We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 5 December 2013

TÔN KÍNH TỔ TIÊN: Đạo lý của người Việt Nam

4.jpg
 TÔN KÍNH TỔ TIÊN


1. Đạo lý của người Việt Nam

Đối với người Việt Nam chúng ta, việc tôn kính ông bà tổ tiên rất được đề cao. Đề cao đến độ mà việc tôn kính đã trở thành đạo: đạo ông bà, đạo hiếu, đạo thờ cúng tổ tiên. Để đánh giá một người nào, người Việt chúng ta thường dựa vào cách đối xử của người đó với ông bà, cha mẹ. Thậm chí người ta còn coi việc báo hiếu trọng hơn việc đi tu:

Tu đâu cho bằng tu nhà,

Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu.

Người Việt Nam tôn kính tổ tiên vì 2 lý do chính:

- Đạo lý uống nước nhớ nguồn: Chim có tổ, suối có nguồn, cây có cội, con người cũng có tổ tiên. Chúng ta biết ơn đấng sinh thành và dưỡng dục chúng ta.

- Vì huyết thống, xin tổ tiên phù trợ chúng ta:  Đối với người Việt Nam, chết không phải là hết, nhưng người chết vẫn còn quanh quẩn bên người sống để che chở cho con cháu. Bởi đó, người Việt Nam thường khấn xin tổ tiên ông bà phù hộ cho con cháu. Và khi chết người Việt Nam lại về với ông bà, tổ tiên.

Chúng ta nhớ ơn các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ vì các ngài đã sinh ra, dưỡng nuôi và giáo dục chúng ta nên người. Đối với người Việt Nam chúng ta, đây là công ơn lớn lao nhất mà chúng ta không thể nào quên được, vì:

Ai mà phụ nghĩa quên công,

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

Trong lịch sử truyền giáo tại Việt Nam, có một người đã hỏi một nhà truyền giáo rằng: cha mẹ tôi đã chết và trước đây họ không theo đạo; như vậy, họ có được vào thiên đàng không? Nhà truyền giáo trả lời là không được (vì trước đây, Giáo hội chúng ta quan niệm rằng chỉ những ai rửa tội mới được vào thiên đàng). Người này đã nói với nhà truyền giáo rằng vậy tôi cũng không thể vào đạo được, vì nếu vào đạo tôi sẽ được hưởng hạnh phúc ở trên thiên đàng, còn cha mẹ tôi lại phải chịu đày đọa trong hỏa ngục. Như vậy, làm sao tôi có thể hưởng hạnh phúc trong khi cha mẹ thì phải đau khổ trầm luân…

Việc tôn kính tổ tiên vừa có tính cách gia đình, vừa có tính cách xã hội. Trong các gia đình, việc tôn kính tổ tiên được thực hành vào những dịp lễ như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết Nguyên đán, và trong những dịp lễ khác. Trong những dịp lễ này, người trưởng trong gia đình thường đốt nhang để báo cáo với tổ tiên và xin tổ tiên phù hộ. Nhất là trong dịp Tết Nguyên đán, khi tất cả con cháu tụ họp về đông đủ. Sau khi cúng trời đất là nghi thức dâng hoa, dâng quả, dâng nhang đèn cho tổ tiên, ông bà đã khuất và chúc thọ cho ông bà cha mẹ còn sống. Việc tôn kính này còn mở rộng ra ngoài xã hội: nhớ ơn những người có công dựng nước và giữ nước. Việc tôn kính tổ tiên sẽ giúp cho con cái luôn sống thảo hiếu với cha mẹ, tạo ra được sự liên kết trong gia đình. Đối với xã hội, tôn kính tổ tiên là cách tốt nhất để tạo sự hòa hợp dân tộc, củng cố lòng yêu nước thương nòi, vì nó nhắc nhở mọi người về một nguồn gốc chung, cùng một giống nòi, dù khác biệt về tôn giáo, chính kiến hay vị trí xã hội.

2. Giáo hội Công giáo và việc thờ cúng tổ tiên

Một số nhà truyền giáo trước đây không hiểu rõ việc thờ cúng này, coi đây như là một hình thức của lòng tin tôn giáo, nên đã tạo ra sự cấm đoán. Hậu quả là công việc truyền giáo ở Việt Nam đã không phát triển mạnh được. Và ngày nay, nó còn là một khó khăn rất lớn trong mục vụ và là một thách đố thực sự trong việc loan báo Tin mừng. Việc cấm thờ cúng tổ tiên đã làm cho người Công giáo bị coi như những kẻ xa lạ trong chính đất nước của mình và đây cũng là lý do chính để các Vua Chúa thời Nguyễn bách hại đạo chúng ta. Ngày nay, còn rất nhiều người ngoài Công giáo vẫn cho rằng người Công giáo bỏ ông bà, tổ tiên, không khói hương, không nhang đèn:                                            

Lấy người Công giáo làm chi?

Chết thì ai cúng? Giỗ thì ai lo?

Lấy ai săn sóc mả mồ?

Lấy ai lo lắng bàn thờ tổ tiên?

Cũng vì nghĩ như vậy mà nhiều người không muốn theo đạo. Chúng ta phải làm sao để xua tan đi sự hiểu lầm này? Tam giáo được chấp nhận ở Việt Nam vì họ đã biết tùy duyên hóa độ. Đặc biệt họ đã tiếp nhận việc tôn kính tổ tiên, tín ngưỡng nền tảng của dân tộc, rồi làm vững mạnh và phong phú nó. Do đó, những điều tốt đẹp của các tôn giáo này đã thấm nhuần vào nền văn hóa Việt Nam, trở thành hồn dân tộc. Xét cho cùng, việc tôn kính ông bà tổ tiên chỉ có tính cách văn hóa và luân lý trong đời sống xã hội và gia đình, chứ không có tính cách tôn giáo. Trong việc hội nhập văn hóa, chúng ta cần chú trọng đến yếu tố văn hóa hết sức nền tảng này, vì  nó ảnh hưởng rất lớn đến việc loan báo Tin mừng.

Thực ra người Công giáo vẫn kính nhớ ông bà tổ tiên, nhưng với cách thức khác người ngoài Công giáo. Giáo hội Công giáo có những ngày dành riêng để kính nhớ ông bà tổ tiên cũng như những người đã ly trần, và dành trọn tháng 11 để cầu nguyện cho những người đã qua đời. Trong các thánh lễ an táng, lễ giỗ, lễ các đẳng… có các lời nguyện đặc biệt chỉ cho người qua đời. Người Công giáo biểu lộ niềm tin vào Đức Kitô, Đấng đã phục sinh từ cõi chết, Đấng sẽ cho ông bà tổ tiên và những người đã qua đời cũng được phục sinh như Người và được hưởng hạnh phúc muôn đời. Chúng ta cũng nhớ đến các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ, vì các ngài đã có công đón nhận đức tin, sống đức tin một cách mãnh liệt và truyền lại cho ta. Các ngài đã đi mở đường rồi khai phá và xây dựng vùng đất này để ngày nay chúng ta có được nơi sinh sống, làm ăn và thờ phượng Chúa. Người tín hữu còn biết ơn biết bao vị thánh đã ra đi trước, đã làm đẹp lòng Chúa và đã được tôn vinh trên bàn thờ, trên trời.

Dĩ nhiên, việc thờ cúng tổ tiên có một số điều không phù hợp với đức tin Công giáo, như dâng cúng đồ ăn, tiền, đồ dùng cho người quá cố. Đây cũng là cách báo hiếu, vì nghĩ rằng người chết vẫn còn ăn uống và sử dụng đồ đạc như người sống. Nhưng người Công giáo tin rằng người chết thì không còn ăn uống được nữa. Từ năm 1964, HĐGMVN đã cho phép thi hành một số hình thức tôn kính dành riêng cho ông bà tổ tiên, vừa loại bỏ điều gì xem ra như là mê tín dị đoan. Theo đó, nguời Công giáo có thể có những bàn thờ tổ tiên trong gia đình; và trên bàn thờ này người ta có thể trưng những hình ảnh hay bài vị của tổ tiên; và trước những hình ảnh và bài vị nầy, người ta có thể dâng hương và cúi mình tôn kính. Nhưng ngày nay, nhiều người Công giáo vẫn coi việc tôn tính tổ tiên như một điều cấm kỵ hoặc chỉ tôn kính cho có hình thức.

Việc tôn kính tổ tiên không chỉ là bổn phận tự nhiên, mà còn là đòi hỏi của Thiên Chúa. Thiên Chúa đòi buộc chúng ta: “Phải thảo kính cha mẹ”, và trong sách Xuất hành, Thiên Chúa còn ban luật rõ: “Kẻ nào đánh đập hoặc nguyền rủa cha mẹ mình, kẻ ấy tất phải chết” (Xh 21.15,17). “Hãy tôn kính cha mẹ để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này.” Công đồng Vatican II đã tuyên bố: “Những gì tốt đẹp trong tâm hồn và tư tưởng của loài người hoặc trong nghi lễ và văn hóa riêng của các dân tộc, hoạt động của Hội thánh không nhằm tiêu diệt, nhưng làm cho lành mạnh, nâng cao và kiện toàn, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người.” (LG 17,1) Thư chung của HĐGMVN đã định nghĩa hội nhập văn hóa “là tìm ra những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, để xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc.” (Thư chung 1998, số 13) Các Giám mục Việt Nam đã giải thích rõ hơn về mối quan hệ giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam và khuyến khích người Công giáo Việt Nam đem những giá trị của Tin mừng làm phong phú và thăng tiến những giá trị của văn hóa Việt Nam: “Yêu thương và hiệp nhất là đặc điểm của Tin mừng Chúa Giêsu Kitô và cũng là điểm gặp gỡ sâu xa nhất giữa Tin mừng và văn hóa Việt Nam, một nền văn hóa vốn lấy nghĩa đồng bào và đạo hiếu trung làm nền tảng cho đạo đức xã hội.” (Thư chung 1998, số 5). Qua bản góp ý của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam đã nhận định: “Với những đức tính như lòng hiếu thảo đối với ông bà cha mẹ, kính trên nhường dưới trong gia đình, với một tâm hồn yêu thích tĩnh mịch và chiêm niệm, người Việt Nam là một mảnh đất tốt để đón nhận những giá trị thiêng liêng hàm chứa trong Tin mừng… Đạo lý Đông phương vốn trọng chữ Trung, chữ Hiếu và chữ Nhân rất gần với tinh thần của Kitô giáo: trung với Chúa, hiếu thảo với ông bà cha mẹ tổ tiên và nhân ái với mọi người.” “Muốn thế, một đàng chúng ta phải đào sâu Thánh kinh và Thần học để nắm vững những điều cốt yếu của Đức tin, đàng khác phải đào sâu nếp sống của từng dân tộc trong nước, để khám phá ra những giá trị riêng của mỗi dân tộc. Rồi từ đó, chúng ta tận dụng những cái hay trong một kho tàng văn hóa mà xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả Đức tin phù hợp hơn với truyền thống của mỗi dân tộc đang cùng chung sống trên Quê hương và trong cộng đồng Hội thánh này.” (Thư chung 1980, số 11). Có một sự liên kết chặt chẽ giữa việc tôn kính tổ tiên và đức tin Công giáo. Có nhiều điểm rất gần gũi và rất phù hợp với đức tin Công giáo như mối liên hệ giữa người sống và người chết, linh hồn bất tử, tin ở đời sau, đạo hiếu, đạo lý uống nước nhớ nguồn, cùng chung một nguồn gốc. Đây là những điểm gặp gỡ giữa Tin mừng và hồn dân tộc, giúp chúng ta xây dựng một nếp sống và một lối diễn tả đức tin ngày càng phù hợp hơn với nền văn hóa dân tộc:

- Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa từ chính ông bà tổ tiên chúng ta: Thật vậy, chúng ta có thể rao giảng về một Thiên Chúa, là chính tổ tiên của cả nhân loại, nguồn mọi tình phụ tử, “nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất” (Ep 3,14). Thiên Chúa đã sinh ra con người, Ngài là Cha đầy lòng nhân ái, Ngài yêu thương, quan phòng và dưỡng nuôi chúng ta: “Cho dù người mẹ có quên con mình, thì Ta, Ta sẽ chẳng bao giờ quên ngươi” (Is 49,15).  Điều này đã được công đồng Vatican II quả quyết: “Mọi dân tộc đều thuộc về một cộng đoàn cùng chung một nguồn gốc, vì Thiên Chúa đã cho toàn thể nhân loại sinh sống trên mặt địa cầu (x. Cv 17,26). Thiên Chúa muốn tập họp nhân loại vào một gia đình chung, trong đó mọi người đối xử với nhau như anh chị em. Do đó, mọi người cũng phải có bổn phận hiếu thảo với Cha trên trời. Trong bản góp ý của HĐGMVN gởi cho Thượng Hội đồng Giám mục Châu Á, các Giám mục Việt Nam đã đề nghị giới thiệu Giáo hội như một gia đình của Thiên Chúa, trong đó Thiên Chúa là Cha, Chúa Giêsu là Trưởng Tử, mọi người là anh chị em với nhau nhờ được liên kết với Người: ai thi hành ý muốn của Chúa Cha, người ấy là anh chị em của Chúa Kitô (x. Mt 12, 50). Chúa Giêsu cũng khẳng định mọi người chỉ có một Cha trên trời (x. Mt 23, 9). Và Người nói với các môn đệ: “Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em.” (Ga 20,17) Người đã vâng lời Cha trên trời cho đến chết và hiếu thảo với cha mẹ trần thế, hằng vâng phục các ngài (x. Lc 2,51). Cũng chính vì thế, một khuôn mặt Chúa Kitô hiền hậu và khiêm nhường (x. Mt 11,29), phản ánh một người Cha nhân hậu (x. Lc 6,36), Đấng muốn qui tụ mọi người trong đại gia đình nhân loại mới, trong đó mọi người hiếu với Cha, yêu thương hòa hợp với anh em, dễ thu hút tâm hồn Châu Á.

- Về việc hiếu thảo với cha mẹ: Người Công giáo còn phải hiếu thảo với cha mẹ vì Thiên Chúa là Cha chúng ta đã dạy như thế (giới răn thứ 4). Trong nền văn hóa toàn cầu ngày nay, nền tảng gia đình đang bị lung lay, Giáo hội cần đặc biệt bảo vệ và phát triển đạo hiếu, vì đó là một trong những yếu tố củng cố nền móng gia đình một cách hữu hiệu.

- Về mối liên hệ giữa người sống và người chết : Sự sống ở kiếp sau, linh hồn bất tử: Người Việt Nam tin rằng chết không phải là hết, mà sinh thì (sống thật), sinh ký tử qui, người chết vẫn còn lảng vảng bên con cháu. Dựa vào niềm tin này, chúng ta có thể nói cho người ngoại giáo về tín điều các thánh thông công, sự sống đời đời. Đó chính là những “hạt giống của Lời,” ánh sáng chân lý, được Thiên Chúa chuẩn bị cho người Việt Nam để đón nhận Tin mừng. Do đó, chúng ta cần lành mạnh hóa những điều tốt đẹp trong nghi lễ tôn kính tổ tiên này, nâng cao và kiện toàn chúng, hầu làm vinh danh Thiên Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho con người.  Nhờ đó, Tin Mừng mới dễ dàng đi vào lòng người hơn.

Chúng ta cần khuyến khích và cổ vũ cho việc tôn kính tổ tiên để có cùng một tâm tình với đồng bào của chúng ta và để tạo ra sự gần gũi, ruột thịt như nền văn hóa Việt Nam đã nhắc nhở chúng ta cùng chung một bào thai (đồng bào). Chúng ta cần gạn đục khơi trong, bài trừ những gì là mê tín dị đoan và thăng tiến những cái tốt, cái hay, cái đẹp trong nền văn hóa Việt Nam. Việc tôn kính tổ tiên theo văn hóa Việt Nam được thực hành trong các gia đình vào những dịp lễ như đám tang, lễ giỗ, lễ cưới, Tết Nguyên đán. Vì vậy, mỗi gia đình Công giáo nên có một bàn thờ tổ tiên, được đặt bên dưới bàn thờ Chúa, để nhắc nhở con cháu về đạo lý làm người, con cái thảo hiếu với cha mẹ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên. Trong những dịp lễ giỗ, những người Công giáo nên mời bạn bè, láng giềng, những người thuộc các tôn giáo khác đến để cùng cầu nguyện cho ông bà tổ tiên và chia sẻ bữa cơm thân mật. Việc hội nhập văn hóa liên quan đến thờ cúng tổ tiên trong những dịp lễ như Tết Nguyên Đán, giỗ tổ Hùng Vương, lễ cưới, lễ an táng, lễ giỗ cần được nghiên cứu và áp dụng trong gia đình và trong cả nhà thờ, để tạo ra sự gần gũi hơn với những người ngoài Công giáo. Đây cũng là những dịp tốt để người Công giáo loan báo Tin mừng, vì trong những dịp lễ này những người ngoài Công giáo thường đến chia sẻ với chúng ta niềm vui cũng như nỗi buồn. Việc tôn kính tổ tiên vừa là bổn phận của chúng ta, vừa là cách để chúng ta giới thiệu về đạo chúng ta cho những người ngoại. Vì việc tôn kính tổ tiên sẽ giúp chúng ta dễ gần gũi, dễ hòa đồng với những người bên lương và qua đó, chúng ta có thể giới thiệu với họ một vị Thiên Chúa là Cha, đầy lòng thương xót, là Tổ Tiên của cả nhân loại.



 GB. Trần Hữu Hạnh

--


 

Sự tôn kính Tổ Tiên đối với người Công Giáo


Nhân Mùa Vọng và Giáng Sinh 2013, nói về sự tôn kính Tổ Tiên với người Công giáo:


Tại Việt Nam, những người không theo một tôn giáo nào rõ rệt, thường được gọi là người lương, là những người thờ cúng tổ tiên, ông bà, tin có ông Trời, thường cho rằng “những người theo đạo Công Giáo là bỏ ông bà, quên tổ Tiên”.


Nhưng thật ra, trước kia, các nhà truyền giáo hội Thừa Sai Paris (MEP) đã hiểu lầm việc thờ cúng ông bà, tổ tiên của người Việt Nam là mê tín dị đoan, nên đã tấu trình Tòa thánh, để cấm giáo dân tham dự lễ giỗ và ăn uống đồ cúng của người lương. Do đó, người lương đã nghĩ lầm về thái độ của người Công giáo đối với các bậc tiền nhân.


Xét kỹ cho đúng, theo đạo công giáo đâu phải “bỏ ông bà, tổ tiên, quên người thân quá cố”. Trước hết, qua 10 điều răn Đức Chúa Trời truyền qua ông Môisen: Điều răn thứ 4 đã dạy: “Thảo kính Cha Mẹ”. Đối với người đã qua đời, GHCG đã dành tháng 11 hàng năm để kính nhớ và cầu nguyện.


Ngày trước, ở Việt Nam, các xứ đạo cứ mỗi tối thứ Hai hàng tuần, có buổi đọc kinh cầu cho các đẳng linh hồn trong luyện ngục. Đối với từng gia đình Công giáo khi đến ngày giỗ người thân, cũng xin Linh mục làm “lễ mồ”, để cầu nguyện và nhớ đến người quá cố.


Việc khiến người lương hiểu lầm là do sự khuyến cáo của các vị Thừa Sai không cho”người có đạo dự lễ giỗ kỵ của người lương”, khiến cho xa cách tình bà con, họ hàng, gây hiểu lầm đáng tiếc!



Để giải tỏa sự hiểu lầm ấy, và có tinh thần hiệp thông với người lương, hội Đồng Giám mục Miền nam: Việt Nam Cộng Hòa, đã trình Tòa thánh về việc này nên:


“Ngày 20/10/1964, Tòa Thánh qua Bộ Truyền Giáo đã chấp thuận cho Giáo hội Công giáo Việt Nam áp dụng: Huấn thị Plane compertum est về việc Tôn Kính tổ tiên và các bậc Anh Hùng, Liệt sĩ cho giáo dân Việt Nam.”



Ngày 14/6/1965, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã ra thống báo về việc tôn kính tổ tiên, anh hùng, liệt sĩ.


Ngày 14/11/1974, một hội nghị tại Nha Trang gồm Đức Tổng Giám mục Philiphê Nguyễn Kim Điền và các Giám mục: Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, Px Nguyễn Văn Thuận, Phêrô Huỳnh Công Các, Giuse Trần Văn Thiện, Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Phêrô Maria Nguyễn Huy Mai. Trong hội nghị, các ngài đã triển khai thêm các điểm cụ thể về vấn đề thờ cúng tổ tiên và đã ra một thông cáo 6 điểm, tóm liocwj như sau:


1. Được đặt bàn thờ Tổ Tiên trong gia đình dưới bàn thờ Chúa.


2. Được đốt nhang, đèn, nến; vái lạy bàn thờ Tổ tiên và các cử chỉ hiếu thảo được làm.


3. Ngày giỗ kỵ trong gia đình được phép trưng bày lễ vật như hoa trái để tỏ lòng biết ơn các tiền nhân, ngoại trừ việc có tính cách dị đoan như đốt vàngbacj, mã hình, nộm giấy.


4. Trong hôn lễ được tổ chức Lễ Gia Tiên trước bàn thờ để tỏ lòng tôn kính biết ơn và hiếu thảo với ông bà, tổ tiên.


5. Trong tang lễ được đốt hương (nhang) vái lạy thi hài người qua đời.


6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thần hoàng tại đình làng, các Anh Hùng Dân Tộc trong lịch sử hay các ân nhân của làng.


Sự xa cách của người Công giáo Việt Nam trước đây đối với các nghi lễ hợp lý của dân tộc khiến người lương ngộ nhận rằng “theo đạo Chúa là bỏ ông bà, tổ tiên.” Bởi đó, việc truyefn giáo cho họ theo đạo chúa là cả vấn đề.


Tòa thánh Vatican đã chấp thuận đề nghị của hội Đồng Giám mục Việt Nam về việc tôn kính tổ tiên, anh hùng liệt sĩ, nhưng vấn đề làm sáng tỏ thể thức áp dụng Huấn thị trên (Plane compertum est 20/10/1964), các Giám mục đã ra thông báo phổ biến cho các đoàn thể Công giáo tiến hành và kể cả người bên lương.


Ở đây, chúng tôi xin tóm lược 3 điểm của thống cáo:


1. Giáo hội Công Giáo không cấm tín hữu tham dự các phương cách biểu lộ lòng hiếu thảo tôn kính Tổ Tiên, Anh Hùng Liệt Sĩ.


2. Người Công giáo không tham gia các lễ nghi có tính cách trái với giáo lý GHCG. Trường hợp bất đắc dĩ, chỉ được hiện diện như đã ấn định trong bộ Giáo luật 1917, khoản 1258.


3. Được thi hành và tham dự các nghi lễ mà dư luận địa phương không cho đó là của một tôn giáo tuyên xưng niềm tin của họ.

Tóm lại, việc tôn kính tổ Tiên của người Việt Nam từ trước đến nay, không có điều gì trái ngược với đức tin công giáo. Hãy đọc câu ca dao:

“Công Cha như núi Thái Sơn,

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ Mẹ kính Cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.”

Đọc câu ca dao, tôi nhớ lại Điều răn thứ 4 của Đức Chúa trời:

Thứ bốn: Thảo kính Cha Mẹ.

Không phải thảo kính Cha Mẹ khi còn sống, mà còn phải thảo kính khi Cha Mẹ đã qua đời. Giáo hội Công giáo Việt Nam đã dành cho chúng ta tháng 11 hàng năm, để tưởng nhớ tín điều: “Các Thánh Thông Công.”

 Giáo sư-Nghị sĩ Bùi Văn Giải

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều