We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 2 January 2013

TÂM THƯ 2013 : Kiên Quyết Đấu Tranh Đưa Chế Độ Cộng Sản Tại VN Sụp Đổ

 Bài viết của nhiều tác giả:
MUỐN CHỐNG TÀU TRƯỚC HẾT PHẢI DIỆT VIỆT CỘNG


Trong 3 tháng vừa qua, từ ngày 36-1 trí thức gửi bức thơ Ngỏ do anh LXK chủ bút, sau nhiều lần ''lời qua tiếng lại''', gần như đương nhiên một vấn đề nổi bật lên chôn vùi cái vụ thơ Ngỏ, để bắt đầu một cuộc tranh luận mới trăm lần quan trọng hơn, cứ kể như là giữa anh em cùng một chiến tuyến, bắt buộc tôi phải chen vào vì trách nhiệm hơn là vì tiếng hảo. Vì thế mà hôm nay tôi xin góp một vài ý kiến một vài nhận xét về vấn đề nói trên trên là vấn đề ưu tiên, cái nào phải lo trước cái nào đề tính sau, Trung cộng hay Việt cộng? Như anh biết là từ hơn 1 năm nay, trong những điện thư gửi anh anh biết quá rõ lập trường của tôi, nó chỉ lặp đi lặp lại với mấy chữ ''Delenda Est Carthago'' và cái gương bà Triệu thị Trinh chém đầu chị dâu tế cờ trước khi xuất quân đi đánh quân Đông Ngô.

1) Đầu Công nguyên, đang lúc Đế quốc La-mã thịnh hành nhứt thì ở Bắc Phi, Carthago (Tunis hiện giờ) nổi lên một lực lượng hải quân muốn tranh hùng một mất một còn với La-mã và nhiều năm qua La-mã phải khốn đốn trong Đia trung hải vớiCarthago. Cũng là lúc trong thượng viện La-mã xuất hiện một nghị sĩ có tên là Cato. Ông chỉ là một nghị sĩ rất tầm thừơng, mỗi lần đi vào hội nghị để thảo luận và quyết định đánh Đông đánh Tây đánh Bắc...xa vời, để cho Consul thi hành, cũng như đi ra về nghị sĩ Cato chỉ biết la lên  có mấy tiếng Delenda Est Carthago! Có nghĩa là phải tiêu diệt Carthago, vì nó ở gần bên nách mình đây. Và nhờ đó mà chẳng bao lâu sau La-mã dẹp tan Carthage và tiếp tục thịnh hành thêm nhiều năm nữa. .
 
2) Bà Triệu thị Trinh và anh đang tuyển mộ nghĩa quân và đêm đêm luyên quân trên núi. Chị dâu theo dõi chồng, biết mưu đồ của anh em họ Triệu và lén đi tố cáo với quân Đông Ngô, đổi lấy một số vòng vàng đưng cả rương! Đến một lúc bà Trinh đúng hơn là cô ( mới 19 tuổi chưa chịu lấy chồng) biết mưu đồ anh em mình bị bại lộ, vì bị nội tuyến, bị Viêt gian tố cáo, cần phải ra tay trước. Lúc đó nghĩa quân chưa đủ túc số để tranh hùng với quân Ngô, Bà nghĩ đến con số năm mười ngàn. Nhưng dù chỉ được vào khoản một tiểu đoàn lá chưa tới một ngàn, bà quyết định phải xuất quân ngay, trước khi quân Ngô từ trị sở Mê linh kéo đại quân đến. Trước khi xuất quân bà Triệu vào phòng chị dâu kéo đầu ra chém để tế cờ, trước mặt ngơ ngát của ba quân. Xong rồi bà vào phòng chị dân lôi ra 1 ruơng vòng vàng của quân Ngô dùng để mua chuôc người đàn bà Việt gian phản bội dân tộc, phản bội gia đình. Nhờ lấy ít đánh nhiều, bà cũng hạ được đại đồn Huyện lỵ của quân Ngô. Rất tiếc là quá hao binh nhứt là tổn tướng, người anh cô bị thương nặng. Bà thắng trận nhỏ, nhưng lại thua trận lớn, bà không đủ thì giờ để chiêu mộ được năm mười ngàn nghĩa quân. Nếu không có Việt gian thì khi quân binh đủ mạnh bà sẽ thắng quân Ngô không khó khăn gì hết. Khi quân Ngô kéo đại quân đến, bà kéo quân phục kích và xáp trận, lấy 1 đánh với 10, nhưng vì lực lượng quá chênh lêch, nghĩa quân hi sinh gần hết, một người một voi bà mở đường máu thoát về núi và biệt tâm tich từ đó, Truyền thuyết nói bà tự kết kiểu đời mình và nơi đó có nổi lên một đồi mối khổng lồ hiện còn ở trên Núi Voi Thanh hóa.
 
3) Hai bài học của lich sử để lại: Giặc bên nách hay trong nhà phải lo thanh toán trước khi đi đánh ngoại xâm mới trông thắng trận, bằng không thì chỉ phải chấp nhận số phận mất nước nhà tan của một Thục An Dương vương, vì ngu muội không nghe một tể tướng Cao lổ cứ nuôi ong Trọng thủy trong tay áo, để rồi phải tử tiết sau khi chém đầu con gái một Mỵ châu của mình, còn bị Thần Rùa ở biển Đông nổi lên chửi cho một mẻ nên thân! Âu cũng là một bài học lịch sử thứ 3, chúng ta nên học cho làu và xử sự trong trường hợp hiện đại quá ư cấp bách và quyết liệt, vì Viêt gian hay nôi tuyến không phải là chỉ là Carthago hay Trọng thủy/ Mỵ châu mà lại chính là tấp đoàn lãnh đạo quốc gia. Chính đó mới là vấn đề,cần phải tranh luận, kỳ dư chỉ là chuyện ''ngồi lê đôi mách'' để đánh lạc hướng chuyện quan trọng sống còn của một dân tộc!
 
Kết luận: Chuyện Hán tộc xâm lăng các nước láng giềng là chuyện có từ ngàn năm trước và ngàn năm sau , với  nhà Hán, nhà Đường, nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh và nhà CS đều cùng một legacy (một truyền thống) xăm lặng. Tuy nhiên đối với VN, Đông Hán thế kỷ I CN với hai bà Trưng, nhà Liêu với Ngô quyền thế kỷ thứ 10 hay nhà Tống với Đinh tiên hoàng thế kỷ thứ 11 hay nhà Nguyên với các vua nhà Trần thế kỷ thứ 13m hay nhà Thanh với nhà Lê....thì luôn luôn VN mình chống ngoại xâm trong một hoàn cảnh phong kiến cô lập. Trong khi đó qua thế kỷ thứ 21 nầy thì thế giới đã qua giai đọan toàn cầu hóa vừa kinh tế/thương mại vừa chánh trị. Cho nên chuyên Trung cộng công khai và ồ ạt tàu bò tàu bay đi xâm lăng VN là chuyện không thể xảy ra được mà Trung cộng cũng không dại gì mà dùng quân sự... vì phản ứng của các nứơc giữ sẽ vô cùng quyết liệt vô cùng ( cũng vì quyền lợi và quyền lự hơn là vì bác ái) sẽ làm cho ché độ CS TC phá sản ngay. Vì biết vậy nên TC đã thay đổi kế sách xăm lăng từ lây nay. Kế sách xăm lăng của TC là TIỀN thay vì tàu bò tàu bay biển người.., là kinh tế là thương mại...là văn hóa...là gieo giống Hán. Tiền thì dùng Đầu tư kiến thìết và MUA chuộc, Kinh tế /thương mại để chi phối thị trường địa phương, Văn hóa và gieo giống để phá mất lần lần bản sắc Dân tộc...phá tan sức đề kháng. Kế sách '' tầm ăn lên nầy'' không thể thành tựu được nếu không có sự cộng tác tich cực của chế độ địa phương và con người địa phương. Chế độ thì có cùng một ý thứ hệ chi phối + với Tiền mua chuộc. Con người thì có Tiền, có Trợ cấp (giá rẻ mạt) có cả mua chuộc!


Cho nên muốn giữ nước chỉ còn có cách là  phải tiêu diệt Chế độ CSVN là Cộng tác viên là Tay sai của TC,đó là ưu tiên # 1. Kỳ dư  là thứ nếu không nói là Tào lao như bức thơ Ngỏ do anh LXK chủ biên.
Chào Delenda Est Carthago!

HUỲNH VĂN LANG



*****
 NÓI VỚI NHỮNG TRÍ THỨC "MAO TUYÊN DƯƠNG  

Thế giới đang đứng trước một hiểm họa âm mưu thâm độc của khối Tàu cộng. Nổi bật nhất là thủ đoạn cài người vào các quốc gia tây Phương để đồng hóa và phát triển thế hệ con cháu nhà ‘chệt’ trong các chủng tộc khác. Ngoài việc gầy giống nhằm phát triển công dân gốc ‘xì dầu’ ‘hột vịt muối’, chúng còn ồ ạt tung ra nhiều kế hoạch khốn nạn giết người, nhằm hủy diệt môi trường sống khối tự do bằng chất độc hóa học qua thức ăn pha chế sẵn cũng như hàng loạt sản phẩm tiêu dùng rẻ tiền. Đối với các nước Á Châu, nhất là Việt Nam, Tàu cộng công khai đem quân chiếm lãnh thổ từ biển vào đến đất liền bằng vũ lực. Ngoài ra chúng còn âm mưu áp dụng dưới nhiều hình thức Tàu hóa khác như văn hóa, kinh tế và thương mãi. Như vậy, đối với Việt Nam việc chống Tàu cộng phải được đặt lên hàng đầu. Nhưng nếu chúng ta không thông suốt để có những hành động kịp thời và thích ứng mà chỉ bắt chước kêu gọi người dân, nhất là người Việt Quốc Gia Hải Ngoại PHẢI HỢP TÁC HỌĂC VAN XIN CỘNG SẢN ĐỂ CHỐNG TÀU THÌ ĐÚNG LÀ MỘT SAI LẦM TRẦM TRỌNG!

Trước đây, một bà tự xưng là trí thức số một ở hải ngoại (lúc nào cũng ghi thêm các chữ Bác sĩ, Docteur……Ph.D vào trước và sau tên của mình). Bà thường lên các diễn đàn phản ứng, chưởi bới một cách hùng hổ như muốn ăn tươi nuốt sống những tác giả bài viết nào chủ trương ‘Muốn đánh Tàu thì phải đoàn kết diệt tập đoàn việt gian cộng sản trước’. Ngoài những câu chưởi bới thiếu trí thức như đồ súc sanh, bà nầy còn sản xuất thêm một loại nón cối mới là mật vụ Tàu cộng để đội lên đầu bất ai bày tỏ quan niệm chính trị không đúng theo lối suy nghĩ điên khùng của mình. Có lúc còn lớn tiếng nêu đích danh bọn súc sanh hãy tránh ra một bên để bà vác cờ vàng về Việt Nam điều động cộng sản đem quân đi chống Tàu! Nhiều người cho rằng bà nầy đã khùng đến độ hết thuốc chữa, phải nhốt vào nhà thương Biên Hòa. Nhưng may mắn, ngay sau đó nhiều người trưng bằng cớ bằng bác sĩ của bà đã post ra khoe khoang trên diễn đàn là đồ giả!!!

Có lẽ bị lật tẩy một cách thê thảm nên từ ngày đó đến nay không thấy bà nầy hậm hực lên diễn đàn chưởi bới những người chủ trương muốn đánh Tàu thì phải diệt bọn Việt gian cộng sản trước. Tuy vậy tình trạng ngớ ngẩn và đui mù trong mục tiêu tranh đấu tại hải ngoại vẫn còn một số nhỏ, đang ca bài hãy cùng nhau đoàn kết để chống Tàu. Nhóm nầy thường kêu gọi biểu tình trước hang ổ Tàu cộng thay vì nhắm mục tiêu chính là xuống đường chống bọn tội đồ Việt gian bán nước trước cửa hàng buôn lậu và bán visa của Hà Nội tại các thủ đô Tây phương.

Trở lại phần chính của bài viết, như tôi đã trình bày vấn đề nầy từ  lâu trong ‘Trí Thức Với Thời Cuộc’ rằng, bắt tay việt gian cộng sản để chống Tàu thì nhất  định là KHÔNG! Tại sao? Xin đưa ra ba điểm:

1. Thứ nhất, Việt gian cộng sản không bao giờ chống Tàu cộng! Chính già Hồ và tên Phạm Văn Đồng đã ký công hàm dâng vùng đảo Hoàng Sa Trường sa cho quan thầy để đổi lại súng đạn đưa về giết hại dân Miền Nam. Cũng chính bọn đàn em trong đảng đã bán các vùng đất giáp ranh giới cho kẻ thù đổi lấy hai tỷ dollars chia chác cho nhau. Và cũng chính bọn đầu trâu mặt ngựa trong ngụy quyền và bộ chính trị đã trải thảm rước bọn công an và lính chính quy Tàu cộng - qua hình thức nhân công – vào khai thác bauxite và làm việc tại Việt Nam. Do đó, tập đoàn cộng sản Hà Nội phải bám chặt vào chân quan thầy Tàu đỏ của chúng để giữ vững ngai vàng… Vậy đám cò mồi và đón gió chính trị ở hải ngoại kêu gào người Việt Quốc Gia hãy đoàn kết với cộng sản để chống Tàu chỉ là một âm mưu đánh lừa dư luận nhằm chống đở cho tập đoàn cộng sản Hà Nội.

2. Thứ hai, Việt gian cộng sản chưa bao giờ kêu gọi người dân vùng lên chống Tàu cộng, mà chính chúng đã ra lệnh bằng thông cáo ngăn cấm quốc nội biểu tình hầu tránh làm mất lòng quan thầy. Cũng như mới đây, chính tên trung tướng Nguyễn Chí Vịnh cam kết với các tướng Tàu sẽ không còn cảnh dân Việt Nam xuống đường chống Tàu cộng nữa (bài viết của tác giả Nguyễn Đạt Thịnh trên trang web HVHNVTD ngày 08.9.2011). Xin đừng căn cứ vào các trò bịp bợm do các toà đại sứ ở nước ngoài khi chúng chỉ thị du sinh xuống đường vác cờ đỏ và trưng vài biễu ngữ để chụp hình, hành động nầy không ngoài mục đích tuyên truyền trong nước cũng như che mắt thế giới bên ngoài ! Hãy nhìn kỷ những bức hình cũng như các đoạn phim video-youtube về các cuộc biểu tình chống Tàu cộng mới đây trong nước với vài chục đến vài trăm người do cộng sản dựng lên. Đó là trò bịp do chúng dàn cảnh với hai âm mưu : Bịp để trấn an lòng dân trong nước và che mắt thế giới đồng thời nhằm hốt trọn ổ những ai thực tình yêu nước có mặt trong các cuộc xuống đường. Nếu cộng sản thực tâm muốn chống Tàu thì chúng sẽ thả lỏng dễ dàng cho tất cả mọi người tham gia biểu tình, lúc đó không phải lơ thơ vài chục, vài trăm mà chắc chắn con số sẽ lên đến hàng triệu, hàng chục triệu người xuống đường đồng loạt.

3. Thứ ba, tập đoàn cộng sản là một bọn cướp nước, chúng đưa thuyết Max-Lê  từ Liên-sô, Tàu cộng về đàn áp, bóc lột và  vơ vét tài nguyên đất nước từ hàng chục năm không qua một lá phiếu nào của người dân. Năm 1975 xua quân vào chiếm Miền Nam với danh nghĩa giải phóng và thống nhất đất nước, từ đó đến nay tập đoàn cộng sản đã làm gì được cho quốc gia dân tộc hay chỉ là một bọn thẩu khấu cướp của giết người và đem đất đem biển dâng cho Tàu cộng để bảo vệ ngai vàng. Như vậy bọn ù lì nầy không xứng đáng làm con người để đối thoại ngang hàng với chúng ta nữa chứ đừng nói đến việc quý gối dâng kiến nghị van xin… Đối với thành phần trí thức trong nước, vì mạng sống, miếng cơm manh áo và cũng vì sợ sệt, phải ‘nín thở qua sông’ thì chúng ta cũng phải thông cảm phần nào đường lối tranh đấu của họ. Riêng với thành phần trí thức hải ngoại sống tại vùng tự do, tại sao lại phải cúi đầu trước kẻ thù của dân tộc? Trí thức hải ngoại phải đứng thẳng người để vạch mặt chỉ tên và vấn tội những tay cộng sản gộc trong bộ chính trị trung ương đảng để làm gương cho các thành phần khác.

Tóm lại, phải hiểu rằng chương trình xúi giục của đám cò mồi hải ngoại có mục  đích rõ ràng là đánh lạc hướng mục tiêu tranh đấu của người Viêt Quốc gia. Nếu không cẩn thận, hành động của chúng ta sẽ là chiếc dù bao che cho tội bán nước của tâp đoàn cộng sản Hà Nội. Người tỵ nạn chính trị đã tốn bao nhiêu mồ hôi nước mắt để duy trì đường hướng và mục tiêu tranh đấu từ hàng chục năm qua, thì hôm nay, không thể vì lòng yêu nước với một lối nhìn thiển cận để làm tiêu tan sự nghiệp mà chúng ta đã ra sức gầy dựng .

Một vần đề quan trọng cần xin ghi nhận thêm rằng : Một khi khi tập đoàn việt gian sụp đổ thì sẽ không còn bóng dáng bọn Tàu  ô trên đất nước thân yêu của chúng ta nữa. Vậy muốn đánh đuổi giặc Tàu, trước hết phải quét sạch bọn việt gian cộng sản cản đường. Đó là lẽ đương nhiên, vì một khi Việt Nam đã có chính phủ hợp pháp do toàn dân bầu ra, người dân sẽ can đảm và tin tưởng đứng dậy bày tỏ lòng yêu nước, đánh đuổi bọn Tàu ô ra tận biên cương như tiền nhân cha ông chúng ta ngày trước. Quốc tế và những người bạn đồng minh ‘phù thịnh’ của chúng ta, từ Mỹ, Pháp, Anh, Úc, Nhật, Úc, Nga, v..v...cho đến tổ chức Liên Hiệp Quốc, vì quyền lợi riêng tư, chắc chắn họ sẽ đứng về phía chúng ta vì chúng ta là kẻ chiến thắng. Lúc đó tiếng nói của người Việt Quốc Gia sẽ nặng ngàn cân và có ảnh hưởng rất lớn trong vai trò chính trị thế giới nhất là đối với việc đòi lại các vùng đất vùng biển đã bị Tàu cộng xâm chiếm.

Mong rằng trí thức trong nước, muốn đánh đuổi Tàu, thì ngay bây giờ hãy cam đảm ra mặt nhận lấy vai trò trọng đại của mình trước giai đoạn lịch sử nầy, và trí thức hải ngoại, hãy tỉnh ngủ, sáng suốt nhập cuộc đúng với thiên chức của những người có bộ óc hữu ích. Nên nhớ rằng chính cộng sản đã đánh giá thành phần trí thức không bằng cục phân ! Vậy hãy giữ lấy liêm sỉ, đừng bao giờ nhu nhược quỳ gối, cúi mình dâng kiến nghị cho kẻ thù không đội trời chung là tập đoàn Việt gian cộng sản Hà Nội, mà phải đứng thẳng người lên làm một cái gì cho xứng đáng với danh phận của mình để cho hậu thế kính phục. 



ĐINH LÂM THANH 


***



MUỐN CHỐNG TRUNG CỘNG HÃY DẸP VIỆT CỘNG! 



“Hoàng đế Bắc Tống cảm thấy bất lực  trước sự kiến lập triều Lý, bèn vẫn sách phong Lý Công Uẩn làm Quận vương Giao Chỉ và Quân Tiết Độ Sứ Tỉnh Hải.
Triều Lý đến đời Lý Thánh Tông lên ngôi, đổi quốc hiệu thành “Đại Việt Nam”.


Nhưng triều Lý được đằng chân lân đằng đầu, không hề cảm ơn đội đức gì  trước việc nhà Tống thụ phong , trái lại còn vì nhìn thấu được sự yếu ớt của Bắc Tống mà cử đại quân tấn quân xâm phạm vùng biến giới phía Nam của triều Tống. Vị quý tộc hết thời người dân tộc Choang là Nùng Trí Cao đã soái lãnh bách tính chống lại sự xâm lược của Giao Chỉ. Tuy nhiên chính quyền Bắc Tống không hề có sự chi viện gì, Nùng Trí Cao sau đó tự xưng Nhân Huệ hoàng đế, từ liên minh với Tống chuyển sang thành chống Tống, triề Tống cử Địch Thanh đi dẹp Nùng Trí Cao, tàn sát cư dân người Choang.
Vào năm Tống Thần Tông Hy Ninh, Giao Chỉ tập kết 10 vạn đại quân xâm lược Tống, tiến công vây chiếm vùng Quảng Tây ngày nay bằng cả đường thủy lẫn đường bộ. Đường thủy do Thái úy Lý Thường Kiệt thống lĩnh, từ Thủy An (Móng Cáy ngày nay) vượt biển đánh hai châu Khâm, Liêm (nay là Hợp Phố). Đường bộ do Tống Vị soái lĩnh từ trại Cơ Long Phế Thái Bình (nay là Làng Tè), Vĩnh Bình (nay là Ninh Bình) tiến chiếm Châu Ung (nay là Nam Ninh). Tri Châu Tô Giám cầu đầu dân binh giữ thành hơn 40 ngày cuối cùng địch không nổi. Quân Giao Chỉ phá thành xong, đã giết hơn 5,8 vạn cư dân nước ta…”
Trích đoạn trên đây là từ phim “Lý Công Uẩn, Đường Đến Thăng Long” do Việt Nam và Trung Cộng hợp tác quay để trình chiếu trong lễ hội “Nghìn Năm Thăng Long” nhưng đã bị dư luận chống đối dữ dội.
Qua trích đoạn trên, cho thấy lịch sử hào hùng của ông cha ta đời trước. Chính điều đó lại càng chứng tỏ Đảng và Nhà Nước CSVN của thời kỳ gọi là “thời đại Hồ Chí Minh” rõ ràng là những kẻ “đi bằng đấu gối”.
Lúc nào nhà cầm quyền VC cũng khúm núm, quỵ lụy trước bọn giặc dữ TC nhưng lại vô cùng tàn ác với dân chúng của mình.
Điển hình, qua 11 cuộc xuống đường biểu tình  chống lại việc TC cắt cáp tàu Bình Minh 2, Viking 2, cấm ngư dân VN đánh cá, bắt ngư dân VN và đòi tiền chuộc mạng, đảng CSVN, với sự “tiêu lòn” của “bọn trí thức đầu ruồi” ở trong nước đã hung bạo bẽ gảy các cuộc biểu tình, với mục đích dập tắt ngọn lửa đầu tranh của dân tộc để làm vừa lòng bọn quan thầy TC! Ở  hải ngoại, “bọn trí thức đuôi chồn” lại ra “thư ngỏ” xin xỏ hoà hợp hòa giải với nhà cầm quyền VC để gây hỏa mù trong dư luận.
Trong khi đó thì TC lại giở trò “vừa đánh trống, vừa ăn cướp”. Chúng cho báo chí TC viết bài kêu gọi với những lời sắt máu:
“Hãy giết chết bọn giặc VN để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa”.
Trước khi các cuộc biểu tình của dân chúng VN xảy ra, báo chí TC đã lên tiếng trực tiếp hô hào tiêu diệt VN. Tờ Trung Quốc Binh Khí Đại Toàn đã viết như sau:
“Quần đảo Nam Sa (VN gọi Trường Sa) vốn dĩ là chuỗi ngọc trai lấp lánh của đất mẹ TH, nhưng lại bị nhiều kẻ trộm cắp, muốn chiếm đoạt, giành giật, việc này chỉ làm phân tán đi ánh hào quang của chuỗi ngọc trai mà thôi. Trong số các đảo bị cácnước chiếm đoạt, bọn VN kiêu ngạo, vong ơn bội nghĩa đã ráo riết chiếm đóng quần đảo với số lượng nhiều nhất.
Nghĩ lại mà xem, VN vốn xưa là phiên thuộc của nước ta. Năm 1885 theo Thỏa ước Pháp – Thanh, VN đã bị nhượng lại cho Pháp, dần trở thành thuộc địa Pháp. Sau 2 cuộc chiến tranh, TQ đã giúp VN đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, hai miền Nam Bắc đã được thống nhất. Nhưng thật không ngờ bọn VN không những không biết ơn ta mà còn trái lại lấy oán báo ân, tự vỗ ngực xem mình là nước có tiềm lực quân sự lớn thứ ba thế giới, liên tiếp khiêu khích TQ. Mặc dù qua hai baì học, cuộc chiến tranh biên giới Trung – Việt và chiến tranh Bãi Đá Ngầm, nhưng VN vẫn  không nhận ra được bài học , càng ra sức chiếm đoạt nhiều đảo hơn.
Do bọn VN bắt tay thi công trên đảo sớm nên có điều kiện chiếm cứ thuận lợi hơn, hơn nữa lại có nguồn nước ngọt nên bọn chúng có thể thi công trên đảo, xây dựng sân bay, kiến tạo hạ tầng kỹt huật thông tin di động, di dân ra đảo, tổ chức du lịch quốc tế, thiết lập phân chia ranh giới hành chánh cấp huyện hòng vĩnh cửu hoá, thực tế hoá, quốc tế hoá, hợp pháp hoá hành vi bá chiếm. Tiếp theo đó các nước khác cũng lần lượt theo đuôi VN, như Philppine, Malaysia, Indonesia, Bruney xâu xé vùng biển Nam Sa của TQ, xây dựng căn cứ quân sự, khoan dầu mỏ. Tất cả bọn chúng coi TQ không ra gì.”
Đúng là miệng lưỡi của kẻ vừa ăn cướp, vừa la làng!
Với lời lẽ đầy thù hận, báo Binh Khí Đại Toàn hô hào tiêu diệt CSVN tận gốc rễ:
“Chúng ta phải thấy một thực tế rằng, mức độ xâm phạm của các nước có liên quan đối với sự lợi ích của nước ta là khác nhau, do điều kiện môi trường và địa vị quốc tế khác nhau đối với hoạt động quân sự của nước ta, vì vậy chúng ta cần phải có những cách đối xử khác nhau, giải quyết tốt những mâu thuẫn chủ yếu, thúc đẩy giải quyết những mâu thuẫn thứ yếu.Không còn nghi ngờ gì nữa, mục tiêu tấn công chủ yếu của chúng ta phải là VN.
Chúng ta có đầy đủ lý do để tấn công VN; Việt Nam cũng có đầy đủ điều kiện trở thành vật tế cờ của trận chiến thu hồi Nam Sa.”

Tiếp theo, tờ báo của “Anh Cả Đỏ TC”  kể tội “Đàn Em Đỏ VN ” như sau:
“1/ VN xâm chiếm nhiều đảo nhất, có nguy hại lớn nhất, hơn nữa có thái độ kiêu ngạo nhất, ảnh hưởng xấu nhất. Trước tiên ta thu hồi lại những đảo mà VN chiếm đóng là có thể thu hồi  lại hầu hết các đảo bị chiếm đóng, khống chế được toàn bộ. Lấy gương xua đuổi thành công quân VN để răn đe các nước khác buộc chúng phải rút lui.
2/Trước đây VN đã nhất nhất thừa nhận Tây Sa và Nam Sa thuộc chủ quyền TQ. Những lần phát biểu của các quan chức, bản đồ quân sự, tài liệu địa lý đều là những bằng cớ xác thực, cho đến sau thống nhất đất nước thì VN có những thái độ bất thường, có yêu cầu về lãnh thổ lãnh hải đối với Tây Sa và Nam Sa. VN ngấm ngầm thọc lưng TQ, tiền hậu bất nhất, đã làm mất đi cái đạo nghĩa cơ bản, khiến quân dội chúng ta phải ra tay, với lý do đó để lấy lại những vùng biển đảo đã mất”.
Chưa hết! “Anh Cả Đỏ phương Bắc” còn hung hăng đòi “giết chết bọn giặc VN để làm lễ tế cờ” cho trận hải chiến Nam Sa, như sau:
“Với ý đồ lấy phương thức hoà bình để giải quyết tranh chấp Nam Sa thì cuối cùng Nam Sa quần đảo ắt bị chia cắt. Tất cả những đảo bị chiếm giữ là do ban đầu lực lượng của nước ta không đủ, khi có đủ năng lực thì không cần phải do dự mà không quyết định, việc sử dụng vũ lực chắc chắn sẽ dẫn đến sự phản đối. Cùng năm đó, Anh ra sức tranh đoạt đảo Falklands cũng bị chỉ trích nhiều, nhưng khi đảo Falklands đã nằm trong tay nước Anh, ai có thể làm gì họ. Nếu VN nguyện làm đầu têu thì phải đánh cho chúng không kịp trở tay.
Hãy giết chết bọn giặc VN để làm vật tế cờ cho trận chiến Nam Sa”.
(Bản dịch từ nguyên bản Hán văn của GSVũ Cao Quận)
Với lời lẽ đầy thù hận, sắt máu trong bài báo cho thấy TC không chọn giải pháp giải quyết theo “phương thức hòa bình để giải quyết vụ tranh chấp Nam Sa”.
Trong khi đó thì Đảng và Nhà Nước CSVN lúc nào cũng đối xử với “Thiên triều” theo cái kiểu “gọi dạ, bảo vâng” một cách hết sức đốn mạt. Tên Tướng Nguyễn Chí Vịnh đã cúc cung vâng lệnh Thiên triều bằng những lời tuyên bố bằng mọi cách sẽ dẹp biểu tình để làm để là vừa lòng Hoàng đế Đại Hán tân thời.
Chưa bao giờ đất nước chúng ta có nguy cơ diệt vong như bây giờ.
*
Thái độ lập lờ, nước đôi cho thấy Đảng và Nhà Nước CSVN là những kẻ bán nước. Và bọn thực dân mới Trung Cộng là bọn giặc xâm lăng với sự thông đồng của bọn CSVN.
Hỡi toàn dân VN hãy đứng lên giật sập chế độ CSVN là bọn buôn dân, bán nước, để chống lại đại họa diệt vong mà bọn bá quyền TC và bọn tay sai VC đang cấu kết để biến VN thành thuộc địa như Tây Tạng, Nội Mông…


LÃO MÓC 




*****



MỤC ĐÍCH CỦA NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC KHÔNG CHỈ LÀ CHỐNG TÀU CỘNG ĐỂ BẢO VỆ HOÀNG SA, TRƯỜNG SA MÀ PHẢI TRANH ĐẤU ĐỂ GIẢI TRỪ CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN VIỆT NAM

Cho đến bây giờ, tôi vẫn đọc thấy trên các diễn đàn những lá thư ngỏ  của cá nhân, của những tổ chức chính trị gửi cho chính quyền cộng sản Việt Nam để trình bày để van xin bọn Việt gian cộng sản bán nước động tâm động não mà thay đổi vì theo họ đất nước đã đứng bên bờ vực của nạn diệt vong.

Khi đọc những ngôn từ kính thưa, kính gửi với những cơ quan cầm quyền cộng sản như Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản VN rồi đọc những người ký tên bên dưới thì không sao không cảm thấy thất vọng. Tại sao đến giờ phút này, những tổ chức này vẫn không nhìn ra rằng bọn Việt gian cộng sản bán nước không có cùng một mối lo của 85 triệu người Việt Nam trong nước cũng như 3 triệu người Việt hải ngoại. Những danh từ Độc lập, tự chủ, toàn vẹn lãnh thổ, tự do tín ngưỡng bị xâm phạm nghiêm trọng không hề là một mối lo của chúng. Từ khi chiếm được chính quyền, mối bận tâm duy nhất cuả đảng cộng sản Việt Nam là củng cố quyền hành, tham nhũng tối đa. Chúng coi sau công trận thống nhất đất nước, người cuả đảng cộng sản Việt Nam sẽ được miễn nhiệm mọi tội ác kể cả tội giết người.

Nhìn về đất nước Việt Nam ngày nay, chúng ta sẽ thấy rằng bọn lãnh đạo cộng sản đã hành xử như một triều đình vương giả của những thế kỷ trước với bổng lộc được phân phát cho quần thần trung tín ngày xưa hay bọn đảng viên cộng sản ngày nay. Sống trong cùng một quốc gia, nhưng chúng làm thành những pháo đài kiên cố vây quanh đời sống xa hoa của bọn cầm quyền như Cấm Tử Thành của Nhà Thanh và những dân trở thành những con sâu, con kiến không đáng kể. Chúng không hề ý thức được rằng chế độ bạo tàn nào cũng có ngày phải cáo chung và hầu như chúng sẽ không còn lối thoát ra khỏi cái vũng lầy phồn hoa giả tạo mà chúng đã lập ra.

Không khó khăn gì mà không nhận ra được sự hiện diện của sự thống trị  lan như vết dầu của bọn Tàu cộng trên toàn đất nước Việt Nam. Những công trình kiến thiết quan trọng của Việt Nam đều lọt vào tay bọn thầu Tàu cộng và do đó, chúng ngang nhiên mang công nhân vào Việt Nam mà không cần giấy tờ chứng minh hay hộ chiếu. Cho đến nay, không ai biết được bọn Tàu cộng đã mang sang Việt Nam bao nhiêu vạn quân Tàu trong khi người dân Việt Nam không có công ăn việc làm, nông dân không còn đất để cày bừa sau khi bọn ác ôn, côn đồ Việt cộng cướp đất của họ một cách ngang nhiên giữa ban ngày cho những dự án chỉ có tên không có việc của chúng. Khát vọng trở thành siêu cường cuả bọn Tàu cộng không còn phải dấu diếm sau khi chúng trở thành chủ nợ lớn nhất của thế giới. Sau hai thập niên bóc lột công nhân nước họ và sản xuất bất chấp sự độc hại miễn là thu lợi, sự cường thịnh về kinh tế cuả Tàu cộng đã gặp phải sự tẩy chay và khinh miệt của cộng đồng thế giới. Dưới chiêu bài phát triển kinh tế, lợi dụng sự nghèo đói của các quốc gia kém mở mang, bọn Tàu cộng xâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục bằng một chủ nghĩa thực dân tàn bạo hơn chính sách thực dân của người da trắng đã chấm dứt từ sau thế chiến thứ II.

Những năm gần đây, những hành động độc chiếm Biển Đông của bọn Tàu cộng, bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ  quyền quốc gia của Việt Nam và của các quốc gia giáp Biển Đông, tự ý vạch ra cái gọi là đường chữ lưỡi bò 9 đoạn, tuyên bố 80% diện tích Biển Đông thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Tàu cộng cho chúng ta thấy một thái độ hống hách độc tôn của phường mục hạ vô nhân.

Hiện nay Trung Cộng đã chiếm các  đảo ở Hoàng Sa, 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa, ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, đòi hủy bỏ các hợp đồng của các công ty dầu khí nước ngoài muốn hợp tác với Việt Nam, cho các tàu chiến đi tuần tra trong hải phận Việt Nam như Việt Nam là một thuộc địa của Tàu cộng. Chính sách của Tàu cộng đối với Việt Nam trong thập niên qua là biến Việt Nam thành một quốc gia suy yếu, kinh tế lệ thuộc hoàn toàn vào Tàu cộng với sự tiếp tay đắc lực của bọn lãnh tụ cộng sản Hà Nội. Ai mà nước nghèo, dân không có việc làm là nhà nước chỉ làm được mỗi một việc là nhập cảng hàng sản xuất từ Hoa Lục cho mọi nhu cầu trong nước, 1/5 đồ tiêu dùng của dân Việt Nam là từ Tàu cộng.

Theo báo trong nước, kim ngạch nhập cảng từ Tàu cộng của Việt Nam năm 2010 tăng gấp 3 lần năm 2006 bằng tổng số tiền Việt Nam xuất cảng ra toàn thế giới. 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp của Việt Nam phải nhập cảng từ Hoa Lục, nhân công Việt Nam chỉ được xử dụng với một giá rẻ mạt. 90% các công trình kinh tế quan trọng để phát triển kinh tế như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan… đều rơi vào tay các nhà thầu Tàu cộng. Trong khi đó bọn Tàu cộng sang nước ta chủ yếu là vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản không kể gì đến việc tàn phá môi trường Việt Nam. Chúng thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới để trồng cần sa, ma túy mà Việt cộng không được quyền kiểm soát hoạt động của chúng – thuê đất để làm gì? Việc Tàu cộng xây nhiều đập trên thượng nguồn sông Hồng Hà và nhất là sông MeKong làm tiêu diệt nguồn hải sản và tàn phá môi sinh của các quốc gia hạ nguồn trong đó có Việt Nam đang là những tiếng kêu trong vô vọng, không lọt được vào tai của bọn Tàu cộng đang say máu khát vọng làm bá chủ thế giới.

Người dân trong nước đã nhìn thấy nạn diệt vong do Tàu cộng dành cho nước Việt đã gần kề nên từ hai tháng nay, những cuộc biểu tình liên tục đã xảy ra tại nhiều thành phố cuả Việt Nam và bọn công an Hà Nội đã đàn áp thẳng tay người dân biểu tình. Tóm lại, thay vì dựa vào sức mạnh của nhân dân để chống giặc thì bọn Viêt gian cộng sản chỉ thậm thụt, không dám lên tiếng kêu gọi toàn dân tranh đấu cho chính nghĩa của Việt Nam. Ngược lại, bọn lãnh tụ Việt cộng còn tuyên bố chung với Tàu cộng những thông cáo đại ý quan hệ Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt – Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực.

Hiện nay, Hoa Kỳ không phải là  quốc gia duy nhất gặp khó khăn vì khủng khoảng kinh tế. Hoa Kỳ là con nợ lớn nhất của Tàu cộng nhưng cũng lại là khách hàng lớn nhất cuả Tàu cộng. Khi người dân Hoa Kỳ ý thức được việc tiêu thụ hàng rẻ Made In China thực sự đã làm hại cho công ăn việc làm và nhất là sự sản xuất bừa bãi, vô lương tâm của Tàu cộng nhằm thu hoạch nhiều thì họ sẽ tẩy chay hàng hoá của Tàu cộng như sự việc đang xảy ra tại nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay. Đó là chưa kể, khi kinh tế yếu kém sẽ giảm sức tiêu thụ và chắc chắn là Tàu cộng khó lòng tránh được sự khủng khoảng về kinh tế trong một tương lai gần.

Các kinh tế gia thế giới đã dự đoán là Việt Nam sẽ là quốc gia đầu tiên bị hậu quả trầm trọng khi Tàu cộng gặp khủng khoảng. Điều này đã xảy ra vì nền kinh tế Việt Nam yếu kém, sản phẩm của Việt Nam thường kém chất lượng, năng xuất sản xuất kém hiệu quả do nhân công thiếu khả năng tay nghề, thiếu tổ chức, Việt cộng thiếu hiểu biết lại tham ô nên việc khai thác đất đai, tài nguyên đã cạn kiệt, môi trường thiên nhiên bị tàn phá nghiêm trọng. Nạn lạm phát tăng phi mã khiến người dân vô cùng khốn khổ. Khoảng cách giàu nghèo giữa bọn cán bộ cộng sản có quyền và dân nghèo quá xa gây ra sự bất an của xã hội. Công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, khiến nhân phẩm của con người bị vùi sâu xuống hố nhơ, không biết phải mất bao nhiêu thế hệ mới hy vọng phục hồi.

Với một đảng cầm quyền tham ô và bất lực như đảng CSVN ngày nay, tôi không nghĩ rằng những lời kêu gọi sẽ có kết quả dù nhỏ nhoi. Xin và Hy vọng bọn Việt cộng sẽ đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, dẹp bỏ tệ nạn tham nhũng để cứu nước thì quả thật chỉ là mơ những điều không tưởng. Do đó, để cứu nước, chúng ta chắc chắn cần đến những hành động quyết liệt hơn là những bức thư ngỏ và những lời Xin Gửi lên những cái cơ cấu không còn một chút giá trị về uy tín và khả năng để thay đổi vận mệnh đất nước như cái Quốc Hội và cái bộ Chính Trị đang núp trong những hàng rào bằng sắt để được yên thân như hiện nay.



Ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã giải mật (declassify) 7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan trong cuộc chiến Việt Nam mà báo chí Hoa Kỳ vẫn thường đặt tên cho là Pentagon Papers vì đó là những bí mật quốc phòng cuả Hoa Kỳ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Sau đó, National Security Archive ở George Washington University cũng đưa ra thêm ra 28,000 trang hồ sơ, trong đó đầy đủ chi tiết về những mẫu đối thoại giữa hai Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Tàu cộng Chu Ân Lai cho thấy một sự thật phũ phàng là Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan cho Trung Cộng để Hoa Kỳ mở cửa giao thương với Hoa Lục.

Mỗi lần Hoa Kỳ giải mã thêm tài liệu mật về chiến tranh Việt Nam là một lần chúng ta, những công dân cuả VNCH có thể  hãnh diện vì chúng ta không hề bại trận như  bọn Việt cộng thường huênh hoang và khoác lác về  thành tích thống nhất đất nước cuả chúng. Những tài liệu được giải mã lại lột mặt nạ của những tên tay sai cuả tài phiệt Hoa Kỳ như Henry Kissinger. Trong cuốn hồi ký xuất bản năm 1979 (The Memoirs) Henry Kissinger đã viết sai sự thật, nếu so sánh với những chi tiết trong tài liệu vừa được giải mã. Tài liệu lịch sử của Văn Khố Hoa Kỳ cho thấy chính sách Ngoại Giao Hoa Kỳ luôn luôn đặt quyền lợi đất nước Mỹ lên trên mà không hề có một do dự hay phân vân về số phận của những quốc gia được gọi là đồng minh. Nhưng sự phản bội những đồng minh của chính phủ Hoa Kỳ có thể xem như là chuyện nhỏ so với điều dấu diếm và lừa gạt dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ. Những sử gia Hoa Kỳ như David McCullough đã đặt vấn đề này trong chương trình GPS với bình luận gia Fareed Zakaria vào Chủ Nhật tuần qua.

Nhớ lại, miền Nam Việt Nam mất sau khi bán đảo Đài Loan của Tưởng Giới Thạch bị tước đoạt quyền tự trị của một quốc gia theo quốc tế công pháp khỏi tổ chức Liên Hiệp Quốc và Hoa Kỳ đã đưa Trung Cộng vào vị trí này. Những toà đại sứ của Đài Loan một sớm, một chiều bị mất đi quyền miễn nhiễm của ngoại giao đoàn. Từ thập niên 70, Hoa Kỳ chỉ công nhận có một nước Trung Hoa của đảng cộng sản Trung Hoa và xem Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh bang của Trung Hoa (?) trên nguyên tắc mặc dù Đài Loan có một chính quyền dân chủ do toàn dân của đảo quốc này bầu ra. Chỉ tội nghiệp cho những quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ vì chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không có bạn, không có thù, chỉ có quyền lợi của quốc gia là tối thượng. Sự chậm trễ trong việc thống nhất Đài Loan với Hoa Lục một cách danh chính ngôn thuận là do nền kinh tế hùng mạnh của quốc gia này. Năm 2010, theo IMF, tổng sản lượng QG GDP của Đài Loan trên đầu người là US$34700, không những vượt qua Phần lan, Pháp, Nhật và nhất là Hoa Kỳ. Đầu năm 2010, không quan tâm đến sự chống đối của Tàu cộng, Hoa Kỳ đã bán cho Đài Loan 6.4 tỷ đô la tiền vũ khí gồm nhiều phản lực cơ chiến đấu và hoả tiễn.

Một dữ kiện nổi bật trong tài liệu vừa được Văn Khố Hoa Kỳ giải mật là Trung Cộng đặt điều kiện với Hoa Kỳ là  phải giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với chiến tranh Việt Nam. Trong 40 năm qua, Hoa Kỳ đã bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng để mở cửa thị trường Hoa Lục và nhất là để có Tàu cộng là đồng minh trong việc đối phó với Nga Sô. Trong 7000 trang tài liệu mật này cho thấy Việt cộng khi ấy đã chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 dội bom ở Hà Nội. Nhưng ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon đã dùng dữ kiện này như một con bài, vất đi chiến thắng trong tầm tay để đổi lấy những quyền lợi họ nhìn thấy cho nước Mỹ! Tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu đơn độc vì Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó dù nhận đủ tín hiệu xin tiếp cứu nhưng vẫn làm ngơ.

Cũng có người đặt vấn đề là tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ lại lưu trữ và tiết lộ những bí mật này? Dù là 40, 50 năm sau thì những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ cũng sẽ mất tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra, người Mỹ đã nghiên cứu rất kỹ về thời gian để giải mã những tài liệu mật. Thường thì điều này chỉ xảy ra khi họ biết rằng những vấn đề này chỉ có tính cách sử liệu và không còn ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao hay quyền lợi của Hoa Kỳ nữa. Ví dụ, trường hợp Việt Nam Cộng Hoà. Ngày nay khi đọc được những bí mật của chính sách Hoa Kỳ đưa đến việc Việt Nam Cộng Hoà mất miền Nam thì chỉ làm cho người Việt không cộng sản đau lòng nhưng thế giới ngày nay đã đổi thay, nước Việt Nam ngày nay không còn là một thành trì của xung đốt ý thức hệ mà chỉ là một trong nhiều quốc gia trên thế giới mà chế độ độc tài phi lý của những lãnh tụ cầm quyền đang đưa đất nước họ vào chỗ diệt vong. Nhìn thảm trạng nạn đói châu Phi ngày nay, chúng ta sẽ hiểu rằng vì sao chính sách ngoại giao cuả Hoa Kỳ về Việt Nam chưa thay đổi vì Hoa Kỳ đang phải đối diện quá nhiều vấn đề quốc nội, Việt Nam chưa phải là một điểm nóng cần quan tâm.

Cách đây 40 năm, đã có người tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, The Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác. Ông Daniel Ellsberg là một chuyên viên phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội Hoa Kỳ, gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago. Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng khi biến cố chiến hạm USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin). Với lý do Bắc Việt tấn công Khu Trục Hạm USS Maddox, Hoa Kỳ liền tấn công Bắc Việt. Tài liệu đã giải mã chứng minh chính Hoa Kỳ đã dàn dựng vụ này. Năm 1969, Daniel Ellsberg gia nhập nhóm phản chiến và bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers.

Ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang Pentagon Papers. Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn yêu cầu Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật Quốc Phòng này. Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg bị  FBI truy tố về tội vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Khi bạch hóa hồ sơ được gọi là Pentagon Papers này thì một hình thức nào đó, những tài liệu này không còn gì là bí mật ngoài việc chính phủ Hoa Kỳ cũng muốn xác nhận với dân chúng Hoa Kỳ và thế giới là chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ là quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng.

Kể từ năm 1972, chính phủ  Hoa Kỳ đã giúp cho Hoa Lục trở thành một cường quốc về kinh tế mà không đặt vấn đề nhân quyền, tự do và dân chủ với đảng cộng sản Tàu khi bang giao như các vị tiền nhân lập ra Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ này đã đặt ra. Trở lại vấn đề Biển Đông, Có chắc gì lần này, Hoa Kỳ và Trung Cộng đã không có một thỏa thuận ngầm gì trong việc hãy chia đôi Thái Bình Dương khi trong tháng 6/2011 Tàu cộng bỏ 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ. Đừng đặt vấn đề bảo vệ chủ quyền của Việt Nam chỉ trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khi mà nguy cơ mất nước của Việt Nam gần kề với một bọn lãnh tụ cộng sản ngu dốt, lòng tham không đáy ở Hà Nội và sự ngu ngơ ngờ nghệch chờ người Mỹ bật đèn xanh mới hành động của người Việt hải ngoại.



HOÀNG DƯỢC THẢO

***** 



MUỐN CHỐNG NGOẠI XÂM HÃY DẸP CSVN VÀ XÂY DỰNG LẠI CHÍNH NGHĨA DÂN TỘC



TÂM THƯ 



•Kính Gửi Đồng Bào, Đồng Hương Việt Nam Trong và Ngoài Nước;
Qua Thiện Tâm Tôn Kính của Quý Trưởng Thượng Dân Tộc, Tôn Giáo, Cộng Đồng, Trí Thức, Chuyên Gia, Doanh Nghiệp;

Qua Công Tâm của các Nhà Tranh Đấu Cho Độc Lập, Quyền Lợi, Tự Do, An Sinh, Hạnh Phúc và Tiến Bộ  của Dân Tộc Việt Nam, nhất là Quý Vị trong Lực Lượng Quốc Gia Chân Chính và Thành Phần Ly Khai của Lực Lượng Cộng Sản và Ngoại Vi;
Qua Kinh Nghiệm Sống và Tri Thức của Toàn Thể Đồng Bào đã chịu đựng mọi thử thách văn hoá, xã hội, lịch sử trong hơn 70 năm qua;

Qua Tinh Thần Hào Kiệt, Lý Tưởng Anh Minh, Sáng Tạo của Thế Hệ Trẻ Việt Nam Trong và Ngoài Nước;

Qua sự Công Bình và Công Lý Toàn Cầu của các Tổ Chức và Chính Quyền Quốc Tế Bảo Trọng Nhân Quyền và Vận Mệnh Sinh Tồn của Nhân Loại, Trong đó có Dân Tộc Việt Nam.

XÉT RẰNG:

Nạn ngoại xâm bởi Đế quốc Hán Cộng là một thực trạng lịch sử, gần đây thêm sôi động bởi những hành vi hống hách của bá quyền Bắc Kinh nhằm thôn tính Biển Đông và toàn bộ Khu Đông Nam Á, trong đó có chư hầu ý thức hệ là CSVN;

Nạn ngoại xâm bởi Đế Quốc Hán Cộng chỉ  là hậu quả thanh toán nợ nần quân bị chiến lược giữa những chế độ chuyên trị cướp đất, cướp dân, giữa những tên đầu nậu quốc tế buôn bán súng đạn, ranh giới, đảo rừng, và quyền thế đảng phiệt;

Nạn Đế quốc Hán Cộng, dù trầm trọng tới mấy, vẫn chỉ là “hiện tượng” hay phản xạ tàn phá ngoài da cơ thể Tổ Quốc Việt Nam. Căn bệnh thật tại nội tạng là CSVN, một thứ ung thư mà Dân Tộc chúng ta cần phải loại trừ bằng đủ mọi cách, vừa điều trị vừa đề phòng.

Nhà cầm quyền Hà Nội vốn không có chính danh vì nhiều lần cướp đoạt chính quyền bằng bạo lực, lừa lọc, phản bội minh ước đã cam kết và nhất là không hề có chính nghĩa vì luôn luôn chủ mưu bán nước, hại dân bằng mọi thủ đoạn tiêu diệt, tù đày, cướp bóc tàn ác, nên không có tư cách, khả năng và uy tín cần thiết để bảo vệ nền độc lập căn bản cũa dân tộc và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc;

NAY TRÂN TRỌNG ĐỀ NGHỊ TOÀN DÂN VIỆT NAM

Với 90 triệu người trong và ngoài nước, sau hơn 70 năm bị sát hại, hành hạ, ngược đãi, bị  thiệt thòi, tha hoá, lý tán, chậm tiến, suy nhược

Kết lực đảm nhận trách nhiệm lịch sử Tổng Khởi Nghĩa giải thể chế độ CSVN, lỗi thời, bất tài tham nhũng, bán nước hại dân;

Và lập tức khai sáng, tạo dựng lại Chính Nghĩa Dân Tộc trên nền tảng Dân chủ Tự do Tiến Bộ  thực sự của dân, bởi dân, vì dân, trên căn bản [a] pháp trị hiến định đa nguyên, cân bằng; [b] quản trị quốc gia kết sinh thế lực chính đáng và trách nhiệm công minh; [c] song song với một hệ thống Xã Hội Dân Sự và Đảng Phái chân chính; [d] xuất phát từ một dân tộc có nguồn gốc văn hoá đạo đức, có giáo dục nhân bản, có thực lực, quyền lợi và trách nhiệm trong một xã hội cầu tiến, công bình, ôn hoà.

Vậy, muốn chống ngoại xâm hãy dẹp tai ương CSVN và  xây dựng lại chính danh và chính thống dân tộc:

QUA TRỌNG TRÁCH KHAI TRIỂN VÀ THỰC THI:

I. Nền Pháp trị Hiến định Đa nguyên, Cân bằng

1. Hiến pháp mà Việt Nam cần lựa chọn phải là  một hệ thống quy ước thành văn, dưới hình thức luật căn bản của lãnh thổ, xác định rõ thế  lực kết sinh của ba thành tố: chính quyền, xã hội, và người dân.

[a] Trong khu vực chính quyền, hiến pháp bao gồm những nguyên tắc căn bản thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hành và trách nhiệm của một chính quyền đa nguyên, đa nhiệm, có trọng trách bảo vệ an ninh xứ sở, phát triển đất nước thịnh vượng, đồng thời bảo trọng quyền lợi, an sinh, phẩm giá của mọi người dân v.v.

[b] Trong khu vực xã hội, hiến pháp bao gồm những “nguyên tắc tổ chức” cộng đồng, hiệp hội, đảng phái; định hướng kinh tế tư hữu; giáo dục phổ thông, cấp tiến, nhân bản; tín ngưỡng độc lập v.v.

[c] Trong khu vực cá nhân của người dân, hiến pháp phải hạn chế mọi áp lực của chính quyền và xã hội để “bảo  đảm và thực thi” những quyền bẩm sinh [1] bất khả xâm phạm, bất khả khước từ của người dân, mà quan trọng nhất, gồm có quyền sinh sống [xứng đáng nhân bản, an ninh, hạnh phúc], quyền tự do [tư tưởng, sáng tạo, ngôn luận, hội họp, tín ngưỡng, thờ phụng, khước từ] quyền tư hữu [vật chất và tinh thân].

Như vậy, với tư cách một khế ước xã hội,[2] Hiến pháp xác định liên hệ thích hợp, thích đáng giữa cá nhân, xã  hội và chính quyền. Cá nhân hội nhập xã  hội dân sự và xã hội chính trị trên căn bản thuận nhận song phương [3] trong tinh thần hỗ tương, bảo vệ lẫn nhau, với những quyền hành và trách nhiện tương xứng.

Luật lệ và trật tự  chính trị không có tính cách tự nhiên, bất dịch, và chỉ có tính cách khả chấp, khi có chính nghĩa, khi thuận hoà với ước vọng chung [4] của toàn dân có chủ quyền tối hậu – gây áp lực công dân, thuận hay chống, trong việc thi hành, bổ túc, điều chính, thay đổi, bãi bỏ một khế ước xã hội, một thể chế chính trị.

2. Nguyên tắc cai trị mà theo đó mọi người dân, tổ chức, pháp thể, tư cũng như công, kể cả Chính quyền, Nhà Nước đều phải tôn trọng, thi hành một cách công minh, công bằng là nguyên tắc pháp trị [5], hay thượng tôn luật pháp [không ai đứng trên pháp luật] v.v. phải được suy diễn từ những quy định gốc sẵn có trong hiến pháp. Mọi đạo luật, thủ tục ứng dụng luật pháp, hay cả điều khoản trong hiến pháp nếu soạn thảo “ngoài phạm vi”[6] hay ngược lại một trong ba khu vực quyền hành và trách nhiệm quy định trong hiến pháp đều coi là vi hiến và vô hiệu.

3. Trong trường hợp đặc biệt cần bổ túc, cập nhật, điều chỉnh, sửa sai, hiến pháp có thể được tu chính, hoặc thay đổi toàn diện, bằng những thủ tục trọng thể, kỹ lưỡng. Hiến Pháp mới cần đem trưng cầu dân ý hay được soạn thảo bởi một quốc hội lập hiến, do dân cử.

II. Quản trị quốc gia trên bình diện kết sinh thế lực chính đáng và trách nhiệm công minh

1. Quyền hành quản trị đất nước không nên tập trung trong tay một cá nhân hay kiêm nhiệm bởi một đảng phiệt chuyên chính, mà cần phân công phân nhiệm tới thành phần dân cử, công chức, chuyên viên, cán sự đa nguyên, đa dạng.

2. Dù là đại nghị hay tổng thống chế, căn bản vẫn là nhà cầm quyền phải được dân bầu từ gốc. Riêng, với thể  chế tổng thống, chính phủ trung ương, ở  cấp lãnh đạo hay chuyên ngành, phải được dân lựa chọn theo quyền đầu phiếu mở rộng và thủ  tục bầu cử minh bạch. Chính quyền trung ương thường được phân nhiệm thành ba ngành chuyên biệt: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Trong tương lai, tại Việt Nam, có nên thêm ngành giám sát/công tố để phanh phui và truy tố cấp thời mọi vi phạm, lạm quyền, sai quấy, tham nhũng trong chính quyền và các khu vực giáo dục, quản trị, doanh nghiệp, vụ lợi hay bất vụ lợi?

Trên căn bản phân ngành độc lập, với quyền hạn và trách nhiệm đặc định, chuyên biệt, tuy liên kết phục vụ quyền lợi chung của  đất nước, dân tộc, nhưng vẫn ở thế liên kiểm, nên chính phủ có cơ đồ duy trì mức độ cai trị quân bình, không lạm quyền, không độc đoán, không suy thoái tập thể.

3. Thành phần công chức [7] hay công vụ [8], muốn hội nhập công minh guồng máy quản trị  đất nước, phải được tuyển chọn và tiến cử trên căn bản chuyên cần, tài đức [9] — hơn là do bè phái hay màu cờ sắc áo đảng phiệt [10] — để một mặt tăng trưởng hiệu lực công vụ, mặt khác, giảm thiểu nạn độc tải, lạm quyền, tham nhũng.

4. Thành phần công chức, đang thi hành công vụ, không được “làm chính trị”, để giữ thái độ trung kiên phục vụ người dân, mà không bị áp lực đảng phái chi phối. Muốn ứng cử, tham gia phụ giúp bầu cử, người công chức phải tạm ngưng công vụ trong chính quyền hay nhiệm sở, để tránh tình trạng xung đột quyền lợi công vụ và chính trị.[11]

5. Công chức, giáo chức, chuyên viên, cán sự, thuộc thành phần chuyên cần, trọng yếu trong guồng máy hành chính, giáo dục, quản trị, công cũng như  tư, cần phải được đối đãi, tiến thưởng xứng đáng với nghiệp vụ giao phó. Như thế  sẽ giảm thiểu quốc nạn tham nhũng, làm ăn bất hợp pháp, chạy chọt, phí phạm tài sản và nhân lực.

III. Tổ chức Xã Hội Dân Sự: Nẩy Mầm Dân Chủ từ Hạ tầng Cơ sở

Trong hệ thống dân chủ chân chính nhằm bảo vệ và phát huy quyền lợi chung của toàn dân, Việt Nam cần thực thi nhiệm vụ xã hội dân sự đặt trọng tâm trên quan hệ hỗ tương, hỗ trợ để thực hiện lợi ích chung, hữu hiệu, mở rộng.

Thế nào là Xã Hội Dân Sự [XHDS]?

Xã Hội Dân Sự [XHDS][12] tự  nguyện đoàn ngũ hoá dưới hình thức các tổ  chức bất vụ lợi,[13] độc lập, hoặc tổ chức phi chính phủ,[14] để hoạt động trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, từ thiện, giáo dục, tôn giáo, nghề nghiệp, điều nghiên, văn học, nghệ thuật, các phong trào dân vận bảo trọng nhân quyền v.v.

Sinh hoạt hợp pháp của tổ chức XHDS cũng cho phép lượng giá hệ thống pháp trị hiện hữu là dân chủ cởi mở nếu tôn trọng hoạt động chính thống và hợp hiến của XHDS, còn không sẽ phải coi là chuyên chế, phản dân chủ, bất hợp hiến, khi cấm đoán, kiềm chế các tổ chức tập thể này. XHDS phải được minh thị tôn trọng như một nhu cầu chính đáng của dân, do dân, vì dân. Mọi hình thức tổ chức XHDS khác, “phản dân sự”, đều có tính cách trá hình, lươn lẹo, vừa phản động ngược chiều, vừa vô hiệu, phí phạm nhân lực, tài lực, vì không gây được hào khí chí nguyện độc lập, tự kiểm, tự duy.

1. Khu vực XHDS khác với khu vực cá  nhân, gia đình, nhóm phiệt khi những thành phần này hành động vì quyền lợi, mục tiêu riêng rẽ của cá  nhân, gia đình, bè nhóm, nhằm bảo vệ lợi  ích thu hẹp của họ. Trái lại, các tổ chức thuộc lĩnh vực XHDS hoạt động theo tiêu chuẩn “tập thể mở rộng” như thành lập hội văn học, hiệp hội từ thiện, cơ sở bảo vệ nhân quyền.

Kể từ những năm 1990, với sự hình thành của các Phong Trào Tân Xã Hội, [15] sinh hoạt XHDS đã đột phát mạnh để trở thành khối thế lực quản trị thứ ba [16], giữa chính phủ và doanh nghiệp tư bản [kinh tế thị trường], nhằm thực thi chiến lược xây dựng trật tự xã hội toàn cầu, trong một không gian nhân bản không ranh giới. Sinh hoạt chính của XHDS đã chuyển hướng, đặt trọng tâm vào các chương trình kết sinh thuần xây dựng của XHDS. Mức độ tranh đấu chính trị còn lại nay tụ tập thành Xã Hội Chính Trị, [17] gần gũi với các tổ chức tranh đấu về ý thức hệ, chống đối các tai ương cai trị chuyên chế, các bạo hành công lực, công quyền.

Nhưng tại các quốc gia mà mực độ tự do công dân còn quá thấp, với cơ cấu công quyền chuyên chế còn lấn át quá mạnh, thì khía cạnh chính trị khó có thể tách ra khỏi mục tiêu sinh hoạt của các tổ chức XHDS: [a] vừa giúp đỡ xây dựng xã hội thiếu thốn về mặt vật chất, kinh tế, giáo dục, [b] vừa bênh vực xã hội lâm nạn, bị ngược đãi tinh thần, mất tự do, mất phẩm giá con người, bị chuất quyền công dân, chuất quyền sở hữu.

2. Khu vực XHDS khác với khu vực vụ  tư lợi kinh tế thị trường.[18] Trong khi các doanh nhân, các pháp nhân sĩ nghiệp, công ty thương mại đều sinh hoạt mong lấy lời vì đầu tư sáng kiến, vốn liếng, máy móc, tổng hợp thành “vốn tư bản”,[19] thì các hiệp hội từ thiện, hiệp đoàn, các tổ chức khuyến học, bảo tồn văn hoá, bảo vệ nhân quyền v.v. lại là những pháp nhân thiện nguyện, bất vụ lợi, sinh hoạt với mục đích cung cấp ích lợi chung theo nhu cầu hơn là theo khả năng. Căn bản trao đổi của XHDS không tùy thuộc vào yếu tố cung cầu trên thị trường mà căn cứ vào thực trạng ưu tiên, mức độ khẩn cấp của nạn nhân, của kẻ thất thế, cũng như căn cứ vào nhu cầu tinh thần của lý tưởng và phẩm giá con người, của giá trị tư tưởng. Vốn liếng của XHDS là “vốn xã hội”, [20] hay “vốn công dân thiện chí” là những đóng góp tự nguyện về nhân lực và kiến thức của người dân .

Mọi sinh hoạt bất vụ lợi cũng cần phương tiện cụ thể, tiền bạc, cơ sở sinh hoạt. Nhưng chỉ khác là những hạ tầng cơ sở tài lực và điều hành đó không làm lợi cho thành viên các tổ chức hiệp hội, mà phải được phân minh, để riêng thành các chương mục phục vụ tập thể cần cung phụng, theo tiêu chuẩn của nội quy của hiệp hội và đường hướng chung của XHDS.

Có ngân quỹ mới có dịch vụ cộng đồng, mới có các dự án bảo vệ  nhân phẩm, bình quyền, đa dạng trong nghề nghiệp, giúp đỡ từ thiền, cải tiến môi sinh, bảo vệ  môi trường. Có tài chính mới có dự án nghiên cứu y tế công cộng, mới thực hiện được những chương trình sáng tạo văn nghệ, phát huy giáo dục v.v. Nhưng mọi thủ tục tài chính, thu và chi phải được thực hiện theo đúng thủ tục minh bạch, đúng tiêu chuẩn công bằng, không lạm quyền tư lợi, không a tòng tham nhũng.

3. Khu vực XHDS khác với khu vực công quyền [chính quyền, chính phủ, nhà nước],[21] vì  XHDS tự nguyện xây dựng căn bản công dân quyền trên các trụ lực hiến định như tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do sáng tạo, tự do phê phán công quyền v.v. Rõ rệt, XHDS giữ thế đứng hiến định của cộng đồng, xã hội, trong việc xây dựng & bảo trì nền tảng dân chủ.

Ngày hôm nay, những ai có lương tri và lương tâm đều công nhận rằng XHDS, với  “Vốn Xã Hội” và đặc tính văn hoá tân xã hội, đã [a] một mặt tạo dựng sức mạnh liên đới phát huy và bảo trọng nền dân chủ chân chính, [b] mặt khác tiếp tục tìm phương thức giảm thiểu xung đột, va chạm, và các mâu thuẫn, đối kháng trong xã hội.

Cái ưu điểm của XHDS là tính cách năng động của các tổ chức dân sự tự nguyện trong việc ảnh hưởng, định hướng chính sách đối nội vá đối ngoại; thay đổi, phát huy đời sống kinh tế, xã hội, văn hoá giáo dục; tăng cường mức độ an ninh trong nước và ngoài nước. Đó là sự nẩy mầm dân chủ từ hạ tầng cơ sở, từ ý dân, sáng kiến, yêu sách, đòi hỏi, khuyến cáo của dân lên tới thượng tầng cơ sở của hệ thống chính quyền [Nhà lập pháp, hành pháp, tư pháp] có trách nhiệm đối với dân, đối với đất nước.

4. Trái lại, tại các chế độ cộng sản, kể cả cái gọi là “nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [NCHXHCNVN], đã nhập nhằng bày đặt một số tổ chức tập đoàn, cũng dâng cao danh nghĩa dân chủ trá hình. Đó là hiện tượng quái dị của các “tập đoàn dân sự” [sic] lấy tên là “Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam” [MTTQVN] từ cấp thành phố, tỉnh, tới cấp huyện, và các “Câu Lạc Bộ” đủ thứ [CLB, liên minh, liên kết với MTTQVN], đều được thành lập bởi đảng viên cộng sản hoặc chuẩn-đảng-viên-khăn-quàng-đỏ.

Tốt nhất, nên gạt bỏ thuật ngữ Xã Hội Dân Sự [XHDS] đối với các “hội ma” này tại Việt Nam ngày nay, mà nên đặt các tổ chức đó vào thực trạng của nó, mà người viết mạn phép tạo một thuật ngữ mới là “Xã Hội Đảng Sự” [XHĐS], có thể dịch ra tiếng Anh-Mỹ là “Nomenklatura Society” [NS], với những quyền lợi riêng rẽ, ưu đãi, bất hợp pháp không khác mấy các “Xã Hội Đen”, hoặc “Xã Hội Mafia-Đỏ”.

IV. Tiêu Chuẩn Tổ Chức Đảng Phái Chính trị trong Thể Chế Dân Chủ  Tự Do
Tuy hiện tượng đảng phái chính trị đã có từ lâu, nhưng hệ thống pháp chế của đảng phái mới được xác định gần đây.[22]

Tiêu chuẩn tổ chức đảng phái chính trị đề cập ở đây chỉ có  tính cách điển hình, căn cứ vào các nguyên tắc khả  chấp của các thể chế dân chủ tự do trên thế giới.

Vậy đảng phái chính trị  trong hệ thống dân chủ tự do có thể  định nghĩa là [a] sự hội họp tự do của các công dân [b] nhằm tham dự vào guồng máy chính quyền [c] bằng cách đề cử ứng cử viên và [d] tham dự các cuộc tranh cử tự do liên hệ.

Một cách rộng rãi hơn, đảng phái chính trị là địa bàn tập thể [a] thực hiện những quyền hạn căn bản, hiến định, bất khả khước từ của người dân, [b] là nhịp cầu liên kết thế lực giữa các ngành và các tổ chức trong chính quyền, và [c] khả năng chính đáng gây áp lực chính quyền với tư cách đảng đối lập trong một nền dân chủ đa nguyên nguyên, đa đảng.

Như vậy đảng phái chính trị được thành lập với những nguyên tắc và quyền hạn sau đây:

1. Quyền cá nhân kết hợp, hội họp một cách tự do, thuận hành, không bị cưỡng ép. Đảng phái chính trị cũng phải được tự  do thành lập, không bị trở ngại, quấy rầy, không bị cấm đoán.

Quyền hội họp còn có liên hệ  phụ thuộc với quyền tự do ngôn luận, với tư  cách cá nhân hay tập thể. Khi đảng phái chính trị  được bảo vệ, thì tiếng nói của đảng, của thành viên đảng cũng phải được bảo vệ, không bị cấm đoán, hay hạn chế.

Vì mục đích của đảng phái chính trị là chuẩn bị cho thành viên tranh cử, nên quyền ứng cử và bầu cử của thành viên đảng cũng phải được bảo vệ tương xứng, không bị cấm đoán, hay hạn chế.

2. Chính quyền có bổn phận ban hành luật pháp và các thủ tục pháp định bảo vệ người dân thi hành quyền tự do hội họp, lập đảng và những quyền liên hệ phụ thuộc của họ, bằng cách cấm đoán, giải trừ mọi trở ngại can thiệp, sách nhiễu của lực lượng công quyền hay các đảng phái đối nghịch, trên căn bản bảo toàn mọi sinh hoạt hợp pháp của người dân.

3. Về mặt pháp lý, mọi hình thức hạn chế quyền hội họp và những quyền liên hệ phụ thuộc của người dân đòi hội nhập hay thành lập đảng phái chính trị phải được minh định rõ ràng trong hiến pháp hay bằng luật pháp hiện hành, với lý do chính đáng, không thiên vị, căn cứ vào nhu cầu bảo vệ nền dân chủ tự do.

4. Mọi sự hạn chế quyền hội họp phải hội đủ tính cách cân xứng với sự  phương hại đích thực cho nền dân chủ tự  do.

5. Chính quyền không được cấm  đoán cá nhân hay đảng phái hội họp trên căn bản kỳ thị sắc tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, tư tưởng, giai cấp xã hội, tư bản, khuynh hướng luyến ái v.v.

6. Cá nhân hay tập thể phải  được quyền gia nhập hay thành lập đảng phái chính trị một cách công bình trước pháp luật, không bị kỳ thị, không được biệt đãi. Những trường hợp tạm thời nâng đỡ các thành phần thiểu số bị thiệt thòi trong quá khứ phải được coi là cần thiết, nên không có tính cách biệt đãi bất công.

7. Tính cách Chính trị Đa nguyên phải được coi là cần thiết cho môi trường sinh hoạt dân chủ tự do chân chính. Chính trị đa nguyên là phương thức cung cấp cho người dân nhiều cơ hội so sánh để lựa chọn đúng đảng và đúng người chấp chính theo ý muốn của họ.

8. Đảng phái chính trị khi tham chính, dù trong ngành lập pháp, hành pháp hay tư pháp, đều phải xác định lập trường trung trực, không thiên vị, thượng tôn luật pháp, bảo trọng công lý, quyền lợi chung của dân tộc, của đất nước, đặt trên quyền lợi và cương lĩnh của đảng phái.

9. Đảng phái chính trị trong chế  độ dân chủ tự do [a] không được sử dụng bạo lực như phương tiện chính trị, [b] không được xúi giục bạo động, cũng như [c] không được phá quấy, cản trở quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận, phát biểu chính trị của đảng phái đối lập.

Quyền biểu tình chống đối không lấn quá mức đến độ cản trở, triệt hại quyền hội họp, phát biểu của đối phương. Sử dụng quyền chính trị phải có tính cách song phương, tương xứng, chứ không thể độc đoán, một chiều.

Đảng phái chính trị ôn hoà cũng phải được đối xử tương xứng và được chính quyền bảo vệ khi có trường hợp vi phạm, sai quấy bởi đối phương.

10. Đảng phái chính trị khi vi phạm luật pháp hay lạm quyền đảng vụ phải  được dành quyền bào chữa, sửa sai, đền bù theo đúng thủ tục luật pháp quy định.

11. Đảng phái chính trị cũng phải kê khai tình trạng tài chính liên quan tới sinh hoạt đảng vụ, tuyên huấn, tranh cử, trong quyền hạn và trách nhiệm pháp định.

V. TẠM KẾT: Nguồn Gốc Dân Tộc

Tất cả những “thế lực”  trên chỉ vẹn toàn sứ mạng hay thực thị  đầy đủ quyền hành và trách nhiệm nếu bắt nguồn từ một mội trường vững chắc, bắt nguồn từ một Dân tự tạo, tự duy trên ba trọng lực: [1] văn hoá đạo đức nhân bản, [2] giáo dục cấp tiến chân chính, [3] ý thức công dân và trách nhiệm nhân loại.

1. Về mặt văn hoá và  đạo đức nhân bản

Văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. Đó là cũng là những mẫu mực mà con người mong muốn, hay thừa nhận trong môi trường sinh sống.

Trong khi người dân dưới trướng xã  hội chủ nghĩa có khuynh hướng chạy theo những mẫu mực giả tạo, thần thánh hoá, những bả vinh quang bịp bợm, những giá trị vật chất, lợi lộc tức thời, ngắn hạn, phù phiềm, thì đã tới lúc cả dân tộc phải tỉnh táo nhớ rằng văn hoá và truyền thống của người xưa để lại trong gia đình, làng ấp chúng ta còn gồm những chân lý hay tri thức về cái thật và cái đúng trong cách cư xử bao dung cuả con người Việt Nam tử tế.

Đã tới lúc chúng ta về lại với bản thể xã hội nhân bản, với cơ cấu gia đình và con người có tâm thức, có đạo đức. Đã tới lúc chúng ta cần nghe ngóng kinh nghiệm máu mủ của các thế hệ trưởng thượng, những tri thức thiết thực, những nhắn nhủ giáo huấn xuất phát từ mẫu mực và tình thương gia đình. Nhần từ, nhân ái bắt nguồn từ đó. Từ những chân lý sâu sắc, ôn hoà.

Trong khi văn hoá duy vật theo xã hội chủ nghĩa và lý thuyết cộng sản đặt trọng tâm vào các mô hình mâu thuẫn xã hội, cốt để duy trì sự thống trị của nhóm người này đối với nhóm người khác, qua những đợt thù hằn đấu tranh giai cấp, thì đã tới lúc chúng ta xoá bỏ những chia rẽ văn hóa, những bất công nhóm phiệt, những giá trị tạm bợ, màu cờ sắc áo, để tiến tới một mô hình văn hóa hợp nhất cho mọi công dân trong nước, căn cứ vào những mẫu số chung, những quyền lời và trách nhiệm đối xứng, trong cách chia sẻ, đối đãi công bình, ôn hoà, lương thiện, không mánh mung, không tham lam, không lừa lọc vị kỷ.

Xã hội Việt Nam của 90 triệu dân không thể mãi mãi là một xã hội vô  sản, bị tước đoạt mọi quyền sở hữu, bị  lợi dụng, lường gát một cách tập thể và trường kỳ. Và chắc cũng không ai muốn sống trong một xã hội tài phiệt giả tạo gồm một thiểu số đại gia bá đạo, sống trong lâu đài, vàng bạc phung phí trong khi toàn dân sống cảnh điêu tan, cực khổ. Cái xã hội mà 90 triệu dân muốn có là một xã hội dân chủ tự do, công bằng, bình sản, đạo đức, thượng tôn luật pháp, mà con người có phẩm giá của con người.

2. Về mặt giáo dục cấp tiến chân chính

Giáo dục là đầu tư nhân sự, mà xã hội Việt Nam trước đây đã khơi mào góp tay từ truyền thống giáo huấn gia đình, từ  những căn dặn chất phát, căn bản: “tiên học lễ , hậu học văn” — trước hết là học phép tắc, lễ nghĩa, học làm người tử tế, sau đó mới học chữ, trau dồi kiến thức.

Đó là khởi đầu của nền giáo dục chân chính, với một chương chình học vân có căn bản: học thật, giáo huấn tử tế, văn bằng thật, kiền thức thật. Giao dực cấp tiến còn là cách hội nhập cái tinh thông, tân tiến, tinh tế hầu cập nhật với tiến bộ loài người, trên căn bản kỹ thuật tinh vi và kiến thức mở rộng, toàn diện, toàn năng.

Nhưng thông thái không có nghĩa là mưu mô xảo quyệt, biết đủ mọi cách để lừa lọc, phát minh tai hoạ. Và cầu tiến không có nghĩa là phải ăn trên ngồi trốc, vượt bỏ thiên hạ, là tự cao tự đắc.

Ngược lại tri thức và tiến bộ  đích thực phải biết đo lường và vượt thắng ngay chính bản thân, để lúc nào cũng có thể học hỏi thêm, cập nhật và hài hoà với mình, với tha nhân, và môi trường sinh sống.

Giáo dục chân chính giúp chúng ta đi hết con đường của đạo làm người tử tế, trung hậu, tự duy, tự kiểm. Nó cũng là  mẫu mực thực thi quyền hành và trách nhiệm làm một công dân tốt, đầy đủ tư cách.

3. Về ý thức công dân và  trách nhiệm nhân loại

Khi dân tộc Việt Nam chúng ta đã tái nhập một nền văn hoá có đạo đức của con người tử tế, công bằng, hài hoà; khi đa số con em chúng ta đã hấp thụ một nền giáo dục cấp tiến chân chính nhân bản thì chỉ cần thêm một bước nữa, chúng ta đã trở thành những công dân tự giác, tự tạo, tự giúp để lấy cái vốn xã hội làm trung gian vững vàng giữa những thế lực hiến định đôi khi chống đối nhau, trong những khó khăn giai đoạn.

Ý thức công dân ngày hôm nay cũng có lúc biết vượt ra khỏi ranh giới của đất nước mình đệ chăm sóc, hỗ trợ, tranh đấu quyền lợi cho những dân tộc khác, cho cả nhân loại không kỳ thị nguồn gốc, sắc tộc, tôn giáo, văn hoá, văn minh.

Vậy, tới giờ phút này, nếu dân tộc chúng ta chưa đứng dậy tự vệ, đòi lại quyền sống và phẩm giá cao quý của chính mình thì còn quy trách ai bây giờ?

Mẹ Việt Nam vẫn bỏ bê  lấy chính mình, vẫn để một lũ con gây tội  ác mà không hề áy náy, bực tức. Mẹ Việt Nam hằng ngày vẫn thấy gần 90 triệu con mình bị đày đoạ, cướp bóc, hủy hoại từ thân thể tới tinh thần, mà vẫn vô cảm, không biết đứng dậy chống đỡ, bảo vệ.

Giờ quy trách không còn nữa. Phải sòng phẳng, phân minh với chính mình. Tất cả chúng ta hãy nhận trách nhiệm làm người Việt Nam tử tế, không sống chung với kẻ bất nhân, phạm tội, nhưng sẵn sàng đón tiếp họ, nếu họ tự thú, tự giải, thật lòng quay về với Chính Nghĩa Dân Tộc.

Dẹp xong tai ương CSVN trong nước, Toàn Dân có đủ quyền tự quyết mới vững mạnh, mới  đủ tự tin và tâm thức Đại Đoàn Kết  để ra tay đánh đuổi kẻ thù ngoại xâm.

Trân trọng và Tâm nguyện, 



TS-LS. LƯU NGUYỄN ĐẠT



*****



TẠI SAO PHẢI CHỐNG VIỆT CỘNG - HỢP TÁC VỚI VC KHÔNG THỂ CỨU ĐƯỢC NƯỚC NHÀ 



Hiện nay có một trào tư tưởng hướng về Việt Nam với hy vọng sẽ cọng tác với chính quyền Việt Cộng để chống Trung Cộng và cứu nước, họ nêu lên lòng yêu quê hương như là mục tiêu chính để quên đi mục tiêu quan trọng khác là diệt mầm mống tạo mất nước do ngụy quyền VC đã và đang âm thầm thực hiện.

Đối với những người yêu nước ngây thơ cứ nghĩ rằng việc xây dựng quê hương giúp thoát khỏi ách xâm lăng của Trung Cộng là khả thi trong mọi tình huống, dù ngay cả hoàn cảnh đất nước nằm trong vòng tay của Việt Cộng, thì đó là một sự liều lỉnh đi vào ngỏ cụt, vì giống như trong kinh doanh, khi họ đã bỏ vốn đầu tư cho một công ty, một chính thể đang mắc nợ đầy người thì kết quả sẽ là vở nợ và khánh tận mà thôi, sự đầu tư của họ sẽ chẳng đi về đâu và tài năng vật lực của họ còn bị cướp sạch.

Xin đưa ra một thí dụ để kẻ ngây thơ có thể hiểu rõ hơn. Chẳng hạn quý vị được ông anh “Việt Cộng yêu nước” đề nghị bỏ vốn vào để kinh doanh một cửa hàng ăn uống, nhìn vào thấy đông khách lắm cho nên quý vị nghĩ rằng sự đầu tư chắc sẽ lời to. Thế nhưng sau khi đã bỏ vốn đầu tư xong và quý vị đến ra mắt để tiếp thu cửa hàng thì một thằng Chệt bụng bự thò đầu ra xua đuổi quý vị đi và nói rằng cửa hàng đó là của hắn. Sau khi cải chày cải cối thì hắn trưng ra khế ước do chủ cũ “VC yêu nước” đã ký bán cửa tiệm cho nó rồi cho nên mọi cơ sở vật dụng trong cửa hàng đều hợp pháp thuộc về nó. Quý vị ắt sẽ sáng mắt ra vì thấy rằng mình ngu khi chưa biết quyền sở hữu của cửa hàng thuộc về ai mà đã dám cả tin vào một thằng lưu manh lừa đảo.

Chính quyền Việt Cộng đã ký  công hàm bán biển đảo, đất đai và tài nguyên của Việt Nam cho Trung Cộng rồi, chữ ký trên công hàm của chúng là hợp pháp vì chính thể của chúng đang được thế giới thừa nhận. Vì thế hiện nay dù những người yêu nước có nổ lực đòi trở lại những biển đảo và đất đai đó thì công pháp quốc tế cũng không thể chấp thuận sự đòi hỏi này vì tính cách hợp pháp của chính quyền Việt Cộng đã được quốc tế thừa nhận, kể cả những công hàm bán nước của chúng. Vì thế dù có hợp tác với Việt Cộng để đuổi quân xâm lăng Trung Cộng ra khỏi lãnh thổ của Việt Nam thì những biển đảo và đất đai đó sẽ không đủ pháp lý để được trả lại cho nước Việt Nam. Trung Cộng đã lừa cho con cá tra Việt Cộng tham ăn mắc câu cho nên giờ này nó hết đường cựa quậy, phải kêu gọi người Việt Hải Ngoại giúp nó để giành lại các biển đảo đã mất bởi lẽ chỉ có người Việt Hải ngoại mới có “tư cách đối lập” để địch lại với việc xâm lăng của Trung Cộng, nhưng ngược lại, Ngưòi Việt Hải Ngoại vẫn chưa có “tư cách pháp nhân” đại diện toàn dân Viẹt Nam để vô hiệu hoá cái chính quyền của Việt Cộng. 



Vì thế, một khi các chính quyền Việt Cộng ké tiếp vẫn mang danh đội mủ là “kẻ kế nghiệp” của những chế độ đã ký công hàm bán nước cho Trung Cộng, thì những phần biển đảo đã bị chúng bán vẫn có hiệu lực là phải thuộc quyền sở hữu của Trung Quốc chứ không thể đòi lại được. Riêng Việt Cộng thì phải bay theo cái lao chúng đã phóng từ 70 năm nay là luôn sát cánh với Trung Cộng trong việc thu gom thế giới vào một thiên dường Xã Hội Chủ Nghĩa chung cho bọn vô sản, vì thế chúng không thể nào đi ngược được, vì đi ngược tức là chết chắc.

Những người yêu nước quốc nội cũng như quốc ngoại, khi hợp tác với chính quyền Việt Cộng thì họ chỉ có thể giúp bọn này bán nước hữu hiệu thêm mà thôi chứ không thể nào kìm hảm chúng lại, hoặc đòi lại những tài nguyên và đất biển mà chúng đã dâng hiến cho Trung Cộng. Trong khi bọn VC dụ dổ những người yêu nước đóng góp tài lực xây dựng quê hương thì chúng nó vẫn đan tâm tiếp tục ký nhượng thêm đất đai và tài nguyên quốc gia một cách âm thần và gian lận cho bọn xâm lược phương Bắc bởi vì chủ trương của chúng luôn nhằm vào việc thủ lợi cho phe đảng của chúng với châm ngôn “còn Đảng thì còn ta” và “còn Trung Quốc thì còn Đảng”, có nghĩa là đất nước Việt Nam có mất mát suy đồi thì mặc kệ, miển sao Đảng và chúng nó sống giàu có là được. Một Đảng bán nước như thế mà những người yêu nước còn tin tưởng rằng chúng sẽ chống quan thầy Trung Cọng thì thật là một tin tưởng điên rồ.

Một tên cướp không bao giờ từ  chối bán những thứ nó cươp được cho người mua khi người mua này trả một giá quá hấp dẩn là ban cho nó quyền được “muôn năm trường trị, thống nhất giang hồ”. Không có Trung Cộng bảo trợ thì Việt Cộng không thể làm vua của Việt Nam, vì thế sẽ không có mảy may hy vọng nào thằng Việt Cộng lại có thể phản bội quan thầy Trung Quốc của nó để mất đi sự bảo vệ từ quan thầy này rồi tự rước lấy cái họa bị nhân dân Việt Nam phanh thây. Đó là điều quá hiển nhiên, thế mà những thằng “trí thức nảo heo” lại hy vọng rằng Việt Cộng là yêu nước và sẽ chống lại Trung Quốc để đòi lại những gì chúng đã bán rẻ cho bọn Tàu xâm lược này.

Bọn Việt Cộng không những bán đất biển mà còn bán cả văn hóa dân tộc cho bọn Tàu nữa, nhìn những ấn phẩm về luật pháp chúng vừa cho phát hành tại Việt Nam thì thấy rõ chữ Tàu đang cởi lên đầu chữ Việt ngay ở bìa sách. Như lý luận loài người đã chứng minh, một khi văn hóa Việt đã mất thì nước Việt ắt sẽ bị đồng hóa bởi văn hóa Tàu và bị cai trị bởi dân tộc Tàu. Sự thật đau lòng cho thấy văn hoá Việt đã bị xóa sạch khi phái đoàn văn công của Việt Nam qua Tàu phải lòn cúi đóng vai Hai Bà Trưng làm lễ cúng tế cho tướng tàu Mã Viện. Bức ảnh này được đưa lên trang mạng của Trung Quốc vời chú thích : "Màn múa hát ngày 21/3/2010 của các diển viên VN trong vai Hai Bà Trưng, Thi Sách, múa hát ngợi ca công đức của tướng Trung Quốc Mã Viện.

Và cho dù Việt Cộng chạy  đôn đáo để được sự ủng hộ của Mỹ hầu chống lại Trung Cộng (cũng như xưa kia được sự ủng hộ của Liên Sô để đánh lại Tàu) thì Việt Cộng cũng không thể lấy lại những phần đất biển đã công khai ký bán cho Trung Quốc, ngoại trừ phải mua lại những phần đất biển này bằng giá đắt qua sự mặc cả với chúng. Một nước đàn anh to lớn thì cũng có một tự ái to lớn, vì thế Trung Quốc sẽ không bao giờ trả lại đất cho Việt Nam như những người yêu nước mong đợi, ngoại trừ Trung Quốc thua trận về quân sự hoặc ngoại giao với VN mà thôi.

Vậy trước khi hợp tác với Việt Cộng để cứu nước giành lại những phần đất đã bị VC bán đi thì những người yêu nước hãy lượng định xem Trung Quốc có thể thua Việt Nam hay không ? Điều dễ thấy là Trung Quốc không thể thua Việt Nam về quân sự dù Việt Nam có giả vờ mua nhiều tàu ngầm Kilô của Nga và những chiến hạm nhỏ loại Sigma của Hà Lan để làm mặt. Sự kèn cựa dưới hình thức quân sự đó chỉ là một dọ dẩm chính trị để có thêm uy thế về ngoại giao mà thôi, cho nên con đỉ già Việt Cộng không bao giờ có thể tranh hùng với Trung Quốc về quân sự mà chỉ có thể lên mặt vênh váo với Trung Quốc (là thằng chồng ghẻ hờm của con đỉ này) là hiện nay mình đang có thằng kép mới là anh Mỹ hùng cường để cho thằng chồng ghẻ hờm cũ chịu êm thắm rút lui mà không bạo ngược nắm tóc mình kéo lê lết trên hè phố để trừng trị cho cái tội ngoại tình và lừa đảo trân tráo ! 



Việt Nam chỉ còn một cách tranh đấu duy nhất để lấy lại những gì đã bị  công khai bán đưt và ký nhượng cho Tàu là  làm sao vô hiệu hóa (invalidate) tính hợp pháp của chính quyền Việt Cộng, vì khi đã trở thành một chế độ không còn được thế giới thừa nhận là đại diện cho dân tộc Việt Nam thì những công hàm bán nước của chế độ bất hợp pháp này mới bị vô hiệu hóa mà thôi. 



Trong những cuộc đảo chánh (coup d’état) thì chính quyền mới sẽ tiếp tục cai trị quốc gia sau khi đã được pháp nhân của chính quyền cũ bàn giao quyền hành pháp quốc gia và sẽ có trách nhiệm gánh vác và thừa hưởng những vốn liếng cùng nợ nần của chính quyền cũ bàn giao lại. Nếu thừa hưởng một món nợ nần với ngoại quốc thì chính quyền mới có trách nhiệm phải thanh toán món nợ này. Do đó nếu chính quyền Việt Cộng hiện nay từ chức và “bàn giao” quyền hành pháp lại cho một chính quyền mới, dù chính quyền đó là Trung lập hay Quốc Gia, thì chính quyền mới này cũng phải thực thi những gì chính quyền Việt Cọng cũ đã ký kết, nhất là phải công nhận những công hàm của VC bán biển đảo và đất đai cũng như tài nguyên cho Trung Cộng. Vì thế, nếu không thủ tiêu cái chính quyền Việt Cộng để chúng không thể chính thức “bàn giao” cho chính quyền mới thì không thể nào vô hiệu hóa những công hàm bán nước của chúng. 



Thủ tiêu bằng cách nào ? Đó là  chiến thắng đè bẹp chúng bằng quân sự hoặc bằng cách mạng của toàn dân. Cách mạng (revolution) có nghĩa là lật đổ và xóa bỏ hoàn toàn cái cũ để thay cái mới, không thừa nhận bất cứ thứ gì của chế độ cũ mà thiết lập bằng những thứ hoàn toàn mới. Khi Việt Cộng thắng trận ở Miền Nam Việt Nam, khi tên Đại Tá Việt Cộng Búi Tín theo xe tăng T54 xông thẳng vào Dinh Độc Lập thì Tổng Thống Dương van Minh và nội các Vũ văn Mẩu của ông chờ đợi “quân Cách Mạng” đến để “bàn giao” chính phủ và quyền hành pháp. Khi quân cách mạng vào Dinh, Dương Văn Minh vội đứng dậy nói: “Chúng tôi đang đợi các ông đến để bàn giao”. Nhưng Việt Cộng lại mắng vào mặt ông rằng: “Các ông đã bị bắt; các ông không còn gì để bàn giao; các ông phải tuyên bố đẩu hàng không điều kiện.” Dương Văn Minh chấp nhận, đến Đài Phát Thanh đọc bản tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Trung tá VC Bùi Tùng đọc lời chấp nhận đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Nhờ không có chính thức “bàn giao” mà chỉ là đầu hàng cho nên Việt Cộng đã gạt hết tất cả nợ nần của chính phủ VNCH đối với Mỹ và các nước đồng minh khác. Giờ này cũng vậy, nếu Việt Cộng không bị đánh thảm bại và phải đầu hàng thì chính thể Việt Cộng sẻ được dịp “bàn giao” của nợ lại cho chính phủ kế tiếp với những công hàm bán nước chúng đã ký kết không cách nào tháo gở nổi. 



Bởi lẽ Việt Nam giờ này quá yếu hèn không thể nào thắng Trung Cộng bằng quân sự cho nên muốn cứu nước, muốn lấy lại những phần đất nhà nước Việt Cộng đã bán và nhường cho Trung Cộng thì có một phương cách là phải tiêu diệt Việt Cộng mà thôi, vì chỉ khi nào nhà nước Việt Cộng bị hoàn toàn giải thể thì chúng ta mới có thể vô hiệu hóa tất cả những công hàm bán nước và nợ nần của chúng vay mượn khiến những thế hệ con cháu chúng ta phải nai lưng oằn cổ để trả nợ. 



Đừng hy vọng gì đến sự giúp đỡ của các nước tư bản đang giao dịch mua bán và bỏ vốn đầu tư lớn với chính quyền Việt Cộng vì họ sẽ cố gắng bảo vệ vốn đầu tư của họ tại Việt Nam và không muốn những đầu tư đó bị mất đi bởi một cuộc cách mạng. Hãy nhìn xem Trung Quốc đang đau điếng vì đã bị mất mậu dịch dầu hỏa với Libya, mất một nguồn cung cấp năng lượng khổng lồ giúp Trung Quốc phát triển kỷ nghệ và quân sự. Nước nào hiện nay đang đầu tư lớn vào Việt Nam đều không muốn thấy chế độ Việt Cộng ngả nhào. Những người yêu nước, nếu không muốn bị mất nước thì phải tự động nổi dậy để tận diệt Việt Cộng, vì chỉ có làm như vậy mới thực sự lấy lại được những gì đất nước đã bị đánh mất bởi bàn tay bán nước của bọn Việt Cộng. 



TRƯỜNG SƠN 



*****



VÙNH LÊN CỨU NƯỚC- ĐỪNG IM TIẾNG, MÀ PHẢI LÊN TIẾNG*





 Như mọi người đều biết, bốn bên lâm chiến tại Việt Nam ký kết “Hiệp định chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam” tại Paris ngày 27/01/1973 giữa. Sau đó, một “Định ước của hội nghị quốc tế về Việt Nam” được nhiều nước ký kết ngày 02/03/1973 cũng tại Paris, với sự có mặt của ông tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Theo điều 2 của định ước nầy, các nước tham dự “ghi nhận Hiệp định [Paris] đáp ứng các nguyện vọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam và đáp ứng nguyện vọng tha thiết về hòa bình của tất cả các nước trên thế giới.” Trong số các nước ký kết định ước ngày 02/03/1973, có Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) do bộ trưởng ngoại giao Cơ Bằng Phi đại diện.

Dầu vầy, chưa tròn một năm sau, chính Trung Quốc đã vi phạm ngay định ước, bất ngờ xua quân xâm chiếm hải đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa vào tháng Giêng năm 1974. Trước lực lượng hùng hậu của một cường quốc đông dân nhất thế giới, biết rằng mình khó thắng, nhưng Hải quân Việt Nam, vẫn cương quyết tiến vào vùng sóng gió lửa đạn để bảo vệ quê hương, tiếp nối truyền thống giữ nước của tổ tiên chúng ta.

Đặt trận chiến Hoàng Sa trong toàn bộ lịch sử Việt Nam, thì sự hy sinh của Ngụy Văn Thà và đồng đội, can đảm và anh dũng không kém bất cứ sự hy sinh nào của tiền nhân trong lịch sử, kể cả tiếng thét hào hùng như nhạc hồn đất nước của Trần Bình Trọng thời nhà Trần: “Ta thà làm quỷ nước Nam, còn hơn làm vua đất Bắc.” Sự hy sinh nầy sẽ mãi mãi được khắc ghi trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc Việt. 



Trận chiến Hoàng Sa tháng Giêng năm 1974 cho thấy một nét nổi bật của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Đó là: trong lúc chiến đấu để bảo vệ miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản Hà Nội, Việt Nam Cộng Hòa vẫn luôn luôn cương quyết bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ. Trong khi đó, chẳng những thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) Phạm Văn Đồng ký quốc thư công nhận việc nới rộng hải phận một cách ngang ngược của Trung Quốc, mà Bắc Việt còn đồng lõa với Trung Quốc trong việc Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa.

Trong di chúc của mình, Hồ Chí Minh đã từng viết: “…Tôi để sẵn mấy lời nầy, fòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Cac Mac, cụ Lênin và các vị c.m. đàn anh khác…” Người Việt chết đi đều muốn được gặp cha mẹ, ông bà, tổ tiên dưới “suối vàng”. Hồ Chí Minh không đi gặp phụ thân là Nguyễn Sinh Sắc đang nằm ở Cao Lãnh (Nam Việt), hay đi gặp ông bà tổ tiên ở Nghệ An, mà lại đi tìm Karl Marx với Lenin ở Liên Xô, thì theo phong tục Việt Nam, quả là đại bất hiếu.

Một đại công thần của chế  độ cộng sản Bắc Việt là Tố Hữu đã viết các câu thơ như: “Thương cha, thương mẹ, thương chồng,/ Thương mình thương một, thương ông thương mười.” Ông ở đây là Stalin, một lãnh tụ cộng sản khát máu của Liên Xô, mà trong một bài thơ khác, Tố Hữu đã ca tụng: “Yêu biết mấy nghe con tập nói,/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin!”.

Một câu hỏi cần được đặt ra cho tất cả mọi người Việt Nam ở trong hay ngoài nước, kể cả những đảng viên CSVN, rằng có một vị quốc trưởng, một thủ tướng, một bộ trưởng, hay một nhà văn nào tại miền Nam Việt Nam tức Việt Nam Cộng Hòa, ký một hiệp  định, một quốc thư, hay viết một bài văn, một câu thơ như những nhà lãnh đạo Bắc Việt đã làm hay không? Trả lời câu hỏi nầy sẽ giải đáp luôn một vấn đề then chốt trong cuộc chiến tranh 30 năm vừa qua trên quê hương yêu dấu của chúng ta: Ai là kẻ phản quốc? Ai là kẻ bán nước cầu vinh?

Như mọi người đều biết, vào  đầu tháng 12, 2007, nhà cầm quyền Trung Quốc đã thành lập thành phố hành chánh cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam, để trực tiếp quản lý ba quần  đảo: Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa, Trung Sa và Nam Sa). Trong ba quần đảo nầy, tài liệu lịch sử Việt Nam cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam từ lâu đời.

Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam chẳng những câm như hến, không dám lên tiếng, mà còn bắt giam những người biểu tình trong nước nhằm phản đối Trung Quốc xâm lăng. Tuy vậy, nhiều cuộc biểu tình vẫn cứ diễn ra và đặc biệt, nhân kỷ niệm trận chiến Hoàng Sa (19/01), nhiều thanh niên ở Sài Gòn và cả ở Hà Nội đã tập họp công khai, để tưởng niệm những anh hùng tử trận vì bảo vệ tổ quốc.

Trong khi đó, có một dư luận bi quan nhỏ, rất nhỏ, có thể xuất phát từ  phía nhà cầm quyền Hà Nội hoặc những người thân Trung Quốc để đánh lạc hướng dư luận, cho rằng mọi việc đã an bài, các nhà lãnh đạo cộng sản Hà Nội đã tự ký giấy nhượng ải Nam Quan, nhượng thác Bản Giốc, nhượng biển và nhượng đảo cho Trung Quốc, chúng ta làm sao phản đối được? Trước vấn đề rất phức tạp trên, chúng ta cần lưu ý rằng:

Thứ nhất, khi những nhà lãnh đạo CSVN ký kết các văn kiện về biên giới, đất đai với Trung Quốc, họ lén lút làm việc nầy, không trưng cầu ý kiến của dân chúng, không tham khảo ý kiến của Quốc hội, dầu chỉ là Quốc hội bù nhìn. Như thế, việc làm nầy hoàn toàn bất hợp pháp và vi hiến, vì hiến pháp, dầu là hiến pháp cộng sản, cũng không có điều khoản nào uỷ cho nhà nước hay chính phủ cộng sản ký kết những văn kiện nhượng đất hay nhượng biển cho nước ngoài.

Nói cách khác, việc nhượng đất, nhượng biển của nhà cầm quyền cộng sản ở  Việt Nam cho Trung Quốc hoàn toàn phi pháp và vô  giá trị trước quốc dân Việt Nam. Chúng ta phải lên tiếng phản đối để cho thế giới ngày nay và để cho các thế hệ mai sau thấy rằng dân chúng Việt Nam, ngay từ đầu đã phản đối hành động của nhà cầm quyền CSVN và không chấp nhận các văn kiện bán nước nầy.

Thứ hai, từ xưa cho đến nay, nhà cầm quyền Trung Quốc luôn luôn ỷ thế nước lớn, kiếm cách xâm lăng Việt Nam, tiến xuống Đông Nam Á. Hầu như là một quy luật lịch sử: Khi Trung Quốc mạnh, nước Việt yếu, Trung Quốc tấn công nước Việt. Khi Trung Quốc yếu, nước Việt mạnh, nước Việt đánh đuổi quân Trung Quốc ra khỏi bờ cõi nước Việt.

Trăng trên trời có khi tròn khi khuyết. Đời con người có khi thịnh khi suy. Gần đây, sau năm 1975, Liên Xô mạnh hơn bao giờ cả, ảnh hưởng khắp các nơi trên thế giới. Tuy nhiên, vào năm 1991, đế quốc Liên Xô sụp đổ tan tành. Chính nước Liên Xô cũng bị sụp đổ. Vậy Trung Quốc cũng không ra ngoài quy luật nầy.

Trung Quốc ngày nay đang mạnh, nhưng không phải là  không có lúc yếu. Trung Quốc đã từng ba lần bị  xâm lăng: Lần đầu vào thế kỷ 13, Trung Quốc bị người Mông Cổ đánh chiếm. Lần thứ hai, vào thế kỷ 17, Trung Quốc bị người Mãn Châu xâm lăng. Lần thứ ba, vào thế kỷ 19, Trung Quốc bị các cường quốc Tây phương xâu xé.

Hiện nay, dưới sự cai trị độc tài sắt máu của đảng CSTQ, bên ngoài, ai cũng nghĩ rằng Trung Quốc là một khối thống nhất chặt chẽ. Thật ra, bên trong Trung Quốc chứa nhiều ẩn số mâu thuẫn nội tại rất sâu sắc, mà quan trọng nhất là vấn đề sắc tộc và tôn giáo. Ngoài nhóm người Hán ở lưu vực Hoàng Hà, chung quanh Trung Quốc là những sắc dân đã bị Trung Quốc đô hộ như người Mãn Châu ở đông bắc, người Mông Cổ, Tân Cương ở tây bắc, người Tây Tạng ở tây nam, người Lưỡng Quảng, Hải Nam ở đông nam. Những sắc dân nầy lại theo các tôn giáo mà cộng sản Trung Quốc liên tục ra tay đánh phá như Hồi giáo, Phật giáo…

Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế không đồng bộ ở Trung Quốc trong thời gian gần đây đào sâu sự cách biệt về giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa vùng duyên hải kỹ nghệ ở phía đông và vùng rừng núi lạc hậu ở phía tây.

Những mâu thuẫn nội tại về sắc tộc, về tôn giáo hay về kinh tế của Trung Quốc sẽ có lúc bùng nổ nếu gặp thời cơ thuận tiện, nhất là khi từ bên ngoài các nước đối nghịch về kinh tế và cả về chính trị liên kết để chận đứng sự bành trướng hung hăng của Trung Quốc.

Lúc đó, Trung Quốc sẽ không khác số phận của Liên Xô năm 1991. Đó cũng chính là lúc nước ta sẽ đứng lên kiếm cách đòi lại đất đai đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm. Muốn thế, người Việt không nên chờ thời, mà ngay từ bây giờ, người Việt trong và ngoài nước phải cùng nhau lên tiếng tố cáo hành động phi pháp của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam hiện nay ở trong nước, và phản đối cuộc xâm lăng của Trung Quốc.

Sự hy sinh của những anh hùng Hải quân trong trận chiến Hoàng Sa vào tháng Giêng năm 1974, chẳng những làm rạng rỡ truyền thống giữ nước tự ngàn xưa của dân tộc Việt, mà còn là sự lên tiếng can đảm và cụ thể nhất, tố cáo mưu đồ xâm lược của Trung Quốc đối với dãy hải đảo thân yêu của chúng ta. 


Nhân mùa Tưởng niệm sự hy sinh của Ngụy Văn Thà  và đồng đội, thiết thực nhất, xin đồng bào Việt Nam, trong điều kiện cá nhân của mình, hãy “Đừng im tiếng, mà phải lên tiếng”, như nhạc sĩ Lê Minh Bằng đã nhắn gởi trong bài hát mới được ông phổ biến: “Đừng im tiếng mà phải lên tiếng,/ khi quân thù vào cướp quê hương.”

Cách lên tiếng hay nhất là đồng bào trong và ngoài nước hãy cùng nhau nỗ lực đóng góp phần mình vào công cuộc đấu tranh tiêu diệt nhóm thiểu số cộng sản bán nước ở Hà Nội đang dâng đất dâng biển cho Bắc phương. Chỉ có một chính quyền dân chủ thật sự của dân, do dân và vì dân, mới vận động hữu hiệu sức mạnh tổng lực của toàn dân, tranh đấu đòi lại những đất đai đã mất. Có như thế, sự hy sinh của những anh hùng trong trận hải chiến Hoàng Sa oanh liệt tháng Giêng năm 1974 mới thực sự có ý nghĩa. 



TRẦN GIA PHỤNG

Bài Xem Nhiều