We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 18 March 2013

PAPA FRANCIS VỊ GIÁO HOÀNG CỦA ĐẠI CHÚNG


Có lẽ không mấy người công giáo không băn khoăn về vận mệnh của Giáo Hội sau khi Đức Benedict XVI từ nhiệm. Một loạt những bài báo phổ biến làm hoang mang, thậm chí gây kinh ngạc như các chuyện Giáo Hoàng Petrus Romanus cho là của tiên tri Malachy, chuyện quỉ vương Anti-Christ chiếm ngự Tòa Phêrô, chuyện ngày tận thế đến v.v. Người viết có cảm tưởng rằng Giáo Hội Công Giáo sắp bị tiêu diệt đến nơi rồi khiến cho các thế lực thù ghét Thiên Chúa vui mừng nhẩy múa. Tiếp theo sau là những đồn đoán, đánh giá, xếp hạng các Hồng Y của mấy anh nhà báo Mỹ để bói xem ai sẽ là vị Giáo Hoàng kếp tiếp. Mấy anh nhà báo Mỹ tưởng chuyện bầu Giáo Hoàng cũng giống như bầu Tổng Thống của họ: đánh bóng gà nhà, đánh phá và bôi nhọ phe địch.
Ba ngày mật nghị với 5 lần bỏ phiếu kể như là quá nhanh chóng đối với một việc đại sự. Sự thể chứng tỏ một điều là Giáo Hội của Chúa Giêsu vẫn là một tổ chức thống nhất và đoàn kết, không phe phái, không chia rẽ, không tranh dành, trái với sự tưởng tượng của nhiều người vẫn cho rằng Giáo Hội đang đi dần đến tan rã vì chia rẽ và tha hóa. Mật nghị nhanh chóng còn cho thấy Giáo Hội vẫn luôn thống nhất về lập trường đối với các vấn đề to lớn của thời đại mà Giáo Hội đang phải đương đầu. Các Hồng Y đã làm một cuộc bầu đúng, cử xứng là đã chọn lựa được một vị Giáo Hoàng rất thích hợp cho thời đại. Đức Hồng Y Thomas Collins, TGM giáo phận Toronto, Canada nhận định: Ngài là một con người đơn giản, có một quá trình mục vụ rất lớn phục vụ tha nhân, xứng đáng nhất để lãnh đạo Giáo Hội, và thế giới sẽ trở nên quen thuộc với một người Argentina được biết đến với cái tên “Giáo Hoàng khu ổ chuột (slum pope.)”
Đức tân Giáo Hoàng tuy còn tương đối xa lạ với thế giới công giáo, nhưng Ngài đã được giáo dân yêu mến và kính trọng tức thì vì những đức tính, cung cách tiếp xúc với đám đông, trò truyện và thăm hỏi từng người một, và những việc làm nho nhỏ mang tính chất bình dân so với địa vị của Ngài. Họ nhận ra được Ngài là một vị Giáo Hoàng của thời đại, người cha chung của họ. Báo chí trước đó cũng chỉ nhắc phớt qua đến tên tuổi Ngài. Tên của Ngài đứng hàng gần cuối cùng trong danh sách chờ (standby) của họ. Việc làm của Thiên Chúa con người không thể đoán biết được.
Sau khi được chọn, người ta mới khám phá ra con người của Giáo Hoàng Francis. Vào ngày đầu tiên mới lên làm Giáo Hoàng, nếu Đức Francis không ghé qua khách sạn để tự tay lấy hành lý của Ngài và trả tiền mướn phòng thì có lẽ chẳng ai nhận ra đức tính khiêm tốn và bình dân của Ngài. Ngài bỏ truyền thống của ngôi vị Giáo Hoàng, chỉ đeo một cây Thánh Giá đơn sơ trước ngực như khi còn làm giám mục. Ngài không mặc áo choàng đỏ khi được giới thiệu lần đầu tiên với thế giới, mà chọn một phẩm phục mầu trắng đơn sơ. Trước hàng trăm ngàn giáo dân và khách hành hương trước điện Vatican, Ngài xuất hiện tại cửa sổ chào mọi người “Broothers and sisters, good evening.” Tác phong xề xòa đó vẫn tồn tại như trước kia lúc còn làm Hồng Y Ngài thường đến các khu nhà ổ chuột của thủ đô Buenos Aires, Argentina, thăm và chào hỏi những người dân nghèo ở đấy. Ngài tươi cười vẫy tay chào các Hồng Y và cũng biết nói đùa: “Làm khổ các huynh đệ phải mất công đi đến tận cùng trái đất để tìm vị Giám Mục cho Roma. Nhưng bây giờ chúng ta ở đây cả rồi.” Ngài từ chối đi xe riêng dành cho Giáo Hoàng, lấy bus đi chung cùng với các Hồng Y đến Hotel. Trước đó khi chưa được bầu làm Giáo Hoàng cũng vậy, Ngài tới họp conclave cũng lội bộ từ phòng xuống phố, lấy xe bus đi chung với các vị Hồng Y khác. Ngài còn không chịu đứng trên bục cao để ngỏ lời với các Hồng Y. Đức Hồng Y Dolan (Mỹ) khâm phục: “Ngài gặp gỡ chúng tôi trên cùng một đẳng cấp.” Còn Lm Thomas Reese, tác giả cuốn “Inside Vatican” một cuốn sách đầy đủ thẩm quyền nên đọc để biết tình trạng quan liêu trong giáo triều Vatican, nhận định: “Nếu Ngài đem cái hoài bão sống đơn giản vào trong triều đình Giáo Hoàng thì tôi e rằng mọi người sẽ bị Shocked. Ngài không phải là một người thích ăn mặc lụa là hoặc làm bằng lông thú vật.”
Đức Francis còn là con người dễ gần gũi, Ngài là con của một gia đình di dân Ý trung lưu. Khi còn là Hồng Y cai quản giáo phận Buenos Aires, ngài từ chối những tiện nghi xa xỉ dành cho mình. Ngài sống trong một căn chung cư tầm thường, đi làm bằng xe bus, tự nấu ăn lấy, và đều đặn đến thăm các khu nhà ổ chuột chung quang thủ đô. Đức GH Francis chắc chắn sẽ đem Giáo Hội đến gần những vùng nghèo khó và đổ nát hơn. Đó cũng là cách giới thiệu với thế giới phong thái khác biệt của một vị Giáo Hoàng. Tổng Thống Barack Obama nhận định về Đức GH Francis: “Ngài ví như một quán quân của tầng lớp nghèo khổ và dễ bị thương tổn nhất trong chúng ta. Ngài đã đem đến tình thương yêu là yếu tố gây hứng khởi cho thế giới hơn 2 ngàn năm qua, làm cho chúng ta nhìn nhau và thấy được khuôn mặt của Thượng Đế.”
Thiết tưởng niên hiệu “Francis” (tức Thánh Francis Assisi) đã nói lên đầy đủ ý nghĩa lối sống, phong thái, tư tưởng, chủ trương và hành động của triều đại Giáo Hoàng của Ngài lắm rồi. Trong cuộc gặp gỡ giới truyền thông vào 16-3, Ngài nói với các ký giả, ngay khi vừa được bầu, Ngài lập tức cảm hứng với tên của Thánh Francis of Assisi bởi việc làm của Thánh Nhân vì hòa bình và cho người nghèo. Từ đó Ngài mong muốn có một Giáo Hội khó nghèo và là Giáo Hội của người nghèo. Ngài kể lại, khi số phiếu bầu cho Ngài đạt được 2/3 thì cả nguyện đường vỗ tay ào ào. Đức HY Claudio Hummes bạn Ngài, người Brasil, ngồi bên cạnh, ôm hôn và nói nhỏ vào tai Ngài: “Đừng bỏ quên dân nghèo đấy, nghe.”
Có người tỏ ý lo ngại khi hay tin Đức HY Bergoglio được bầu làm Giáo Hoàng. Họ sợ Nam Mỹ là cái lò thần học giải phóng (Liberation Theology,) và Dòng Tên (Society of Jesus) cũng là nơi sản xuất nhiều đấng tả khuynh có hạng lắm. Thú thực bản thân người viết nghe bạn bè nói cũng hơi ngại, nhưng vẫn tìm hiểu và tin tưởng vào đường lối của Thiên Chúa.
Vào một thời gian khá lâu kể từ thập niên 1960 trở đi của thế kỷ trước, các chế độ độc tài quân phiệt hùng cứ tại các nước Nam Mỹ. Vì thế, phong trào thần học giải phóng của một số lớn các vị lãnh đạo Công Giáo tại đó ra đời để chống lại nạn độc tài. Đối với họ, Chúa Giêu là một nhà cách mạng vô sản. Mục đích của thần học giải phóng là dựa vào giáo lý Phúc Âm làm một cuộc cách mạng xã hội để giải phóng con người khỏi độc tài áp bức. Dĩ nhiên là cộng sản len lỏi vô để lèo lái và lợi dụng. Che Guevara người Bolivia là một lãnh tụ CS thần tượng được người dân Nam Mỹ lúc đó tôn sùng. Và ngày nay Hugo Chavez Tổng Thống Venezuela (mới qua đời) cũng là hiện thân của nền thần học giải phóng. Nhiều người lo ngại không phải là không có lý. Một HY đi theo thần học giải phóng lên làm Giáo Hoàng thì Giáo Hội rồi không biết sẽ đi về đâu? Điều lo ngại là đúng. Và như vậy thì những dư luận như Petrus Romanus hay Anti-Christ sẽ trở thành hiện thực mấy hồi? Thế nhưng điều lo lắng này không thể xẩy ra với Đức Tân GH Francis nếu người ta biết về Ngài và hiểu ít nhiều về bối cảnh lịch sử của Nam Mỹ vào thời gian nói trên.
Như vừa nói, Giáo Hội CG tại Nam Mỹ và người dân nói chung phải chịu trận trong tình trạng độc tài quân phiệt, và dĩ nhiên Argentina cũng không tránh khỏi. Đức HY Bergoglio lúc đó đã phải chịu đựng rất nhiều sự nghi kỵ lẫn tố cáo của cả quân phiệt lẫn chống quân phiệt. Nhiều nhà hoạt động cho nhân quyền trong mấy năm gần đây vẫn còn tiếp tục trút giận dữ lên Đức HY Borgoglio vì những vị trí của Ngài đảm trách ngày trước. Họ quay quắt đặt ra vấn đề khi chính quyền Argentina cho điều tra trách nhiệm trong vụ giết hại 30.000 người và truy tìm dấu tích của các nạn nhân. Một số cho rằng Ngài quan tâm về việc bảo vệ hình ảnh của Giáo Hội hơn là cung cấp chứng cớ cho các tòa án nhân quyền tại Argentina. Những người ngưỡng mộ Ngài thì lại cho rằng lối sống tự giấu mình đi là lý do tại sao Ngài khó có thể chối bỏ những lời người ta tố cáo rằng Ngài là một trong các vị lãnh đạo của Giáo Hội tích cực giúp đỡ cho chế độ độc tài quân phiệt tại Argentina.
Nhưng cũng có một số lãnh đạo trong tổ chức hoạt động nhân quyền đồng ý rằng không nên xếp HY Bergoglio vào chung với các khuôn mặt của Giáo Hội thân cận với chế độ độc tài. Ông Adolfo Peres Esquivel, giải Nobel Hòa Bình 1980, người thu thập tài liệu tàn bạo của dân quân Junta (công cụ của độc tài) nhận định trên đài Radio de la Red tại Buenos Aires rằng có lẽ Đức HY Bergoglio không có can đảm như nhiều linh mục, nhưng Ngài không bao giờ cộng tác với chế độ độc tài. Ngài không thể bị tố cáo về chuyện đó. Chuyện không còn phải bàn cãi là HY Bergoglio, cũng như nhiều người Argentina khác, đã không công khai chống dân quân Junta vào các năm 1976-1983 khi bọn này bắt cóc và giết hàng ngàn người trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu để dẹp nhóm tả khuynh đối lập. Nhưng nhà văn Sergio Rubin, người được quyền viết tiểu sử của Đức Tân GH biện luận, cho đó là thất bại chung của GH Công Giáo Roma. Ông cho rằng, thật là bất công nếu chỉ gán ghép Đức HY Bergoglio vào cái tội tập thể mà tất cả mọi người Argentina ở vào thế hệ của Ngài đều như thế cả.
Rubin còn là một nhà văn chuyên viết về các vấn đề tôn giáo cho tờ Clarin, cho biết Đức HY Bergoglio trong thực tế Ngài đã phải mạo hiểm để cứu những người bị gọi là “lật đổ” trong thời gian 1976-1983, nhưng Ngài không bao giờ kể ra công khai trong cuốn tiểu sử của Ngài “The Jesuit” ấn hành năm 2010. Trong sách, Ngài thú nhận không muốn cúi rạp mình trước địa vị của những người chỉ trích Ngài, và Ngài còn kể ra nhiều câu chuyện riêng về Ngài, như có một lần Ngài đưa giấy tờ tùy thân của Ngài cho một người đang bị truy lùng có dánh dấp như Ngài để người đó có thể vượt biên qua Brasil. Ngài kể thêm, nhiều lần Ngài giấu người ta trong khu vực nhà thờ trước khi họ bị bắt đưa đi lưu đầy.
Sự tố cáo đau lòng nhất đối với Đức HY Bergoglio là của một vị lãnh đạo trẻ dòng Tên (Jesuit) tại Argentina. Ngài rút lại sự giúp đỡ cho 2 linh mục Orlando Yorio và Francisco Jalics của khu ổ chuột mà những người bạn đồng sự của họ hoạt động trong phong trào thần học giải phóng bị mất tích. Hai linh mục này lúc đó bị bắt và bị tra tấn tại trường hải quân cơ khí, nơi mà bọn Junta sử dụng như một nhà tù bí mật. HY Bergoglio bảo các linh mục này bỏ công tác ở ổ chuột (slum work) đi để được an toàn, nhưng họ từ chối. Ngài nói với ký giả Rubin: “Tôi cảnh giác họ rất nghiêm khắc. Họ tỏ ra đầy hoang tưởng như những kẻ đi săn phù thủy. Bởi vì họ ở trong hàng rào rồi nên bị bắt.” Về sau Lm Yorio tố cáo Đức HY Bergoglio trao họ cho đội tử thần (death aquads) vì đã công khai từ chối xác nhận việc làm của họ. Yorio đã chết, còn Jalics từ chối thảo luận về các sự kiện trên từ khi ông ta gia nhập một tu viện ở bên Đức.
Cả hai linh mục này sau cùng được trực thăng thả xuống bơ vơ trong một cánh đồng. Hai trong số người bị bắt đã kể lại câu chuyện tù này. Đức HY Bergoglio đã miễn cưỡng kể lại kết thúc của câu chuyện là Ngài đã phải mất một thời gian dài khác thường đàng sau hậu trưòng để cứu họ. Mặc dầu Ngài không đi theo thần học giải phóng, cái học thuyết phóng túng của một số đồng nghiệp của Ngài trong thập niên 1970 - một số trong những người này bị đội tử thần giết chế - Ngài bị chỉ trích vì đã không làm đủ trong thời gian Argentina bị dân quân Junta khủng bố. Nhưng một số khác biện luận rằng mặc dầu Ngài không dũng cảm chống lại Junta, nhưng Ngài cũng không cộng tác với giới cầm quyền nhà binh.
Câu chuyện về hai linh mục Yorio và Jalics bị bắt cóc đã rõ ràng và đã được kết thúc. Vì mới hôm qua Thứ Sáu 15-3-2013, Lm Jalics ở bên Đức công bố đã làm hòa với Đức Tân Giáo Hoàng, dâng lễ chung với Ngài, và cả hai “big hug” nhau. Lm Jalics xác nhận những gì nhà báo Rubin viết và xin xếp lại câu chuyện vì nó đã qua lâu rồi.
Một câu chuyện khác được nhà báo Rubin tường thuật là gia đình De la Cuadra mất 5 người thân vì tình trạng khủng bố, trong đó có em gái là Elena mang thai đã 5 tháng trước khi bị bắt cóc và bị giết năm 1977. Gia đình sang tận Roma kêu cứu bề trên cả dòng Tên. Cha bề trên hối Đức HY Bergoglio giúp họ. Ngài sai một đức ông đến nói chuyện với cảnh sát. Người cảnh sát tuyên bố một câu đứng tim: “Người đàn bà này là CS nên đã tận số rồi, nhưng chị đã sanh một bé gái trong tù. Em bé lần lượt được giao cho một gia đình tối quan trọng nuôi để bù lại.
Rất nhiều bài viết đã mô tả về Ngài mà trên đây chúng tôi chỉ mạn phép thu tóm được phần nào. Chính xác, đầy đủ, và gọn gàng hơn cả là nhận xét của Đức HY Donald Wuerl (Mỹ.) Ngài nói: “Về tất cả mọi mặt, Ngài là một con người rất hòa nhã nhưng cứng rắn, rất có tình nhưng dũng cảm, một mục tử rất tài giỏi, một con người chu đáo, lý tưởng cho những thách đố của thời đại.” Một con người độc đáo như thế mà các Hồng Y của Giáo Hội không kiếm được ở Roma hay ở đâu đó gần đấy, mà phải xục xạo tới tận Argentina, miền địa đầu gần nam cực mới tìm ra. Suy nghĩ thử coi đây có phải là chuyện lạ không? Đức GH Francis nói với các Hồng Y: “Quí huynh đệ đã phải đến tận cùng trái đất để tìm vị Giám Mục cho Roma (ám chỉ là mới tìm được Giáo Hoàng)” là một câu khôi hài nhưng vô tình là một lời nói có ý nghĩa. Về hình thức nó cũng đại để giống như việc Lưu Bị tam cố thảo lư cầu Khổng Minh. Có được Khổng Minh, Lưu Bị mới đánh bại được Tôn Quyền và Tào Tháo. Với Đức Tân Giáo Hoàng Francis, Giáo Hội Công Giáo lo gì không đánh bại được các thế lực thù địch của Satan đang hoành hành và thao túng thế giới hiện nay. Điều kiện cần nhất là người công giáo phải hợp tác với Ngài bằng lời cầu nguyện và đến với những người nghèo khổ, bị áp bức ít ra là với tấm lòng.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều