We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 28 November 2013

BẮC KỲ 9 NÚT - BẮC KỲ 2 NÚT

BẮC KỲ 9 NÚT - BẮC KỲ 2 NÚT
 


“Anh hãy đi cho khuất mắt tôi, các anh đeo dai như con đỉa. Chúng tôi đã sợ các anh quá rồi! Hai mươi mốt năm trước, chúng tôi đã phải bỏ cả nhà cửa làng xóm để chạy xa các anh vào đây, vậy mà bây giờ các anh vẫn lại theo bám, không buông tha!”
Đó là lời người con gái ở Hố-Nai Biên-Hòa (bắc kỳ 9 nút) nói với tên bộ đội (bắc kỳ 2 nút) khi hắn theo tán tỉnh cô sau 30-4-1975. Cô là thế hệ thứ hai của một gia đình di cư vào Nam sau 20-7-1954. Tội nghiệp cô gái bắc kỳ! Chúng tôi, những người lính thời ấy, trách nhiệm thế nào với nỗi nghẹn ngào cay đắng này của cô?
Ván bài thắng ngược! Tại sao con số 9 nút (1954) lại thua con số 2 nút (1975)? Cái gì khiến cô gái bắc kỳ này lại sợ tên bộ đội bắc kỳ kia? Trải nghiệm thực tế, đơn thuần trong sinh hoạt xã hội của “bác” Hồ trước và sau những năm 1975 để giải mã những nguyên nhân căn bản khiến con số 9 nút phải thua con số 2 nút:
Ở năm thứ 5 của đời tù tội, lần đầu tiên mẹ tôi đi thăm tôi ở trại Ba-Sao Nam-Hà, quà cho tôi thật khiêm tốn, trong đó có hai hộp sữa đặc là đáng quý nhất. Tôi nói đường xá xa xôi, mẹ mang làm chi hai hộp sữa này cho nặng, thì mẹ tôi cho biết bà mua ở Hà-Nội khi đi ngang qua. Chia tay, tôi ôm hai hộp sữa vào lòng, nghĩ tới chiều nay có được cái “ngọt ngào của cuộc đờiˮ, cái ngọt ngào đã biến mất trong suốt hơn 5 năm trong đời tù đày, mà đôi chân tôi bước đi khấp khểnh, cao thấp như đang ở trên mây.
Thế nhưng, trời sập rồi! cái đinh vừa đâm lút vào hộp sữa thì một dòng bùn đen túa ra, tôi mềm người rũ gục như một tàu lá úa. Ngồi cạnh tôi, người bạn thân trong tù đang chờ được chia xẻ, đôi mắt trợn tròn rồi rủ xuống như muốn khóc! Bóc nhãn hiệu ra, thấy cạnh hộp sữa có một vết hàn. Như thế là người Hà-Nội đã tinh vi sáng tạo: rút ruột sữa ra, bơm bùn đen vào rồi hàn lại. Quả thật (mẹ tôi), Bắc Kỳ 9 nút đã thua Bắc kỳ 2 nút!
“Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tôi đã học cái văn hóa đó ở nhà trường. Ở nhà, trong hoàn cảnh nghèo, mẹ tôi thường nhắc nhở anh em chúng tôi phải luôn giữ cái chất“bần tiện bất năng di” ấy. Đó là cái nhân cách căn bản được giáo huấn ở học đường miền Nam Việt-Nam, ở cái đất nước mà con người hiền hòa, chân chất, đơn thuần, vô tư không ôm hận thù, không biết cướp bóc, lừa bịp, đểu cáng vv. Đó chính là cái đất nước ở phía sau vĩ tuyến 17 kia.
Còn ở miền Bắc, cái đất nước trước vĩ tuyến 17 thì sao? Người ta dạy nhau cái gì ở nhà trường và ngoài xã hội? Người ta dạy nhau rằng“bần cùng sinh đạo tặc”. Hậu quả là sau 30- 4-1975, người Bắc Kỳ, tay cầm dao, tay cầm súng, tràn vào miền Nam điên cuồng giết người cướp của, hành động của “kẻ dã man thắng người văn minh” mà nhà nữ văn sĩ C/S Hà-Nội  Dương-thu- Hương đã nhận xét.
Sự thật đã chứng minh “con người ít nhiều là sản phẩm của xã hội”, vậy thì xã hội man rợ tất nhiên sản xuất ra con người dã man. Từ cái bản chất dã man này, tự nó, sinh ra tệ trạng sinh hoạt đầy tính chất nguy hiểm, độc ác, gian manh, quỷ quyệt khó lường v.v. Đó là kết quả tất yếu không cần lý giải.
Chỉ có một mẩu cá khô lấy trộm trong khi vận chuyển lương thực, ông chiến hữu của tôi miệng phải ngậm miếng cá đó, cổ đeo cái bảng viết hai chữ “ăn cắp”, đứng trước cổng trại suốt ba ngày! Miếng ăn quý hơn mạng người! Ông ngục sĩ Nguyễn-chí-Thiện khi còn sống đã nói rằng: “miền bắc thắng miền nam là do chế độ lương thực tem phiếu”. Ông đúng hay sai? Đây là câu trả lời: “Em xin anh, chúng em mà nói trên đài thì ở ngoài kia, cha mẹ và vợ con em sẽ bị cắt hộ khẩu, họ sẽ chết đói!”. Đó là lời của ba tên tù binh bị bắt trong trận đánh cuối cùng ở Long-Khánh.
Tôi còn nhớ, ngày 3/9/1978, ngày giỗ “bác” Hồ của nhân dân bắc kỳ (2 nút), tại trại giam ở Yên-Bái, địa danh có cái tên nghe rợn người: “Ma thiên lãnh!”, tù nhân được nghỉ một ngày để chuẩn bị làm giỗ “bác”. Bàn thờ được trải khăn đỏ, sau bàn treo lá cờ to, trên bàn có hình “bác”, trước “bác” đặc biệt có một mâm hoa quả bằng hình vẽ mà trước đó, nguyên một ngày, ông tù nhân Lê-Thanh, họa sĩ kiêm điêu khắc gia có tiếng trong quân đội miền Nam “thua cuộc”, đã phải vẽ trên cả chục bản để ông cai tù trưởng trại lựa chọn.
Sau khi đã nhuần nhuyễn nói về tài thao lược và đạo đức của “bác”, trưởng trại để ý thấy tù nhân xì xầm về bức họa trái cây kia, ông bèn rất là trân trọng và tự tin nói rằng: “bác thường dạy “trong đấu tranh gian khổ, tính chất khắc phục là quan trọng”, cho nên khả năng “biến không thành có, biến khó thành dễ” là thành tích luôn được biểu dương, khen thưởng”!
Giỗ “bác” hôm nay, “bác” được ăn hoa quả giấy. Quả nhiên gậy “bác” đập lưng “bác”! Phần tù nhân, nghe xong chỉ thấy họ lặng im. Tôi đoán họ đang nghĩ đến nhờ ngày giỗ “bác”, bữa ăn trưa nay được tăng thêm trọng lượng.
Ông chiến hữu (bắc kỳ 9 nút) nằm cạnh tôi kể chuyện anh: “Bọn công an (bắc kỳ 2nút) cùng người giúp việc nhà anh, là chị đã xin nghỉ việc vài ngày sau 30/4/1975, đạp cửa bước vào và lớn tiếng hỏi anh: “lương lính, quân hàm thiếu tá, một tháng anh lãnh bao nhiêu? Anh trả lời chỉ vừa đủ sống cho hai vợ chồng và năm đứa con. Tên công an quát lớn: chỉ đủ sống thì làm sao anh có cái nhà to thế này? Đây là anh đã lấy của nhân dân, vậy bây giờ anh phải trả lại cho nhân dân. Anh có ba ngày để dọn ra khỏi căn nhà này.”
Một hơi thở dài, rồi một cơn ngủ thiếp của một ngày



TLC BÙI-TRỌNG-NGHĨA/K18-BBTĐ

Wednesday, 27 November 2013

50 năm : Chuông gọi hồn ai

Chuông gọi hồn ai


Hôm  22-11, nước Mỹ tưởng niệm vị tổng thống thứ 35 John F. Kennedy đã bị sát hại cách đây đúng 50 năm mà lý do cho đến bây giờ và có lẽ mãi mãi về sau sẽ không xác định được. Cách đây ba tuần, người Việt chúng ta cũng có dịp tưởng niệm ông Ngô Đình Diệm, vị tổng thống duy nhất của Đệ nhất Cộng hòa của chúng ta, cũng bị sát hại cách đây đúng 50 năm, và cho đến giờ chúng ta vẫn chưa khẳng định được đầy đủ tình tiết của nghi án lịch sử này. Là người Việt tha hương trên đất Mỹ và phần lớn đã là công dân hữu thệ của nước này, chúng ta đúng là có những cảm xúc riêng trong tháng 11 này, một tháng chúng ta phải tưởng niệm đến hai vị tồng thống của mình, đã bỏ mình cách đây nửa thế kỷ, cùng năm cùng tháng, chỉ cách nhau ba tuần. Hình như chẳng có một trường hợp nào như thế đối với những người khác nguồn gốc.

Đầu tháng này, một số người đã làm lễ cầu hồn, tưởng niệm, cho các ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu. Có nơi còn có cả ông Nguyễn Văn Thiệu trên bài vị. Ông Diệm và ông Nhu là những người đã nằm xuống vì chính nghĩa dân tộc. Ông Thiệu là người đã đưa chúng ta qua đây, và rất nhiều người đã nằm xuống vì ông. Những nhân vật này đứng chung với nhau đúng là một sự tùy tiện đối với lịch sử. Trong khi đó, nhiều người trong chúng ta đã lãng quên một chuyện không nhỏ. Chúng ta đã quên rằng nước Mỹ nay là nước của chúng ta, Tổng thống Mỹ là tổng thống của chúng ta, những giá trị của nước Mỹ là những giá trị của chúng ta. Nước Mỹ vĩ đại có hơn 300 triệu dân này đã nhộn nhịp chuẩn bị cho ngày hôm nay tưởng niệm 50 năm ngày Tổng thống Kennedy bị ám sát và rộn rã nhắc lại sự nghiệp ngắn ngủi nhưng di sản to lớn của ông. Chúng ta phải xem đó cũng là một ngày của mình, từ lý trí, từ con tim, từ tâm hồn.

Chúng ta cần nhớ rằng John F. Kennedy, vị tổng thống trẻ nhất của nước Mỹ (43 tuổi) khi đắc cử (năm 1960), là người đã đi vào lịch sử khi mở ra một “Biên Cương Mới” (New Frontier) cho người Mỹ nới rộng tầm nhìn về đất nước của mình và chấp nhận sự thách đố phải đi tới với nhận thức “đừng hỏi Tổ quốc có thể làm được gì cho ta mà phải hỏi ta làm được gì cho Tổ quốc”. Trong ba năm ngắn ngủi dưới thời ông, nước Mỹ đã trải qua những thử thách, biến động ngoài nước và trong nước, nhưng người Mỹ cũng đã thấy đi xa được hơn một cách đáng kể trên quốc tế, đi sâu hơn vào không gian, và đạt những tiến bộ có tính cách thời đại đối với phong trào dân quyền cũng như cuộc đấu tranh không ngừng cải thiện điều kiện sống cho những thành phần khốn cùng trong xã hội. Chính những tư tưởng phải chống sự bất bình đẳng xã hội về mặt chủng tộc, giới tính cũng như kinh tế đã là cảm hứng chính trị về một “Xã hội Vĩ đại” (Great  Society) của Tổng thống Lyndon B. Johnson về sau này, đưa đến Luật về Bảo hiểm Y tế cho người già Medicare và người nghèo và khuyết tật Medicaid được ban hành chưa đến hai năm sau khi ông Kennedy nằm xuống.
 


NgoDinhDiem_2-11-2013
 Một điều cũng cần nhấn mạnh trong dịp này là một quan điểm phổ quát của những sử gia nước Mỹ về lập trường của ông Kennedy đối với cuộc chiến Việt Nam. Họ cho rằng dù thất vọng Tổng thống Diệm không chịu “đoạn tuyệt” với ông Nhu, ông Kennedy vẫn chủ trương cố giữ ông Diệm vì không có ai có thể thay thế. Đồng thời, ông Kennedy một người tin tưởng ở “thuyết domino”, cũng quyết tâm không để cho Cộng Sản lấn lướt ở Đông Nam Á, và do đó, chẳng ngại gia tăng viện trợ quân sự tối đa cho Saigon. Tuy nhiên, trong khi bủa vây ông là rất nhiều “quân sư” với những ý kiến khác nhau về ông Diệm và khả năng chiền đấu của quân đội miền nam, khiến cho ông càng thêm phân vân, ông không thiên về chủ trương đưa quân chiến đấu đến miền nam (có ý kiến từ phía Việt Nam cho rằng vì Tổng thống Diệm chống lại việc Mỹ đưa quân chiến đấu đến Việt Nam cho nên ông Kennedy phải “khử” ông Diệm. Thực tế có thể phức tạp hơn thế, nếu không là ngược lại!).

Ông Kennedy theo đạo Thiên Chúa, cho đến nay vẫn là tổng thống duy nhất không phải là người Tin Lành. Gia đình Kennedy sống tại Massachusetts, gốc di dân bốn đời từ Ái Nhĩ Lan, giàu có và quyền thế. Cha của ông Joseph Patrick “Joe” Kennedy Sr., đại sứ tại Anh quốc, vốn nuôi tham vọng phải có một đứa con làm tổng thống Mỹ. Bao nhiêu mong đợi người cha đặt cả vào người con trai đầu lòng là Joseph Kennedy, cho đến khi ông này tử nạn trong một phi vụ trên vùng Suffolk, Anh quốc, trong Đệ nhị Thế chiến (1944), người cha mới chuyển mục tiêu của mình qua đứa con thứ hai, chính là JFK, lúc đó đang là một sĩ quan hải quân đang xông pha trận mạc và nổi tiếng về sự can đảm. Trong thế chiến, John Kennedy từng sống sót kỳ diệu khi tàu của ông bị Nhật đánh đắm gần một đảo trên Thái Bình Dương.

John Kennedy chẳng được cha mong đợi gì vì thuở nhỏ ông khá “èo uột”. Ruột dư phải cắt. Bị vàng da phải bỏ học mấy phen. Bị đau cột sống đến mức bị quân đội từ chối lúc ban đầu, về sau phải mổ. Ông đã từng học ở London School of Economics, rồi Đại học Princeton. Và cuối cùng Harvard – theo ngành chính trị học. Và ông bắt đầu sự nghiệp chính trị khi giã từ quân ngũ năm 1946, làm dân biểu trong suốt sáu năm, sau đó là thượng nghị sĩ Massachusetts tám năm.  Người ông đánh bại trong cuộc chạy đua vào viện trên chính là ông Henry Cabot Lodge, cũng thuộc một gia đình vọng tộc. Ông là người nổi tiếng linh hoạt, năng động, viết hay, nói giỏi, có tài biện bác, có tư tưởng, có tầm nhìn, có nhiệt tâm dấn thân với đất nước, với xã hội, có sức thu hút với quần chúng… đó là những điều dần dần người ta đã kết luận về ông. Và cũng nhờ những đặc tính đó, ông đã thắng được cuộc bầu cử tổng thống ngay trong lần đầu thử thách, trước một đối thủ dày dạn kinh nghiệm chính trường và chuẩn bị chu đáo như ông Richard Nixon.

Một điều đáng ghi nhận trong giai đoạn này là ông John Kennedy đối nghịch về chính trị với cha ông. Ông Joseph Kennedy là người bảo thủ. John Kennedy là người tương đối cấp tiến. Người cha sùng đạo, người con ít nói chuyện tôn giáo. John Kennedy là người “độc lập” trong chính kiến. Ông từng đứng về phía người Cộng Hòa lên án Tổng thống Truman đã để mất Trung Hoa vào tay Cộng Sản. Nhưng ông cũng lên tiếng phê phán tổ chức Cộng Hòa cựu chiến binh American Legion khi họ chống chủ trương “public housing” (cung cấp nhà cho người nghèo) của bên Dân Chủ.  Ông Kennedy bắt đầu sự nghiệp chính trị khi Chiến tranh lạnh cũng vừa mở màn, ông đã thực sự quan tâm đến hiểm họa Cộng Sản bành trường ở châu Á, sau khi đã chiếm trọn Đông Âu từ 1948. Từ năm 1952, ông đã có dịp đến chiến trường Đông Dương để đánh giá khả năng của Pháp giữ được Việt Nam hay chăng. Ông chủ trương phải ngăn chận sự mở rộng làn sóng đỏ của Trung Cộng ở Đông Nam Á.

 Trong bầu cử tổng thống năm 1960, Nixon chỉ thua Kennedy 115.000 phiếu. Phải chăng vì Tổng thống Eisenhower có thái độ ỡm ờ với người phó tổng thống của mình. Hay vì Nixon vụng tính cho nên đã mất sự ủng hộ của phong trào dân quyền của Martin Luther King. Hay là vì ông Nixon quá cứng, quá sượng, thiếu tự tin và tự nhiên, còn bị cảm, sổ mũi trong tranh luận với ông Kennedy cho nên bị thua. Cũng phải nói là nhờ ứng cử viên phó tổng thống Lyndon Johnson nên Kennedy mới thắng được tiểu bang Texas cực kỳ quan trọng chỉ với 50.000 phiếu nhưng có đến 38 phiếu cử tri đoàn (Kennedy được 303, Nixon 219)!

Dù sao đi nữa, ông Kennedy đã mở ra một thời đại mới sau tám năm nước Mỹ sống với một Tổng thống Cộng Hòa chậm rãi, từ tốn, chững chạc và khá cứng nhắc như ông cựu tướng Eisenhower. JFK trẻ trung, nhiệt tình, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng mở đường, chấp nhận thách đố và liên tục cổ vũ người dân hành động. Đúng như sứ điệp “New Frontier” mà ông cổ vũ trong bài diễn văn nhậm chức, nhấn mạnh nước Mỹ phải tiến lên trên tất cả mọi mặt để đạt đến một “biên cương mới” đáp ứng những thách đố của thời đại. “Ngày hôm nay chúng ta đang trên ngưỡng của một Biên cương Mới  - biên cương của những năm 60, biên cương của những cơ hội và bất trắc không biết được, biên cương của những hy vọng chưa thành và những giấc mơ chưa trọn… Bên kia biên cương là những khu vực chưa được định hình về khoa học và không gian, những vấn đề hòa bình và chiến tranh chưa được giải quyết, những vấn đề chưa khắc phục được là sự ngu dốt và thành kiến, những câu hỏi chưa được giải đáp về nghèo đói và dư thừa”.

Cũng trong bài diễn văn nức lòng, ông nói: “Từ giờ phút này và từ nơi này, chúng ta hãy nói cho mọi người rõ, cho bạn cũng như thù, là ngọn đuốc đã được chuyển giao cho một thế hệ người Mỹ mới...
“Hãy để cho mọi nơi được biết, dù cho họ chúc lành hay chúc dữ cho chúng ta, là chúng ta sẵn sàng trả giá, chịu mọi gánh nặng, đương đầu mọi khó khăn, yểm trợ bất cứ người bạn nào, chống lại bất cứ kẻ thù nào, để bảo đảm sự tồn tại và thành công của tự do…
“Nếu một xã hội tự do không thể giúp gì cho đông đảo người nghèo, làm sao có thể giữ được một số ít những người giàu trong đó?...
“Tất cả mọi chuyện này chẳng thể hoàn thành trong trăm ngày đầu tiên. Cũng chẳng thể xong được trong ngàn ngày đầu tiên, hay ngay cả trong nhiệm kỳ của chính quyền này, hay thậm chí có lẽ ngay cả trong cuộc sống của chúng ta trên trái đất này. Nhưng chúng ta vẫn phải bắt đầu…
“Bởi thế cho nên, hỡi đồng bào nước Mỹ của tôi, xin đừng hỏi đất nước của mình có thể làm gì cho mình, mà xin hãy hỏi chúng ta có thể làm được gì cho đất nước của mình”.

Như nhận định của sử gia Robert D. Marcus: “Kennedy đã nhậm chức với tham vọng xóa bỏ nghèo đói và nâng tầm mất nước Mỹ lên đến những vị tinh tú trong chương trình không gian”. Theo một sử gia tăm tiếng Theodore White, “JFK dù chỉ tại chức trong ba năm đã thông qua được nhiều luật hơn bất cứ tổng thống nào trong 30 năm trước đó”. Phải chăng vì ông đã trải qua một thời sống triền miên trong những đe dọa của bệnh tật, của chiến tranh nên rất hiểu sự hữu hạn của cuộc sống và bởi thế cho nên rất vội vàng, cố gắng thực hiện tối đa những gì mình còn có thể hoàn thành khi còn hơi thở?

Những sử gia thường kể ra hàng loạt sự kiện lớn hay biến cố trọng đại dưới thời Kennedy.  Thất bại trong vụ đổ bộ Vịnh con heo (Bay of Pigs) (1961). Đối đầu với Liên Xô trong cuộc khủng hoảng hỏa tiễn ở Cuba (1962). Cuộc khủng hoảng ở Bức tường Berlin (1962). Thành lập Liên minh vì Tiến bộ (Alliance for Progress) liên kết với các nước châu Mỹ La-tinh. Thành lập Đoàn Hòa Bình đưa tuổi trẻ nước Mỹ đến với những nước Thế giới Thứ ba. Ký kết Hiệp định Ngăn cấm Thử nghiệm Nguyên tử. Triển khai chương trình chạy đua đưa người vào không gian với Liên xô… Kennedy cũng là người được nhắc nhở đến với các chương trình gia tăng tiền lương tối thiểu cho công nhân,  tăng trợ cấp thất nghiệp cùng kéo dài thời gian trợ cấp, tái thiết toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng nước Mỹ… Ông cũng đưa ra luật về dịch vụ gia cư cho người nghèo và tích cực ủng hộ phong trào dân quyền của người da đen... Chính ông đưa ra ý kiến phải tăng trợ cấp An sinh Xã hội cho người già và bgười nghèo mua bảo hiểm y tế. Đó chính là khởi điểm cho chương trình Medicare, Medicaid về sau này.

Ông vẫn được xem là một tổng thống ưa chuộng hòa bình. Ông nói: “Chúng ta không sợ phải thương thuyết, nhưng chúng ta không thương thuyết trong sợ hãi”. Ông cũng được xem là một người lãnh đạo quan tâm thúc đẩy lý tưởng của những thế hê trẻ. Và ông cũng là người không bao giờ quên những thành phần bất hạnh trong xã hội - nhất là những bất hạnh bắt nguồn từ sự kỳ thị chủng tộc.

Nhớ lại một thời ở Saigon lúc đó, cái chết của ông vào ngày 22-11 đúng là một nỗi bàng hoàng xúc động to lớn cho người dân thủ đô chúng ta. Chúng ta vào thời đó biết rất ít về tình tiết của vụ án. Nhưng đối với phần lớn thế hệ trẻ thời đó, nay đều đã vào tuổi “cổ lai hy”, đó là một sự mất mát lớn. Trong chúng ta đây, có lẽ đã có nhiều người 50 năm trước tham gia những đoàn diễn hành thầm lặng đi đến Tòa Đại Sứ Mỹ bày tỏ sự thương tiểc.
Báo chí Mỹ nay đang đề cập trở lại những nghi án một thời. Theo CNN, người thì nói chính ông Phó Tổng thống Johnson bàn tay nhuốm máu vì sợ bị hất ra trong bầu cử năm 1964. Người thì cho giới quân sự hành động vì sợ rằng Kennedy không đủ “dũng khí” làm tới ở Việt Nam. Cũng có dư luận cho rằng các nhóm mafia ma túy ra tay để chơi lại người em Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy. Hoặc phải chăng CIA bực bội vì Kennedy đang muốn kềm kẹp cơ quan này trong hoạt động quốc tế. Và chót hết, kẻ sát nhân Harvey Oswald có thể là thằng điên, từng ở trong quân đội rồi bỏ qua Nga rồi trở lại với sứ mệnh tự cho là bảo vệ Cuba! Theo Time, cũng có “giả thuyết” âm mưu từ giới tài phiệt dầu hỏa ở Texas. Và cũng có thể chính Fidel Castro muốn trả thù Kennedy sau bao nhiêu hành động của Mỹ liên quan đến Cuba trong mấy năm đó.

Lich sử đương nhiên chỉ diễn một lần. Tuy nhiên, đối với những người không cảm thấy hài lòng với hiện tại (những người này có thể đông đảo tương đương với số những người bất hạnh trong xã hội), người ta vẫn cứ day dứt với những câu hỏi “Giá như…”. Giá như người chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 1960 là Richard Nixon, câu chuyện Việt Nam liệu có thể khác đi chăng? Giá như ông Kennedy không bị ám sát năm đó và được tái cử thêm một nhiệm kỳ nữa, câu chuyện Việt Nam liệu có thể khác đi chăng?
Lịch sử chỉ có một sự chọn lựa trong hàng ngàn khả năng, bởi thế chúng ta cũng chỉ có một chọn lựa trong hàng ngàn điều nghiệp chướng.

Và có nhiều câu hỏi người ta đặt ra chỉ để mang theo mình đi vào đời sau.


HOÀNG NGỌC NGUYÊN

----

     A Letter From South Vietnamese President Ngo Dinh Diem to American
                                President John F. Kennedy
                                         December 7, 1961
Dear Mr President: Since its birth, more than six years ago, the Republic of Vietnam has enjoyed the close friendship and
co-operation of the United States of America.
Like the United states, The Republic of Vietnam has always been devoted to the preservation of peace. My people know only
too well the sorrows of war. We have honored the 1954 Geneva Agreements even though they resulted in the partitin of our
country and the enslavement of more than half of our people by Communist tyranny. We have never considered the
reunification of our nation by force. On the contrary, we have publicly pledged that we will not violate the demarcation line and
the demilitarized zone set up by the Agreements. We have always been prepared and have on many occasions stated our
willingness to reunify Vietnam on the basis of democratic and truly free elections.
The record of the Communist authorities in the northern part of the country is quite otherwise. They not only consented to the
division of Vietnam, but were eager for it. They pledged themselves to observe the Geneva Agreements and during the seven
years since have never ceased to violate them. They call for free elections but are ignorant of the very meaning of the words.
They talk of "peaceful reunification" and wage war against us.
From the beginning, the Communists resorted to terror in their efforts to subvert our people, destroy our government, and
impose a Communist regime upon us. They have attacked defenseless teachers, closed schools, killed members of our
anti-malarial program, and looted hospitals. This is coldly calculated to destroy our government's humanitarian efforts to serve
our people.
We have long sought to check the Communist attack from the North on our people by appeals to the International Control
Commission. Over the years, we have repeatedly published to the world the evidence of the Communist plot to overthrow our
government and seize control of all of Vietnam by illegal intrusions from outside our country. The evidence has mounted until
now it is hardly necessary to rehearse it. Most recently, the kidnapping and brutal murder of our Chief Liaison Officer to the
International Control Commission, Colonel Noang Thuy Nam, compelled us to speak out once more. In our October 24, 1961
letter to the ICC, we called attention again to the publicly stated determination of the Communist authorities in Hanoi to
"liberate the south" by the overthrow of my government and the imposition of a Communist regime on our people. We cited the
proof of massive infiltration of Communist agents agents and military elements into our country. We outlined the Communist
strategy, which is simply the ruthless use of terror against the whole population, women and children included.
In the course of the last few months, the communist assault on my people has achieved high ferocity. In October they caused
more than 1,800 incidents of violence and more than 2,000 casualties. They have struck occasionally in battalion strength, and
they are continually augmentating their forces by infiltration from the North. The level of their attacks is already such that our
forces are stretched to the utmost. We are forced to defend every village, every hamlet, indeed every home against a foe whose
tactic is always to strike at the defenseless.
A disastrous flood was recently added to the misfortunes of the Vietnamese people. The greater part of the three provinces
was inundated, with a great loss of property. We are now engaged in a nationwide effort to reconstruct and rehabilitate this
area. The Communists are, of course, making this task doubly difficult, for they have seized upon the disruption of normal
administration and communications as an opportunity to sow more destruction in the stricken area.
In short, the Vietnamese nation now faces what is perhaps the gravest crisis in its long history. For more than 2,000 years my
people have lived and built, fought and died in this land. We have not always been free. Indeed, much of our history and many
of its proudest moments have arisen from conquest by foreign powers and our struggle against great odds to regain or defend
our precious independence. But it is not only our freedom that is at stake today, it is our national identity. For if we lose the
war, our people will be swallowed by the Communist bloc, all our proud heritage will be blotted out by the "Socialist society"
and Vietnam will leave the pages of history. We will lose our national soul.
Mr President, my people and I are mindful of the great assistance the United States has given us. Your help has not been lightly
received, for the Vietnamese are proud people, and we are prepared to do our part in the defense of the free world. It is clear
to all of us that the defeat of the Viet Cong demands the total mobilization of our government and our people, and you may be
sure that we will devote all of our resources of money, minds, and men to this task.
But Vietnam is not a great power and the forces of international Communism now arrayed against us are more than we can
meet with the resources at hand. We must have furthur assistance from the United States if we are to win the war now being
waged against us.
We can certainly assure mankind that our action is purely defensive. Much as we regret the subjugation of more than half our
people in North Vietnam, we have no intention, and indeed no means, to free them by use of force.
I have said that Vietnam is at war. War means many things, but most of all it means the death of brave people for a cause they
believe in. Vietnam has suffered many wars, and through the centuries we have always had patriots and heroes who were
willing to shed their blood for Vietnam. We will keep faith with them.
When Communism has long ebbed away into the past, my people will still be here, a free united nation growing from the deep
roots of our Vietnamese heritage. They will remember your help in our time of need. This struggle will then be a part of our
common history. And your help, your friendship, and the strong bonds between our two peoples will be a part of Vietnam, then
as now.
 
-----------------------------
 
 
 
Letter from President Kennedy to President Diem
December 14, 1961
Dear Mr President:
I have received your recent letter in which you described so cogently the dangerous condition caused by North Vietnam's
efforts to take over your country. The situation in your embattled country is well known to me and to the American people. We
have been deeply disturbed by the assault on your country. Our indignation has mounted as the deliberate savagery of the
Communist program of assassination, kidnapping, and wanton violence became clear.
Your letter underlines what our own information has convincingly shown - that the campaign of force and terror now being
waged against your people and your government is supported and directed from the outside by the authorities at Hanoi. They
have thus violated the provisions of the Geneva Accords designed to ensure peace in Vietnam and to which they are bound
themselves in 1954.
At that time, the United States, although not a party to the Accords, declared that it "would view any renewal of the aggression
in violation of the Agreements with grave concern and as seriously threatening international peace and security." We continue to
maintain that view.
In accordance with that declaration, and in response to your request, we are prepared to help the Republic of Vietnam to
protect its people and to preserve its independence. We shall promptly increase our assistance to your defense efort as well as
help relieve the destruction of the floods which you describe. I have already given the orders to get those programs underway.
The United States, like the Republic of Vietnam, remains devoted to the cause of peace and our primary purpose is to help
your people maintain their independence. If the Communist authorities in North Vietnam will stop their campaign to destroy the
Republic of Vietnam, the measures we are taking to assist your defense efforts will no longer be necesary. We shall seek to
persuade the Communists to give up their attempts of force and subversion. In any case, we are confident that the Vietnamese
people will preserve their independence and gain the peace and prosperity for which they have fought so hard and so long.

Tạ ơn đời, tạ ơn nhau



Bây giờ là tháng 11. Chiều chưa đến mà trời đã tối thật là nhanh. Cái lạnh ở đâu ùa về, giá rét. Mùa này nhiều nơi còn bão rớt trên quê hương chúng ta. Tại Hoa Kỳ, lễ Thanks Giving đã đến, mang đến một chút gì một niềm vui ấm áp, một chút gì bâng khuâng xao xuyến vì ngày lễ đáng yêu này.

Từ hàng trăm năm nay, người dân Hoa Kỳ có một đời sống tiện nghi nhất, kỹ thuật nhất, an cư nhất trên tòan thế giới. Cho dù nền kinh tế vẫn còn khủng hoảng, nhưng đời sống người dân không đến nỗi xáo trộn. Hàng năm, cả nước đều đón mừng lễ Tạ Ơn. Trường học, học sinh được nghỉ. những ngôi giáo đường vang khúc nhạc Tạ Ơn. Mối liên hệ giữa lễ Tạ Ơn truyền thống với sự cân bằng đời sống xã hội, với sự phồn thịnh về văn hóa… đã đóng góp rất nhiều trong mối tương quan giữa Tạo hóa và và vạn vật, và giữa muôn loài nữa. Tinh thần ấy hướng dẫn sự phát triển thuận chiều của đất trời. Có phải chăng tâm tình Tạ ơn tạo nên một chuỗi phản ứng, biến hóa những gì chung quanh ta, biến hóa nhân loại thăng tiến, như phép mầu nhiệm của chiếc đũa thần…

Người ta có thể hiểu lầm nhau ở nhiều điều, nhưng người ta không thể hiểu lầm nhau ở tấm lòng biết ơn. Biết ơn là một ngôn ngữ chung của của nhân loại, là tiếng nói thiết tha của tâm hồn.

Lễ Tạ Ơn là một trong những ngày lễ được mọi người hân hoan chào đón. Là những ngày đoàn tụ gia đình. Dù ở nơi xa, ai cũng mong ước và thu xếp trở về mái ấm gia đình, hưởng những giờ phút đầm ấm yêu thương. Đây cũng là dịp người ta tạ ơn đời, tạ ơn nhau. Lễ Tạ Ơn là dịp mà hơn lúc nào hết, chúng ta bày tỏ sự yêu thương, chia sẻ, gần gũi bên nhau.

Chúng ta cùng đọc bài thơ của Đặng Lệ Khánh, một người phụ nữ gốc Huế rất tài hoa:

Tạ ơn ta còn dài mái tóc
Đêm đêm nằm phủ mặt giữ hương
Tạ ơn ta còn xanh đôi mắt
Nhìn cuộc đời qua rất dễ thương

Tạ ơn ta còn nghe tiếng gió
Gõ đùa chơi qua chiếc phong linh
Nghe như nhạc Thánh ca đâu đó
Trổi theo chim ríu rít trên cành

Tạ ơn ta tình yêu đầy ắp
Chảy trên từng dòng chữ đam mê
Bơi trong mộng khói sương ngây ngất
Quấn quýt theo một dáng ai về

Tạ ơn ta đôi mi chợt ướt
Một sáng nào thức giấc nhìn trời
Bên kia núi có ai thổn thức
Mà mưa hồng gợi nhớ không thôi…

Sống trên đời, chẳng ai tồn tại được một mình, cho nên, mang ơn, tự nó là một tình cảm cao quý. Cuộc chiến tranh trên đất nước chúng ta kéo dài đến 1/3 thế kỷ, chấm dứt bằng biến cố 1975. Rồi sau đó là những năm tháng tù đày, những chuyến băng rừng, vượt biển. Có thể nói phân nửa dân tộc chúng ta còn sống đến hôm nay như những kẻ may mắn sống sót. Nhưng cũng phải trải qua bao nhiêu tóc tang tủi nhục. May mắn thay, có không biết bao nhiêu những bàn tay cứu giúp cưu mang đã chìa ra cho chúng ta nắm lấy, khắp bốn phương trời phiêu bạt. Đất nước “hòa bình” rồi. Thế nhưng…

Có bao nhiêu người vợ, hai mươi, ba mươi tuổi vào năm 1975 đã trở thành góa phụ? Bao nhiêu những đứa trẻ đã trở thành những đứa con côi ngay từ lúc sơ sinh? Bao nhiêu người nay đã là cha, là mẹ, nhưng lại không hề biết hay không còn nhớ nổi gương mặt cha hay gương mặt mẹ của mình? Ôi, có thể nào lại có một đất nước mà mọi người đều sợ hãi bỏ chạy như đất nước chúng ta? Một đất nước mà ai trốn thoát ra khỏi đều coi như điều may mắn? Một quốc gia mà “nửa này đã cố giết một nửa kia để lập chiến công” như một câu thơ mà người ta đã đọc được trên vách một nhà tù? Một đất nước mà người ta ở không được, đi không được. Như vậy thì phải làm sao đây?

Hãy nghe tâm sự của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn:

Tôi đã cố bám lấy đất nước tôi
Bằng sức người vô hạn
Bằng sức người đầu đội trăm tấn bom
Tim mang nghìn dấu đạn
Tôi đã đổ mồ hôi đổ máu tươi
Để mong ở lại đây
Dù thế nào cũng ở lại đây

Nhưng đất đã đỏ
Vì bị nung bằng những lời dối trá
Người bám vào
Lửa đã đốt cháy tay
Lửa hờn căm
Lửa hiểm thâm
Lửa khốn cùng cay đắng
Người lừa nhau
Trời đất còn bưng mặt thảm thương

Vâng. 100 năm nô lệ. Rồi trận đói năm Ất Dậu. Và lụt lội không năm nào buông tha. Rồi chiến tranh, chiến tranh…kéo dài không ngừng, dân tộc ta có lúc tưởng chừng như kiệt sức. Trong hoàn cảnh đau thương, nghiệt ngã như thế, nhưng chúng ta vẫn phải mang ơn. Mang ơn đời. Mang ơn người. Chúng ta bị xua đuổi, phải chạy trốn, nên phải mang ơn những người đã cưu mang chúng ta. Bên cạnh những người chết, chúng ta mang ơn Thượng Đế, vì chúng ta còn. Vâng, chúng ta còn, nên vẫn còn hy vọng. Hy vọng một ngày quê hương chúng ta sẽ thoát khỏi cơn mê muội. Hy vọng rồi sẽ có lúc “người nhìn ra người” và biết thương yêu nhau với tất cả tấm lòng…

Trong niềm hy vọng ấy, chúng ta dâng một lời cầu nguyện:

Nơi hiểu biết được tự do phát triển
Nơi đời sống không bị phân chia bởi những thành kiến cổ hủ, hẹp hòi
Nơi tiếng nói xuất phát từ sự thật, sâu xa
Nơi mọi nỗ lực không ngừng vươn tìm tuyệt đối
Nơi suối lý trí trong suốt tuôn chảy không bị lạc vào sa mạc hoang vu của tập quán khô cằn
Trong thiên đường tự do ấy
Thượng Đế hỡi!
Xin hãy cho quê hương chúng tôi thức tỉnh
(Khuyết danh)

Trong cuộc sống bận rộn ở Hoa Kỳ, ai cũng phải tất bật hối hả lao vào cái vòng quay rất nhanh và rất mạnh của đời sống vật chất. Đến nỗi có nhiều khi người ta quên đi đời sống tinh thần.

Cho nên nhân mùa lễ Thanhs Giving, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta hãy dành một khoảng thời gian, ngồi một mình, nhìn lại quãng đời đã qua. Chúng ta đã cho đi và nhận lại những gì? Hãy nói với nhau những lời yêu thương, hãy trao cho nhau những ánh mắt thiện cảm. Hãy dành cho nhau một chút thời gian để cảm nhận được cái sự may mắn nhất mà chúng ta có được trong cuộc sống hôm nay. Nhỏ bé thôi nhưng thật gần gũi, ấm áp.

Và cũng nhớ dành vài phút hít thở không khí trong lành buổi sớm mai, ngắm ánh nắng vàng lấp lánh trên những ngọn cỏ còn ướt đẫm sương mai hay ngắm một nụ hoa vừa hé nở nơi góc vườn hay cùng nghe lại một khúc tình ca trong kỷ niệm.
Thanksgiving xôn xao niềm tin cùng niềm vui mới. Mỗi người chung một niềm vui, một lời chúc tụng…Chúng ta gửi đến nhau trong tình thương yêu chia sẻ, chẳng hạn cho một người thương yêu nhất dù không gian có cách xa nhưng lúc nào cũng nhớ nhau từng phút lại từng giây…

Xin cảm ơn mái ấm gia đình, cảm ơn cha mẹ, cảm ơn tiếng cười trong trẻo, giọng nói líu lo của những đứa con yêu. Cảm ơn những giờ phút vui tươi bằng hữu, cảm ơn những thương yêu săn sóc, an ủi và ngay cả những đồng cảm nhớ nhung của một người dành cho một người. Xin cảm ơn đời, cảm ơn người yêu dấu đã cho ta tình yêu thương ngọt ngào, êm dịu ngát hương…

Cám ơn em dịu dàng đi bên cạnh
Biển ngoài kia xanh quá nói chi nhiều
Núi gần quá, sóng và em gần quá
Anh còn lời để tỏ một tình yêu

Đâu cứ phải là đôi lứa yêu nhau mới cám ơn nhau? Biết ơn là một ngôn ngữ toàn cầu, là điệu nhạc, ý thơ, là sự rung động của tâm hồn. Lời thơ và điệu nhạc biết ơn ấy tuyệt diệu lắm vì nó có thể xuyên qua mọi thứ cản trở của trần thế, bay lên cao tràn ngập khắp không gian.

Chúc các bạn một mùa lễ Thanksgiving đầm ấm hạnh phúc.

Bích Huyền


Luân Đôn cuối thu :TÂM HỒN VÀ VĂN PHONG

                            TÂM HỒN VÀ VĂN PHONG

Trong thập niên cuối của 30 năm dài tính từ ngày tháng năm 1975, người dân Miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị tan tác vì khói lửa chiến tranh, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan, khiến giờ đây đã có 30 triệu người đang phiêu bạt trên các phương trời tự do sống cuộc đời ‘tầm gởi’, và trên 30 triệu đồng bào Đồng Nai bên nầy dòng sông Bến Hải tiếp tục đắm chìm trong cảnh huống điêu linh nghèo khổ, thậm chí mất tất cả đến quyền sống làm người. Thì tại hải ngoại, người ta bỗng thấy xuất hiện một dòng văn học tương đối mới mẻ- dưới dạng tiểu thuyết, hình như chú ý đánh dấu cái khoảng thời gian kỳ quái vừa được nhắc trên của toàn thể 80 triệu sanh linh từ Bắc đến Nam, nơi nước nhà thật sự thấm thía cùng cực về một chế độ chính trị được mệnh danh là ‘Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam’, cai trị từ những lãnh tụ xuất phát vô sản. Tuyệt đại đa số, nếu không phải 3 đời thì ít ra cũng có một hai đời là bần cố nông, lao động ! Bần cố nông mà nay có được bần cố nông lãnh đạo thì có gì lý tưởng cho bằng ? Người dân nghèo rớt mồng tơi, đâu phải sợ cái cảnh một cổ đôi ba tròng bị đàn áp, bốc lột như họ thường nghe CS tuyên truyền ra rả bên tai về ách phong kiến, quan lại, tư sản, địa chủ nữa? Khốn thay, việc đời vẫn có những cảnh lâm ly của nó. Ngày nay, chiến tranh sạch bóng, đất nước ‘thống nhứt’ 30 năm rồi, mà trong thực tế, cái nông nỗi bần cố nông lãnh tụ một hai đời kia lại thẳng tay đè đầu, đè cổ, vơ vét, đọa đày thê thảm đám quần chúng bần cố nông năm- bảy- đời thì thật quả là sự khó tin mà có thật !

Thông thường, bộ môn tiểu thuyết chỉ nhằm biểu lộ trạng thái tâm hồn lãng mạn, tính chất tình ái yêu đương bàng bạc giữa đôi lứa nam nữ, khơi dậy những ngang trái trong đời sống cá nhân, hoặc với biết bao nỗi niềm bất công của cảnh đời lầm than muôn mặt, đặt một xã hội vật chất kiêu sa, đầy dục vọng…

Song, nay lại không phải vậy.

Tất cả không còn là bối cảnh chính yếu của đề tài tiểu thuyết tâm lý khêu gợi thường thấy nữa.

Tất cả- những gì từ dòng suy tư rung động, cảm tính phong phú mênh mông kia ở rừng tác giả thời qua đã hầu như bỏ lại phía sau nhường bước cho một văn phong nghĩa lý, nhằm chủ đích mượn chuyện, dệt chuyện có ‘chừng mực’ để ghi dấu những sự kiện, những biến thiên hãi hùng đã xảy ra nơi quê nhà. Và được phủ nhẹ bằng một chuyện tình, một cuộc luyến ái liên quan đến thời cuộc, đến tình thế thuở chiến tranh.

Dưới nét nhìn ấy, sau khi một loạt đọc tác phẩm đã xuất bản và phổ biến trên văn đàn như ‘Chân Trời Hạnh Phúc, Trong Lâu Đài Kỷ Niệm, Xa Bến Thiên Đường, Một Thoáng Hương Xưa, Những Ngày Xưa Thân Ái, Nỗi Lòng Người Đi’… của nhà văn nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn, chúng tôi xin được dè dặt đề cập đến trạng thái đặc biệt ấy ở tác giả.

Vào một buổi Thu bước sang Đông năm 2004, thời tiết Âu Châu thật là lạnh, nhất là ở phương trời Anh Quốc nầy thường chìm trong sương mù u ám, buồn thật là buồn, tôi nhận được bản thảo ’Vén Màn Sương Ảo Mộng’ mà tác giả có nhã ý dành cho đọc trước với yêu cầu viết lời giới thiệu.

Cây bút Dư Thị Diễm Buồn tuy xuất hiện chậm, nhưng danh tính bà lại khá quen thuộc trong giới văn nghệ sĩ và độc giả vùng trời tự do. Các sách truyện thơ của bà viết ra đều đã do một số nhà văn tên tuổi như Xuân Vũ, Nguyễn Thị Vinh, Hồ Trường An, Doãn Quốc Sỹ, Tạ Quang Khôi, Văn Quang, Thái Văn Kiểm, Nguyễn Thùy, Diên Nghị, Lê Mộng Nguyên, Uyên Thao, Lê Đình Cai… viết lời tựa hoặc biểu lộ sự tán thưởng đậm đà.

Tôi được làm quen, đến với văn chương ở bà muộn màng. Song điều đó không là một trở ngại. Mỗi một người đọc, tất nhiên đều có những nhận định, nhận thức riêng vào lúc đón nhận những thi vị chung. Trong cuộc đời cầm bút viết báo qua chặng đường dài cam go phức tạp thuở còn miền Nam- Có lẽ vì bị chi phối bởi ‘nghiệp chướng’ làm báo, nay xin cứ ngay tình và khiêm nhường thổ lộ : Hãy giữ nguyên áng văn nguyên thủy trao thẳng đến độc giả. Độc giả đọc đến, sẽ lần ra tâm ý người viết, và sẽ đi sâu vào phần duyệt xét điều hay, hoặc chưa mấy hay của văn phong và bố cục cốt truyện. Vậy thiết tưởng cứ phải trang trọng dành sự kết luận cuối cùng cho bạn đọc. Trách nhiệm của bản văn giới thiệu tác phẩm chỉ nên thu hẹp trong chiều hướng suy diễn ấy, chỉ là một đóng góp tế nhị vào cảm quan chung ở thành phần độc giả đã để mắt đến tác phẩm. Trừ phi định đặt ra vấn đề ‘phê bình’ thì lại là mục đích khác, và vẫn chỉ có thể đưa ra vào lúc sách đã được phát hành. Mọi phân tích, chê khen ồn ào sớm, là một xúc phạm đáng trách đến sự thưởng ngoạn của bạn đọc nói chung!

Xưa nay, trong thực tế, danh vị ‘độc giả’, được coi trọng như những nhà trọng tài văn chương cao quý. Bạn độc đứng trên tất cả! Vì, chỉ thiếu sự quan tâm khách quan nghiêm túc của độc giả, chắc chắn khó thể có những nhà văn, những tác giả tài danh đúng nghĩa ở địa hạt cầm bút.

Thiên tiểu thuyết ‘Vén Màn Sương Ảo Mộng’ đang chuẫn bị ra mắt bạn đọc. Xin mạn phép nêu ra- nó là sự nối tiếp một số tác phẩm đã ra đời trước. Trong nội dung, quê hương nước Việt vẫn là bối cảnh hàng đầu giữa cuộc chiến hai miền Nam Bắc Quốc Gia- Cộng Sản vào thời điểm sôi động nhất. Và, được lồng vào một chuyện tình Nam Nữ Thể Hà- Đông Nhựt. Qua nhiều tình tiết đặt vào từng vai nhân vật trong truyện, người ta dễ dàng đón nhận tác giả Dư Thị Diễm Buồn ấp ủ một tâm tình lãng mạn phong phú như phần đông những người thiếu nữ cùng trang lứa thuở còn tuổi nữ sinh- sinh viên đầy thơ mộng. Có điều bà sớm có khiếu văn chương. Chất thơ văn ấy giúp cho bà trẻ mãi. Trẻ mãi nơi tâm hồn. Đọc văn bà, người ta thường bắt gặp những ý nghĩ hồn nhiên, duyên dáng, tươi mát, trẻ trung. Cứ như một thiếu phụ không bao giờ chịu ảnh hưởng của tuổi đời pha màu thời gian. Bà viết, phải viết- chỉ vì say men văn chương. Giản dị thế thôi. Nó là một lối thoát cho một tâm tình sâu kín. Bà quan sát, suy tư nhiều hơn là hòa mình vào ngoại cảnh. Bà sống bằng nội tâm, tự biết định hướng, biết chỉ huy, xử linh những rung động từ nơi con tim cho thích đáng. Thành thử nhà văn, nhà thơ Dư Thị Diễm Buồn vẫn mới mà vẫn tiềm tàng nét đoan trang xưa cũ, thường thấy dưới những mái gia đình tồn cổ, nho phong- nơi các thị trấn êm đềm bên dòng Đồng Nai thân yêu ở miền Nam. Nội một điểm nầy, đáng để cho những độc giả khả kính trong chúng ta tìm đến nhà văn, đọc những gì còn gọi là đáng đọc.

Lại nếu nhìn vào các tiêu đề đặt cho từng tác phẩm cũng như chỉ dựa vào những tên gọi được đặt cho từng nam nữ trong truyện, người ta có thể lầm nghĩ nhà văn tác giả đã chịu phần nào ảnh hương của cây bút tiểu thuyết gia Quỳnh Dao nổi tiếng. Nhưng Diễm Buồn vẫn là Diễm Buồn của riêng bà. Nếu có giống chăng- chỉ ở mạch văn thoát ra dễ dàng, luân lưu như không bao giờ cạn. Nhà Văn Diễm Buồn có cái khả năng, văn tài triền miên, thanh thoát không bến bờ.

Đoạn kết của tập truyện nầy- ‘Vén Màn Sương Ảo Mộng’ đã cho thấy rõ điều đó. Nó hứa hẹn nhà văn sẽ còn đặt bút tiến xa tắp vào chân trời tiểu thuyết phong phú bao la…

Trong cảm nghĩ ấy, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu tác phẩm và tác giả Dư Thị Diễm Buồn đến bạn đọc bốn phương.



MẠC KINH

Luân Đôn cuối thu 2004

Tuesday, 26 November 2013

Chuyện bình thường

chuyenbinhthuong1
Tôi có một ông bạn hiện ở Sài Gòn, vùng Tân Định. Chúng tôi thường liên lạc với nhau bằng email, dĩ nhiên là những trao đổi đã được ” cân nhắc ” kỹ để tránh ” đụng chạm phiền phức “.
Gần đây, tôi gởi ông ta tấm hình nầy (bên trái), lượm trên internet :
Và hỏi ổng nghĩ sao ? Ổng trả lời :
- Ồ ! …Khoá xe vào chân để yên tâm ngủ trưa cho … ngon lành là chuyện bình thường ở xứ nầy, đâu có gì lạ ! Bồ coi, như tôi bây giờ, trên xe đạp lúc nào cũng có ba ( 3 ) cái khoá : một cái để khoá bánh trước vô sườn xe, một cái để khoá bánh sau vô sườn xe, còn cái thứ ba là để khoá sườn xe vô cột điện. Vậy là an toàn ! Không làm vậy, nghĩa là chỉ khoá một bánh xe vô cột điện là chúng nó tháo lấy bánh xe còn lại, có khi lấy luôn cái sườn xe nữa ! Chuyện bình thường mà bồ ! Có gan, bồ về đây chơi sẽ thấy toàn là chuyện bình thường hết !
Ở cuối email, ổng viết một câu làm tôi thật xúc động :
- Chỉ có bọn nầy, vì sống quen trong cái ” môi trường bình thường ” đó, là có thể đã trở thành … bất bình thường thôi ! Mình biến thành ” bất bình thường ” mà mình không biết ! Đó, cũng là ” chuyện bình thường ” , bồ à !
Đọc đến đó, tôi nghe thương ông bạn của tôi vô cùng : ổng đã nén cái đau của ổng để khỏi thốt ra một lời than cho thân phận !
Thời gian sau, ổng gởi tôi một tấm hình trong email ổng viết :
chuyenbinhthuong2- Tấm hình nầy chụp ở Ấn Độ . Người chủ xe đạp cởi đôi dép da để vào chùa lạy Phật , sợ mất dép nên … khoá đôi dép vào bánh xe đạp ! Đó là chuyện bình thường ở Ấn Độ. Nếu là ở xứ mình, làm như vậy là ” bất bình thường “, bởi vì chuyện bình thường ở đây là khi thằng cha đó lạy Phật xong bước ra sẽ không còn thấy xe đạp và đôi dép da nữa !
Rồi ổng kết : ” Bồ thấy không ? Chuyện bình thường ở mỗi xứ mỗi khác ! Ở xứ mình cái khác đó rất … độc đáo cho nên nhiều khách du lịch, sau khi biết Việt Nam, đã nói Việt Nam không giống ai hết !
Đây là hình ổng gởi :
* * *
Ông bạn tôi ” khơi ” chuyện bình thường làm tôi nhớ lại những hính ảnh lâu nay tôi thấy trên internet mà vẫn tự hỏi : ” Sao có thể như vậy được ? “. Thì ra ở quê hương tôi ” Nó đã như vậy được ” nên mới gọi là ” Chuyện bình thường ” !
chuyenbinhthuong3chuyenbinhuong4
Đây : hãy coi Sài Gòn cứ sau cơn mưa ” hơi lớn hơi lâu ” là ngập lụt . Mà loại ” mưa hơi lớn hơi lâu ” tới mùa là … có mặt ” liền tù tỳ “, nghĩa là thành phố cứ nay ngập mai lụt dài dài . Vậy mà chẳng thấy dân chúng đi biểu tình đòi hỏi chánh quyền phải ” khai thông ” cống rãnh ! Rối thì cứ tự nhiên lội nước đi sanh hoạt, đem lưới ra lưới cá giữa lòng đường y như ngoài sông rạch, còn trên đầu vẫn có biểu ngữ ” Có nước sạch là có sức khoẻ “, đám cưới vẫn rước dâu bằng xe ba bánh, có ướt chút chút cũng không sao – ngày lành tháng tốt mà ! – Riết rồi trở thành ” Chuyện bình thường “, chẳng có gì phải bận tâm hết !
Không biết chừng nào người dân xứ tôi làm một chuyện … động Trời – gọi là “ Chuyện Bất Bình Thường “ – nghĩa là cùng đứng lên đòi hỏi nhà cầm quyền phải làm thế nầy, phải làm thế nọ … để cuộc sống của người dân được ” nâng cấp ” như ở các nước … bình thường khác ?
Hỏi , tức là … không trả lời ! Than ôi ! …
tieutu_sign
http://baovecovang2012.wordpress.com/2013/04/16/chuyen-binh-thuong-tieu-tu/

Tù Z30A : Xin đốt nén hương lòng cho Tù nhân Chính trị Bùi Đăng Thủy

Xin đốt nén hương lòng cho Tù nhân Chính trị Bùi Đăng Thủy vừa qua đời ở trại giam Xuân Lộc

 Hẳn nhiều người vẫn còn nhớ tù nhân chính trị Nguyễn Văn Trại qua đời vào ngày 11 tháng 7 năm 2011 tại nhà tù Z30A Xuân Lộc Đồng Nai, vừa khi bệnh viện Đa Khoa Đồng Nai cho xuất viện vào 5 giờ chiều ngày 10 tháng 07 năm 2011 do các thầy thuốc từ chối chữa trị, vì bệnh nan y không thể chữa trị được. Trong những ngày cuối cùng của cuộc đời, người tù Nguyễn Văn Trại đã bày tỏ nguyện vọng được về nhà để chờ chết bên cạnh gia đình, vợ con để được gia đình lo hậu sự... nhưng nguyện vọng cuối cùng này cũng bị từ chối. Trước cơn hấp hối, Tù nhân Lương tâm Nguyễn Văn Trại bị Công An trại giam đưa trở lại nhà Tù Z30A, Xuân Lộc - Đồng Nai để ông phải chết phải chôn tại đó, trong một nhà tù. Ông đã qua đời trong oan nghiệt vào lúc 10 giờ 30 sáng Thứ Hai ngày 11/07/2011 tại nhà giam. Gia đình thân nhân xin được đưa thi hài ông về an táng tại quê nhà, nhưng Ban Giám Thị Trại từ chối, với lý do “Ông Nguyễn Văn Trại là một tù nhân chính trị, chứ không phải là người”.

Rồi, chỉ hai tháng sau đó, lúc 10 giờ 20 phút sáng Thứ Hai, 12 tháng 9 năm 2011, một tù nhân chính trị khác, cũng là cựu sỹ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Trung Úy Trương Văn Sương, qua đời tại trại giam Ba Sao, Nam Hà khi bị đưa trở lại trại giam vào ngày 19 tháng 8 năm 2011, tức chưa tròn 1 tháng trước đó, sau thời gian cho về địa phương chữa bệnh tim một năm trước, vào ngày 12 tháng 7 năm 2010.

Hôm Chủ Nhật, 24 tháng 11 năm 2013, một tù nhân chính trị khác nữa, cũng là một cựu sỹ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Úy Không Quân Bùi Đăng Thủy cũng vừa qua đời tại trại giam Xuân Lộc Đồng Nai sau 17 năm bị giam cầm tại đây, và cũng là 17 năm tù nhân chính trị Bùi Đăng Thủy mang căn bệnh lao phổi mà không hề được chữa trị.

Là một đảng viên đảng Nhân Dân Hành Động thuộc xứ bộ Chùa Tháp đấu tranh đòi hỏi tự do, dân chủ và nhân quyền cho nhân dân Việt Nam, ông Bùi Đăng Thủy bị bắt cùng các đảng viên Giáp Bảo An, Nguyễn Văn Sỹ, Lê Văn Tính, Nguyễn Anh Hảo... trong đó ông Lê Văn Tính Cố Vấn Ban Trị Sự GHPGHH, bị kết án án 20 năm, Nguyễn Tuấn Nam bị kết án 19 năm và Bùi Đăng Thủy bị kết án 18 năm.

Như vậy ông Nguyễn Văn Trại qua đời khi chỉ còn 5 tháng nữa là được mãn hạn tù. Ông Bùi Đăng Thủy qua đời khi chỉ còn 1 năm nữa là mãn án tù... Liệu rằng những tù nhân chính trị lão thành Lê Văn Tính, Nguyễn Tuấn Nam có được chết trong tự do hay phải chịu chung số phận với các chí hữu Nguyễn Văn Trại, Bùi Đăng Thủy của họ là vì nền tự do, dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam mà phải sống trong tù và chết trong tù?

Được biết, nếu cúi đầu nhận tội và xin giảm án thì những tù nhân chính trị lão thành cũng có thể có cơ hội chết trong tự do, ở quê nhà để được lo hậu sự với những nghi thức tang tế theo phong tục tập quán của dân tộc, của địa phương - Nhưng yêu nước đâu phải là tội lỗi - Đấu tranh để giành lại quyền tự do, dân chủ và quyền làm người cho đồng bào Việt Nam thì đâu phải là tội lỗi. Chính vì vậy mà các tù nhân chính trị lão thành trong các lao tù của cộng sản từ trước đến nay vẫn hiên ngang, ngẩng cao đầu trước bè lũ cai ngục, trước bạo quyền cộng sản mỗi lần chúng thuyết phục họ nhận tội và xin được đảng và nhà nước cộng sản khoan hồng, thì họ vẫn khẳng khái tuyên bố rằng bản thân họ chưa bao giờ có tội lỗi gì với nhân dân, với đất nước mà phải nhận hay phải xin được khoan hồng, mà chính đảng cộng sản và các lãnh tụ của cộng sản như Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẫn, Phạm Văn Đồng, Trường Chính, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng... mới là những kẻ có tội với nhân dân, với đất nước - là phải cúi đầu nhận tội trước toàn dân để xin được toàn dân khoan hồng cho tội ác chống lại loài người, chống lại dân tộc khi du nhập chủ nghĩa cộng sản ngoại lai về để giết hại đồng bào và tàn phá đất nước - Dẫu biết rằng cái giá của lòng yêu nước thương nòi và chí khí hiên ngang trước kẻ thù có thể là phải sống lặng lẽ trong lao tù và chết âm thầm trong ngục thất, nhưng chắc chắn những trang sử vàng của Việt tộc sẽ ngàn đời lưu danh họ và tổ quốc Việt Nam sẽ ngàn đời ghi ơn họ, để sự hy sinh máu xương của họ sẽ không phải là chuyện phí hoài.

Xin đốt một nén hương lòng và nghiêng mình trước anh linh của tù nhân chính trị Bùi Đăng Thủy và các anh linh Đất Việt đã vì nền tự do dân chủ và nhân quyền cho quê hương Việt Nam mà đã bỏ mình trong các lao tù của cộng sản.

Ngày 25 tháng 11 năm 2013


Nguyễn Thu Trâm, 8406

Friday, 22 November 2013

MẢ MẸ NÓ!



MẢ MẸ NÓ!
Cuộc đời đẫm nước mắt của người phụ nữ ‘có mả theo trai’
T
hời Việt Nam Cộng Hòa hầu như các đơn vị quân đội đều có khu gia binh.
Tại một khu gia binh nọ, có khoảng hai mươi dãy nhà dài, được làm bằng khung tiền chế, vách ván, mái tôn. Mỗi dãy có mười căn nhà cấp phát cho mười gia đình.
Cách thiết kế trong mỗi căn nhà dành cho một đơn vị gia đình như sau. Phòng trước có thể dùng làm phòng khách, căn phòng phía sau rộng hơn được dùng làm phòng ngủ. Sau phòng ngủ là một khoảng trống được dùng làm nơi nấu nướng, ăn uống, tắm giặt và cầu tiêu. Đối với một gia đình binh sĩ, nay đây mai đó, thì nơi tạm trú như vậy được gọi là tương đối khang trang đầy đủ.
Sau khi Việt cộng chiếm trọn miền Nam, khu gia binh này bị bỏ trống một thời gian và trở nên tiêu điều xơ xác, vì bị dân cư ngụ chung quanh xâm nhập, gỡ đi một số ván ép và tôn. Thấy tài sản bị tẩu tán, bọn cầm quyền Cộng sản địa phương đành đem cấp phát cho bộ đội phục viên và cán bộ có gia đình, đang phục vụ trong các cơ quan sở tại mỗi người một căn.
Khổ một điều: ngày xưa mỗi căn được ngăn cách nhau bằng một bức vách hai lần ván ép, nên những tiếng động giữa căn này và căn kia hầu như không nghe thấy, hoặc nếu nghe được thì cũng rất nhỏ, còn bây giờ thì khác. Khi cấp phát, bọn cầm quyền Cộn sản địa phương chỉ biết cấp phát theo đơn, mà không có một chút quan tâm đến việc sửa chữa phòng ốc trước khi cấp phát. Chúng nại lý do rằng vì "hoàn cảnh khó khăn của đất nước" nên người được cấp phát chỗ ăn chỗ ở phải tự sửa chữa lấy.
Vì việc sửa chữa phòng ốc do khả năng tự túc nên đã tạo ra một cảnh nhà bị chấp vá, nghèo nàn. Có những bức vách ngăn giữa căn này với căn kia còn nguyên vẹn hai lớp ván ép, thường thường hai gia đình có chung bức vách ấy thỏa thuận với nhau để cạy bớt đi một lớp để dùng vào việc khác hoặc bán đi để kiếm tiền bỏ túi. Lại có những bức vách ván ép bị gỡ đi một phần hoặc tháo gỡ trống hoàn toàn, những gia đình có chung bức vách như vậy muốn khỏi bị đụng chạm, họ phải tìm cách che kín lại để phân định ranh giới. Vì khả năng tự túc tu bổ có giới hạn, nên vật liệu sửa chữa thường là những miếng ván vụn chắp vá lại với nhau, hoặc vài tấm tôn, thiếc rỉ sét hay những mảnh giấy cạc-tông từ những vỏ thùng đựng đồ.
Ở dãy thứ hai, căn đầu tiên thuận tiện nhất, người ta dành cho gia đình lão thiếu tá phục viên và căn thứ hai, người ta cấp cho vợ chồng gã phó trưởng đồn công an phường. Vì là những gia đình có nhiều công lao với "cách mạng", nên bức vách ngăn cách giữa hai gia đình tương đối còn khá. Lớp ván ép bên lão thiếu tá phục viên còn nguyên vẹn còn lớp phía bên kia đã bị cạy đi mất một miếng.
Gia đình lão thiếu tá dọn tới trước, hai vợ chồng lão quan sát căn bên cạnh, thấy bức vách ngăn còn một lớp nữa. Thế là chẳng nói chẳng rằng, vợ chồng lão tức tốc gỡ hết lớp ván bên mình và chở đi bán. Khi gỡ gần hết lớp ván phía bên mình, lão nhận thấy có một điều bất tiện, đó là bức vách ngăn bên kia bị trống một chỗ. Lúc đầu, lão định chừa một miếng để đem đóng vào chỗ trống ấy cho kín, nhưng vợ lão bảo: Đằng nào thì cái gia đình sẽ nhận căn bên đó cũng phải sửa chữa. Vậy chi bằng vợ chồng lão cứ kiếm tạm ít thùng giấy cạc-tông đóng kín lại là đủ. Và lão đã nghe theo lời vợ.
Ba tuần lễ sau, vợ chồng gã phó đồn công an dọn đến. Vợ chồng gã còn trẻ. Gã lo kê giường chiếu và sắp xếp chỗ ăn, chỗ nằm và hình như không chú ý tới chỗ vách vá bằng cạc-tông. Có lẽ gã cho rằng sự ngăn cách giữa hai bên gia đình như thế là đủ kín đáo, mặc dù căn bên này có thể nghe rõ mồn một những âm thanh nhỏ nhất của căn bên kia.
Ngay từ những ngày đầu, cũng như phần đông bọn cán bộ miền Bắc, vợ chồng lão thiếu tá phục viên, có ý coi thường vợ chồng gã phó đồn trưởng công an phường, khi biết rõ họ là cán bộ người miến Nam. Lão thường chê bọn cán bộ gốc miền Nam vừa dốt về chính trị, lại chẳng có công cán gì! Sở dĩ chế độ phải dùng tạm là để nhân dân miền Nam khỏi bất mãn. Chứ theo ý riêng lão, lão mà có quyền thì lão sẽ đuổi hết về nhà coi gà cho vợ. Lão tự cao tự đại nên không thèm hỏi thăm người hàng xóm mới lấy một câu. Trong khi đó lão lại bực tức khi vợ chồng gã phó đồn công an gặp vợ chồng lão mà cứ phớt lờ đi chẳng thèm chào hỏi.
Sự coi thường mang đầy tính chất xung khắc ấy, bắt nguồn từ thành kiến Nam-Bắc, lão đã trên năm mươi, còn vợ lão xấp xỉ bốn mươi. Lão đã ở bộ đội nhiều năm, mang quân hàm thiếu tá và từng leo lên đến chức phó chính ủy trung đoàn nhờ thành tích phục vụ Đảng tận tụy. Vợ lão cũng là một bộ đội có nhiều thành tích và đã mang quân hàm thượng sĩ quân đội nhân dân. Cả hai đều đã phục viên. Ông chồng bị phục viên bất đắc dĩ. Theo lý do của Bộ Quốc Phòng cho biết, lão bị phục viên vì thiếu sức khỏe, vì tuổi lớn, nhưng vợ lão nhận thấy lý do chồng mụ bị Đảng thải hồi khỏi quân đội, chỉ vì chồng mụ kém khả năng, thiếu vây cánh, mặc dù có tuổi đảng cao và thành tích phục vụ tích cực. Thấy Đảng và Nhà nước chẳng đếm xỉa gì đến công lao và còn bạc đãi với chồng như vậy nên mụ bất mãn, xin phục viên theo.
Còn người hàng xóm kế bên của lão là cặp vợ chồng trẻ, có cái tên khá anh chị: Ba Râu. Lão biết vợ chồng Ba Râu là người miền Nam qua giọng nói của họ. Chẳng hiểu thành tích cách mạng của Ba Râu tới đâu mà gã lại được ở trong ngành công an và làm tới chức đồn phó. Sau một thời gian tìm hiểu, vợ chồng lão biết rõ ngọn ngành, lai lịch của Ba Râu như sau:
Hồi xưa, cha của Ba Râu đi tập kết. Má của Ba Râu là người mẹ tốt, bà không lấy chồng mà ở vậy nuôi con. Bà trung thành với chồng nhưng bất mãn với chồng về điểm chồng bà thản nhiên đi tập kết, mà chẳng đếm xỉa gì đến vợ con. Cuộc đời bà từ đó trỏ thành lỡ dở. Bà hận lòng vì lỡ yêu và lỡ có con với chồng. Tuy nhiên với bản chất người phụ nữ Việt Nam, bà cũng không nỡ phản bội chồng và phụ rẫy con. Bà tần tảo nuôi con, bằng tất cả sự nhẫn nhục đảm đang hiếm có.
Ba Râu là đứa bé tính tình hung hãn, bạc bẽo. Mới mười bảy tuổi, Ba Râu đã cầm đầu một đám du đảng ở vùng Bà Chiểu. Bà mẹ khuyên can nhưng gã để ngoài tai. Một bữa, có người từ xa tới, cho Ba Râu biết rõ lai lịch của cha hắn. Thế là ngay buổi chiều đó, gã cãi lộn với mẹ. Chẳng biết dồn sự bực tức vào đâu, hắn liền đâm chết một chàng thanh niên trong xóm, khi gã thấy gai mắt để thỏa cơn giận. Bị truy nã gắt gao về tội giết người, Ba Râu trốn chui, trốn nhủi. Chính thời gian này, người từ phương xa tới, đã kết nạp hắn để công tác nội thành, dưới dạng một tên ma cô canh sòng bài và gác cửa mấy động chơi bời hạng sang.
Sau ngày Việt cộng chiếm Sài Gòn được mấy hôm, Ba Râu trở về xóm, lần trở về này của Ba Râu không phải lén lút, lẩn tránh như một tên tội phạm có tiền án giết người, hay một tên ma cô, chuyên sống bám vào bọn gái giang hồ, nhưng hắn trở về với tiền hô, hậu ủng của những tên cán bộ đàn em. Hắn về xóm với một tâm hồn "lương thiện đầy đạo đức cách mạng"; bởi chẳng ai còn dám nghĩ hắn là một tên đã từng giết người; mà nếu có người nào đó, còn dám nghĩ Ba Râu là một tên bất lương, thì ý nghĩ đó phải được chôn chặt trong lòng và không bao giờ được hé lộ ra ngoài; bây giờ với chiếc nón cối trên đầu, với bộ đồ vàng, với đôi dép râu, với chiếc xà cột và "chó lửa"(tiếng lóng để chỉ súng ngắn) đeo kè kè ngang hông. Đó là những món đồ chế độ trang sức, từ đầu đến chân, để Ba Râu trở thành người lương thiện và có đạo đức cách mạng.
Người trong xóm cảm thấy rằng, giá phải nuốt cục cứt rồi khen ngon, có lẽ còn dễ hơn phải nhìn nhận Ba Râu là con người lương thiện, một chiến sĩ cách mạng yêu nước.
Khi Ba Râu về đến đầu xóm, lũ con nít và những người có tính tò mò, liền đổ xô ra đường đứng nhìn Ba Râu tận mắt. Họ nhìn Ba Râu với con mắt họ vẫn nhìn con dã nhân hay cọp, beo trong sở thú. Nhưng nếu có một phóng viên của tờ nhật báo Nhân Dân, Quân đội Nhân dân hay Saì Gòn Giải phóng.v.v...thấy cảnh đón Ba Râu trong xóm, chắc họ sẽ tả rằng: "Đây là cảnh bà con trong xóm, nô nức rủ nhau ra đón một chiến sĩ cách mạng, một người "con yêu tổ quốc" trở về.v.v...
Ngược lại với một số người trong xóm, bà mẹ của Ba Râu không ra ngoài nhà để đón hắn. Khi bước vào nhà, Ba Râu thấy mái tóc của mẹ hắn đã bạc phơ. Mẹ hắn già đi quá nhiều. Bà ngồi xoay mặt trong vách, không thèm tiếp chuyện với con, mặc dù Ba Râu năn nỉ, cuối cùng bà quát lênrong đau khổ cùng cực:
- Mày hãy đi ra khỏi nhà của má... cha con mày đã làm khổ má...cho đến giờ phút này má phải nói thật những điều má chôn kín trong lòng từ hơn hai mươi năm nay...Ba mày cũng đánh chết người rồi bỏ đi làm "cách mạng"...Thời gian theo VC, ba mày mê con mẹ trong bưng, và rủ nhau đi tập kết ra Bắc, mà không màng đến chuyện vợ con còn ở lại...dễ thường bây giờ mày cũng có mấy đứa em khác mẹ rồi nữa đấy! Rồi đến mày...má mong nuôi con nên người...Ai dè! Mày cũng thành người "cách mạng" giống cha, cũng giết người, làm ma cô và theo "cách mạng"...Vậy ra, cái con đường cách mạng của cha con mày là thế ư? Giết người? Ma cô? Đĩ điếm? Mà nó bất nhân như thế thật! Ngay cả cái ông Trường Chinh, tổ sư của hai cha con mày cũng còn đem cả cha mình ra đấu tố kia mà! Giả thử cha con mày là người ngu dốt, thất học mà theo con đường bất nhân thì má không hận. Đàng này cha con mày có chút ít học vấn kia mà. Thôi! Mày đi khuất mắt cho má bớt khổ...Ba Râu ơi!...
Kể từ hôm đó, hắn hiếm khi ghé tạt qua nhà, bởi hắn không thể chịu đựng được quan niệm đạo đức của má mình. Hắn muốn má hắn phải có quan niệm đạo đức mới mẻ, cách mạng giống như ông Trường Chinh. Đừng thấy ông Trường Chinh đấu tố cha mà kết tội ông ấy bất nhân. Hắn lý luận rằng: "Bố ông Trường Chinh là địa chủ, là thành phần giai cấp bóc lột và có nợ máu với nhân dân.Việc đấu tố cha của đồng chí ấy là việc làm rất lô-gíc, sao lại gọi là bất nhân? Còn má, má không chấp nhận con đường của chồng, của con và lại xua đuổi con đi, không nhìn sau bao năm xa cách. Ta không đem bả ra đấu tố giống đồng chí lãnh tụ, hoặc cãi vã với bả là quá đẹp rồi. Thôi! Cách tốt nhất; ta cứ coi như bả đã chết."
Gã sống và làm việc trong ngành công an ngay tại Sài Gòn. Cấp trên cử hắn xuống làm phó trưởng đồn công an nhân dân phường Xóm Củi
Những ngày hắn làm việc ở đây là chuỗi ngày ăn nhậu, đấm đá, hét ra lửa. Dân buôn lậu và những gia đình có dính líu với chế độ cũ, là nguồn cung cấp tiền hối lộ để hắn tiêu xài. Những người đi phất phơ làm gai mắt hắn là bị hắn túm cổ vào đồn, mặc sức nổi máu anh chị.
Tuy có tiền rủng rỉnh và bạo lực nắm trong tay, nhưng hắn vẫn cảm thấy cuộc đời trống trải, buồn rầu. Hắn còn mẹ nhưng tự hắn coi như đã mất. Hắn đã gặp người cha tập kết trở về, nhưng ông ta đã có một lũ con nói nói rặt giọng Bắc. Hắn chán luôn cả ông già, vì ổng quá ngoan ngoãn với bà vợ bé. Những lần hắn đến thăm cha, thường mang nhiều tính cách xã giao hơn là tình thâm gia đình, ấy chỉ còn cách duy nhất là lấy vợ. Vợ hắn là Chín Lài, hoa "khôi" phường Xóm Củi.
Chín Lài có một vẻ đẹp lồ lộ, ít học, mê cải lương, đồng thời cũng rất mê tiền. Trong xóm có vài cậu con nhà đàng hoàng, có học, đẹp trai để ý nhưng Chín Lài đều chê. Hàng xóm thường khuyên khéo Chín Lài rằng: "Nó là đứa tốt phúc nhất trong xóm, vì được cậu này cậu kia vừa có học, vừa đẹp trai để ý". Nhưng Chín Lài thường bỉu môi và cho rằng: "Có học, đẹp trai; hơn người thường ở chỗ bên trong sơn son thếp vàng chắc?" Theo Chín Lài, có học và đẹp trai mà không có oai quyền và nhiều tiền cũng chỉ là thứ vứt đi.
Thấy Ba Râu muốn túm cổ ai bắt giam cũng được, lại thấy cách ăn xài vung vít, không tiếc tiền của hắn, Chín Lài đâm mê mẩn ngưỡng mộ và ngầm quyến rũ Ba Râu. Chỉ cần một lần làm bộ sơ ý, không cài hai nút ngực áo, Chín Lài đã khuất phục được ngay Ba Râu, cuối cùng Ba Râu phải khẩn khoản, nài nỉ xin Chín Lài làm vợ. Hai người đã lấy nhau. Ba Râu đã giống cha về đường sự nghiệp, giờ lại giống chặp hai của cha về đường vợ con. Nghĩa là Ba Râu cưới Chín Lài về để có người cai quản, sai khiến hắn. Còn hắn là con rối, chỉ biết làm theo những gì Chín Lài muốn.
Khi biết rõ lai lịch và quá trình cách mạng của Ba Râu, vợ chồng lão thiếu tá bộ đội phục viên càng không có cảm tình. Trước mắt họ, vợ chồng Ba Râu không phải là đồng chí của họ, không muốn coi gia đình Ba Râu là gia đình cách mạng. Trong thâm tâm họ, họ coi giá trị vợ chồng Ba Râu chỉ cao hơn những con điếm và những thằng điếm chảy một chút. Họ không dám hạ gía trị vợ chồng Ba Râu xuống thấp hơn, bởi vợ chồng Ba Râu được chế độ liệt vào những gia đình có công lao với cách mạng, cũng được xếp nơi cư ngụ ngang hàng với họ và cũng được gọi là cán bộ như họ.
Mặc cho vợ chồng lão bộ đội phục viên có coi khinh, có bực bội khó chịu trong lòng, nhưng vợ chồng Ba Râu đã dọn tới đây để ở căn bên cạnh và là hàng xóm của lão, vợ chồng lão phải thấy sự ngang hàng của Ba Râu, cả về giá trị lẩn đẳng cấp, lão thừa biết sự ngang hàng của Ba Râu chỉ là thứ ngang hàng "chó nhảy bàn độc" nhưng lão không đủ quyền lực để phủ nhận sự ngang hàng đó. Sự ngang hàng đó là một thực tế hiển nhiên của chế độ, bởi Ba Râu là người của Đảng và "cách mạng" đã đào tạo, đã đẻ ra những "chiến sĩ yêu nước" cỡ như Ba Râu. Lão bộ đội phục viên cảm thấy buồn rầu, vì trong hàng ngũ cán bộ Đảng lại đem những người như Ba Râu trộn vào và lão phải đứng chung một hàng với con người tồi tệ như Ba Râu.
Riêng mụ Dậu vợ lão phục viên thì khác. Mụ có vẻ thực tế hơn. Mụ khó chịu vì ghen tức khi thấy Ba Râu có một quá khứ không tốt lành, công lao không nhiều như vợ chồng mụ nhưng được Đảng ưu đãi cho giữ chỗ thơm, trong một ngành có nhiều đặc quyền, đặc lợi. Tuy ghen tức, nhưng mụ cũng thừa biết, Đảng vốn bất công trong cách xử dụng người như vậy. Nhìn vào khoảng vách trống đã được ông bộ đội phục viên vá kín bằng thùng giấy cạc-tông, mụ than lên có vẻ hơi nuối tiếc: "Mình cũng còn hơi ngu. Phải biết trước cái thằng bên cạnh của mình là thứ người như thế này, mình bảo chồng cạy thêm vách bên phía nó vài miếng nữa cho bỏ ghét. Làm như thế mình vừa có tiền mà thằng cớm đó phải cất công sửa chữa, cho đáng cái đời nhà nó."
Tuy có vẻ tiếc, nhưng mụ cũng thấy thỏa mãn, vì vợ chồng mụ dọn tới trước gia đình thằng công an có mấy tuần, mụ đã nhanh tay gỡ trọn vẹn số vách ván phía bên nhà mụ, và đã kiếm được một số tiền từ những miếng ván ấy. Mu lẩm nhẩm trong đầu: "Thôi! Cứ kệ thây thằng cớm kia. Nó là cái giống gì mình cứ mặc nó, phần mình phải lo mà kiếm chác. Hơi sức đâu mà cứ phải bận tâm về thằng cớm ấy. Vả lại mình có đạo đức hơn gì thằng cớm ấy đâu! Ngay cả cấp lãnh tụ Đảng, quá trình của họ cũng một duộc, na ná quá trình thằng công an bên cạnh kia mà. Vậy mình cứ mặc thây thiên hạ là cách tốt nhất."
Từ ngày gia đình Ba Râu dọn về sống căn bên cạnh gia đình lão bộ đội phục viên cũng đã khá lâu rồi, nhưng chưa bao giờ hai gia đình có sự qua lại, ngay cả những giao tế tối thiểu là sự chào hỏi.
Thường ngày cũng giống như những gia đình khác trong chung cư công nhân viên này, hai vợ chồng lão bộ đội phục viên cũng đi làm vào những giờ hành chánh. Họ làm cùng một cơ quan. Lão bộ đội phục viên được thí cho chức phó trưởng phòng, một chức ngồi chơi xơi nước và chẳng có quyền hành gì. Đó là cái chức của Đảng dành cho lão thiếu tá bộ đội phục viên để gọi là chế độ ưu đãi cho người có công với cách mạng. Còn bà vợ, mụ Dậu, trước kia đã từng là thượng sĩ, chị nuôi của một đơn vị quân y, nay mụ được làm trưởng ban đời sống, lo việc ăn uống, tiếp liệu cho cơ quan.
Nhờ có chút chức vụ, cứ tối tối hai vợ chồng, sau khi cơm nước xong, lại rì rầm tính tiền. Họ tính những món tiền cóp nhặt được từ những món hàng ăn chặn, hoặc thuổng được từ trong cơ quan và đem bán ra ngoài. Họ bòn nhặt, tích cóp những cái có thể lấy hoặc ăn chặn được, và cứ thế, đêm đêm, đếm đi đếm lại trong sự cẩn trọng và bí mật. Sự vắng nhà của họ lúc ban ngày cũng như sự có mặt của họ vào lúc ban đêm đều giống nhau. Giống nhau về sự im lặng. Im lặng đến độ tưởng như căn nhà bị bỏ trống.
Trái lại, căn bên cạnh của thằng Ba Râu lúc nào cũng ồn ào và đầy tiếng động.
Vào lúc ban ngày, chung cư trở nên vắng vẻ, vì phần lớn, họ là công nhân viên nhà nước, phải đi làm trong giờ hành chánh. Ngay cả thằng "cớm cách mệnh" chồng của ả Lài cũng phải đi làm việc, còn lại một mình ở nhà, Chín Lài thường nằm khềnh trên võng và bắt đầu hát nghêu ngao những bản cải lương. Chị ta phục lăn giọng ca Út Bạch Lan và Ngọc Giàu. Chị ta cũng thích sắc đẹp của Thanh Nga. Thấy mình có chút nhan sắc, Chín Lài mơ một ngày đẹp trời nào đó, mình bỗng dưng nổi tiếng. Sẵn có sắc đẹp không thua gì Thanh Nga, chỉ cần có giọng ca hay như Út Bạch Lan hoặc Ngọc Giàu là được. Vì vậy khi ở nhà một mình, Chín Lài cố nghêu ngao và rên ư ử cho thật giống Út Bạch Lan và Ngọc Giàu.
Nằm ca chán, Chín Lài nhổm dậy. Trong bộ đồ thật mỏng, cô ả nhỏng nhảnh đi ra mấy hàng ổi, hàng cóc mua về một mớ ngồi ăn nhóp nhép. Hoặc chán hơn nữa, Chín Lài rủ mấy con bạn về phòng nói chuyện tục tĩu cười giỡn ồn ào.
Đến buổi tối, trong lúc hai phòng bên cạnh lặng lẽ bao nhiêu thì phòng của cặp vợ chồng Ba Râu ồn ào bấy nhiêu. Ngoài những tiếng léo nhéo vòi tiền tiêu ngày mai, Chín Lài còn mách nước cho chồng những thằng nào có tì vết với chế độ và cuối cùng, cô ả thấp giọng nói rì rầm góp ý, để chồng moi tiền những người có tên trong sổ bìa đen vừa đề cập đến.
Sau một hồi xầm xì là những tiếng xô đẩy, đùa giỡn, tiếng đồ đạc rớt hoặc đổ ngã, xen lẩn những tiếng rú hoặc những tiếng cười sằng sặc.
Lúc đầu, lão bộ đội già ở phòng bên cạnh,nằm với vợ, ông rất khó chịu về những tiếng động ấy. Ông cho rằng bọn cán bộ trẻ không có tác phong và đạo đức cách mạng. Lâu ngày sự khó chịu ấy cũng bớt dần và nhường chỗ cho sự tò mò một cách thích thú. Cả hai vợ chồng già, cứ tối đến, sau khi cơm nước, sau khi đếm tiền và cất tiền là họ leo lên giường nằm lặng lẽ để theo dõi tiếng động ở phòng bên kia.
Một bữa nọ, vợ chồng mụ Dậu đang nằm rầm rì nói chuyện, bỗng nghe tiếng đẩy cửa rất mạnh ở phòng bên cạnh. Quen như thường lệ, mụ Dậu khẽ khều ngón tay vào ngực chồng ra dấu, rồi thì thào nói bên tai chồng:
- Thằng nỡm ấy về tới rồi đấy.
Ông cán bộ già ừ hử rất nhỏ như thể sợ vợ chồng Ba Râu sẽ phát giác ra sự rình mò theo dõi của vợ chồng lão.
Từ gian phòng bên kia vọng sang tiếng anh chàng cớm rổn rảng:
- Em đang làm gì đấy?
- Đang nấu cháo cá. Chờ anh từ tối đến giờ. Đi đâu mà về trễ vậy?
- Đi công chuyện chứ đi đâu. Cần tiền không? Lại đây, anh thưởng cho hai trăm mà tiêu vặt nè. Lại đây anh cưng một cái. Đi suốt ngày nhớ quá.
Vợ ông bộ đội già nằm nghe nói đến tiền mà ham. Không ham sao được, trong lúc lương tháng của bà ta cũng chỉ có hai trăm một tháng. Thế mà thằng nỡm kia đưa cho vợ nó hai trăm chỉ để tiêu vặt.
Tiếng vợ thằng nỡm nhỏng nhẽo:
- Đi cho đã rồi về đóng kịch phải không? Muốn thưởng thì vô đây! Em còn bận canh nồi cháo.
Bước chân của anh chàng công an huỳnh huỵch đi vào bếp. Có lẽ hắn đã uống chút rượu nên giọng hắn hơi lè nhè đùa bỡn:
- Gọi ra ngoài không ra à? Được, muốn vào thì vào ngay thôi. Í dà!...
Có tiếng hai người xô đẩy, đụng vào vách ván ở dưới bếp. Tiếng một chiếc soong rớt xuống đất lăn kêu loong coong. Rồi chị vợ trẻ cười rú lên và cự nự:
- Buông ra nào! Người ta còn đang coi nồi cháo. Giỡn chi mà kỳ cục dzậy!?...
Không thấy tiếng thằng nỡm trả lời, chỉ nghe hắn cười hăng hắc.
Một lát sau, cả hai cùng im lặng. Bên này, hai vợ chồng ông bộ đội già vẫn nằm im gần như nín thở, để theo dõi xem có pha nào gay cấn xảy ra không?
Bỗng phòng bên kia cả hai vợ chồng gã công an trẻ lại vụt cười lên sằng sặc, có vẻ rất "thống khoái". Rồi tiếng chị vợ la lên:
- Phát ớn cả lên!...Người ta đang làm bếp, đúng đấy mà địt được à?
Vợ ông bộ đội phục viên, tuy đã gần bốn mươi nhưng lại đang ở tuổi hồi xuân. Mụ chửi thầm: "Cái thằng chết tiệt bên kia! Nó làm ăn gì mà lạ lùng vậy? Người ta đang làm bếp mà nó cũng không tha!?" Tuy đầu nghĩ như vậy nhưng trong lòng mụ ta lại khác, mụ cũng mong mình được giống như vợ thằng nỡm kia. Mụ lay lay ông chồng và ghé tai thì thào:
- Này ông?
- Thằng bên kia nó đang làm trò khỉ, ông có biết không?
- Biết.
- Vậy ông thử... bắt chước nó xem sao!?
Ông bộ đội phục viên cũng cảm thấy điều gì đó như vợ, nên ông cũng nhất trí với vợ để "hạ quyết tâm" một phen.
Nửa giờ sau, phòng vợ chồng thằng Ba Râu có tiếng xối nước tắm, tiếng vợ thằng nỡm eo éo gọi chồng lên ăn cháo. Tiếng cửa phòng tắm bị đẩy ra đụng tường đánh ầm một tiếng. Rồi hình như gã công an đã ngồi vào bàn ăn. Tiếng muỗng chạm vào chén sứ xen lẩn tiếng húp soàn soạt. Bỗng có tiếng ken của cái muỗng rơi xuống bàn. Tiếng gã công an cười hăn hắc. Lần này vợ gã không cười nhưng chị ta cự nự một cách khó chịu:
- Rõ thật, người với ngợm. Đang ăn mà cũng địt được. Không biết mắc cở à!?
Nằm bên này, mụ Dậu lầm bầm rủa thầm trong bụng, nhưng lần này mụ không rủa thằng nỡm, mà là rủa vợ hắn không biết điều. Mụ lẩm nhẩm trong đầu: "Kẻ ở cõi tiên thường hay vẽ sự, thích chuyện dưới trần. Cỡ mày mà cứ cho ở với một thằng liệt dương thử xem mày còn nỏ mồm mắng mỏ chồng con nữa không!?" Rủa thầm xong, mụ ta lại thì thầm yêu cầu ông bộ đội phục viên "hạ quyết tâm" thêm một lần nữa để "kiên định lập trường". Khi được bà vợ thì thầm yêu cầu, lão bộ đội phục viên đã cảm thấy mình nhọc lắm rồi. Ông ráng nhắm mắt lại để tự khuyến khích mình rằng: "Mình dành cho ông Hồ cả tuổi thanh xuân thì được. Còn vợ mình xin chút sức tàn của mình tại sao mình lại không cho?" Nghĩ vậy ông lại vận dụng hết tinh thần phấn đấu để "khắc phục" thêm một lần nữa.
Sau lần "khắc phục" đó ông tưởng đâu mình vừa đi kéo pháo lên núi để đánh trận Điện Biên Phủ như phim tuyên truyền của nhà nước Hà Nội sản xuất. Trong phim đó có cảnh cây pháo tuột dốc và một gã bộ đội ngu xuẩn đã lấy thân mình chèn bánh xe pháo để làm cho cây pháo đứng lại. Phim đã đề cao hành động ngu xuẩn thiếu căn bản khoa học. Với một khẩu pháo nặng nề như thế mà tuột dốc thì dù có lấy tảng đá chặn cũng không thể làm ngừng sức tuột dốc của nó, huống chi lấy thân người!
Riêng ông bộ đội phục viên, sau lần thứ hai đáp lời yêu cầu của vợ, ông cảm thấy chân tay, mình mẩy rũ liệt, cơ hồ như ông bị chính cây pháo lăn đè lên người ông. Có lẽ đó là hình ảnh sống động nhất trong lúc này. Ông nằm thiêm thiếp để nghỉ ngơi và cảm thấy sung sướng, khi đời ông đã phục vụ hết mình cho Đảng cũng như cho vợ.
Có lẽ cả một giờ trôi qua, lão bộ đội phục viên nằm tiêm thiếp và bất động. Gian nhà kế bên hình như vợ chồng thằng công an cũng lên giường đi ngủ. Còn lại mình mụ Dậu tĩnh thức, bỗng lại nghe thấy tiếng Chín Lài cười rúc rích và cự nự:
- Khiếp! Địt gì mà địt dữ dzậy!?
Bấy giờ thằng chồng vừa cười vừa nói:
- Mắc địt thì địt cho nó sướng. Tội tình gì mà phải nín. Đại khái giống như mắc đi cầu em có nhịn được không?
Tiếng thằng Ba Râu vừa trả lời dứt, mụ Dậu lại nghe tiếng con Lài nũng nịu phản đối:
- Nhưng mình đi ngủ rồi! Anh làm hoài như vậy em không chịu nổi đâu. Phải nín đi chứ?!
Tiếng thằng công an cười hăng hắc:
- Nín thế nào được mà nín!
Vợ gã bỗng rú lên cười sằng sặc và phụng phịu dỗi:
- Đó anh lại nữa rồi.
Rồi y thị đánh độp một phát vào lưng chồng và cả hai cùng cười.
Nằm ở phòng bên này, mụ Dậu thấy lão bộ đội phục viên nằm ườn ra như một con cá ươn. Mụ lay chồng dậy mấy lần. Lão bộ đội phục viên chỉ ư hử. Không cần biết lão đã tĩnh hẳn hay chưa, mụ ghé vào tai chồng thì thào:
- Này, thằng nỡm bên kia lại bắt đầu làm "trò khỉ" thêm một làn nữa. Mình cố phấn đấu "khắc phục" như nó thử xem sao? Đảm bảo, thêm lần này nữa là đủ chỉ tiêu rồi. Tôi không dám làm phiền mình thêm nữa đâu.
Nhưng lão bộ đội phục viên hình như chẳng còn biết gì nữa. Lão đã chìm trong giấc ngủ say và hơi thở mệt nhọc.
Càng theo dõi tiếng động phòng bên cạnh, mụ Dậu càng cảm thấy bất mãn với chồng, chồng mụ đã đem cả tuổi thanh xuân của lão để phục vụ cho cái đảng chết tiệt một cách tận tình thì được. Còn mụ là vợ lão, mụ chỉ xin lão cho mụ được mãn nguyện, trong lúc tuổi đời của mụ đang sắp sửa đi vào buổi hoàng hôn, thế mà lão chẳng đếm xỉa gì đến và cứ nằm ì ra ngủ. Như vậy có tức mình không? Tinh thần phấn đấu và khắc phục của lão ngày xưa dành cho Bác và Đảng bây giờ lão để ở đâu? Tại sao không "phấn đấu, khắc phục" cho mụ? Càng nghĩ mụ càng ấm ức muốn điên lên. Mụ lại quay ra nghĩ lan man đến chuyện ngày xưa. Lúc mụ còn đang làm chị nuôi cho một đơn vị quân y.
Hồi đó, mụ là thượng sĩ trông coi việc bếp núc cho một đơn vị quân y. Dưới trướng của mụ, có khoảng gần chục người, vừa anh nuôi, vừa chị nuôi để mụ sai phái.
Trong số anh chị nuôi, mụ thương nhất một thằng binh nhất, tên hắn là Cu Lé. Nó kém mụ tới mười hai tuổi. Lúc ấy mụ ba mươi còn Cu Lé mới vừa mười tám.
Cu Lé có thân hình to lớn dềnh dàng, mặt mũi đen đúa, mắt lé, răng hô nhưng tính tình hiền lành, ít nói.
Nhờ Cu Lé nhỏ tuổi, xấu xí, tính tình dễ thương nên mỗi khi mụ dẫn Cu Lé đi đâu một mình với mụ chẳng ai để ý hoặc dị nghị, ngay cả lúc mụ rủ Cu Lé cùng ra suối tắm. Trái lại trong đơn vị ai cũng khen Cu Lé là thằng tốt phước, vì được cấp chỉ huy trực tiếp thương như bà chị thương cậu em út.
Vào một buổi trưa hè nóng nực, có lẽ hôm đó là một ngày yên tĩnh, vì không có phi pháo bắn phá. Một ngày yên tĩnh như vậy quả là quý và hiếm trong các mật khu, nên ai nấy đều nghĩ đến chuyện nằm ngủ trưa cho thoải mái.
Riêng mụ, mụ cảm thấy thèm được dìm mình trong nước mát. Đi một mình mụ cảm thấy buồn nên nghĩ ngay đến thằng đệ tử. Mụ liền đến rủ rê:
- Cu Lé! Mày thấy nực không?
Cu Lé hình như đoán được ý mụ Dậu nên hỏi mụ, thay vì trả lời:
- Chị định đi tắm hả?
- Ừ! Mày có đi với chị thì lấy đồ đi.
- Đi chứ, chị!
Chưa nói dứt câu hắn đã chui tọt vô trong cái chòi của hắn, quơ vội chiếc khăn rằn quàng lên cổ, rồi chui ra đi trước. Mụ Dậu lặng lẽ bước theo sau Cu Lé và tiến về phía suối.
Ra tới bến tắm, tự nhiên Cu Lé hỏi mụ Dậu:
- Tắm ở đây hay lên đầu giòng?
Chẳng hiểu sao, mụ Dậu cũng buột miệng bảo:
- Mày đi men theo bờ suối. Có lẽ lên đầu giòng tắm mà lại hay đấy.
Bỏ xa bến tắm cả gần hai trăm thước rồi mà Cu Lé vân không nghe thấy mụ Dậu nói năng gì. Đi thêm một quảng nữa, đến một khúc suối khá sâu, cậy cối rậm rạp xòa ra che cả mặt suối, Cu Lé dừng lại hỏi:
- Chị Tư! (mụ thứ Tư) Tắm chỗ này được không?
Mụ Dậu nhìn quanh quất một hồi rồi gật đầu không nói năng gì.
Nét mặt Cu Lé bỗng trở nên khẩn cấp một cách lạ thường. Nó vội vắt chiếc khăn rằn lên một chạc cây và nói:
- Em chột bụng quá! Tự nhiên lại mắc đi cầu.
Nói chưa dứt câu, Cu Lé chạy ào đi như một con ngựa phi nước đại.
Còn lại một mình mụ Dậu. Mụ lững thững đi men theo bờ thêm một chút nữa, gặp một quãng bờ suối hõm vào. Mụ thích khúc bờ hõm này vì có hai tàn cây hai bên che kín, cành lá xòa ra che luôn cả mặt nước phía trước. Mụ Dậu lách mình chui vào tàn cây. Mụ leo men theo thân cây xà ngang mặt nước. Đến gần nửa hõm nước, mụ vắt quần áo khô lên mấy nhánh cây. Thói quen của các "chiến sĩ gái" là không cởi quẩn áo trong lúc tắm. Mụ Dậu cũng vậy, mụ để nguyên quần áo, hai tay nắm chặt thân cây và đu mình xuống. Đang lúc mụ định buông tay ra để trầm mình xuống nước mát thì mụ lại đu mình lên. Mụ thầm nghĩ: "Nước đã mát mà nơi đây lại kín đáo. Tại sao mình không cởi áo ra tắm cho nó sướng?" Đầu vừa nghĩ, mụ liền cởi áo ngoài. Ngừng một chút ngẫm nghĩ rồi mụ cởi luôn cả áo lót. Mụ vắt áo trên cành cây và nhảy tọt xuống hõm nước. Nước mát mơn man da thịt mụ. Sẵn hứng, mụ đứng dưới nước cởi luôn quần trong lẩn quần ngoài vá thẩy lên cành cây. Mụ tắm và tay vờn khắp người. Một cảm giác phơi phới thoải mái lan khắp người mụ.
Sau khi đi cầu về, Cu Lé lại chỗ nhánh cây lấy cái khăn rằn, hắn nhìn quanh quất có ý tìm mụ Dậu nhưng không thấy. Nó cũng không cần kiếm mụ cho lắm vì nó biết mụ đang tắm ở một góc khuất nào đó.
Cu Lé đi đến một chỗ tương đối khuất để cởi đồ. Nó phải tắm truồng vì không có quần áo khô để thay, chẳng nhè nơi kín đáo nó chọn lại là chỗ mụ Dậu đang tắm. Mụ Dậu thấy Cu Lé đứng thay đồ ngay trên bờ nơi mụ đang tắm ở dưới. Mụ không dám la và cũng không dám đuổi nó, vì trên mình mụ không có mảnh vải nào mà nước lại trong vắt và chỉ đến thắt lưng. Mụ đành phải dìm mình xuống nước đến cổ và im lặng nín thở, với hy vọng sau khi Cu Lé cởi đồ xong sẽ phóng mình xuống suối phía ngoài. Dưới kẽ lá, mụ theo dõi từng cử chỉ của Cu Lé và thấy rõ những bí mật nhất trên thân thể Cu Lé. Mụ vừa phập phồng lo sợ vừa cảm thấy trong người háo hức , thèm thuồng.
Cởi đồ xong, Cu Lé lơ đãng đứng tồng ngồng nhìn ra phía ngoài suối. Nó định phóng xuống suối phía ngoài, nhưng chẳng biết nghĩ sao nó lại vạch lá che hõm nước. Mụ Dậu thấy vậy càng quýnh, tim mụ đập thình thình. Mụ cố nép mình tránh tầm nhìn của Cu Lé. Thật vô tình, Cu Lé vạch lá thấy vũng nước trong vắt, nó vội lao mình xuống thẳng về hướng mụ Dậu đang nép mình. Từ dưới nhìn lên mụ Dậu tưởng chừng như thân hình Cu Lé như một mảng núi đang ập xuống đè mình. Phản ứng tự nhiên của mụ là dang hai tay ra đỡ lấy vật đang rơi. Sức phóng của Cu Lé quá mạnh làm mụ ngã ngửa xuống hõm nước và đầu mụ chìm nghỉm nhưng hai tay mụ níu được hông Cu Lé.
Phần Cu Lé, khi nhảy xuống nó không biết mình đụng phải vật gì và nó cảm thấy hình như có hai cánh tay ai níu hông nó dưới nước.
Người nó vừa dìm xuống nước tới vai, Cu Lé vội vàng đứng bật lên. Ngay lúc đó, cái đầu của mụ Dậu cũng trồi lên theo khỏi mặt nước.

 ----

Hận Ly Hương

(xin lỗi không biết tên tác giả)

Bài Xem Nhiều