We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 22 January 2013

Chuyện Bình Thường? : Giới Trẻ VN & Tình Trạng Văn Hoá

Giới Trẻ VN & Tình Trạng Văn Hoá Đọc Đang Xuống Cấp

Báo Dân Trí có bài « Thanh niên Việt đang đọc gì » nói về tình trạng văn hoá đọc đang xuống cấp một cách thê thảm trong giới trẻ VN .
Không ít bạn trẻ không nắm được nội dung các tác phẩm kinh điển thế giới. (ảnh minh họa)
Không ít bạn trẻ không nắm được nội dung các tác phẩm kinh điển thế giới.
Thật ra , việc đại đa số giới trẻ VN lười đọc sách hoặc chỉ đọc những thứ dễ đọc như truyện tranh , truyện tình cảm nhẹ nhàng của các tác giả VN , TC thuộc thế hệ 7X , 8X , hay các tác phẩm theo trào lưu , như trong bài báo đề cập , là một thực tế không mới .
Rất ít em bỏ thời giờ để đọc say mê những cuốn tiểu thuyết kinh điển hoặc tiểu thuyết đương đại có giá trị của những tác giả lớn trong làng văn VN và thế giới , mặc dù có khá nhiều tác phẩm của những tác giả như vậy đã được dịch sang tiếng Việt . Ví dụ , các nhà văn Nga Leo Tolstoy , Fyodor Dostoyevsky , Anton Chekhov , Alexei Tolstoy , Ivan Turgenev ... các nhà văn Pháp Victor Hugo , Honoré de Balzac , Stendhal ... các nhà văn Mỹ Ernest Hemingway , Jack London , Toni Morisson , Harper Lee ... các nhà văn Đức Heinrich Böll , Hermann Hesse , Günter Grass ... các nhà văn Nhật Bản Kenzaburo Oe , Murakami Haruki ... hay Gabriel Garcia Marquez-nhà văn Colombia , Orhan Pamuk-nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ , Paulo Coelho-nhà văn Brazil , Mo Yan tức Mạc Ngôn - nhà văn người Tàu Cộng ... & ...
Một số người thường đổ lỗi rằng thời đại bây giờ có nhiều thứ hấp dẫn hơn như trò chơi điện tử , internet với những trò chat chit , các trang mạng xã hội ... nên giới trẻ lười đọc sách / đọc truyện hơn các thế hệ ông bà , bố mẹ . Tôi không nghĩ như vậy . Ở các nước dân chủ phát triển trên thế giới mà tôi đã từng có dịp đi qua hoặc ngay ở Na Uy nơi tôi đang sống , tôi vẫn thường xuyên bắt gặp cảnh mọi người trong đó có các bạn trẻ mê mải đọc truyện trên metro , xe lửa , trong phòng chờ máy bay hay khi ngồi một mình trong quán café . Việc giới trẻ nhìn chung lười đọc sách , không những thế , văn hoá đọc đang xuống cấp một cách thê thảm ở VN , có nguyên nhân của nó .
Nguyên nhân thứ nhất là do môn văn ở bậc trung học chỉ giới thiệu văn học VN ( trong đó , phần nặng nhất , chiếm nhiều thời gian nhất là văn học cách mạng VN , văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa VN ) , nếu có giới thiệu văn học nước ngoài thì cũng rất ít và chỉ giới thiệu trích đoạn của một cuốn tiểu thuyết hoặc truyện ngắn , thơ .
Về mảng văn học cách mạng VN , văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa VN , người viết bài này không có ý kiến là hay hay dở , nhưng rõ ràng phần lớn những tác phẩm ấy không còn phù hợp với tâm tình , suy nghĩ của các em bây giờ nên các em không cảm thấy hứng thú . Lại thêm chương trình học thường chỉ giới thiệu trích đoạn , phương pháp dạy theo kiểu giảng - chép - học thuộc lòng làm học sinh đâm lười suy nghĩ và lâu dần hết hào hứng với môn Văn và tác phẩm văn học nói chung .
Những tác phẩm theo trào lưu lại được nhiều bạn trẻ săn đón, mải mê đọc.
Những tác phẩm theo trào lưu lại được nhiều bạn trẻ săn đón, mải mê đọc.
Đối với văn học nước ngoài , học sinh trung học ở VN không hề được làm quen với những tuyệt tác của những tác giả lớn , cổ điển và đương đại của thế giới , như một số tác giả đã kể trên và các tác giả như Mark Twain ( tác phẩm The Adventures of Tom Sawyer , Adventures of Huckleberry Finn ) ,Charles Dickens ( The Adventures of Oliver Twist , David Copperfield ) , John Steinbeck ( Of Mice and Men , The Grapes of Wrath , East of Eden ) , JD Salinger ( The Catcher in the Rye ) , F Scott Fitzgerald ( The Great Gatsby ) , George Orwell ( Animal Farm , Nineteen Eighty-Four ) , Chinua Achebe ( Things Fall Apart ) , Jane Austen ( Sense and Sensibility , Pride and Prejudice ) ... Đây là những tác giả mà trong chương trình bậc trung học môn English-American Literature ở các nước , học sinh thường được giới thiệu . Những tác phẩm tuyệt vời của họ sẽ khiến cho học sinh say mê văn học , từ đó có thói quen đọc sách .
Trong khi đó , học sinh VN , vốn đã không được làm quen với việc đọc những tác phẩm thuộc loại phải suy nghĩ ngay từ khi học trung học , nếu trong gia đình người lớn cũng không thích đọc sách và khuyến khích con em đọc sách , chọn sách hay mà đọc thì các em lười đọc là điều dễ hiểu .
Nếu đi vào các hiệu sách thuộc loại lớn nhất , tại hai thành phố lớn nhất VN là Sài Gòn , Hà Nội , chúng ta có thể thấy nếu so với thời bao cấp , sách các loại nói chung và sách văn học nói riêng bây giờ được in ấn đẹp đẽ , các đầu sách văn học trong nước cho đến nước ngoài được xuất bản tương đối nhiều , đủ loại thượng vàng hạ cám . Giữa một rừng sách hỗn độn đó , các bạn trẻ sẽ khó tự mình chọn được sách hay , có giá trị nếu như không phải là dân thích đọc sách , biết đọc sách , và sẽ bập vào những tác phẩm , tác giả có tính trào lưu .
Chẳng hạn , có một thời ở VN hàng loạt tác phẩm của nhà văn Pháp Marc Levy được dịch và khi Marc Levy được mời sang VN nhân Ngày Hội Đọc Sách Pháp 2008 , chứng kiến sự « hồ hởi » xúc động của đông đảo bạn đọc trẻ , bản thân nhà văn cũng ngạc nhiên . Vì thật ra Marc Levy không hề được đánh giá cao ở Pháp và trên thế giới , mặc dù những cuốn tiểu thuyết tình cảm lãng mạn của ông thường thuộc loại best-seller .
Do vậy , nếu các tờ báo lớn giữ được đều đặn mục điểm sách , giới thiệu những tác phẩm văn học chất lượng , bởi những cây bút phê bình có giá trị thì cũng giúp cho các bạn trẻ dễ định hướng khi chọn sách giữa một rừng sách , hoặc hào hứng muốn tìm mua cuốn sách hay vừa được giới thiệu .
Cuối cùng là giá một cuốn tiểu thuyết , tuyển tập truyện ngắn hay sách phê bình , nghiên cứu ở VN , khoảng vài ba trăm ngàn đồng , có khi nhiều hơn , tính theo túi tiền của phần đông các bạn trẻ là không rẻ . Có thể có những em yêu thích văn học , muốn đọc sách nhưng lại không đủ tiền để mỗi tháng rinh về nhà vài ba cuốn . Các thư viện ở VN lại cập nhật rất chậm sách mới . Đó là ngay ở 2 thành phố lớn nhất nước , và tại những thư viện lớn , còn cỡ thư viện quận hay đi về các thành phố nhỏ , tỉnh lẻ thì thư viện càng nghèo nàn , hẩm hiu .
Nhưng suy cho cùng , trong một xã hội mà cái gì cũng đang xuống cấp , cái gì cũng có « vấn đề » thì việc giới trẻ lười đọc sách hoặc chỉ đọc những loại sách dễ đọc , không có giá trị về mặt văn chương , tư tưởng , thậm chí sách tào lao nhảm nhí có hại đi nữa , cũng chỉ là ... chuyện bình thường ! ! !
Song Chi

Tưởng Niệm Anh Hùng Tử Sĩ Hoàng Sa


 
 
Ngày 19-1 đồng bào và báo chí trong ngoài nước đều có tổ chức tưởng niệm anh hùng tử sĩ của Việt Nam Cộng Hoà tử chiến chống Trung Cộng bảo vệ Hoàng sa của VN.

Theo dõi thời sự, người viết bài nầy cảm thấy rất ngậm ngùi và cảm kích. Ngậm ngùi nhớ lại các đây hơn sáu mươi mấy năm người viết bài này đang học lớp Nhứt tiểu học nhìn thầy Mã sanh Long ứa nước mắt nhắc lại câu “Thà làm quỷ nước Nam chớ không làm vương đất Bắc” của ÔngTrần bình Trọng khi giảng bài về lòng yêu nước. Nay người học trò tiểu học ấy đã bảy mươi mấy tuổi đời, ở cách xa quê nhà VN nửa vòng trái đất, ứa nước mắt khi đọc lại câu nói sau đây của những thương bịnh binh VNCH đang nằm trong khoang tàu nói với nhau khi nhận được lịnh sẵn sàng tác chiến của hạm trưởng: “Dù sao đánh nhau với Trung Quốc nếu có chết cũng vinh quang hơn”.

Lại càng cảm động hơn, lời nói đầy cảm kích ấy là của quân nhân Việt Nam Cộng Hoà mà được báo Tuổi Trẻ là tờ báo của Thành Đoàn của Đảng Nhà Nước CSVN, nhiều dộc giả nhứt ở VN, từ năm 2009 đã bắt đầu trang trọng trích dẫn câu này, với đầy đủ tên họ của 74 tử sĩ trong một loạt bài “Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau”, tường thuật chi tiết về sự kiện 19 tháng 1 năm 1974. Trong lời “Lời Tòa soạn” báo Tuổi Trẻ giới thiệu loạt bài này: “(Tuổi Trẻ )- Hơn 35 năm trước, những người con đất Việt đã nhận lệnh vượt trùng dương ra quần đảo Hoàng Sa canh giữ biển trời Tổ quốc. Họ tự hào ra đi trong tâm thế của người Việt ra canh giữ đảo biển của người Việt! Bây giờ nhắc lại, mắt họ rưng rưng, tim họ nghẹn lại khi Hoàng Sa vẫn còn trong tay nước ngoài.Từ số báo này, Tuổi Trẻ đăng tải hồi ức của những người từng canh giữ biển trời Hoàng Sa 35 năm trước. Thời gian dài trôi qua, nhưng những gì tận mắt họ chứng kiến, những gì họ trực tiếp tham gia không thể phai mờ trong tâm trí.”

Có lẽ đây là loạt bài đầu tiên trên làng báo của Đảng Nhà Nước CS Hà nội. Sự thật vẫn là sự thật, Thượng Đế cũng không thay đổi được. 35 năm sau chính báo Tuổi Trẻ của Đảng Nhà Nước CS cũng phải nhìn nhận Quân Đội VNCH đã vì dân chiến đấu vì nước hy sinh. Dù lúc bấy giờ bất hạnh cho nước VN có một một đồng minh bất nghĩa đã bỏ rơi VN, VN thân cô thế cô nhưng quyết một tấc đất cũng không nhường cho giặc như lời của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu kiêm Tư lịnh tối cao quân lực VNCH bay ra bộ tư lịnh hành quân xem xét kế hoạch và chỉ thị.

Và năm nay 2013, nhơn ngày 19/01 kỷ niệm 39 năm trận hải chiến bảo vệ lãnh thổ, báo chí và đồng bào trong ngoài nước vẫn tiếp tục vinh danh chiến sĩ VNCH bảo vệ Hoàng Sa. Nhật báo Thanh Niên của Đảng Nhà Nước CSVN dành một bài báo dài với nhiều chi tiết để nhắc lại trận chiến lịch sử chống Trung Quốc xâm lăng. Báo Thanh Niên ca ngơi lòng dũng cảm, chí vì dân chiến đấu, vì nược hy sinh của Hải Quân Việt Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa chống TC xâm lăng biễn dảo của Tổ Quốc VN.

Và các trang «dân báo» và «blog» tường thuật các sinh hoạt ghi dấu sự kiện được xem là «mối hận dân tộc».

Còn dồng bào và nhứty là thanh niên ở Hà Nội tổ chức thắp nến tưởng niệm, tri ơn cố trung tá Ngụy Văn Thà và 74 tử sĩ đã anh dũng hy sinh bảo vệ Hoàng Sa trước quân thù TC vào ngày 19/1/1974.

Ở hải ngoại đây là một cơ hội trọng đại, các đoàn thể quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hoà và báo chí hải ngoại đều có tổ chức và bài vở tưởng niệm anh hùng tư sĩ Hoàng sa.

Hầu hết các nước, các dân tộc trên thế giới bây giờ có niềm tin như một đạo lý phổ quát, rằng chủ quyền quốc gia, bờ cõi đất nước, giang sơn gấm vóc của một quốc gia dân tộc là thiêng liêng. Không ai có quyền thương lượng, tương nhượng. Lấy máu xương ra gìn giữ là việc phải làm, một hy sinh cao cả nhứt.

Phản quốc là một đại trọng tội. Nên việc Đàng Nhà Nước CSVN CS Hà nội nhu nhược, như thông đồng, thần phục quân Tàu, mặc thị, bất động như nhượng đất, dâng biển, dâng đảo cho CS Bắc Kinh đã làm cho chính Đảng Nhà Nước phân hoá. Tướng lãnh hưu và tại chức chống đối. Trí thức trẻ già chống đối. Dân chúng oán hận.

Người dân Việt không sử dụng đươc trên truyền thông trong luồn của Đảng Nhà Nước CS, là “báo đài”, để nói lên thế nước lòng dân trong cơn nguy biến của giặc Tàu gây ra, thì dùng blog chánh trị để chống.

Nhà cầm quyển CS lãnh chỉ thị của TC là “định hướng dư luận”. CSVN bắt người yêu nước này, thì người kia đứng lên kế tục. Nhiều nhà báo yêu nước tìm đủ mọi cách viết lách. “Tản mạn với Đảo Xa” của Trung Bảo trên báo Du lịch, “Hoàng Sa - tường trình 35 năm sau” trên báo Tuổi Trẻ; báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên, đồng loạt đăng bài 'Trung Quốc yêu sách 80% diện tích biển Đông : Không chấp nhận đường lưỡi bò' của tác giả Quốc Pháp, là thí dụ điện hình.

Còn người dân trong nước dù bị kềm kẹp cũng tìm cách tưởng niễm anh hùng tử sĩ chống TC xâm lược. Như thanh niên Hànội thắp nến thả đèn cầu nguyện cho 74 tử sĩ VN Cộng Hoà ở Hà nội.

Tưởng nhớ vào ngày 19 tháng 1 này hằng năm, 74 anh hùng tử sĩ đã tử chiến vơi Trung Cộng ở Hoàng sa. Bốn chiến hạm HQ 4, HQ 5, HQ 10 và HQ 16 đã tấn công, đâm thẳng thẳng vào các chiến hạm của TC như phi cơ Thần Phong của Nhựt. Hạm Trưởng Hải Qưan Trung tá Ngụy Văn Thà, chỉ huy chung chết theo tàu theo truyền thống của Hải Quân.

Để kết thúc, xin phép trích một thư cả mấy chuc người ký, ở Bắc, ở Trung, ở Nam, và ở hải ngoại; đa số là ngươi trong nước gởi phu nhân Cố Hạm Trưởng Hải Qưan Trung tá Ngụy Văn Thà: “Thưa Bà; Chúng tôi những người con nước Việt, trong những ngày này, lòng đang hướng về Hoàng Sa và Trường Sa thân yêu của Tổ quốc xin gửi đến Bà cùng gia đình lời thăm hỏi ân cần và lời chúc an lành, hạnh phúc! Cách đây 39 năm, ngày 19/1/1974, trong một cuộc chiến không cân sức với quân xâm lược Trung Cộng để bảo vệ Hoàng Sa, Trung tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng Chiến hạm Nhật Tảo HQ-10 đã tử trận cùng 73 đồng đội của Ông. Từ đó, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đã rơi vào tay quân xâm lược.Chúng tôi vô cùng xúc động trước sự hy sinh anh dũng của Ông nhà. Ông đã hiến thân vì Tổ quốc - một sự hy sinh vẻ vang nhất, hơn bất cứ một sự hy sinh nào. Sự hy sinh ấy là một tấm gương cho các thế hệ sau noi theo trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của người Việt Nam.

“Thưa Bà;

“Chúng tôi rất vui vì những năm gần đây, sự kiện Hoàng Sa được nhắc lại và lần đầu tiên, nhiều người mới biết đến. Các giá trị dần dần được trả lại đúng bản chất của nó.Ngày 24/7/2011, một cuộc biểu tình tại Hà Nội đã tôn vinh Ông nhà cùng những chiến sĩ đã ngã xuống Hoàng Sa và những chiến sĩ đã ngã xuống Trường Sa 14 năm sau đó.Ngày 27/7/2011, Lễ tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam hy sinh trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc đã được tổ chức tại Sài Gòn mà bà là nhân vật được mời dự. Buổi lễ đã tri ân tất cả các chiến sĩ hy sinh trong các cuộc chiến chống xâm lược tại biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam, tại Hoàng Sa và Trường Sa…”
 
 
 Vi Anh

nhìn BÊN THẮNG CUỘC qua LĂNG KÍNH NQ36


Tác giả của cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” là một nhà báo đảng viên. Xưa nay ông hành nghề báo chí với tư cách đảng viên và trong khuôn khổ “báo chí lề phải” của đảng VGCS chứ không phải là một nhà báo tự do. Do đó người viết xin mạn phép gọi ông chính danh là “văn nô,” tuyệt nhiên không có ý khinh miệt gì cả. Đó là lời thanh minh trịnh trọng và cũng là lời mở đầu cho bài viết dưới đây của chúng tôi.
Trong bài viết này, chúng tôi thử đưa ra một lối nhìn của riêng mình về cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của văn nô Huy Đức, nhưng không làm công việc phê bình tác phẩm (gọi nôm na là điểm sách) mà chủ yếu là thử đặt tác giả và tác phẩm vào trong cái bối cảnh của việc thi hành NQ36 của VGCS để xem cuốn sách có nhắm tới một mục tiêu chính trị nào không và sự liên hệ của nó với NQ36 như thế nào. Vấn đề được trình bầy trước qua một bức tranh sơ họa giả tưởng sau đây để cho quí bạn đọc dễ hình dung ra.
Có một tay trọc phú rất giầu có. Hắn muốn để lại một cái gì đó cho hậu thế phải nhớ đến hắn sau khi hắn chết. Nghĩ mãi, cuối cùng hắn quyết định muốn vẽ một bức hoạ ghi lại cuộc đời nghèo khổ của hắn hồi còn rất nhỏ. Điều quan trọng, bức họa phải là một tác phẩm để đời, được mọi người ao ước chiêm ngưỡng, và phải được trưng bầy cho đến ngàn đời trong bảo tàng viện quốc gia. Hắn cho mời nhiều nhà danh họa đến để thực hiện ý định. Bức họa theo hắn mô tả cũng chẳng có gì khó khăn và cầu kỳ, chỉ là một bức tranh đồng quê. Nội dung họa phẩm là quang cảnh một căn nhà nhà quê rất đơn sơ mộc mạc với một gia đình nông dân chất phác gồm hai vợ chồng và đứa con vừa biết đi, biết chạy với vài con chó nhỏ. Ở nhà quê mà, đứa nhỏ làm bạn với mấy con chó, chạy nhảy lăng xăng khắp cả nhà. Những hạt cơm rơi, những mẩu xương thừa, những bãi phóng uế đứa nhỏ tuôn ra đâu đó, đương nhiên được coi là món quà thiếu chủ (đứa nhỏ) tặng cho mấy con chó. Mỗi khi được thiếu chủ tặng quà, lũ chó mất hết tình bạn bè. Chúng trở thành kẻ thù của nhau, dành dựt nhau, cắn xé nhau để tranh ăn.
Nhiều họa phẩm vẽ xong được trình lên cho nhà trọc phú coi. Cảnh tượng mấy con chó tranh nhau những “cục trí thức” thơm phức (dĩ nhiên là chỉ thơm đối với chó) rất sống động và rất đẹp mắt. Đó là cảnh quang chính (centre piece) của bức họa làm ông chủ rất khoái. Đẹp thì có đẹp thật. Tuy nhiên không có bức họa nào hoàn toàn làm vừa lòng hắn. Lý do là vì các nhà danh họa đều xuất thân từ trường phái Siêu Thực.
Người thích siêu thực hình dạng thì vẽ chó, con tròn quay như trái mít, con như khúc que củi, thiếu chủ chẳng khác gì Trưong Phi. Ông ưa siêu thực mầu sắc thì tô mầu chó, con đỏ lòm như trái cà chua chín, con xanh lè như tàu lá. Loại màu sắc và hình dạng đó đối với người nghệ sĩ dĩ nhiên rất gây ấn tượng. Nhưng dưới con mắt người bình thường, loại tranh lập dị này khó có thể được coi là nghệ thuật. Do đó mà khi nhà trọc phú đem triển lãm những bức tranh để trưng cầu ý kiến thì đến cả đám gia nhân và đầy tớ trong nhà cũng lắc đầu le lưỡi.
Cuối cùng nhà trọc phú cũng tìm ra một họa sĩ vẽ được bức tranh. Bức tranh này gần với hiện thực hơn, tuy chưa được hoàn chỉnh. Người này mới ra trường nên chưa nổi tiếng. Tuy cũng xuất thân từ trường phái Siêu Thực, nhưng được cái ông ta đã linh hoạt sử dụng cây cọ trong khi vẽ. Ông vẽ người ra người, vẽ chó ra chó, vẽ động vật ra động vật, vẽ tĩnh vật ra tĩnh vật, đặc biệt tránh lối dùng mầu sắc đối chọi gay gắt của trường phái Siêu Thực. Tuy ít gây ấn tượng nhưng tranh ông vẽ được nhiều người xem, khen là hấp dẫn.
Xin trở lại với vấn đề Nghị Quyết 36.
Bọn xâm lược miền Bắc tức Bên thắng cuộc – nói theo văn nô Huy Đức - chiến thắng VNCH ngày 30-4-75, nhưng không bình định được miền Nam, cũng không an dân được đồng bào miền Nam. Người bị giết vô số kể. Chúng bắt hơn hai chục triệu dân chúng miền Nam phải lao dịch khổ sai. Có người bị chiếm nhà và tịch thu tài sản. Hơn một triệu người phải đi tù không có án. Hơn 2 triệu người thoát thân ra được nước ngoài biến thành một căn cứ chiến đấu quyết tử chống quân xâm lược. Thế là hình thành một trận địa mới. Một giai đoạn mới của cuộc chiến lại tiếp diễn. Căn cứ địa tuy ở bên ngoài lãnh thổ VN, nhưng Bên Thắng Cuộc quyết chí phải truy quét và chiếm cho bằng được.
Trận Xuân Lộc trước ngày 30-4-75 chưa phải là trận đánh cuối cùng theo ý nghĩa của khái niệm “kết thúc chiến tranh.” Dương Văn Minh đầu hàng cũng vẫn chưa phải là chấm dứt cuộc chiến. Do đó văn nô Huy Đức đặt cho bọn xâm lược cái tên “Bên Thắng Cuộc” là hoàn toàn sai, bởi vì VGCS chưa đạt được thắng lợi cuối cùng.
Cuộc chiến còn dai dẳng kéo dài bao lâu khi VGCS chưa khuất phục được 3 triệu đồng bào VN tỵ nạn tại hải ngoại. Cuộc chiếm lĩnh này với cái tên NQ36 mới là trận đánh cuối cùng của cuộc chiến. Để đạt được thắng lợi cuối cùng này, VGCS đã phải đưa ra một quyết định gọi là Nghị Quyết 36 với chiến phí dự trù gần 2 tỷ mỹ kim. Nghị quyết bí mật của Đại Hội III đảng VGCS thành lập ra cái gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam VN” ngày 20-12-1960 tại Tây Ninh để thôn tính VNCH thế nào, thì Nghị Quyết 36 cũng giống y như vậy. Mục tiêu của Nghị Quyết của Đại Hội III là thôn tính miền Nam. Mục tiêu của NQ36 là thôn tính cộng đồng tỵ nạn VN tại hải ngoại.
Chiến tranh võ trang không còn nữa. Dĩ nhiên cuộc chiến đấu phải biến dạng, và biến dạng dưới nhiều hình thái khác nhau, có thể nói là đa dạng hơn chiến tranh võ trang rất nhiều, chỉ thiếu có tiếng bom đạn, tiếng máy bay, xe tăng gầm, rú. Ta và địch gặp nhau có khi vẫn tay bắt mặt mừng vì không nhận ra nhau. Đến khi biết nhau có thể tặng cho nhau nhát giao găm lút cán. Trong cuộc chiến này, VGCS chủ yếu dùng các hình thức tuyên truyền mê hoặc, xâm nhập lũng đoạn, mua chuộc, và làm ung thối hàng ngũ đối phương. Muốn biết cuốn sách Bên Thắng Cuộc có liên hệ với NQ36 không, nó yểm trợ NQ36 như thế nào, tiên quyết phải thừa nhận mục tiêu của NQ36 là chiếm cứ cộng đồng tỵ nạn, rồi sau đó mới xem xét vấn đề dưới các khía cạnh sau đây: liên hệ đảng của tác giả, nội dung cuốn sách, văn phong, và sau cùng, bối cảnh việc thực hiện NQ36 hiện nay: VGCS sửa Hiến Pháp.
1. Thân thế tác giả - Những năm gần đây có nhiều đảng viên đảng VGCS lên tiếng, hoặc viết sách, viết báo phê phán đảng. Mức độ phê phán có khác nhau. Đọc kỹ họ, ta sẽ thấy những người này phê phán đảng, nhưng họ chỉ phê phán từng giai đoạn lịch sử của đảng chứ không phê phán toàn bộ đảng từ ngày thành lập cho đến nay. Họ chỉ chửi đảng từ sau khi đảng cướp được miền Nam và trở thành thoái hóa, nhưng ngược lại rất hãnh diện và ca ngợi đảng thời kỳ trước 30-4-75. Như thế có nghĩa là họ không chửi đảng, không chửi chế độ, mà chỉ chửi một nhóm, một thành phần cá biệt nào đó trong đảng mà thôi. Đây là điều tối quan trọng cần phải biết đối với bất cứ ai chống cộng trong việc phân biệt bạn - thù. Nhiều cá nhân, nhiều tổ chức và đảng phái chủ trương hợp tác với thành phần gọi là chống đảng. Xin hãy tỉnh táo. Liên minh với thành phần gọi là CS phản tỉnh, đừng mơ tưởng là chúng ta chiêu hồi được họ, vì chúng ta chẳng có gì để chiêu hồi cả, mà trái lại chỉ có nghĩa là thành phần phản tỉnh muốn mượn sức của cộng đồng tỵ nạn để tiêu diệt phe CS đối lập với họ.
Xong rồi, họ, CS vẫn là CS, họ không bao giờ bỏ đi cái hào quang chống Pháp, chống Mỹ, “giải phóng” miền Nam. Một số đảng viên dốt nát hoặc thiếu ý thức không nhận thức đúng vấn đề. Nhưng nhiều đảng viên, nhất là loại lão thành vẫn mù quáng cho rằng công cuộc diệt Mỹ, chống Pháp, xâm lược miền Nam là công lao to lớn của đảng. Họ tôn vinh cái công đó mà họ là những người được vinh dự dự phần vào, nên tất nhiên cũng phải được hưởng công. Không bao giờ họ chịu từ bỏ ảo tưởng đó. Văn nô Huy Đức cũng vậy. Như hắn tự viết lý lịch, hắn là một đảng viên, đặc biệt là một đảng viên hoạt động trong ngành thông tin văn hóa. Cho nên tinh thần càng bảo thủ hơn. Vì thế hắn chỉ viết lịch sử từ sau ngày 30-4-75 mà bỏ đi giai đoạn trước.
Một người không phải là CS nếu có tâm huyết ghi chép lại lịch sử của đất nước sau 30-4-75, người này nhất định không thể không tìm hiểu cho rõ ngọn nguồn, nguyên nhân nào đã đưa đến chiến thắng của Bên Thắng Cuộc. Đó là điều tối cần thiết phải đặt ra cho người viết sử, nhưng văn nô Huy Đức không nói tới. Sự thật không thể chối cãi là, nguyên nhân của sự thắng cuộc chính là cái quân đội nhân dân VN là một đạo quân đánh thuê nên được chủ yểm trợ tối đa về mọi mặt. Và như tư lệnh của cái đạo quân này là tên Hồ tặc xác nhận, nó nhận chỉ thị của Quốc Tế IIICS hoàn thành sứ mệnh xích hóa toàn cõi Đông Dương. Hồ nhận chỉ thị và hoàn thành chỉ thị để chiếm miền Nam cho đế quốc Liên Sô. Rõ ràng là như thế. Viết lịch sử nhưng lại giấu nhẹm đi nguyên nhân gây ra biến cố lịch sử, tác giả Huy Đức cho thấy hắn mang nặng tính nô lệ của một tên văn nô.
2. Nội dung cuốn sách Bên Thắng Cuộc - Như đã nói ở trên, chúng tôi không làm công việc phê bình sách, nên miễn đi vào từng chi tiết nội dung của cuốn sách. Vả lại đã có nhiều người phê bình rồi. Chúng tôi chỉ xin sơ lược vài nhận xét quan trọng vạch ra cái dụng ý của nghề làm văn nô của tác giả Huy Đức.
a/ Nếu Huy Đức là một người ngay thật và trung thực, một sử gia chân chính thì đã không trịnh trọng dùng chữ GIẢI PHÓNG làm tựa đề cho cuốn "Bên Thắng Cuộc 1" vừa mới phát hành. Tác giả khi thu thập tài liệu, chắc chắn đã nhìn thấy rõ và đã hiểu thấu việc quân đội Bắc Việt xâm nhập miền Nam để ăn cướp chứ không phải để giải phóng? Giải phóng cái gì trong khi Miền Nam tự do dân chủ và đời sống người dân tốt đẹp vượt trội miền Bắc về mọi mặt thì đâu phải cần miền Bắc giải phóng. Điều này chúng tôi khỏi cần phải bàn cãi. Như thế Huy Đức dùng chữ “Giải Phóng” ở đây hẳn là phải có dụng ý. Thật ra là dù có muốn, Huy Đức cũng không dám thay thế chữ “giải phóng” bằng chữ “xâm lược” cho đúng với sự thật được, bởi vì Huy Đức chỉ là một văn nô, mà văn nô thì phải viết theo chủ trương của đảng: đảng VGCS giải phóng miền Nam chứ không xâm lược miền Nam. Đó là chân lý của tập đoàn gian manh và dối trá VGCS. Cũng như hiện nay, theo cung cách bịp bợm của nó, NQ36 chỉ hô hào hòa hợp nhưng tuyệt nhiên không nói đến hòa giải. Nhưng nhiều người vẫn bị ru ngủ.
b/ Về tài liệu để viết, tác giả Huy Đức thu thập hầu hết từ các nguồn sau đây: thứ nhất, bọn lãnh đạo chóp bu của đảng VGCS từ Tổng bí thư trở xuống đến thủ tướng, tướng lãnh v.v., thứ hai, báo chí của đảng, và thứ ba, bọn quốc gia phản phúc và phản bội. Cùng một lò văn nô với tác giả mà Bùi Tín cũng chỉ dám ước lượng là mới có khoảng 30% những mất mát, những thương đau mà Bên Thắng Cuộc gây ra cho nhân dân miền Nam được đề cập tới trong cuốn sách. Thế còn 70% nữa ở đâu? Thiếu sót như vậy mà bọn báo nô và trí thức ngựa lớn họng ca tụng Bên Thắng Cuộc là cuốn tài liệu lịch sử đầy đủ nhất từ trước tới nay! Chưa nói đến con số 30% kia có được bao nhiêu sự thật trong đó. Những sự kiện và tin tức khai thác từ một tập đoàn dối trá, gian manh, xảo trá, và bịp bợm, từ báo chí công cụ của Bên Thắng Cuộc, từ bọn ăn cơm quốc gia thờ ma CS v.v. không thể được đánh giá là những sự thật trung thực và khách quan. Chưa kể những chuyện viết sai sự thật bị lật tẩy và tác giả đã phải xin lỗi.
c/ Nhiều vấn đề lịch sử bị che giấu - Nhiều chủ trương của Bên Thắng Cuộc về nhiều lãnh vực đã bị văn nô Huy Đức cố tình che dấu khi viết sách. Trong khuôn khổ hạn hẹp của bài viết, chúng tôi chỉ xin nêu một vài trường hợp điển hình làm thí dụ. Chẳng hạn chánh sách đối với những nhà lãnh đạo của miền Nam, tại sao Bên Thắng Cuộc phải hành hạ và bức tử Phó Tổng Thống Trần Văn Hương và nhiều người yêu nước khác Huy Đức không nói tới. Hay như chính sách về tôn giáo, đặc biệt đối với đạo Công Giáo, tại sao Lm Huỳnh Công Minh lại giữ chức Tổng Đại Diện TGP Saigon quá lâu mà không cho ai thay thế? Bên Thắng Cuộc làm thế nào để đẩy Đức TGM Ngô Quang Kiệt đi khỏi TGP Hànội và đưa GM Nguyễn Văn Nhơn lên thay? Mua chuộc hay áp lực, Huy Đức cũng bỏ qua luôn. Vân vân và vân vân.
Và đây mới là những chuyện mà cộng đồng người Việt tỵ nạn tại hải ngoại muốn đọc và muốn biết nhưng đã bị che giấu, vì nó là lịch sử và là chuyện lịch sử tối quan trọng đối với họ.
Như trên chúng tôi đã trình bầy, NQ36 mới thực sự là trận đánh cuối cùng nhằm thâu tóm cộng đồng tỵ nạn qui phục dưới chân đảng như VGCS mong muốn. VGCS đã phải chi ra gần 2 tỷ dollars cho công việc này. Bên Thắng Cuộc đã làm những gì với gần 2 tỷ dollars đó? Xuất cảng bao nhiêu cán bộ tình báo ra ngoại quốc trà trộn vào trong cộng đồng người tỵ nạn để rây rối? Cài cắm được bao nhiêu điệp viên vào trong các tổ chức, đảng phái quốc gia tại hải ngoại, chúng tên gì và làm nhiệm vụ gì? Mua chuộc được bao nhiêu tổ chức, đoàn thể, bao nhiêu tờ báo, truyền thanh và truyền hình? Những đài nào, báo nào? Gầy dựng được và nuôi dưỡng bao nhiều tay sai tại hải ngoại? Chúng là ai, tên gì, và hoạt động ra sao? Tất cả đều là chủ trương của NQ36 nhưng Huy Đức không đả động gì tới. Như vậy thì gọi Bên Thắng Cuộc là một cuốn tài liệu lịch sử trung thực và đầy đủ được không? Hỏi thì hỏi vậy thôi, người viết thừa hiểu rằng những vấn đê trên đều là “bí mật quốc gia” của VGCS, tối kỵ đối với văn nô. Huy Đức cho dù có biết cũng không dám viết trong sách của hắn.
3. Văn phong - Trước đây khi người VN ra ngõ gặp anh hùng thì lời ăn tiếng nói của bọn lãnh đạo cũng như của các nhà văn nhà báo Bên Thắng Cuộc rất kiêu căng, xách mé, hỗn láo và mất dậy. Ngày nay, khi người VN bước ra đường là đụng ăn cướp, thì cách ăn nói của các giới này có khác đi, chừng mực và lễ độ hơn xưa. Sau ngày 30-4-75, Phạm Văn Đồng gọi người di tản là ma cô, đĩ điếm, tay sai đế quốc. Sách vở báo chí gọi một cách khinh bỉ người quốc gia là ngụy quân, ngụy quyền, tay sai đế quốc … Ngày nay bọn văn nô ăn nói lễ độ hơn, gọi là Quân Lực VNCH và Chính Quyền VNCH, ít còn gọi thằng Diệm, thằng Thiệu, mà gọi là tổng thống đàng hoàng. Đọc Bên Thắng Cuộc người ta nhận thấy bàng bạc có sự thay đổi chiến thuật của VGCS. Sự thay đổi cách ăn nói và ngôn từ trong sách báo của Bên Thắng Cuộc cho thấy họ đã có phần nào thay đổi đường lối và chính sách đối với người tỵ nạn nói riêng và nhân dân miền Nam nói chung, mặc dầu chưa phải hoàn toàn. Thế nhưng xin cũng đừng mừng vội. Đây chỉ là mánh khóe bịp bợm để đạt mục đích là khuất phục cộng đồng tỵ nạn thôi. Đối với VGCS, cứu cánh biện minh cho phương tiện bao giờ cũng đúng.
Phải thừa nhận rằng VGCS chiêu hàng người tỵ nạn bằng lời ăn tiếng nói lễ độ hiệu nghiệm và có kết quả. Như đã thấy, chỉ một chữ “tuẫn tiết” của Huy Đức khi nói về cái chết của các danh tướng Trần Văn Hai, Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú v.v. đã làm mềm lòng biết bao chiến sĩ chống cộng sắt đá ở hải ngoại. Nhiều người vội cho rằng VGCS đã nhận lỗi và đã hối lỗi rồi, đã đến lúc hòa giải rồi. Sao mà dễ dàng thế? Có thể so sánh Huy Đức, nhà văn thuộc trường phái “ra ngõ gặp anh hùng” với người họa sĩ của môn phái Siêu Thực. Một người tránh lối ăn nói thiếu giáo dục, sử dụng văn phong nhẹ nhàng khi viết. Một người khéo léo linh động cây cọ khi vẽ và biết pha trộn mầu mực cho hài hòa. Cả hai đều uyển chuyển một chút mà thu phục được lòng người. Sách Bên Thắng Cuộc của Huy Đức tuy không nói lên được bao nhiêu sự thật lịch sử nhưng nó được các ống loa tuyên truyền của Bên Thắng Cuộc đề cao và tô vẽ nên nhiều người háo hức muốn đọc. Đọc rồi sẵn sàng quên hết chuyện xưa. Đây là chủ đích của cuốn sách Bên Thắng Cuộc. Nó tạo nên sự thành công của NQ36. Phương thức này cũng là một thể loại “tiếng sáo Trương Lương” đưa cộng đồng tỵ nạn vào cái tròng hòa hợp hòa giải với Bên Thắng Cuộc.
4. Sửa Hiến Pháp - Có lẽ ít người tỵ nạn chúng ta quan tâm đến việc VGCS phát động chiến dịch lấy ý kiến người dân cho việc sửa đổi Hiến Pháp của chúng. Thay đổi hiến pháp để thay đổi cơ chế chính trị trong các nước CS chỉ là một hành động ma giáo, một trò bịp chính trị. Nhưng trong sự suy nghĩ của nhiều người, nó lại là sự lý giải hợp lý và hợp pháp cho vấn đề tuyên truyền rằng chế độ đang cởi mở để đi đến dân chủ. Điều đó cũng dễ dàng được chấp nhận đối với thế giới. Câu hỏi nên đặt ra là tại sao VGCS lại nói chuyện sửa hiến Pháp trong lúc này? Và, cuốn sách Bên Thắng Cuộc ra đời vào thời điểm này có phải là một trùng hợp ngẫu nhiên không?
Xếp chung các sự kiện sửa đổi hiến pháp ở trong nước và sự xuất hiện ồn ào của các con thò lò chính trị ở hải ngoại lại với nhau, người ta có thể đoán rằng NQ36, tức trận tấn công cuối cùng sắp đi đến giai đoạn chót, nghĩa là NQ36 sắp chiếm xong mục tiêu và bình định được các cộng đồng tỵ nạn. Có thể nói, cuốn Bên Thắng Cuộc ra đời đúng lúc làm công tác tâm lý chiến, yểm trợ cho công tác “địch vận” của NQ36. Cứ xem việc nó được giới trí thức ngựa ca tụng và bọn truyền thông tay sai quảng cáo rầm rộ thì biết ngay ý đồ của VGCS. Người nhẹ dạ tưởng tượng không khí hòa hợp hòa giải sẽ xẩy ra trong nay mai, vì “VC đã xuống nước rồi, đã chịu hòa hợp hòa giải rồi ….” Chế độ dân chủ đa nguyên (mặc dù là tiền chế) sẽ làm vừa lòng tất cả mọi phe, chỉ trừ phe những người VN thực sự yêu nước. Chưa ai biết được chung cuộc sẽ ra sao, chế độ mới hình thành như thế nào. Nhưng chắc chắn sẽ xẩy ra cái hoạt cảnh đẹp mắt giống như trên bức họa của nhà trọc phú. Khi được thiếu chủ tặng quà, đàn chó sẽ cắn xé nhau rất tận tình, quên hết cả tình nghĩa chó má lúc bình thường. Có thể tiên đoán rằng, sau khi Hiến Pháp được sửa đổi qua loa cho có lệ, một vài đảng phái cuội sẽ được phép hoạt động. Dăm ba con thò lò chính trị tại hải ngoại sẽ được chia chác ghế ngồi trong chính quyền. Bên Thắng Cuộc sẽ chỉ định (không phải bầu) một số đại biểu đại diện Việt kiều hải ngoại vào quốc hội. Phương thức này có lẽ được chọn lựa bởi vì nó thích hợp nhất. Bộ Ngoại Giao Mỹ tin rằng sẽ là người đầu tiên gởi điện văn chúc mừng tân “quốc hội dân chủ” VN.
Trận thắng cuối cùng này của Bên Thắng Cuộc chắc không phải cần đến ông TT Dương Văn Minh ra lệnh buông súng và lên đài đọc bản văn đầu hàng.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

__._,_.___

Xuân đã về


 
Mùa Xuân là mùa đẹp nhất trong bốn mùa, cả về màu sắc và thời tiết. Mùa Xuân không nóng bức và hanh khô như mùa Hạ, không se lạnh và bâng khuâng như mùa Thu, không băng giá và buồn bã như mùa Đông. Trái ngược với các mùa khác, mùa Xuân ấm áp, màu sắc tươi đẹp, ngàn hoa khoe sắc, cây cối đâm chồi nảy lộc, mọi vật sinh động, đất trời bừng sáng, mùa chim chóc làm tổ, mùa đôi lứa xây tổ uyên ương,… Do đó, mùa Xuân còn được mệnh danh là Mùa Yêu Thương, Mùa Đoàn Tụ, Mùa Hạnh Phúc.
Ai cũng mong chờ Mùa Xuân, và ai cũng vui sướng khi đón Xuân về, chào Tết đến. Với tâm tình phấn khởi đó, NS Minh Kỳ (*) đã sáng tác nhạc phẩm “Xuân Đã Về” rất phổ biến từ nửa thế kỷ qua. Ca khúc này được viết ở nhịp 2/2, âm thể Trưởng, với tiết tấu đơn giản nhưng vẫn tạo được nét độc đáo.
NS Minh Kỳ chứng tỏ Mùa Xuân thực sự đã về tràn ngập trên quê hương: “Xuân đã về, Xuân đã về, kìa bao ánh Xuân về tràn lan mênh mông”. Không chỉ đơn giản vậy, ông dẫn chứng thêm: “Trên cánh đồng, chim hót mừng, đang thướt tha từng đàn tung bay vui say”.
Và còn nữa, ngàn hoa nở tươi thắm như những đôi môi cười rạng rỡ: “Xuân đã về, Xuân đã về, ngàn hoa hé môi cười vui đón gió mới”. Đúng là Xuân đã về thật, thế nên chúng ta cũng hãy mau ca vang để mừng Xuân mới: “Xuân đã về, Xuân đã về, ta hát vang lên câu ca mừng chào Xuân”.
Xuân về có khác. Tất cả như được thay da đổi thịt, người và vật đều tươi mới: “Nhìn trời bao la xinh tươi bao cô gái đẹp cười trông xinh như hoa, lập lòe tà áo xanh xanh chen bông tím vàng đẹp hơn tiên nga, và bầy em bé rúc rích, khúc khích tiếng cười rủ nhau vui ca, từng đàn chim non xinh xinh tung bay khắp trời cùng ríu rít ca”. Xuân tuyệt vời thật, Tết vui ơi là vui!
Ngày xưa, người ta không chỉ ca hát để mừng Xuân mà còn có tiếng pháo vang rền suốt mấy ngày Tết, hầu như nhà nào cũng đốt pháo, ít cũng là một bánh pháo: “Một bài ca đón chào mừng hòa theo tiếng pháo đì đùng, mừng Xuân nay đã về rồi và Đông đã vừa qua”. Mừng lắm, nam phụ lão ấu đều vui hớn hở, chỗ nào cũng nghe người ta nói nói cười cười râm ran như pháo nổ: “Ngập trời bao tiếng chào mừng, nàng Xuân duyên dáng về rồi, về gieo bao thắm tươi vui, lòng ta thấy yêu đời”.
Mùa Xuân khiến người ta vui hơn, tin tưởng hơn, yêu đời hơn. Đôi khi Xuân có vẻ đến sớm, nhưng không bao giờ đến muộn. Xuân về rồi, Tết đến rồi, hãy vui ca và chúc mừng nhau những điều tốt đẹp nhất, người ơi!
TRẦM THIÊN THU

______________________________
minhky
 
(*) Minh Kỳ (1930-1975) tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, gốc Huế, sinh tại Nha Trang, Khánh Hòa. Theo gia phả hoàng tộc triều Nguyễn, Minh Kỳ là cháu 5 đời của Vua Minh Mạng. Năm 1959, ông vào định cư tại Sài Gòn. Tại đây ông cùng với Anh Bằng, Lê Dinh lập nên nhóm Lê-Minh-Bằng (Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng). Chức vụ cuối cùng trước 30-4-1975 là đại uý cảnh sát. Sau 30-4-1975, bị bắt đi cải tạo và bị chết oan vì lựu đạn vào khuya ngày 31-8-1975.
Ông có một số ca khúc tiêu biểu: Bao Giờ Em Lấy Chồng (viết chung với NS Hoài Linh), Biệt Động Quân, Biệt Kinh Kỳ (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyến Tàu Hoàng Hôn (viết chung với NS Hoài Linh), Chuyện Hai Người (viết chung với NS Hoài Linh), Chỉ Có Một Người, Đừng Quên Nhau (viết chung với NS Mạnh Phát), Mưa Trên Phố Huế (phổ thơ Tôn Nữ Thụy Khương), Mưa Buồn (viết chung với NS Hoài Linh), Mây Trắng Biên Thùy (viết chung với NS Y Vân), Năm Cụm Núi Quê Hương, Người Em Vỹ Dạ, Lá Rụng Hoàng Hôn, Lời Mẹ Tôi, Sầu Tím Thiệp Hồng (viết chung với NS Hoài Linh), Từ Giã Kinh Kỳ, Thương Về Xứ Huế,…

Cuộc vượt biên tị nạn Cộng Sản vẫn còn tiếp diễn




Cô Holly Ngô
Nạn nhân là những người đấu tranh dân chủ, những người viết blog chống Trung Cộng, những người thiểu số theo đạo Tin Lành, người Hmong, giáo dân Cồn Dầu bị cướp đất cướp nhà, những người công nhân lao động xuất khẩu bị bóc lột, nạn nhân của các tổ chức buôn người.
60,000 công nhân đang còn “mắc cạn” ở Mã Lai!
Cô Holly Ngô, một thiện nguyện viên của Boat People SOS vừa đi Mã Lai và Thái Lan để thăm viếng và giúp đỡ một số đồng bào đang “mắc cạn” tại đây trở về Nam Cali. Mặc dù rất bận công việc tại sở làm, cô Holly Ngô đã theo dõi tin tức đồng bào Việt Nam đang tỵ nạn tại Thái Lan và đã quyên góp trong họ hàng, bạn bè một số tiền lên đến $8,000 mang đi Thái để trực tiếp giúp đỡ đồng bào. Trong một khoảng thời gian ngắn khoảng hơn một tháng, cô Holly Ngô đã gây quỹ qua email và Internet với bạn bè và thân hữu của BPSOS được gần 8000 USD. Cô cho biết đã đi xin hơn 300 pounds quần áo cũ và gửi qua công ty chuyển hàng đến Thái Lan. Cô cũng mang theo một số thuốc Tây như trụ sinh cùng một số thuốc mua được tại Costco như thuốc cảm, đau nhức, tiêu chảy, và các loại vitamin.
Cô Holly Ngô cho biết cô đã theo dõi tin tức hàng ngày trên website và báo Mạch Sống của BPSOS cho thấy có hơn 900 người tị nạn Việt Nam trên đất Thái. Họ là những người đấu tranh dân chủ, những người viết blog chống Trung Cộng bị đàn áp, những người thiểu số theo đạo Tin Lành bị đánh đập, những người dân Cồn Dầu bị cướp đất cướp nhà, những người công nhân lao động xuất khẩu bị bóc lột, trở về Việt Nam bị đánh đập bỏ tù lại phải bỏ xứ ra đi.


Khu nhà tồi tàn mà người Việt tị nạn đang sinh sống, chen chúc và lẩn lút.

Người Việt tị nạn ở Thái Lan
Hiện nay một số lớn người tị nạn đang sống vất vưởng ở Thái Lan, không có việc làm, có thể bị cảnh sát di trú bắt bỏ tù bất cứ lúc nào, dù có hay không có quy chế tị nạn của Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc. Con cái của họ thì không được đi học. Ðời sống người tị nạn hiện nay vô cùng bấp bênh và khốn khổ. Cô cho biết với số tiền cô tự quyên góp mang đi, chỉ là hạt muối bỏ biển trước sự thống khổ của đồng bào với tương lai mờ mịt.
Những người Việt tị nạn ở Bangkok là những người đấu tranh dân chủ ở Việt Nam, bị đàn áp, hạch sách, chịu không nổi họ đã chạy trốn qua Thái Lan. Một blogger gốc Hà Nội (xin giấu tên) đã viết bài trên blog của mình để đòi hỏi dân chủ, chống Tàu, bị đàn áp truy bức, cùng đường đã chạy sang Thái Lan. Hiện nay chị đang bị sạn thận rất nặng cần phải mổ nhưng chị chưa có tiền nên cầu cứu mọi người giúp cho chị.


Thầy Huyền Việt đến thăm đồng bào tị nạn ở Thái Lan.
Tại Bangkok, cô Holly Ngô cũng đã gặp khoảng 20 giáo dân Cồn Dầu còn đang chờ đi định cư, trong số này còn 4 gia đình chưa có quy chế tị nạn, cần phải nhờ luật sư giúp kháng cáo lên Cao Ủy Tị Nạn.
Một số tị nạn khác là người tị nạn từ Lâm Ðồng, họ là những người dân tộc thiểu số nhưng nói tiếng Việt khá rành. Các anh em Tây Nguyên rất khó khăn khi kiếm việc làm vì không có giấy tờ, đàn bà thì ở nhà may vá hay đến chỗ các bà sơ may để kiếm tiền độ nhật qua ngày.
Nhóm Hmong thì có khoảng 24 người vừa người lớn, vừa trẻ em, ở chung trong một căn nhà. Họ rất sợ bị cảnh sát bắt vì đa số họ đã bị Liên Hiệp Quốc từ chối quyền tị nạn mặc dù vì theo đạo Tin Lành ở Việt Nam họ đã bị chính quyền Cộng Sản đàn áp bắt bớ, đánh đập rất tàn nhẫn.
Một số khác là các cựu thuyền nhân - những người đã bị cưỡng bức hồi hương năm 1996 và nay lại chạy sang Thái Lan. Ở đây, họ sống rất cơ cực vì không có việc làm. Ngay cả số ít người đã được xét là tị nạn cũng vẫn sợ bị bắt vào “tù di trú” vì Thái Lan không công nhận công ước tị nạn.



Trẻ em tị nạn.
Anh L. đã tập họp một số thanh niên để xin việc đấu thầu xây cất cho dân địa phương nhưng với tiền lương rẻ mạt vì họ biết các anh là những người tị nạn cần việc làm nhưng không có giấy tờ hợp pháp. Anh xin giúp đỡ để có máy móc dụng cụ xây cất để làm thành một đội Việt Nam chuyên xây cất dưới những người thầu xây dựng người Thái và hy vọng có những hợp đồng nhỏ để làm. Các chị em gái thì xin máy may, máy vắt sổ để may vá ở nhà sống qua ngày. Nhu cầu của người tỵ nạn ở đây thì quá lớn nhưng không có sự giúp đỡ nào có thể thỏa mãn cho họ.

Nạn nhân của những tổ chức buôn người ở Mã Lai
Cô Holly Ngô cũng đã ghé qua Mã Lai để tìm hiểu hoàn cảnh của nhiều phụ nữ Việt Nam trở thành nạn nhân buôn người và đời sống của các công nhân lao động “xuất khẩu” tại đây.
Ngày 26 tháng 11, 2012 cô Holly Ngô được tham dự một phiên tòa xử buôn người tại một tòa án ở Kuala Lumpur. Hai thiếu nữ Việt Nam tên H. và L., người quê ở Cần Thơ và Tây Ninh, được một đường dây đưa sang Mã Lai, hứa hẹn công việc bồi bàn trong quán ruợu với lương 5 triệu đồng (khoảng 250 USD) mỗi tháng. Sang đến Mã Lai, đi làm 8 tháng, nhưng không được lãnh đồng nào vì ông chủ đòi trừ 1,000 USD tiền máy bay và dịch vụ, và 1,300 USD tiền làm visa 6 tháng. Mỗi ngày mỗi em được từ 50 đến 100 Ringgit (khoảng 17-33 USD) tiền tip cũng bị chủ lấy hết. Sau đó họ bị ông chủ bắt ép bán dâm, hai em không chịu nên bị đánh đập tàn nhẫn.
Trong nhà tạm trú còn có 8 cô gái Việt Nam nữa cũng cùng một hoàn cảnh bị buộc phải bán dâm như vậy. Cuối cùng họ gọi được cảnh sát Mã Lai để kêu cứu và cảnh sát đã bố ráp bắt được ông chủ A Sịa và 10 cô gái Việt Nam.



Phụ nữ Cồn Dầu.
Tất cả các cô gái Việt Nam đã được đưa vào nhà tạm trú tạm giam chờ ngày ra tòa làm nhân chứng và sẽ bị trục xuất ngay sau đó. Nhưng đã hơn 6 tháng qua, ra tòa hai lần rồi mà vụ án vẫn chưa xử xong. Kinh nghiệm những vụ án như thế này, người chủ buôn người thông đồng với cảnh sát địa phương nên thủ phạm ít khi bị tù. Trong trường hợp này, các cô gái nạn nhân chỉ mong phiên tòa sớm kết thúc, để “được” trục xuất về lại quê nhà.

Số phận những công nhân “xuất khẩu” ở Mã Lai
Ðể thoát ra khỏi cảnh nghèo nàn, thanh, thiếu nữ Việt Nam muốn đi lao động ngoại quốc phải cầm sổ đỏ nhà cửa (giấy xác nhận quyền sử dụng đất) đế có ít nhất 26 triệu (khoảng ,1300 USD) trả dịch vụ “xuất khẩu lao động” đi Mã Lai. Khi ký hợp đồng, họ được hứa hẹn đồng lương 900 Ringgit (khoảng 300 USD) mỗi tháng, làm 8 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần. Nhưng khi qua Mã Lai, họ phải làm 10 tiếng đến 12 tiếng một ngày, 6 ngày một tuần. Mỗi tháng họ bị cắt tiền bảo hiểm chống trốn và chỉ đem về được 500 Ringgit (khoảng 170 USD).
Một nữ công nhân quê quán ở Lâm Ðồng, muốn được ra khỏi cảnh nghèo túng, phải cầm thế nhà cửa được 18 triệu đồng (khoảng 900 USD) để đưa cho nhà nước và dịch vụ, mong được “xuất khẩu” đi Mã Lai. Ðến Mã Lai, cũng như các công nhân khác, bị bóc lột, em than thở với một cô bạn người Nam Dương và đến cầu cứu với văn phòng CAMSA (1) ở Penang. Cô bạn xấu miệng đã đi nói với sếp là người Ấn Ðộ và em bị sếp Ấn Ðộ hù dọa, không dám trở về công ty, nên trốn trở lại Việt Nam, khiếu nại với cơ quan gửi người đi xuất khẩu.
Thay vì được bênh vực, em này lại bị công an địa phương hỏi cung, tra khảo. Chúng hỏi em tại sao dám nói xấu chương trình xuất khẩu lao động của Việt Nam. Họ nói em làm vỡ hợp đồng đã ký kết, phải bồi thường gấp đôi là 36 triệu đồng (khoảng 1,800 USD). Em không có tiền nên bị bắt giam, tra khảo, đánh đập nên chạy trốn về Sài Gòn. Bị công an truy đuổi, em trốn qua Cam Bốt và sau đó chạy đến Thái Lan từ tháng 10, 2011.
Cô gái này đang xin quy chế tị nạn với Cao Ủy Liên Hiệp Quốc nhưng bị từ chối. Em nhờ BPSOS khiếu nại với cao ủy. BPSOS giới thiệu em với các sơ người Thái để học may. Bây giờ em ở nhà may đồ để kiếm sống và tương lai chưa biết sẽ ra sao.



Một nạn nhân của tổ chức buôn người ở Mã Lai
Một em “công nhân” chỉ mới 16 tuổi nhưng phải làm giấy tờ giả 18 tuổi để được đi làm vì nhà quá nghèo không đủ ăn.
Ðược biết công nhân Việt Nam được cho ở tập thể trong một căn nhà có 12 người ít nhất, tự túc ăn uống.
Sau chuyến đi Thái Lan và Mã Lai hai tuần trở về, cô Holly Ngô đã nhờ chúng tôi chuyển lời kêu gọi đồng bào hải ngoại:
“Hiện nay đồng bào tị nạn rất cần sự giúp đỡ của đồng bào hải ngoại để có thể sống cầm hơi chờ được cao ủy cấp cho quy chế tị nạn và đi định cư. Xin đồng bào hải ngoại mở lòng ra để đóng góp cho BPSOS có ngân quỹ giúp người tị nạn về pháp lý và cứu trợ.
Chúng tôi rất cần sự tiếp tay của mọi người có lòng với đồng bào, của những cựu thuyền nhân đã từng sống qua cuộc đời tỵ nạn, của những tổ chức từ thiện, và của tất cả những ai quan tâm đến thân phận của những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo giờ đây đang phải lánh nạn vì bị đàn áp và truy lùng.”

Chú thích:(1) Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới Ở Á Châu, viết tắt là CAMSA (Coalition to Abolish Modern-day Slavery in Asia) trong tiếng Anh, hiện gồm 4 tổ chức thành viên: BPSOS, Liên Hội Người Việt Canada, Hiệp Hội Nhân Quyền Quốc Tế (Ðức), và Tenaganita (Mã Lai). Sau bốn năm hoạt động, Liên Minh CAMSA đã can thiệp cho trên 60 vụ lớn nhỏ, ảnh hưởng đến trên 4 nghìn nạn nhân. Liên Minh CAMSA cần sự yểm trợ của đồng bào để tiếp tục phát triển hoạt động nhằm can thiệp và trợ giúp nạn nhân, truy tố thủ phạm, và thúc đẩy những thay đổi về chính sách của các quốc gia liên hệ.

Mọi đóng góp yểm trợ cho Liên Minh CAMSA, xin đề cho và gởi về:
BPSOS/CAMSA
PO Box 8065
Falls Church, VA 22041 - USA
Phone: 703-538-2190

Ngoài ra tại Little Saigon, một buổi dạ tiệc gây quỹ giúp người tị nạn Việt Nam ở Thái Lan và Mã Lai của BPSOS “Góp Một Bàn Tay” sẽ được tổ chức ngày 9 tháng 3, 2013 tại Seafood Palace 2, 6731 Westminster Ave., Westminster CA 9268 - (714) 379-2338 từ 6:00pm-11:00pm với một chương trình văn nghệ, xổ số, đấu giá, dạ vũ với ban nhạc The Night Star.
Giá vé $35.
Xin liên lạc với cô Huệ: 562-458-2285.

 Huy PhươngHình: Phong Lan

THÁNG GIÊNG ĂN TẾT…


Bánh tét không nhưng hai chiếc cột chặt vào nhau(người địa phương gọi là bánh bó) là loại bánh không thể thiếu được trong ngày tết của đồng bào nơi đây.
Ông giáo sư phân tâm học người Mỹ John Sanford là một người theo trường phái phân tâm học của Karl Jung. Ông John Sanford có viết một quyển sách có cái tựa là “The Kingdom within”, tạm dịch là “Vương quốc ở bên trong”.
Trong cuốn sách đó, ông giáo sư có kể lại một câu chuyện. Quê của ông giáo sư John Sanford ở New Hampshire. Thuở nhỏ, ông sống ở nông trại. Mấy chục năm về trước, nông trại đó chưa có nước máy như bây giờ, chỉ xài nước giếng mà thôi.
Ở gần nhà ông bà nội của giáo sư hồi đó có một cái giếng rất nhiều nước. Cái giếng này đủ nước để cung cấp cho một nông trại lớn, kể cả những ngày hè đồng khô cỏ cháy. Không bao giờ cái giếng ấy cạn nước. Ông giáo sư John Sanford hồi nhỏ đã có nhiều kỷ niệm đẹp với cái giếng này.
Lần này về thăm quê cũ sau mấy chục năm xa cách, ông giáo sư liền ra thăm cái giếng. Ông mở cái nắp giếng lên thì lạ quá, cái giếng đã cạn từ bao giờ, không còn lấy một giọt nước. Ông đem cái thắc mắc này ra hỏi, bà nội ông mới nói lý do.
Ngày xưa người ta xài nước giếng. Càng lấy nước thì nước trong mạch càng chảy ra không bao giờ cạn. Còn sau này, người ta xài nước máy, không ai lấy nước giếng nữa. Nước giếng trở thành nước tù, bụi bậm lắng xuống. Còn các mạch không được thông, dần dần tắt nghẽn. Mạch nước bị vít lại rồi, còn bao nhiêu nước lâu ngày chầy tháng rồi cũng bốc hơi hết. Thế là cái giếng cạn.
*
Chưa bao giờ trong lịch sử mấy ngàn năm, dân tộc Việt Nam lại có cái cảnh như bây giờ, đó là một phần không nhỏ của dân tộc phải bỏ xứ ra đi rồi sống tản lạc khắp nơi trên thế giới. Tại vì sao hàng triệu người phải bỏ nước ra đi thì ai nguời ta cũng biết rồi.
Tính đi tính lại người ta nói Việt Nam đã định cư ở trên bốn chục quốc gia. Không nói đâu xa, ngay một ông đồng hương với tôi có cả thảy sáu đứa con, định cư ở bốn nước khác nhau. Năm 1978, hồi lúc có vụ người Hoa đi bán chính thức, ông làm giấy tờ giả, chèn nhét được hai đứa con một trai, một gái đi lọt được qua Mã Lai. Hai anh em định cư tại Bỉ, ở một vùng mà người ta nói tiếng Đức. Năm 1981, một đứa con trai nữa vượt biên chui tới đảo. Anh chị em nó ở bên Bỉ viết thơ cho em dặn dò nếu có nước nào nhận thì cứ đi trước đừng chờ đợi. Thằng này cuối cùng định cư ở Úc. Còn vợ chồng ông và ba đứa con cũng vượt biên năm 1984, trong đó có thằng con lớn nhất đi học cải tạo về. Gia đình năm người qua Mỹ.
Đứa con gái bên Bỉ năm sau lấy một người chồng Việt Nam ở bên Pháp. Mới đây, nhân đám cưới thằng con út ở Mỹ, cái gia đình tứ xứ ấy gom về San José. Người lớn tay bắt mặt mừng sau bao nhiêu năm xa cách. Chỉ có đám con nít mới là rắc rối.
Ông đồng hương than thở với tôi, ông không có cách gì nói chuyện với hai đứa cháu ngoại ở Pháp và đứa cháu nội ở Bỉ. Hai đứa con ông phải làm thông dịch viên. Với mớ tiếng Anh bập bẹ, ông có thể nói chuyện chút đỉnh với đứa cháu nội ở bên Úc, nhưng nói tiếng Việt với chúng thì vô phương. Mặc dầu ông mới bảy mươi ngoài, ông than với tôi một câu đứt ruột:
“Tôi mà nằm xuống rồi, chắc anh em tụi nó sẽ trở thành người dưng nước lã.”
*
Lời than ấy tuy bi quan nhưng không phải là không có một phần sự thực. Cái cảnh đau lòng, tan đàn xẻ nghé ấy đã xảy ra với rất nhiều gia đình Việt Nam. Hoàn cảnh nó buộc người ta phải chịu như vậy. Sống ở đâu cũng được, miễn sao chạy cho thoát cái đám ôn dịch là được. Biết làm sao hơn bây giờ!
Nhiều người so sánh hoàn cảnh những người Việt Nam tha hương chúng ta bây giờ giống như những người Do Thái trong những thế kỷ trước đây. Sư so sánh này cũng có vài phần đúng. Nhưng hai hoàn cảnh đó không hoàn toàn giống nhau.
Ngày 14-5-1948, Do Thái lập quốc. Nhưng trước đó trong hàng ngàn năm, người Do Thái không có tổ quốc, phải ăn nhờ, ở đậu khắp nơi trên thế giới. Có một điểm đặc biệt là trong hoàn cảnh sống lang thang vô tổ quốc như vậy suốt hàng ngàn năm, người Do Thái vẫn là người Do Thái. Có thể trên bàn ăn của một người Do Thái ở Nga sẽ có những thức ăn không hoàn toàn giống với người Do Thái sống ở Tây Ban Nha. Nhưng nếu hai người ấy gặp nhau ở Pháp, người Do Thái Tây Ban Nha và người Do Thái Nga vẫn giao tiếp, nói chuyện, cảm thông với nhau được.
Chính điều đó mà khi tái lập quốc, những người Do Thái từ khắp nơi trên thế giới đã quần tụ với nhau đượcvà bắt tay xây dựng đất nước Do Thái từ con số không. Những người Do Thái từ khắp bốn phương trời với những địa bàn cư trú khác nhau, những mức sống khác nhau…, người Do Thái ở Mỹ, người Do Thái ở Phi Châu, người Do Thái ở Ba Lan đã sống cạnh nhau trên một đất nước Do Thái mới.
Cái gì đã giữ cho họ vẫn là người Do Thái sau hàng ngàn năm bị xé nhỏ và sống lọt thỏm giữa những dân tộc và những nền văn hóa xa lạ? Cái gì đã giúp những người Do Thái từ hàng trăm quốc gia vẫn cảm thấy họ vẫn có một sợi dây liên kết?
*
Mới chỉ đến thế hệ thứ hai mà mấy đứa cháu nội, cháu ngoại của ông bạn tôi đã không còn giao tiếp được với nhau. Cậu không thể nói chuyện với cháu. Bác ở Mỹ gọi thì cháu ở Bỉ giương mắt ra nhìn. Ông bạn tôi lo rầu là phải. Đến đời sau nữa thì ôi thôi, chúng nó sẽ là người dưng nước lã với nhau chứ còn gì nữa!
Con cô nói tiếng Pháp, con cậu nói tiếng Anh; không gọi điện thoại nói chuyện được, không viết thư cho nhau được, mỗi lần gặp nhau phải vất vã tìm một ngôn ngữ trung gian để có thể đạt được một chút cảm thông tối thiểu.
Tại sao cái cảnh không vui ấy lại xảy ra trong khi trước đó một thế hệ thôi, người ta vẫn ăn cùng mâm và vẫn ở cùng nhà, có cùng một cha một mẹ; hoặc nói rộng hơn, cùng một dân tộc? Sự việc chắc sẽ đơn giản hơn nếu tất cả những ai có tổ tiên là người Việt đều biết nói tiếng Việt.
Ngôn ngữ là một trong những phương tiện chính để đạt đến sự cảm thông. Anh em một nhà mà phải dùng đến một ngôn ngữ xa lạ để nói chuyện với nhau quả thực là một điều chua xót. Ngôn ngữ nào cũng vậy, biết mà không nói thì ngày càng quên đi.
Những thế hệ Việt Nam sinh ra trên xứ người, ai sẽ là người dạy tiếng Việt Nam cho các thế hệ ấy? Cha mẹ chứ ai!
*
Ngôn ngữ là một phần của văn hóa dân tộc. Còn giữ được tiếng nói chung thì người Việt năm châu vẫn còn cảm thông được với nhau. Còn giữ gìn được văn hóa dân tộc thì còn cái cội rễ mà tìm về gặp nhau ở đấy.
Chuyện ăn Tết cũng là một nét đặc thù của nền văn hóa dân tộc. Một gia đình nào mà hăm ba Tết có đưa ông Táo, ba mươi Tết rước ông bà, có thịt mỡ dưa hành, có bánh dày, bánh chưng thì nhất định đó phải là một gia đình Việt Nam, không lẫn lộn đi đâu được.
Nói như thế không có nghĩa là nếu một gia đình ngày Tết mà không có được những thứ ấy thì không phải là một gia đình Việt Nam. Hoàn cảnh nơi xứ người không được thì đành chịu chớ biết làm sao. Nhưng những tục lệ ngày Tết là một phần trong gia tài văn hóa dân tộc mà chúng ta cần nên trân trọng giữ gìn.
Cái gia tài văn hóa dân tộc ấy sẽ là một sợi dây liên kết người Việt năm châu. Trăm năm sau, cũng nhờ sợi dây đó mà người Việt Bắc Âu sẽ nhìn ra người Việt Úc Châu, người Việt ở Mỹ sẽ nhìn ra người Việt ở Nhật giữa bao nhiêu người cũng tóc đen, da vàng.
Ngôn ngữ cũng như văn hóa dân tộc, nếu sử dụng và duy trì bồi bổ thường xuyên thì còn mãi. Hễ bỏ xó thì mỗi ngày sẽ mai một, biến mất lần hồi. Cái nguồn mạch của dân tộc, nhất là trong hoàn cảnh tha hương phải hết sức trân trọng và chăm chút thường xuyên. Cũng như cái mạch nước giếng mà ông giáo sư John Sandford đã nói tới. Không sử dụng đến, cái mạch giếng dân tộc ấy sẽ bị vít lại và khô cạn dần.
Cho dù bây giờ đã có nước máy, thỉnh thoảng chúng ta cũng nên ra giếng kéo nước lên tưới hoa, tưới cỏ hoặc tắm mát một lần. Vừa tìm lại những phút thoải mái tinh thần và tiện thể duy trì cái mạch nước ấy. Cũng như chuyện chúng ta duy trì truyền thống ăn Tết ở xứ người vừa vui vẻ thoải mái tinh thần, vừa góp phần duy trì truyền thống văn hóa, nên lắm chớ!
*
Tự điển Việt Nam định nghĩa:
Ăn Tết: Mua sắm, vui chơi trong dịp Tết. Thí dụ: Ăn Tết lớn.
Còn học giả Lê Văn Siêu định nghĩa:
Ăn Tết: là ăn uống vui chơi trong ngày Tết. Thí dụ: Tháng Giêng ăn Tết ở nhà…
Như vậy có nghĩa là ăn Tết không phải chỉ là ăn không mà còn nhiều thứ nữa. Càng lớn người ta càng thấy Tết bớt vui. Chớ tôi hồi nhỏ, hễ cứ lễ thượng điền xong là nhấp nhổm đợi cho tới Tết. Con nít hồi đó Tết mới có quần áo mới, Tết mới có tiền bỏ túi chớ không phải như bây giờ. Tết được ăn uống phủ phê, đi chơi tối ngày sáng đêm mà không bị rầy rà. Tết được chơi bầu cua, bông vụ, Tết được đi coi người lớn đá gà ăn tiền, Tết có thi lột dừa khô bằng tay không, mỗi đứa cũng có năm ba viên pháo lẻ dằn túi mua ở tiệm Chệt. Tết thì đường xá, đồng ruộng khô sạch, không lầy lội như mùa mưa, gió chướng thổi lồng lộng.
Tóm lại Tết là những ngày sung sướng nhất, ngay cả ông tía hàng ngày khó tánh cũng đâm ra dễ dãi. Cây chổi lông gà trở lại nhiệm vụ quét bàn, quét bộ ván ngựa mời khách ngồi chớ không còn đáng sợ như thường ngày.
Lớn lên một chút đi học xa nhà thì ngày Tết được nghỉ Tết về nhà đạp xe đạp đi thăm bà con. Có cái Tết năm Tuất 1946, Tây vô, nhà cửa tản cư, ăn Tết đậu ở nhà người quen. Dưới bến ghe xuồng cụ bị sẵn sàng chạy giặc. Ở ngoài các vàm sông lúc nào cũng có người canh chừng tàu Tây. Thét rồi quen, Tây thì mặc Tây, ăn Tết cứ ăn Tết. Tiếc một cái là tinh thần yêu nước của dân mình hồi ấy bị cái đám quỷ đỏ kia lợi dụng gạt gẫm.
Tới lúc sau này, năm Mậu Thân, lại ăn Tết chạy giặc nữa. Tết hai bên tuyên bố hưu chiến. Dân chúng lo sắm sửa, Tết mà! Chiến tranh thì chiến tranh, đã nói hưu chiến ba ngày thì cứ tin như vậy. Ai dè súng nổ, đạn bay. Mấy ông vô đốt nhà lồng chợ, Công chánh ra chữa cháy thì bắn, hụt ăn một cái Tết không nói làm gì, nhà cháy người chết khắp nơi.
Kể lại chuyện Tết Mậu Thân để nhắc bà con có tin mấy ông thì cũng nên tin vừa vừa thôi. Ngày Tết mà mấy ông cũng không chừa thì biết nói sao bây giờ!
*
Ăn Tết thì phải ăn. Ăn Tết để góp phần bảo vệ văn hoá dân tộc mà. Tội gì không ăn. Chẳng những ăn Tết mà còn chơi Tết nữa. Vui Tết cũng như kéo nước giếng lên tắm mát, để cái mạch văn hóa quê hương mãi mãi tuôn hoài. Nên lắm!

TRÚC GIANG cư sĩ

Bài Xem Nhiều