We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 30 December 2013

TÔI ĐÃ XEM : Tang lễ nhạc sĩ Việt Dzũng mà hồn tôi đau buốt

Điếu văn của MC Nam Lộc đọc trong tang lễ nhạc sĩ Việt Dzũng

Việt Dzũng ơi, Trời không làm ngơ đâu, có lẽ, ngài đã không nỡ để em chịu đựng mãi những hệ lụy của cuộc đời, tiếp tục vất vả, cực nhọc ngày này sang ngày khác, cố làm tròn trách nhiệm với quê hương. Oan nghiệt hơn nữa, là phải tiếp tục hứng nhận những đánh phá từ kẻ thù, cùng những tỵ hiềm, ganh ghét nhỏ nhoi nơi trần thế.
Sáng nay, rất đông đảo đồng hương và đại diện chính quyền của các thành phố ở Orange County, đã đến tham dự tang lễ của cố ca nhạc sĩ Việt Dzũng. Tang lễ của anh là một sự kiện rất đặc biệt, cho thấy cộng đồng Việt Nam thương mến anh thế nào. Số người tham dự đông đến mức khiến cô Julie - xướng ngôn viên đài truyền hình Little Sài Gòn - đã so sánh với “đám tang của một tổng thống.”

Và sáng nay, tại tang lễ, MC Nam Lộc đã đọc điếu văn bằng tiếng Việt và xướng ngôn viên truyền hình Mỹ – cô Leyna Nguyễn – đã chuyển dịch sang tiếng Mỹ.

Kính mời qúy độc giả đọc bài Điếu văn của MC Nam Lộc đọc trong tang lễ nhạc sĩ Việt Dzũng.

Kính thưa quý vị lãnh đạo tinh thần, quý vị trưởng thượng, đại diện các cơ quan đoàn thể, quý thân hào, nhân sĩ, quý vị đồng hương cùng toàn thể tang quyến đang có mặt ở đây ngày hôm nay để cùng ngậm ngùi chia tay và tiễn đưa một người con, một người chồng, một người anh, một người em, một người bạn và cũng là một nghệ sĩ của tự do, một nhà truyền thông đầy tâm huyết, cùng là một chiến hữu đồng hành với toàn thể cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản trên toàn thế giới, đến nơi an nghỉ cuối cùng sau gần 40 năm miệt mài tranh đấu để dành lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam.
Kính thưa quý vị, 2013 là một trong những năm mà Trời đã giáng nhiều tai họa xuống trần gian. Nào bão tố, lụt lội, động đất xảy ra nhiều nơi trên địa cầu. Đã gần cuối năm rồi mà ngài còn ráng mang đi vị cha già khả kính của dân tộc Nam Phi, cựu tổng thống Nelson Mandela, và chỉ hai tuần lễ sau đó Trời lại ghé qua miền Nam California dắt theo đứa con yêu dấu của cộng đồng người Việt tị nạn CS, đó là nhạc sĩ Việt Dzũng - người trong cơn đau cùng nhân thế đã từng hỏi: Trời cao xanh hay trời oan nghiệt. Trời có buồn hay trời chỉ làm ngơ?
Việt Dzũng ơi, Trời không làm ngơ đâu, có lẽ, ngài đã không nỡ để em chịu đựng mãi những hệ lụy của cuộc đời, tiếp tục vất vả, cực nhọc ngày này sang ngày khác, cố làm tròn trách nhiệm với quê hương. Oan nghiệt hơn nữa,  là phải tiếp tục hứng nhận những đánh phá từ kẻ thù, cùng những tỵ hiềm, ganh ghét nhỏ nhoi nơi trần thế. Và như nhà báo Hoàng Thu Dũng đã nói, em là “kẻ mang nặng những khổ đau cùng đất nước”, cho nên đã được Thiên Chúa cất gánh nặng ấy cho em, để Ngài trao lại cho thế hệ trẻ gánh tiếp. Hoặc cũng có thể được Đức Thích Ca lấy đó để tặng chúng sinh như một công án tu thân, rằng, hãy cố sống cho tử tế, danh vọng, địa vị hay tiền tài, rồi ra cũng sẽ mục rữa, tiêu tan vào cát bụi, vì đời là vô thường. Việt Dzũng từ bỏ cuộc sống này, không phải là anh đã chết, mà là về với với cái “Không”, về trong nỗi nhớ khôn cùng của mỗi chúng ta.
Kính thưa quý vị, Việt Dzũng bước vào đời ở tuổi 17, mang thân phận tỵ nạn cùng một trái tim yêu nước sâu xa. Thương kẻ bất hạnh và những người thiếu may mắn trên cuộc đời này. Từ tấm lòng mênh mang  đó, anh học tập, tôi luyện để viết nên những ca khúc tựa như những thông điệp nói về thân phận, cuộc đời của những người bị bức hại, hay phải chịu đựng cuộc sống đầy oan khiên đau khổ dưới sự cai trị của đảng CSVN, đồng thời kêu gọi tuổi trẻ vùng lên, đấu tranh cho một Việt Nam tự do, bình đẳng. Với hành trang vào đời đầy ngập lý tưởng trong sáng đó, cuối thập niên 1980, Việt Dzũng đã có mặt tại hầu hết các trại tỵ nạn ở Đông Nam Á, cùng sinh hoạt, chia sẻ, vận động và tranh đấu cho quyền tỵ nạn của những người Việt Nam phải bỏ nước ra đi lánh nạn Cộng Sản. Sau đó, cùng với các ca nhạc sĩ đồng chí hướng khác, thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, đem tiếng nhạc, lời ca đi hâm nóng nhiệt tình cứu nước khắp cùng thế giới.
Để tiếng nói mình được chú ý, được lắng nghe một cách rộng rãi hơn, vào đầu thập niên 1990, Việt Dzũng gia nhập ngành truyền thông, đầu tiên qua lãnh vực báo chí. Với một quyết tâm sắt đá, một trái tim nhân hậu cùng một giọng nói mộc mạc, chân thành, vào đầu năm 1993, Việt Dzũng cùng với Minh Phượng và Xướng Ngôn Viên Phạm Long hợp thành một  bộ ba nổi tiếng, hay còn gọi là "Les Trois Mousquetaires" tạo nên một làn sóng mới, giống như một cuộc cách mạng trong lãnh vực truyền thông, được thính giả khắp nơi mến mộ, qua làn sóng phát thanh của đài Little Saigon Radio. Đến cuối năm 1996 thì Việt Dzũng và Minh Phượng đứng ra thành lập Radio Bolsa hoạt động vững mạnh tới ngày hôm nay. Phải nói là cả hàng trăm ngàn người đã được nghe tiếng cười rộn rã của anh hợp cùng Minh Phượng vào buổi sáng mỗi ngày. Qua giọng nói truyền cảm, ngọt ngào, qua kiến thức rộng rãi cộng với khối óc thông minh, bén nhậy, Việt Dzũng đã trở thành một trong những người làm truyền thông chuyên nghiệp và đứng đắn nhất trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại, gặt hái được tất cả tình cảm nồng nhiệt của khán thính gỉa mến mộ. Với thành qủa đó, Việt Dzũng được Trung Tâm Asia mời cộng tác và anh đã mau chóng trở thành MC chính của trung tâm này. Nổi bật với khuôn mặt hiền hòa, duyên dáng và đôn hậu, khúc chiết và sâu sắc nhưng không thiếu dí dỏm trong lời giới thiệu của một người giầu kinh nghiệm khi đứng trên sân khấu, tất cả đã là những yếu tố tạo nên sự  thành công của anh trong vài trò này, từ đó, Việt Dzũng bước vào lãnh vực truyền hình một cách thật dễ dàng và vững chãi.
Tuy nhiên, như mọi người đã biết, Việt Dzũng không chỉ là một Xướng Ngôn Viên, một MC thuần tuý nghệ thuật, mà anh còn sử dụng diễn đàn sân khấu để vận động, đấu tranh cho tự do, dân chủ ở quê nhà, vạch trần những tội ác giả dối, điêu ngoa, bán đất, bán đảo, bán tài nguyên đất nước cho Trung Cộng của đảng CSVN, đồng thời kêu gọi đấu tranh đòi nhân quyền cho những người đang phải sống dưới chế độ CS độc tài, đảng trị, và đặc biệt hơn nữa, là hỗ trợ tinh thần chống Cộng, bảo vệ chủ quyền cho quê hương VN của những người yêu nước. Có thể nói Việt Dzũng là một trong số những chiến sĩ đứng ở ngay đầu chiến tuyến, hay như cách nói của nhà văn quân đội Phan Nhật Nam là "Nhất Kiếm Trấn Ải" để bảo vệ chính nghĩa quốc gia, bảo vệ lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ, cũng như cho thành trì văn hóa, nghệ thuật ở nơi được mệnh danh là "Thủ Đô Tỵ Nạn" của người Việt Quốc Gia, không bị nhuộm đỏ bởi đảng CSVN và tay sai Việt gian ở hải ngoại. Nhưng cũng chính vì thế, họ đã không ngớt đánh phá anh, dựng chuyện để bôi nhọ anh bằng đủ mọi thủ đoạn, với những lời lẽ rất thiếu văn hóa.
Có lần tôi đã đề nghị Việt Dzũng lên tiếng đính chính, hoặc trả lời những luận điệu xuyên tạc nói trên, Việt Dzũng chỉ mỉm cười, nói với tôi rằng: “Anh đã từng bảo em là: chỉ sợ mình làm điều sai lầm, chứ đừng sợ ai hiểu lầm! vậy nếu mình thấy không làm điều gì trái với lương tâm thì việc gì phải đính chính? Việt Dzũng nói tiếp: em học được một điều nơi Đức Phật dậy, đó là: “Oan ức, không cần biện bạch”.

Vâng, Dzũng nói đúng, em không cần biện bạch. Từ suốt một tuần lễ qua, hàng trăm tổ chức, hàng trăm ngàn người Việt thư đi, tin lại qua Internet trên thế giới đã nhỏ lệ khóc thương em, đặc biệt là sự hiện diện đông đảo của mọi người bên cạnh em hôm nay cũng như suốt mấy ngày qua, đã là những lời biện bạch mạnh mẽ nhất, hùng hồn nhất thay cho em.
Dzũng ơi, anh cứ ngỡ khi em nằm xuống là anh và Cộng Đồng Tị Nạn chúng ta, đã mất đi một người bạn đồng hành. Những người yêu nước cũng tưởng khi nhạc sĩ Việt Dzũng ra đi, có nghĩa là trái tim vì tự do đã ngưng đập… Nhưng có ngờ đâu, chỉ trong vòng 1 tuần lễ, anh thấy rằng, Người Việt Tị Nạn CS chúng ta, đã có hàng trăm ngàn người bạn đồng hành khác, cùng chung một chí hướng và một lý tưởng như em bỗng xuất hiện. Cộng đồng người Việt chúng ta tại hải ngoại cũng như ở trong nước, đã có hàng triệu con tim yêu tự do cũng đã, đang và sẽ đứng lên, cùng tiếp tục thực hiện những mộng ước mà em còn dang dở. Tinh thần Việt Dzũng cùng ngọn lửa đấu tranh, vẫn sống mãi trong lòng tất cả mọi người quý mến em.
Vậy nghe! Việt Dzũng ơi, hãy bình tâm và ngủ yên em nhé. Hãy hát lên cho mọi người cùng nghe nhạc phẩm “Khi Chúa Thương, Chúa Gọi Tôi Về, Lòng Tôi Hân Hoan”.

Chúng ta hãy biến tiếc thương, sầu não thành mừng vui cho Việt Dzũng được thấy dung nhan Thiên Chúa, sum họp cùng Cha trên Trời vào mùa Giáng Sinh này.
Vĩnh biệt Việt Dzũng .

BBT nhật báo Cali Today
http://www.baocalitoday.com/vn/tin-tuc/cong-dong/dieu-van-cua-mc-nam-loc-doc-trong-tang-le-nhac-si-viet-dzung.html

---------------------------

Để tưởng niệm và vinh danh nhạc sĩ Việt Dzũng, người chiến sĩ, người con yêu của dân tộc Việt Nam. Con đường anh đi sẽ được tiếp tục. Việt Nam sẽ tới đích tự do. Anh mãi mãi là ánh sao soi đường, và sẽ sống mãi trong trái tim chúng tôi, những con dân Việt Nam hôm nay và ngày mai.

Chúc an giấc, anh Việt Dzũng.



Xin bấm vào link để xem video / và phổ biến rộng rãi

Các cơ quan truyền thông, blog, Website có thể xử dụng hình ảnh và video
Public Domain Blog please fell free to distribute 
Phạm Hòa / NKT

Việt Dzũng (1958-2013) Hình Ảnh Thánh Lễ và Lễ An Táng 12/30/2013 Huntington Beach, California U.S.A.

Việt Nam người Việt phát minh

Những sáng tạo 'độc nhất thiên hạ' 

của người Việt

Người Việt Nam có những sáng tạo độc đáo khiến nhiều ngước phải tròn mắt, há hốc mồm khi nhìn thấy.



Xe tay ga đời mới?



Hệ thống làm mát hiện đại.



Không sợ mưa nắng.



Cao thủ quay bài là đây!



Siêu xe đạp?



Ống xả cho vùng ngập nước.



Vừa thơ mộng, lại không sợ mưa.



Xe ôm - Anh này chắc rất giỏi Vật lý.



Giường ngủ di động.



Xe ô tô đời mới.



Thế này có kém gì ô tô.



Tuyệt chiêu khi vào bếp.



Không có tiền mua iPhone, chơi chém hoa quả trên giấy cũng vui.



Cái khó ló cái khôn.



Ngạc nhiên chưa?



Chỗ ngồi quá thoải mái.

----------

NƯỚC TÔI CHẬM TIẾN





Nước tôi sao thấy quá già!

Bốn ngàn năm lẻ vẫn là ngây ngô

Kiểu ăn, kiểu nói thô sơ

Như đứa con nít mới vừa lớn lên

Trẻ, già suy nghĩ lền khên

Chỉ lo ích kỉ mà quên giống nòi

Trẻ con thì thích chơi chòi

Mới vừa nứt mắt đã đòi rượu, bia

Trung niên, già uống đến khuya

Đàn bà cũng uống lia chia thua gì

Nhậu rồi cá cược thiệt lì

Đánh đến cầm, bán nhà đi, hài lòng!

Đàn bà nhẫn, xuyến vàng vòng

Nướng vào chiếu bạc, đừng hòng thoát ra

Khi thua dù có mồ cha

Bán được cũng bán, gỡ hòa may ra

Mười lần thua bảy, được ba

Dần dà thua hết hóa ra nợ nần

Nước tôi, dân sáng, không đần

Nhưng thiếu suy nghĩ, dần dần thành ngu

Bảy mươi năm, số chuột chù (1)

Đánh thuê, gác mướn, kẻ thù trên lưng

Học hành khủng khủng,  tưng tưng (2)

Có trường, có lớp nhưng không ra hồn

Nói vài câu, có vẻ khôn

Đi sâu khoa học, thì luôn mịt mờ

Người ta chế tạo đủ đồ

Còn mình một cái kim thô chưa làm

Nói thì hoang phét thành thần

Cái đầu dốt nát thật đần, thật ngu

Trẻ đi học vẫn phải đu

giây qua con suối, lu bu rớt liền 

Thày giáo nhảy xuống kiếm tìm

Nước trôi đi mất, cánh chim phương trời

Cha mẹ em,  khóc đứng ngồi

Thương em bạc phận, trời ơi, đau lòng!



Nước tôi số kiếp long đong

Ngàn năm có sống vẫn vòng "chậm tiêu"!

Chán thay cái não tiêu điều

Ngàn năm chậm tiến, hiêu hiêu tự cường!

30-12-2013

Bút Xuân Trần Đình Ngọc

(1) từ 1945 (2) lãng trí, cù lần, khùng điên.

Bài này khg ám chỉ hết mọi người Việt mà chỉ đa số như thực tế!

Lạy Chúa : Con muốn làm người lính VNCH được phủ cờ lúc lìa đời !!!

         Quốc kỳ và quốc ca VN <khác với cờ maú, cờ đảng csVN> là biểu tượng tinh thần là hồn thiêng sông nuí cuả mọi người dân Việt không cộng sản noí chung,là cuả toàn dân quân cán chính VNCH không phaỉ cuả riêng QL/VNCH, nghi lễ phủ cờ cho chiến sĩ trận vong không có nghiã là nguyên tắc áp dụng cho moị người VN , hiện nay trong mặt trận không tiếng súng những ai đấu tranh dưới mầu cờ vàng cho dân tộc được tập thể người Việt QG công nhận TổQuốc ghi ơn đều có quyền hưởng vinh dự phủ cờ,kính góp ý,
PhùVân.
-----------

Tâm nguyện của tôi


Kính thưa Quý Vị

Trong nhà có 5 cây cờ Vàng ở 3 nơi: phòng khách, phòng giải trí, phòng học thì 3 lá cờ. Trên nóc nhà thì có cờ Vàng. Xe thì có 2: một ở kiếng sau xe, một ở kiếng trước cho mọi người thấy. Lá cờ Quốc Gia VNCH đã theo vận nước từ năm 1975 nhưng ở đâu có người Việt, ở đó có cờ Vàng. Cá nhân tôi từng hạ cờ VC ở những văn phòng,  trường học, trung tâm giữ trẻ đồng thời mỗi lần hạ là mỗi lần cờ Vàng được treo lên, như ở trung tâm giải trí có số người thăm viếng đông đảo nhất nước Úc - Gold Coast. Trường tiểu học với hơn 200 lá cờ Vàng trong ngày lễ sống vui vẻ hòa đồng, Harmony Day. Đó chỉ là vài  trong nhiều trường hợp hạ cờ đỏ vương cao cờ Vàng tại Brisbane.

Từ lúc sinh ra đời, 18 năm dưới chế độ VC, tôi không  thấy lá cờ VNCH, chỉ thấy trong 1 vài hình ảnh năm xưa của gia đình còn sót lại sau ngày đen tối 30/4. Từ khi vưọt biển tới Thái Lan, tôi thấy cờ Vàng trong các buổi lễ trong trại tị nạn và như trong tiềm thức của tôi, đó là lá cờ của tôi của đồng bào miền Nam.

Chắc chắn, tôi không là lính, tôi không bị thương hay sống sót vì nhiệm vụ bảo vệ ngọn cờ được cắm lại trong vùng bị chiếm, tôi sẽ không được đặc quyền phủ cờ khi chết, tôi không được cái niềm vinh hạnh Tổ Quốc Ghi Ơn nhưng không có nghĩa là tôi không được quyền yêu lá cờ Vàng của tôi, không có nghĩa là tôi không được quấn xác bằng lá cờ Vàng của tôi khi tôi chết.

Tôi viết những dòng chữ này như một di nguyện, nếu chẳng may tôi có chết vì bất cứ lý do gì tôi muốn lá cờ Vàng sẽ quấn xác tôi. Vì:

1. Tôi yêu lá cờ Vàng,  với tôi là vật thiêng liêng. Sống: nâng niu tôn kính, chết: mang theo. Lá cờ này không của riêng ai. Có nhiệm vụ truyền lại cho con cháu.

2. Đó là lá cờ tôi đã tranh đấu, thuyết phục để các cơ quan văn phòng trường học treo lá cờ này nếu có những sinh hoạt liên quan đến người Việt hải ngoại.

3. Tôi tranh đấu để giương cao biểu tượng cờ Vàng, tôi quảng bá cờ Vàng đến chính phủ Úc, ( ở cả 3 cấp chính phủ Úc tôi đã trao tận tay bà Julia Gillard lúc đó là đương kim Thủ Tướng Úc đã tiếp nhận, đến ông Chủ Tịch Quốc Hội Tiểu Bang Queensland, đến Nghị Viên Milton Dick)

4. Tôi không là lính VNCH, tôi tôn trọng lễ nghi quân cách nhưng điều đó không áp dụng cho tôi. Tôi muốn được quấn xác phủ cờ vì tôi là con dân VNCH.

5. Tôi đã mất Tổ Quốc, thân xác tôi không được chôn trong lòng đất mẹ, lá cờ Vàng là đất mẹ của tôi, vì vậy tôi muốn lá cờ quấn xác tôi, phủ quan tài của tôi như thể tôi được ôm trong vòng tay của đất mẹ, hoàn toàn không phải vì Lễ Nghi Quân Cách.

Đây cũng là lời cảnh báo đến những người độc đoán. Tôi tôn trọng ước nguyện, nguyên tắc của những người đó không có nghĩa là tôi không được mãn nguyện hoài bão của tôi. Lễ Nghi Quân cách của các vị, xin các vị cứ giữ lấy, tôi sẽ trân trọng. Ước nguyện, hoài bão của tôi, tôi phải được. Không một ai có thể lấy cờ Vàng ra khỏi tôi từ thể xác đến tinh thần. Không ai có quyền cấm cản xương cốt của tôi được hòa tan theo lá cờ Vàng Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi lập lại 1 lần nữa: tôi đã mất Tổ Quốc, thân xác tôi không được chôn trong lòng đất mẹ, lá cờ Vàng là đất mẹ của tôi, vì vậy tôi muốn lá cờ Vàng quấn xác tôi, phủ quan tài của tôi như thể tôi được ôm trong vòng tay của đất mẹ.

Kính

Tuan Le
---

----


NGUYỆN ƯỚC CUỐI CÙNG
  Khi tôi chết, điều mà tôi ước nguyện Lá cờ vàng xin phủ áo quan tôi Bởi vì tôi từ thuở biết yêu đời Đã tha thiết yêu màu cờ dân tộc   Màu cờ ấy biểu trưng cho nòi giống Là hồn thiêng tổ quốc Việt Nam tôi Là anh linh xương máu tự bao đời Là đại diện cho tinh thần, lý tưởng   Màu cờ ấy, màu ba miền đất nước Màu tự do, màu nhân bản, yêu thương Dưới màu cờ, tôi có một quê hương Dân được sống với nhân quyền, hạnh phúc   Cờ hạ xuống, quê tôi đầy tủi nhục Dân căm hờn nhìn nước mất nhà tan Thấy dân lành trong áp bức dã man Tim tôi đập những nhịp đời thống khổ   Tôi đã than những lời đau của gió Đã thở dài đất thở tiếng ưu tư Những hồn thiêng từ các nẻo âm u Đã nghiêng xuống thơ tôi, dòng tâm sự   Hồn tôi đấy, đau chung hồn quốc sử Máu từng dòng theo lệ chảy thành thơ Nhịp tim buồn thao thức đập bơ vơ Sẽ ấm lắm khi cờ vàng tươi lại   Dẫu tôi chết, hồn tôi còn sống mãi Xin một lần cờ phủ áo quan tôi Vì tình yêu từ thuở chớm đôi mươi Đã miên viễn thăng hoa cùng lẽ sống   Đấy, duy nhất, một điều tôi ước vọng Rất hồn nhiên, xuất phát tự lòng tôi Lá cờ vàng dân tộc qúy yêu ơi Sẽ muôn thuở huy hoàng trên đất Việt  .
Đỗ Minh Giang




 AI XỨNG ĐÁNG ĐƯỢC PHỦ QUỐC KỲ VNCH
TẠI HẢI NGOẠI ?
                                                                                                            
Trong  lễ tưởng niệm ca nhạc sĩ đấu tranh Việt Dzũng ngày 28-12-2013 tại Nam California, việc nên hay không  nên phủ quốc kỳ VNCH  trên quan tài của anh Việt Dzũng đã tạo ra một cuộc tranh cải.
Nhóm ủng hộ việc phủ quốc kỳ VNCH  trên quan tài của anh Việt Dũng cho rằng là đây là điều làm theo ý nguyện của người quá cố , để tôn vinh và ghi nhớ  những gì mà anh Việt Dzũng đã đóng góp cho cộng đồng qua những cuộc đấu tranh cho nhân quyền, tự do cho Việt Nam trong suốt cuộc đời của anh.
Nhóm phản đối việc phủ quốc kỳ VNCH cho anh Việt Dzũng cho rằng việc phủ quốc kỳ là chỉ dành cho các quân nhân tử trận, hy sinh vì tổ quốc. Anh Việt Dzũng không là quân nhân của QLVNCH thì không xứng đáng được phủ quốc kỳ VNCH.
Chính vì có cuộc tranh luận trên đã khiến cho thân mẫu của anh Việt Dzũng là giáo sư Nguyễn Thị Nhung đã đưa đến quyết định là không phủ quốc kỳ VNCH trong tang lễ của con mình.Lý do của giáo sư Nhung qua lời trình bày của ca nhạc sĩ Nam Lộc đưa ra: Luật phủ cờ có sự khác biệt giữa quốc gia Hoa Kỳ và VNCH. Chính phủ Hoa Kỳ cho phép bất  cứ một cá nhân nào dù quân nhân hay dân sự, nếu có công trạng với đất nước, thì khi người đó nằm xuống người đó sẽ nhận được vinh dự “phủ cờ” . Nhưng đối với chính thể VNCH thì luật lệ được ghi rõ ràng : “ Lễ nghi quân cách” nầy chỉ dành cho quân đội mà thôi, đồng thời chỉ có những người hy sinh vì tổ quốc mới nhận được vinh dự đó. Bà cho biết thêm, mặc dù con trai của bà , nhạc sĩ Việt Dzũng là một nhạc sĩ chống Cộng, luôn luôn đi tiên phong trong những cuộc tranh đấu cho tự do, dân chủ  cũng như bảo vệ chính nghĩa quốc gia cùng lá Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ. Tuy nhiên, Việt Dzũng không ở trong quân đội, cho nên để giữ đúng nguyên tắc và tôn trọng luật lệ, vì thế bà và gia đình đưa ra quyết định nói trên và đó là lý do duy nhất mà gia đình xin phép được miễn nghi thức “Phủ Cờ.”.
Bài viết nầy chúng tôi hy vọng với những sự kiện đã xảy ra cũng như qua sự tham khảo về nghi lễ phủ quốc kỳ  của Hoa Kỳ , của VNCH trước đây và hoàn cảnh hiện nay của cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng Sản, mọi người sẽ có một cái nhìn đứng đắn và sáng suốt hơn về việc phủ quốc kỳ VNCH trên quan tài của người quá cố.
Như tất cả mọi người đều biết, quốc kỳ là một biểu tượng cao quí của  quốc gia và dân tộc. Dân tộc của mỗi quốc gia bao gồm mọi giới Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh. Việc bảo vệ và xây dựng quốc gia không đơn thuần trông cậy vào một thành phần nào trong xã hội mà phải trông cậy vào tòan thể mọi giới, mọi người dân. Vì thế, việc phủ quốc kỳ trên quan tài của người quá cố là một hành động để ghi công về những việc làm ,những đóng góp của người quá cố đối với quốc gia.
Theo nghi lễ của Hoa Kỳ, việc phủ quốc kỳ trên quan tài là một hành vi danh dự được dành cho các quân nhân tử trận, hy sinh vì công vụ, cho các cựu quân nhân, các nhà ái quốc và cho các viên chức cao cấp tại cấp tiểu bang và liên bang của Hoa Kỳ.
Điều đó  cho chúng ta thấy rõ, việc phủ quốc kỳ Hoa Kỳ không phải là việc làm đơn thuần  dành riêng cho các quân nhân tử trận hoăc hy sinh vì công vụ. Đại tướng Mc Arthur dù một cựu quân nhân,  không hy sinh tại mặt trận, nhưng khi ông qua đời đã được hưởng nghi thức phủ cờ để ghi ơn những chiến công hiển hách của ông trong thời đệ nhị thế chiến chống Nhật và trận chiến Triều Tiên chống lại Cộng sản Bắc Hàn và Trung Cộng. Các vị tổng thống , nghị sĩ, dân biểu tên tuổi của Hoa Kỳ, dù không là quân nhân, nhưng trong tang lễ của các vị nầy đều có nghi thức phủ cờ. Tiến sĩ Luther King, nhà tranh đấu cho quyền lợi người Da Đen , dù không là quân nhân, nhưng lúc qua đời, quan tài của ông đã được làm lễ phủ quốc kỳ một cách trang trọng.
Tại miền Nam VN trước đây trong cuộc chiến tranh khốc liệt với quân Cộng Sản Bắc Việt,  nhiều quân nhân đã hy sinh. Hình ảnh phủ cờ cho các quân nhận tử trận tại các nghĩa trang quân đội đã là hình ảnh quá quen thuộc đối với mọi người dân. Chính vì thế, nhiều người đã lầm tưởng rằng, việc phủ quốc kỳ VNCH chỉ dành riêng cho các quân nhân tử trận. Thật ra, chính  phủ VNCH không có quyết định hạn hẹp như thế. Nhiều cựu quân nhận hay nhiều viên chức hành chánh cũng đã được hưởng lễ phủ cờ .Đặc biệt , trong biến cố Tết Mậu Thân năm 1968, Cộng Sản Bắc Việt đã dã man giết và chôn tập thể gần 5000 người dân vô tội tại cố đô Huế. Sau khi tìm ra được thi hài các nạn nhận, chính tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho phủ quốc kỳ VNCH trên tất cả các quan tài của các nạn nhân không phân biệt quân, dân, cán, chính, đàn ông, đàn bà hay trẻ em.Việc làm nầy chính là hành động để xác định căn cước hàng ngàn nạn nhận là công dân của chế độ VNCH, đồng thời cũng nói lên hành vi dã man của chế độ bạo tàn Cộng Sản Hà Nội.
Sau ngày quốc hận 30-4-1975, hàng triệu người Việt Quốc Gia đã liều mình bỏ nước ra đi tỵ nạn cộng sản để tìm đời sống tự do tại nhiều quốc gia trên thế giới. Cộng đồng người Việt hiện nay tại hải ngọai đã lên đến gần 3 triệu người.
Trong hòan cảnh sống tỵ nạn hiện nay của người Việt Quốc Gia, quê hương yêu dấu của chúng ta đã bị bọn CSVN, tay sai của Trung Cộng cưỡng chiếm, chúng ta đã không còn chính phủ để điều hành, không còn quốc hội để làm luật và không còn một cơ cấu tư pháp để phân xử ai. Nhưng chúng ta chỉ còn lại hai biểu tượng thiêng liêng là Quốc Kỳ VNCH và bài Tiếng Gọi Công Dân làm Quốc Ca cùng một tấm lòng yêu quê hương tha thiết và một ý chí kiên trì đấu tranh cho một nước Việt Nam được vẹn toàn lãnh thổ, tòan dân được hạnh phúc, ấm no dưới một chế độ , dân chủ, tự do tôn trọng nhân quyền.
Vũ khí đấu tranh hiện nay của cộng đồng người Việt Quốc Gia tại hải ngọai, biện pháp dùng quân sự khó thực hiện. Chính vì thế, phương cách đấu tranh hữu hiệu chính là bao gồm trên mọi lãnh vực. chính trị, vận động ngọai giao, truyền thông, văn hóa, kinh tế, tôn giáo,tài chánh v.v..Mọi mũi dùi tấn công bọn độc tài CSVN đều đáng được ca ngợi và vinh danh.
Bọn CSVN ngày nay không còn sợ phương cách đấu tranh bằng quân sự do cộng đồng người Việt Quốc Gia khởi xướng, vì chúng biết việc làm nầy chúng ta không thực hiện được. Nhưng chúng lo ngại cuộc đấu tranh của người Việt Quốc Gia trên các lãnh vực chính trị, kinh tế, tài chánh ,văn hóa và truyền thông . Chúng ra sức chia rẽ mọi đòan thể, mọi đảng phái, mọi tôn giáo để làm suy yếu sức mạnh đoàn kết của tập thể người Việt Quốc Gia.Nhất là chúng tìm mọi cách để triệt hạ Quốc Kỳ VNCH cùng  Quốc Ca là hai biểu tượng cao quí nhất của tập thể người Việt Quốc Gia .
Chính vì thế, nếu với quan niệm việc phủ Quốc Kỳ chỉ dành cho các quân nhận QLVNCH tử trận, thì chúng tôi e rằng việc nầy rất khó xảy ra trong tình trạng chúng ta sinh sống tại hải ngọai hiện nay.Và từ đó, việc phủ quốc kỳ VNCH sẽ bị chấm dứt và lá quốc kỳ VNCH mãi sẽ không còn  nhìn thấy trong các tang lễ của người Việt tỵ nạn.
Chúng tôi tin rằng, hàng triệu quân nhân  QLVNCH yêu nước và sáng suốt phải nhận thức rằng, trong cuộc đấu tranh chống Cộng Sản Bắc Việt, quân đội không là lực lượng đấu tranh duy nhất của miền Nam VN. Các quân nhận QLVNCH cần có một hậu phương yểm trợ vững mạnh do nhiều người đóng góp. Con em của các quân nhân cần có trường sở, thầy giáo dạy dỗ. Cha mẹ, vợ con của các quân nhân cần được sống trong một xã hội an bình với một nền kinh tế vững mạnh do những viên chức hành chánh tài năng quản trị  v.v.
Chính vì thế, trong gần 39 năm sống lưu vong tỵ nạn cộng sản, việc duy trì hai biểu tưởng Quốc Kỳ VNCH và Quốc Ca là việc làm cần thiết nếu không muốn nói là để tránh bị tiêu diệt . Cuộc đấu tranh của tập thể người Việt Quốc Gia cho một cộng đồng VN vững mạnh và cho quê hương VN được tự do, dân chủ là công việc chung cho mọi người .Chúng ta phải bỏ đi mọi ý nghĩ tỵ hiềm cá nhân nông nổi, quan niệm chật hẹp lỗi thời làm nãn chí mọi người Việt QG và nhất là giới trẻ yêu nước muốn dấn thân đấu tranh.
Chúng tôi vững tin sự hy sinh của anh Trần Văn Bá từ Pháp về nước đấu tranh với cộng sản. Việc cả đời đấu tranh cho đất nước của giáo sư Nguyễn Ngọc Huy là những việc làm yêu nước đáng ngưỡng mộ và quan tài của họ đáng được hưởng lễ phủ quốc kỳ VNCH.
Việc chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, tư lệnh binh chủng Nhảy Dù, đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng QLVNCH khi từ trần đã không có lễ phủ cờ là do ý tưởng trách nhiệm đối với đất nước của hai vị tướng nầy nghĩ rằng họ đã không làm tròn được phận sự giữ được miển Nam VN.
Do đó, trừ đi ý nguyện của người quá cố , trừ những người phản bội lại chính nghĩa Quốc Gia, can tâm làm tay sai của tập đòan lãnh đạo CSVN, những kẻ chủ trương hòa hợp với CSVN thiết nghĩ việc phủ quốc kỳ VNCH cho các quân, dân, cán chính, những thanh niên trẻ yêu nước đấu tranh cho cộng đồng, cho quê hương là một việc đáng làm và để chống lại âm mưu của bọn Cộng Sản Bắc Việt nhằm tiêu diệt quốc kỳ VNCH thân yêu của chúng ta vậy./.
                                                                                                                        

 NGUYỄN VẠN BÌNH

Saturday, 28 December 2013

Sài Gòn nhìn lại 50 năm : “Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống, Giải oan cho cuộc biển dâu này.”

Sài Gòn: nhìn lại 50 năm, 1963-2013

ykhoasaigon6673ATgmail.com
“Chút rượu hồng đây, xin rưới xuống,
Giải oan cho cuộc biển dâu này.”
(Ta về – Tô Thùy Yên)
“Đất nước hôm nay chứng kiến sự băng hoại của cả một xã hội cũ trong cái hào nhoáng mới hình thành. Con người đã thay đổi quá nhiều, đức tính thành thật trong giao tiếp hàng ngày gần như đã mất. Các giá trị tinh thần được đánh giá dần dần bằng các thước đo vật chất.
Có nhiều dấu hiệu cho thấy lý tưởng thanh niên đang bị lung lay không có chỗ dựa. Người ta có thể vội vàng nhận xét nhóm người tuổi trẻ hôm nay chỉ sống vội, ồn ào, theo đuổi vật chất, và gần như vô cảm. Nhưng thật sự họ là những người cô đơn nhất. Một đất nước có thống kê chỉ rõ tuổi trung bình là 24, và 65% dân số dưới tuổi 35, nhưng lại ít chú ý chăm sóc giới trẻ nhiều tiềm năng đó qua giáo dục và phát triển tinh thần.
Hiện trạng của đất nước không tạo được cảm hứng hay nuôi dưỡng các ý tưởng phục vụ cho thế hệ trẻ hôm nay. Tương lai với họ như thiếu chắc chắn, vì các giá trị dân chủ, công bằng và nhân ái cần thiết cho một xã hội hiện đại đều thiếu vắng. Ngay cả sự tiến bộ kinh tế, điểm sáng của hai mươi năm qua, cũng đang trở thành mong manh tạm bợ.
Tăng trưởng đã chậm lại rõ rệt từ vài năm nay do sự bế tắc chính sách, điển hình nhất là do sự chi phối của các bè nhóm vì lợi ích riêng tư. Đồng thời phẩm chất cuộc sống đi xuống, nhiễm độc môi trường và thức ăn trở thành mối đe dọa trực tiếp hàng ngày cho đời sống của mọi giai tầng xã hội. Trên tất cả, nền kinh tế bị đe dọa sụp đổ từ 2 năm nay, khi quả bong bóng bất động sản và hệ thống ngân hàng có thể vỡ bất cứ lúc nào với mức nợ xấu quá mức chịu đựng, nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp cấp thời. Nợ xấu khổng lồ làm tê liệt hệ thống tín dụng ngân hàng và gánh nặng nợ công lớn không kém hình như đang được đẩy cho các thế hệ tương lai gánh chịu, với sự dồn món nợ công hiện tại thành những món nợ lớn tương lai qua giải pháp phát hành trái phiếu công dài hạn.
Nhiều người bàn đến các giải pháp kinh tế xã hội ngắn hạn. Nhưng trong con mắt chuyên viên, khó có thể có một ‘quick fix’ (sửa chữa nhanh) hay ‘a sugar high’ (một ảo tưởng), mà phải là những thay đổi thể chế và chính sách kinh tế cơ bản dài hạn, tái lập các giá trị nhân văn căn bản qua giáo dục và hướng dẫn cho tuổi trẻ.
Thế hệ trẻ không thể không biết và thờ ơ với viễn ảnh tương lai đó. Thiếu niềm tin, họ đang trả lời bằng sự chán chường những giá trị sống hiện tại, dồn đam mê đời sống vào các mác xe máy đắt tiền và những chiếc điện thoại smart thời trang, tỏ lộ hừng khí tuổi trẻ đơn giản bằng các cuộc đua xe tốc độ hay, khá hơn, diễn tả lòng yêu nước bằng cổ vũ chiến thắng bóng đá cuồng nhiệt trong các trận ‘thư hùng’ với các đội quốc gia vùng.
Nhưng mùa hè năm nay chợt thành ngột ngạt thêm vì những biến cố thời cuộc, và sự sôi sục của cả thế hệ thanh niên muốn nói lên tiếng nói yêu nước của mình. Cùng lúc các ức chế xã hội cộng thêm những khó khăn về đời sống hàng ngày hình như đã góp phần gây thêm những tội phạm xã hội ngày càng cao hơn, cho các dấu hiệu của một xã hội đang trên đà xuống dốc trầm trọng.
Trong bối cảnh đó, người viết chỉ còn biết tìm đến một dòng sông nhỏ, hay một chiều đi dạo trời mưa dưới những hàng me lá đổ, vẫn còn cố tìm về quê hương trong tâm tưởng, dù thời gian có trôi qua và các khuôn mặt cũ đã khuất bóng. Và chợt cảm thấy hạnh phúc muốn dừng ở đó, vì các thay đổi lớn khác sẽ phải đến, những con người, những định chế cũng sẽ theo luật thời gian.
Nhưng quê hương vẫn còn đó, là dòng sông Hồng, là nhánh Cửu Long, là Hương giang, và ở đâu dòng nước đó vẫn lặng lờ trôi, lòng có thể tĩnh lặng nhận biết mình vẫn thuộc về nó: một quê hương không bao giờ mất, một dân tộc sẽ mãi trường tồn bên những biển dâu, riêng tuổi trẻ hôm nay sẽ tìm lại được niềm tin như các thế hệ đàn anh của thuở nào…”
——-
Bài này tập hợp nhiều đoạn văn rời và ngắn, cốt đi kèm nhiều hình ảnh thu thập từ mùa hè 1963 lúc nhóm người viết ở các lớp Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6-10 bây giờ), mới lên ghế trung học hay sửa soạn vào đời trong bầu không khí dầu sôi lửa bỏng của chính trị miền Nam do biến cố Phật giáo. Và kéo dài đến bây giờ, mùa hè 2013, lúc người viết đã chạm tuổi hưu trí bắt buộc trong bối cảnh Việt Nam, qua cơn dâu bể lớn nhất khi Saigon đã đổi tên đổi chủ.
Nhưng hơn thế, bài này mong ghi lại những mảnh đời, trong một thời gian dài của thế hệ lớn lên ở miền Nam trong hai hoàn cảnh và ở hai không gian hoàn toàn khác biệt. Bài viết cũng nhằm ghi lại vài nét chấm phá cho những bức ảnh lịch sử, ghi nhận vài sự kiện tuy không tránh khỏi chủ quan, nhưng không có ý phán xét, phê bình hay lý luận sâu sa.
Thế hệ đó nay thuộc vào giới trung niên. Vì đã lớn lên trong chiến tranh ở miền Nam, thuở niên thiếu đã mang nặng hình ảnh và day dứt của cuộc chiến, không có được những bình yên trong ý nghĩ tuổi thơ hay cái hồn nhiên mê đá bóng hay đua xe máy như lớp thiếu niên cùng thành phố lớn lên sau này ở quê nhà. Những ám ảnh về cuộc chiến trở thành một hành trang nặng nề lúc ra đi sống ở nước ngoài trong một thời gian dài. Vì thế luôn ấp ủ chút kỷ niệm đẹp về tuổi thơ ở quê nhà, nâng niu từng hình ảnh với người thân trong gia đình và bạn bè bằng hữu lúc còn sống ở đó.
Ra đi và sống ở nhiều nước trên thế giới: Canada, Mỹ, Pháp và vài nước khác do công việc đòi hỏi. Nhưng tâm tư vẫn luôn quay về chốn cũ, hoài niệm những tia nắng ấm quê hương trong cái giá buốt của tuyết lạnh Bắc Mỹ, nhớ lại những dòng sông nơi quê nhà mỗi lần đứng bên dòng St-Laurent ở Quebec hay dòng Potomac chảy qua Washington, D.C, ngay cả lúc sang đến tận Phi châu làm việc, chịu cơn nóng thiêu đốt vì thiếu mưa, vẫn còn bâng khuâng nhớ đến những cơn mưa dài của Sài Gòn thuở nào.
Người viết cũng đã ghi lại nhiều hình ảnh xứ người bằng văn chương, nhưng lại chủ ý ghi dấu tâm tư so sánh với quê nhà, tựu chung cũng là để “tìm lại khoảng thời gian đã mất”, như Marcel Proust đã viết. Đôi khi hơi thiếu khách quan vì đã ca tụng quê hương mình thái quá .
Thế hệ trên tương phản với các thanh niên bây giờ ở quê nhà, sinh ra và lớn lên sau cuộc chiến tranh Quốc Cộng. Những lớp trẻ mới này phần lớn không còn mang chút dấu vết gì về cuộc chiến, sống thuở thơ ấu vô tư của một đất nước thanh bình và trưởng thành trong một xã hội tương đối bắt đầu no đủ, suốt ngày nghe các phương tiện truyền thông nhắc nhở chuyện hội nhập quốc tế. Họ luôn ôm những khao khát trông nhìn ra thế giới bên ngoài, giờ đây nhờ vào những tiến bộ khoa học, các mạng lưới tin học phổ cập khắp toàn cầu, thêm vào tin tức thế giới được cập nhật hóa từng phút qua các kênh mạng thông tin. Rồi nhờ các cơ hội nghề nghiệp, được thỏa mộng viễn du qua các chuyến công tác, để từ đó luôn ghi vội hình ảnh những chuyến đi, con người đã gặp, những gì đã thấy đã nghe. Và trong cái sôi nổi được thấy cảnh mới người lạ, cùng óc cầu tiến của người trẻ, thấy cái gì của bên ngoài cũng hay cũng đáng học.
Lúc lý thú nhất có lẽ là khi hai thế hệ đó gặp nhau. Cùng nhận ra mẫu số chung là những băn khoăn, mong ước cho một đất nước tươi sáng phú cường. Cùng chia xẻ những ước vọng và dự phóng tương lai cho quê hương bằng những hình ảnh từ xứ người. Chúng ta hãy tưởng tượng các cuộc gặp gỡ ấy qua những hình ảnh của Saigon xưa và nay, và tự xem thử những thay đổi lớn trong chính ta khốc liệt đến dường nào.
Một người ở xa có thể ngồi viết những dòng này từ một khu phố nhỏ bên dòng St-Laurent. Và người trẻ kia đang viết ở quê nhà một chiều mưa, ngồi trong một căn phố nhìn ra sông Saigon. Nhưng cả hai đều muốn trao đổi qua những dòng bút ký chung, chút gì gọi là “tình tự dân tộc”, là điều muốn nói lên với rất nhiều người khác cùng dòng máu Việt ở bất cứ đâu. Về Saigon ngày xưa 1963 hay Saigon bây giờ 2013 sau 50 năm, dù trời Saigon đang mưa hay nắng.
Saigon 1963
NgoDinhDiem
Chính phủ Ngô Đình Diệm
Trừ những lúc có cơn mưa nặng hột và dài thường xuyên đổ xuống xối xả, trời Saigon oi bức lạ thường hè năm đó, do không khí chính trị ngột ngạt của miền Nam với biến cố Phật giáo và những năm tháng cuối cùng của Chính phủ Ngô Đình Diệm. Các trường trung và đại học cùng tham gia vào không khí sôi nổi đó một cách bộc phát mà không suy nghĩ sâu sa. Nhưng sau một đời người nhìn lại và đọc nhiều sách lịch sử mới hiểu lúc đó mình chỉ là những con chốt.
Thang 9-1963
Phong trào Phật giáo 1963
Su bieu tinh 1963
Sư biểu tình 1963
Tu thieu 1963
Thích Quảng Đức tự thiêu
Quß+æc Hß+Öi- Bis
Quốc hội VNCH
Những phố phường còn vắng, các ngôi nhà cao tầng xây cất giản dị, tuy Saigon đang mang danh “Hòn ngọc Viễn đông”, nơi các phố Nguyễn Huệ, Tự Do, Lê Lợi luôn tràn đầy khách du lịch hạng sang từ vài nước láng giềng, nhất là Singapore khao khát ngắm cảnh lạ và tìm mua các mặt hàng xa xỉ.
Từ nhiều năm, thành phố đã hưởng sự yên bình đáng kể, đời sống kinh tế khá sung túc ổn định. Đã qua những cái Tết 1956-63 an vui tràn đầy, với những cành mai vàng khoe sắc, với tiếng pháo nổ ran từ giữa đêm giao thừa thiêng liêng và xác pháo đỏ ngập đường phố ba ngày Tết. Tuy đời sống vật chất hàng ngày còn tương đối đạm bạc.
Tuổi thanh thiếu niên lúc đó tràn đầy lý tưởng. Không khí học hành sôi nổi, các trường thi đua trong các kỳ thi tổ chức qui củ. Giấc mơ du học hình thành nơi một số nhỏ có khả năng hay điều kiện. Ý tưởng học xong trở về nước phục vụ còn ngút ngàn. Nền tảng tổ chức một xã hội công dân bắt đầu hình thành, cho thanh niên mới lớn giấc mơ giản dị là sẽ phục vụ đất nước bằng con đường học vấn, giống như bất cứ người trẻ nào trong các nước láng giềng. Mong ước xây dựng một Nam Việt Nam trù phú hùng cường, tương tự giấc mơ của Nam Hàn ba thập niên sau, nung nấu tâm can những người trẻ, dù việc thực hiện giấc mơ đó được hay không sau này mới hiểu là do “thiên định”.
Vài đàn anh lớn đi trước, đã tốt nghiệp hoặc đã đi dậy trên bục giảng đường đại học ngoại quốc, nhưng đa số mới bắt đầu lên đường năm thứ nhất, tạo phong trào cho các thế hệ đàn em vài năm sau đó. Nền giáo dục vẫn bị chỉ trích thường xuyên do sự cầu tiến, nhưng công bằng mà nói, những sinh viên phát xuất từ những ngôi trường VN dạo đó, đã xuất sắc ở những trường Âu Mỹ vào các kỳ thi tốt nghiệp, ghi lại thành tích đáng kể của nền giáo dục nước nhà lúc đó.
Nhưng sự ổn định chấm dứt sau cuộc chính biến 1/11/1963, chính phủ Ngô Đình Diệm được thay bằng nhiều chính phủ lâm thời, có khi chỉ kéo dài vài tháng. Các xáo trộn kinh tế, xã hội, giáo dục nặng nề nhiều năm sau đó, đã là hệ quả tất nhiên của cuộc thay đổi chính trị này mà lịch sử mấy chục năm sau mới giải thích được.
Các năm 1963-1975
Một số thanh niên du học, bao gồm các người viết, đã rời nước ra đi trong hoàn cảnh đó, nhìn lại đất nước quê hương từ xa như chứng nhân thụ động bất đắc dĩ.
Những chính phủ quân nhân hay dân sự trên đã làm rối đi chính trường miền Nam. Cuộc chiến đồng thời leo thang trầm trọng, rồi thành khốc liệt trong suốt 12 năm tiếp nối khi miền Bắc gia tăng áp lực. Rồi kéo theo sự hỗ trợ của Hoa kỳ và đồng minh. Cuộc chiến bước sang giai đoạn hủy diệt, thay đổi toàn bộ xã hội miền Nam. Những tang tóc đau thương hằn lên dấu vết cho từng gia đình. Từ bên kia trái đất, chúng tôi theo dõi truyền hình hàng đêm tin tức chiến sự quê nhà, rồi thao thức trằn trọc thâu đêm.
1975dongminh
mauthan1968
Biến cố Mậu Thân 1968 đã là biến cố gây đậm nét đau thương nhất trong vài năm đầu xa quê hương. Ngoài vài bạn từ Huế có hung tin ngay từ sớm, đem tang chung cho cộng đồng sinh viên du học, mối âu lo kéo dài nhiều ngày. Cảnh các nhóm túm tụm nhau trong vài phòng, bỏ học và uống bia say suốt đêm, đã là kỷ niệm khó quên gần như suốt đời du học và sau này ra đời làm việc.
Cuộc chiến đi vào khốc liệt hơn từ sau 1971, với sự đổ vỡ mất mát toàn diện cho miền Nam từ 30-4-1975. Biến cố 1975 như một cuộc đổi đời. Đám sinh viên tốt nghiệp trở thành lạc lõng, mất định hướng hoàn toàn trên xứ người, rải rác ở nhiều nước trên thế giới. Nhiều người lại nặng gánh, phải lo cho cả gia đình mới sang định cư. Hình ảnh VN xa mờ dần, rất đông tự nhủ cố gắng “xin nhận nơi này làm quê hương” trên các miền đất hứa, coi như từ nay chia tay vĩnh viễn miền đất bên kia địa cầu.
Nhưng rồi cũng đến một ngày với nhiều sự thay đổi. Vì nhu cầu kinh tế cấp bách, miền đất đó phải thay đổi phần nào các chính sách. “Đổi Mới” là tên gọi cho hai thập niên mở cửa nền kinh tế, áp dụng các chính sách thị trường dù còn hạn hẹp. Kết quả là đã có những tiến bộ vật chất nhất định, như các chỉ số tăng trưởng, bộ mặt đời sống được cải thiện đáng kể ở những thành thị, dù nhiều vùng nông thôn còn chìm đắm trong nghèo khó cố hữu.
Một số người chợt quyết định muốn trở về nhìn lại quê hương, dù trong tâm tư “Từ Thức về làng”. Và một trong những người đó ghi lại tâm trạng như sau.
Những năm sau 1975 về thăm Saigon: Còn Đó Nỗi Buồn
Người viết phải trở về Sài Gòn nhiều lần trong đầu thập niên 90, mới chợt tìm thấy một lúc muốn ngồi xuống, bình tâm viết lại vài xúc cảm về thành phố đã ôm ấp biết bao kỷ niệm đẹp của tuổi mới lớn, với bao hoài bão lý tưởng cho cuộc đời sau này.
Vốn sinh ra ở Hà Nội, thời trung học tôi nâng niu những quyển sách Tự Lực Văn Đoàn của các nhà văn kể chuyện về đất Thăng Long. Những năm gần đây nhất, đọc bao tùy bút và hồi ký ở hải ngoại phần lớn nói về Hà Nội, tôi cũng tưởng mình sẽ chỉ muốn viết về thành phố huyền thoại ấy. Nhưng sau nhiều chuyến công tác ngắn ghé thăm Việt Nam, tuy Hà Nội có quyến rũ, thơ mộng nhưng tôi chợt nhận ra sự gần gũi chỉ tìm thấy ở Saigon.
Đó mới là “thành phố của tôi”, trở về mà không phải cần bản đồ để tìm đường, không phải nhờ người hướng dẫn du lịch, chỉ chỗ xem phong cảnh hay vài chỗ ăn uống nổi tiếng. Những con đường quen thuộc, chỉ đổi tên mới, vẫn còn đó. Những hàng me ướt lá sau cơn mưa chiều vẫn còn nguyên vẹn nét trữ tình, chờ đợi… Mái tóc kẻ bộ hành bây giờ đã ngả dần sang hai mầu, khác xa những ngày tháng cũ thuở trung học tóc còn mướt đen ướt đẫm vì chạy vội dưới cơn mưa rào, hay mơ mộng thả bộ đón nhận những hạt mưa bụi bay nhẹ theo lối về một trường nữ quen thuộc sắp đến giờ tan học.
L+¬ Lß+úi & Nguyß+àn Huß+ç- Bis1
Góc Lê Lợi – Tự Do
Lần đầu tiên trở về trong niềm xôn xao khó tả trong lòng, từ lúc phi cơ đáp xuống Tân Sơn Nhất, thấy những ngôi nhà cũ, các hầm trú bê tông cho máy bay từ thời chiến tranh, đến lúc ở giữa dòng giao thông đông đúc chạy theo con đường Công Lý. Rồi rẽ trái Dinh Độc Lập ra đường Thống Nhất, qua khu nhà thờ Đức Bà về khách sạn Caravelle ở trung tâm thành phố gồm những địa danh cũ: toà nhà Quốc Hội, rạp ciné Rex, khách sạn Continental, hiệu kem Givral góc đường Tự Do và Lê Lợi, đường Nguyễn Huệ tráng lệ chạy dài từ Toà Đô Chính ra đến bến Bạch Đằng gồm những kiosques bán hoa, băng nhạc, rửa phim, mứt rượu Đà Lạt và nhiều thứ hàng tạp hoá. Bây giờ những quán này đã được gỡ bỏ, làm cho con đường trở thành sạch rộng hơn trước nhiều, nhưng lại mất vẻ thân quen cho khách xưa.
Cái nóng oi bức, bụi khói của những chiếc xe Honda vẫn là bức tranh khó quên của đường phố Sài Gòn dạo trước. Sau hơn hai mươi năm với dân số tăng gần gấp ba, số nhà cửa, xe cộ làm thành phố chật hẹp lại nhiều và lộ rõ áp lực nạn nhân mãn của các đô thị Á Châu bây giờ. Tuy nhiên khu vực công trường ở trước nhà bưu điện chính bao quanh nhà thờ Đức Bà vẫn còn vẻ đẹp uy nghi, giữ lại nét diễm lệ của nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Đông.
Banh mi Huong Lan 2-Bis
Quán Hương Lan (Bưu Điện Sài Gòn)
Ngày xưa mỗi chủ nhật tôi vẫn thường phóng mobylette đến khu vực này để tìm mua những ổ bánh mì Bưu Điện ngon, bọc sạch sẽ trong giấy màu trắng ngà. Bây giờ không còn tìm thấy quán Hương Lan nữa và hình như những ổ bánh mì hấp dẫn cũng thất truyền luôn, mặc dù có những quán mới sang trọng hơn như Bánh Mì Ta, Bánh Mì Tươi, làm buồn những chuyến xe cuối tuần ra Vũng Tầu muốn ngồi nhấm nháp một ổ bánh mì cũ trên đường đi!
choHoaNguyenHue
Chợ Hoa Nguyễn Huệ 1971
Những ngày trở lại Sài Gòn tuy ngắn ngủi, nhưng tôi đã bỏ khá nhiều thì giờ tản bộ trên những hè phố quanh khu trung tâm Tự Do-Nguyễn Huệ-Lê Lợi. Đặc biệt mỗi sáng sớm, tôi có thói quen đi dạo từ khu khách sạn “mini” ở đường Tự Do xuống nhà thờ Đức Bà, qua công trường “con Rùa” nơi có viện Đại Học. Rồi trở lại đường Duy Tân, tôi qua trường Luật tìm ngôi nhà cũ của mình ở góc Hiền Vương. Con đường cây dài bóng mát ngày xưa bây giờ đã khác đi nhiều , đã mất bớt cây cối và chật hẹp bẩn hơn vì những quán hàng la liệt hai bên vỉa hè. Ngày xưa con đường này chỉ toàn những villa nhà ở sang trọng, bây giờ mở những cửa hiệu nhỏ, hay được đập đi thành những khu văn phòng cho người ngoại quốc thuê.
Hß+ô con r+_a-Bis
Hồ Con Rùa – Đường Duy Tân
Dừng lại trước địa chỉ cũ của ngôi nhà dấu yêu, nơi tôi đã sống những ngày thơ ấu, tôi bàng hoàng khi thấy căn nhà đó biến mất và được thay thế bằng cao ốc sáu tầng trụ sở của một hãng thuốc Thuỵ Sĩ. Cảm xúc vì tiếc nuối, ngỡ ngàng dâng lên mãnh liệt, nhắc nhở thực tại Từ Thức về chốn cũ. Tôi bắt đầu những ngày ở Sài Gòn chỉ đi tìm về những nơi hay lui tới dạo trước, cố quay lại những khúc phim cũ trong ký ức để so sánh với những cái mình thấy bây giờ.
saigon50-1
Đầu tiên tôi tìm lại một nhóm bạn bè Y Dược cũ (ngày trước, tôi đã theo học vài tháng dự bị cả Y và Dược khoa trước khi bỏ đi du học) lập nên nhóm J&B rất vui nhộn và thân, chỉ chuyên gặp nhau uống cà phê buổi sáng hay thỉnh thoảng ăn nhậu với chai whisky J&B (tạo thành tên của nhóm). Mỗi sáng thứ bảy, tụi này hẹn gặp nhau ở một quán trước cửa nhà thờ Huyện Sĩ trên đường Nguyễn Trãi, địa điểm được chọn lựa ở cạnh hiệu thuốc Huyện Sĩ. Ngồi nói chuyện rỉ rả mọi chuyện cũ mới bên tách cà phê rồi kéo đi ăn sáng, đấy là niềm vui lớn cuối tuần từ lúc tôi về lại Sài gòn.
Nha thuoc Huyen Si-Bis
Nhà thuốc Huyện Sĩ
Truong chu van An- Bis
Cổng trường Chu Văn An
Một nơi khác mà tôi cũng cố tìm tới là khu nhà thờ Ngã Sáu ở Minh Mạng thăm lại toà nhà của ngôi trường Chu Văn An cũ. Tôi bước vào lớp học cũ, nhìn lại từng dẫy xe đạp, bâng khuâng hoài niệm những khuôn mặt thầy bạn cũ của một thời làm báo học trò, của những mối tình si nhẹ nhàng lúc bỏ sang Trưng Vương thả hồn theo các tà áo trắng trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm.
TruongChuVanAn
Trường Trưng Vương
Tìm mãi mà tôi không nhận ra đâu là khu nhà nhỏ của bác gác gian nổi tiếng của trường, nơi vẫn bán xôi lạp xưởng và chè đậu đen đầy kỷ niệm cho hàng bao thế hệ Chu Văn An. Tôi chỉ còn nhớ căn buồng dùng làm khu sinh hoạt học đường trong dãy nhà ngoài cùng nơi vẫn đến tập múa hát hay hội họp làm báo. Ba năm trung học với những kỷ niệm hoạt động học đường, lo lắng thi cử, những tình yêu học trò chợt đến chợt đi. Vài mộng mị lý tưởng cho tuổi mới lớn khi tình yêu quê hương vừa hình thành một cách đứng đắn, đan kết bởi những dằn vặt suy tư của một thế hệ lớn lên trong bối cảnh chiến tranh thời đó.
Ra khỏi cổng trường cũ, tôi tìm về Ngã Sáu lúc trước có những hàng bán nghêu đầy dẫy dọc đường. Những chiếc ghế gỗ thấp cập kễnh trên lớp vỏ nghêu bên lề đường. Khách gọi từng thau nghêu ra húp với nước mắm dấm ớt tỏi và những chai bia con cọp xếp thành hàng dài. Khu đó bây giờ cũng biến mất, làm trôi thêm một kỷ niệm học trò. Dọc theo con đường Phan Thanh Giản, vẫn còn thấy ngôi nhà cũ của trường Phan Sào Nam. Rồi rạp Long Vân nơi đóng đô của những giờ buồn ngủ “cúp cua” học ra ngồi xem ciné sau khi ghé mua vài cây kem Lan Hương (hiệu có hai cô bán hàng xinh xinh!). Đi tiếp xuống Phan Thanh Giản, qua bệnh viện Saint Paul, gặp ngôi trường Gia Long cũ, vẫn những tà áo trắng, nhưng các cô bé nữ sinh trung học trông nhỏ hẳn đi như chỉ đang ở tiểu học.
Chua Xa Loi- Bis
Chùa Xá Lợi
Ch+_a V-¬nh Nghi+¬m- Bis
Chùa Vĩnh Nghiêm
Cắt ngang là đường Bà Huyện Thanh Quan êm đềm với chùa Xá Lợi giờ đây trông nhỏ bé quạnh hiu. Khác với chùa Xá lợi, chùa Vĩnh Nghiêm ở đường Công Lý trông bề thế, nhộn nhịp hơn, lúc nào cũng khói hương nghi ngút với số người đi lễ đông gần như thường trực. Chùa Vĩnh Nghiêm và Vương Cung Thánh Đường gần như là hai “thắng cảnh” đặc biệt cho những người ở xa về.
Nh+á thß+Ø -Éß+¬c B+á- Bis
Nhà thờ Đức Bà
Nhưng tôi xúc cảm nhiều hơn lúc đi theo đường Trương Minh Giảng, vượt qua cầu và ngôi chợ nhỏ. Tìm đến ngôi chùa Pháp Hoa rất nhỏ, đặt nén hương cho những người thân có ảnh nằm đó trong bình yên vĩnh cửu. Người đàn ông ngũ tuần chợt thấy mắt nhạt nhoà trước hai khung ảnh gắn trên bình tro của bà nội tôi và ba tôi. Bao người xưa đã nằm xuống, một số khác đã đi ngoại quốc, bạn bè thân đã vội bỏ mình hay tản mát nơi đâu sau mấy chục năm?
Tôi quay về đây chợt thấy lạc lõng dù đó là thành phố mộng tưởng của các năm dài sống ở bên Mỹ. Những ngày ở khách sạn Sài Gòn, ba buổi đi tìm hiệu ăn. Thiếu vắng một bữa cơm nóng đơn giản trong ngôi nhà quen thuộc, đã làm cho tôi nhận rõ cảm tưởng chua chát mình chỉ là khách du lịch ngay trên quê hương, dù vài người thân họ hàng vẫn niềm nở tiếp đãi. Không khí ngày Tết hay Giáng Sinh có nhộn nhịp chào đón và gợi cảnh cũ, tôi vẫn thấy mình đếm rõ từng bước cô đơn trên các hè phố cũ quen thuộc.
Trong ánh mắt nhìn của đa số họ hàng, bạn bè vẫn còn chút tò mò tìm hiểu kẻ lạ trước mặt là tôi. Và dù muốn tự dối mình, tôi cũng không thể hiện diện như những người bình thường trong cuộc sống hàng ngày ở đây. Tôi vẫn là “người lạ”, càng cố làm ra vẻ tự nhiên hoà đồng lại càng thấy ngượng nghịu, có chút tính chất “kịch” trong đó. Ở vài nơi tiếp xúc làm việc, tôi càng nhận ra điều đó. Tôi đã được đào tạo trong môi trường khác, với cách suy nghĩ hoàn toàn xa lạ với những anh em đồng nghiệp chung quanh.
Nếu tôi đến họ với tư cách doanh nhân hay đại diện một cơ quan nước ngoài, công việc có phần thuận lợi hơn trong cách cư xử. Nhưng nếu tôi muốn trở về “nhập cuộc” trong một cơ sở Việt Nam như một nhân viên bản xứ, sự hội nhập sẽ khó khăn và gần như không tưởng. Hiệu năng làm việc chắc sẽ rất khiêm tốn vì những hàng rào ngăn cách trong công việc và giao tế. Tôi ngỡ ngàng khi nhận ra điểm đó sau vài chuyến về nhà. Nếu tôi còn bị xa lạ như thế sau khi đã trưởng thành ở Việt Nam và không bị khó khăn về ngôn ngữ đối thoại, làm sao các thế hệ đàn em trẻ có cơ hội trở về khi họ chỉ bập bẹ tiếng Việt, đọc chữ không thông, đừng nói gì đến quay về sống và làm việc. Liệu quê hương có là một địa danh du lịch hấp dẫn trong tâm tưởng nhóm đàn em ở hải ngoại này không?
Những ý nghĩ trên càng đi sâu vào trong tâm tưởng tôi như một nỗi buồn gậm nhấm trong các chuyến về kế tiếp. Tôi vẫn tâm tưởng đến những quán cơm Việt. Tôi cũng mê say đến hiệu phở Hoà khu đường Pasteur, phở Tàu Bay Lý Thái Tổ, hay phở Tương Lai Nguyễn Tri Phương, dù vị phở có phần kém ngày trước có lẽ vì khẩu vị mình đã hoàn toàn thay đổi.
Brodard- Bis 1
Quán Brodard
Tuy nhiên tôi vẫn hay ra ăn ở Givral có chỗ ngồi thi vị. Chỉ nhớ tiếc những tách cà phê sữa nóng bốc khói với vị bơ thơm lừng của Pôle Nord, hay bánh ngọt của Brodard và Givral ngày xưa. Buổi trưa hay chiều đến những tiệm cơm ‘bình dân” (dù giá bắt đầu lên khá đắt cho mức sinh hoạt của người dân ở nhà) ở đường Ngô Đức Kế có các tiệm mới như Hoàng Yến, Hiệu 13, Cây Dù Vàng đang có tiếng, nhắc nhở đến hiệu ăn Bà Cả Đọi với các món Bắc trong gia đình như thịt đông, dưa giá, đậu kho, cá rán v.v… Sang hơn nữa cho cơm Việt Nam là nhà hàng Thanh Niên (đường Nguyễn Văn Chiêm, gần nhà thờ Đức Bà) với những món miền Nam hấp dẫn, có bàn ăn trong vườn sạch và lịch sự, mỗi tối thêm phần nhạc phụ diễn và khung cảnh thơ mộng.
Khách cũng có thể tìm ăn cơm Tây bình dân ở chợ Cũ nhưng vẫn tiếc nhớ món soupe bouillabaisse hay thỏ nấu rượu vang ở Chez Albert (Đa Kao) hay Vọng Nguyệt, món bí- tết Choeng Nam, crème de vollaille chợ Cũ. Các hiệu Tầu danh tiếng ngày xưa như Á Đông, Động Phát, Ngọc Lan Đình thì đã đóng cửa hay đổi tên và bây giờ không còn hiệu nào đặc biệt. Mấy hiệu Tầu trong vài khách sạn năm sao mới mở là máy chém mà ăn không ngon lắm, chỉ được cái sang! Các món Tầu bình dân như trong các hiệu mì phần lớn dọn lên khu Đinh Tiên Hoàng ở Đa Kao. Tiệm mì Cây Nhãn cũ ở khu Đinh Tiên Hoàng không biết dọn đi đâu?
Mỗi lần trở về Mỹ, tôi ít có dịp kể lại đầy đủ các chuyện trên cho bạn bè, nhất là nếu chưa đủ thân thiết, vì đa số những lập luận hay câu chuyện đều hướng về công việc làm ăn hay những dự định tậu nhà, mua xe mới cho đời sống “bên này”. “ Bên kia” chỉ nên được coi như là thiên đường đã mất hay trong trí tưởng. Lý luận của bạn bè hay họ hàng chắc nịch như vậy nên tôi cả nể thường im lặng, chỉ kể qua loa về nếp sống ở Sài Gòn sau những chuyến công tác hay thăm viếng ngắn. Tôi chỉ quyết định viết những điều dài dòng này về Sài Gòn sau khi đọc rất nhiều sách báo về Hà Nội, và cảm thấy ẩn nhẫn bất công cho Sài Gòn, nơi đã cho tôi bao kỷ niệm đẹp thơ ấu và còn cho tôi sự quen thuộc gần gũi mỗi lần trở về, dù phần lớn chỉ để hoài niệm những ngày tháng đã qua trong thành phố thân yêu ấy.
Và có lúc tôi đã muốn kêu to: Saigon, ôi người tình nhân đã khuất!…
Và hôm nay, hè 2013
Những năm thay đổi đã cho Saigon một bộ mặt mới hào nhoáng hơn nhiều, tiêu biểu nhất là trong những bức hình của khu trung tâm Eden ở quận Nhất ngày xưa. Tòa nhà có cà phê Givral đã được thay thế bằng một building mới sang trọng như ở Paris, London…Ngồi lại trong chiếc ghế của quán mới, khó ai nghĩ mình không đang ở một thành phố lớn hiện đại của trời Âu.
Givral (2) 2013- Bis
Quán Givral
Nhưng, người biết rõ xã hội miền Nam ngày trước có mặt hôm nay, không thể không nói đến cái giá đắt phải trả. Người thanh niên trẻ của xã hội mới không thể dấu mọi chuyện với người bạn thế hệ cũ mới gặp, nói đến ở đoạn mở đầu bài viết này.
Đất nước hôm nay chứng kiến sự băng hoại của cả một xã hội cũ trong cái hào nhoáng mới hình thành. Con người đã thay đổi quá nhiều, đức tính thành thật trong giao tiếp hàng ngày gần như đã mất. Các giá trị tinh thần được đánh giá dần dần bằng các thước đo vật chất.
Có nhiều dấu hiệu cho thấy lý tưởng thanh niên đang bị lung lay không có chỗ dựa. Người ta có thể vội vàng nhận xét nhóm người tuổi trẻ hôm nay chỉ sống vội, ồn ào, theo đuổi vật chất, và gần như vô cảm. Nhưng thật sự họ là những người cô đơn nhất. Một đất nước có thống kê chỉ rõ tuổi trung bình là 24, và 65% dân số dưới tuổi 35, nhưng lại ít chú ý chăm sóc giới trẻ nhiều tiềm năng đó qua giáo dục và phát triển tinh thần.
Hiện trạng của đất nước không tạo được cảm hứng hay nuôi dưỡng các ý tưởng phục vụ cho thế hệ trẻ hôm nay. Tương lai với họ như thiếu chắc chắn, vì các giá trị dân chủ, công bằng và nhân ái cần thiết cho một xã hội hiện đại đều thiếu vắng. Ngay cả sự tiến bộ kinh tế, điểm sáng của hai mươi năm qua, cũng đang trở thành mong manh tạm bợ.
Tăng trưởng đã chậm lại rõ rệt từ vài năm nay do sự bế tắc chính sách, điển hình nhất là do sự chi phối của các bè nhóm vì lợi ích riêng tư. Đồng thời phẩm chất cuộc sống đi xuống, nhiễm độc môi trường và thức ăn trở thành mối đe dọa trực tiếp hàng ngày cho đời sống của mọi giai tầng xã hội. Trên tất cả, nền kinh tế bị đe dọa sụp đổ từ 2 năm nay, khi quả bong bóng bất động sản và hệ thống ngân hàng có thể vỡ bất cứ lúc nào với mức nợ xấu quá mức chịu đựng, nếu không có các biện pháp, chính sách thích hợp cấp thời. Nợ xấu khổng lồ làm tê liệt hệ thống tín dụng ngân hàng và gánh nặng nợ công lớn không kém hình như đang được đẩy cho các thế hệ tương lai gánh chịu, với sự dồn món nợ công hiện tại thành những món nợ lớn tương lai qua giải pháp phát hành trái phiếu công dài hạn.
Nhiều người bàn đến các giải pháp kinh tế xã hội ngắn hạn. Nhưng trong con mắt chuyên viên, khó có thể có một ‘quick fix’ (sửa chữa nhanh) hay ‘a sugar high’ (một ảo tưởng), mà phải là những thay đổi thể chế và chính sách kinh tế cơ bản dài hạn, tái lập các giá trị nhân văn căn bản qua giáo dục và hướng dẫn cho tuổi trẻ.
Thế hệ trẻ không thể không biết và thờ ơ với viễn ảnh tương lai đó. Thiếu niềm tin, họ đang trả lời bằng sự chán chường những giá trị sống hiện tại, dồn đam mê đời sống vào các mác xe máy đắt tiền và những chiếc điện thoại smart thời trang, tỏ lộ hừng khí tuổi trẻ đơn giản bằng các cuộc đua xe tốc độ hay, khá hơn, diễn tả lòng yêu nước bằng cổ vũ chiến thắng bóng đá cuồng nhiệt trong các trận ‘thư hùng’ với các đội quốc gia vùng.
Nhưng mùa hè Saigon năm nay chợt thành ngột ngạt thêm vì những biến cố thời cuộc, và sự sôi sục của cả thế hệ thanh niên muốn nói lên tiếng nói yêu nước của mình. Cùng lúc các ức chế xã hội cộng thêm những khó khăn về đời sống hàng ngày hình như đã góp phần gây thêm những tội phạm xã hội ngày càng cao hơn, cho các dấu hiệu của một xã hội đang trên đà xuống dốc trầm trọng.
Trong bối cảnh đó, người viết chỉ còn biết tìm đến một dòng sông nhỏ, hay một chiều Sài Gòn đi dạo trời mưa dưới những hàng me lá đổ, vẫn còn cố tìm về quê hương trong tâm tưởng, dù thời gian có trôi qua và các khuôn mặt cũ đã khuất bóng. Và chợt cảm thấy hạnh phúc muốn dừng ở đó, vì các thay đổi lớn khác sẽ phải đến, những con người, những định chế cũng sẽ theo luật thời gian.
Nhưng quê hương vẫn còn đó, là dòng sông Hồng, là nhánh Cửu Long, là Hương giang, và ở đâu dòng nước đó vẫn lặng lờ trôi, lòng có thể tĩnh lặng nhận biết mình vẫn thuộc về nó: một quê hương không bao giờ mất, một dân tộc sẽ mãi trường tồn bên những biển dâu, riêng tuổi trẻ hôm nay sẽ tìm lại được niềm tin như các thế hệ đàn anh của thuở nào…
song hong ha- Bis
Sông Hồng
Song Huong - Bis
Sông Hương
Song C__u long- Bis
Sông Cửu Long
TRẦN VIỄN DU BẢO NAM/THEO DIỄN ĐÀN THẾ KỶ

Bài Xem Nhiều