We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 10 June 2013

Chủ Đề Bộ Đội Nhớ Chuyện Xưa: Cái Nồi Ngồi Trên Cái Cốc

Cái Nồi Ngồi Trên Cái Cốc
Phí Ngọc Hùng


      Vào truyện :

       Ít lâu nay vào những dịp đi đây đi đó, tôi có cơ hội gặp gỡ với những sinh viên sang đây du học (nhiều lắm). Hay những chuyên viên xuất ngoại tu nghiệp (cũng không phải là ít)....Trong đó tôi quen biết một gã phó tiến sĩ tốt nghiệp ở Ukraine, một nươc chư hầu của Nga qua bên này làm việc cùng chung hãng xưởng với tôi. Gã là người Hà Nội nên nói chuyện rất thâm trầm và sâu sắc, thế nhưng qua giọng nói nghe có hơi…xa cách và nhất là khuôn mặt, tôi thấy…xa lạ làm sao ấy. Gã còn độc thân và đang muốn tìm một mái ấm gia đình để có chỗ che mưa che nắng thì phải...

       Nói chung chẳng phải vơ đũa cả nắm, với cảm quan phiến diện của tôi dường như họ, tất cả đều có một mẫu số chung là: Trong khi đối thoại, thoạt kỳ thủy họ e dè giữ một khoảng cách đến nhạt nhẽo, nhất là đụng chạm đến những nhân vật “có vấn đề” đang nổi đình nổi đám trong nước, họ tìm cách tránh né ngay vì chuyện “nhậy cảm và tế nhị”. Hỏi tới nữa, họ sẽ có những bài bản gần giống nhau là họ…rất ít thật và rất nhiều giả. Nhưng gặp ngày trái nắng trở trời, nếu thấy cần trao đổi “cảm xúc” để mang về những lợi nhuận cho họ, nhỏ như tìm việc làm cuối tuần, mua xe, thuê nhà…Lớn như thể cần làm thế nào để có vợ…“thật” với giấy tờ…“giả” thì họ hồ hỡi ra mặt, vồn vã vồ vập, mắt sáng như đèn xe ô tô, miệng lưỡi liến láu. Xong chuyện, thường thì họ dửng dưng quay mặt và quên ngay như chưa hề quen biết. Với…sự cố kỹ thuật rằng như vậy, là như thế, tôi giả bộ mắt nhòm không thấy, tai nghe không hiểu nên cũng dè chừng chẳng biết làm gì hơn là làm thinh…giống như họ lúc nào cũng chẳng hay. Rồi bén hơi quen tiếng, lây cái bệnh nói chữ của họ khi nào cũng chẳng biết, khi không lầu bầu trong bụng…cũng tốt thôi.

       Để rồi dậu đổ bìm leo, tôi đâm sợ hoảng sợ tiều và chợt nhớ lại chuyện của một ông bạn cũ, mắc dù có hơi khác một chút…Chả là từ những ngày còn đi học chỉ được ngắm nhà thờ Notre Dame, dòng sông Seine qua tranh ảnh hay sách báo, không thấy không tin, nên tôi cất công qua tận Paris nhìn tận mắt cho mãn nhãn. Một ngày nắng quái chiều hôm, tôi và một người quen lạc tới một tỉnh nhỏ hẻo lánh bên đường, cả hai thèm cơm Việt bèn dẫn xác vào…một tiệm Tầu để thành chuyện. Chuyện là quán hẹp và sâu hun hút, bước xuống ba, bốn bực tam cấp như lần mò xuống một cái hầm rượu vang, dọc theo hai bên vách có bẩy dăm chậu bon sai rẻ tiền, vài tấm thư pháp viết theo khuôn mẫu, cả quán có bẩy, tám cái bàn cọc cạch, nói dối phải tội là quán không khá và èo uột như mấy chậu cây và mấy bức thư pháp vậy.

        Đang nhai mấy cọng mì nhạt thếch thì đầu bếp, cũng vừa là chủ nhà hàng, đầu đội mũ trắng cao lêu nghêu bước ra, nghe tiếng Việt lao xao đầy hương đồng cỏ nội của hai thằng tôi nên nhận ra là người đồng hương và tay bắt mặt mừng. Tôi tự giới thiệu tên tuổi, nhất là cái họ Tầu tầu, Lưu Bị chảng ra Lưu Bị, Tào Tháo chẳng ra Tào Tháo, tào lao thì có và ngay sau đó là có cái màn hô hóan điểm mặt chỉ tên nhận ra nhau là bạn cũ trường xưa. Tôi ngẩn người ra với ông bạn cũ sì mốc meo này, vì năm mươi năm hay nửa đời người thì hơi ngắn, nhưng nửa thế kỷ lại quá dài, vậy mà ông bạn học này lại nhớ dai như đỉa đói, ắt hẳn là ông…thù dai lắm đây. Nhưng sau này, theo chân ông bạn lội dòng nước ngược với nước chẩy qua cầu…qua mảnh đời của ông với mây giăng giăng đầu núi cùng một áng mây bay trôi tôi mới biết sự thể chẳng hẳn là như thế.

        Sau hơn bao nhiêu năm những kỷ niệm học trò râm ran theo mưa nắng…Ăn xong thấy nhạt miệng, tôi buột miệng hỏi cậu dọn bàn…”cái nồi ngồi trên cái cốc”. Bỗng thấy cậu ta khựng lại ngó tôi như ngó một thằng Ngụy rồi quay ngoắt vào trong bếp. Bạn cũ cười ruồi cho biết cậu ta là người Hà Nội, du học sinh hôm nay. Tôi chợt nhớ tới mấy cậu sinh viên du học mà tôi từng giúp mua xe, thuê nhà có những cái đầu eo sèo, ẩn khuất, những khuôn mặt tiêu cực đầy nghi ngại. Tôi…ngại ngùng xoay qua chuyện nhân sinh cùng thời thế, thời trước thế đấy, thời này thế đó qua những người trong nước sang đây như mới vừa đảo qua ở trên.

      Nhỏ tới lớn không gặp, bạn cũ được dịp nho phong sĩ khí quá thể và nói: Chẳng qua cũng chỉ là “Tri nhân, tri diện, bất tri tâm” đấy thôi. Bạn an nhiên tự tại dậy khôn tôi qua sách vở: “Giống như một cái đĩa cổ bị nứt một vệt dài, có người chỉ chăm chăm nhìn cái khiếm khuyết ấy. Còn ông thì sao?”. Tôi còn đang ngọng trông thấy, bạn lại ề à nho gia tiếp “Thiên sinh nhân, hà nhân vô lộc - Địa sinh thảo, hà thảo vô căn”. Bạn thảnh thơi:

        Chuyện…vô căn của “Tôi ” như thế này đây, thưa ông…

        “…Tôi cũng chỉ là một người di tản buồn, buồn thảm não vì số tôi ruồi được tầu Đức vớt nên đành chọn nơi đây làm quê hương thứ hai. Mà dân tộc này đã từng nổi tiếng với câu: Người Đức như viên gạch…nung, như ông biết đấy, giống dân ấy vốn dĩ… khô sặc gạch, không chữ nghĩa nào trên thế gian này tả sao cho hết. Ngôn ngữ của họ cũng vậy, phụ âm nhiều hơn nguyên âm nên nghe như ếch nhái kêu óc ách, èm ẹp. Giáng sinh năm đầu, thằng hàng xóm qua thăm, tay chỉ vào ngực tôi hỏi: “Vietnamesiche”. Nó nói nghe òm ọp làm sao ấy, đến gần chót tôi mới vồ được chữ “essen”. Bố khỉ, đời thưở nhà ai động từ chúng nhét tuốt luốt ở cuối câu, nghe lòi nhĩ mới hiểu ra nhẽ “essen” nghĩa là “ăn”, nói chung thì khó nhai lắm. Tôi cũng đành cám ơn bằng tiếng bản địa của nó: “danke”. Ông chịu khó ráng mà nghe chữ Tây chữ u, vì chuyện ở xứ tôi thì buồn nhiều hơn vui, chuyện để mà cười được khí…hơi bị hiếm, thưa ông.

       Ông lại chép miệng góp gió thành bão: Thì có gì đâu, cũng vô tư thôi. Vô tư sao được! Đó là ông chửa biết đấy thôi, còn thảm sầu hơn nhiều vì nơi tôi trú ngụ, tôi đặt tên là “Thị trấn bên đàng buồn hiu”. Vì đường phố chỉ có mỗi một ngã tư đèn xanh đèn đỏ thì đã được tắt ngúm từ đệ nhất thế chiến. Thêm một cái rạp hát, cũng chẳng sáng sủa gì hơn, nó đã được “phẹc mê bu tích” từ cuối đệ nhị thế chiến. Có một cây xăng chết tiệt vàng khè, héo quắt như quả trám khô, phải khom khom bơm bằng tay mệt nghỉ như bơm nước giếng đầu đình. Cũng có một quán cà phê đấy, mặc dù là miền đất lạnh tình nồng, nhưng cũng phất phơ với mấy cái quạt trần hai cánh, lừ đừ quay làm cảnh như đuổi ruồi. Trước cửa ra vào, dọc theo hành lang là một dẫy ghế xích đu, khách thường ngày là ông già bà cả, hôm nào thấy có ghế trống, lơ đễnh cách mấy thì ông cũng cố phải nhớ và hiểu dùm tôi là: Mới có một con chiên vừa được ông thánh “Phê rô” vui vẻ gọi về chầu nước Chúa. Lẽ dĩ nhiên chẳng thể thiếu cái nghĩa địa, mà nghĩa địa thì có quái gì mà nói ngoài cái hàng rào sắt. Ngẫm chuyện nhân sinh thì nghĩa địa đâu cần phải có hàng rào, phải không ông.

       Điều tôi muốn thưa với ông là, dân cư ở đây không được đông đảo gì cho lắm, mà tôi cũng chẳng rỗi hơi đâu mà đếm, đóan chừng đâu đó cũng chỉ khỏang trên dưới một nghìn người là hết đất, sầu bi hơn nữa, trong đó lại có tôi. Mà ở cái thị trấn đèo heo hút gió, buồn như chấu cắn này lại không có cái màn bán bia bọt và sách báo hở hang lỉnh kỉnh, thế mới…”hốc”. Vì họ theo đạo Amish, cái đạo quái quỷ gốc Đức này như ông biết đấy, ở vùng Lancaster thuộc Philadelphia thì thiếu giống. Cho đến bây giờ họ không chịu lệ thuộc vào văn minh cơ khí, vẫn còn đi xe thổ mộ, không TV, không điện thoại. Không mắc điện nên quần áo họ treo lên dây…điện, lên hàng rào như cái làng Việt Nam mà tôi sẽ hầu chuyện với ông ở khúc sau. Nghe đến cái đạo Amish, ông lơ đễnh ngó lơ nhưng lại liếm mép ra cái điều “hốc” là ăn chăng? Dạ thưa ông, tiếng Việt trong sáng “hốc” đây là…hốc hác, nghe nào có khác gì tiếng Đức, thưa ông.

       Tôi biết ông sẽ nói vuốt đuôi: Thì cũng thỏa mái thôi. Thỏa mái cái con khỉ! Vì với một nhúm dân này, đa số là các cụ gần đất xa trời, một cõi đi về là lãng đãng chống ba-toong từ viện dưỡng lão đến nhà thờ và ngược lại. Còn một lũ chúng tôi đây là ba gia đình Việt Nam thì thê thảm gì đâu, vì như mấy con trạch bỏ giỏ cua, mắt trắng dã như phường mù dở, nên tất cả đều sắn quần móng lợn, bổ nháo bổ nhào làm thợ mổ bụng, sẻ thịt cho cái lò heo gần nhà. Kẻ lột da, người lóc xương, như mặt trăng với mặt trời, chiều về mệt lử cò bợ, ngủ vùi, cuối tuần thì ngủ nướng cho thơm râu, nên ít khi gặp nhau. Cái lò heo tênh hênh giữa… “    

      Ông nheo mắt dấm dớ hỏi tôi: Vậy có gì vui chăng? Ấy là ông hỏi tôi đấy nhá, nếu tôi có dài dòng thì ông đừng có trách tôi ôm rơm rặm bụng:

       “…Bươc ra khỏi nhà là gặp ngay nỗi buồn chạm mặt, ấy là bìa ruộng của cái thị xã hoang vắng, nỏ mắt bẩy ngày không ra bò với trâu, chỉ thấy máy cầy, xe ủi đất. Đi mấy chục cây số có một làng Việt Nam có từ cuối thế chiến thứ hai như tôi đã thưa với ông ở trên. Ở đây thủ lợn, móng lợn như cây nhà lá vườn, cứ ối ra, vì theo lệ là cứ cuối tuần tụi tôi xách tới để đàn đúm. Của khôn người khó, riết rồi người Việt tị nạn quận hạt quanh đây biết tiếng và kéo đến để lập quán, lập chợ vào những ngày cuối tuần và nhất là Tết. Nói chung được mỗi món chả nướng của cụ Neugen là ngậy mùi, còn món bánh cuốn nhà Neulet thì nhão nhọet như bánh đúc, như cháo cúng cô hồn trong ngày giết sâu bọ. Tệ hại nhất là phở của lão Nouyen, lõng bõng những nước, thịt nổi lều bều. Ông lỡ mà tống vào họng, ông là người chi tiền, ông có quyền phiêu lưu và mặc tình hư cấu và hoang tưởng đó bánh canh gìò heo hay bún bò Huế, hoặc như bún riêu ốc ăn với giá sống thì cũng chẳng chết thằng Tây đen nào.

       Ông gật gù làm như quen thuộc với mấy ông nhọ nồi gạch mặt này từ cái thưở tản cư, chạy loạn hay là ông muốn biết mấy người họ Ne, họ Nu này là ai. Ấy đấy, họ là lính thợ từ quê nhà qua giúp mẫu quốc, Pháp thua trận, họ bị Đức nhúm qua đây làm trong mấy xưởng cơ khí và súng đạn. Chiến tranh chấm dứt, một số hồi cố hương, một số ở lại lập gia đình với người bản địa, để rồi nhớ quê cha đất tổ lập nên cái làng thổ tả này. Làng chỉ có chục nóc gia, cái nào cái nấy nhỏ như mắt muỗi, cái thì bằng gỗ mái ngói, cái thì bằng gạch, mái si-măng sơn đỏ, lụp xụp, cao thấp, úp lên nhau như chồng bát đĩa. Ngòai cái cổng làng bằng tre…Phi Châu là coi được, trong sân, ngòai vườn, xi líp, váy, quần đùi, áo may ô phơi mắc la liệt, cứ như cờ đuôi nheo hội làng, trông cũng vui mắt đáo để, thưa ông.

       Ấy là cũng nhờ tôi quen biết với lão hàng phở Nouyen, trông lão mặt mày thô vụng, ốm như con mèo hen, vậy mà thửa được hai mụ vợ người Đức, béo ơi là béo, dềnh dàng thồn thộn như hai cái lu gạo. Một ngày, ngồi trên cái ghế đẩu, lão rít điếu cầy tràn cung mây, sịt sọat chiêu ngụm trà, mắt lim dim, ngửa cổ lên trần nhà thả khói mù mịt, mặt lờ đờ như cóc say thuốc lào, giọng khô rong róc và lão chiêu hồn quá khứ với tôi:

       “…Năm 1941, lão đang là thợ cấy, thợ gặt thì bị mấy thằng cùng đinh trong làng, chữ nghĩa chỉ bằng cái muỗng với “Uẩy, me sừ - Nông, me sừ” và nhè bắt lão cho Tây đi xâu để lãnh thưởng, để lão làm lính thợ, sau này nhóm lính thợ và lão, dính chùm với nhau như con trâu với cái cầy. Chưa hết, không đâu đang là họ Nguyễn, lại tròng vào cổ những cái họ trời ơi đất hỡi đọc vẹo quai hàm như Neulet, Neugen, Nouyen. Qua tới Pháp làm trong nhà máy dây chuyền súng ống, xe tăng, tầu bò, trời sui đất khiến làm sao để mấy thằng Tây gà cồ thua trận. Người nào ở vùng Le Havre, Brest, Marseille được đưa xuống tầu tống tiễn về nước. Riêng nhóm lão bị kẹt ở vùng Alsace-Lorraine bị bỏ rơi, ngày ngày lang thang ra đồng hái rau dền, mã đề hoặc vào rừng vặt mất trái cây về ăn, tất cả con gì ngựa nguậy như rắn rít, thằn lằn, cóc nhái làm tuốt. Đang ngáp ngáp được tụi Đức vớt qua đây dựng lều làm thợ tiếp, với cái lương chết tiệt, vừa đủ để mua mấy hộp cá mòi với bánh mì khô. Lại bị tụi thượng sĩ Pháp gốc Đức, cùng với tụi hạ sĩ thông ngôn thượng cẳng hạ đạp mắng nhiếc đủ điều…”

       Chuyện lão nhì nhằng quá thể, tôi cũng biết ông chẳng mặn mà cho mấy với nhúm người Việt bị bỏ quên này. Thôi thì tôi kể chuyện chân ướt chân ráo cho ông nghe nha bằng vào những ngày đầu dọn nhà tới đây:

       “…Một buổi sáng từ cái cửa sổ, tôi nhòm ra con đường lên tỉnh đâm xuyên qua thị xã, tôi thấy mấy chiếc xe ô tô đậu sếp hàng dài, lại có ông bố hí hửng dẫn ông con xuống chăm chú chỉ chỏ ra cái điều như có gì đó lạ lẫm lắm. Tôi lõ mắt dòm cho kỹ thì đúng là lũ ngáo, có gì đâu: Nếu có lạ thì ấy là…đàn vịt bầu của tôi nuôi đang lạch bạch dẫn đàn con lũn cũn nhởn nhơ qua đường vậy thôi. Ấy chết, quên không kể ông nghe từ thị xã tôi ở lên tỉnh có một con lộ duy nhất, có hai “lên” lên xuống vắng tanh kia, ông muốn lái xe chạy “lên” nào cũng được nên chẳng có gì…lạ cả.

        Số là ngay cạnh nhà tôi có một vũng nước to bằng cái chuôm, cái chuôm chứ không phải là cái chum, chum thì nuôi vịt thế đếch nào được, thưa ông. Thế là tôi lên kế hoạch nuôi vịt để chiêu hiền đãi sĩ, ở cái xứ khỉ ho cò gáy chó ăn đá gà ăn muối này, người ngợm vắng như chùa bà Đanh, nên họa hoằn tôi thịt một con làm tiết canh, rồi ới tụi bạn trước lạ sau quen từ tứ phương tám hướng tới. Nói cho ngay thì bè chứ không phải là bạn, không có cua thì bắt ốc thế thôi. Thằng nào vác thân tới cũng nên biết điều một chút, chỉ cần xách hai va li bia hai mươi tư chai. Một va li cúng cô hồn. Một va li để lại cho gia chủ giải sầu trong những lúc tối lửa tắt đèn. Vì như tôi đã thưa với ông trước, ở cái thị trấn này không bán bia, chỉ có tòan ông già bà cả vắng gío đìu hiu. Mà giời ạ, ở đâu cũng vậy: “Náo thị u lâm mạc luận – Cổ kim hiền hữu năng tầm”, nói xa chẳng qua nói gần là tôi đang thèm…bạn. Một thằng bạn đúng nghĩa. Nó cũng sắp xuất hiện, bảo đảm ông sẽ thích nó ngay đấy, thưa ông.

       “…Như con tôm, con tép nằm trong rọ nơi xó đồng cùng ngày trời tháng Bụt, lại không ở cái tuổi phong kiếm quy điền, nên tôi phải lân la viết thư làm quen với nhóm “Cánh Én” để gửi báo cho tôi đọc. Và phải thú thực với ông một điều, tôi chịu chữ nghĩa của họ, một phần vì không khó khăn với thâm sâu bí hiểm cho lắm. Một phần vì có nằm trong chăn mới biết chăn có rận, nên qua họ, tôi mới hiểu được một phần nào những họat cảnh ở ngòai Bắc sau năm 54. Như Nguyễn Tuân với tùy bút “Phở” mà người ngoài nước cứ nhắng lên là Nguyễn Tuân ca tụng phở…là nhất. Phở chó gì mới đầu có phở lợn (lại lợn nữa), phở ngan, phở vịt, rồi từ từ xuống cấp với phở “không người lái”, tức phở không có thịt, có nghĩa là thời bao cấp đói lắm, đói rã họng ra, chán lắm thưa ông.      

        Tôi biết ông cũng chẳng bận tâm lắm với “khổ như chó” qua phở Nguyễn Tuân, nhưng điều tôi muốn thưa thốt với ông ở đây là, qua nhóm “Cánh Én”, tôi mới hiểu cái tận cùng của nhóm người mà một mảng chữ nghĩa trong nước cùng tiếng Việt trong sáng gọi là “Hợp tác lao động”, nôm na là nhân công xuất khẩu miền Bắc qua Đông Âu. Như ngược về thời gian của những người lính thợ mà tôi nhiễu sự với ông lúc nãy, họ cũng bị “thượng cẳng hạ đạp”, cũng bị ăn chặn tiền lương này kia qua đám thông dịch viên kiêm chính trị viên của sứ. Ông nhướng mắt ra điều như muốn hỏi “sứ” là gì ấy hả?. Dạ thưa “sứ” đây không phải là cây sứ cùi, sứ Thái Lan đâu mà là…tòa đại sứ ta đấy, thưa ông,

       Bức tường Bá Linh sụp đổ, họ lại rơi vào cái tình trạng vất vưởng của một nhúm người bị bỏ rơi cùng cái nợ áo cơm. Cứ phất phơ với ba cái nghề vặt vãnh như “cõng” thuốc lá, “cửu vạn” dầu thơm với xà phòng để giật gấu vá vai nói chung là chạy hàng lậu còm. Nói đến xà phòng, tôi lại nhớ đến truyện họ viết về nhóm đàn bà con gái trong cảnh sống “chật hẹp”, hiểu theo cả hai nghĩa đen và nghĩa bóng, chật hẹp đến độ cả tuần không tắm, cả năm lông nách không cạo. Và xin lỗi ông, chẳng hay ho gì chuyện này, tôi chỉ kể lại những gì họ viết: Đến ngày có tháng thấy…mưa sa trên mầu cờ đỏ, không có băng vệ sinh, đàn bà con gái phải phấn đấu lấy giấy đi cầu nhét vào để bịt mồm lão…Fidel Catro cho yên thân.

       Còn đám đàn ông con trai, một truyện khác họ viết, quanh quẩn với nhau như đèn cù trong những ngày cuối tuần, nếu không có vỏ chai bia và khói thuốc lá, thì họ như những người ăn lông ở lỗ. Thửa được con cừu bỏ vào bao bố, khiêng về treo trong phòng tắm, lom khom thay nhau đập con vật cho vã mồ hôi để bớt hôi, xong cắt tiết, cạo lông rồi ngả thịt. Cũng từng ấy nhóm nam nữ ngồi chồm hổm dưới sàn, không bát không đũa, tay bốc, tay quẹt mồm, ăn uống nhồm nhòam, rượu Rhum, rượu Voka đổ ra như..những giọt nước mắt quê hương. Xong cơn tàn canh gió lạnh, người này gác chân lên người kia khoèo một giấc, tỉnh dậy thấy con bồ đang ôm thằng bạn mình ngủ vùi. Để rồi sáng hôm sau, như một lũ chuột thành phố, khi ẩn khi hiện với mấy tút thuốc lá quấn dưới ống quần, dầu thơm lẩn trong bụng. Rồi, trong đầu ông lại bị ám ảnh với “Của Chuột và Nguời” với John Steinbeck, không cao cấp đến độ như vậy đâu, thưa ông. Giản dị thì có thể nói họ là những tay giác đấu cô đơn trong đấu trường, có nằm xuống chẳng ai biết, chẳng ai hay. Hay ngắn và gọn hơn: Những người vô tổ quốc bám cứng vào mảnh đất ít người nhiều ma để rồi sống cũng như chết, thân phận bèo bọt chẳng có ngày mai.

       Ngòai những gì tôi vừa kể lể đầu Ngô mình Sở với ông, ông thấy tôi hay làm dáng với dăm ba câu Hán tự, thực ra tôi chỉ bám víu vào chữ nghĩa để hoài cố nhân. Cố nhân của tôi là một gã hủ nho sa cơ lỡ vận để rồi cái khó nó bó cái khôn, nhưng trước sau vẫn là…bạn đời. Giống như một cái đĩa cổ bị nứt một vệt dài, có người chỉ chăm chăm nhìn cái khiếm khuyết ấy. Có người lại thích đọc mấy chữ tượng hình ngang dọc...

       Và tôi biết ông đang thầm lầu bầu: “Tưởng chuyện gì. Chuyện đó cũng tốt thôi”. Thôi thì chiều trời bảng lảng, ông hãy để mặc tôi như con cuốc gọi hồn: Một ngày cuối tuần, sau khi tưới xong ba mớ ớt với ngò gai, bèn nằm khểnh đọc báo và tôi hoa mắt như không tin ở mắt mình. Tôi bắt gặp một tay viết, có lối hành văn thật cứng cùng một mẩu chuyện thật giản dị, nhưng trải rộng tràn đầy tâm tư của những người bị kẹt lại và u hòai về một tương lai xa vắng nào đó, cùng những hòai vọng sâu kín cho một ngày mai, bên kia là núi, bên này là sông:

       “…Truyện về một cậu bé, trước ở phố Hàng Ngang, theo gia đình tản cư một thời gian rồi hồi cư về Hà Nội sau năm 54, nhà bị chiếm nên tạm trú ở căn gác số 7B ngõ Phan Huy Chú. Ở đây cậu yêu thầm nhớ trộm cô hàng xóm, truyện viết chỉ có vậy thôi nhưng đọc xong tim tôi như thắt lại, bâng khuâng pha lẫn những bồi hồi, vì tôi mường tượng cậu bé ấy trạc tuổi tôi và điều ngẫu nhiên trùng đến lạ kỳ sẩy ra là…là…căn nhà ấy cũng chính là căn nhà của ông bà cụ tôi để lại sau khi di cư vào Nam. Lặng người đi một lúc lâu, tôi nhỏm dậy viết thư cho tờ Cánh Én. Tháng sau, tác giả của bài viết có mặt ở trước cửa nhà, như…giấc mơ hồi hương.

       Tôi sắp sửa gặp lại một người Hà Nội.

       Vật đập chát vào mắt tôi là chiếc xe “Vốc oa gân”, loại xe thùng cũ sì, trông như cái hộp biết đi, tróc sơn và rỉ sét. Tôi ở vùng đất này đã lâu, nhẵn mặt với mấy chiếc xe con bọ, với chiếc xe này thì đây là lần đầu. Riêng hắn, ngòai bộ quần áo nhếch nhác, có thể vì lái đường xa, hắn có khuôn người tầm thước, dáng đi thong dong, điều làm tôi ngạc nhiên nhất là khuôn mặt sạch nước cản qua cặp kính trắng, lẽ dĩ nhiên là gọng vàng, chỉ thiếu cái bút máy “Pác ke” cũng vàng nốt dắt túi, một đặc thù của người Hà Nội trước 54 bây giờ vẫn còn rơi rớt lại trong ký ức. Và với hắn, tôi thấy khác hẳn với dân Bắc Kỳ hai nút mà tôi đã vô duyên đối diện bất tương phùng sau năm 75 với giọng nói đặc sệt, mặt mũi khô gầy, nên tôi có cảm tình với hắn ngay cái buổi đầu tiên gặp gỡ ấy. Sau tuần trà cùng những hỏi han của tôi về căn nhà thân yêu tuổi ấu thời là bữa rượu tẩy trần với tiết canh thịt vịt ngất ngư tới khuya. Trong một phút ngất trời, hắn vỗ vai tôi đồm độp “Tửu phùng tri kỉ thiên bôi tửu”,   tri kỷ, tri bỉ, tri nhân thật, để rồi càng về khuya, câu chuyện càng đậm đà hơn, thưa ông…

       Ông biết không, chuyện chẳng bình thường là tôi khựng lại như gái ngồi phải cọc khi hắn khoe mẽ là “Phó tiến sĩ cấp I khoa văn Nga ngữ”. Nghe nổi cộm và lôm côm quá phải không ông, nhưng ngay lúc ấy, tôi có một thắc mắc chưa kịp há họng ra hỏi là mắc mớ gì hắn lưu lạc tới đây để xổ…tiếng Đức thì hắn đã thuyết minh chuyện đời…cô Lựu của hắn:

       Để xuất ngọai du học lấy tiến sĩ tòan là con cháu bần cố nông, trong giảng đường bao giờ cũng phải có thông dịch viên của sứ đi kèm, nên thu họach chẳng là bao, vì vậy đều đi tướt cả lũ, nhưng mỗi thằng đều được cấp một chứng chỉ đã thông suốt diễn trình. Về nước, với mảnh giấy lộn này, đương nhiên được gọi là…“phó tiến sĩ”. Thời của hắn ngòai Bắc, đếm trên đầu ngón tay vỏn vẹn chỉ có sáu tiến sĩ thực thụ. Sau mấy thầy Nga Sô, ông kễnh Trung Cộng đòi tụi “ấy ái uông” phải có cơ sở văn hóa cao, nên con cháu tiểu tư sản mới len chân vào được, trong đó có hắn.

       Chẳng dấu gì ông, tôi cũng tò mò một chút về mấy cây đa, cây đề này thì hắn như được gãi đúng chỗ ngứa: “Quốc lọan tri trung thần – Gia bần chi hiếu tử. Hắn thở ra: Chán lắm, trong cung đình thiếu hiền tài, lùn trí tuệ, thiếu nhân đức, nên sinh quái thai dị dạng. Hắn nương bóng cửa Khổng sân Trình: Đức ít mà ân sủng nhiều, tài thấp mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn là tam đại họa, để đi đến quốc phá gia vong. Để rồi lòng dân ly tán, hiền tài cứ bỏ nước mà đi, cơ đồ đã đến hồi mạt vận. Hắn tiếc hùi hụi cho cái thời Nghiêu Thuấn, của bá tánh đánh rơi ngoài đường không ai nhặt, ngủ nghê không cần cửa đóng then gài, còn bây giờ ấy à, trộm cắp như rươi. Nhân chuyện thời thế…thế thời phải thế, hắn chí tình khuyên tôi đừng có dại về làm ăn buôn bán, chỉ cốc mò cò sơi mà thôi.

       Nghe vậy, ai mà chả thấy buồn nẫu ruột, mới láo ngáo qua đây, vốn liếng của tôi chỉ có cái máy hình lâu lâu chụp đàn vịt, chỉ có bấy nhiêu và không hơn. Tôi nói với hắn như thế và càng lúc tôi càng gần gũi với hắn, chả là hắn là nhà văn, có bài viết trên báo bổ nên ăn nói rất có duyên với những kiến thức rộng như trời biển. Nói xa chẳng qua nói gần thì hắn cũng là một…nhân tài đấy, mà với địa linh nhân kiệt như Thăng Long hoài cổ thì nhân tài thì thời nào chẳng có. Sau đấy, tôi cứ mặc tình ngồi trơ thổ địa ra mà nghe hắn thuyết khách, hắn đảo qua chuyện thời cuộc như mấy ông bác, ông chú tôi sùi bọt mép trong mấy ngày Tết. Nhưng hắn thông thiên bác cổ hơn nhiều, tầm chương chích cú từ Hán Sở Tranh Hùng đến thời Tam Quốc, cùng điển tích này, điển cố kia. Hắn còn luận cổ suy kim đâu ra đó, có đầu có đũa, như hắn thuyết về Tần Thủy Hòang với Mao Trạch Đông, cả mấy nghìn năm chỉ có hai nhân vật này thống nhất được nước Trung Hoa…để rủ nhau đốt sách thánh hiền. Hắn luận về Mạc Đăng Dung với Hồ Chí Minh, cùng gốc dân ven biển, cùng là đầu dây nhợ cho chuyện cắt đất ở Ải Nam Quan.

       Hắn mê hoặc tôi với giọng nói đầm ấm của người Hà Nội, mà lâu lắm rồi tôi mới được nghe. Qua hắn, tôi bắt gặp lại cái cốt cách thanh tao lịch lãm, từ tốn, nhậy cảm và tinh tế, nhưng cũng không thể thiếu cái lãng mạn, thâm trầm mà điển hình là hắn. Dáng dấp của một người Hà Nội mà đã từ lâu vắng bóng trong tôi. Và cũng xin thưa với ông, cứt người thì thối, cứt đầu gối thì thơm, mặc dù hắn cũng có đôi lúc…vồn vã quá lắm, thiếu hẳn cái khách sáo của người Hà Thành thanh lịch. Nhưng hắn đúng là một kỳ nhân dị sĩ mà tôi ít gặp. Đúng là duyên kỳ ngộ ít thấy, ông ạ.


       Bình cạn rượu khô chiều nắng tắt, bỗng hắn ngâm nga: “Giai nhân, hề, vẫn chiêm bao - Thất phu, hề, biết chỗ nào dung thân”. Rồi không hỏi mà khai, hắn bắt qua chuyện vợ con hắn. Hắn lập gia đình với con của một thứ trưởng thân Nga, cũng nhờ ông bố vợ với “nhất phe, nhì đảng”, nên hắn được cử sang làm việc ở tòa sứ Đông Đức. Nhờ biết ngọai ngữ, nên hắn được bổ trí vào cụm phân tích tình hình, suốt ngày xem ti vi, rồi đúc kết gửi báo cáo về nước. Hắn nói cái ngày Nga Sô đang ngất ngư con tầu đi, các quan chức ở Ba Đình sợ thọt dái lên cổ, quáng quàng  tìm chỗ gửi gấm của chìm của nổi và ẩn nấp qua họ hàng khi có biến động. Có quan chức nhanh nhẩu đỏang vù qua Thái Lan, tuần sau tẽn tò mò về như chó cụp đuôi. Ai chả biết chúng khôn như rận, tự biết là đồ tể, chơi với dao có ngày chết vì dao. Nghe đến đây, tôi nhìn trộm hắn và câm như thóc, vì như ông đã biết đấy: Lúc đó, tôi cũng đang là…đồ tể như ai.

       Hắn chép miệng thở dài, lương sứ là cái lương chả bõ nhét răng, vậy mà tháng tháng hắn phải cúng một phần ba cho các quan chức ở Bộ Ngọai Giao, hay mỗi lần về thăm nhà, các quan sứ cứ nhờ vả mua cái này, sắm cái kia, nhiều khi toi cả tháng lương, bức tường Bá Linh sụp đổ, thế là hắn xin tị nạn. Tôi vội chặn hắn lại để hỏi cho ra nhẽ, vì qua những truyện trong những báo Đông Âu của người Việt, sở di trú và cảnh sát làm khó dễ họ đủ điều. Hắn cười buồn trả lời, với hắn thì cũng vậy vậy thôi, chỉ đau một cái là trên cái hộ chiếu, bộ Nội Vụ Đức đóng cái dấu xanh mầu lá mạ:”Uprchlik”, nghĩa là “Kẻ đào tẩu”. Cực kỳ hơn cả cực kỳ nữa là một sớm hai sương vợ hắn bỏ…kẻ đào tẩu lấy ngay “sếp” cơ quan của hắn. Thế có kỳ không? Hắn hỏi tôi vậy thì ông cố nội tôi cũng không trả lời nổi! Rồi thì cái khó nó bó cái khôn, ông bố vợ hắn bị thất sủng, thằng con hắn được trúng tuyển nghĩa vụ quân sự lên vùng mạn ngược và hiện đang…đầu đội nón cối vai mang súng dài, chẻ tre đốn gỗ biết phàn nàn cùng ai.

       Sáng sớm hôm sau, hắn ra xe khiêng vào lỉnh kỉnh một đống đồ nghề. Ông có thể tưởng tượng được không, tôi cứ trơ mắt chẫu ra mà nhòm. Giời đất ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, bộ hết chuyện rồi sao mà hắn đi dậy tôi cất rượu, hay nói đúng ra là “nấu” bia. Mà quái một điều là sao hắn biết chỗ tôi không được bán bia? Và cũng giản dị thôi, đồ nghề hắn có cái chõ hai ngăn, có lỗ cách thủy, chỉ khác một chút là cái nắp, hắn làm thêm cái ống thóat hơi như ống khói cao lều bều, cũng có nắp che nên trông rất hiện đại. Chỉ phiền một nỗi theo tôi đấy là cái chõ mà các cụ ta dùng để hấp sôi, hấp giò, thì hắn lại kêu là…cái gầu, một từ mới của rượu cuốc lủi hay rượu chui. Hắn chỉ vẽ cho tôi, nấu bia dễ nhưng mà khó, bia nặng hay nhẹ, đậm hay nhạt ở độ tinh luyện, lọc đi lọc lại nhiều lần bằng cách đun lên để tụ hơi. Nhưng quan trọng nhất là men bia, men bia thì hắn có cả đống, khi nào cần hắn sẽ gửi cho với…giá hữu nghị. Hắn vừa dậy nghề, vừa nói chuyện về bia, như ở Nam Tư có một lọai bia tên là Carlberg còn được gọi là bia “Tử Thần”. Nghe đến hai chữ này, mặt tôi cứ thộn ra, hắn diễn giải, đó là một lọai bia để xuất cảng, hay chỉ dành cho quan chức cao cấp và cuối cùng là cho…tử tội.

        Tôi nghĩ thầm, ở đây làm chơi ăn thật, nay mai tôi dám nổi tiếng như cồn với bia thị xã Duchkholyz mà tôi đang tạm cư để nín thở qua sông, chuyện đời ai học được chữ ngờ, thưa ông. Buổi chiều, hắn còn đè tôi ra dậy viết thư pháp, xem bói qua tru dịch quán số, hắn nạp giáp và gieo quẻ rằng cung mệnh của tôi có sao thiên di, tôi sẽ rời thị trấn buồn hiu nay mai và hậu vận tốt với cái nghề dính dáng đến…”củi lửa”. Tôi chột dạ, không lẽ lại sinh nghề tử nghiệp với bia bọt, bây giờ nghiệm lại, hóa ra là mở hàng ăn mà nay tôi mới gặp ông và anh bạn của ông ở đây.

      Đồng thời tôi cũng tâm phục khẩu phục hắn sát đất, cái thằng tài hoa gì đâu kể không hết, sau tôi biết hắn còn biết trồng cây cảnh nữa. Tôi nói với hắn, kỳ tới qua chơi, mang theo ít “lò” cất bia, tôi sẽ dẫn đến nhóm người quen quanh quận hạt gần đây, thế nào cũng mại được một mớ. Tôi biết hắn sẽ trở lại, vì cái làng Việt Nam gần đây. Hắn trở lại thật với đầy một xe với gầu to gầu nhỏ, dẫn tới gặp mấy lão Neugen, Nougen. Khiếp, mấy lão này như “Đại hạn phùng cam vũ – Tha hương ngộ cố tri“, lại gặp ngườ Hà Nội nghìn năm văn vật nữa, nên cứ nhặng sị cả lên, đãi đằng ra trò và hắn tự nhiên như người Hà Nội bây giờ, không ăn hương ăn hoa mà ăn thủng nồi trôi rế. Ngòai ra còn ghé mấy ông bạn tôi thăm chừng…tương lai để kiếm chút cháo bào ngư. Buồn ngủ gặp chiếu manh, ở đâu hắn cũng được chè chén no say , lại đi nhẹ về nặng, đẩy được mấy cái gầu, dăm lá số nên trong túi rủng rỉnh, mặt mũi hể hả trông thấy.

       Rồi ở nhà tôi, lại sáng tiểu yến chiều đại yến, hắn lại được phen múa môi khua mép rằng thuở xưa Lý Bạch đã từng múa bút “Quân nhược bất ẩm tửu – Tích nhân an tại lai” và…uống tiếp. Hắn lại lẵng nhẵng trở về chuyện cũ dậy bảo tôi trong kinh Di Giáo, Bụt đã dậyTri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, do vi an lạc - Bất tri túc giả, tuy xứ cực lạc, diệc bất xứng ý”. Diễn nghĩa là biết thế nào là đủ, có người tuy nằm dưới lòng đất cũng thấy an vui. Người không biết đủ, luôn luôn chạy theo khổ lụy, có lên miền cực lạc cũng chẳng bao giờ tọai ý. Thế nên tôi càng tâm phục khẩu phục…cái tâm của hắn. Tối đến, hai thằng gác đùi lên nhau nói chuyện nổ như gạo rang, chuyện dai như rẻ rách, chuyện đổ bốn chân giường, chuyện long ba bức vách. Khôn nhà dại chợ, tôi buột miệng khoe mẽ rằng trên tỉnh có xúc xích vùng Braufels, món này mà đi với bia nâu Kruerger thì mả lắm. Thế là hắn rủ tôi đi tham quan vào cuối tuần.

       Nói cho ngay, mới đầu tôi nghĩ trộm vía nó, đúng là cái thằng ăn mày mà đòi sôi gấc. Nhưng rồi ân hận ngay vì sau đó hắn nhỏ to với tôi, chuyến này để hắn đi chợ vì đẩy được mấy bức thư pháp, nghe quá đã và tôi nhủ thầm, thằng này cũng biết điệu nên chơi được. Vào tiệm, hắn tự nhiên như ruồi, gọi đồ ăn chí chát, ăn xong, hắn kêu bị đầy bụng và phải vào…nhà sau. Tôi đợi mãi không thấy ra và nhủ thầm ăn thùng bất chi thình như hắn bị Tào Tháo đuổi đi thăm lăng bác chỉ là chuyện bình thường như ông vẫn nghĩ. Cũng vừa lúc nhà hàng ra tính tiền, tiện tay tôi móc túi vì nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, chẳng phải tôi một tấc tận giời gì cho cam vì cũng có khi cũng tướt ra cả đấy. Nghĩ thêm nữa, như một lần hắn nói với tôi “Hữu bằng tự viễn phương – Bất diệc lai hồ”, sau đó hắn diễn nghĩa mãi tôi mới thông là bằng hữu từ xa tới, không vui sao. Ấy đấy, ông thấy không, tôi không vui sao được khi gặp người hiểu bạn thâm căn cố đế như hắn là nhất. Nhất hắn đấy, thưa ông…

       “…Ngày về, hắn để lại cho tôi ba cái gầu hiện đại và dặn dò nhờ tôi đẩy dùm cho mấy gia đình quanh đây, rồi gửi tiền cho hắn sau. Bước ra cửa, hắn bịn rịn với tôi cả một lúc lâu và bùi ngùi ”Tương kiến diệc thời nan – Biệt diệc nan”, thấy mặt tôi dài ra, hắn lại phải nôm na rằng bằng hữu gặp nhau đã khó, giã biệt còn khó hơn. Lúc ấy vì xúc động, mắt tôi như chắn ngang một màn sương mờ và trong đầu tôi lại nghĩ có thể chẳng bao giờ gặp lại hắn nữa, một thằng bạn chí cốt, mới gặp nhưng như quen nhau từ kiếp trước. Ngồi trong xe, hắn vừa vẫy tay chào tạm biệt, vừa móc ví xem giấy tờ gì ấy, vừa lom lom nhìn vào trong xe. Để rồi hắn bước xuống, mặt mày nhăn nhó là xe gần hết xăng và hỏi tôi có thể “cấn” cho hắn ít tiền vào mấy cái gầu của hắn được không. Đúng là cái thằng khỉ, có cái bình xăng cạn cũng lơ đễnh và tôi chỉ nghĩ vậy thế thôi. Hắn đi rồi, trong một thóang cùng những hòai cảm lâng lâng, tôi nhớ lại câu chữ Nho của hắn: “Tuế bất hàn vô dĩ tri tùng bách – Sự bất nan vô dĩ tri bằng hữu”, hiểu theo nghĩa trong cơn họan nạn, mới biết thế nào là bạn. Để rồi cái đầu củ chuối của tôi đưa đẩy tiếp: Kẻ sĩ bách vi, thâm nho và hiền triết như hắn, trên đời dễ có mấy tay. Thầy tôi đấy ông ơi…

       Thoáng như ông đang lầu nhầu: “Thì cũng tốt thôi mà”. Tôi cũng nghĩ như ông, hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…”không tốt lắm” và cứ xem nó như một cuộc chơi thôi. Chấp nhận những gì mà mình đã có, đang có được hay sẽ có hoặc không, để chịu đựng qua cơn bão, để làm sao để biết tìm nơi trứ ẩn dưới cơn mưa. Và hắn thì đang cần một mái hiên trong những lúc nhiều mưa ít nắng, thế thôi. Tôi cũng chỉ là người bình thường với những suy nghĩ bình thường như ông, như với bất cứ ai khác với….sự bất nan vô dĩ tri bằng hữu.

       “…Năm sau, hắn lại ghé thăm tôi nữa, và tôi hầu gã như hầu bố tôi không bằng, cơm bưng nước rót, nói cho ngay, quanh đi quẩn lại cũng chỉ nhất bộ nhất bái với món tiết canh vịt với giả cầy. Trong bữa cơm thù tạc, hắn nói nhiều về cha già con cọc, có mỗi thằng con, lại đang vất vưởng ở vùng sơn la chướng khí và hắn đang tìm cách đưa con qua đây qua diện “Hợp tác lao động”, nhưng phải qua thủ tục….đầu tiên, và cho đến khuya hắn uống bia như sáo tắm. Sáng sớm, tôi đang pha trà thì hắn hớt hải đi ra và nói nhỏ là hắn…mất tiền. Hắn nói rõ ràng là hắn để ở chỗ ấy mà sao tìm không ra. Tôi bổ nhào vào phòng, hắn ngồi lại nói với theo như chão chuộc, có mất cũng không sao, của đi thay người đấy thôi. Nghe thấy quái, ai lại mất tiền và vẫn tỉnh như sáo sậu vậy. Tôi tìm khắp nơi, bò vào cả gầm giường vẫn không thấy gì, bước ra ngòai, cái đầu đang rối tinh thì nghe hắn nói cho hắn lên tỉnh ngắm…cây cảnh. Tôi lắc đầu chịu thua, cây cỏ gì trong cái lúc…tang gia bối rối như thế, cuối cùng tôi cũng phải cõng hắn đi. Ngồi trên xe, tôi chẳng mấy vui và suy nghĩ mông lung, khi không đi quàng cái ách vào người, và cũng đã nghĩ đến chuyện gánh bùn sang ao, tức phải đền bù cho cái thằng chết tiệt vô tâm, vô tứ để đâu quên đó này, vì dù sao tôi cũng là gia chủ như…bố vợ bị đấm. Ông thấy tôi xét nét như vậy có phải nhẽ chăng, thưa ông.

       Đến tiệm của một lão Tầu già, hắn cứ sum soe ngắm mấy chậu Bon sai với mấy cái tên Tầu gắn trên tường, nào là Huynh đệ với Trúc mai này kia. Tôi nào có biết mô tê gì đâu ngay cả cớ sự gì hắn biết cái nhà hàng này. Thấy mặt tôi nghệt ra, ngỡ tôi muốn học hỏi về cây cảnh, hắn vén môi giảng giải thế nào là thế cây thiên, địa, nhân với trồng một nhóm cây như rừng phải đếm số lẻ. Rồi hằn sờ cây này, mó cây kia, nhất là mấy chậu không bằng đất nung, và hắn ngắm tới ngắm lui không biết chán. Ra đến xe, hắn nói với tôi là muốn mượn cái máy hình của tôi để chụp mấy cây ấy. Vì ít nữa, hắn sẽ uốn, tỉa giống y như vậy. Vì ở thành phố lớn của hắn, hắn sẽ tung tẩy được một ít vốn dằn túi để lo cho thằng con, nghe vậy tôi cũng nguôi ngoai được một phần nào. Ngồi trong xe, hắn giả lả nói về sự khác biệt giữa Bonsai Tầu và Nhật...Giời ạ, tôi còn đầu óc nào mà…bon sai với bon chen như hắn, mà chỉ nghĩ cái thằng này hơi chướng và ám quẻ tôi hơi nhiều. Hồn ma nát thần tính, tôi hình dung đến một tương lai đen tối, tối như đêm củ mật và nghĩ súi quẩy, thằng này nhẵn túi lỡ mà ăn vạ ở nhà tôi cả tháng nữa núi cũng lở, vịt cũng tiêu.

       Về đến nhà, trong khi tôi đang lục lọi ngăn kéo kiếm cái máy hình, hắn đi vào cười toe tóet khoe là vừa tìm thấy tiền rồi. Mừng quá đỗi, hỏi tìm thấy ở đâu thì hắn nói tìm thấy trong…gầm giường. Và ngu lâu đần dai cách mấy tôi cũng chịu chết…nghĩ không ra. Như ông đã biết đấy, tôi bò ra bò vào trong ấy năm thì bẩy lượt rồi. Hay là nhà có ma.

      Trở lại tỉnh và sau khi chụp hình mấy cái cây, tôi bắt gặp hắn đứng ở một góc tiệm, quay lưng phía tôi, tay lúi húi móc ví, bỏ một mớ tiền lẻ vào túi, đầu quay vội đằng sau, mắt dáo dác nhìn quanh không tự nhiên chút nào. Diễn tả cho thật: Trông mặt hắn không…thật chút nào. Tôi biết ý quay đi, nhưng lại thầm nhủ, tại sao hắn phải làm như vậy, để làm gì, có trời mới hiểu được. Thưa ông.

       Cả chiều hôm ấy cho đến sáng hôm sau thì hắn về, tôi không dấu được nỗi ngán ngẩm và ghẻ lạnh của tôi với hắn. Tiễn hắn xong, đợi cái xe khuất bóng ở cuối tỉnh lộ. Tôi thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng và tự thầm nhủ: Cánh cửa đã đóng lại.

       Nhưng bỗng như có linh tính đến thốn người, tôi giật mình và nhẩy bổ nhào vào trong phòng: Cái máy hình không còn ở trong ngăn kéo nữa !”.

       Chuyện kể vừa xong nhưng bạn cũ trường xưa còn rỉ rả tiếc nuối thêm Thế sự du du hề, một cuộc bể dâu – Nhân kiếp phù sinh hề, một thoáng bạch câu”. Bạn tặc lưỡi đến tách một cái rằng chót chét gần ở cái tuổi lục tuần nhi nhĩ thuận này, ngẫm cho cùng mọi sự cũng cho nó qua, như nước chẩy qua cầu, mây bay đầu núi cùng một nắng hai mưa. Lúc này cậu hầu bàn sinh viên du học mới chịu mang cà phê ra cho và nhân tiện dọn dẹp bát đĩa. Và bạn cũng tiện tay cầm cái đĩa còn tốt nguyên si lên, và nhắc lại câu nói hồi nãy rằng giống như một cái đĩa cổ bị nứt một vệt dài, có người chỉ chăm chăm nhìn cái khiếm khuyết ấy. Có người lại thích đọc mấy chữ tượng hình ngang dọc và bạn ở lớp người thứ hai. Vì dẫu sao: Cái đĩa cổ vẫn có cái đẹp của riêng nó. Và bạn hỏi còn tôi thì sao? Tôi thì tôi nghĩ khác: Giống như đang đi bên đường, vấp phải hòn đá ngã một cái trời giáng, để rồi mỗi lần nhìn thấy hòn đá lại thấy…đau.

      Và tôi lẩn thẩn hết ngắm bạn cũ một thời một thưở, qua đến mấy chậu bon sai héo hắt, tôi nhận thấy: vô hình chung bạn đang là…cái nồi ngồi trên cái cốc mà bạn không hay và y như rằng, bạn lắng đọng tí tách theo từng giọt cà phê âm thầm theo nhau rụng xuống đáy...trầm luân. Bỗng bạn triết lý củ khoai: Trời có khi nắng khi mưa, nước có lúc đục lúc trong. Rồi bạn chỉ vào một bức thư pháp chữ nghĩa dài ngoằng và ậm ừ rằng: Tất cả chẳng qua là “Kiếp phù sinh như hình bào ảnh - Có câu rằng vạn sư giai không” đấy thôi. Thưa ông.

                                                           ***

      Nào có khác gì bạn, tôi cũng đang lặng ngắm những giọt cà phê vẫn bình tĩnh, thong thả, đủng đỉnh lắc lư chán chê rồi mới buông mình xuống cốc thủy tinh. Để rồi tôi ngộ ra một chuyện rất đời thường, chẳng hẳn là vạn sự giai không mà chợt nhớ đến gã phó tiến sĩ tốt nghiệp ở Ukraine mà tôi mới có túc duyên gặp gỡ gần đây. Gã này cũng biết tử vi, ngoài ra còn thâm hậu bói dịch, mai hoa dịch, kinh dịch nạp giáp, gieo quẻ vậy mà vẫn phòng không đơn chiếc. Tôi nhủ thầm chuyến này về, cùng cái tình tri ngộ, ắt hẳn là tôi sẽ cất công làm ông tơ bà nguyệt cho gã gá nghĩa trăm năm với ai đó để được…ở lại.

       Nhấp ngụm cà phê thấy vừa đắng vừa ngọt…Tôi lại phân vân có nên hay chăng!

       Đủng đoảng thế nào tôi lại quấy quả đến anh bạn đường trong chuyến đi. Anh đang thưởng trà và ngồi không, nên chẳng biết anh nghĩ gì?

Phi Ngọc Hùng

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều