We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 28 February 2013

Chính Quyền Việt Cộng Gian Có Thừa, Khôn Chưa Đủ


Đến nay thì ai cũng thấy chính quyền Việt Cộng (Việt Cộng: VC = Việt Nam Cộng sản) càng ngày càng lộ bộ mặt buôn dân bán nước một cách trắng trợn hơn, mà bấy lâu nay Họ đã cố tình che đậy. Ngày 4-9-1958, thủ tướng Tàu cộng là Chu Ân Lai, ra một bản tuyên bố vùng biển Đông gồm Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Tàu. Chỉ 10 ngày sau, ngày 14-9-1958, thủ tướng miền Bắc Việt Nam là Phạm Văn Đồng, tuân thủ ý đồ của quan thầy, được sự đồng loã của Hồ Chí Minh, liền gửi công hàm cho Chu Ân Lai, xác nhận chủ quyền của Tàu cộng theo bản tuyên bố của họ Chu. Trong khi ấy, quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc miền Nam VN (VNCH), ông Đồng vừa bỉ ổi vừa tối tăm dâng biển đảo như vậy là thiếu yếu tố pháp lý.

Do đấy, ngày 19-1-1974, Tàu cộng đem hải quân đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của VNCH và đến năm 1988, Tàu cộng lại đem hải quân đánh chiếm nhiều đảo trong quần đảo Trường Sa của VN. Ngày 30-12-1999, gọi là phân định lại biên giới Việt-Trung, VC đã cắt nhượng cho Tàu cộng khoảng 700 km vuông vùng biên giới Bắc Việt. Ngày 25-12-2000, chính quyền VC, cắt nhượng khoảng 11,000 km vuông vùng vịnh Bắc Bộ VN cho Tàu cộng. Những trường hợp dâng đất đai và biển đảo của chính quyền VC, giống như Mạc Đăng Dung sau khi soán ngôi nhà Lê. Mạc Đăng Dung tự trói mình trước phủ của quân Minh ở trấn Nam Quan, nhục nhã nạp dâng vàng bạc và 6 động: Tế Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liêu Cát, An Lương và La Phu cho nhà Minh vào đầu năm 1541. Thật là: “Những kẻ gian có thừa, khôn chưa đủ”.

Chính quyền VC đàn anh đã lỗi lầm, mà đàn em không nhìn đấy để ăn năn hối cải! Lại còn lăn theo bánh xe cũ vào vũng bùn nhơ nhuốc; khi Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng lại đồng loã với Nông Đức Mạnh, để cho Tàu cộng được đặc quyền khai thác bauxite Tây Nguyên, mặc dù nhiều nhân sĩ trí thức can gián?! Vì lo ngại ô nhiễm môi trường và tại địa bàn Tây Nguyên là nơi có vị trí chiến lược quan trọng về an ninh và quốc phòng; nên quan ngại rất lớn về an nguy tổ quốc?!

Sau đây, tóm tắt hai cuộc chiến tranh Việt - Trung vào năm 1075 và năm 1979, để thấy quân dân VN luôn kiên cường đánh đuổi kẻ thù truyền kiếp là quân xâm lược Tàu.

Tóm tắt “Chiến tranh Việt - Tống năm 1075”: Nhà Tống có Vương An Thạch, là một chính trị gia có nhiều mưu chước và muốn mở rộng phương Nam, nên tâu vua Tống: “Đại Việt vừa đánh Chiêm Thành, nên sức cùng lực kiệt, ta có thể cử quân Ung châu sang chiếm Đại Việt”. Trong lúc ấy, Tiêu Chú ở Ung châu cũng đang dòm ngó Đại Việt, nhưng còn ngần ngại, đến khi Lý Thánh Tông băng hà, Lý Nhân Tông còn trẻ tuổi, là cơ hội nhà Tống đem binh xâm lược nước ta. Vua Tống cử Binh bộ thị lang Thẩm Khởi điểm binh đánh Đại Việt. Sau đấy Lưu Di thay thế, cấm người Tàu không buôn bán với người Việt, để khỏi lộ việc Nam chinh. Còn dụ dỗ các tù trưởng của nhà Lý theo Tống, như: Nùng Thiện Mỹ ở Bắc Cạn, Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên... Những việc này không qua mặt được tình báo của Đại Việt. Lý triều yêu cầu Tống triều giao lại Nùng Thiện Mỹ và 700 thuộc hạ để trị tội, Tống không đồng ý, còn chiêu dụ Nùng Trí Hội (con Trí Cao) ở châu Quy Hóa.

Lý triều bàn bạc, không thể hòa hoãn với Tống được nữa, ra binh đánh Tống trước, sẽ có lợi hơn, trong lúc đó Đại Việt chưa tới 10 vạn quân, chia làm hai ngả. Lý Thường Kiệt đem quân đánh Quảng Đông (Khâm Châu và Liêm Châu), Tôn Đản đem quân đánh Ung Châu (Nam Ninh, Quảng Tây). Quân Tống bị tấn công bất ngờ như vũ bão, nên bị đại bại và nhiều thành trì bị mất. Đến tháng giêng năm 1076, quân Đại Việt vây chặt thành Ung châu, tướng giữ thành này là Tô Đam, cố thủ thành chờ viện binh. Lưu Di ở Quế Châu cử Trương Thủ Tiết đem quân cứu viện, bị Lý thường Kiệt chận đánh tan tác. Đến ngày 1-3-1076, quân Đại Việt hạ được thành Ung Châu, Tô Đam và 36 thân nhân tự sát. Kết quả quân Đại Việt phạt Tống, đã tiêu diệt khoảng 7 vạn người và khi rút quân về nước, bắt trên 200 người đem về Đại Việt.

Quân Tống phục thù: Quách Quỳ làm chủ tướng, Triệu Tiết làm phó, hợp với quân Chiêm Thành và Chân Lạp, chia làm nhiều đường, tiến đánh nước ta. Trận đụng độ ác liệt giữa quân Tống và Đại Việt, bên bờ sông Như Nguyệt (sông Cầu, thuộc tỉnh Bắc Ninh), trận này quân Tống bị tử trận trên 1000 người. Quân Tống dùng máy bắn đá qua như mưa, nên chiến thuyền của ta bị hư hại và một số quân sĩ bị tử thương. Lý Thường Kiệt làm 4 câu thơ khích lệ tinh thần binh sĩ, còn chia quân chận đánh quân Chiêm và Chân Lạp. Đại Việt dù thắng, nhưng xét thấy chiến tranh lâu dài, không lợi, nên giảng hòa với Tống. Sứ thần Đại Việt là Đào Tôn Nguyên đưa 5 con voi đã thuần sang Tống để nối lại bang giao hoà hảo và đòi lại những châu, huyện ở miền Cao Bằng. Khi quân Tống chiếm được đất đai miền này đổi tên Quảng Nguyên là Thuận Châu, đã đặt 3000 quân để giữ. Tống triều ưng thuận với điều kiện là Lý triều phải trả lại cho Tống những người dân các châu Khâm, Liêm, Ung, mà quân Đại Việt đã bắt vào năm 1075, tất cả 221 người. Đúng là tiền nhân (nhà Lý) của chúng ta, đã khéo léo dùng: “Mưu chước thần kỳ” để trị quân xâm lược phương Bắc.

Tóm tắt “Chiến tranh Việt - Trung năm 1979”: Tình hình Việt Nam đối với Trung cộng và Cao Miên (Campuchia), từ giữa năm 1978, càng lúc càng căng thẳng hơn. Đặng Tiểu Bình là lãnh tụ đảng Cộng sản Tàu, lấy lý do cần kinh phí để giúp đỡ người Hoa từ VN hồi hương; nên vào tháng 7-1978, Tàu cộng tuyên bố cắt hết viện trợ và rút hết chuyên gia đang làm việc tại VN về nước. Tháng 11-1978, Việt Nam và Liên Xô, ký “hiệp ước hữu nghị và hợp tác”. Đặng Tiểu Bình thấy VN nghiêng hẳn về Liên xô. Trong khi ấy, Đặng Tiểu Bình mới công du sang Hoa Kỳ, đã ướm hăm dọa “dạy cho Việt Nam một bài học”, thấy Hoa Kỳ và Tây phương im lặng, như ngầm tán thành. Đến ngày 23-12-1978, VN còn tiến quân sang đánh Cao Miên, để lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Tàu cộng có cơ hội tiến quân qua xâm lược VN, với tuyên truyền là buộc Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia để ổn định trong vùng; nhưng thực chất là Tàu không muốn VN trở nên hùng mạnh, nên cố tình gây chiến tranh trên đất nước VN, để VN bị kiệt quệ kinh tế mới dễ dàng khống chế. Khoảng 5 giờ sáng ngày 17-2-1979, quân xâm lược Tàu, với khoảng 120.000 quân bắt đầu tiến vào Việt Nam trên toàn biên giới phía bắc VN, mở đầu là pháo kích, kế đến là xe tăng và bộ binh. Các quân đoàn của Tàu, đồng loạt tấn công khắp các tỉnh biên giới phía bắc VN. Biên giới phía đông VN, do quân đoàn 42A, từ Long Châu tấn công Đồng Đăng thuộc tỉnh Lạng Sơn. Quân đoàn 41A tấn công Cao Bằng và Đông Khê. Quân đoàn 55A tấn công vào Móng Cái.

Biên giới phía tây VN: Quân đoàn 13A và 11A tấn công vào thị xã Lào Cai và Hà Giang. Quân đoàn 14A đánh vào Lai Châu. Những vùng đất nào của ta, quân xâm lược Tàu chiếm được, chúng sát hại thường dân VN rất dã man, như ngày 9 tháng 3, tại thôn Đổng Chúc, xã Hưng Đạo, huyện Hoà An, Cao Bằng, quân Tàu cộng đã dùng búa đập và dao đâm, giết chết 20 trẻ em và 21 phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, rồi chúng ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt thây xuống suối. Đến ngày 18-3-1979, quân Tàu cộng hoàn tất việc rút quân khỏi Việt Nam. Trước khi rút quân, chúng còn phá hủy nhiều công trình xây dựng của VN.

Quân đội VN dù quân số ít hơn, khoảng 50.000 quân tham chiến, nhưng đã chận đánh quân ngoại xâm nhiều trận ác liệt. Kết quả cuộc chiến, theo nhà sử học Gilles Férier thì quân Tàu bị thiệt hại, khoảng: 25.000 người bị tử thương, xe tăng và pháo bị phá hủy khoảng 500 đủ loại. Russell D. Howard cho rằng quân Trung cộng bị tử thương ít nhất là 50.000 người. Phía Việt Nam có hàng nghìn thường dân bị chết và bị thương, theo tờ báo Time thì quân Việt Nam bị tử thương dưới 10.000 người (còn Trung Quốc cho là quân VN bị tử thương trên 20.000 người).

Thế mà, chính quyền VC ngày nay còn khư khư ôm lấy 16 chữ mạ vàng của Tàu cộng, mà không biết trong đấy là thuốc độc hay thuốc nổ?! Đúng là: “gian có thừa, khôn chưa đủ”.

Theo bản tin từ RFA: “Ngày 17-2-2013, một phái đoàn gồm các nhân sĩ trí thức: Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, TS. Nguyễn Đình Lộc, GS. Phạm Duy Hiển, TS. Nguyễn Quang A, TS. Nguyễn Xuân Diện cùng nhiều thanh niên và người dân ở Hà Nội mang vòng hoa “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ chống Trung Cộng xâm lược” đã gặp phải sự ngăn cản của chính quyền với nhiều lý do và buổi viếng các liệt sỹ không được trọn vẹn như dự định ban đầu”. Hầu hết các cơ quan báo chí và truyền thông Nhà nước đều im hơi lặng tiếng, không nhắc gì đến trận chiến bi hùng này. Chỉ duy nhất báo Thanh Niên có bài “Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979”, có nhắc đến “Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc”. Trận chiến xảy ra vỏn vẹn trong 1 tháng, dù Trung Quốc là kẻ xâm lăng bị tổn thất nặng nề, nhưng có khoảng hơn 10 ngàn chiến sỹ đã hy sinh để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam. Nhiều người tự hỏi phải chăng chính quyền Hà Nội, thật sự đã vô ơn khi vòng hoa tưởng niệm với dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các liệt sỹ chống Trung Cộng xâm lược” bị cấm đoán”.

Cựu chiến binh Nguyễn Tường Thụy là một người trong phái đoàn, đến đặt vòng hoa tưởng niệm các chiến sỹ đã hy sinh trong “Chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979”, bức xúc: “Sáng 17/2, chúng tôi đặt vòng hoa ở đài Cảm Tử. Cách khoảng 2 mét trước chân đài thì họ vây rào sắt cùng dây thừng. Gần đấy, tôi thấy có 2 xe công an, một số an ninh và cảnh sát và một số dân phòng. Khi chúng tôi vào thì chỉ có lực lượng dân phòng và mấy cậu an ninh đến cản trở không cho chúng tôi vào, với lý do là tượng đài cần sửa chửa. Tất nhiên là không có một dấu hiệu nào của sửa chữa và chúng tôi tin rằng là những ngày sau cũng chẳng ai sửa chữa. Chúng tôi không làm gì được và chúng tôi phải đi. Sau, chúng tôi đến tượng đài Bắc Sơn thì chúng tôi cũng bị bộ đội cản trở. Họ bày ra quy trình muốn thắp hương rất là khó khăn. Là phải đăng ký bên Xã hội-Ông Ích Khiêm và phải mang vòng hoa đến kiểm định. Họ nói nội dung của vòng hoa này là không được. Chúng tôi đứng ngoài đặt vòng hoa thật xa ở ngoài cổng và chúng tôi chỉ đứng xa xa vái vọng mà thôi. Song, chúng tôi lại mang đến tượng đài Quang Trung. Chúng tôi vội vàng đặt vòng hoa và tranh thủ khấn vái. Được một lúc thì bảo vệ ra ngăn cản”.

Qua các chứng cớ trên, chúng ta đã thấy chính quyền VC, đã hiện nguyên hình là đang làm thái thú (tay sai) cho Tàu cộng, chẳng những gây cho người sống nhiều bức xúc, mà các Chiến sĩ và Đồng bào đã can trường bảo vệ biên giới phía bắc năm 1979, đã có hàng nghìn hài cốt anh hùng Liệt sĩ, cho tới nay đang nằm lại nơi lạnh lùng đất Bắc, mà vùng đất ấy trước đây thuộc lãnh thổ Việt Nam. Các Anh linh anh hùng Liệt sĩ, nếu linh thiêng cũng u uất ngậm ngùi không ít!!!. Với các lầm lỗi to lớn như vậy, đúng là “Chính quyền VC gian có thừa, khôn chưa đủ”. Vì sao Tôi khẳng định như vậy?. Xin thưa, chính quyền VC tồn tại được đến ngày nay, là nhờ sự hy sinh rất nhiều xương máu của Quân đội. Thế mà sau năm 1975, hai miền Nam Bắc thống nhất, Quân đội bị chính quyền VC xem thường, Tôi không muốn nói là “hết chim bẻ ná”. Điều thực tế đã chứng minh có rất nhiều Bộ đội sau khi giải ngũ, cuộc sống rất khó khăn, kẻ hớt tóc người chạy xe thồ kiếm sống, còn quân nhân tại ngũ, đời sống gia đình cũng khó khăn không kém. Trong khi ấy, vô số công an lại có nhiều đặc quyền đặc lợi.

Từ việc cướp ruộng đất gây nên phong trào dân oan, từ việc kẻ bán nước là chính quyền VC bắt những nhà dân chủ yêu nước đem giam cầm. Ngày nay, người quân nhân của chế độ bị khinh rẻ cả người đang sống và anh linh những người đã hy sinh, thì rõ ràng chính quyền Hà Nội đã tự tạo ra “các thế lực thù địch”. Vì nhu cầu cứu nước đang khẩn thiết, nên chính “các thế lực thù địch” này, dù muốn dù không cũng phải lật đổ chế độ, để cứu nguy Dân tộc và Tổ quốc. Như thế thì “Chính quyền VC gian có thừa, khôn chưa đủ” đã chắc chắn như 2 với 2 là 4 vậy.

Trước cảnh nước nhà gian nguy, mong mỏi chính quyền VC mau tỉnh ngộ quay về nẻo thiện còn kịp, vì “đồ tể buông đao thành Phật”. Xin hãy nhìn: Muhammad Hosni Sayyid Mubarak làm tổng thống Ai Cập từ ngày 6-10-1981 đến ngày 11-2-2011. Sau 30 năm cầm quyền, đã cai trị độc tài và quơ quét tài sản quốc gia, có thể lên tới 70 tỷ USD, nhân dân Ai Cập đã sôi sục biểu tình phản đối, tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak phải từ chức ngày 11-2-2011. Phần lớn tài sản của Hosni Mubarak cất giấu trong các ngân hàng của Thụy Sĩ. Liền trong ngày Mubarak từ chức, chính phủ Thụy Sĩ phong tỏa mọi tài sản của tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak trong các ngân hàng. Đấy, ai quơ quét tài sản quốc gia, cuối cùng thì “của thiên trả địa”, mong những kẻ tham quan cần ngẫm nghĩ?!.

Mặc dù chứng cớ sờ sờ ra đấy, nhưng Tôi vẫn chưa tin các ngài lãnh đạo chính phủ VN hiện nay, là người đang đóng tuồng Tần Cối, hay các ngài chính là Tần Cối tái sinh. Tần Cối (1090-1155), làm quan tể tướng nhà Tống, làm Hán gian bán nước cho giặc Kim, vợ của Tần Cối còn xúi giục Cối hãm hại trung thần danh tiếng Nhạc Phi là người đã cầm quân đánh đuổi giặc Kim tan tác và Tần Cối hãm hại bất cứ ai chống lại quân xâm lược Kim; do đấy sau này nước Tống bị nước Kim xâm lược. Người đời sau nguyền rủa Tần Cối thân làm tể tướng, mà lại là gian thần bán nước, làm chó săn cho giặc Kim. Để cảnh tỉnh, món bánh giò cháo quẩy của người Tàu, làm bằng bột rồi chiên trong dầu, luôn nắn từng cặp dính nhau, đó là tượng trưng cho cặp vợ chồng Tần Cối bị trói với nhau và ném vào vạc dầu sôi như trị tội bán nước. Sau khi Tống Cao Tông mất, Nhạc Phi được giải oan, hài cốt Nhạc Phi được an táng trên đồi bên bờ Tây Hồ, nơi phong cảnh tươi tốt, nơi đây có Nhạc Miếu, tượng Nhạc Phi ngồi ở chính giữa điện, nhung giáp uy nghi. Tượng Tần Cối và vợ là Vương Thị đúc bằng sắt, tay bị còng quỳ trước mộ, để người đi qua lại nhổ nước bọt vào mặt. Trước mộ Nhạc Phi có câu đối:

“Thanh sơn hữu hạnh mai trung cốt
Bạch thiết vô cô chú nịnh thần”

Nghĩa là: “Núi xanh, an táng người trung liệt
Sắt trắng, uổng cho tượng nịnh thần”

Các ngài lãnh đạo chính phủ VN hiện nay, không lẽ noi gương nhơ nhuốc của Tần Cối; luôn hãm hại, bắt bớ các nhà đấu tranh dân chủ và nhân dân VN biểu tình chống quân Tàu xâm lược hay sao?! Mong các ngài, sớm ngẫm nghĩ nhà độc tài Ai Cập Hosni Mubarak và tể tướng bán nước của nhà Tống là Tần Cối, kết quả cuộc đời kẻ độc tài và bán nước ra sao?!.

Nguyễn Lộc Yên


----
 
Sửa đổi Hiến pháp cho Dân hay cho đảng...?
 
Đảng cộng sản Việt Nam bây giờ muốn làm trái
Đảng cộng sản Việt Nam bây giờ muốn làm ông trời
Quân đội phải trung với nước, hiếu với Dân
Quân đội bây giờ phải trung với đảng cộng sản Việt Nam là sao...
Quân đội là từ Dân mà ra không là từ đảng cộng sản Việt Nam mà ra
Nguyễn Sinh Hùng nhào theo phe Nguyễn Phú Trọng
Bảo vệ đảng cộng sản Việt Nam là bảo vệ tham nhũng cho chính mình
Đảng cộng sản Việt Nam hoang mang lo sợ quân đội bảo vệ Dân
Đảng cộng sản Việt Nam hốt hoảng khi sửa đổi Hiến pháp cho Dân
Đảng cộng sản Việt Nam đi ngược lại lợi ích của hầu hết Dân Việt Nam
Đảng cộng sản Việt Nam chăn sóc giữ gìn lợi ích của tham nhũng cho chính mình
Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ còn trên danh nghĩa chứ không còn trong lòng Dân Việt Nam
Tự do và Dân Chủ lành mạnh đòi hỏi sự tham dự của tòan Dân trong và ngoài nước Việt Nam
Tự do và Dân Chủ đòi hỏi nỗ lực và hy sinh đóng góp
Cơ Hội Tự do và Dân Chủ Cho Việt Nam đang ở trong tay tất cả mọi người
Vai trò lịch sử của cả dân tộc Việt Nam không một ai có thể bỏ
qua

Tuesday, 26 February 2013

Chuyện Kể Bên Tầu: Việt Kiều Cẩn Thận "Nội Tạng"

1 sinh viên Đại học Tứ Xuyên tham gia vào 1 buổi party tối thứ bảy. Cô cảm thấy hạnh phúc và uống rất nhiều rượu, sau đó một người đàn ông trẻ ngồi trước mặt cô. Hai người tản tính qua lại, cho đến khi cuối cùng cô cũng đồng ý đi với anh chàng đẹp trai này đã đi đến một khách sạn ở gần đó. Họ vào phòng, và cô gái uống nhiều rượu hơn, cô từ từ bắt đầu cảm thấy chóng mặt, buồn ngủ, và sau đó thiếp đi.

Khi cô tỉnh dậy, cô thấy cơ thể của mình trong bồn tắm đầy đá lạnh, điện thoại và bóp tiền đầy đủ. Có 1 ghi chú với dòng chữ màu đỏ bên cạnh "Gọi 120, hoặc bạn sẽ chết!". Cô quay số gọi khẩn cấp (120) và giải thích tình hình hiện tại của cô. Bác sĩ rằng cô nên kiểm tra xem có vết thương nào không, và cô thấy 2 vết cắt dài 9 inch ở phần lưng dưới! Bác sĩ muốn cô nằm xuống trở lại bồn tắm đầy nước đá, nói với cô ấy không được di chuyển, ngay lập tức có đội ngũ hỗ trợ đầu tiên để tìm cô ấy. Họ chỉ ra rằng 2 quả thận của cô đã bị đánh cắp! Vết cắt là để loại bỏ thận của cô. Trên thị trường chợ đen, 1 quả thận trị giá $300.000! Pháp y điều tra xác định rằng nạn nhân đã uống rượu, uống thuốc có chất ma tuý mạnh mẽ, cộng với đá viên, do đó, nạn nhân sẽ không cảm thấy đau đớn. Cô gái đã chết trong bệnh viện sau khi chờ đợi một quả thận thay thế.

Cảnh sát thông báo cho tất cả mọi người: đây là 1 tội phạm mới xảy ra, phụ nữ và nam giới trẻ, khách du lịch, đều là mục tiêu của chúng. Đây là tổ chức tội phạm lớn. Hành vi phạm tội đang diễn ra tại nhiều thành phố lớn, đặc biệt là gần đây ở Sơn Đông, Quảng Châu, Thâm Quyến, Phật Sơn, Đông Quan, Hạ Môn, Tuyền Châu và Bắc Kinh, Thượng Hải, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, và quán bar trên cả nước (nó cũng xảy ra ở phía nam Đông Nam Á) ! Xin vui lòng gửi bất kỳ người nào bạn quan tâm, những người bạn biết / yêu!

(Vụ việc này tương tự như những gì đang xảy ra cho các cộng đồng nghèo ở Philippines, hay Việt Nam - vốn xếp hạng 4 trong các quốc gia có nạn buôn bán nội tạng người trong năm 2009-2010) ‎1 sinh viên Đại học Tứ Xuyên tham gia vào 1 buổi party tối thứ bảy. Cô cảm thấy hạnh phúc và uống rất nhiều rượu, sau đó một người đàn ông trẻ ngồi trước mặt cô. Hai người tản tính qua lại, cho đến khi cuối cùng cô cũng đồng ý đi với anh chàng đẹp trai này đã đi đến một khách sạn ở gần đó. Họ vào phòng, và cô gái uống nhiều rượu hơn, cô từ từ bắt đầu cảm thấy chóng mặt, buồn ngủ, và sau đó thiếp đi.

Khi cô tỉnh dậy, cô thấy cơ thể của mình trong bồn tắm đầy đá lạnh, điện thoại và bóp tiền đầy đủ. Có 1 ghi chú với dòng chữ màu đỏ bên cạnh "Gọi 120, hoặc bạn sẽ chết!". Cô quay số gọi khẩn cấp (120) và giải thích tình hình hiện tại của cô. Bác sĩ rằng cô nên kiểm tra xem có vết thương nào không, và cô thấy 2 vết cắt dài 9 inch ở phần lưng dưới! Bác sĩ muốn cô nằm xuống trở lại bồn tắm đầy nước đá, nói với cô ấy không được di chuyển, ngay lập tức có đội ngũ hỗ trợ đầu tiên để tìm cô ấy. Họ chỉ ra rằng 2 quả thận của cô đã bị đánh cắp! Vết cắt là để loại bỏ thận của cô. Trên thị trường chợ đen, 1 quả thận trị giá $400.000! Pháp y điều tra xác định rằng nạn nhân đã uống rượu, uống thuốc có chất ma tuý mạnh mẽ, cộng với đá viên, do đó, nạn nhân sẽ không cảm thấy đau đớn. Cô gái đã chết trong bệnh viện sau khi chờ đợi một quả thận thay thế.

Cảnh sát thông báo cho tất cả mọi người: đây là 1 tội phạm mới xảy ra, phụ nữ và nam giới trẻ, khách du lịch, đều là mục tiêu của chúng. Đây là tổ chức tội phạm lớn. Hành vi phạm tội đang diễn ra tại nhiều thành phố lớn, đặc biệt là gần đây ở Sơn Đông, Quảng Châu, Thâm Quyến, Phật Sơn, Đông Quan, Hạ Môn, Tuyền Châu và Bắc Kinh, Thượng Hải, Tứ Xuyên, Trùng Khánh, và quán bar trên cả nước (nó cũng xảy ra ở phía nam Đông Nam Á) ! Xin vui lòng gửi bất kỳ người nào bạn quan tâm, những người bạn biết / yêu!

(Vụ việc này tương tự như những gì đang xảy ra cho các cộng đồng nghèo ở Philippines, hay Việt Nam - vốn xếp hạng 4 trong các quốc gia có nạn buôn bán nội tạng người trong năm 2009-2012)


 Bài do A T chuyễn

Monday, 25 February 2013

Tha La Xóm Đạo: Người Trăm Năm Cũ



Trước đây lâu rồi, tôi có viết một bài về Tha La Xóm Đạo theo hồi ức, đăng ở báo Giáo Xứ Việt Nam Paris năm 1986.

Bây giờ 25 năm sau, tôi lại viết về Tha La Xóm Đạo, nhân dịp sắp kỷ niệm 25 năm phong thánh 117 vị tử đạo ở Việt Nam (1998-2013).

Thành thật cám ơn Cha Petrus Nguyễn Văn Thắm, hiện là chánh sở giáo xứ Tha La, và cha Trần Anh Dũng, Giáo Xứ Việt Nam Paris đã giúp thêm tài liệu, hình ảnh.

Bối cảnh thời khai sinh xóm đạo

Thường nghe kể, gần cuối trào vua Minh Mạng, khoảng năm 1837, ông Côsimô Nguyễn Hữu Trí cùng một số, độ mươi gia đình, lánh nạn bắt đạo (Thiên Chúa Giáo) từ Huế lần vào miền Nam, ban đầu dừng chân ở Bà Trà (Thủ Dầu Một) rồi di dời đến Suối Đá (Tây Ninh) và cuối cùng định cư tại Tha La, nay thuộc ấp An Hội, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Họ tự lực khai khẩn đất hoang, ẩn náu mưu sinh, giữ gìn niềm tin đạo Chúa. Thuở đó họ chỉ tổ chức đọc kinh chung giữa các gia đình, địa điểm phải thay đổi luôn để tránh bị theo dõi, dò xét, khi xóm Lò Mo, khi ở Trường Đà.

Tại Tha La ông Côsimô Nguyễn Hữu Trí qui tụ thêm được ông Ngươn (ở Bầu Nâu), ông Hiệp (Rạch Thiên), ông Tròn, ông Trĩa, ông Rẫy, ông Ruộng, ông Phó Dần, ông Hương Quả (Lộc Giang), ông Tổng Phương, ông Tổng Long (Bãi Sau)… Ông Phó Dần, ông Hương Quả là người bên lương có liên hệ họ hàng với ông huyện Paulus Nguyễn Văn Viên, tín đồ Thiên Chúa giáo, một trong những người sau nầy góp công xây dựng nhà thờ Tha La.

Thời bấy giờ, Tha La chưa thành một họ đạo, chưa có linh mục coi sóc nên giáo dân muốn hành đạo, nhận các bí tích (xưng tội, rước lễ…) phải di chuyển 40-50 cây số, xuyên qua rừng, tới Lái Thiêu hay Chợ Quán.




Nhà thờ Tha La
Hình thành và Phát triển - Những niên biểu căn bản

• 1840 Ông Côsimô Trí thỉnh thoảng mời được các linh mục ghé qua giúp giáo dân sống đạo như cha Hiểu, cha Tam, cha Lợi, cha Jean Claude Pernot (Định), 1832-1904.

• 1860 Lần đầu tiên có linh mục, cha Jean Baptiste BESOMBES (tên Việt là Hạnh), 1833-1867, người gốc vùng Aveyron (Pháp) thuộc Hội Thừa Sai Truyền Giáo Paris (M.E.P.). Nhà thờ sơ sài, mái tranh, vách lá được cất ở Lò Mo - Trường Đà (ấp An Lợi, xã An Hòa).

1862 Nhà thờ và nhà một số giáo dân bị đốt cháy bởi tương tranh lương giáo về quyền lợi, chính kiến… Dường như có xích mích giữa cha Besombes Hạnh và người bên lương ở Lộc Giang.

• 1863 Cha Jules ERRARD (Y), 1838-1891, thay thế cha Hạnh, cất nhà thờ tạm.

• 1868 Cha Edouard François Marie VINCENT (Sơn), 1835-1877, cất lại nhà thờ bằng vật liệu nhẹ, có mái tranh dài, một đầu là nhà thờ, đầu kia làm nơi cha cư trú. Sau cha qua đời tại chủng viện Sàigòn 1877, an táng tại Lăng Cha Cả, gần phi trường Tân Sơn Nhứt**

• 1870 Cha Jean FOUGEROUSE (Phụng), 1840-1898, lập 2 trường tiểu học (nam, nữ), nhờ các dì phước dạy học.

• 1874 Cha DƯ mở thêm lớp học.

• 1880 Cha Pierre Marie LALLEMENT (Liễu), 1850-1908, đến Việt Nam 1875, học tiếng Việt ở Bà Rịa và Cái Mơn, dạy chủng viện Thánh Giuse. 1880 : nhiệm sở Tha La. Sau đó cha nhiệm chức Bề Trên Giáo phận Vĩnh Long, đồng thời là trợ bút cho tờ báo Công giáo đầu tiên ở Việt Nam : Nam Kỳ Địa Phận.

• 1881 Cha Louis LAURENT (Bính), 1865-1934, muốn dựng lại nhà thờ bắt đầu hư cũ, nhưng đa số giáo dân đều nghèo. Cha trình với Đức Giám Mục Giáo Phận Sàigòn Isodore Colombert Mỹ, được khuyến khích và giúp cho 400 đồng. Cha tiếp tục vận động các nơi. Ông huyện Paulus Nguyễn Văn Viên hỗ trợ 2200 đồng, giáo dân đóng góp thêm, tổng cộng 3950 đồng. (Đức Cha Colombert Mỹ, 1838-1894, người gốc vùng Mayenne Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, đến Việt Nam truyền giáo 1863, xây dựng nhà thờ chánh tòa Sàigòn, viết nhiều sách tiếng Việt về đạo ; qua đời và an táng trong Vương Cung Thánh Đường Sàigòn.)

1885 Sau bốn năm cố gắng, nhà thờ khánh thành.

1887 Cha sở Bính hoàn tất việc cất nhà cha sở, với sự trợ giúp của ông huyện Viên (300 đồng) và một số giáo dân.

1888 Cũng cha Bính tiếp tục khởi xướng việc xây tháp chuông, ba chuông nhứt nhì ba được ba người dâng tặng : ông huyện Viên, bà Thọ, thầy Giêng. Tiếng chuông ngân giống như chuông nhà thờ Đức Bà Sàigòn, vì cùng do hãng Pháp Bolee thực hiện. Bởi sự đóng góp đặc biệt của ông bà huyện Viên trong các công trình xây dựng nêu trên nên lúc qua đời được Giám mục Colombert Mỹ cho phép chôn cất trong nhà thờ. Sau nầy, khi xây lại nhà thờ mới, phần mộ của ông bà Huyện Viên được cải táng, hiện ở trước núi Đức Mẹ, xế mặt tiền nhà thờ Tha La.

• 1889-1890 Cha Jean Baptiste Marie CLAIR (Quang), 1851-1910, sang Việt Nam 1877, dạy trường Latinh 8 năm. Về coi Tha La. Mở hai địa điểm mục vụ mới : Rạch Gốc, Vàm Tây Ninh. Cha cộng tác với tờ Nam Kỳ Địa Phận, khi qua đời chôn ở Lăng Cha Cả**.

• 1909 Cha Victor Charles QUINTON (Tôn), 1866-1924.

• 1919 Cha Gioan Baotixita NGUYỄN THÁI TÔNG, 1870-1951, nới rộng nhà thờ thêm hai gian.

• 1944 Có thêm cha Phêrô Nguyễn Bá Kính về phụ giúp cha Tông.

1946 Cha Kính theo cách mạng kháng chiến, bị tử nạn ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Không biết có phải hành động nầy khơi gợi phần nào cảm hứng cho thi sĩ Vũ Anh Khanh khi ông viết bài thơ Tha La đăng trong tập truyện Nửa Bồ Xương Khô, nhà xuất bản Tân Việt Nam Sàigòn 1949. Nghe rằng thi sĩ V.A. Khanh là bạn của nhà văn Thẫm Thệ Hà, tức giáo sư Tạ Thành Kỉnh, nên thi sĩ họ Vũ mới có dịp lưu trú tại quê hương Trảng Bàng của ông Thẫm, tác giả quyển tiểu thuyết Đời Tươi Thắm 1956, cũng lấy Xóm Đạo làm bối cảnh.

• 1950 Cha Phêrô ĐẶNG NGỌC THÁI về làm cha sở Tha La.

1956 Cha đồng ý cho cha Trực đem đồng bào Bắc Việt di cư vào ở xóm Trường Đà.

• 1957 Cha Gioan Baotixita HỒ VĂN VUI (1917-2002 )

- Xây thêm 4 căn, mở thêm lớp nhì và lớp nhất để học sinh có thể học hết bậc Tiểu học tại chỗ khỏi phải đi xa (ra Trảng Bàng), xin thêm 4 dì phước dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán về dạy. Lần đầu tiên có bảy thí sinh trường Xóm Đạo đi thi bằng Tiểu học, được sáu em đậu (1958).

- Xây vách thành rào chung quanh nhà thờ.

- Nới rộng hai bên cung thánh.





Hang đá Đức Mẹ
- Xây hang đá Đức Mẹ, nhân kỷ niệm một trăm năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức (Lourdes - Pháp). Ngày khánh thành 9-12-1957 đoàn người rước kiệu dài sáu cây số, mời hàng ngàn khách lương giáo tham dự. Tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm (Immaculée Conception) từ đó là bổn mạng của họ đạo Tha La, hàng năm vẫn hành lễ vào 8 tháng 12.

- Cất Hội quán cho Ban quới chức có nơi hội họp.

- Xây thêm nhà thờ ở các họ nhánh : Trảng Bàng, Bình Nguyên, Phước Chỉ.

(Cha Hồ Văn Vui trước đó là chánh sở nhà thờ Đức Bà Sàigòn, bị nghi ngờ không thích chính quyền thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, cha về nương náu tại Tha La với sự chấp thuận của Đức Cha Simon Hòa Hiền - hồi đó Tha La còn thuộc Tòa Giám Mục Sàigòn. Đến năm 1960 cha rời Xóm Đạo, qua ngã Campuchia sang Pháp học và tốt nghiệp ngành Xã hội học. Sau trở về Việt Nam, có lúc nhiệm chức Giám đốc Cơ Quan Bái Ái Công Giáo Caritas Việt Nam.)

Sau 1960, cha phó Luca Nguyễn Phước Quan tiếp tục điều hành giáo sự Tha La.

• 1965 Cha Giacôbê HUỲNH VĂN CỦA

- Đề xướng việc xây Đài Đức Mẹ ở 6 giáo khu, mỗi khu tự chọn tước hiệu Đức Mẹ, buổi tối giáo dân họp nhau đọc kinh, lần chuỗi.

- Xây thêm ở Gò Dầu và ở biên giới, Gò Dầu Thượng : nhà thờ, nhà cha sở, trường học, quán cơm xã hội…

• 1966 Địa phận Phú Cường thành lập, từ đó Tha La trực thuộc giáo phận Phú Cường.

Xóm Đạo Tha La thành họ đạo, chính thức được nâng lên hàng giáo xứ cùng với ngôi thánh đường, ranh giới và giáo dân hiện hữu (Nghị định 22-9-1966 do GM Phạm Văn Thiên ấn ký, Prot. N 311/66).

Cha Gioakim NGUYỄN VĂN NGHỊ, cũng năm nầy, về làm chánh sở. Ngôi nhà thờ cũ cần xây lại, tân trang, họ đạo không đủ tài chánh, cha Nghị đề ra sáng kiến : mỗi ngày giáo dân để vào heo đất tiết kiệm 2 đồng.

1970 Sau 3 năm khổ công lo toan, nhà thờ khánh thành, có thêm biệt danh “Nhà thờ hai đồng”. Cha Nghị còn tu sửa lại nhà xứ. Các công trình nầy, ngoài cha sở Nghị vất vả, còn nhờ ông Antoine Nguyễn Văn Gia tận tình hỗ trợ, chẳng những giúp công, giúp của, ông còn giúp làm ruộng của nhà chung suốt mấy mươi năm không nhận thù lao.






Cha Nghị cũng di dời hai ngôi mộ của Ông Côsimô Trí và Ông bà huyện Viên ra trước hang núi Đức Mẹ, xế mặt tiền nhà thờ.

Cha còn khởi xướng việc cử hành trọng thể lễ kính ông bà, tổ tiên tại nghĩa trang Tha La vào ngày 2 tháng 11 hàng năm.

• 1995 Cha Giuse NGUYỄN TẤN TƯỚC

- Cất nhà quàng trong nghĩa trang Tha La,

- xây vòng rào bao quanh nghĩa trang

- và xây rào quanh nhà thờ.

• 2000 Cha Philipphê TRẦN TẤN BINH

- Tu sửa cung thánh, tráng xi măng sân nhà thờ.

- Lập nhà máy nước cung cấp nước sạch cho dân xã An Hòa.

• 2005 Cha Petrus NGUYỄN VĂN THẮM

2006 Xây lại hội quán nhà thờ,

2007 Lấy lại được ngôi trường Tiểu học mà nhà nước đã “mượn” từ năm 1975.

2009 Nhà nước trưng dụng 56 mẫu ruộng của nhà chung mà giáo dân đang canh tác để làm khu Công Nghiệp Bourbon An Hòa. Cha thương lượng để các người trực canh và giáo xứ được bồi thường.

Xóm Đạo Tha La trở thành họ đạo tiên khởi ở Tây Ninh. Từ năm 1837 manh nha với hai mươi gia đình, đến nay, năm 2012 tức 175 năm sau, Tha La có hơn hai ngàn nóc gia với khoảng năm ngàn giáo dân, trải qua 50 đời cha sở góp công vun bồi.

Địa danh và con người

Theo ông Hồ Đình Vũ trong bài Địa Danh Miền Nam thì do bởi sự kiện người Khmer sống chung lẫn với người Việt nên có nhiều địa danh bắt nguồn từ ngôn ngữ Khmer được Việt-hóa như Tha La : tiếng Khmer là Schla đọc trại ra.

Schla : nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng (của tu sĩ Phật giáo). Cũng có giải thích khác : trạm, trại, nhà lồng, nhà mát… hay “Tha La là một loài cây linh thiêng của đạo Phật” (Thương 358. Commentaire, Site You Tube Tha La Xóm Đạo 17-10-2007)

Trong Việt Nam Tự Điển II (quyển hạ) của Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính, ghi : Tha La=chòi, trại của thầy sãi Cao Mên : xóm Tha La, cát Tha La…

Nghe nói trong các vùng trước đây có người Miên sinh sống nhiều như Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng… cũng có nơi gọi là Thala. Nhưng chỉ Tha La Xóm Đạo ở An Hòa, Trảng Bàng là vang danh. (Google Maps : Từ quận lỵ Trảng Bàng, trên quốc lộ 22, rẽ bên trái theo đường Nguyễn Du, độ 4 cây số, thấy Tha La, Tây Ninh, Viet Nam, có ghi rõ nhà thờ Tha La).

Ông Vũ Anh Khanh, tác giả bài thơ Tha La Xóm Đạo đã thăng hoa vùng quê nghèo đầy tre nứa, bụi mù đất đỏ vắng lặng thành một xóm đạo nên thơ ; với trái ngọt cây lành, hoa gạo, trời xanh mây trắng, thoang thoảng gió nhạc buồn trăn trở vận nước lầm than, ly loạn. Từ đó Tha La nổi tiếng, gợi khơi thêm niềm xúc cảm cho các người khác viết về thôn xã nhỏ bé nầy, nhỏ đến độ hiện nay vẫn còn nhiều người chưa biết. Tuy thế Tha La Xóm Đạo vẫn hiển hiện trong văn thơ, tân nhạc, cổ nhạc… Những tác phẩm của Vũ Anh Khanh, Dzũng Chinh, Loan Thảo… không chỉ vang bóng một thời mà có lẽ sẽ còn lưu mãi đến ngàn sau, như người dân xóm đạo đời đời sinh động niềm tin, lặng lẽ trong an bình lẫn gian nan thử thách.





Tinh thần mộ đạo của giáo dân Tha La
Tinh thần mộ đạo là môi trường sản sinh cho xã hội nhiều thế hệ cần cù lao động, sống đời lương thiện ; cung ứng cho Giáo hội Công giáo những ông câu, ông biện nhiệt thành, những bà mẹ sốt sắng làm tông đồ, những tu sĩ nam nữ năng động… Được nghe biết các cha sau đây sinh quán tại Tha La :

- Gioan Baotixita Nguyễn Phụng Dõng, sinh năm 1902, linh mục 1929,

- Phanxicô Xaviê Lê Vĩnh Khương, sinh năm 1903, linh mục 1929, cố chánh sở Thị Nghè, tác giả quyển Từ Việt Nam Sang Roma, nhà in Kim Sơn Saigon 1952,

- Felix Lê Vĩnh Trình, sinh năm 1904, linh mục 1933,

- Phêrô Nguyễn Minh Cảnh, sinh năm 1920, linh mục 1945,

- Giacôbê Nguyễn Văn Vi, sinh năm 1932, linh mục 1960, cố Giám đốc Trung Tâm Công Giáo Tiến Hành,

- Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, sinh năm 1925, linh mục 1951, sáng lập cộng đoàn Bác Ái Cao Thái.

Và các nữ tu như dì Viện, dì Tình, dì Nhiễu, dì Nguyễn, sơ Pascale Lê Thị Tríu (quen thuộc với thuyền nhân đã qua một thời ở Palawan, Phi Luật Tân).

Tha La cũng có ba cha sở được nâng lên hàng giám mục :

1. GM Victor Charles Quinton (Tôn) (1866-1924), M.E.P., sinh quán thuộc giáo phận Laval, vùng Mayenne (Pháp),

- 1890 Đến Việt Nam, học tiếng Việt ở Bà Rịa,

- 1909 Làm cha sở Tha La. Sau đó thụ phong giám mục, làm giám mục phó Tông Tòa Sàigòn.

- 1920 Giám mục giáo phận Sàigòn.

- 1924 Bị bệnh, trở về Pháp điều trị, qua đời tại chủng viện Bièvres.

Đức cha Quinton xuất bản nhiều sách bằng tiếng Việt. 17 Thơ chung của 3 giám mục địa phận Sàigòn, Imprimerie de la Mission, Tân Định Saigon 1950 : Phép Hôn phối theo Luật đạo (1914), Việc Bổn phận buộc người đôi bạn phải giữ cùng nhau (1915), Việc Bổn phận cha mẹ phải làm cho con cái (1916), Về sự đọc kinh hôm mai chung trong nhà cùng sự Tôn Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giê Su trong gia thất người giáo hữu (1918), Người Lớn phải đi nghe dạy Sách phần ngày Chúa nhựt (1919), Về việc Bổn phận kẻ làm cha mẹ : Dạy dỗ con cái Chúa cho biết đạo thánh Chúa, lo liệu cho nó giữ đạo trọn đời (1920) ; Về Sự ăn năn tội (1921)…

2. GM Giacôbê Huỳnh Văn Của (1915-1995).

- 1943-1958 Chánh sở họ Gia Định, kiêm nhiệm chương trình “Tiếng Nói Công Giáo” trên Đài Phát Thanh Sàigòn. Sau đó gặp khó khăn với chính quyền Sàigòn, cha sang Pháp, sống tại Trung Tâm Bác Ái (Foyer de Charité) ở Châteauneuf, một cộng đoàn chuyên lo tổ chức điều hành các cuộc tĩnh tâm.

- 1964-1965 Trở về Việt Nam làm cha sở Tha La.

- 1966 Giáo phận Phú Cường thành lập với Giám Mục Phạm Văn Thiên, cha HV Của làm Tổng Đại diện giáo phận, kiêm chánh sở họ Búng, rồi Lái Thiêu.

- 1968-1978 Thành lập và điều hành Trung Tâm Bác Ái Lái Thiêu.

- 1976 Được bổ nhiệm làm giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phú Cường.

- 1978 Sang Pháp chữa bệnh suy tim.

- 1982 Đệ đơn từ chức.

- 1995 Qua đời, an táng tại nghĩa trang giáo sĩ, giáo phận Nice, Pháp.

3. GM Giuse Nguyễn Tấn Tước, sinh năm 1958.

- 1991 Thụ phong linh mục, phụ tá giáo xứ Tha La.

- 1995 Chánh sở họ đạo Tha La.

- 1999 Tu học ở Pháp, Institut Catholique de Paris.

- 2006 Về Việt Nam đặc trách ơn gọi linh mục giáo phận Phú Cường.

- 2011 Thụ phong giám mục, Giám mục phó giáo phận Phú Cường.

- 2012 Giám mục giáo phận Phú Cường.

Đó là trên bình diện tôn giáo.

Còn đối với đất nước, đương nhiên cũng không thiếu những người con Xóm Đạo đi làm bổn phận công dân thời chinh chiến. Mới gần đây, do biến động thời sự, báo giới có dịp nhắc kể tỉ mỉ trận chiến chống Trung Cộng lấn chiếm lãnh hải Việt Nam, tưởng nhớ các anh hùng tử sĩ, nhiều nhất là ông Ngụy Văn Thà, sinh quán An Hòa Tha La, Trung Tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo, đã tử thương ngày 19-1-1974 trong nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa.

Người trăm năm cũ

Nói về Tha La Xóm Đạo, thấy các bài viết ghi vắn tắt ông Côsimô Trí lánh nạn bắt đạo… kẻ hậu sinh băn khoăn muốn biết hoàn cảnh nào khiến những con người bó buộc phải rời sinh quán lưu lạc tới miền đất lạ hoang dã, vào thời mà phương tiện di chuyển hãy còn khó khăn ?

Xem lại tài liệu lịch sử : Đầu thế kỷ 16, thời Nam-Bắc phân tranh, các vua chúa Lê - Mạc, rồi Trịnh - Nguyễn đều cho phép mở cửa biển, đón các tàu buôn ngoại quốc vào giao thương. Bởi thế, có các giáo sĩ Tây phương vào Việt Nam giảng truyền đạo Thiên Chúa.

Từ đó về sau, các giáo sĩ cứ dần dần vào nước dạy đạo, mà người mình càng ngày càng theo đạo cũng nhiều. Nhưng vì nước ta từ xưa đến nay vẫn theo Nho giáo, lấy sự thờ cúng ông cha làm trọng, lấy sự tế tự thần thánh làm phải… Đột nhiên thấy nhiều người mình theo đạo Thiên Chúa, bỏ cả các thói cũ, chỉ chuyên về một mặt theo đạo mới, bởi vậy cho nên trong Nam ngoài Bắc, vua chúa đều cho ấy là một tả đạo, làm hủy hoại cả cái phong hóa của nước nhà xưa nay, bèn xuống chỉ cấm không cho người trong nước theo đạo nữa và đặt ra phép nghiêm để bắt tội những kẻ không tuân theo chỉ dụ ấy (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Liệu II, trang 99).

Liên tiếp, khởi từ Trịnh Nguyễn Phân tranh, rồi nhà Tây Sơn, và các vua nhà Nguyễn sau đó (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) vẫn duy trì việc cấm đạo.

Trừ vua Gia Long, vì liên hệ ơn nghĩa với Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), có thiện cảm với đạo Thiên Chúa, nên vua để yên cho đạo phát triển. Ban giấy phép cho giảng đạo nhưng không ban hành sắc dụ nào bãi bỏ việc cấm đạo.

Thời vua Minh Mạng 1820-1840, tình hình đất nước không yên ổn : biên giới giặc Xiêm quấy nhiễu, ngoài Bắc Lê Duy Lương khởi loạn ở Ninh Bình, Nông Văn Vân ở Tuyên Quang, Phan Bá Vành ở Nam Định ; trong Nam ở Gia Định Lê Văn Khôi (con nuôi Tả Quân Thượng Công Lê Văn Duyệt) dấy binh chống lại triều đình. Bị vây, Khôi cố thủ trong thành rồi bịnh chết, nhưng bè đảng vẫn tiếp tục chống cự, mãi hơn hai năm sau, 1835, binh triều mới dẹp tan, giết hết 1940 ngụy quân, chỉ đóng củi giải giao về Huế sáu người trong đó có giáo sĩ Pháp Marchand (Du) và đứa con bảy tuổi của Khôi. Cả sáu người nầy đều bị xử lăng trì.

Trường hợp cha Marchand Du là một nghi án. Theo ông Trần Trọng Kim, có người bảo cha muốn làm như GM Bá Đa Lộc, có người bảo cha bị bắt vào thành. Việc bàn đi bàn lại vẫn phân vân không rõ hẳn ra thế nào (Việt Nam Sử Lược II, trang 208). Còn theo LM Vũ Thành, cha Marchand Du đang ở Mặc Bắc, Vĩnh Long bị giặc Khôi cho người tìm xuống, áp lực mời về. Khôi muốn nhờ cha viết thư cầu cứu với người Anh, binh Xiêm, và kêu gọi giáo dân Đồng Nai đến giúp. Nhưng cha đều từ chối, chỉ muốn được về lo việc giảng đạo. (Thư cha Marchand Du gởi GM Jean Louis Taberd, lúc ấy đang ở bên Xiêm, ngày 24-9-1834 kể về tình cảnh bị bắt buộc ở chung với 4000 lính Bình Thuận làm phản triều đình. Dòng Máu Anh Hùng II, trang 76-77).

Vì thế ngày 27-1-1836, vua Minh Mạng ra sắc lệnh cấm đạo toàn diện và bế môn tỏa cảng, từ chối giao thương với các tàu buôn Pháp, Anh, Mỹ…

Lúc bấy giờ, không phải một mình vua ghét đạo mà thôi, phần nhiều những quan lại đều một ý cả, cho nên việc cấm đạo càng nghiệt thêm… Từ đó trở đi, trong Nam ngoài Bắc chỗ nào cũng có giặc giã nổi lên, vua ngờ dân bên đạo theo giúp quân giặc lại càng nghiệt hơn (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược II, trang 227).

Việc cấm đạo và các hình phạt dành cho người theo đạo cũng tùy triều đại, vua chúa và tùy tình hình chính trị trong nước mà hòa hoãn, giảm nhẹ hay thẳng tay sát hại : từ hiểu dụ, ngăn cấm, phạt tiền, đóng gông, đánh khảo, giam tù, thích chữ vào mặt, phân sáp lưu đày… đến giết thả trôi sông, xử giảo, xử trảm, xử bá đao… Song hành ban thưởng tiền bạc, bổng lộc, phẩm chức cho những ai tố cáo, chỉ điểm bắt được người theo đạo, chứa chấp cũng bị vạ lây, quan chức biết mà không cáo thì bị giáng cấp, đổi nhiệm sở…

Người tín hữu Côsimô Nguyễn Hữu Trí sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đó, nên mạo hiểm tìm đường lánh nạn, lần dò vào tận miền Nam trong lo âu, dè dặt. Tha La Xóm Đạo khai sinh trong gian truân bất trắc và người đầu đàn dầy công chịu đựng thử thách đã không yên hàng nhìn thấy Xóm Đạo vươn mình.






Bởi vì, năm 1859 khi hải quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, bắn phá và chiếm thành Gia Định thì triều đình lại ra sắc lệnh tháng 10/1859 bắt đạo nghiêm nhặt hơn nữa. Lần nầy nới rộng các thành phần bị bắt : “Những người ở trong hội đồng giáo xứ”. Do đó, ông Côsimô Trí bị bắt (cùng với Ô. Long, Ô. Thể…) và ông đã chết trong ngục. Hài cốt chôn ở nghĩa trang Xóm Đạo. Sau, phần mộ được cha sở Gioankim Nghị cải táng, di dời về trước núi Đức Mẹ nhà thờ Tha La. Tấm bia cũ ghi khắc :

CÔXIMÔ TRÍ

Hãn nằm đây
Công đức cao dày, bia tạc nay :
Sáng tạo Tha La đã rõ mặt
Quí quyền câu họ lãnh đầu tay
Ghe phen tù rạc vì danh Chúa
Nhiều nỗi khổ hình bởi đạo ngay
Tạ thế Canh Thân 1860,
Nơi khám thất
Anh em giáo hữu chớ quên người.

Anh em giáo hữu chớ quên người lời nhắn nhủ được người Xóm Đạo tuân hành. Hàng năm, giáo xứ Tha La làm lễ giổ cho ông Côsimô Trí vào đầu tháng 8, có con cháu ở các nơi về tham dự.

Ngày 4-8-2012, cha sở Petrus Thắm cùng các linh mục đã đồng tế trọng thể lễ giỗ tưởng nhớ ông Côsimô Trí và các người có công kiến thiết giáo xứ.

Gần đây trên mạng internet, thấy nói về Đêm Canh Thức nơi nghĩa trang Tha La, từ ban tối ngày 1-11 lễ Các Thánh Nam Nữ cho đến rạng sáng 2-11, người sống thắp nến cầu cho kẻ chết, kết thúc bằng một thánh lễ đồng tế vào lúc 4 giờ 30 sáng tại nhà thờ, để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, họ hàng tộc hệ và các đằng linh hồn.

Không kể các tổ chức khuyến mại thông thường có tính cách thế tục bao quanh lễ hội, nghi thức cầu nguyện sinh động nầy biểu hiện tinh thần thông công giữa thế giới hữu hình và vô hình, một sắc thái truyền thống Ki-tô giáo đồng hành với văn hóa tín ngưỡng tôn kính tổ tiên, có lẽ trong chiều hướng để cho cõi lòng người công giáo Việt Nam mở rộng, hiệp thông với Thiên Chúa, với tổ tiên và đồng bào mọi giới (lời TGM Nguyễn Như Thể khai mạc Tuần lễ tọa đàm về vấn đề Tôn Kính Tổ Tiên tại Huế 29-10-1999).

Đời sau nhìn lại

Sử gia Trần Trọng Kim viết Bao giờ cũng vậy, hễ người ta đã sùng tín một tôn giáo nào thì tất cho cái tôn giáo của mình là hay hơn, và cho người theo tôn giáo khác là thù nghịch với mình, rồi hễ có quyền thế là làm thế nào cũng dùng cách mà hà hiếp người khác đạo với mình.

… Một ông vua nghiêm khắc như Thánh Tổ (vua Minh Mạng, TTMK) mà cấm không được, tất phải giết. Trong khi cấm và giết như vậy, vẫn cứ tưởng mình làm bổn phận làm vua, chớ có biết đâu mình làm sự thiệt hại cho dân cho nước. (Việt Nam Sử Lược II trang 186)

Tại sao người tín hữu Ki-tô bị đàn áp, bị cáo buộc không thờ kính tổ tiên khi mà giới răn thứ 4 ghi rõ nghĩa vụ hiếu đạo; và sách Tân Ước, Huấn Ca… đều nhắc nhở con cái cách hành xử với cha mẹ lúc còn sống cũng như đã qua đời ?

Được biết thuở ấy, giáo quyền Roma cũng rất phân vân trước 2 ý kiến :

- Một bên là các cha Dòng Tên (Jésuites) và Dòng Phanxicô với quan niệm tôn trọng truyền thống dân tộc khi đến truyền giáo tại Á Châu, nên cho rằng người Ki-tô giáo được dâng hương quả, tôn kính những người quá cố… (Vì các tu sĩ Dòng Tên trước khi đến Việt Nam đã truyền giáo tại Trung Hoa, nhận thức được ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, việc thờ cúng tổ tiên thành nếp văn hóa đặc thù của dân bản xứ.)

- Một bên là các cha Đa Minh và các cha Thừa Sai Paris nói rằng điều nầy trái với giáo lý là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa. Người Ki-tô giáo chỉ đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố theo nghi thức phụng vụ được chỉ dẫn, không cúng cơm, đốt vàng mã… Có lẽ thời ấy việc hội nhập văn hóa vào đời sống đức tin chưa được chú trọng, mặc dù đã có huấn vụ nhắn nhủ của Bộ Truyền Giáo năm 1659 : “Tôn trọng tập tục cổ truyền của dân bản xứ”. (Xem trang 23, Thoáng Nhìn Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Trần Anh Dũng, 2009)

Cuộc tranh cãi đã khiến ĐGH Clément XIII đặc cử Khâm sứ Achards de la Baume đến Việt Nam xem xét. Nhưng Đức Cha Maignot, đại diện Tông Tòa tại Phúc Kiến (Trung Hoa) lại quả quyết rằng vị đặc sứ được phái đến không thể nào hiểu rõ bằng ngài là người đang sống tại chỗ. Ngài yêu cầu giáo quyền Roma ngăn cấm tục thờ người chết, lễ nghi tôn kính gia tiên. Đức Giáo Hoàng chuẩn y lời xin và cấm không cho các cha Dòng Tên truyền giáo tại Á Châu nữa. Bấy giờ là năm 1715. Đó là một thử thách cho người Công giáo Việt Nam, cho Dòng Tên và có lẽ cũng cho Giáo triều La Mã thời ấy.

Nhưng, như thời gian tuần tự tiến tới, sự việc không ngừng lại ở đó. Hơn 200 năm sau, ĐGH Piô XII mới công bố Tông Thư 8-2-1939 ghi rõ người tín hữu Ki-tô có thể thực hành nghi thức lễ giỗ, bái kính tổ tiên, các anh hùng dân tộc… (Trước Cộng Đồng Vatican II 1962-1965)

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà.

Năm 1885, quyền thần Tôn Thất Thuyết đề xướng phong trào Văn Thân. Ông chủ trương trước khi chống Pháp thì phải ra tay giết đạo, vì đoan quyết người bên đạo là nội công của Pháp. Với khẩu hiệu “Bình Tây Sát Tả” ông cho lệnh lập ra một đoàn lính mới gọi là lính đoạn kết, chỉ chuyên mỗi một việc tróc nã và giết hại người bên đạo (Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng, trang 44). 60 000 người đã bị bách hại vì chiến dịch nầy.

Bên giết, bên tự vệ lần hồi trở thành cuộc chiến lương-giáo tương tàn, mà theo ông Trương Vĩnh Ký, có lúc đôi bên đều hành xử quá khích (Phúc trình gởi Thống đốc Duperré 28-4-1876).

Ông Phan Đình Phùng (1847-1895), sau một thời bất đắc dĩ qui ẩn ở Châu Giang - Mặc Lĩnh, ông vâng lệnh triều đình phất cờ “Bình Tây Sát Tả”. Nhưng rồi ông suy nghĩ lại. Bởi các ông Văn Thân lầm tưởng phàm những người theo đạo Thiên Chúa đều là nội công của người Pháp và đạo Thiên Chúa là Tả đạo (Đ.T. Nhất, Phan Đình Phùng, trang 19), nên khi đóng quân ở núi Vụ Quang, ông ra hiểu dụ Lương dân hay giáo dân đều là xích tử của triều đình, chớ nên vì lẽ gì mà hại lẫn nhau. Ông đề ra khẩu hiệu “Lương-Giáo Thông Hành”.

Khi nghe cáo buộc giáo dân là nội công của Pháp, ông nhận xét Ấy là tại nước mình yếu hèn, không có nhân tài, không có tàu bền, súng lớn, quân mạnh, tướng giỏi, chớ lỗi chi ở giáo dân. Chồn mượn oai hùm, dê đeo da cọp, ấy là thường tình của con người ta, có chi làm lạ. Xứ nào mà không có hạng người hèn ấy. Ông không “vơ đủa cả nắm”.

Thời đó, đạo Thiên Chúa bị xem là tả đạo. Ông P. Đ. Phùng nói Đạo Thiên Chúa lấy Gia-Tô làm Trời, cũng như Thích Ca Mâu Ni là Trời của đạo Phật hay Khổng Phu Tử là Trời của nhà Nho. Hễ ai đã tín ngưỡng điều gì thì điều ấy là Trời của mình. Mình muốn người ta đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của mình thì mình cũng đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của người ta. Thiên Chúa cũng là một thứ tôn giáo, mặc ai tin thì theo. (Đ.T. Nhất, Phan Đình Phùng, trang 20).

Ông đã ý thức điều mà ngày nay gọi là tự do tín ngưỡng. Con người thẳng thắn nầy được dân gian và tác giả Đào Trinh Nhất tôn gọi “Ông nghè yêu nước”.

Trăm năm sau nhìn lại, những sai sót bởi thân phận làm người như là một hệ lụy của hoàn cảnh lịch sử chính trị lúc ấy.

- Tiếc di ngôn của người khai sinh nhà Nguyễn chẳng được quan tâm Đạo Thiên Chúa, đạo Nho, đạo Phật… đều tốt cả. Không được bách hại đạo nào vì sẽ gây ra các vụ rối loạn trong nước, có khi làm mất nước nữa. (Di chúc Vua Gia Long, điều khoản 36, Dòng Máu Anh Hùng II, Vũ Thành, trang 13.)

- Thương cho quê hương một thời dậy sóng.

- Nhớ người tín hữu tiền bối Côsimô Trí tử vì đạo ở Tha La như 130 000 người đã chết thảm thương trên khắp ba miền đất nước.

Tạ Thanh Minh-Khánh. (2012)
Trích từ sách “Ngàn Năm Hiển Hiện”

** Lăng Cha Cả : Mộ phần của GM Pigneau de Béhaine và của một số giáo sĩ ở Ngã Tư Bảy Hiền, gần phi trường Tân Sơn Nhất. Sau năm 1975, tất cả hài cốt phải di dời, hiện để dưới hầm nhà nguyện của Hội Thừa Sai Paris (M.E.P.).

Tài liệu tham khảo :
- Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, Institut de l’Asie du Sud-Est I.D.A.S.E. tái bản tại Paris..

- Việt Nam Chí Sĩ : Phan Đình Phùng, 10 Năm kháng chiến ở Nghệ Tĩnh, Đào Trinh Nhất, Institut de l’Asie du Sud-Est, 1990.

- Dòng Máu Anh Hùng, Vũ Thành, Phong Trào Thanh Sinh Công tại Hoa Kỳ xuất bản, 1987.

- Đặc San Hậu Nghĩa Hoa Kỳ, xuân 2008, tác giả Sầm Tấn Phước.

Chủ Đề Người Lính VNCH :ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN ANH HÙNG VỊ QUỐC VONG THÂN.

Về tấm hình: “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn”





Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Như mọi người đã biết: Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt Cộng xử bắn, là hoàn toàn có thật. Thế nhưng, cách đây khoảng hơn hai năm, một số người đã đưa lên các diễn đàn một tấm hình, mà được cho là tấm hình của “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt cộng xử bắn tại Cần Thơ”. Và gần đây nhất, trong những ngày trước và sau Tết Quý Tỵ, 2013, thì tấm hình này lại tái xuất hiện trên các diễn đàn một cách thường xuyên nhất. Riêng người viết, thì cứ thường xuyên nhận được tấm hình này, với những dòng xác định là “Việt cộng xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”.
Chính vì vậy, nên người viết tự thấy cần phải phân tích cho rõ ràng về tấm hình ấy như sau:
Trước hết, không phải bây giờ, mà cách đây hơn hai năm, khi nhận được tấm hình này, thì người viết đã thấy ngay, đây không phải là hình thật. Vì thế, nên người viết phải tìm cho ra xuất xứ của tấm hình, song vẫn không lên tiếng. Nhưng cho đến hôm nay, thì tấm hình này đã được nhiều người cứ thường xuyên gửi lên các diễn đàn và gửi đến cả người viết nữa.
Và đây là những sự thật, cần phải phân tích cho rõ:
Tấm hình này, vốn xuất xứ từ một cuốn phim, mà người viết đính kèm theo bài này, để chứng minh cho những điều ấy:
1- Đạo diễn của cuốn phim này đã vô trách nhiệm khi dàn dựng một cuộc “xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ” không trung thực. Bởi trong tấm hình, có hai người, được cho là “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” và “tên Việt cộng đang xử tử Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”.
Như mọi người đều biết, trước khi muốn làm sống lại những biến cố lịch sử thành một cuốn phim về những sự kiện có thật, của một trang lịch sử nào đó, thì trước hết, người đạo diễn phải nghiên cứu và sưu tầm cho thấu đáo về những sự kiện lịch sử ấy, trước khi quay thành phim, để mãi cho đến ngàn sau, các thế hệ trẻ sẽ còn biết đến một trang sử bi thương, mà tiền nhân của chúng ta đã đem cả sinh mạng của chính mình, để làm nên lịch sử, hoặc đã viết lên bằng máu và nước mắt!
2- Trong tấm hình, người ta thấy “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” vào thời điểm ngày 14/8/1975, là ngày bị Việt cộng xử bắn. Nghĩa là kể từ 30/4/1975, thì Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã bị Việt cộng giam cầm ba tháng mười bốn ngày. Thế nhưng, nhìn trong hình “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” vẫn khỏe mạnh, trên khuôn mặt không hề có dấu vết bị hành hạ tù đày, và hoàn toàn không giống với những tấm hình thật của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn hiện có rất nhiều trên hệ thống Internet, lại thêm trong cuốn phim ấy, chiếc bảng tên trên túi áo của cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, thì chữ Cẩn đã bị đảo ngược.
3- Về trang phục, trong tấm hình “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” đang mặc chiếc áo mầu đen, cổ kiềng, hơi giống như những đồng phục của các chiến sĩ Xây Dựng Nông Thôn, chứ không phải là áo của tù binh, vì vào thời điểm tháng 8 năm 1975, Việt cộng chưa có phát áo tù cho các vị tù binh.
4- Về một người đã được cho là một tên Việt cộng đang “xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”, thì mặc áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn. Những hình ảnh này, thì ngày xưa, vào một thời chiến chinh khốc liệt, ở những vùng địa đầu giới tuyến, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã từng đối đầu với những “du kích quân” ở những nơi biên phòng, núi rừng hẻo lánh, và ngay cả người viết đã thường thấy vào những năm trước ngày 30/4/1975, đó là hình ảnh của những du kích Việt cộng tại những nơi bưng biền, những vùng mất an ninh, hoặc đã do Việt cộng hoàn toàn kiểm soát. Còn sau khi cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa rồi, thì tất cả những du kích Việt cộng đã hoàn toàn rũ bỏ hết những chiếc khăn rằn trên cổ; chúng đã trở thành các cán bộ hay công an xã thôn. Vì thế, nên chắc chắn kẻ xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn không bao giờ là một tên du kích cổ quấn khăn rằn. Chẳng những vậy, mà trên tay của tên du kích Việt cộng còn cầm loại súng Colt 45 để xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn nữa!
Xin mọi người hãy đọc lại bài: “Vinh danh Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn” của tác giả Phạm Phong Dinh, để trả lại sự thật oai hùng, và tấm gương quả cảm của vị Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Và, cũng để thấy rõ sự đê hèn, man rợ, đầy thú tính của lũ CSVN. Và, cuối cùng, đừng vì vô tình mà để cho các “nhà đạo diễn, soạn kịch, đóng phim” vô lương tâm, thiếu trách nhiệm dẫn dắt chúng ta đi vào “mê lộ”!

(trích đoạn bài: Vinh danh Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn của tác giả Phạm Phong Dinh)
...
Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản”! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.
Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.”
(hết trích)
Về cuốn phim “Việt cộng xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”, hiện đã do Minh Tân giới thiệu trên internet có giá bán hẳn hoi, với một khuôn mặt rất dễ nhận ra là ca sĩ Mỹ Huyền, còn lại gồm những diễn viên khác như sau:
Cp Rn Chương Thin
CODE: vnm01990
Price: $9.99
Dien Vien (Actors)
Role
Tran Hung
Dai Ta Ho Ngoc Can
My Huyen
Tu Khiet
Vu Thai Binh
Sau Dom
Dai Trang
Ba Ho Ngoc Can
Vu Manh Don
Thieu Tuong Nguyen Khoa Nam
Tram Anh
Chi Vu Tam
Le Huynh
Gac Nguc
Huynh Long Giang
Thieu Ta Thoi
Randy
Dai Uy Biet
To Uyen
Tam Kiem
Hong Nhan
Tai Xe Manh
Hoang Dao
Thieu Uy Binh
John Nguyen
Hai Thanh
George Nguyen
Be Nguyen
Tạm kết:
Tất cả những biến cố của lịch sử không phải chỉ dành riêng cho một người nào được viết, mà tất cả mọi người Việt Nam đều có quyền viết, cũng như có quyền tái dựng thành những cuốn phim, viết bằng những bản nhạc - kịch... ; nhưng cần phải làm như thế nào, để thuyết phục được mọi người. Kịch bản phải trung thực và gần gũi với những sự kiện lịch sử đã xảy ra. Nếu là phim, thì phải nói là phim, chứ không được chú thích đó là nhân vật thật. Người Quốc Gia phải khác hẳn với Cộng sản, vì lương tâm của một người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính, không bao giờ cho phép mình được đem những sự chân giả để chắp nối, lắp ghép lẫn lộn chung vào, để khiến cho người đời không biết đâu là giả, đâu là thật.
Xin mọi người, ở thế hệ của chúng ta. Đặc biệt là giới trẻ và lớp hậu sinh, cần phải ghi nhớ và phải phân biệt hai tấm hình của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn rằng:
Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã bị Việt cộng xử bắn vào ngày 14/8/1975, với nhiều tấm hình thật hiện đang có trên hệ thống Internet, chứ không phải là tấm hình do một đạo diễn vô trách nhiệm, đã dàn dựng thành phim.
Xin các thế hệ sau này, dù là bao nhiêu năm nữa, cũng đừng đem tấm hình của cuốn phim này mà đặt lên các bàn thờ, ở những chỗ trang trọng của các vị Anh Hùng Dân Tộc. Vì như thế, là phải tôn thờ hai diễn viên của cuốn phim ấy, chứ không phải là chân dung của cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn!
Paris, 24/2/2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
--------------------------------------------------------------------------------------
Images intégrées 1

Images intégrées 2


-------------------------------------------------------------------------
[BTGVQHVN-2] Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH: Hồ Ngọc Cẩn
Objet : Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH: Hồ Ngọc Cẩn
Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH:
Hồ Ngọc Cẩn
Nếu hình này được tụi báo ở tây phương tung ra như chúng đã từng tung hình tướng Loan bắn tên cs năm nào thì chắc có nhiều chuyện hay để bàn.
Xem xong xin phổ biến rộng rãi. Cám ơn các bạn.
HỒ NGỌC CẨN
LÀ VỊ ĐẠI TÁ ANH HÙNG CỦA QLVNCH.
image

"Nhân danh lòng yêu nước, nhân danh lý tưởng công bằng xã hội... một người yêu nước Việt Nam lại đi bắn giết một người khác cũng yêu nuớc Việt Nam, mà nói rằng mình tranh đấu cho Tổ Quốc Việt Nam?…"
Lời nói cuối cùng cũa Đại tá VNCH Hồ Ngọc Cẩn trước khi bị Cộng Sản hành hình:
"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi.
Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi.
Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi.
Tôi chiến đấu cho tự do của người dân.
Tôi có công mà không có tội.
Không ai có quyền kết tội tôi.
Lịch sử sẽ phê phán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy.
Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt.
Đả đảo Cộng Sản.
Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm".

Bài Xem Nhiều