We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 13 December 2012

Nghe Lời đám sinh viên Việt Cộng nằm vùng năm xưa là "Tự Sát"

Nguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh bao che cho Việt cộng nằm vùng như thế nào?


 
Huỳnh Tấn Mẫm đứng bên ảnh Hồ Chí Minh đang giơ cao tay "đón mừng giải phóng".
--
1* Mở bàiNguyễn Cao Kỳ và Dương Văn Minh đã từng bao che, giúp đở, chứa chấp, cung cấp phương tiện và vũ khí cho Việt Cộng nằm vùng để đánh phá hậu phương Việt Nam Cộng Hoà. Hai ông tướng nầy có trách nhiệm trong việc đưa đồng bào miền Nam VN vào chế độ độc tài tàn bạo của Chủ Nghĩa Cộng Sản.

Hành động phản bội dân tộc được thể hiện qua việc bao che và giúp phương tiện cho sinh viên Việt Cộng nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm như dưới đây.

2* Chương trình Quân Sự Học Đường
Sau Mậu Thân 1968, chính quyền VNCH quyết định thành lập Sư đoàn sinh viên bảo vệ thủ đô, cho sinh viên tham gia các khoá học quân sự. Huỳnh Tấn Mẫm kể lại như sau:

“Lúc đó Thành Đoàn chỉ đạo chúng tôi tìm cách đánh phá chương trình nầy. Chúng tôi tổ chức những cuộc biểu tình yêu cầu bãi bỏ chương trình nầy. Phong trào được mọi tầng lớp hưởng ứng mạnh mẽ nên nhanh chóng lan rộng ra. Sau đó, tôi bị bắt vì sự phản bội nhưng phong trào đấu tranh vẫn diễn ra mạnh mẽ, liên tục”. Huỳnh Tấn Mẫm kể tiếp, “Khi tôi được thả ra cùng với hơn 30 người trong nhóm hoạt động, Thành Đoàn một lần nữa nhanh chóng chuyển hướng hoạt động, chúng tôi được chỉ thị là để cho sinh viên vào các quân trường tham gia các chương trình học quân sự rồi tìm cách đánh phá từ bên trong.”

Huỳnh Tấn Mẫm cương ẩu, nói dóc bịa chuyện trơ trẽn:

“Từ trong các quân trường, phong trào đấu tranh của sinh viên lại dấy lên mạnh mẽ hơn dưới một hình thức khác. Họ tụ tập nhau, lấy vạt giường ra đốt, rồi ca hát suốt đêm. Những sĩ quan nào khắc nghiệt với sinh viên thì liền bị trùm mặt lại rồi đánh…Do bị để ý theo dõi từ trước, tôi bị nghi là chỉ đạo những vụ đấu tranh nầy nên bị bắt giam 5 ngày. Trong 5 ngày đó, phong trào đấu tranh trong quân trường vẫn diễn ra, vì không có chứng cớ nên chúng phải thả tôi ra”.

3* Huỳnh Tấn Mẫm “tranh thủ” Nguyễn Cao KỳTrong nhật ký, Huỳnh Tấn Mẫm kể lại như sau:

“Đánh giá sự rạn nứt giữa Tổng thống Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ, đầu tháng 9 năm 1971, Thành Đoàn chỉ đạo tìm cách “tranh thủ” ông Kỳ. Nhờ sự môi giới của dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, ông Kỳ chịu tiếp phái đoàn Tổng hội Sinh viên chúng tôi”.

3.1. Hội đàm tại trại Phi Long

“Một phái đoàn khoảng 10 người gồm: Huỳnh Tấn Mẫm, Hạ Đình Nguyên, Võ Như Lanh, Nguyễn Thị Yến, Phan Công Trinh, Lê Văn Nuôi…được tiếp đón tại trại Phi Long trong khuôn viên phi trường Tân Sơn Nhất.

Nguyễn Cao Kỳ xuất hiện, tươi cười, niềm nở bắt tay từng người. Vóc dáng cao lớn, khuôn mặt hồng hào phương phi với hàng ria mép dầy.

Nằm phủ phục bên chân Kỳ là một con chó khổng lồ, lông, bờm rậm rạp y hệt sư tử.

Lúc chúng tôi gặp Kỳ, ông hỏi:

- Tôi nghe người ta nói mấy anh là Cộng Sản, có phải vậy không?

Lúc đó tôi nhanh miệng hỏi lại ông:

- Họ nói vậy mà Phó tổng thống có tin không? Nghe vậy, ông Kỳ im lặng. Thực chất, ông Kỳ cũng biết chúng tôi là Cộng Sản, nhưng ông muốn hợp tác với chúng tôi để nhờ chúng tôi chống lại ông Thiệu. Sau đó, ông Kỳ hỏi:

- Mấy anh cần gì ở tôi?

Tôi nói:

- Thưa ngài Phó tổng thống, như ngài thấy đó, chương trình Quân Sự Học Đường đang gây sự bất bình lớn trong sinh viên và công chúng, nếu không dẹp bỏ thì tình hình sẽ không yên ổn được. Tôi thay mặt họ đề nghị ngài kiến nghị với Tổng thống Thiệu, tạm hoãn hoặc bỏ chương trình nầy thì tình hình mới yên ổn được.

Chúng tôi tấn công tiếp:

- Đề nghị Phó tổng thống cấp cho Tổng hội Sinh Viện một trụ sở, vì lực lượng cảnh sát của ông Thiệu đã chiếm giữ trụ sở 207 Hồng Bàng của chúng tôi rồi.

Ông Kỳ trả lời:

- Tôi nói ông Thiệu hoài mà ông không nghe, cứ xen vào nội bộ của các anh làm gì. Gặp tôi, các anh đòi gì tôi giải quyết cho hết, đòi trụ sở có trụ sở, đòi xe hơi có xe hơi! Nhưng tôi đâu có quyền nên chỉ có cách lấy một ngôi nhà trong dinh quốc khách của Phó tổng thống, số 4 Tú Xương giao cho các anh làm trụ sở. Đồng ý không?

3.2. Chiến dịch phá bầu cử

“Hai ngày sau, để phô trương lực lượng với Kỳ, chúng tôi tổ chức một cuộc xuống đường đánh với cảnh sát dã chiến ngay trên đường Cường Để. Nguyễn Cao Kỳ và nhóm tham mưu của ông ta ngồi trên trực thăng, lượn nhiều vòng để chứng kiến cuộc giao tranh giữa lực lượng xung kích của Sinh viên Học sinh với cảnh sát, diễn ra trong khói lựu đạn cay mịt mù và tiếng nổ ầm ĩ của bom xăng.

Ngày hôm sau, Kỳ thuận giao cho chúng tôi ngôi nhà số 4 đường Tú Xương với đầy đủ văn phòng phẩm và xe cộ. Tại đây, chúng tôi gặp nhóm tham mưu của Kỳ để nhận toà nhà. Tôi gọi đùa, họ là “ban tham mưu chim cò” vì nhóm cận thần nầy toàn mặc áo chim cò, tướng tá bệ vệ được tuyển chọn từ các đơn vị người nhái và không quân.

Nhóm tham mưu nầy đề nghị chúng tôi tính hết những gì cần thiết ra thành tiền để họ đưa tiền cho chúng tôi tự mua sắm. Chúng tôi từ chối nhận tiền, chỉ yêu cầu cung cấp máy đánh chữ, giấy và máy in truyền đơn và vũ khí. Chúng tôi hỏi:

- Các ông có loại vũ khí nào có thể đánh sập các phòng phiếu, tiếng nổ lớn nhưng không sát thương cho người không?

- Có. Chúng tôi có loại MK3. Các anh cần bao nhiêu?

- Ít nhất là 2,000 trái để chúng tôi đánh suốt 2 tuần lễ trước ngày bầu cử.”

Theo lời thuật của Huỳnh Tấn Mẫm, ngày 3-10-1971, Nguyễn Cao Kỳ đã bí mật giao 5,000 lựu đạn MK3 (loại lựu đạn huấn luyện chỉ gây tiếng nổ, không sát thương) cho họ ném vào những tụ điểm thùng phiếu để phá cuộc bầu cử.

Huỳnh Tấn Mẫm lại cương ẩu, nói dóc như sau:

“Trận đánh đầu tiên mà SVHS tranh đấu sử dụng lựu đạn MK3 là trận diễn ra trước Đại học Vạn Hạnh. Từ cuộc biểu tình trong sân trường, sinh viên tràn ra đường Trương Minh Giảng, tất cả những thùng phiếu làm bằng gỗ “đặt trên lề đường để tiện cho người qua lại bỏ phiếu” bị đánh sập tan tành, khói bụi mịt mù. Cùng lúc, các bích chương tranh cử bị SV kéo xuống, dùng bút lông sửa chữ “Liên danh 1” thành chữ “Liên danh lì”, chữ “dân chủ” thành chữ “Dân chửi”, chữ “Thiệu” thành chữ “Thẹo” rồi treo lại đàng hoàng.

Chiến dịch “MK3” làm rung chuyển dư luận, dân chúng hoảng sợ, không dám đi bầu. Thiệu điên tiết, ra lịnh cho Tổng nha Cảnh sát truy lùng bắt một danh sách 127 sinh viên.”

SVHS đang đốt phá các bích chương tranh cử tổng thống của liên danh Thiệu – Hương năm 1971.

3.3. Trước toà án quân sự mặt trận

“Những tháng sau bầu cử 1971 đến đầu năm 1972, những thủ lãnh phá thùng phiếu, xung kích đốt xe Mỹ như Huỳnh Tấn Mẫm, Hạ Đình Nguyên, Võ Như Lanh, Nguyễn Xuân Thượng, Võ Thị Bạch Tuyết, Lâm Thành Quí, Lê Văn Nuôi …đều lần lượt bị bắt.

Ngày 18-3-1972, 10 sinh viên được đưa ra toà án quân sự mặt trận ở Nha quân Pháp số 3 Bến Bạch Đằng để xử về tội “phá rối trật tự trị an”.

Biện hộ chúng tôi là luật sư Nguyễn Long và LS Vũ Văn Mẫu.

Trong cáo trạng đọc tại toà có câu: “Bị cáo Lê Văn Nuôi khai, lựu đạn MK3 dùng để đánh phá bầu cử là do cựu phó Tổng thống Nguyễn Cao Kỳ cung cấp. Toà cho gọi nhân chứng Nguyễn Cao Kỳ. Ông Kỳ không có mặt.

“Trước khi đi, chúng tôi chuẩn bị phương án phá phiên toà. Dao lam được bẻ đôi, cột giấu vào tóc. Chúng tôi lấy dao ra, cắt vào tay, lấy máu viết lên tường toà án chữ “Tự do hay là chết”.

4* Nguyễn Cao Kỳ “xớt” Huỳnh Tấn Mẫm
4.1. Cuộc rượt đuổi sôi nổi trên đường phố

Cuối tháng 9 năm 1971, Huỳnh Tấn Mẫm được đưa tới khách sạn Caravelle, đường Tự Do, để trả lời phỏng vấn của đài BBC, sau đó, Mẫm trở về Trụ sở của Tổng vụ Thanh niên Phật tử số 294 Công Lý. Vì biết bị theo dõi nên Mẫm chạy lên tầng cao nhất của trụ sở, nhưng cảnh sát đã kịp thời bao vây. Mẫm đang lúng túng tìm đường thoát thân thì Ngô Thế Lý, Đoàn trưởng Đoàn Sinh viên Phật tử Đà Lạt đưa Mẫm vào một căn phòng và khoá lại.

Thấy nguy cho Mẫm, Nguyễn Thị Yến vội gọi điện thoại cầu cứu cho dân biểu Hồ Ngọc Nhuận và Kiều Mộng Thu. Nhuận gọi ngay cho Nguyễn Cao Kỳ xin giải vây cho Huỳnh Tấn Mẫm. Ông Kỳ liền phái hai sĩ quan cấp tá mang 2 xe jeep tức tốc đến Trụ sở Tổng Vụ Thanh niên Phật tử, Hồ Ngọc Nhuận cũng lái chiếc La Dalat đến nơi.

Cảnh sát không dám ngăn chận 2 xe jeep quân đội của 2 sĩ quan cấp tá và xe của dân biểu, nên cả 3 xe vào bên trong trụ sở Tổng vụ.

Một sĩ quan khoát vội cho Mẫm một chiếc áo nhà binh rồi đưa Mẫm cùng một số sinh viên lên 2 xe jeep để cảnh sát không nhận ra ai là Huỳnh Tấn Mẫm.

Theo kế hoạch, xe La Dalat của Hồ Ngọc Nhuận dùng kế nghi binh đánh lạc hướng cảnh sát. Xe bít bùng của Hồ Ngọc Nhuận phóng ra trước, kế đến là xe jeep chở Mẫm, xe jeep sau chở sinh viên, làm nhiệm vụ chận hậu và bảo vệ xe trước.

Đến ngã tư Trương Tấn Bữu, xe của Nhuận chạy về hướng Lăng Cha Cả, hai xe jeep quẹo trái chạy trên đường Trương Minh Giảng hướng về trung tâm thành phố. Cảnh sát chia làm hai đuổi theo.

Trời sắp tối, cuộc rượt đuổi giữa xe cảnh sát và xe jeep quân đội diễn ra trên đường phố giống như trong ciné. Xe cảnh sát hụ còi không ngừng và giữ liên lạc điện đàm với cấp chỉ huy. Những tài xế cừ khôi của cảnh sát và của tướng Kỳ tranh nhau từng khoảng đường với tốc độ cao. Phe mình rượt đuổi phe ta rất sôi nổi. Chiếc xe jeep cố tình lạng qua lạng lại không cho xe cảnh sát vượt qua, xe chở Mẫm bỏ xa xe cảnh sát. Tới khu đông người ở chợ Bến Thành, Mẫm xuống xe rồi chen lẫn vào đám đông tìm đến ẩn náo trong sạp trái cây của “má” Tám Ảnh ở cửa Bắc chợ Bến Thành. Má Tám Ảnh cho người liên lạc với “má” Văn Hoa, chủ tiệm may Văn Hoa số 100 đường Lê Thánh Tôn.

Sau đó, Hồ Ngọc Nhuận xin Dương Văn Minh che chở cho Mẫm thời gian suốt 6 tháng.

4.2. Hồ Ngọc Nhuận dùng kế nghi binh giải vây Huỳnh Tấn Mẫm

Hồ Ngọc Nhuận thuật lại. “Chiếc La Dalat cà mèn của tôi, mà cảnh sát Sài Gòn đã nhẵn mặt, bất ngờ xông thẳng vào Trung tâm Quảng Đức, quay đầu ra đường. Anh em sinh viên bu lại vây kín, hè nhau buông các tấm phủ xuống che chiếc xe bít bùng. Trong tích tắc, tôi lái vọt ra đường, nhấn hết ga hướng về sân bay Tân Sơn Nhất. “Lực lượng rằn ri” hùng hỗ đuổi nà. Gần tới phi trường, thay vì chạy thẳng hay rẻ vào trại Phi Long của tướng Kỳ, tôi đột ngột ngừng xe lại, chậm rãi cuốn những tấm phủ lên và ngồi lại tay lái, châm…thuốc hút. Trong xe, ngoài tôi, không một bóng người. Biết bị trúng kế “điệu hổ ly sơn”, rằn ri bực tức, chắc chắn là có chửi thề.

5* Dương Văn Minh đã cưu mang Huỳnh Tấn Mẫm suốt 6 tháng trờiTừ tiệm may Văn Hoa của “bà má Văn Hoa”, Huỳnh Tấn Mẫm gọi điện thoại kêu Nguyễn Thị Yến nhờ dân biểu Hồ Ngọc Nhuận tìm chỗ trú ẩn cho y. Hồ Ngọc Nhuận vội gọi cho văn phòng của Dương Văn Minh. Đến trưa hôm sau, Dương Văn Minh (DVM) phái thiếu tá Trịnh Bá Lộc đến đón Mẫm ở điểm hẹn là ngã tư Nguyễn Trung Trực-Lê Thánh Tôn, cách tiệm may Văn Hoa khoảng 100 mét rồi đưa thẳng về nhà số 3 Trần Quý Cáp. Tướng Minh cho Huỳnh Tấn Mẫm (HTM) ở trong căn phòng đầy đủ tiện nghi, có điện thoại và nhà vệ sinh. Theo điều kiện, Mẫm không được tiếp xúc với bất cứ ai trong nhà, ngoại trừ thiếu tá Trịnh Bá Lộc cung cấp thức ăn hàng ngày.

Thiếu tá Lộc xác nhận trong hồi ký “Saigon et moi”: “Tôi được biết anh Mẫm trong thời gian chuẩn bị vận động bầu cử Tổng thống VNCH nhiệm kỳ 2, năm 1971. Lúc đó anh là Chủ tịch Tổng hội SV Sàigon, anh hoạt động chống TT Thiệu và đang bị truy nã.

Một nhân vật trong ban tham mưu chính trị của Đại tướng DVM (Db Hồ Ngọc Nhuận) giới thiệu anh và xin cho anh được lánh nạn trong căn nhà dùng làm văn phòng tranh cử. Tôi được chỉ thị cung cấp thực phẩm cho anh, do đó chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhau hàng ngày.”

Nhờ có điện thoại, HTM liên lạc với đồng bọn dưới cái tên Hoàng. Mẫm ở đó suốt 6 tháng.

Vào đầu tháng 1 năm 1972, Mẫm bí mật rời khỏi căn nhà chuẩn bị cho việc ra tranh cử vào Ban Đại diên sinh viên Y khoa.

Ngày 5-1-1972, sau phiên họp ở Y khoa, trên đường về cư xá Minh Mạng, HTM bị an ninh bắt trước cửa bịnh viện Hồng Bàng. Thời gian tung hoành của HTM chất dứt từ đó.

Sau nầy HTM thuật lại: “Thời gian ở nhà của DVM tôi và ông Minh có nói chuyện với nhau. Tôi đề nghị ông vào thành phần thứ ba nhưng ông từ chối. Ông nói: “Qua biết mấy em là Cộng Sản nhưng qua không thể là thành phần thứ ba được. Qua phải trở thành thành phần thứ hai, thay thế Thiệu-Kỳ thì mới có hy vọng hoà hợp hoà giải dân tộc được”.

Với chủ trương đàm phán với VC, ông Minh cưu mang HTM để bảo vệ “người anh em”, một “đồng chí”:.

Thực ra, ngoài HTM, DVM còn cho 2 cựu dân biểu là Dương Văn Ba, Phan Xuân Huy và ký giả Kỳ Sơn (Nguyễn Đình Nam) đang bị truy nã, và cả cán bộ VC Nguyễn Văn Cước ẩn náo trong tư dinh của ông. Họa sĩ Ớt, Huỳnh Bá Thành cán bộ VC cũng đến Dinh Hoa Lan, số 98 Hồng Thập Tự. (Còn nhà số 3 Trần Quý Cáp là nhà của người em, sau là Đại tá Dương Thanh Sơn, QLVNCH).

6* Quá trình “tranh thủ Dương Văn MinhDương Văn Minh sinh ngày 19-2-1916 tại Mỷ Tho, gia đình có 4 trai 3 gái. Dương Văn Minh là con trai cả. Kế đến là Dương Thanh Nhựt (sau làm đại tá VC), con thứ 5 trong gia đình là Dương Thanh Sơn (sau lên đại tá VNCH)

Theo tài liệu của VC, thì công tác địch vận đối với DVM bắt đầu từ năm 1962 với nhiều lực lượng, ban ngành tham gia: Ban Binh vận của TW Cục Miền Nam, Tình báo, An Ninh T-4 (Sài Gòn Gia Định (ở mật khu) và Trí vận.

1. Ban Binh vận TW Cục Miền Nam

Năm 1960, Võ Văn Thời, thuộc TW Cục Miền Nam, yêu cầu Tổng Cục Chính Trị QĐ cử Dương Thanh Nhựt (Mười Ty) về Nam để tác động và tranh thủ Dương Văn Minh. Sau một thời gian được huấn luyện, cuối tháng 12 năm 1960 Dương Thanh Nhựt lên đường vào Nam.

Tháng 8 năm 1962, Dương Thanh Nhựt (DTN) móc nối liên lạc được với gia đình, bắt đầu từ cậu ruột là Nguyễn Văn Di, rồi người vợ ở lại miền Nam sau khi chồng tập kết ra Bắc, tên Sử Thị Hương. Sau đó, Mười Ty gặp mặt em trai là Dương Thanh Sơn (sau lên đại tá VNCH) và người em gái của Mười Ty, cũng là em của DVM là Dương Thu Vân.

Thấy thuận lợi, Mười Ty đưa một cán bộ mật, đem ý kiến của lãnh đạo đến trao đổi với DVM về việc đề nghị đảo chánh Ngô Đình Diệm.

Sau đảo chánh ngày 1-11-1963, Dương Văn Minh giữ vai trò quốc trưởng, Mười Ty có đến nhà DVM số 98 Hồng Thập Tự (Dinh Hoa Lan), sau đó, đến nhà em là Dương Thanh Sơn, số 3 Trần Quý Cáp và ở đó thời gian 10 ngày.

“Trong thời gian giữ vai trò quốc trưởng, DVM có những hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng”. (Theo tài liệu của Việt Cộng).

- Quyết định hủy bỏ 16,000 ấp chiến lược.

Phía VC đề nghị hai việc, là hủy bỏ ấp chiến lược và không chủ trương đánh ra Bắc. Dương Văn Minh ra quyết định hủy bỏ 16,000 ấp chiến lược. Khi Đại sứ Cabot Lodge hỏi, thì DVM trả lời rằng tập quán của người VN là không muốn rời xa mảnh đất gắn bó với đời mình và không muốn xa mồ mả ông cha. Dồn dân vào áp chiến lược là chủ trương sai.

- Bộ trưởng QP/HK Mc Namara và tướng Harkin yêu cầu quốc trưởng DVM để cho HK ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt, mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt, mất mùa, dân sẽ đói. Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

- Tháng 1 năm 1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu quốc trưởng DVM chuẩn thuận cho thực hiện kế hoạch 34 A, tổ chức hoạt động gián điệp của biệt kích chống miền Bắc, Dương Văn Minh không trả lời.

- Theo kêu gọi của MTDTGP/MN/VN, Dương Văn Minh muốn thương lượng để thực hiện bầu cử tự do, thực hiện chế độ trung lập, thành lập Chính phủ Liên hiệp, nhưng Mỹ cự tuyệt, chống hoà đàm, chống xu hướng trung lập.

- Cuối tháng 4 năm 1964, Mỹ đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội Đồng Quân nhân Cách mạng kiêm Thủ tướng bằng một cuộc đảo chánh. Nguyễn Khánh tuyên bố “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước khỏi rơi vào tay Cộng Sản”.

Sau ngày 30-4-1975, các sĩ quan tùy viên như trung tá Trương Minh Đẩu, thiếu tá Hoa Hải Đường và em tướng Minh là đại tá Dương Thanh Sơn đều đi tù cải tạo.

Nguyễn Hữu Thái đứng thứ hai bên phải, tay cầm tập giấy, chứng kiến Tổng thống chính quyền Sài Sòn Dương Văn Minh chuẩn bị tuyên bố đầu hàng. (Ảnh của ông Nguyễn Hữu Thái ). Photo Kỳ Nhân.

7* Dẹp tan đám sinh viên Việt Cộng nằm vùng7.1. Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo ra tay

Năm 1971, phong trào sinh viên tranh đấu do Thành Đoàn Cộng Sản HCM lãnh đạo đã quậy tưng bừng tại thủ đô Sài Gòn, nhưng sau 2 vụ ám sát, SV Lê Khắc Sinh Nhựt (28-6-1971) và GS Nguyễn Văn Bông (10-11-1971), thì Tướng Nguyễn Khắc Bình, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo kiêm Tư Lệnh Cảnh sát Quốc gia, quyết tâm đối phó với cái đám SV VC nằm vùng nầy.

Trọng trách được giao cho Ban A-17, (thuộc Phủ Đặc Ủy TW Tình báo) dưới quyền của ông Nguyễn Thành Long (hỗn danh là Long Quắn), một cấp chỉ huy kiệt xuất.

A-17 nhập cuộc. Thế trận nhanh chóng gây bất lợi cho Thành Đoàn CS. A-17 bao gồm những cán bộ chọn lọc, đa số xuất thân từ các phân khoa đại học, số còn lại thì đang học và đã từng có vài năm đại học, cho nên tất cả đều am tường các sinh họat đại học. Được sự hợp tác chặt chẽ của ngành Cảnh sát Đặc biệt Đô Thành, cho nên trong một thời gian ngắn, công tác ổn định đại học đã thành công mỹ mãn. Các Ban đại diện SV đã về tay SV quốc gia.

Đa số SV VC nằm vùng đều bị bắt, một số chạy trốn ra khu. Các tổ chức bị phá vở.

Huỳnh Tấn Mẫm (trái) và Trịnh Bá Lộc, 2005. Trịnh Bá Lộc nguyên là thiếu tá tùy viên của cựu tướng Dương Văn Minh (hình của TBLộc).

Sau năm 1975, Thành Đoàn cho ra những tài liệu khoe khoang thành tích đánh phá hậu phương của VNCH, nhưng họ phải công nhận là đã bị đánh bại. Trong cuốn “Trui rèn trong lửa đỏ” Hoàng Chức Nguyên đã viết: “Bởi vì từ năm 1972, địch đã ra tay khủng bố, càn quét đè bẹp các phong trào đấu tranh. Hầu hết những cơ sở tập hợp công khai của sinh viên đều bị chúng phá hủy hoặc chiếm đóng, tình hình im ẳng, căng thẳng, không một cuộc đấu tranh công khai lớn nhỏ nào nổ ra được”.

7.2. Việt Cộng muốn vắt hết chanh

Theo tiến trình thi hành Hiệp định Paris ngày 27-1-1973, thì ngày 20-2-1974 Huỳnh Tấn Mẫm được đưa đưa lên Lộc Ninh để trả cho VC, nhưng vì còn muốn lợi dụng HTM nên phía CS không nhận HTM, với lý do là hắn không phải là tù binh, không phải là VC và yêu cầu trả đương sự về với gia đình. Mẫm cay đắng phải chấp nhận tiếp tục ngồi tù do các đồng chí của mình xếp đặt.

Trong hồi ký của Diệu Ân, trang 247, Ngô Đa đã viết: “Anh Mẫm có tâm sự với tôi, anh thật lòng muốn được trao trả về Lộc Ninh để sớm thoát khỏi cái địa ngục trần gian, thoát khỏi những trận đòn tra khảo tàn khốc, không thể chịu đựng nổi. Nhưng do yêu cầu của tổ chức lúc bấy giờ, nên tôi buộc phải đòi địch trả tự do cho tôi trở về gia đình ở Sài Gòn”.

Ngày 26-4-1974, 2 tháng sau, Mẫm được chuyển ra trại chiêu hồi tại eo biển Lagi, Hàm Tân, Mẫm ở đó đến những ngày gần 30-4-1975.

Tình hình biến chuyển nhanh chóng, quân đội VNCH đang di tản khỏi Hàm Tân. Viên sĩ quan phụ trách, một mình dùng ghe đưa Mẫm vào Nam. Qua các bót cảnh sát Long Hải, Vũng Tàu, Gò Công, Chợ Gạo, Long An, Tổng Nha, không chỗ nào chịu nhận Mẫm.

Cuối cùng, viên sĩ quan áp tải đưa HTM vào bót cảnh sát Thảo Cầm Viên để ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, ngày 29-4-1975, Thủ tướng 2 ngày Vũ Văn Mẫu tuyên bố, người tù chính trị đầu tiên được thả là Huỳnh Tấn Mẫm. Khoảng 10 giờ sáng, chuẩn tướng cảnh sát Bùi Văn Nhu đích thân chở HTM đến Dinh Hoa Lan giao cho thiếu tá Trịnh Bá Lộc, tùy viên của DVM.

Sau năm 1975, Huỳnh Tấn Mẫm bị cách chức Tổng biên tập báo Thanh niên. Lê Văn Nuôi bị cách chức Tổng biên tập báo Tuổi trẻ chỉ vì cho đăng tải một bức hí họa trong đó phi cơ tư bản Mỹ trở lại VN đã rải ra những tờ đô la và đăng một bảng thăm dò dư luận, trong đó thanh niên VN xem Bill Gastes là thần tượng. (chớ không phải là Hồ Chí Minh).

8* Vài nhận xét về Nguyễn Cao KỳMột Phó tổng thống VNCH mà vì địa vị cá nhân đã bao che, giúp đỡ phương tiện và vũ khí cho kẻ thù đế đánh phá hậu phương VNCH thì thật sự là một hành động phản bội không thể tha thứ được.

Sau nầy, ông bị VC lợi dụng để tuyên truyền cho việc thực hiện thành công NQ 36, mục đích đánh phá các phong trào đòi nhân quyền của các cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản ở hải ngoại.

Nhiều người xí xoá sau khi ông chết, cho rằng “nghĩa tử là nghĩa tận”, thật ra nhóm chữ nầy được dùng sai về cái nghĩa của nó. Trước hết chữ “nghĩa” là lẽ phải. Là điều làm khuôn phép cho cách xử thế. “Nhân nghĩa lễ trí tín” là phương châm tốt để thực hiện nếp sống. “Nghĩa” còn là quan hệ tình cảm tốt trước sau như một. Nghĩa vợ chồng.

“Nghĩa tử là nghĩa tận” là làm trọn nghĩa đối với người chết bằng mọi cố gắng lớn nhất, bất chấp mọi khó khăn, không tính toán, do dự.

Do đó, không thể dùng nhóm chữ nầy vào trường hợp của ông Kỳ.

Trước đây, tôi không tán thành những người chửi bới vị cựu Phó Tổng thống VNCH của mình bằng những từ ngữ thô tục, nặng nề nhất, nhưng vừa qua, sau khi xem một Video clip được cho rằng VC phổ biến sau cái chết của ông Kỳ, tôi nhận thấy họ chửi rất đúng. Nội dung video clip được tóm tắt như sau.

“Cần phải có một chiến thắng để thống nhất đất nước. Tôi đã chiến đấu và chúng tôi đã không làm được, mà phía bên kia đã làm được. Đó là một sứ mệnh vinh quang của lịch sử. Cộng đồng người Việt hải ngoại hành động như một bọn côn đồ, những tên Kèo, tên Cột đóng vai hề hạng bét, kêu gọi phục quốc. Phục cái gì? VN có mất nước cho Tàu, cho Tây đâu mà phục quốc?

Họ hô hào, chúng ta có sức mạnh, có trí tuệ, có chất xám, có tiền, nhưng khi được cầm tiền thì anh ta ôm tiền trốn mất. Cái dốt của NCK là không biết được thống nhất đất nước để đưa cả dân tộc vào chế độ độc tài tàn bạo của CNCS.

Bọn nâng bi, bợ đít VC cũng nhắm mắt trơ trẽn ca ngợi thành tích thống nhất để đưa cả nước lên chủ nghĩa ưu việt, không còn cảnh người bóc lột người, mọi người làm việc theo khả năng mà được hưởng theo nhu cầu, vì khi bước lên CNXH thì của cải vật chất xã hội thừa mứa.

9* Kết luận
Một người thân cận đã từng sát cánh với ông Kỳ nêu nhận xét như sau: “Những gì tôi biết, hình như có hai Nguyễn Cao Kỳ, một NCK phản bội đồng đội, phản bội chính mình và một NCK từ 1966 đến 1975 có lòng với đất nước…” Nhận xét nầy chỉ đúng có một nửa, vì ông Kỳ đã phản bội dân tộc từ năm 1971 khi bao che, giúp phương tiện và vũ khí cho tên VC nằm vùng Huỳnh Tấn Mẫm đánh phá hậu phương VNCH.

Trúc Giang
Minnesota tháng 12 năm 2012

----

Đây! Huỳnh Tấn Mẫm
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Một lần nữa, và sẽ còn nhiều lần nữa, người viết sẽ chứng minh về tất cả những gì mình đã viết, để không mắc phải cái câu: "Hữu thuyết vô bằng"; mà "nói có sách, mách có chứng" hẳn hoi. Vì thế, nên qua bài này, người viết phải đưa thêm những hình ảnh của chính Huỳnh Tấn Mẫm đang giơ cao tay, đứng dưới tấm "biểu ngữ" bên cạnh có tấm hình lớn của Hồ Chí Minh, và có mặt một tên "giặc thầy chùa"( không biết là Thích… gì), trong một cuộc "biểu dương" để "đón mừng giải phóng", và ba tấm hình khác: Tấm hình Huỳnh Tấn Mẫm đã chụp chung với những đảng viên "cao cấp" của đảng Cộng sản Việt Nam như: Lý Chánh Trung, Tố Hữu, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đình Thi, tấm thứ ba: Huỳnh Tấn Mẫm đã chụp chung với Nguyễn Thị Bình "nguyên Phó chủ tịch nước" Việt Nam Cộng sản, và các đệ tử của Mẫm trong phong trào "tranh đấu chống Mỹ-Ngụy", và tấm thứ tư, Huỳnh Tấn Mẫm chụp chung với những tên "phản chiến" của Đà Nẵng, Huế, Quảng Tín, trong "buổi họp mặt 35 năm giải phòng miền Nam, 30/4/2010, tại Sài Gòn".


Images intégrées 2
Lý Chánh Trung, Tố Hữu, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Tấn Mẫm, Nguyễn Đình Thi...
Images intégrées 3
Nguyên Phó chủ tịch nước" CSVN: Nguyễn Thị Bình, Huỳnh Tấn Mẫm (ngoài cùng bên trái) và những "thủ lĩnh phong trào tranh đấu HSSV" một thời."
Images intégrées 5
Huỳnh Tấn Mẫm (bìa phải) và thành viên TĐHS Đà Nẵng - TĐHS Huế - LĐHS Quảng Tín, tại buổi "họp mặt 35 năm giải phóng miền Nam, 30-4-2010 tại TP. Hồ Chí Minh". Ảnh: LÊ VĂN THỌ (TĐHSĐN)
Với những bằng chứng như đã nêu trên, thì những kẻ đã và đang đứng trong bóng tối, đặc biệt, tại hải ngoại, luôn luôn tìm cách để đưa Huỳnh Tấn Mẫm lên hàng "quốc tế" với những mưu đồ đen tối… theo kế sách "trồng người", trong suốt hơn 37 năm qua, khó mà lừa gạt được những người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính, và có những bộ óc sáng suốt.
Riêng Huỳnh Tấn Mẫm, đã được đảng Cộng sản Hà Nội "trồng" kể từ năm 1958, khi Mẫm là một thiếu niên 15 tuổi. Nghĩa là Huỳnh Tấn Mẫm đã hoạt động Cộng sản hợp pháp, để chống lại Dân-Quân-Cán-Chính của cả hai nền Cộng Hòa Việt Nam, với "thành tích" hơn 55 năm trường kỳ hoạt động Cộng sản, để chống lại tất cả những người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính.
"Biết mà không nói, là bất lương". Một lần nữa, người viết muốn lập lại: nếu ta thấy, biết một kẻ nào đó, đem bán một chiếc đồng hồ giả, mà quảng cáo là thật, nhưng vì một lẽ nào đó, mà ta im lặng, thì ta sẽ mang tội "bao che", vì người mua, chỉ mất tiền. Nhưng, nếu ta thấy, biết, một người đem bán những viên thuốc cực độc, được bọc bởi lớp đường phèn ngọt lịm, với ngũ sắc thật rực rỡ, mà lại quảng cáo là thuốc bổ, nhưng nếu vì bất cứ một lý do nào, mà ta vẫn im lặng, thì ta phải mang trọng tội tòng phạm giết người, bởi người mua chẳng những mất tiền, mà còn phải mất cả sinh mạng nữa!
Chính vì những lẽ ấy, nên bất kể là người nào, dù là quen biết, mà đem lòng trách người viết, khi đã chỉ ra những viên thuốc cực độc kia, thì nhất định họ là những người muốn ám hại những đồng bào hiền lương vô tội, để họ phải chết một cách tức tưởi và oan uổng, vì lầm lẫn, khi "uống" vào những viên thuốc cực độc ấy. Vì thế, chỉ có những kẻ đồng hội đồng thuyền với những tên đang đứng chụp hình chung với Huỳnh Tấn Mẫm như: Nguyễn Thị Bình, Tố Hữu, Lý Chánh Trung, Lê Quang Vịnh, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Đình Thi,… thì mới bênh vực cho những hành vi Cộng sản của Huỳnh Tấm Mẫm!
Trở lại với cuộc biểu tình, vào ngày 9/12/2012, tại quốc nội, vì hưởng ứng những "lời kêu gọi" của Huỳnh Tấn Mẫm, mà đã có một số người đã bị Công an Cs bắt, thì không có điều gì lạ cả. Bởi vì, đảng Cộng sản Hà Nội qua Huỳnh Tấn Mẫm đã có sự chuẩn bị từ lâu, nên chính Huỳnh Tấn Mẫm đã viết: “Chúng tôi đề nghị chính quyền Thành phố có biện pháp giữ gìn an ninh trật tự … và hỗ trợ".
Nơi nhận:
- Ông Lê Thanh Hải, Bí thư Thành ủy [để thông báo và hỗ trợ]
- Ông Lê Hoàng Quân, Chủ tịch UBNDTP [để thông báo và hỗ trợ]".
Và, chính những điều đã minh chứng ở trên, đã cho tất cả những người Việt Nam yêu nước chân chính, từ quốc nội cũng như tại hải ngoại, là những người còn có những bộ óc sáng suốt, không lú lẫn, không ngu đần, thì tất phải biết: Cuộc "biểu tình" vào ngày 9/12/2012, vừa qua, là do Huỳnh Tấn Mẫm đã thi hành theo chỉ thị của đảng Cộng sản Hà Nội. Huỳnh Tấn Mẫm đừng hòng lấy đôi tay của một đảng viên Cộng sản, đã từng nhuốm máu của đồng bào vô tội suốt 55 năm trời, kể từ năm 1958, mà che khuất được ánh mặt trời.
Nên nhớ, Huỳnh Tấn Mẫm đã: "Đề nghị chính quyền Thành phố có biện pháp giữ gìn an ninh trật tự… và hỗ trợ". "Biện pháp" là gì, là phương pháp làm việc cho đúng lúc cần thiết, và khi nào cần phải dùng đến "biện pháp"; là khi thấy có những người có những hành động gây nguy hại cho đảng Cộng sản, thì ngay tức khắc, "chính quyền thành phố (phải) có biện pháp…"."biện pháp" ấy là phải bắt giam ngay những "thành phần nguy hiểm - thế lực thù địch". Còn "hỗ trợ", là đôi bên cùng giúp đỡ lẫn nhau. Nghĩa là, cuộc "biểu tình" ngày 9/12/2012, đã do đảng Cộng sản Hà Nội và Huỳnh Tấn Mẫm, một đảng viên Cộng sản kỳ cựu, với thành tích 55 năm hoạt động Cộng sản, đã cùng liên thủ với nhau, để giăng ra những chiếc bẫy khổng lồ, cũng như những mẻ lưới rộng lớn, để "thanh lọc", và để bắt giữ những người có lòng nhiệt thành yêu nước.
Huỳnh Tấn Mẫm “đại biểu quốc hội- Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, Tổng biên tập báo Thanh Niên… năm 2010, Mẫm đã sang Nga học và bảo vệ Tiến sĩ Triết học tại Viện Hàn lâm Khoa học…"
Hãy nhớ lấy. Đừng quên!
Paris, 12/12/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Houston lời kêu gọi của : LIÊN ĐOÀN CỬ TRI NGƯỜI MỸ GỐC Á-CHÂU TẠI HOA KỲ

 
 lời kêu gọi của 

LIÊN ĐOÀN CỬ TRI NGƯỜI MỸ GỐC Á-CHÂU TẠI HOA KỲ
FEDERATION OF ASIAN AMERICAN VOTERS
10307 Sand Dollar Drive - Houston, Texas 77065
Tel: (832) 475-9044
Ngày 07 Tháng 12 Năm 2012
KÍNH GỞI
- Quý Hội Đoàn, Đảng Phái Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Thành Phố Houston,
- Quý Cơ Quan Truyền Thông & Báo Chí,
- Quý Đồng Hương tại Thành Phố Houston và Vùng Phụ Cận,
KÍNH THƯA QUÝ VỊ:
Nhìn lại sự sinh hoạt bất ổn tại Thành Phố Houston, đã làm hao mòn tinh thần chống cộng và tổn thương đến danh dự chung của tập thể Người Việt Tỵ Nạn, do những thành phần bất chính đang sinh sống trong thành phố gây nên. Từ cuộc bỏ phiếu gian lận của Ban Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Houston và Vùng Phụ Cận, do những thành phần bất chính trong Ủy Ban Bầu Cử gây nên, đã đưa những sinh hoạt bình thường của cộng đồng Người Việt tại Thành Phố Houston vào tình trạng bất ổn mỗi một ngày một thêm trầm trọng.
Đồng thời những hành vi chính trị của Nghị Viên Al Hoàng tức Hoàng Duy Hùng, có tính cách đi ngược lại nguyện vọng của Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại đây đã gây lên một phong trào chống đối, tẩy chay Nghị Viên Hoàng Duy Hùng mãnh liệt qua những tuyên cáo của Liên Đoàn Cử Tri Người Mỹ Gốc Việt tại Hoa-Ky, cùng sự phản đối đồng loạt của Quý Hội Đoàn Quân Đội, Quý Đảng Phái Người Việt Quốc Gia, qua cuộc biểu tình phản đối Nghị Viên Al Hoàng trên lập trường Quốc Gia chao đảo, lòn cúi với Lãnh Sự Quán Trung Cộng, qua bản Vinh Danh 61 năm Độc Lập của Đảng Cộng Sản Trung Cộng, trong khi đất nước Việt Nam đang mất dần, nền kinh tế ngày một lệ thuộc vào Đảng Cộng Sản Trung Cộng bành trướng, trong lúc người dân Việt vẫn còn đang chịu cảnh cơ hàn thiếu ăn thiếu mặc.
Tại Hải ngoại Hoàng Duy Hùng bất chấp sự hiện diện của tập thể Ngừơi Việt Quốc Gia, tuyên bố hổ trợ Cộng SảnViệt Nam lập đường bay trực tiếp từ Houston về Việt Nam, cũng như kết tình "Chị Em" giữa hai Thành Phố Houston - Đà Nẵng. Trong khi Cồn Dầu, một thị trấn nhỏ của Thị Xã Đà Nẵng đã và đang bị Cộng sản Việt Nam đàn áp từ nhân quyền đến tín ngưỡng. Nghị Viên Hoàng Duy Hùng đã công khai miệt thị tập thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại hải ngoại, bằng những lời tuyên bố sẽ tổ chức công khai rầm rộ từ 3,000 đến 5,000 người tham dự việc tiếp đón các cán bộ cao cấp của Cộng Sản Việt Nam tới Houston trong những thời gian sắp tới. Hành động này không những thách thức Tập Thể Ngừơi Việt Tỵ Nạn Cộng Sản mà còn chà đạp lên sự đau khổ của đồng bào trong nước.
Thành Phố Houston nói riêng và Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sàn tại Hoa-Kỳ nói chung qua hành vi xóa bỏ lằn ranh Quốc-Cộng và cố tình làm lợi cho Cộng Sản Việt Nam tại Thành Phố Houston. Hơn hai chục Hội Đoàn Quân Đội, Đảng Phái Chính Trị Quốc Gia trong hai năm qua đã nhiều lần lên án, tẩy chay và biểu tình; nhưng Nghị Viên Hoàng Duy Hùng bất chấp, bướng bỉnh, công khai kiện tụng bất cứ người nào có hành vi phản đối. Nghị Viên Hoàng Duy Hùng còn dùng chức vị công quyền vu cáo những cử tri phản đối nghị viên đã đi ngược lại nguyện vọng của họ và đa biểu tình phản đối tại tư gia, Nghị Viên Hoàng Duy Hùng đã vu cáo những ngừơi biểu tình bằng cách khai gian với nhân viên công lực là Người Việt Tỵ nạn Cộng Sản tại đây muốn sát hại ông và gia đình. Hành vi khai gian, tự chế tạo bom đạn và vu cáo cho Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tại Thành Phố Houston, thì đây là hành vi muốn bôi nhọ Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản với chính quyền địa phương. Hành động vu cáo này, không những làm tổn thương đến danh dự chung của Tập Thể Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản; đồng thời cũng đã làm tổn thương đến tập thể cử tri Người Mỹ Gốc Việt, và Nghị Viên Hoàng Duy Hùng phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về những vu cáo và phỉ báng này trước công luận và công lý.
Chúng tôi, Liên Đoàn Cử Tri Người Mỹ Gốc Á Châu tại Hoa-Kỳ, quy hội cao niên, Đảng Phái Chính Trị Người Việt Quốc Gia và quý Thân Hào Nhân Sĩ kính mời toàn thể đồng hương, nhất là những ai còn nghĩ đến sự hưng vong của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia, đang bị Cộng Sản Việt Nam dùng chiêu bài Nghị Quyết 36 xoi mòn tinh thần chống Cộng Sản Việt Nam tại đây, qua tay Nghị Viên Hoàng Duy Hùng của Hội Đồng Thành Phố Houston hầu nhuộm đỏ Thành Phố Houston với cờ đỏ sao vàng thay thế Cờ Vàng Tự Do trong thời gian tới.
Chúng tôi trân trọng kính mời quí vị vui lòng đến tham dự cuộc "HỌP BÁO VÀ DIỄN ĐÀN CÔNG LUẬN" tai:
TRUNG TÂM NHÀ VIỆT
(Trong Khu Tượng Đài Chiến Sỹ Việt-Mỹ)
11360 Bellaire Blvd - Houston - Texas 77072
Vào lúc 10 giờ sáng đến 1 giờ trưa
THỨ BẢY, Ngày 15 tháng 12 Năm 2012
Sự hiện diện của quí vị là một khích lệ vô cùng quan trọng cho tập thể Ngừơi Việt Tỵ Nạn Cộng Sản quyết tâm trấn giữ thành trì chống Cộng của Người Việt Quốc Gia.
Thay Mặt Ban Tổ Chức,
Nguyễn Thái Học
Chủ Tịch Liên Đoàn Cử Tri Người Mỹ Gốc Á-Châu tại Hoa-Kỳ
Hội Đồng Giám Định Tư Vấn Chuyên Nghiệp Tiểu Bang Texas
Tel: (832) 475-9044
Cụ Nguyễn Kim Như
Bào đệ Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điến
Cụ Nguyễn Thanh
Tel: (713) 492-5670
Tiến Sỹ Dược Khoa Nguyễn Trâm
Anthony Nguyen
Thủy Quân Lục Chiến Quân Đội Hoa Kỳ
Richard Nguyen
Tel: (281) 891-0579
Thanh Tra Viên Thanh Pho Houston

Quê Hương Gợi Nhớ :Tất cả đã không còn


Photobucket Mặc dù mình vẫn là người tị nạn nghèo trong một đất nước giàu có nhất này, nhưng quả thật cuộc sống ở đây vẫn là cuộc sống mà hàng tỷ người trên trái đất này mơ ước.
Nhưng nếu có ai hỏi tôi, đâu là quê hương đẹp nhất. Tôi không ngần ngại trả lời. Đó là quê hương thời thơ ấu đầu đời của tôi. Tôi muốn nói đến quê hương đầu đời, nơi mà tôi gạt nước mắt chia tay năm tôi 11 tuổi. Quê hương đầu đời như một chiếc nôi, dù xấu hay đẹp, dù mới hay cũ, chiếc nôi ấy cũng đã ru tôi từ khi mở mắt chào đời. Cũng từ chiếc nôi ấy, tôi cất tiếng khóc, tiếng cười vô ưu trong tình yêu thương của cha mẹ ông bà.
Tôi lớn dần trên một quê hương nghèo khổ và đầy thiên tai. Thời thơ ấu, dù chưa hiểu quê hương là gì, thì quê hương đã như máu như thịt, như nhà như cửa, như cha như mẹ, như ông như bà. Nghĩa là một vòng tay, một thân thiết không ai muốn rời khỏi. không ai muốn đi xa, đi đâu cũng muốn quay về.
Quê hương đôi khi thật chỉ chứa đựng những điều hết sức giản dị. Nơi có bờ tre xanh kẽo kẹt trưa hè, tiếng tàu chuối phất phơ, tiếng gió reo xào xạc trên hàng mít sau vườn, ngàn đời như tiếng thầm thì gọi réo nhớ nhung. Nơi những thằng bạn quê chân trần cùng mơ ước bắn rớt những con chim đậu ngất ngưỡng trên ngọn cây cao vút bằng cái ná thun thô sơ. Nơi, vòng miệng chiếc thúng hư cũng thành vòng bánh xe đánh lăn cùng khắp sân nhà. Hột trái xoài cũng tự chế được thành cái cối xay. Cỏ cú cỏ chỉ cũng thành trò chơi đá gà. Dây chuối quấn thành trái banh, bọn con nít cũng chạy đá vang rân trên sân trường tiểu học. Nơi tiếng ve râm ran trên cây vông trong những buổi trưa hè oi ả hay tiếng chim cu gáy gù gù u buồn. Âm thanh ấy sao cứ âm vang cả một đời người. Cũng nơi đó, những ngày mưa dầm lạnh lẽo kéo dài cả tháng, ngồi thu lu chịu trận trong nhà không thể chạy chơi. Bắp rang, khoai lang khô luột cũng ngon không kém một cao lương mỹ vị nào bây giờ được hưởng.
Chúng ta, đã từng đi đến những nơi thật đẹp, thật huy hoàng tráng lệ, những kinh thành xa hoa, những bãi biển thơ mộng. Rồi chúng ta đôi khi không nhớ ra cái tên nơi đó. Hay lẫn lộn với bao cái tên khác. Nhưng những địa danh quê hương không bao giờ mờ nhạt.
Những cái tên đã đi vào thơ ấu, có lẽ đến chết không thể nào nhoà đi trong trí nhớ. Đó là khi tôi đọc những câu thơ: Mẹ bỏ làng xa Thi Lai, Hà mật...Canh cửi một đời cũng nhắm mắt ra đi.*
Tôi bỗng nhớ Thi Lai. Tôi bỗng nhớ Hà Mật. An Trường, Thi Nhơn, Phú Bông, Đông Bàn, La Qua, Phuơng Trà... cũng hiện về mồn một. Và nữa, Xuyên Trà, Xuyên Trường, Trà Kiệu, Cầu chìm, Nam Phước, Câu Lâu, Bàn Thạch...
Thuở nhỏ tôi ở với ngoại bên Thi Nhơn Gò Nổi.Những năm lớp 4 lớp 5 tiểu học, tôi đã một mình từ nhà ngoại về nhà nội, băng qua gò Hùng qua bến đò Gặp. Nơi bến sông có bãi dâu xanh ngát. Bến Gặp quạnh vắng mà bên kia là Thi Lai, là quê nội. Bãi cạn nên đò không cặp bến, phải nhảy xuống lội vào bờ. Nước tới ống quyển lao xao dưới chân, giòng nước trong mát của nhánh sông Thu Bồn chảy về cửa Đợi. Giữa bến sông bao la, vắng người, biết bao lần tôi, chú bé con, trần truồng tung tăng bơi lội. Con đò vắng khách cũng đã thả trôi đâu đó. Tôi đùa giỡn với nước với cát. Một mình tôi. Một mình tôi.
Mỗi khi về tới nhà nội, nghe thím tôi nói, nội đi Trà Kiệu, hay đi Câu Lâu, là tôi tức tốc cuốc bộ đến những nơi đó tìm gặp nội. Tôi băng qua một con suối nhỏ, rồi băng qua sân vận động Xuyên Trường, ra tới đường cái quẹo phải đi ngang nhà thờ Trà kiệu trước khi đến chợ Trà Kiệu. Trên ngọn đồi cao tượng đức Mẹ lúc nào cũng buồn bã nhìn tôi. Hay quẹo trái cuốc bộ một quãng đường rất xa để băng qua cầu Chìm, băng qua quận lỵ Duy Xuyên, tới trạm Nam Phước rồi quẹo trái tới cầu Câu Lâu. Tôi đi trên con đường đầy bụi bặm. Tôi đi với lưng áo đẫm mồ hôi, chân rã rời. Tôi đi với lòng hoang mang không biết có gặp nội hay không mà mắt thì ngơ ngát thèm thuồng nhìn những chiếc xe lam 3 bánh chở khách tuyến Nam Phước Trà kiệu. Gặp nội tôi: Mi đi mô rứa, đi xe hay đi bộ? Lòng tôi rưng rức: Con đi bộ, con kiếm bà nội. Nội ôm tôi vào lòng là bao nhiêu nắng gió nhanh chóng tan biến.
Nội, giờ đã yên nghỉ trên gò đất Chiêm Sơn.
Mấy mươi năm trên đời này, mơ ước triền miên của tôi là ngày nào đó, chỉ một lần thôi, tôi đi lại những con đường mà thuở nhỏ tôi đi thăm gặp nội để biết con đường thật sự bao xa. Cũng như để thấy rằng bãi dâu ngày xưa ở đâu, bến Gặp và bãi cát vàng ra sao. Con đường băng qua Cầu chìm, Nam Phước như thế nào.Tôi cũng hằng tin rằng, vật đã đổi sao đã dời. Sẽ thất vọng khi chứng kiến mọi cảnh vật đã đổi thay. Nhưng ước mơ đó vẫn không nguôi.
Thời buổi chiến tranh
Mẹ bỏ làng xa Thi Lai Hà Mật
Canh cửi một đời cũng nhắm mắt ra đi*
Quả thật một ngày mùa Xuân năm 1965 chiến tranh đã đến Hà Mật, Thi Nhơn, An trường...Chiến tranh đã thật sự đến Gò Nổi. Người Cộng Sản đã mang chiến tranh đến phá tan cảnh thanh bình yên ả của những thôn ấp trù phú hiền hoà bên bờ sông Thu bồn.
Từ đó quê hương ly tán. Tôi cũng rời bỏ Thi Lai Hà Mật trong những ngày mà tiếng đại bác từ Hồng Bằng hú trên những hầm trú đơn sơ. Ngoại tôi gửi tôi vào Sài gòn ở với ba mẹ tôi. Sau đó ngoại tôi cũng không bám nổi trên mảnh đất hoang tàn này. Gần như dân quê Gò Nổi tản cư ra Hội An, Vĩnh Điện hay Đà Nẵng hết, không còn một ai.
Chú bé 11 tuổi ra đi mang theo quê hương nặng trĩu trong lòng. Đến bây giờ, ở miền cùng trời cuối đất này và trải qua bao thăng trầm một đời người, những bãi dâu xanh, những mùa lúa thóc, những vụ đường miá...khi nhạt khi đậm vẫn luôn ẩn hiện trong trí nhớ mỗi ngày một hao hụt của tôi.
Nên chỉ cần bắt gặp lại cái tên làng tên thôn thân yêu xưa, là cả một trời kỷ niệm hiện về. Như những câu thơ trên của anh Xuyên Trà bất chợt gợi nhớ. Ngay cả bút hiệu của anh "Xuyên-Trà", cũng làm tôi nghe như anh là một người thân quen từ bao giờ; dù tôi chỉ gặp anh một lần, một lần rất ngắn ngủi, không đủ cho một câu chuyện làm quen. Tôi thích cái tên Xuyên Trà ở anh trước khi đọc thơ anh. Và khi đi vào thơ anh, tôi như trôi bềnh bồng trên dòng sông thơ ấu. Bút hiệu của anh là một địa danh xa xôi và đã mất tăm theo vật đổi sao dời, chỉ còn sót lại trong trí nhớ của người bao năm cũ, cũng đã tạo thành cái duyên văn nghệ giữa tôi với anh. Thơ anh cũng đáng yêu như cái tên của anh. Bởi thơ anh là tiếng quê hương tôi hằng khắc khoải.
Bây giờ, quê hương trong trí nhớ của anh và tôi, đã không còn nữa dù tôi hay anh một ngày nào đó có đang đứng trên mảnh đất kia, có đang nhìn về hướng xa xa Trường sơn xanh thẳm hay có tắm lại bến sông xưa. Con sông ngày nào nay đã lệch dòng bồi lở.
Tất cả đã không còn. Nơi tôi muốn một lần trở lại, đã từ lâu thật sự không còn như cũ vì tất cả "Biển Đã Xanh Dâu"
Hoàng Định Nam

*Thơ Xuyên Trà trong thi phẩm Biển Đã Xanh Dâu.

 -----------
 Hiiiii chỉ biết cười mà thôi, thật là đẹp mặt chế độ csvn

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (137), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Dù có thế nào vẫn luôn vui tươi.
Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (137), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Cố gắng làm nhiều chuyện một lúc.
Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (137), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Bám chặt vào bà chị, gần về đến nhà rồi.
Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (137), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Cẩn thận đến thế là cùng.

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (137), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
May mà chiếc ghế nó nhẹ.


Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (139), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Ngôi nhà này phải được cho vào kỷ lục guinness.

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (139), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Thương vợ, thương con thế là cùng.

Những hình ảnh chỉ có ở Việt Nam (139), Cười 24H, chi co o viet nam, tranh vui, anh vui, tranh hai, anh hai, bao, cuoi 24h
Đội thế này cho "thơm" đầu.

GIÁ TRỊ VĨNH CỬU CỦA BẢN TUYÊN NGÔN QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN


Sau 3 năm chuẩn bị, ngày 10 tháng 12 năm 1948, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (The Human Rights Declaration) đã được Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc thông qua, với 48 phiếu thuận, không có phiếu chống nào, duy chỉ có Liên Xô cũ, Saudia Arabia và Nam Phi từ chối bỏ phiếu. Tiến sĩ Herbert Chủ tịch phiên họp Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ đã nhận xét, rằng “Lịch sửsẽ ghi nhận Bản Tuyên Ngôn này như là một trong những thành tựu nổi bật của Liên Hiệp Quốc.”
Như vậy là đã 64 năm qua, Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã cho thấy một giá trị phổ quát và vĩnh cửu. Bởi vì Bản Tuyên Ngôn ấy đã thể hiện một chân lý được khẳng định trong phần mở đầu, rằng “Mọi thành viên trong gia đình nhân loại đều có nhân cách, có quyền bình đẳng bất khả chuyển nhượng. Sự công nhận nhân cách và các quyền này là nền tảng của tựdo, công chính và hoà bình trên thế giới”;Và rằng “mọi sự coi thường và khinh thị nhân quyền đềuđưa đến những hành động dã man, xúc phạm đến lương tâm nhân loại và ước vọng vềmột thế giới mà mọi người đều được hưởng tự do ngôn luận, tín ngưỡng và không bị đe dọa, bởi đã được tuyên cáo đó là khát vọng cao cả nhất của loài người”.
Trong 30 điều khoản của bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân quyền, đã đưa ra được những nguyên tắc và liệt kê các nhân quyền và dân quyền có giá trị như một Bản Hiến Pháp Quốc Tế mà các quốc gia hội viên có nghĩa vụ phải tuân thủ trong việc tôn trọng, bảo vệ và hành xử các nhân quyền căn bản.
Tuy nhiên, trên thực tế, từ quá khứ đến hiện tại, vẫn còn nhiều quốc gia vẫn không tuân thủ các điều khoản của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Ðó là các quốc gia có chế độ độc tài phản dân chủ các kiểu, điển hình như chế độ độc tài kiểu cộng sản ở Việt Nam, hay chế độ độc tài kiểu Al Sadad ở Syria vùng Trung Đông hiện nay. Cảhai kiểu chế độ độc tài này, dù là thành viên Liên Hiệp Quốc, có trách nhiệm tuân thủ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, song thực tế vẫn thách thức công luận bằng những hành vi trắng trợn vi phạm nhân quyền và dân quyền căn bản.
Ðến đây một câu hỏi được đặt ra là:vì sao chính quyền trong các chế độ độc tài tại Việt Nam và Syria lại dám thách thức công luận như vậy?
Câu trả lời tổng quát, theo thiển ý chúng tôi, là vì 30 điều khoản của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền chỉ liệt kê các nhân quyền mà không dự trù các biện pháp chế tài hữu hiệu. Trên thực tế,các biện pháp chế tài đối với các chính quyền vi phạm nhân quyền thường là đều xuất phát từ các cường quốc hay Liên Hiệp Quốc vốn là tổ chức mà các cường quốc chiếm ưu thế tuyệt đối. Sự chế tài này thường là các áp lực mạnh hay yếu lại tùy thuộc vào mục đích vụ lợi của các cường quốc.
Tỷ như những áp lực của Hoa Kỳ đối với các hành động vi phạm nhân quyền bao lâu nay của chế độc độc tài toàn trị tại Việt Nam, thường chỉ là biện pháp được xử dụng như một phương cách tạo áp lực đểthành đạt một lợi ích kinh tế, chính trị ngoại giao nào đó cho Hoa Kỳ. Cộng sản Việt nam chỉ cần đáp ứng phần nào hay tất cả lợi ích này cho Hoa Kỳ là họ có thể an tâm tiếp tục đàn áp nhân dân, chà đạp nhân quyền, nhân danh cái gọi là“vấn đề nội bộ của Việt nam”. Vì vậy, sự kết án của Hoa Kỳ hay quốc tế nếu khôngđi kèm biện pháp chế tài triệt để và hiệu quả, thì vẫn chỉ mang tính hình thức, chiếu lệ, không có mấy hiệu quả thực tế.
Thực tế là tại Việt Nam, từ lâu nay nhà cầm quyền vẫn ngang nhiên xâm phạm các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền, dù Hoa Kỳ và quốc tế bao lâu nay đã nhiều lần lên tiếng phàn nàn, kết án, cảnh cáo, kèm theo những biện pháp pháp lý, hành chánh, kinh tế… cũng chỉ ở mức độ đủxoa dịu sự phẫn nộ của công luận và nếu có hiệu quả thì quá lắm cũng chỉ buộcđược Việt cộng lùi một bước để đối lấy một lợi ích giai đoạn nào đó , hơn là vì lợi ich tự do dân chủ lâu dài cho nhân dân Việt Nam.
Thực tế là tại Việt Nam, nhà cầm quyền cộng sản vẫn thẳng tay bắt bớ, giam cầm và đầy ải các nhà đấu tranh cho các quyền tự do chính trị và tôn giáo trong các nhà tù và các trại tù trá hình gọi là “Trại Cải tạo” được thiết lập trên toàn cõi Việt Nam.
Đứng trước thực tế này, về phần mình, người Việt Nam ở hải ngoại cũng không biết làm gì hơn là đẩy mạnh các cuộc đấu tranh hổ trợ cho các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước, bằng cách lên tiếng tố cáo và báo động trước công luận quốc tế về các hành động vi phạm tự do, dân chủ và nhân quyền của nhà cầm quyền độc tài toàn trị cộng sản Việt Nam.
Đồng thời, bằng mọi cách chia xẻ những khó khăn vật chất trong điều kiện và khả năng có thể, cũng như khích lệ tinh thần các nhà dân chủ trong nước. Cụ thể như tổ chức các hình thức gây quỹ yểm trợtài chánh cho các nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước, điển hình như bữa ăn gây quỹ tại Houston do Ủy Ban Yểm Trợ Các Nhà Đấu Tranh Dân Chủ trong nước, vốn là hoạt động hàng năm của Ủy Ban này; Hoặc Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam từ nhiều năm nay đã tổ chức các buổi lễ vinh danh và trao giải Nhân Quyền Việt Nam hàng năm cho một số nhà đấu tranh can trường cho tự do, dân chủ và nhân quyền trong nước và đã bị nhà cầm quyền Việt cộng bắt cầm tù.
Nhớ lại 35 năm trước đây, sau khi Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm Hiệp Định Paris ngày 27-1- 1973 vềchấm dứt chiến tranh lập lại hoa bình cho Việt Nam, chúng tôi và một số anh em khác cùng chung lý tưởng, đã sớm thành lập Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam trong ý hướng trường kỳ đấu tranh cho mục tiêu chống độc tài,dân chủ hoá đất nước, phù hợp với chiếu hướng chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực.
Trong nhiệm vụ Ủy Viên Nghiên Huấn của Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam, chúng tôi đã được giao trách nhiệm khởi thảo bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam, cùng với các tài liệu huấn luyện và học tập khác khác như“Chính cương và sách lược đấu tranh của Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam”, “Việt Nam Trong ThếChiến Lược Quốc Tế Mới”….
Đúng vào ngày này của 35 năm về trước, Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam đã công bố Tuyên Ngôn Nhân Quyền Việt Nam năm 1977 đúng vào ngày 10-12-1977 là ngày bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua. Chúng tôi xin ghi lại theo trí nhớ, phần mở đầu của bản tuyên ngôn này đã viết như sau:
“ Khẳng định rằng, con người sinh ra có quyền sống và phải được sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của một con người.
Sống xứng đáng với nhân phẩm và cương vị của một con người, là con người không phải chỉ được sinh ra vàđược sống như một con vật mà còn có nhu cầu khẩn thiết hơn là phải được sống và sống tự do.
Sống tự do là mọi người, không phân biệt sắc tộc, giai tầng xã hội, phải được tôn trọng, bảo vệ và hành xử những nhân quyền căn bản đã được ghi trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc: Quyền tự do chính trị, tự do kinh tế, tự do cưtrú và vãng lai, tự do tư tưởng bao gồm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, ngôn luận v.v….
Bởi vì tự do và con người là một thực thể bất khả phân, có con người là phải có tự do, thiếu nó con người sẽ sống trong lo âu, sầu tủi và nhân phẩm bị hạ thấp ngang tầm loài vật.
Tiếc thay, một dân tộc đã và đang phải sống ngang tầm loài vật: Đó là dân tộc Việt Nam. Bởi vì dân tộc này đã đang phải sống dưới chế độ độc tài đảng trị tàn bạo của những người Cộng sản Việt Nam, duới chế đô này mọi nhân quyền và dân căn bản đã bị chà đạp và tước đoạt.
Vì vậy, Mặt Trận Nhân Quyền Việt Nam nghiêm trọng tố cáo trước công luận thế giới và bầy tỏ quyết tâmđấu tranh đến cùng cho các nhân quyền và dân quyền căn bản sau đây phải được tôn trọng, bảo vệ và thực thi tại Việt Nam:
……………………………………………………………………………………….”
Tựu chung, dù thực tế có thế nào chăng nữa, thì Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vẫn mang giá trị phổ quát và vĩnh cửu. Vì đó là chân lý muôn thuở của loài người, có giá trị qua mọi thời đại, vượt không gian và thời gian. Tuy nhiên, ngày nào Liên hiệp quốc không có được những biện pháp chế tài hữu hiệu, vẫn coi tổ chức này như sân chơi vụ lợi của các cường quốc chiêm ưu thế áp đảo, thì vẫn sẽ không ngăn chặn được các chế độ độc tài vi phạm tự do, dân chủ và nhân quyền trên hành tinh này .
Điển hình là Cộng sản Việt Nam, sở dĩ vẫn ngang nhiên tiếp tục các hành vi đàn áp tôn giáo, tiêu diệt đối lập chính trị và các nhân quyền căn bản như hiện nay, chính là vì thực tế Hoa Kỳ nói riêng, và quốc tế nói chung, chưa có những biện pháp chếtài triệt để hữu hiệu và chưa thể hiện quyết tâm thực hiện các nguyên tắc và các điều khoản của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, vì lợi ích của nhân loại nói chung, nhân dân các nước sống dưới ách các chế độ độc tài nói riêng.
Thiện Ý
Ngày 10 tháng 12 năm 2012.
* Sau đây là nguyên văn Việt ngữ Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền:
Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc
Attention: open in a new window.
Được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua và công bố theo Nghị quyết số 217 (III), ngày 10 tháng 12 năm 1948.
LỜI NÓI ĐẦU

Với nhận thức rằng:
Việc thừa nhận nhân phẩm vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hoà bình trên thế giới,
Sự xâm phạm và coi thường nhân quyền đã dẫn đến những hành động tàn bạo, xâm phạm tới lương tâm của nhân loại, và việc xây dựng một thế giới trong đó con người được tự do ngôn luận và tín ngưỡng, không còn phải chịu nỗi sợ hãi và cùng cực được coi là nguyện vọng cao cả nhất của loài người,
Nhân quyền phải được pháp luật bảo vệ để mỗi người không buộc phải nổi loạn như là biện pháp cuối cùng để chống lại chế độ cường quyền và áp bức,
Cần phải khuyến khích việc phát triển quan hệ bằng hữu giữa các dân tộc,
Nhân dân các nước thành viên Liên Hợp Quốc trong bản Hiến chương đã một lần nữa khẳng định niềm tin của mình vào những quyền cơ bản của con người, vào nhân phẩm, vào giá trị của mỗi người, vào quyền bình đẳng nam nữ, và đã bầy tỏ quyết tâm thúc đẩy tiến bộ xã hội cũng nhưxây dựng các điều kiện sống tốt hơn, tự do hơn.
Các nước thành viên đã cam kết, cùng với tổ chức Liên Hợp Quốc, phấn đấu thúc đẩy mọi người tôn trọng và thực hiện các quyền cũng như những tự do cơ bản của con người.
Nhận thức thống nhất về những quyền và tự do đó của con người là yếu tố quan trọng nhất cho việc thực hiện đầy đủcam kết này.
Nay, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tuyên bố:

Bản tuyên ngôn toàn thế giới vềnhân quyền này là thước đo chung cho tất cả các nước và tất cả các dân tộc đánh giá việc thực hiện mục tiêu mà mọi cá nhân và mọi tổ chức trong xã hội, trên cơsở luôn ghi nhớ Bản tuyên ngôn này, sẽ phấn đấu thúc đẩy sự tôn trọng các quyền và tự do cơ bản của con người thông qua truyền bá và giáo dục, cũng như sẽ phấnđấu đảm bảo cho mọi người dân, ở chính các nước thành viên của Liên Hợp Quốc vàở các lãnh thổ thuộc quyền quản lý của mình, công nhận và thực hiện những quyền và tự do đó một cách có hiệu quả thông qua những biện pháp tích cực, trong phạm vi quốc gia hay quốc tế.

Điều 1
Tất cả mọi người sinh ra đềuđược bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau trong tình bằng hữu.
Điều 2
Mọi người đều được hưởng tất cả những quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hay các quanđiểm khác, nguồn gốc quốc gia hay xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hay địa vị xã hội.
Ngoài ra, cũng không có bất cứ sựphân biệt nào về địa vị chính trị, pháp quyền hay quốc tế của quốc gia hay lãnh thổ mà một người xuất thân, cho dù quốc gia hay lãnh thổ đó được độc lập, đượcđặt dưới chế độ ủy trị, chưa tự quản hay có chủ quyền hạn chế.
Điều 3
Mọi người đều có quyền sống, tự do và an toàn cá nhân.
Điều 4
Không ai phải làm nô lệ hay bịcưỡng bức làm việc như nô lệ; mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ đều bị ngăn cấm.
Điều 5
Không ai bị tra tấn hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hay hạ thấp nhân phẩm.
Điều 6
Mọi người đều có quyền được thừa nhận tư cách là con người trước pháp luật ở khắp mọi nơi.
Điều 7
Tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau không có bất cứ sự phân biệt nào. Tất cả mọi người đều được bảo vệ như nhau chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử vi phạm Bản tuyên ngôn này cũng như chống lại mọi hành vi xúi giục phân biệt đối xử như vậy.
Điều 8
Mọi người đều có quyền được các toà án quốc gia có thẩm quyền bênh vực theo pháp luật trước những hành vi vi phạm các quyền cơ bản do hiến pháp hay luật pháp quy định.
Điều 9
Không ai bị bắt, giam giữ hay đày đi nơi khác mà không có lý do chính đáng.
Điều 10
Mọi người, với tư cách bìnhđẳng về mọi phương diện, đều có quyền được một toà án độc lập và vô tư phân xửcông bằng và công khai để xác định quyền, nghĩa vụ hoặc bất cứ một lời buộc tội nào đối với người đó.
Điều 11
Mọi người, nếu bị quy tội hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi một toà án công khai, nơi người đó dã có được tất cả những đảm bảo cần thiết để bào chữa cho mình, chứng minh được tội trạng của người đó dựa trên cơ sở luật pháp.
Không ai bị kết tội hình sự vì một hành vi hay sự tắc trách không bị coi là một tội hình sự theo quy định của luật pháp quốc gia hay quốc tế vào thời điểm đó. Cũng như không cho phép áp dụng hình thức xử phạt đối với một tội hình sự nặng hơn so với quy định của luật pháp lúc bấy giờ cho mức độ phạm tội cụ thể như vậy.
Điều 12
Không ai bị can thiệp một cách độc đoán đối với cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hay thư tín của cá nhân người đó cũng như không bị xâm phạm tới danh dự và uy tín. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại những hành vi can thiệp hoặc xâm phạm như vậy.
Điều 13
Mọi người đều có quyền tự dođi lại và cư trú trong phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia.
Mọi người đều có quyền rời khỏi bất cứ nước nào, kể cả nước mình, cũng như có quyền trở về nước mình.
Điều 14
Mọi ngườiđều có quyền tìm kiếm và được lánh nạn ở những nước khác khi bị ngược đãi.
Quyền này không được áp dụng trong trường hợp đương sự bị truy tố vì những tội không mang tính chất chính trị hay vì những hành vi đi ngược lại mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.
Điều 15
Mọi người đều có quyền nhập quốc tịch của một nước nào đó.
Không ai bị tước đoạt quốc tịch của mình hay bị khước từ quyền được thay đổi quốc tịch của mình mà không có lý do chính đáng.
Điều 16
Nam hay nữ đến tuổi thành niên đều có quyền hôn nhân và xây dựng gia đình mà không có bất cứ một hạn chế nào vềchủng tộc, quốc tịch hay tôn giáo. Họ có quyền bình đẳng trong việc kết hôn, trong cuộc sông vợ chồng và lúc ly hôn.
Việc kết hôn chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý hoàn toàn và tự nguyện của cả hai bên.
Gia đình là một đơn vị tự nhiên và cơ bản của xã hội và được xã hội và nhà nước bảo vệ.
Điều 17
Mọi người đều có quyền sởhữu tài sản của riêng mình hay chung với những người khác.
Không ai bị tước đoạt tài sản của mình một cách độc đoán.
Điều 18

Mọi người đều có quyền tự do suy nghĩ, ý thức và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hoặc tín ngưỡng dưới hình thức truyền bá, thực hành, thờ phụng hoặc lễ tiết, với tư cách cá nhân hay tập thể, công khai hay riêng tư.
Điều 19
Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bầy tỏ quan điểm; kể cả tự do bảo lưu ý kiến không phụ thuộc vào bất cứ sự can thiệp nào, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận, truyền bá thông tin và ý kiến bằng bất cứ phương tiện thông tin đại chúng nào và không giới hạn về biên giới.
Điều 20
Mọi người đều có quyền tự do họp hành và tham gia hiệp hội một cách hoà bình.
Không ai bị bắt buộc phải tham gia một hiệp hội nào.
Điều 21
Mọi người đều có quyền tham gia vào chính quyền của nước mình, một cách trực tiếp hay thông qua những đại diện được tự do lựa chọn.
Mọi người đều có quyền được hưởng các dịch vụ công cộng của đất nước mình một cách bình đẳng.
Ý chí của nhân dân là cơ sở tạo nên quyền lực của chính quyền; ý chí được thể hiện qua các cuộc bầu cử định kỳ và thực sự, theo nguyên tắc bỏ phiếu phổ thông và bình đẳng và được thực hiện qua bỏ phiếu kín hoặc qua các thủ tục bỏ phiếu tự do tương tự.
Điều 22
Với tư cách là thành viên của xã hội, mọi người đều có quyền được hưởng bảo hiểm xã hội cũng như được thực hiện các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá không thể thiếu đối với nhân phẩm và tự do phát triển nhân cách của mình, thông qua nỗ lực quốc gia, hợp tác quốc tế và phù hợp với hệ thống tổ chức và nguồn lực của mỗi quốc gia.
Điều 23
Mọi người đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn công việc, được hưởng điều diện làm việc công bằng và thuận lợi và được bảo vệ chống lại tình trạng thất nghiệp.
Mọi người đều có quyền được trảcông ngang nhau cho công việc như nhau, không có bất cứ sự phân biệt đối xửnào.
Mọi người đều có quyền được hưởng chế độ thù lao công bằng và thuận lợi đảm bảo cho sự tồn tại của bản thân và gia đình xứng đáng với nhân phẩm và được hỗ trợ thêm từ các hình thức bảo trợxã hội khác, nếu cần thiết.
Mọi ngượi đều có quyền thành lập và tham gia các tổ chức công đoàn để bảo vệ quyền lợi của mình.
Điều 24
Mọi người đều có quyền nghỉngơi và giải trí, kể cả quyền được hạn chế hợp lý về số giờ làm việc và hưởng những ngày nghỉ định kỳ được trả lương.
Điều 25
Mọi người đều có quyền được hưởng mức sống đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, vềcác mặt ăn, mặc, ở, y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết khác, cũng như có quyền được bảo hiểm trong trường hợp thất nghiệp, ốm đau, tàn tật, góa bụa, già nua hoặc thiếu phương tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vượt quá khảnăng kiểm soát của mình.
Các bà mẹ và trẻ em cần được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt. Tất cả trẻ em, sinh ra trong hoặc ngoài giá thú, đềuđược hưởng mức độ bảo trợ xã hội như nhau.
Điều 26
Mọi người đều có quyền được học hành. Phải áp dụng chế độ giáo dục miễn phí, ít nhất là ở bậc tiểu học và giáo dục cơ sở. Giáo dục tiểu học là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và chuyên nghiệp phải mang tính phổ thông, và giáo dục cao học phải theo nguyên tắc công bằng cho bất cứ ai có đủ khả năng.
Giáo dục phải hướng tới mục tiêu giúp con người phát triển đầy đủ nhân cách và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các quyền và tự do cơ bản của con người. Giáo dục phải tăng cường sự hiểu biết, lòng vị tha và tình bằng hữu giữa tất cả các dân tộc, các nhóm tôn giáo và chủng tộc, cũng như phải đẩy mạnh các hoạt động của Liên Hợp Quốc vì mục đích gìn giữ hoà bình.
Cha, mẹ có quyền ưu tiên lựa chọn loại hình giáo dục cho con cái.
Điều 27
Mọi người đều có quyền tự do tham gia vào đời sống văn hoá của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật và chia xẻ những thành tựu và lợi ích của tiến bộ khoa học.
Mọi người đều có quyền được bảo hộ đối với những quyền lợi về vật chất và tinh thần xuất phát từ công trình khoa học, văn học và nghệ thuật mà người đó là tác giả.
Điều 28
Mọi người đều có quyền được hưởng trật tự xã hội và trật tự quốc tế trong đó các quyền và tự do nêu trong Bản tuyên ngôn này có thể được thực hiện đầy đủ.
Điều 29
Mọi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ.
Khi thực hiện các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định, nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác cũng như đáp ứng những yêu cầu chính
đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
Trong bất cứ trường hợp nào, việc thực hiện những quyền và tự do này cũng không được đi ngược lại với những mục tiêu và nguyên tắc của Liên Hợp Quốc.
Điều 30
Không được phép diễn giải bất kỳ điều khoản nào trong Bản tuyên ngôn này theo hướng ngầm ý cho phép bất kỳ quốc gia, nhóm người hay cá nhân nào được quyền tham gia vào bất kỳ hoạtđộng nào hay thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm phá hoại bất kỳ quyền và tự do nào nêu trong Bản tuyên ngôn này.

Thiện Ý
Nguồn: UN Office of the High Commissioner of Human Rights

Bài Xem Nhiều