các giá trị tôn giáo, đối với Đấng Tối Cao, cùng đích của mình phải đạt đến sau cuộc sống trần thế ( J. Maritain, Humanisme intégral, trad. it, Studium, Roma 1946),
những giá trị tối thượng đó trong Thế Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên của Việt Nam, được hiện thực hoá bằng luật pháp thực định.
Và với quan niệm con người toàn diện, một nhân vị với nhân phẩm và các quyền bất khả xâm phạm của mình, Hiến Pháp tương lai phải nghĩ ra phương cách để bảo vệ cho mỗi người được quyền kính trọng trong địa vị con người của mình.
Hiến Pháp nghiêm cấm mọi cách đối đãi thiên vị dựa trên những dị biệt không tuỳ thuộc vào bản tính nhân loại của con người:

" Mọi người có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật. Không ai có thể được biệt đải hay bị thiệt thòi vì lý do phái tính, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến, điều kiện cá nhân hay xã hội" ( Điều 3, đoạn 1 và 3 Hiến Pháp 1949 CHLBD).

B - Bình đẳng tích cực.
Nhưng nếu tinh thần của những gì chúng ta vừa đọc, được trình bày qua lời tuyên bố quyền bình đẳng của Hiến Pháp dưới hình thức tiêu cực: bình đẳng có nghĩa là không được đối đãi một cách thiên vị ( Điều 3, đoạn 1 Hiến Pháp 1949 CHLBD).
thì đoạn kế tiếp của điều khoản ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc) cho chúng ta có một cái nhìn tích cực hơn về quan niệm bình đẳng của Hiến Pháp: bình đẳng là được Quốc Gia trợ lực, giúp đở những gì mà cá nhân tự mình không thể vượt thắng để thực hiện được.
Được Quốc Gia trơ lực: dẹp bỏ đi những trở lực, để mỗi người có điều kiện thuận lợi
- phát triển hoàn hảo con người của mình
- và hoạt động góp phần làm lợi ích cho đất nước.
Đó là bình đẳng trong lòng Quốc Gia và nhờ tổ chức Quốc Gia ( égalité dans..., égalité par moyen de...):

" Bổn phận cua Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể, là những chướng ngại, trong khi giới hạn thât sự tự do và bình đẳng của người dân, không cho phép mỗi cá nhân triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực và các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở " ( Điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Trước hết trong đoạn vừa trích dẫn, Hiến Pháp nêu cho chúng ta mục đích của tổ chức Quốc Gia.
Quốc Gia được tổ chức
- không phải để trở thành cường quốc, đem quân đánh chiếm làm bá chủ thiên hạ bành trướng như đế quốc Roma, hay như Thành Cát Tư Hản, như Napoléon,
- cũng không phải để phát triển kinh tế vượt bực, ngân sách quốc gia thặng dư và Quốc Gia giàu có bực nhứt thế giới, phóng vệ tinh liên hành tinh,
- mà là tạo điều kiện thuận lợi để người dân có điều kiện phát triển hoàn hảo chính mình và có khả năng hoạt động để góp phần tạo phát triển cho xứ sở:

"... triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở".

Những điều kiện phải có đó để con người có thể phát triển hoàn hảo con người của mình, người dân Việt Nam chúng ta trong tương lại có quyền đòi buộc và cơ chế Quốc Gia có bổn phận cung cấp cho, được Hiến Pháp quy trách: " Bổng phận của Nền Cộng Hoà là dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về phương diện kinh tế và xã hội...".
Những điều kiện thuận lợi phải có đó không phải là ân huệ, mà người dân phải ngửa tay xin, mà là quyền của người dân được Hiến Pháp xác nhận, có thể đòi buộc ( actionable) , bằng các phương thức sẽ được Hiến Pháp bàn đến, Quốc Gia phải tiên liệu cho qua câu nói, " Quốc Gia Việt Nam có bổn phận".
Như vậy trong phần diễn tả " bình đẳng thực hữu " ( Điều 3, đọan 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc), Hiến Pháp đưa ra một phương cách tích cực can thiệp của Quốc Gia để loại bỏ đi cách hành xử theo " ân huệ" , " xin - cho", " thiên vị", " bè phái" vì bất cứ lý do gì,

" Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể...…",

là những chướng ngại vật làm cho người dân không được hưởng tự do và bình đẳng của mình để
- " phát huy làm triển nở hoàn hảo con người của mình và tham dư vào đời sống Quốc Gia " một cách bình đẳng như mọi người khác ( P. Perlingieri, Scuole, tendenze e metodi, Problemi del diritto civile, Napoli, 1988, 150).
Nhưng có lẽ chúng ta không nên lầm lẫn giữa bình đẳng hiến định nhân bản và bình đẳng san bằng mạc rệp của Xã Hội Chủ Nghĩa.

Địa vị xã hội ngang nhau, không có nghĩa là hoàn cảnh xã hội bằng nhau " đồng nhứt rập khuôn mạc rệp vô sản như nhau "
Một xã hội không có khác biệt là xã hội không tưởng và là lý do làm cho xã hội lạc hậu và mạc rệp, như xã hội Nga và Đông Âu trong suốt 70 năm Cộng Sản Chủ Nghĩa ngự trị.
Những chướng ngại vật mà Quốc Gia có " bổn phận phải dẹp bỏ đi " là những chướng ngại vật giới hạn thực sự tự do và bình đẳng , cản trở con người không phát huy được hoàn hảo để biểu thị các tài năng của mình.
Mỗi người được tự do khỏi bị các nhu cầu khẩn thiết ràng buộc, có nghĩa là được Quốc Gia cung cấp cho các điều kiện thuận lợi để có thể tạo cho mình và cho gia đình mình một cuộc sống xứng đáng khang trang và tự do.
Điều đó không có nghĩa là mỗi người đều phải có một gia sản tương tợ nhau, giàu có như nhau hay bằng nhau ( theo chủ thuyết đần độn mỗi người làm việc tùy khả năng và tiêu thụ tùy theo nhu cầu).
Nếu mọi người đều có địa vị xã hội ngang nhau và bình đẳng trước pháp luật, thì không thể hiểu vì lý do gì trong những hoàn cảnh khác nhau, điều kiện khác nhau, khả năng khác nhau, tổ chức Quốc Gia nói chung và pháp luật nói riêng có thể đối đải đồng đều nhau, bởi lẽ công bình là điều kiện tiên quyết để có bình đẳng hay nói như người La Tinh đã nói từ ngàn xưa:

" Suum cuique tribuere"
( Trao trả cho mỗi người những gì thuộc về của anh ta).

Và đó cũng là điều mà Viện Bảo Hiến Ý Quốc tuyên bố trong một số quyết định: các hoàn cảnh kinh tế và xã hội không giống nhau có thể và phải được đối xử theo phương thức khác nhau ( Corte Cost., 31-3.1961, n.21; 1.3.1973, n.23).

Qua những tư tưởng vừa đề cập, chúng ta thấy rằng Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, mà chúng ta mong ước cho Việt Nam, không phải là thể chế " cá nhân chủ nghĩa" cực đoan, trong đó, cá lớn nuốt cá bé, kẻ mạnh đè bẹp kẻ yếu hay nói như Cao bá Quát:
" Nước trong leo lẻo cá đớp cá,
Trời nắng chang chang người đánh người ",
nhưng cũng không phải là khuôn mẩu không tưởng để tổ chức xã hội theo Xã Hội Chủ Nghĩa, Quốc Gia có nhiệm vụ phân phát đồng đều lợi tức cho dân tùy theo nhu cầu của mỗi người, dĩ nhiên là với số lượng mạc rệp và giả sử nếu có đủ để phát.

Điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc
- " Bổn phận của Nền Cộng Hoà dẹp bỏ đi những chướng ngại vật..., không cho phép mỗi cá nhân ... …".
nêu lên nhiệm vụ của Quốc Gia là
- nhiệm vụ điều chỉnh lại những dị biệt quá đáng,
- bảo vệ mức sống và cơ may tối thiểu ( chances de vie ) để mọi người có thể vươn lên.
Bởi lẽ bất cứ một cuộc chung sống tự do nào, tự do và sáng kiến cá nhân, tự do và lợi thú là động lực để cầu tiến và phát triển, cũng không tránh khỏi những dị biệt quá đáng sẽ được tạo ra, do việc chúng ta được thiên phú tài năng, trí nảo không đồng đều nhau.
Đoạn văn trên không nêu ra bổn phận rỏ rệt của Quốc Gia phải làm gì, như trong thể chế không tưởng Xã Hội Chủ Nghĩa,
" Dân làm chủ, Đảng Chỉ Đạo, Nhà Nước Quản Lý ".
Và vì " Đảng chỉ đạo, Nhà Nước quản lý ", nên " Dân chỉ còn làm chủ không", "dân chỉ còn chổng khu kêu trời không thấu" trong hoàn cảnh mạc rệp của mình.

Trong thể chế dân chủ đa nguyên tương lai của chúng ta, Quốc Gia được dành cho nhiều quyền hạn rộng rãi để can thiệp, điều chỉnh lại những dị biệt sai trái luôn luôn dưới ánh sáng của nguyên tắc nền tảng
- con người là một nhân vị,
- có nhân phẩm và các quyền căn bản bất khả xâm phạm,
sống trong cộng đồng Quốc Gia chung với những chủ thể con người đồng đẳng khác.

Đi trước chúng ta, trên cùng một nền tảng nhân bản trên, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đã hướng dẫn kiến thiết lại quốc gia họ, từ một quốc gia đổ nát của thế chiến thứ hai, từ cuộc cai trị độc tài mọi rợ, xem người như thú vật của Benito Mussolini, trở thành một trong bảy quốc gia tân tiến và kỷ nghệ nhất thế giới ( G-7).
Hiến Pháp Ý đã làm gì?
Đây là những điều khoản đề cập đến những can thiệp thiết thực của Quốc Gia để người dân được cơ may tối thiểu để vươn lên:
- " Quốc gia dành mọi phương tiện kinh tế và các thể thức dễ dãi khác để gia đình được thành lập và chu toàn các bổn phận liên hệ và những biệt đải đối với những gia đình đông con" ( Điều 31, id.)...

- " Người phụ nữ công nhân có các quyền và việc làm như nhau, cũng được thù lao như nam công nhân.
Các điều kiện về việc làm phải được thiết định thế nào để người nữ công nhân có thể chu toàn bổn phận thiết yếu của mình trong gia đình, phải bảo đảm cho người mẹ và trẻ thơ một sự bảo trợ đặc biệt và thích hợp".
" Quốc Gia bảo đảm cho việc làm của vị thành niên bằng những điều khoản đặc biệt và bảo đảm cho vị thành niên cũng được thù lao lương bổng đồng đều , đối với việc làm như nhau" ( Điều 37, đoạn 1, 2 và 3 id.).



- " Học đường được mở cửa cho tất cả mọi người.
Học vấn ở cấp bực thấp được giảng dạy miển phí và bắt buộc mười hai năm.
Những ai có khả năng và đáng được tưởng thưởng, mặc dầu thiếu phương tiện vẫn được quyền học hành đến trình độ cao nhứt của nền học vấn.
Quốc Gia biến quyền nầy thành thực hữu bằng học bổng, phụ cấp gia đình và các hình thức tiên liệu khác, được cấp qua các cuộc thi tuyển " ( Điều 34, đoạn 1,2,3 và 4).

- " Người công nhân được quyền thù lao tương xứng với số lượng và phẩm chất của công việc mình làm. Dù sao đi nữa, lương bổng cũng phải đủ để bảo đảm cho mình và gia đình mình một cuộc sống khang trang" ( Điều 36, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

- " Các công nhân có quyền được tiên liệu và bảo đảm để có đủ các phương tiện thích hợp đáp ứng lại nhu cầu đời sống trong trường hợp tai nạn, bệnh tật, già nua, thất nghiệp ngoài ý muốn" ( Điều 38, id.).

- " Để nâng cao vai trò làm việc trong kinh tế và xã hội, đáp ứng thích hợp với nhu cầu sản xuất, Nền Cộng Hoà nhìn nhận quyền của công nhân được cộng tác, trong thể thức và giới mức pháp định, vào việc quản trị xí nghiệp" ( Điều 46, id.).

- " Quốc Gia có bổn phận huấn nghệ và thăng tiến chức nghiệp cho người làm việc" ( Điều 35, đoạn 2, id.).

- " Sáng kiến kinh tế cá nhân là quyền tự do".
Không ai có thể hành xử quyền tự do hoạt động kinh tế ngược lại lợi ích xã hội hay hành xử làm phương hại đến an ninh, tự do và nhân phẩm con người" ( Điều 41, đoạn 1 và 2, id.).

- " Quốc Gia bảo vệ sức khỏe như là quyền căn bản cá nhân và lợi ích của cộng đồng xã hội, bảo đảm chửa trị miễn phí cho những ai thiếu phương tiện" ( Điều 32, id.).

- " Các công dân tật nguyền, khiếm khuyết cũng có quyền được giáo dục và huấn nghệ để khởi công nghề nghiệp" ( Điều 38, id).
- " Mọi công dân không có khả năng làm việc và thiếu phương tiện để sống còn, có quyền được Quốc Gia giúp đở và trợ cấp xã hội" ( Điều 38, đoạn 1).

- " Không ai có thể bị thuyên chuyển ra khỏi vị thẩm phán tự nhiên trách niệm trước đương sự, được luật pháp tiền định",

Không ai có thể bị giam giữ vì lý do an ninh, nếu không trong các trường hợp được luật pháp tiền định" ( Điều 25, id.),

- " Người bị tố cáo không thể bị coi là tội phạm cho đến lúc nào chưa có bản án chung quyết"
Hình phạt không thể nào gồm có những cách đối xử vô nhân đạo và phải có mục đích cải huấn can phạm" ( Điều 27, id.).

- " Mọi bạo lực trên thân xác và khủng bố tinh thần của người bị giảm thiểu tự do đều sẽ bị trừng phạt" ( Điều 13, đoạn 4, id.).

- " Không có bất cứ trường hợp nào một quyền căn bản của con người bị tổn thương đến nội dung thiết yếu của nó" ( Điều 19, đoạn 2 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức)...

Phải chăng đó cũng là những điều khoản khuôn mẫu nền tảng cho cách tổ chức Nhân Bản và Dân Chủ của chúng ta trong tương lai?
Với điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc bàn về quyền bình đẳng thực hữu chúng ta vừa nói ở trên, Hiến Pháp tương lại của chúng ta sẽ quy trách cho Quốc Gia trách nhiệm nặng nề và quan trọng, được xem như là sứ mạng và cùng đích, mà Quốc Gia được tạo nên:

" Bổn phận của Nền Cộng Hoà dẹp bỏ đi những chướng ngại vật về các phương diện vừa kể,... là những chướng ngại không cho phép mỗi cá nhân phát triển được hoàn hảo con người của mình và tham dự một cách thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở".

Trách nhiệm nặng nề đó không phải chỉ quy tóm vào việc Quốc Gia có chu toàn bổn phận của mình trong việc " dẹp bỏ đi những chướng ngại vật ", cung cấp hay không cung cấp cho người dân những phương tiện và điều kiện phải có.

Trách nhiệm nặng nề đó quy trách cho Quốc Gia là điều kiện thiết yếu và nguyên cớ cho việc người dân có được hay không

" triển nở được toàn vẹn con người của mình và có khả năng tham dự thiết thực vào các tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở "

là do việc Quốc Gia có tạo điều kiện hiến định và luật định vừa kể cho người dân hay không.

Nói cách khác, nếu người dân không phát triển được hoàn hảo con người của mình và tham dự vào cuộc sống của xứ sở để làm lợi ích cho chính mình và cho đồng bào mình, vì Quốc Gia không chu toàn bổn phận của mình, tạo điều kiện thuận lợi và cung cấp cho họ phương tiện và điều kiện cần thiết, Quốc Gia phải gánh chịu trách nhiệm đó trước Hiến Pháp trước tiên và trước luật pháp kế đến, với tất cả hậu quả của nó, kể cả hậu quả giới đương quyền phải từ chức và lãnh trách nhiệm dân sự cũng như hình sự:
- " Các viên chức và công chức thuộc hệ quốc Gia và các tổ chức công quyền trực tiếp có trách nhiệm theo hình luật, dân luật và luật hành chánh về các động tác đã thực hiện vi phạm đến quyền lợi của người dân. Trong trường hợp đó, trách nhiệm dân sự có thể trải rộng ra liên can đến tổ chức Quốc Gia và các cơ quan công quyền " ( Điều 28, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).

Điều đó cũng cho thấy rõ rằng người dân trong Quốc Gia của chúng ta trong tương lai không phải chỉ là khách hàng, người tiêu thụ hay là kẻ ăn xin, mà tổ chức Quốc Gia muốn cung cấp hay không các sản phẩm và dịch vụ cũng được.
Người dân trong Quốc Gia tương lai của Việt Nam
- là một chủ thể quyền lực Quốc Gia
- và những người lãnh đạo Tổ Chức Quốc Gia là các nhân viên đại diện được người dân giao phó cho quyền lực để thừa hành thay mình.
Người dân trong Cộng Đồng Quốc Gia là chủ nhân với địa vị con người của mình, có quyền kỳ vọng ( actionable), mà Tổ Chúc Quốc Gia có nhiệm vụ phải phục vụ.
Chúng ta có thể nói:

- " Quốc Gia Việt Nam có bổn phận dẹp bỏ đi những chướng ngại vật...…".
hay nói như Hiến Pháp 1949 CHLBD:
- " Những quyền căn bản sẽ được kể sau đây là những quyền có giá trị bắt buộc đối với Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, là những quyền đòi buộc trực tiếp" ( Điều 1, đoạn 3 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức).

Con người trong Quốc Gia Việt Nam là chủ thể có quyền tối thượng trên thể chế tổ chức Quốc Gia, trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ, nền tảng của tổ chức Quốc Gia, gồm những nguyên tắc nền tảng của Quốc Gia Việt Nam, chúng ta sẽ bàn thêm rộng rải trong phần định nghĩa về thể chế và cấu trúc Quốc Gia.
Người dân là chủ nhân tối thượng của quyền lực Quốc Gia và việc Quốc Gia có bổn phận cung cấp sản phẩm và dịch vụ liên quan
- đến đời sống cá nhân của mình, " triển nở hoàn hảo con người của mình"
- và hệ trọng đến sự phát triển của cả cộng đồng quốc Gia," tham dự môt cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế và xã hội của xứ sở ".

C - Quyền hành giao phó phải được kiểm soát.
Trọng trách đó không thể chỉ được khoán trắng cho giới cầm quyền, để họ hành xử cách nào tùy hỷ, nếu chủ nhân không muốn trở thành nô lệ của kẻ thừa hành , luôn luôn phải " ngửa tay xin - cho " , hay bị kẻ thừa hành lạm quyền tiêu diệt.
Nói một cách ngắn gọn, quyền hành giao phó phải được kiểm soát.
Trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên, quyền kiểm soát vừa kể được giao phó cho
- Tổng Thống ( Điều 87, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc),
- Quốc Hội ( Điều 63; 67; 68 Hiến Pháp 1949 Cộng Hoà Liên Bang Đức, CHLBD),
- Thượng Viện Liên Bang ( Điều 77, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
- Cơ Quan Tư Pháp ( Điều 19, đoạn 4, Hiến Pháp 1949 CHLBD),
- Tối Cao Pháp Viện ( Điều 95, Hiến Pháp 1949 CHLBD),
- Viện Bảo Hiến ( Điều 93, Hiến Pháp 1949 CHLBD).
- Các Cộng Đồng Địa Phương, Vùng, Tỉnh, Làng Xã ( Điều 5, Hiến Pháp 1947 Ý Quốc)

Và áp dụng tinh thần đó của điều 5 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc là đạo luật 241/ 90 đã được ban hành.
Đạo luật bắt buộc Chính Quyền phải tôn trọng sự hiện diện của người dân trong các hoạt động của mình.
Trong thể chế dân chủ, người dân không phải chỉ là một con số, là thần dân của vua, là người tiêu thụ mà giới cầm quyền muốn cung cấp sản phẩm và dịch vụ hay không cũng được hay cung cấp cách nào và lúc nào tùy hỷ.
Người dân trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ là " chủ nhân ông " của quyền lực Quốc Gia và giới đương quyền chỉ là những người đại diện cho họ để thừa hành, để quản trị ( G. Bush Administration, J. Chirac Administration, S. Berlusconi Amministrazione).
Người dân trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ là chủ thể của quyền lực Quốc Gia bất cứ lúc nào và đối với bất cứ ai hành xử quyền lực Quốc Gia, chớ không phải chỉ giới hạn trong thời gian trước và đang khi bỏ phiếu.
Do đó đạo luật 241 / 90 của Ý Quốc tuyên bố người dân có quyền:

- tham dự vào việc quản trị tài nguyên và phục vụ xứ sở ( Điều 7, luật 241/ 90),
- được thông báo các quyết định trong việc quản trị, có quyền kiểm soát, văn kiện, tiến trình quản trị của Chính Quyền ( Điều 3; 7; 22 id.),
- được Chính quyền nghe trình bày ý kiến ( Điều 9; 10 id. ),
- được có người đặc trách duy nhứt trong Chính Quyền chịu trách nhiệm để trả lời thoả đáng về lãnh vực liên hệ, người dân muốn biết ( Điều 4, id.),
- không phải bị Chính Quyền coi rẻ, ngược đãi, chờ đợi ngày nầy qua ngày khác ( Điều 1; 18 id.),
- quyền có được mối liên hệ chắc chắn đối với Chính Quyền ( biết rỏ đâu là bổn phận và đâu là quyền hạn phải được Chính Quyền tôn trọng) ( Điều 2; 19; 20 id.),
- quyền được coi là người đáng tin cậy đối với những gì mình tuyên bố, trả lời, tự chứng ( Điều 18 id.).

Qua những điều khoản luật 241 / 90 vừa được trích dẫn cũng như tinh thần của Điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn , chúng ta thấy rằng mối tương quan của người dân và Chính Quyền hiện nay
- không phải là mối tương quan dựa trên "quyền lực - tự do" (quyền lực của Quốc Gia - tự do của người dân, liberté de, theo quan niệm tự do phôi thai: càng hạn chế được quyền lực Quốc Gia - người dân càng được tự do, khỏi bị đàn áp, xâm phạm).
- mà dựa trên " hiệu năng - lợi thú " : " khả năng hoạt động hiệu năng và không bè phái, thiên vị của Chính Quyền - lợi thú của người dân, chủ thể tối thượng quyền lực Quốc Gia" ( Điều 97, đoạn 1 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc).
Chỉ khi nào Chính Quyền hoạt động hiệu năng và không thiên vị để phục vụ người dân, họ mới có phương tiện và điều kiện để thực hiện được quyền
- " triển nở toàn vẹn con người của mình" hay có quyền trở nên chính mình, như mình muốn
- và từ đó " tham dự một cách thiết thực vào tổ chức chính trị, kinh tế, xã hội của xứ sở".

Trong tư tưởng đó của đạo luật 241/ 90 và tinh thần của điều 3, đoạn 2 Hiến Pháp 1947 Ý Quốc đang bàn ,
- người dân có quyền thẩm định kết quả đã nhận được
- và tuyên bố thoả mãn các lợi thú của mình hay không.
Hiện nay lý do biện minh cho sự hiện hữu và tồn tại của Chính Quyền không phải chỉ là Chính Quyền
- được tuyển chọn một cách chính danh,
- hoạt dộng của Chính Quyền luôn luôn hợp pháp, nằm trong lằn mức luật định ( Quốc Gia Pháp Trị, État de droit),
- mà kết quả của các hoạt động đó có đáp ứng lại thoả đáng các đòi hỏi của người dân theo tiêu chuẩn hiệu năng và không thiên vị không, " hiệu năng - lợi thú ".
Tinh thần đạo luật 241/ 90 và điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp đang bàn, Hiến Pháp và Luật Pháp xác định cho người dân có thẩm quyền phán đoán đối với Chính Quyền.
Không những người dân có quyền phán quyết kết quả của những hoạt động cung cấp sản phẩm và phục vụ của Chính Quyền đối với nhu cầu của mình, mà còn có quyền phán quyết những gì hàm chứa đàng sau những hoạt động đó.
Người dân có quyền phán đoán
- những cơ cấu của Chính Quyền,
- nguyên nhân đưa đến việc phục vụ hiệu năng và vô tư cho mình hay không.
Nếu Chính Quyền và cơ cấu của Chính Quyền không đáp ứng lại nhu cầu và nguyện vọng của " chủ nhân quyền lực Quốc Gia", họ không có lý do gì để tồn tại trong Thể Chế Nhân Bản và Dân Chủ đa nguyên.
Người dân, với tinh thần đạo luật 241/ 90 và điều 3, đoạn 2 của Hiến Pháp 1947 Ý Quốc có quyền đứng bên ngoài nhìn vào các dinh thự của Chính Quyền,
- không phải với cái nhìn của du khách,
- càng không phải chỉ cái nhìn để tìm hiểu,
- mà là nhìn để phán đoán và định đoạt số phận và cơ cấu của Chính Quyền trong kỳ bầu cử tới, nếu không muốn nói là Quốc Hội có thể cho Chính quyền về vườn sớm hơn ( Điều 67, Hiến Pháp 1949 CHLBD).

Người Việt Nam bình đẳng thực hữu và tích cực trong thể chế Nhân Bản và Dân Chủ của Đất Nước là vậy.
NGUYỄN HỌC TẬP

Bài Xem Nhiều