We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 24 January 2013

Tết Nguyên Đán : Nhớ Những Người Tranh Đấu Bị "Tù Cộng Sản"

( Thay lời ngưỡng mộ và biết ơn, kính gởi những Kinh Kha Việt Nam anh hùng đang bị giam giữ trong lao tù Cộng Sản vì tranh đấu cho lý tưởng Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam)

Xuân về, cánh thiệp xa xôi
Xót xa xin gởi người nơi ngục tù
Người tù vì bởi chân tu
Bởi mong cứu nỗi mịt mù chúng sinh
Gióng chuông, đem lửa công bình
Mong soi sáng nẻo tâm tình, thế thôi!
Nhưng đời tàn bạo, hại người
Đem tâm bạo chúa mà khơi hận thù...
Xích xiềng hành hạ người tu
Dã man, đàn áp, cầm tù, hỡi ơi !!!

Mùa Xuân, cánh thiệp xa xôi
Xót thương, xin gởi đến người, Kinh Kha!
Người vì lý tưởng Quốc Gia
Hy sinh hạnh phúc gấm hoa cho đời
Nổi chìm theo phận nước trôi
Non sông chung, lại riêng người gian lao!
Vận đen giam chí anh hào
Tay còng, chân xích, hàng rào giam thân
Nhớ người vì nước, vì dân
Ơn người, gởi cánh thiệp xuân chúc người
Quê hương chúc sẽ xuân vui
Kinh Kha nước Việt, chúc lời thành công
Cờ vàng chúc thắm núi sông
Muôn dân hạnh phúc, muôn lòng hoà vui
Không còn đau khổ ngậm ngùi
Người hiền sẽ hưởng phúc Trời rộng ban!



Ngô Minh Hằng

---
 Làm Gì Trong Tù?


Gần đây, tôi hay nghĩ đến điều này: “Nếu như bị tù cộng sản thì mình sẽ như thế nào?” Câu hỏi sẽ làm nhiều người bật cười, ở tù dĩ nhiên là khổ, tù cộng sản, dĩ nhiên, nhiều lần khổ hơn; nếu không khổ thì đâu đe nẹt được ai. Câu hỏi đúng ra là: “Nếu như bị cộng sản giam cầm thì mình sẽ làm gì trong tù?” Câu hỏi cũng sẽ làm bật cười, tù thì làm được gì!
Trong những ngày sắp Tết Nguyên Đán, tin 13 thanh niên Thiên Chúa giáo và Tin Lành bị kết án nặng nề khiến câu hỏi bỗng thành nặng trĩu. Những người trẻ tuổi kia nếu ở ngoài đời họ sẽ là những sinh viên, những doanh nhân, những công nhân ham học ham làm. Nhưng cánh cửa tù đã hạ xuống, nó không chỉ tước đoạn sự tự do mà còn dựt mất đi cái quyền chân chính nhất của một người: quyền làm việc.
Tôi biết sẽ không bao giờ có câu trả lời khi chính mình chưa nếm mùi ngục tù cộng sản. Dù sao, ước mong tìm hiểu vẫn thôi thúc vì thế tôi chỉ có thể thâu lượm và ghi lại kinh nghiệm của những người từng là tù nhân cộng sản, những người – theo tôi – đã chứng tỏ tinh thần trước sau như một: không lùi bước, không bỏ cuộc, và không thù hận.
Người tù đầu tiên tôi nghĩ tới là Nguyễn Liệu, người đề xướng và sáng lập Quảng Ngãi Nghĩa Thục.
Quảng Ngãi Nghĩa Thục – noi theo gương Đông Kinh Nghĩa Thục (1) do chí sĩ Lương Văn Can, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ sáng lập – là trường trung học dành cho trẻ em nghèo tại Quảng Ngãi trong những năm 1971-1975. Đặc biệt một điều, không phân biệt con em quốc gia hay cộng sản. Để có thể là trường hoàn toàn miễn phí cho học sinh, tất cả giáo sư trong trường đều tình nguyện làm việc không lương. Vậy mà, sau tháng Tư 1975, Quảng Ngãi Nghĩa Thục vẫn bị đổi tên, tượng Lương Văn Can bị đập nát, và rất nhiều thày giáo của trường bị bắt đi tù cải tạo, trong đó có Nguyễn Liệu.
Tôi biết Nguyễn Liệu khi tìm hiểu Quảng Ngãi Nghĩa Thục qua sự trò chuyện với một số cựu giáo sư và cựu học sinh của trường. Các anh vốn là học sinh xuất sắc được trường giúp lên Sài Gòn theo học bậc đại học và sau 1975 đến định cư ở Hoa Kỳ. Tất cả những người tôi gặp đều nhớ tới Nguyễn Liệu như một người luôn luôn bận bịu cho công việc chung.
Nguyễn Liệu được mô tả có sức vóc hơn người, “một bữa ăn 7 tô cơm” (theo Uyên Thao). Trong trận bão Hester, Nguyễn Liệu đã “chạy đuổi theo những tấm tôn, bất chấp nguy hiểm do những vật đè rơi” (theo Hoàng Ngọc Lễ). Một người cuồn cuộn sức sống như Nguyễn Liệu khi bị cùm bó chắc chắn rất bức bối khó chịu, nhưng dù vào tù, ông cũng không chịu ngồi yên, cũng phải tìm cách loay hoay làm ra cái này, chế tạo cái khác .
Tại trại tù Kim Sơn – Bình Định, Nguyễn Liệu được cho vào đội lò gạch. Thấy tình hình vệ sinh trong trại quá tồi tệ không có nơi riêng để đi tiêu đi tiểu, Nguyễn Liệu xin làm một cầu tiêu. Phó giám thị trại chưa nghe hết đã gay gắt bảo:

“Các anh lúc nào cũng tiểu tư sản, phải có cầu tiêu mới là được à? Hai mươi mấy năm trên rừng, chúng tôi có mấy cái cầu tiêu mà đánh thắng Mỹ-Ngụy. Nay các anh đi cải tạo mà đòi cầu tiêu. Các anh quen cách sống sang trọng tội lỗi, lúc nào cũng cầu tiêu, buồng tắm xa hoa trong lúc nhân dân đang thắt lưng buộc bụng chống Mỹ cứu nước. Bây giờ xây dựng dựng hòa bình, đáng lẽ các anh phải thấy tội ác mình, ăn năn hối cải để trở thành người lương thiện về sống với nhân dân.” (Trích hồi ký “Đời Tôi” – Nguyễn Liệu)

Kế hoạch xây cầu tiêu thất bại thảm hại. Hóa ra xin đất xây trường học thời Việt Nam Cộng Hòa còn dễ dàng hơn xin đất xây cầu tiêu thời Việt Nam Cộng Sản. Nhưng Nguyễn Liệu không bỏ cuộc, ông chờ một cơ hội khác. Lần sau, với lời hứa chỉ một mình ông tự lo để không ảnh hưởng tới năng suất cả đội, Nguyễn Liệu đã thực hiện được ước mơ “đổi đời”: xây một cầu tiêu. Làm xong cầu tiêu, Nguyễn Liệu “thừa thắng xông lên” đòi đào giếng. Chưa xong, ông còn nghĩ tới làm hệ thống lọc nước để không uống phải nước độc trong rừng. Rồi tiếp theo làm những chỗ để tiểu, đổ tro vào rồi lấy tro trộn nước tiểu làm phân bón rau. Các vồng rau, cải, bí, cà chua, mọc lên xanh om giúp cải thiện bữa ăn héo hắt trong tù. Thế nhưng, dù cuộc sống trong trại có vẻ ổn định, Nguyễn Liệu biết rằng nguy hiểm vẫn luôn luôn rình rập, một số cán bộ muốn đẩy ông ra khỏi đội lò gạch để chúng dễ bề mua bán đổi chác hòng thủ lợi riêng. Sau cùng, Nguyễn Liệu bị đổi qua trại Xuân Phước.
Người tù thứ hai tôi nhớ tới là Cung Trầm Tưởng.
Trước đây, nếu có ai nói có ngày tôi được gặp tác giả câu hát trữ tình “Lên xe tiễn em đi, chưa bao giờ buồn thế…” tôi sẽ cười, cho là ăn ốc nói mò, không ngờ tôi có được cái may mắn ấy thật. Mùa thu vừa rồi, Cung Trầm Tưởng ghé thăm Virginia, bị kẹt bão Sandy cả tuần lễ, nhờ thế tôi có dịp gặp nhà thơ.
Giữa những tách café bốc khói và những chiếc bánh ngọt, Cung Trầm Tưởng kể về những lúc trong tù. Ngạc nhiên thay, Cung Trầm Tưởng – người được đào tạo ở Pháp, có cả bạn gái là đầm Pháp chính gốc – lại có những giòng thơ thân thiết với các thi sĩ thời Đường. Cung Trầm Tưởng bật mí rằng ông học thơ Đường chính từ trong tù! Một người bạn tù, một đàn anh, thông thạo cả Tây học lẫn Hán học đã dạy ông những bài thơ của Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị. Trong tù ngày dài tháng rộng, có dịp học, cớ sao không học?
Cung Trầm Tưởng cũng không quên làm thơ, hết làm thơ tình thì làm thơ tù vậy. Không bút, không giấy, vẫn có thơ, đó là những “Lời Viết Hai Tay”, hai tay bị cùm chặt, hai tay bị cấm viết, nhưng chính vì bị cùm bị cấm mới ra thơ tù, để rồi trọn vẹn “Một hành trình thơ Cung Trầm Tưởng” (tên tác phẩm thơ vừa được phát hành).
Kẽm gai
Nguồn ảnh: OntheNet


Hệ thống tù lao động cải tạo là cách thâm độc của cộng sản nhằm triệt hạ ý chí và sức sống của quân nhân miền Nam hòng biến họ thành hèn nhát, sợ sệt. Ngờ đâu, những hiểm nguy đời tù lại giúp cho Cung Trầm Tưởng tìm ra những ý tưởng mới lạ. “Những dấu chân ngang trên một triền phiếm định(2)”, cái tựa này sẽ rất khó hiểu cho những ai không từng đi tù cộng sản, phải là người đã từng vác trên vai một bó vầu vừa dài vừa nặng rồi đi xuống trên triền dốc thẳng đứng, trơn trượt. Hai người tù, mỗi người một đầu, vác không khéo, trượt chân, bạn mình cũng té nhào theo. Để không té ngã thì không được đi thẳng mà phải đi ngang, nên thành “Những Dấu Chân Ngang”. Chính vì đi ngang – thật ra đi xéo xéo – nên có thể thấy được cả hai phía, phía trước mặt và phía sau lưng, như thể thấy cả quá khứ và tương lai; và thi sĩ chợt bừng hiểu: tất cả chỉ là hư ảo, tất cả chỉ là “Một Triền Phiếm Định”.
Tôi xin ký thác ngân hàng
Gian truân còn lại chút vàng châu thân.
Sách đời dày nghĩa nhân luân,
Văn hay ý đẹp đánh vần dạy tôi.

Ước gì những cán bộ quản giáo, giám thị cộng sản có dịp đọc bài thơ “Chuyến Chót” của Cung Trầm Tưởng. Ít ra, một lần, dù chỉ thoáng qua, họ có dịp thấy được bao nhiều mưu đồ của họ cuối cùng đã thất bại, họ dễ dàng lấy đi mạng sống của người tù nhưng không bao giờ tước đoạt được khả năng cảm ứng với cái đẹp của người thơ.
Người tù thứ ba, không chỉ riêng tôi, mà còn được nhiều người tưởng nhớ, đó là Hồng y Nguyễn Văn Thuận.
Năm 1975, nhà nước Việt Nam Cộng Sản đã bắt Giám Mục (Gm) Nguyễn Văn Thuận mà không qua một phiên tòa xét xử tội danh nào. Không chỉ bắt bớ vô cớ, cộng sản còn buộc ông 9 năm biệt giam, không bạn tù, không được cả ra ngoài lao động. Cuộc sống bức bối cô đơn khiến nhiều lúc làm Gm Thuận muốn phát điên, nhưng nỗi dày vò lớn hơn cả là cảm thấy mình vô dụng, ở tuổi 48, tuổi tràn đầy sinh lực và khả năng làm việc vậy mà phải bỏ phí thời gian giữa bốn bức tường ngục tù, thật quá oan uổng. Thế nhưng, trong tận cùng u tối, Gm Thuận đã tìm được ánh sáng, ông hiểu ra thế nào là “Chúa” và thế nào là “Việc của Chúa” .
“Việc của Chúa” là những công việc một tu sĩ Thiên Chúa Giáo được giao phó tùy chức vụ và khả năng, như trường hợp một giám mục thì đó là kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên; kiến thiết thánh đường, cư xá sinh viên; mở mang các thí điểm truyền giáo, v.v. Còn “Chúa” hay “Thánh Ý Chúa” là cách sống, cách hành xử như những lời Đức Ki-Tô đã dạy, như lời Kinh Hòa Bình: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người.”
Và GM Nguyễn Văn Thuận đã tuân theo tiếng gọi thiêng liêng ấy, ông không còn coi mình như một giám mục xông xáo năng động và thành công nữa; kể từ bấy giờ, ông chấp nhận một sứ mạng mới: sứ mạng tông đồ truyền giáo giữa chốn lao tù, một thứ “khí cụ bình an của Chúa” để “đem tin kính vào nơi nghi nan, đem trông cậy vào nơi thất vọng…” Nhờ ở tâm tình khiêm tốn và hiến dâng ấy, Gm Thuận đã trải qua 13 năm lao tù với sự bình an, thanh thản.

Trên đây là 3 người tù của nước Việt Nam Cộng Hòa, 3 người có nghề nghiệp khác nhau, người dạy học, người làm lính, người đi tu. Cả 3 đều là cái gai của chế độ Cộng Sản, đều phải bị hạ nhục, bị bẻ gãy, và ghê gớm hơn, bị làm cho tha hóa để không còn có thể giữ được trí tuệ, phẩm cách và nhân tính nữa. Thế nhưng…
Cả 3 đều đã ra tù, đều sống bình yên vui vẻ bên sự nể trọng và thương yêu của gia đình, bạn bè, đồng đội. Nguyễn Liệu vẫn sung sức, hàng ngày chăm sóc mảnh vườn Quảng Ngãi Nghĩa Thục, chuyển lửa về trong nước. Cung Trầm Tưởng dù nhất định không đụng tới cái computơ vẫn bận rộn với các bài thơ của ông. Và Hồng y Nguyễn Văn Thuận, nay không còn nữa, nhưng trước khi ra đi ông đã để lại tác phẩm “Đường Hy Vọng” – kinh nghiệm sống của một người bị đày ải nhưng không hề tuyệt vọng.
Tôi nghĩ tới những người đấu tranh đang bị Cộng Sản giam cầm: Việt Khang, Paulus Lê Sơn, Tạ Phong Tần,… tôi lại nghĩ tới 3 người tù kia. Tôi biết mỗi người là một hoàn cảnh, không ai giống ai; nhưng mong sao tất cả những anh em trong tù sẽ tìm được phương cách riêng cho mình, Việt Khang vẫn viết nhạc, Lê Sơn vẫn rao giảng lời Chúa, Phong Tần vẫn viết văn. Biết đâu chừng, khi những người ấy ra tù, chúng ta sẽ có thêm những tác phẩm mới – những sáng tác đánh dấu một vận hội mới của một Việt Nam mới.
Mộc Lan DCVOnline

Vương Quốc Anh: Dù trời có lạnh tuyết vẫn rơi… Human Rights & Religious Freedom For Vietnam


Lớp tuyết trên mặt đường vừa tan nhanh còn trơn trợt, thì lớp tuyết khác lại rơi tiếp làm cho không khí càng tăng thêm cơn lạnh buốt thịt da. Tôi vừa ra khỏi trạm xe điện ngầm khoảng 12:50pm, ngoảnh mặt nhìn bầu trời đục ngầu như nước cơm vo, chân vừa bước mắt đảo quanh tìm địa điểm biểu tình, nên chân cứ bước tới đang khi Anh Chị Thạt (cựu Chủ tịch Hội CQN QLVNCH/VQA) đã đứng ngay trước mặt mà tôi không hề hay biết.

Một lát sau Cô Diệu Như gọi điện thoại nhưng tôi không nghe tiếng chuông reo vì mãi hàn-huyên với anh chị Thạt, khi nhìn thấy ‘missed call’ tôi gọi lại xem Cô Như đang ở đâu; hóa ra Cô đã đến nơi, nhưng lại đứng nhầm địa điểm, vì ‘number 10 Downing Street’ có 2 cổng vào, một cổng dành cho du khách, có ngựa và người lính gác cổng mặc binh phục hoàng gia, đội mũ lông, mang kiếm, và một cổng dành cho chính khách, có cổng sắt đóng mở khi xe ra vào, và cảnh sát canh gát bên trong và bên ngoài cổng. Thế là tôi phải dài dòng hướng dẫn dù cách đó chỉ vài trăm bước. Anh Thiện cũng vừa tới nơi, sau lời chào hỏi ai nấy cũng nhìn lên bầu trời tuyết đang rơi từng cụm như bông gòn, trắng xóa cả không gian.  

Khoảng 13:45 trong thời gian đứng đợi, chúng tôi nhìn quanh xem thử, ngoài chúng tôi ra còn có đồng hương nào đến tham dự biểu tình nữa không, nhưng ngoài 5 người chúng tôi không nhìn thấy bóng dáng người Á đông nào đứng gấn đó cả, chỉ có người Tây phương tới lui thưa thớt trên vĩa hè tuyết vừa nhom nhem phủ trắng.

Nhìn thấy tuyết càng lúc càng rơi dày, nên chúng tôi đưa ra quyết định làm sớm nghỉ sớm dù chì có 5 người. Thế là, 13:50 thay vì 14:00 như trong chương trình; chúng tôi giăng biểu ngữ ‘Human Rights & Religious Freedom for Vietnam’ rồi dương Cờ VNCH (cờ cầm tay, vì cờ lớn của tôi đã bị ai lấy mất trong kỳ BT Quốc hận 30/4 năm rồi). Khách bộ hành và du khách kẻ qua người lại đứng đọc biểu ngữ rồi giơ tay ủng hộ chúng tôi, có hai cô du khách xin chụp hình và xin vào hàng cầm biểu ngữ để chụp hình lưu niệm, trước khi chia tay các cô cầu chúc đoàn biểu tình thành công.

Trời khá lạnh, lạnh đến đơ cả tay dù đang mang găng tay. Cho nên, Cô Như (xấp xỉ bát tuần) và chị Thạt (gần thất thập cổ lại hy) lạnh cóng, chân tê buốt tay không cầm chặt hai đầu biểu ngữ được nữa. Do đó, chúng tôi đề nghị đi trao Thỉnh Nguyện Thư sớm hơn dự trù. Thế là chúng tôi cuốn biểu ngữ băng qua đường tới cổng vào ‘number 10 Downing Street’ trao Thỉnh Nguyện Thư cho cảnh sát, nhờ họ mang vào Dinh Thủ Tướng, rồi chụp vài tấm hình để đưa lên mạng trình làng.

Lạnh tê buốt tim gan nên chúng tôi rủ nhau đi uống càfe và xả bầu tâm sự trước khi chia tay, nhưng Anh Chị Thạt bận việc nhà nên kiếu từ dong trước, 3 chúng tôi tấp vào quán càfe gần đó thật ấm áp, quán đông nghẹt người vì du khách cũng ghé vào ăn uống để tránh tuyết lạnh.

Chia tay nhau mỗi người mỗi hướng đi về nhà, nhưng trong ánh mắt chia tay đó, thầm nói với nhau, cho dù, có muôn ngàn lối rẽ... nhưng lối về đất Mẹ chỉ có một mà thôi. Hẹn nhau mai này, cùng nắm tay nhau cắm ngọn cờ vàng bay cao trên nến trời tổ quốc Việt Nam khi xóa sạch bóng giặc thù cộng sản bán nước, trên quê hương thân yêu của dân tộc chúng ta.

  Ngọc Hiếu

Satan To Vatican: "Confesión "


Vatican bắt tay với Đảng Cọng Sản Việt Nam để làm gì ?

Giáo Hoàng của đạo Công Giáo là quốc trưởng của nước Vatican, và trên phương diện trần thế thì Ngài sẽ hành động giống như bao vị thủ lãnh quốc gia khác, có nghĩa là có thể tham gia vào mọi lãnh vực như an ninh, tình báo, chính trị, ngoại giao, kinh tế vv.. để bang giao với các nước khác. Nhưng ngoài việc ngoại giao có tính cách quốc gia, Ngài có thể nào tham gia vào những hành động "phi quốc gia" như Mafia, xã hội đen với buôn lậu, rửa tiền cùng tội ác và phụ họa với những thế lực ma quỷ này để lung lạc đời sống con người không ?
Khẳng định là không ! Giáo Hoàng là một lãnh tụ tinh thần của một tôn giáo nên không được phép bắt tay với những thế lực tội lỗi đen tối, vì bọn chúng không đại diện cho dân tộc của một quốc gia nào cả, hoạt động cục bộ đảng phái của chúng không phục vụ cho quyền lợi của dân tộc mà chỉ cho một phe phái đầy thiên vị và bất công.

Vậy tại sao Giáo Hoàng Benedict 16 lại đi bắt tay với Tổng Bí thư đảng Cọng Sản Việt Nam là Nguyễn-Phú-Trọng trong khi ông này không dại diện cho quốc gia và dân tộc nào cả ?? Hành động bắt tay này của Giáo Hoàng Công Giáo tạo ra những sai lầm trầm trọng về tính ngoại giao quôc tế của một nguyên thủ quốc gia và đi ngược lại cương lĩnh của một lãnh đạo tôn giáo.




Trên bình diện Kitô Giáo, khi đi bắt tay với một đảng ma quỷ giết người cướp của là Đảng Cọng Sản Việt Nam, thì Giáo Hoàng Benedict 16 đã phạm một trọng tội đối với giáo hội vì đã phản bội lại toàn thể giáo dân, vì khi giáo dân đi theo chân Đức Giêsu thì họ đã thề ước rằng : Từ bỏ ma quỷ, từ bỏ mọi hợp tác với ma quỷ, từ bỏ mọi vinh quang hào nhoáng của ma quỷ (3 lời thề rửa tội). Ấy thế mà giờ đây Giáo Hoàng Benedict 16, đại diện cho giáo hội lại đi bắt tay với kẻ mà toàn thể giáo dân đã thề ước phải xa lánh, phải từ bỏ ! Như vậy "nghĩa nà nàm sao ??? ".
Bắc thang lên hỏi ông trời
Giáo hoàng rước quỷ, đạo thời ra sao ?
Chắc rằng không phải chỉ riêng tôi mà có thể là toàn bộ các giáo dân Kitô Giáo đều uất nghẹn khi thấy cảnh chướng tai gai mắt này: Giáo Hoàng Công Giáo đi bắt tay với một con quỷ dữ đang ẩn náu trong bóng tối, hắn chẳng đại diện cho dân tộc nào cả, vì thế Giáo Hoàng không thể nhân danh "vì hạnh phúc và sụ cứu rổi của dân tộc đó" rồi đi giao kết và hợp tác với hắn, một kẻ chẳng ăn nhập gì đến quốc gia dân tộc, mà ngược lại hắn chỉ đại diện cho một đảng quỷ ma chuyên xúi dục những kẻ trong chính quyền tại Việt Nam ra sức cướp bóc nhân dân và bán nước Việt cho ngoại bang mà thôi !!
Đây là một đòn chơi xỏ của quỷ Cọng Sản mà Giáo Hoàng "khờ dại" đã mắc mưu (và đã mắc mưu từ lâu nay mà không thể tỉnh thức, giác ngộ) để rồi tạo cớ cho mọi người dân Việt rêu rao, kêu gào rằng: "Công Giáo phản dân hại nước" vì giáo chủ Công Giáo đang công khai bắt tay và hợp tác với lũ Việt Cọng.
Một giáo hoàng Paul VI đã bán VNCH cho Việt Cọng rồi, và giờ đây phải chăng giáo hoàng Benedict XVI lại tiếp tục bán hết nước VN cho Cọng Sản Tàu hay sao ??
Phải chăng đây cũng là một trò ma quái của điệp viên VC Cao Minh Dung đang tỉ tê khuyén dụ Giáo Hoàng ngã vào lòng của quỷ ma ??
Xin những ai hiểu thấu được một cái lợi mảy may nào cho dân tộc Việt trong hành động bắt tay của Giáo Hoàng Benedict 16 với tên Nguyễn Phú Trọng thì hãy nói lên để dân Việt được biết để cám ơn Ngài !!


Trường Sơn


http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=3134:ba-inh-va-vatican&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Giấc Mơ Nước Mỹ: Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!


Giấc Mơ Nước Mỹ




Bài dự thi “Viết về nước Mỹ” gửi từ Sài Gòn bằng email, được đăng nguyên văn trên Việt Báo USA, không thêm bớt. Bài viết ngắn, tác giả 30 tuổi, cho biết đây là những câu hỏi mong được các chú bác anh em ở Mỹ trả lời.



Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!

Đó là điều mơ ước cháy bỏng của tôi từ khi biết nhận thức sau khi rời Trung Học để bước vào đời. Vì sao ư? Để tôi tìm hiểu về nền văn hóa, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước này. Để tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua từ khi tôi biết nhận thức về đời sống.

Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng bào tôi có mặt ở đây, và sự ra đi này kéo dài hơn một thế hệ rồi, mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ, dù đất nước Việt tôi đã im tiếng súng đã lâu, từ khi tôi chưa chào đời.

Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải đó là Thiên Đường không mà đồng bào tôi, bạn bè tôi sau khi định cư vài năm có trở về thăm quê họ như một con người khác, lịch sự nhã nhặn, có kiến thức giỏi giang hơn rất nhiều. Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dăm đó?

Tôi muốn đi để hỏi các cô gái lấy chồng “Việt Kiều Mỹ” niềm vui rạng ngời hơn các cô gái phải bán thân đi Đài Loan, Hàn Quốc, Campuchia?

Tôi muốn đi để thấy, để biết Tổng Thống Mỹ có phải ông Trời không mà sao cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử Tổng Thống Mỹ?

Và tôi muốn đi để hỏi các Chú Bác những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa HO để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại “chùm khế ngọt” mà hân hoan làm kẻ lưu vong?

Tôi muốn gặp những người cùng lứa tuổi tôi là Người Mỹ Gốc Việt để thử xem cách xa hai nửa bán cầu, tuổi trẻ có gì giống và khác nhau.

Cuối cùng tôi muốn đi để xem vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách.

Nhưng đường đến nước Mỹ với mình chắc xa diệu vợi. Thôi thì các Chú, Bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời dùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ. Nếu vậy thì âu cũng là một niềm vui lớn rồi, chứ chưa dám nghĩ ngày nào đó mình đạt chân đến Mỹ quốc!

Mong lắm thay!

Tác giả : Nguyên Giang
 
------
THƠ TRẢ LỜI THẮC MẮC CỦA Nguyên Giang



Chào bạn trẻ Nguyên Giang,

Tình cờ tôi đọc được bài viết mang tựa đề "Giấc Mơ Nước Mỹ" do một người bạn gốc H.O. chuyển đến. Mấy ngày sau thì nhận được khá nhiều emails trung chuyển cùng nội dung. Rõ ràng là những lời trần tình của bạn đã gây được sự chú ý và trăn trở của khá nhiều người ở ngoài nước. Tuy nhiên, tôi chưa được dịp đọc một bài nào trả lời trực tiếp cho bạn.

Do lời kết: "Thôi thì các Chú, Bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời dùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ." của bạn, tôi dành thời giờ hồi đáp, tâm tình. Hy vọng đây cũng là phần nào những gì mà các "Chú, Bác" khác cũng muốn gửi đến bạn.

Thưa bạn,

Theo bạn chia sẻ, thì tuổi đời 30+ của bạn nhỏ hơn thời gian tôi "lưu vong" ở xứ Mỹ. Tôi muốn nhấn mạnh chữ "lưu vong" ở đây để bạn trẻ hiểu rằng: Kể từ năm 1975, khi ở quê nhà có hàng triệu người đau khổ vì không thoát được ngục tù CS, thì cùng lúc đó ở nửa vòng địa cầu bên kia cũng có hàng triệu người khác đau khổ khi không biết ngày nào được trở lại nơi chôn nhao cắt rốn. Khi cách xa đất nước rồi mới cảm nhận được cái hạnh phúc được sống từng giờ phút trên quê hương thân yêu của mình, bạn ạ!

Bây giờ, những người muốn được đặt chân tới Mỹ không phải chấp nhận đánh đổi tất cả để hy vọng đến được bến bờ tự do như hoàn cảnh nghiệt ngã ở giai đoạn trước ngày nước Mỹ bắt tay lại với chế độ cựu thù (năm 1995). Gần hai mươi năm qua, ai học giỏi và có thêm chút may mắn thì cũng có thể đến được xứ Mỹ này để học thêm, hoặc để thực nghiệm những gì muốn biết rõ. Cho đến nay, đã có hàng chục ngàn người trẻ VN đến Mỹ du học hay thăm viếng. Những người này chắc chắn đã tìm hiểu được những điều mà bạn khắc khoải. Nhưng ngược lại, điều tôi và có lẽ khá nhiều người khác muốn biết là: Những kinh nghiệm từ Mỹ đã và đang đóng vai trò gì cho công cuộc dân chủ hóa đất nước, để Việt Nam sớm xứng đáng cho người dân không phải nghĩ đến chuyện bỏ nước ra đi.

Với thời đại thông tin ngày nay, xứ Mỹ không còn là một bí mật gì to lớn. Người ở Mỹ, bao gồm cả người da trắng và các sắc dân da màu, đã chia sẻ với thế giới rất nhiều về xứ sở này. Đây là một đất nước có một lịch sử và nhiều ưu điểm đáng để nhân loại khâm phục, học hỏi. Tuy nhiên, nó không hoàn hảo mang tính "thiên đường" như một số người viễn tưởng. Điều đáng trân trọng nhất là ở xứ này, những người có nhân cách, ý chí và tài năng đều có thể tìm được cho mình một cuộc sống tương đối hạnh phúc. Như nhiều nước tự do khác, Mỹ là một xứ sở cho phép người ta vươn lên bằng khả năng và ý chí. Đại khái là vậy, không có gì lạ lắm đâu!

Điều tôi muốn nói rõ với bạn trẻ là thế này: Không phải Mỹ là đất nước duy nhất có thể cho con người môi trường để sống một cách lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản. Hầu hết các nước tự do có nền dân chủ vững chắc đều có một ưu tính tương tự như vậy. Ở các nước này, xã hội cho phép những người có óc cầu tiến được học hỏi kiến thức bởi nhiều môi trường khác nhau, nên việc hấp thụ văn minh không phải là điều lạ. Nhưng đó không phải là biệt đãi cho các nước phương Tây.

Trước 1975, Miền Nam Việt Nam cũng đã từng được thế giới khen là Hòn Ngọc Viễn Đông. Thời đó, dù đang bị chiến tranh gây ra bởi chế độ Cộng sản từ miền Bắc, song tính cách lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản đã là phong thái thường nhật của những người trí thức bình thường trong xã hội miền Nam. Ngay cả những người không thuộc thành phần có ăn học cao hay giàu sang, cũng ít nhiều có được nếp sống tốt đẹp đó. Do vậy, hy vọng bạn hiểu được rằng: lịch sự, nhã nhặn, văn minh và nhân bản... là bản sắc tự nhiên của các xã hội tiến bộ đúng nghĩa. Nếu những nét sống này bây giờ thiếu vắng ở nước mình, thì rõ ràng đó là hậu quả của một xã hội đang có quá nhiều điều bất thường.

Đối với những người phụ nữ "lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, Campuchia" và bị ngược đãi, tôi thông cảm nỗi đau khổ của họ. Nhưng có lẽ vấn đề là câu hỏi: Tại sao đến giờ này mà vẫn còn có nhiều người phụ nữ phải liều mình lấy chồng ngoại chủng xa lạ, không cần tìm hiểu tính tình, gia cảnh và ngay cả tông tích? Tại sao những người phụ nữ chân chất này phải đánh đổi bản thân, và có người với cả nhân phẩm, để mong có được một lối thoát mơ hồ nào đó cho gia đình? Câu hỏi đó đáng để cho nhiều người suy gẫm lắm, bạn ạ!

Còn việc "cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử Tổng Thống Mỹ" thì đó là chuyện chờ đợi tất nhiên đối với người lãnh đạo một siêu cường có ảnh hưởng lớn trên thế giới và đối với nhân loại. Nhưng khi sống ở Mỹ, chúng tôi biết được khả năng và giới hạn của các ông Tổng Thống. Họ không phải là siêu nhân, và tất nhiên cũng không phải là những "ông Trời". Nước Mỹ lớn nên Tổng Thống Mỹ có nhiều quyền lực cao nhưng các ông vẫn thường xuyên bị dân Mỹ chỉ trích những khuyết điểm cá nhân và sai lầm trong chính sách. Nước Việt ta cũng đã có thời đau khổ vì sự thay đổi và bất tín của những người lãnh đạo cao nhất của Mỹ. Cũng may là dân Mỹ rất nhân hậu nên xứ Cờ Hoa vẫn là quê hương thứ hai của hàng triệu người Việt tỵ nạn Cộng sản, và hàng trăm ngàn thân nhân di dân sau này.

Còn câu hỏi của bạn là "các Chú Bác những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa HO để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại “chùm khế ngọt” mà hân hoan làm kẻ lưu vong?"  thì nếu nhìn kỹ, bạn đã thấy là có nhiều người vẫn không "hân hoan làm kẻ lưu vong" đâu, mà vẫn NHỚ đến đất nước và mấy chục triệu người còn ở quê nhà. Vì nỗi NHỚ đó, hàng ngàn người đã sớm từ chối cuộc sống đầy đủ, bình an ở "thiên đường Mỹ" này để tìm đường trở lại quê hương giải cứu đồng đội và đồng bào đang sống trong ngục tù Cộng sản. Hàng trăm người đã âm thầm nằm xuống trên đường quay lại quê hương. Sau thời kỳ chiến tranh lạnh, cũng đã có rất nhiều người tiếp tục dấn thân về nước đấu tranh, bất chấp hiểm nguy, tù tội. Gần đây cũng đã có một số người bỏ sự nghiệp to lớn ở xứ Mỹ để tìm đường hồi hương cùng anh chị em chiến hữu ở quê nhà góp sức tranh đấu. Ở đâu cũng có kẻ quên người nhớ, nhưng không ai lại trâng tráo với phận lưu vong đâu bạn ạ!

Còn so với những "Người Mỹ Gốc Việt" cùng lứa tuổi với bạn đang sống "cách xa hai nửa bán cầu" , thì tất nhiên phải có nhiều điểm khác nhau. Môi trường xã hội, giáo dục và sinh sống khác nhau tất sẽ tạo nên những kiến thức, phong thái và mong đợi khác nhau. Những bạn trẻ ở Mỹ có những yếu tố và điều kiện mà bạn ở VN sẽ không thể nào có được, và ngược lại.

Nhưng điều đáng để chúng ta nói với nhau nhiều hơn là "vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách"

Bạn trẻ thân mến,

Ở đời, đại đa số con người đều ham sống và ích kỷ. Thông thường, không ai muốn phiêu lưu trong cảnh 'thập sinh nhất tử', và không ai sẵn sàng bỏ hết những tài sản đã dầy công xây dựng suốt đời để tham dự một hành trình biệt xứ mà tỷ lệ sống sót rất nhỏ bé. Nhưng sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam, hàng triệu người đã đồng loạt có hành động bỏ nước ra đi, bất chấp hiểm nguy và những đe dọa sinh mạng trên đường tìm tự do. Điều đáng nói không phải là chỉ có người miền Nam từ khước chế độ mới, mà hàng trăm ngàn người dân ở miền Bắc Việt Nam cũng đã không muốn ở lại với đất nước khi mà chế độ miền Bắc đã chiến thắng được miền Nam. Trong hơn một thập niên vùng vẫy vượt thoát đó, ít nhất là hơn 100.000 ngàn người đã chết thảm trên đường tìm tự do. Vậy có phải chăng hai chữ Tự Do quan trọng và giá trị hơn cả tài sản và sinh mạng của con người?

Và cho đến ngày hôm nay, vẫn còn có vô số người đang âm thầm tranh đấu để giành lại những gì mà người Việt ta đã mất: Độc lập, Tự do và Hạnh phúc. Ngay thời điểm này, có hơn chục người trẻ chẳng nợ nần gì với chế độ VNCH, đã bị toà án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên phạt tổng cộng 83 năm tù. Tất cả cũng chỉ vì hai chữ TỰ DO.

Bạn trẻ Nguyên Giang thân mến,

Tôi dành thời giờ viết những dòng hồi đáp này đến bạn vì cũng vào khoảng năm 30 tuổi, tôi đã bỏ cả gia đình ở Mỹ để tìm đường về nước chiến đấu. Lý do đơn giản là tôi không quên, và đến giờ này vẫn chưa quên, là ở Việt Nam vẫn còn có những chiến hữu của tôi đang sống trong khốn khổ, nhục nhằn. Và ở nơi chốn đó, hàng chục triệu đồng bào Việt Nam vẫn chưa có điều kiện để sống trọn vẹn như là những con người đúng nghĩa - ở cả mặt vật chất lẫn tinh thần. Ngày nay, sau hơn 30 năm sống trên đất Mỹ, Việt Nam vẫn là quê hương của tôi chứ không bị biến thành "cố hương" chỉ vì thời gian quá lâu và khoảng cách quá xa. Tôi đã dành một phần lớn cuộc đời của mình để góp phần giành lại Tự Do cho các đồng bào kém may mắn ở bên nhà và tôi sẽ tiếp tục sống với niềm vui phụng sự đó cho đến khi ở quê hương mình: Dân lao động nghèo không phải bán rẽ sức lao động để chỉ đổi lấy miếng cơm, và những người phụ nữ Việt Nam khốn cùng sẽ không phải đem nhân phẩm hay cuộc đời để tìm một cơ may thoát khổ.

Và hơn cả, tôi muốn được góp sức cùng với những người Việt Nam có tâm huyết để hóa giải tình trạng độc tài, tham ô và bất công ở nước mình, để một ngày không xa, Việt Nam sẽ là một đất nước mà toàn thể người Việt, dù ở đâu và làm gì, cũng đều có thể ngẫng cao đầu hãnh diện về quê hương. Mơ ước của tôi là ở đất nước mình sau này: Cơm No Áo Ấm sẽ được bảo đảm, Công Bằng Xã Hội sẽ được nêu cao, và Nhân Phẩm Con Người sẽ được tôn trọng.

Khi đó, thực tế sẽ tự nó được giải đáp rất nhiều thắc mắc của các bạn trẻ về nước Mỹ.

Đầu Xuân Tết đến, tôi xin chúc bạn Nguyên Giang và các bạn trẻ một năm mới nhiều sức khỏe và thành công trong việc học, việc làm. Hy vọng rằng những lời tâm tình đầu năm này sẽ đem đến cho bạn được một số niềm vui nho nhỏ để vững lòng chờ đợi những niềm vui lớn hơn sẽ đến trong một tương lai thật gần.

Mong lắm thay!

Thân mến,

Texas ngày 9 tháng 1 năm 2013

Nguyễn Công Bằng

----

President Obama inauguration speech in full 2013 

 

U.S. President Barack Obama speaks after being sworn in during the presidential inauguration on the West Front of the U.S. Capitol January 21, 2013 in Washington, DC.
 http://www.usmagazine.com/celebrity-news/news/president-obamas-inauguration-speech-2013-highlights-2013211#ixzz2ItF6yNzd

Xuân Về :Nhớ tinh thần bất khuất QDVNCH ở trại tù Tiên Lãnh

Vụ án Trần Quang Trân
trại tù Tiên Lãnh







   



         

Tôi muốn nói lên những đau khổ chất ngất của anh em tù chính trị và quân đội trong ngục tù Tiên Lãnh. Làm y tế trại, tôi được gọi lên phòng kiên giam để xác nhận cái chết của Nguyễn Công Vĩnh. Trước kia anh to con, nhưng bây giờ xác anh teo táp, co rúm, da bọc xương, gò má lồi cao, hai mắt mở trừng trừng. Anh ta chết vì đói. Bọn cai tù có lệnh không cho anh ăn uống. Bọn trật tự kể lại là những ngày cuối, trong mê sảng, anh bốc những con dòi bò trong đường cống lên ăn, chắc anh tưởng là hạt cơm. Ðường cống là một cái rảnh dọc theo bờ tường phòng kiên giam, dùng cho tù phạm tiêu, tiểu tiện vào đấy. Chắc có nhiều hồi ký trại giam Cộng sản đã tả cái dã man, tinh vi của cái cùm sắt dài xuyên từ bờ tường này đến bờ tường kia. Cảnh cô độc, đói khát, mơ tưởng những món ăn thời tự do, những tiểu xảo để giết thì giờ thiên thu và để kéo dài chịu đựng, nói lên cái tàn bạo chưa từng có của kiên giam. Chuồng cọp Côn Ðảo là thiên đường sánh với kiên giam.
    Vụ án Trần Quang Trân là một biến cố đặc biệt của trại Tiên Lãnh, nói lên tinh thần bất khuất của Quân đội Việt Nam Cọng Hòa. Ðây là một tổ chức có mục đích, hệ thống. Một hoạt động dũng cảm, nhiệt tình, có tính cách quy mô rộng lớn, bao gồm trên 100 sĩ quan và tù chính trị. Bởi thế, khi vỡ lỡ, công an điều tra mất vài tháng trước khi đưa nội vụ ra tòa với hai lần xử: phúc thẩm và chung thẩm. Bản án chung thẩm là: Tuyên truyền chống phá cách mạng, tổ chức cướp súng, cướp trại, âm mưu lật đổ chính quyền.
    Sau đây là tên họ những người lãnh án phạt và thời gian ở tù thật sự:
- Thiếu úy Trần Quang Trân, án tử hình. Xử tử ngày 19.06.1982.
- Thiếu úy Trần Lân, án chung thân, ở tù 20 năm.
- Trung úy Ngô Văn Thạnh, án 20 năm, ở tù 19 năm.
- Ðại úy Nguyễn Văn Hưng, án 18 năm, ở tù 19 năm.
- Ðại úy Ðỗ Ngọc Nuôi, án 12 năm, ở tù 16 năm.
- Xã trưởng Võ Kinh, án 13 năm, ở tù 15 năm.
- Trung úy Ðỗ Văn Sĩ, án 13 năm, ở tù 16 năm.
- Ðại úy Ðinh Văn An, án 10 năm (chết trong tù Hàm Tân năm 1990).
- Trung sĩ Lê Cao Phúc, án 10 năm, ở tù 14 năm.
- Bác sĩ Tôn Thất Sang, án 10 năm, ở tù 15 năm.
- Lê Phò, án 10 năm, ở tù 10 năm.
- Ðại úy Nguyễn Minh, án 5 năm, ở tù 12 năm.
- Thiếu úy Huỳnh Tiến, án 3 năm, ở tù 11 năm.
    Ngoài ra có một số bị kiên giam, song không bị án. Trong số những người kiên cường này, phải kể Nguyễn Văn Ngật, Nguyễn Văn Ðiểu, Lê Quang, Lê Xuân Mai, Phạm Lộc, Trần Thao, Châu Văn Mầu, Nguyễn Ngọc Trai, Trương Quang Ðông.. Tóm lại có chừng 75 người xử theo biện pháp hành chánh, nghĩa là tập trung cải tạo vô thời hạn, không biết ngày nào về, trung bình ở tù 10 năm. Trừ hai người ra đi vĩnh viễn là anh Trân và An, số còn lại lãnh 9 thế kỷ tù tội. Chín thế kỷ đau thương triền miên ray rức. Ðiểm đặc biệt của vụ án là lòng nhiệt huyết của tuổi trẻ. Những người có án nặng là thiếu úy và trung úy.
    Người được anh em mến phục nhất là anh Trần Quang Trân và Ðinh Văn An. Trân, người thon nhỏ, mặt trắng thư sinh. Tính tình bặt thiệp, ưa đùa cợt, làm thơ hay. Rất tiếc là thơ anh không ai ghi chép lại, vì thơ làm trong kiên giam không giấy bút. Song anh hơn Nguyễn Chí Thiện ở chỗ là anh đọc thơ cho bọn Cộng sản giam giữ anh nghe. Làm thơ xong, anh đọc sang sảng, rất to, cốt cho trại viên nghe, song cán bộ vội xua đuổi trại viên đi, không cho nghe những lời ca yêu nước, hạch tội bọn Cộng sản vong bản, nô dịch chủ thuyết ngoại lai, gieo rắc khổ đau cho nhân dân Việt Nam.
    Trong đêm giao thừa đầu năm 1982, trong kiên giam lạnh lẽo, chờ ngày xử chung thẩm, anh ngâm nga:
Ðón giao thừa giữa bốn bức tường vôi
Xuân lạnh lùng quá mẹ Việt Nam ơi !
Bao giờ dẹp tan loài quỷ đỏ
Mẹ con mình no ấm, rộn niềm vui.
(chưa chắc đã đúng trong nguyên tác, chỉ vì nghe từ đàng xa, và lại thời gian xoi mòn trí nhớ).
    Anh Trân thông minh hiếu học. Nếu đến được bến gờ tự do, anh sẽ là một chuyên viên điện tử có hạng. Trong tù, anh không ngừng trao dồi kiến thức, học thêm ngoại ngữ. Ở Kỳ Sơn, anh được điều động lên cơ quan của tổng trại 2 để sửa chữa máy truyền tin và lắp ráp điện đài. Anh đã sửa chữa một máy dò tìm vàng nhãn hiệu Trung cộng, mà nhiều kỹ sư đào tạo ở miền Bắc bó tay. Anh là một chuyên viên điện tử tu nghiệp ở Nhật do tài trợ của hãng Panasonic. Với phương tiện nghèo nàn, anh tái tạo các linh kiện điện tử trong công việc sửa chữa hàng ngày cho cơ quan, và lắp ráp những đài thu thanh nhỏ cầm tay, phân phát cho các trại. Ðể che mắt bọn cán bộ, linh kiện được lắp vào các máy đo điện đã hư. Muốn máy phát động, chỉ cần lắp vào một dây dẫn điện ngắn, và có thể nghe nhiều đài phát thanh ngoại quốc như VOA, BBC v..v.. Nhờ thế, tin tức về cuộc tấn công của Trung Quốc vào miền Bắc, chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ đều được phổ biến bí mật cho trại viên để nuôi dưỡng ý chí quật cường. Trại Kỳ Sơn, với quy chế tù binh, chế độ ăn uống, lao động không khắc nghiệt như trại Tiên Lãnh. Tôi nghĩ rằng quân đội miền Bắc XHCN cũng tự hào về thành tích của họ, song không biết họ có thấy xấu hổ khi đem đồng loại khác chính kiến ra hành hạ, đem bắn lén nhiều sĩ quan như vụ bắn Ðại tá Võ Vàng, bề hội đồng Thiếu úy Huỳnh Tiết, một sĩ quan trẻ miền Nam giỏi võ. Hận thù giai cấp đã làm họ tối mắt, không biết gì đến tinh thần thượng võ và tình thương đồng loại. Chiến thắng lẫy lừng, cuối cùng là để nhốt đồng loại vào trại tập trung hành hạ, còn Mỹ thì cao chạy xa bay rồi.
    Cuối năm 1978, sĩ quan trại Kỳ Sơn chuyển qua Tiên Lãnh. Công an là chuyên viên cai quản tù trong XHCN. Những phương thức đàn áp như lao động cưỡng bách, hạn chế dinh dưỡng, nội quy sắt máu, trừng trị tàn bạo, tối đa là truyền thống quy củ trong quần đảo Goulag, nhà tù Trung Cộng, và một loạt nhà tù miền Bắc mà nghe tên ai cũng giật mình. Tất cả những phương thức ấy đều được áp dụng ở trại Tiên Lãnh. Vài tháng sau nhập trại, toàn thể sĩ quan trở nên rách rưới, ốm đói, phờ phạc, hãi hùng. Vài người quá tuyệt vọng đã tự tử chết. Trung tá Bình, Ðại úy Quy trốn trại không thoát. Ðã có lệnh từ trên là bắn chết một người để làm khiếp hãi trại viên. Trên đường áp giải hai người trốn trại, bọn công an đã bắn lén từ phía sau, giết Trung tá Bình và tri hô lên là vì tù nhân chạy trốn. Tôi có khám tử thi, và thấy vết thương có lỗ vào phía sau lưng, đen thuốc súng, chứng tỏ nạn nhân bị bắn rất gần. Thật là một thời kỳ u ám. Nhiều sĩ quan cấp tá bị kiên giam rồi chuyển đi trại Ðồng Mộ. Số người sợ hãi bị chiêu dụ làm ăng-tên tăng lên đáng kể. Soát phòng liên miên. Trại đông người lại có nhiều trại lẻ ở xa, ban giám thị cần một hệ thống liên lạc hữu hiệu, nên anh Trân lại được kêu ra để thiết lập một tổng đài điện thoại, đài liên lạc vô tuyến với Ty Công an. Anh và Trần Lân được ở một căn nhà nhỏ riêng biệt dùng làm xưởng sửa chữa máy móc điện tử. Các cán bộ trong trại cũng nhờ sửa những máy thu thanh cá nhân. Vì là việc làm không công, họ thường bồi dưỡng anh thịt, trứng v..v.. Nhưng anh Trân không vì những ưu đãi ấy mà quên anh em. Anh lặp lại việc đã làm tại trại Kỳ Sơn là lắp một máy thu thanh để nghe lén các đài ngoại quốc. Anh đã thành công ở Kỳ Sơn vì không bị phát hiện, nhưng lần nầy không may. Trong vụ án xử anh và bạn hữu, chỉ có độc nhất một tang chứng là cái máy đo điện trở, trong đó anh có lắp linh kiện điện tử để nghe đài phát thanh. Các người bị kêu án là những người có ký vào bản nhận tội khi công an tra tấn hoặc đe dọa. Có nhiều người giữ nhiệm vụ quan trọng, song một mực chối hết, nên chỉ bị trừng trị bằng biện pháp hành chánh. Có bằng cớ gì đâu, chẳng qua là nói miệng với nhau, chứ đâu có hội họp biên bản gì. Song cuối cùng biện pháp hành chánh cũng giam giữ rất lâu, ít nhất là trên mười năm. Nhiều khi hơn nữa. Xử án chỉ là bày trò hình thức.
    Phân tích vụ án ta thấy hai phần rõ rệt: Phần loan truyền tin tức ngoại quốc đem lại hưng phấn cho trại viên, ví dụ như cuộc nổi dậy của nhóm Fulro, cuộc bao vây kinh tế Việt Nam của Tổng thống Mỹ Reagan. Vì oán hận lối đối xử dã man tàn bạo của bọn Cộng sản, ai cũng vui mừng khi nghe những tin bất lợi cho chúng. Chẳng thấy viễn ảnh ngày về, những tin ấy mang lại chút hy vọng mong manh. Ví dụ trường hợp bác sĩ Tôn Thất Sang làm y tế cho trại Na sơn. Sang vào tù vì tội vượt biên. Anh có nói một câu đơn giản mà bị án 10 năm. Nhân Lê Phò, từ trại Na Sơn về trại chính, anh nhắn với Trân là có tin tức gì hay nói cho “mệ” biết với (con cháu vua thường tự xưng là mệ). Sang không có tham gia gì vào tổ chức. Chỉ nghe câu ấy mà không báo cáo với cán bộ, Phò cũng lãnh án 10 năm. Thật là một chuyện không thể tưởng tượng nổi, mà các nhà luật học khi nghe phải sững sờ. Những thiệt hại mà anh Sang phải chịu trong tù đày, cùng những hậu quả dai dẳng trong cuộc sống định cư ở Mỹ, ai sẽ chịu trách nhiệm đây? Các nhà luật học phải có biện pháp đưa bọn Cộng sản Việt Nam ra tòa án quốc tế để trả lời những tội ác đối với hàng triệu người vô tội.
    Phần thứ hai của vụ án là tổ chức cướp súng, cướp trại, đánh quận Tiên Phước, liên lạc với cuộc nổi dậy Fulro lập chiến khu v..v.. những tiết lộ của đại úy Nguyễn Văn Hưng. Anh nói: “Hệ thống nầy suốt trong thời gian ở tù và sau này khi còn ở Việt Nam, tôi không hề tiết lộ cho ai. Nhưng nay (anh đã định cư tại Mỹ) theo yêu cầu của một số anh em, chúng tôi xin ghi lại chi tiết”. Anh cho biết anh điều khiển tổ chức trong nhiệm vụ là Tổng thư ký. Trân chỉ là trưởng ban liên lạc ngoại vụ. Trần Lân lo liên lạc với Fulro. Ðinh Văn An (chết trong tù) đại đội trưởng đội xung kích, lo chiếm kho súng của trại. Thiếu tá Lê Quang là trung đoàn trưởng trung đoàn giải phóng Quảng Nam Ðà Nẵng. Anh còn tiết lộ nhiều ủy viên khác. Nói chung, anh em đã có ý chí quật cường, có can đảm chấp nhận hiểm nguy. Tiếp xúc với Fulro là có thật nhân đi lao động ở Trà Nóc, lúc còn ở trại Kỳ Sơn. Nghiên cứu về khả năng cướp súng là có thật. Ngoài ra những điều khác chỉ nằm trong mơ ước.
    Phiên tòa dựng lên gọi là “tòa án nhân dân tối cao”, có cán bộ ở Hà Nội vào dự, chỉ là xử cái ước mơ đó, chứ không có một hành động phá hoại nào cụ thể. Trị từ trong tư tưởng. Cái dã man, phi lý và luật rừng là ở đó.
    Phiên tòa đúng là một trò hề. Xử trong trại vì sợ dư luận dân chúng. Không có luật sư biện hộ. Chánh án, phụ thẩm .... ăn bận lôi thôi. Bà phụ thẩm có tên là Chát, mặc áo cụt, ăn trầu, ngồi chồm hổm trên ghế , ăn nói thiếu văn hóa. Chỉ có lính công an là mặc đại lễ. Bị can cũng bị bịt mắt dẫn vào, vành móng ngựa là một hàng ghế dài. Trại viên được nghỉ lao độngđể dự phiên tòa, một biện pháp răn đe. Nói là cho bị can tự biện hộ, song ai nói ra lời nào thì bị chận lại ngay. Phiên tòa chỉ có chánh án, phụ thẩm nói. Phán quyết thì đem ra hỏi trại viên:
        - Tên A có phải là phản động không? (Trại viên đuợc các ăng-tên mớm lời)
        - Phải.
        - Có đáng tử hình không?
        - Rất đáng.
    Ðúng là một tòa án nhân dân trong cải cách ruộng đất. Phần lớn trại viên trả lời lí nhí. Một số khác im lặng.
    Phải nói anh Trân là một người trẻ tuổi nhưng rất chững chạc, đầy lòng vị tha và suy nghĩ. Anh thấy ý định của bọn Cộng sản là phải có một án tử hình trong vụ nầy, anh đứng ra lãnh cái chết cho anh em. Anh chịu nhận tội, và thay mặt anh em, tỏ ra cái khí phách của một sĩ quan có lý tưởng quốc gia. Trước phiên tòa, anh không nói “thưa quan tòa” như ấn định. Anh gọi họ là 'các ông” làm chánh án tức giận đập bàn nhắc lại. Song anh không đổi cách xưng hô. Khi chánh án hỏi anh:
        - Các anh đã được chính phủ khoan hồng cho vào đây để học tập cải tạo. Các anh không thành tâm hối lỗi, mà tổ chức chống đối. Ðộng cơ nào thúc đẩy các anh làm việc ấy?
        - Các ông không có quyền xử tôi, vì các ông không có tổ quốc, mà chỉ là tay sai đế quốc Cộng sản. Các ông không xứng đáng để tôi đối đáp. Lịch sử, dân tộc Việt Nam sẽ xử các ông. Chế độ các ông là một chế độ phi nhâïn, tàn khốc. Nhà tù mọc lên khắp nơi. Dân chúng đói khổ lầm than, còn các ông sống phè phỡn. Nhà tù của các ông là địa ngục sống trên trần gian.
    Chánh án lại đập bàn bảo anh im, song anh cứ nói cho hết ý. Một công an phải chồm tới, bịt miệng anh lại. Thật là hài hước, chốn công đường mà không có tự do ngôn luận.
    Khi tòa tuyên bố bản án tử hình và cho anh nói lời cuối cùng:
        - Tôi biết chắc là chế độ phi nhân, tàn ác chưa từng có trong lịch sử loài người của các ông gần đến ngày cáo chung. Chỉ tiếc là tôi không còn sống để phục vụ đất nước. (Nội dung những lời đối đáp trên đây rất trung thực. Tuy nhiên đây không phải là những lời ghi chép tại chỗ, người nghe chỉ ghi lại theo trí nhớ).
    Thái độ hiên ngang bình tỉnh, giọng nói chắc nịch không chút run rẩy của anh làm cho cả hội trường bàng hoàng. Bọn công an, tổ xứ án sạm mặt trước khí thế hùng dũng của anh.
    Sau khi xử án, chúng cho anh một thời gian suy nghĩ lại và xin ân xá. Song anh không viết đơn xin ân xá, vì anh biết đó chỉ là một đòn tâm lý để làm giảm nhuệ khí của anh. Thế nào bọn chúng cũng đem anh ra bắn. Xin xỏ chỉ thêm nhục. Bởi thế, trong thời gian chờ đợi, anh làm thơ và đọc to lên, mạt sát chế độ tàn ác của Cộng sản. Sợ gương anh ảnh hưởng đến trại viên khác và làm mất mặt chế độ, chúng đem anh ra bắn trước thời gian dự định.
    Ngày 19.06.1982, lúc 12 giờ, chúng bịt mắt anh đẩy anh lên xe đưa ra pháp trường. Toàn thể trại viên bị lùa vào phòng, đóng cửa nhốt lại. Ra đến cổng trại, anh Trân la to:
        - Xin vĩnh biệt anh em. Bọn Cọng sản đưa tôi đi bắn đây. “Ðả đảo Hồ Chí Minh!” “Ðả đảo Cộng sản!” “Dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng Cọng sản!”.
    Anh còn muốn hô nhiều khẩu hiệu nữa, song bọn công an đè anh xuống, nhét chanh vào miệng. Sang bên cơ quan, anh ký tên vào bản án, chấp nhận tử hình. Chúng dọn ra trước mặt anh một mâm cơm thịnh soạn. Anh từ chối không ăn và dặn mang vào phòng giam cho bạn bè đang đói. Ra pháp trường anh không chịu trói và bịt mắt. Anh té nghiêng xuống sau loạt súng đầu. Một tên công an đến bắn phát ân huệ vào thái dương.
    Trong tù tôi có lần nói chuyện với Trân. Anh ta cho rằng chừng cuối thế kỷ, chế độ Cộng sản sẽ cáo chung. Anh chết đi và không ngờ là thành trì của XHCN Liên Xô và Ðông Âu tiêu tan 10 năm trước lời tiên đoán. Song chế độ Hà Nội vẫn còn tồn tại mặc dầu biến chất đi nhiều. Lạc quan nay ở trong trận tuyến của ta. Ta chỉ đi lên, bọn chúng chỉ đi xuống. Trang sử đau buồn, đầy phản phúc, nham hiểm, tàn bạo từ 1945 đến nay sắp cáo chung. Cơ hội cho những người muốn đóng góp để xây dựng cho một nước Việt Nam thật sự tiến bộ và dân chủ, một xã hội công bằng và thịnh vượng sắp thành hình. Chỉ tiếc là thiếu mặt anh Trân, như lời nói cuối cùng của anh trước tòa án.
    Anh Trân là người anh hùng bất đắc dĩ. Hoàn cảnh đã xô đẩy anh đứng trước một chọn lựa. Anh đã có chọn lựa đầy suy nghĩ và trách nhiệm. Việc phải làm, không đùn lại cho ai, tự mình gánh lấy. Anh chết đi để lại người vợ trẻ và hai con gái. Anh là người có thiện tâm, người tốt nhất trong chúng ta như lời Tổng Thống Kennedy: “Những người tốt nhất trong chúng ta đã chết”.

Bác Sĩ Phùng Văn Hạnh

(Montréal, Canada, trích đoạn hồi ký)
 http://www.luanhoan.net/gocchung/html/gc50.htm

NGUYỄN PHÚ TRỌNG :CUỘC ĐẤU ĐÁ TRONG NỘI BỘ VIỆT CỘNG?



CUỘC ĐẤU ĐÁ TRONG NỘI BỘ VIỆT CỘNG
NGUYỄN PHÚ TRỌNG THÂU LUÔN QUYỀN NGOẠI GIAO

Sau khi Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư Đảng Việt Cộng được ban Chấp Hành Trung Ương Việt Cộng trao cho chức Trưởng Ban Chỉ Đạo Trung Ương về Phòng Chống Tham Nhũng, thay cho Ủy Ban Chống Tham Nhũng do Nguyễn Tấn Dũng thủ tướng chỉ đạo. Nguyễn Phú Trọng và Bộ Chính Trị cho thiết lập lại Ban Kinh Tế Trung Ương và Ban Nội Chính Trung Ương làm công cụ chỉ đạo, giám sát và quản thúc Chính Phủ cả về Kinh Tế lẫn Pháp Chế, đến nay Nguyễn Phú Trọng bí thư Quân Ủy, lại thâu tóm luôn quyền Ngoại Giao vào tay. Nghiã là hoàn toàn biến Chính Quyền thành Vô Quyền như dưới thời Bao Cấp. Phá vỡ hoàn toàn kế hoạch Diễn Biến Hoà Bình đi từ: “Trao rộng quyền cho Chinh Phủ, làm nhẹ dần vai trò ‘Đảng Toàn Trị’, thành ‘Đảng Cầm Quyền’, đến ‘Đảng Vô Quyền’ rồi ‘Đảng Tan Biến”. Nhưng Nguyễn Tấn Dũng vì vừa tham, vừa ngu, vừa hèn,  chỉ tạo ra các ‘Nhóm Lợi Ích’ làm giầu bất chính, tham nhũng, gian dối, phá hoại kinh tế Quốc Dân, không biết dựa vào lòng dân và thế nước, đang được cả quốc dân đòi hỏi và thế giới tiếp giúp cho cuộc Dân Chủ Hóa chế độ. Chính vì vậy mà Dân oán ghét, Mỹ phải buông, thế là Dũng quy hàng Trungcộng, khiến cho vai trò Nguyễn Phú Trọng nổi lên trên chính trường quốc tế. Tạo ra cuộc đấu đá nội bộ đảng trong kế hoạch được điều khiển bởi  Bắckinh từ A đến Z, làm cho Việtnam hoàn toàn mất sức đề kháng với cuộc Hán Hóa.

Nguyễn Phú Trọng cầm đầu một phái đoàn hùng hậu trên 100 viên chức cao cấp, có Nguyễn Xuân Phúc phó thủ tướng, Phạm Bình Minh bộ trưởng Ngoại Giao, Bùi Quang Vinh bộ Kế Hoạch và Đầu Tư, Nguyễn Chí Vịnh thứ trưởng Quốc Phòng…chính thức thăm các nuớc Âu châu từ ngày 17 tới 24/01/2013. Nghĩa là đúng nghi vệ dành cho một Nguyên Thủ, dù Trọng chỉ là một Chủ Tịch Đảng đối với các nước Dân Chủ Âu Mỹ. Nhưng điều khá đặc biệt là tất cả các chính phủ như Anh Quốc và Vatican cũng đón tiếp Nguyễn Phú Trọng như nguyên thủ của một Quốc Gia. Theo đại sứ Anh tại Hànội, Antony Stokes nói rõ: “Ông David Cameron mời ông Nguyễn Phú Trọng sang thăm trong tư cách Thủ Tướng Anh, chứ không phải là lãnh đạo đảng. Đây không phải là chuyến thăm trong khuôn khổ các đảng”.

Thế nhưng ngay ngày đầu tiên tại Brussels nước Bỉ, Nguyễn Phú Trọng gặp Chủ Tịch Hội Đồng Châu Âu  Herman Van Rompuy và Ủy Ban Châu Âu, họ đã lên tiếng về vấn đề Nhân Quyền ở Việtnam. Theo bà Maja Kocijancic phát ngôn viên của người phụ trách chính sách đối ngoại của Liên Hiệp Châu Âu cho biết: “Cả hai vị chủ tịch của 2 Hội Đồng và Ủy Ban Châu Âu đều nêu vấn đề này. Cụ thể, họ đã nêu lên trường hợp các blogger mới đây bị tuyên án tù dài hạn trong tháng trước, mà EU cũng đã ra tuyên bố công khai”. “Đôi bên cam kết mở rộng và tăng cuờng quan hệ giữa EU và Việtnam, trên cơ sở các thoả hiệp đối tác và hợp tác, cũng như thỏa thuận về thương mại tự do trong tương lai”. Bà khẳng định: “Nhân quyền là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ giữa EU và Việtnam, nên phía châu Âu sẽ nhất quyết và thường xuyên nêu vấn đề này”.  Bà thêm rằng: “Chúng tôi ủng hộ việc thúc đẩy nhân quyền và pháp quyền ở Việtnam. Chúng tôi tin rằng đó là các lực đẩy quan trọng trong quá trình phát triển đất nước”.

Tại Ý, tổng thống Giorgio Napolitano chính thức đón tiếp Nguyễn Phú Trọng vào ngày 21/01/13 và hội kiến với thủ tướng Mario Monti, dự lễ kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việtnam và Italia. Hai bên nhất trí thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện cả về chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh…Đặc biệt hôm nay 22/01//13 Giáo Hoàng Benedicto 16 đã tiếp Nguyễn Phú Trọng và phái đoàn Việt Cộng tại Vatican, với một cung cách dành cho  nguyên thủ và lãnh đạo chính phủ. Tuy Giáo Hội Lamã biết rõ là Giáo Hội của mình tại Việtnam vẫn còn bị trói buộc bởi Nghị Định số ND 92/2012/ND-CP, bóp nghẹt quyền tự do tôn giáo, cả trong vấn đề nhân sự, sinh hoạt mục vụ, lẫn điều hành nội bộ và quan hệ với các tổ chức tôn giáo, xã hội khác. Về mặt pháp lý, các tôn giáo đã ‘đăng ký’ đều mất hoàn toàn tư cách pháp nhân như trước 1975. Cơ chế “Xin, Cho” vẫn bao trùm lên các tôn giáo được phép sinh hoạt gọi là hợp pháp tại Việtnam.

Nguyễn Phú Trọng đã rời Ý ngày 22/01/13 đến thăm viếng nước Anh theo lời mời của thủ tướng Anhquốc  David Cameron. Đại sứ Antony Stokes cho đài BBC biết: “Năm ngoái quan chức Việtnam và Anhquốc đã ký bản ghi nhớ hợp tác quốc phòng gồm 3 nội dung chính Nghiên Cứu Chiến Lược Quốc Phòng, hợp tác Quốc Phòng và hợp tác Công Nghiệp Quốc Phòng. Nay chúng tôi đã có thể trao đổi về các chủ đề quốc phòng không chỉ trực tiếp giữa Việtnam và Anhquốc, nhưng còn có thể đề cập tới các vấn đề quồc tế như chống phổ biến vũ khí, hay an ninh chẳng hạn”. Xem ra nước Anh sẽ tạm thời thay Mỹ ở Việtnam về mặt công nghệ quốc phòng. Còn Nhật sẽ sắm vai trò kinh tế ở Việtnam trong những ngày sắp tới.

Riêng Việtcộng thì các phe cứ tăng cường đấu đá, giành giật với nhau, dưới sự chứng kiến của Bắckinh. Nguyễn Phú Trọng đưa Nguyễn Bá Thanh lên chức Trưởng Ban Nội Chính Trung Ương Đảng, để phụ tá Nguyễn Phú Trọng trong vai trò Phòng Chống Tham Nhũng. Ngày 10/01/13, Nguyễn Bá Thanh tuyên bố: “sẽ thẳng tay với tham nhũng”, cùng lời đe dọa khét lẹt “hốt liền,  không nói nhiều”. Đáp lại Nguyễn Tấn Dũng cho Thanh Tra Chính Phủ công bố về việc Quy Hoạch Đất Đai ở Đànẵng dưới thời Nguyễn Bá Thanh làm bí thư thành phố, có nhiều sai phạm, thất thoát tài chánh nghiêm trọng. Theo báo chí trong nước, ngày 21/01/2013, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký thành lập Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tội Phạm, trực thuộc Chính Phủ, do phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đứng đầu và bộ trưởng Công An, đại tướng Trần Đại Quang làm phó ban thường trực. Cả hai  nhân vật này đều là ủy viên Bộ Chính Trị, với một lực lượng Công An khổng lồ, sẵn sàng hành động núp dưới dạng ‘côn đồ’, như vẫn thường đối phó với các cuộc biểu tình đòi tự do, công lý, và chống giặc Tầu xâm lăng của những người Yêu Nước trước giờ. Còn Nguyễn Bá Thanh trưởng ban Nội Chính mới chỉ là ủy viên Trung Ương. Dù trưởng ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng là tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, trong bụng chứa đầy một mớ lý thuyết Mác Lê Hồ vô dụng, thì vẫn chưa biết ‘mèo nào, cắn mèo nào đây? Nhưng biết chắc một điều là bọn Việtcộng sẽ để mặc cho Trungcộng an nhiên thôn tính Biển Đông, và để cho các thế lực quốc tế an bài trên thân phận dân tộc Việtnam mình như hồi 1954 và 1973. Tuy nhiên, cuối cùng những người quyết tâm đấu tranh cho Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền ở Việtnam sẽ thắng. Vì đó là thời của Dân Chủ phải đến.  
LÝ ĐẠI NGUYÊN 

  Little Saigòn ngày 22/01/2013.
--

Bài Xem Nhiều