We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 28 January 2013

Tin Đồn :Ngày Tết chớ cắn hạt dưa...

Ngày Tết chớ cắn hạt dưa...
 

Hãi hùng công nghệ hạt dưa “ăn dễ ung thư” “Không ngậm chất tẩy trắng và phẩm màu công nghiệp với nhớt thải thì không thể có hạt dưa đẹp và bóng được”- một công nhân làm hạt dưa nói với tôi. Đó cũng là sự thật mà phóng viên Tiền Phong phát hiện sau hơn một tháng thâm nhập các cơ sở làm hạt dưa bằng công nghệ hết sức độc hại ở Tây Ninh và TPHCM.
Cảnh chế biến hạt dưa pha phẩm màu công nghiệp và nhớt thải tại các cơ sở ở TPHCM và Tây Ninh. Ảnh: Lê Nguyễn.
Những ngày cận tết, mỗi ngày cơ sở Th. T. của bà H. ở xã Trường Mít, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh cho ra lò khoảng 6 tấn hạt dưa các loại. Số hạt dưa này, theo bà H., được đưa lên tập kết ở Sài Gòn sau đó bỏ mối cho các đại lý ở khu vực miền Tây và hệ thống bán lẻ ở các chợ, siêu thị.“Ngậm” đủ chất độc Chúng tôi có mặt tại cơ sở hạt dưa của bà H. vào một ngày đầu tháng 12. Tại khu sân rộng hơn 100m2 trước nhà, hơn 20 tấn hạt dưa tươi đã được tập kết. Theo lời bà H., hạt dưa nhập từ Trung Quốc thông qua đầu mối là một doanh nghiệp ở Lạng Sơn. Để cho ra lò loại hạt dưa sạch bóng và bắt mắt, hàng tấn hạt dưa tươi này được công nhân đưa vào bể chứa nước lạnh và xút- một loại hóa chất dùng trong ngành công nghiệp dệt nhuộm, xà phòng. “Hạt dưa tươi còn dính đất và các chất bẩn, vì vậy để làm sạch chúng phải được tẩy trắng”- bà H. nói. Ở một góc trong nhà máy chế biến, là hàng loạt phẩm màu, chất tẩy công nghiệp và dầu loại thải…tất cả chuẩn bị sẵn sàng cho công đoạn chế biến tiếp theo. Trước khi tẩy hạt dưa, hai công nhân cho nước lạnh vào bể chứa, sau đó lấy từ trong bao ra những viên xút màu trắng với trọng lượng khoảng 2-3kg cho vào nước. Giữa lúc nước lạnh gặp xút bắt đầu sôi lên sùng sục, các công nhân ở cơ sở này đổ hạt dưa vào bể ngâm. Một công nhân đóng cầu dao điện, cánh quạt được gắn trong bể cũng bắt đầu quay tít để hỗ trợ đánh sạch vết bẩn bám ở hạt dưa. Theo các công nhân, để hạt dưa được tẩy sạch hoàn toàn ít nhất chúng phải được ngâm trong dung dịch này 30 phút. Tôi hỏi ngâm lâu như vậy chất này có ngấm vào hạt dưa không. “Có ngấm vào cũng không sao, bởi sau khi rang và trộn phẩm màu vào thì ai biết được”- một công nhân trả lời. Canh đúng 30 phút, công nhân này tiến lại tháo vòi nước để cho nước bẩn tuôn ra đường ống phía sau nhà. Mùi hôi, hắc tỏa ra từ chất tẩy công nghiệp. Tuy nhiên, các công nhân cho biết, ngày nào cũng ngửi mùi này riết thành quen, chả còn nghe mùi nữa. Những hạt dưa dính đầy bùn đất, nhơ nhớp đã trở nên trắng, và sạch sẽ. Lúc này hàng loạt công nhân bắt đầu đưa hạt dưa từ bể ngâm vào bao để cân, sau đó chuyển sang 8 nồi rang là những quả cầu bằng sắt nóng ran đang chờ sẵn. Theo các công nhân, 8 chảo rang nơi này có công suất rang khoảng 500kg một suất trong hơn một giờ. Để hạt dưa chín, các nồi rang không chỉ được đun lửa liên tục với nhiệt độ cao mà dầu ăn cũng được cung cấp đủ để hạt dưa không cháy. Bà H. nói nơi đây rang hạt dưa với dầu ăn Cái Lân nên hạt dưa rất ngon và béo. Tuy nhiên, để hạt dưa bóng bẩy, một công nhân sau khi đổ dầu vào chảo rang liền đổ thêm khoảng 2 lít dầu nhớt thải vào chảo. “Đổ thêm nhớt hạt dưa mới bóng được”- công nhân này tiết lộ. Khoảng một tiếng sau khi hạt dưa được rang, công nhân bắt đầu dùng phẩm màu công nghiệp được tách ra ở từng bao nhỏ hòa với nước và đổ vào từng chảo. Khoảng 10 phút sau khi hạt dưa chín đều, ngấm hết các phẩm màu tạo thành một màu đỏ hồng tươi, các chảo rang bắt đầu dừng hẳn, hạt dưa được đưa ra đổ ở sân chờ nguội và vô bao đưa đi tiêu thụ. Cơ sở làm hạt dưa có tên T.P ở xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, TPHCM cũng không thua kém về công nghệ làm hạt dưa độc hại như cơ sở ở Tây Ninh. Theo các công nhân ở đây, mỗi ngày cơ sở này cho ra lò từ 6-8 tấn hạt dưa thành phẩm và bỏ mối khắp cả miền Nam. Theo chân một tài xế xe tải chở hàng, chúng tôi vào được cơ sở hạt dưa luôn kín cổng cao tường này. Tại đây, gần chục công nhân đang hì hục ngâm, rang hạt dưa dưới tiết trời nóng bức. Tại bể ngâm hạt dưa, hàng chục bao tải hạt dưa tươi đang được đổ vào bể ngâm với xút sau đó chúng được đưa qua 10 nồi rang. Ngoài làm hạt dưa các màu cánh gián, đỏ và đỏ huyết tươi, nơi đây còn rang hạt hướng dương. Một cô gái phụ trách việc xuất nhập hạt dưa ở đây cho biết, khách hàng có thể tùy chọn màu hạt dưa các loại với giá cả cũng khác nhau. Loại hạt dưa to màu đỏ tươi đang bán rất chạy có giá 54 nghìn đồng/kg, loại màu cánh gián 53 nghìn đồng/kg, còn hạt dưa đỏ hạt nhỏ 56 nghìn đồng/kg. Khi tôi hỏi sao hạt dưa có nhiều màu thì cô gái cho biết đó là do dùng phẩm màu để làm đẹp. Liệu nó có độc hại không? Cô gái nhanh nhảu: “Phẩm màu này chỉ thấm ở ngoài vỏ cho đẹp thôi nên không sao. Ăn hạt dưa bỏ vỏ lo gì”. Một công nhân vừa nghỉ làm hạt dưa cho cơ sở T.P cách đây 5 tháng, cho biết: “Thời gian trước đây, cơ sở này còn dùng nhớt thải để rang hạt dưa, sau đó bị lực lượng chức năng phát hiện nên đã ngưng và thay thế vào đó là dùng dầu ăn loại thải. Nhưng xút và phẩm màu thì không thể ngưng được vì xút làm hạt dưa trông sạch đẹp còn phẩm màu là bắt buộc”. Cũng theo người này, người ta hay dùng dầu ăn loại thải để rang nhưng hạt dưa không bóng được nên cứ 100kg hạt dưa người ta lại đưa thêm vào 2-3kg dầu nhớt để làm bóng. Tại cơ sở làm hạt dưa của bà H. ở Tây Ninh mặc dù chủ cơ sở cho chúng tôi thấy vài bịch dầu loại 50 lít bên ngoài ghi dòng chữ “Cái Lân” để làm tin nhưng ở nơi chế biến nhiều xô chậu còn dính nhớt thải đen kịt nằm lăn lóc. Ở một góc nơi bể ngâm hạt dưa, chúng tôi còn phát hiện hàng loạt bịch để các loại phẩm màu đỏ, cánh gián và đỏ huyết. Bên ngoài các loại phẩm màu này không ghi tên cơ sở sản xuất, cũng như phẩm màu có được dùng trong chế biến thực phẩm hay không. Một công nhân cho biết, để bảo quản hạt dưa thời gian lâu mà không phai màu, hầu hết phẩm màu được dùng là phẩm màu công nghiệp của Trung Quốc. “Loại này chỉ cần dùng 2g là 100kg hạt dưa biến thành màu đỏ tươi bắt mắt liền”- công nhân này tiết lộ. Theo người này, nếu hạt dưa dùng phẩm màu thực phẩm thì khi cắn vỏ hạt dưa thường hay dính màu ở miệng. Nhưng hạt dưa dùng bột màu Trung Quốc thì không. Còn về nhớt thải rang với hạt dưa, một công nhân cho biết “do trộn chỉ 2kg/100 kg hạt dưa nên không độc hại gì cả”. “Để tẩy mùi nhớt và phẩm màu, trước khi cho ra lò, hạt dưa cũng được bỏ thêm ít bơ vào lò rang nên khi cắn cảm thấy có vị thơm, béo”- công nhân ở cơ sở này nói thêm.



Công nghệ làm hạt dưa độc hại tại Tây Ninh và TP Saigòn.  Ảnh: Lê Nguyễn


Ăn để… bị ung thư ! Trao đổi với Tiền Phong, TS Phan Thanh Thảo- Viện trưởng Viện Công nghệ hóa học cho biết, xút (NaOH) là chất rắn màu trắng dùng trong tẩy trắng, dùng làm xà bông và xử lý nước thải trước khi cho ra môi trường… Theo TS Thảo tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc mà tính độc hại của xút tác động nhiều hay ít. Ngoài việc ngấm qua da, xút có thể gây đột biến tế bào vú và về lâu dài có thể gây ung thư vú… Một bác sĩ chuyên ngành về vệ sinh thực phẩm ở TPHCM cho biết mặc dù hạt dưa khi ăn thì bỏ vỏ nhưng việc dùng các loại chất xút, nhớt và phẩm màu để chế biến đều có thể gây nguy cơ cho sức khỏe người dùng. “Hầu hết các loại hạt dưa có màu sắc rực rỡ, bắt mắt thường dùng phẩm màu công nghiệp có chứa chất Rhodamine B thường được dùng để nhuộm vải, cấm sử dụng trong sản xuất thực phẩm vì có khả năng gây ung thư. Ăn các sản phẩm nhuộm Rhodamine B có khả năng tích tụ các chất độc trong gan, thận, gây dị ứng da”- bác sĩ này nói. Một chuyên gia về hóa ở Đại học Bách khoa TPHCM cũng cho rằng ngay cả việc rang hạt dưa nhưng dùng dầu thực vật loại thải, đã bị hydro hoá cũng không tốt bởi loại dầu ăn này gây nên bệnh tim mạch nếu dùng nhiều và lâu dài. Gọi vào số điện thoại của một đơn vị chuyên cung cấp hạt dưa chưa qua chế biến ở đường Trần Đăng Ninh- TP Lạng Sơn, giọng một phụ nữ cho biết cơ sở nơi đây cung cấp hạt dưa cho tất cả các cơ sở chế biến hạt dưa toàn quốc. “Hạt dưa bọn tôi nhập về từ Tân Cương của Trung Quốc với giá 15 nghìn đồng/kg. Nếu lấy từ 10 tấn trở lên chúng tôi sẽ giảm còn 13 nghìn đồng/kg”- người này cho biết. Một đầu nậu ở Lạng Sơn cho biết, mặc dù “hạt dưa tươi” nhưng nếu không chế biến hết để cả năm cũng không hỏng vì nó được dùng “chất bảo quản”. Khi tôi hỏi chất gì mà tốt đến thế, đầu nậu này nói “đó là bí quyết”.

  Sưu Tầm

Vĩnh Biệt : Một kiếp người - Kẻ hàng thần!

PHẠM DUY: CŨNG MỘT KIẾP NGƯỜI!

Hỡi ơi! Cũng một kiếp người
Kẻ thì lưu xú, người thời lưu danh!                    
LTG: Theo tin báo chí trong nước thì nhạc sĩ Phạm Duy đã qua đời vào ngày 27-1-2013, hưởng thọ 92 tuổi.  
Cách đây 18 năm, năm 1995, khi nhạc sĩ Phạm Duy tổ chức ra mắt Hồi Ký, tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”, tựa lấy từ một bài viết của nhà thơ Trần Dạ Từ.
Năm 2005, tôi bổ sung thêm một số chi tiết sau khi nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố những lời nịnh bợ VC để xin xỏ về nước, trả lời phỏng vấn vung vít nhục mạ người Việt hải ngoại trên các báo ở trong nước. Và đổi tựa bài viết thành “Phạm Duy vĩnh biệt thôn Đoài”.
Mới đây, tình cờ đọc bài phỏng vấn Phạm Duy của trang mạng Việt ngữ của đài BBC, thấy những câu trả lời của Phạm Duy mà tội nghiệp cho nhân cách của ông ta.
Ai cũng biết cái trang mạng Việt ngữ của đài B(ọn) B(ọ) C(hét) là cái trang mạng của tên tay sai VC Nguyễn Giang.
Trang mạng này hết đưa bài viết của ả Tiến sĩ mén Đỗ Ngọc Bích, đến đưa bài phỏng vấn tên Tướng nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh để nhục mạ chế độ VNCH.
Mới đây, tên này lại viết bài ca tụng cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” của ký giả VC Huy Đức lên tới tận mây xanh.
Tất cả những việc làm này đều có mục đích phân hoá cộng đồng người Viêt tỵ nạn cộng sản theo chủ trương, đường lối của nghị quyết 36.
Khi đài BBC hỏi: “Ở Phillipines, ông đã viết “Tị nạn ca”, “Nhục ca” có đúng không?”
Nghe Phạm Duy trả lời: “Những bài đó là những bài soạn ra trong lúc hoảng hốt, không nên nhắc đến làm gì. Tôi quên rồi”, nghe thiệt là tội nghiệp cho thân phận những kẻ hàng thần!
Đài BBC hỏi: “Bài “Quê nghèo” thì ông diễn tả điều gì?”
Phạm Duy trả lời: “Tôi không xa kinh kỳ sáng chói”, có những ông già “Cày bừa thay trâu” thì khổ quá. Đó là một bài mà nhiều người VN rất cảm động, rất thích, là bởi tôi nói được những cái đó lên”.
Rất là chua xót khi nghe nhạc sĩ Phạm Duy tự khoe mình là “nói lên được cái cảnh có những ông già cày bừa thay trâu từ mấy mươi năm trước”; nhưng nay nhạc sĩ Phạm Duy không chịu nói lên dùm những cái thảm cảnh của những phụ nữ mà cả mẹ con phải khoả thân để giữ lại mảnh đất để cày bừa sinh sống mà bọn công an VC nó vẫn nhẫn tâm lôi đi sềnh sệch như lôi những con vật để chiếm đất của người dân!  
Và càng mỉa mai hơn khi trang mạng Việt ngữ của đài BBC đi cái titre: “Tôi về đây là vì tôi yêu nước” bên cạnh bức ảnh của một ông già trên 90 tuổi là nhạc sĩ Phạm Duy.
*
Xin thưa ngay đây chỉ là cái tựa của một bài viết để quý vị có quen biết với nhạc sĩ Phạm Duy khỏi thắc mắc, chất vấn vì ông ta ở Midway City mà ông ta thường dịch ra là “Thị Trấn Giữa Đường” chớ đâu có ở thôn Đông, thôn Đoài nào đâu mà bảo là Phạm Duy vĩnh biệt …thôn Đoài!
Vào năm 1995, chúng tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”, lấy từ tựa đề do nhà thơ Trần Dạ Từ đặt, và tờ báo đăng tải bài viết này là tạp chí Thế Kỷ 21. Vào khoảng năm 1993, khi mới định cư ở Thụy Điển, nhà thơ Trần Dạ Từ được nhạc sĩ Phạm Duy nhờ viết lời giới thiệu cho quyển Hồi Ký. Trong bài viết đại ý nhà thơ ca ngợi là tù nhân ở nơi nhà thơ bị giam giữ là trại tù Phan Đăng Lưu rất “biết ơn” nhạc sĩ Phạm Duy đến nỗi cứ khi vắng mặt cai tù là các tù nhân bèn “ới” nhau “Phạm Duy đi”, tức mang nhạc Phạm Duy ra mà hát.
Dù thiên kiến đến thế mấy, chúng ta cũng không thể phủ nhận nhạc sĩ Phạm Duy là một thiên tài đã đóng góp rất nhiều cho nền âm nhạc Việt Nam. Chúng ta “mang ơn” Phạm Duy cũng như chúng ta đã “mang ơn” Nguyễn Trãi với “Bình Ngô đại cáo”: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân/Quân điếu phạt chỉ vì khử bạo”; mang ơn thái-sơn-lục-bát Nguyễn Du với “chữ tài liền với chữ tai một vần/Hải đường lả ngọn đông lân/Giọt sương treo nặng cành xuân la đà/Rằng trong lẽ phải có người, có ta”; mang ơn Nguyễn Đình Chiểu với “Trai thời trung hiếu làm đầu/Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình”; mang ơn Lam Phương với “em ơi nếu một không thành thì sao/Non cao đất rộng biết đâu mà tìm?... Tàu đưa ta đi tàu sẽ đón ta về. Quê hương sẽ sống lại yêu thương…” v.v…
Với bài viết này, người viết không làm chuyện khen phò mã tốt áo! Cũng không có ý đả kích nhạc sĩ Phạm Duy. Chúng tôi chỉ xin ghi lại những bài báo ở hải ngoại cũng như ở trong nước có liên quan đến nhạc sĩ Phạm Duy, để độc giả có cái nhìn chính xác về những việc làm của nhạc sĩ Phạm Duy.
*
-Bài thứ nhất là một trích đoạn trong bài “Buồn vui Cali”, tác giả là Người Cali, đăng trong tạp chí Dân Chủ Mới số 43, phát hành vào tháng 6 năm 1995, như sau:
“…Thêm một Phạm Duy, ngày xưa nhà cao cửa rộng, con cái toàn làm lính kiểng, nhờ những bài “Tình ca”, “Kỷ vật cho em”… chửi Cộng sản và mang tình tự dân tộc, giờ đã mấy phen xin về Việt Nam nhưng bị tụi Việt Cộng từ chối. Ông “già không nên nết này” đã trả lời cuộc phỏng vấn của nhật báo “Người Việt” ra ngày thứ Sáu 28-4-95 trong bài “Cảm nghĩ của người Việt hải ngoại về 30/4”, do ký giả Lý Kiến Trúc thực hiện rằng: “Trong hai mươi năm thế giới đã đổi thay, Berlin đã thay đổi thì tất nhiên Hà Nội cũng phải thay đổi. Và tôi, tôi cũng thay đổi cái suy nghĩ của tôi, cũng như một số người khác, về cuộc sống ở đây. Ví dụ như những năm đầu đến Mỹ, tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ sống và chết  ở đây, nhưng hôm nay tôi  lại thấy tôi có thể về được. Đừng bắt tôi suy nghĩ như năm bảy mươi nhăm. Về cái cuộc sống của tôi, thì trước kia tôi chuẩn bị chết ở đây, còn bây giờ tôi chuẩn bị chết ở Việt Nam. Điều đó có ảnh hưởng đến công việc làm. Như trước kia, tôi cũng như mọi người, chống một cái gì đó đến tận cùng… cho đến bây giờ cái lối chống cũ nó không cải tiến được, nên cũng chẳng gọi là theo được.”
Để kết thúc  bài phỏng vấn, nhật báo Người Việt hỏi nhạc sĩ Phạm Duy  cảm tưởng về ngày 30-4, ông hoan hỉ trả lời: “Tôi rất vui mừng, vì tôi cảm thấy cái ngày tôi chết… tôi sẽ chết tại quê hương, chứ không phải tôi sống tại quê hương, không lâu đâu…”
Đó, những lời tâm huyết của một thiên tài âm nhạc của Việt Nam Cộng Hòa trước đây như thế đấy! Nhà thiên tài đã viết trong cuốn hồi ký của đời mình rằng ông ta đã từng “có hơn hai trăm mối tình mật thiết với đàn bà” trong thời gian ông ta nổi tiếng và đã có gia đình, “bỏ vùng Cộng sản về với Quốc Gia vì sinh kế, chứ không phải vì lý tưởng…”
-Bài thứ hai, được đăng ở trang 26, tạp chí Thời Sự số 2 ở Florida như sau:
Nhạc sĩ Phạm Duy có chụp hình chung với Đại sứ Việt Cộng hay không?”
Gần đây có một  vài tờ báo đưa tin nhạc sĩ Phạm Duy đã đến tòa Đại sứ CS Trịnh Ngọc Thái vào ngày 7-1-95. Tin này đã gây xôn xao dư luận không ít trong hàng ngũ những người Quốc Gia từng yêu mến  một nghệ sĩ tài ba tên tuổi như nhạc sĩ Phạm Duy.
Chúng tôi đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy và đã được nhạc sĩ cho biết như sau:
“Tôi xin khẳng định với quý anh là Phạm Duy này không hề quen biết với ông đại sứ Trịnh Ngọc Thái bao giờ để mà nói câu như thế, cũng chưa từng chụp hình với ông ấy. Bức hình mà một số báo đưa ra là hình tôi chụp với một người bạn thân tên Nguyễn Văn Tuyên tại nhà riêng của ông ấy, chứ không phải Đại sứ Cộng sản Trịnh Ngọc Thái.”
Nhạc sĩ  Phạm Duy còn cho biết ông đã yêu cầu tờ Ép-Phê ở Paris do ông Trần Trung Quân chủ trương đăng tin sai phải đính chính, nếu không ông sẽ đưa ra tòa về tội vu cáo. Tạp chí Ép-Phê đã đăng lời “cáo lỗi” trên mặt báo, nguyên văn như sau:
“Cáo lỗi
Trong ấn bản số 4, phát hành tháng 2-1995, nơi trang 12, phóng viên Dương Thiện Ý đã viết: “Nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố: Tôi bỏ chiến khu đi ra thành chẳng qua vì cuộc sống kinh tế. Thực tâm mà nói, 40 năm nay tôi chẳng ưa thích gì ‘bọn ngụy miền Nam’, cùng với một tấm hình với lời ghi chú: ‘Từ trái qua phải: Đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, Phạm Duy và ông Trần Văn Khê.’
Nay phối kiểm lại, nhạc sĩ Phạm Duy cho biết ông chỉ chụp hình chung với ông Trần Văn Khê và một người bạn thân chứ không phải là đại sứ VC Trịnh Ngọc Thái, cũng như chưa bao giờ tuyên bố câu nói trên. Thành thật xin lỗi nhạc sĩ Phạm Duy về sự sơ suất ngoài ý muốn này
Tạp chí Ép-Phê.”
-Bài thứ ba là một trích đoạn trong bài “Từ Chế Lan Viên đến Nam Chi – 4 Điểm Chiến Thuật Trong Âm Mưu Du Kích Văn Hóa của Cộng sản” của tác giả Trần Ngọc Lũ, đăng trên tạp chí Tân Văn số Xuân Mậu Thìn như sau:
“… Có lần trong bài viết có tựa đề ‘Văn hóa thực dân mới chết hay chưa chết?’ đăng trên tạp chí Văn Học, Hà Nội số 5-6-1985. Chế Lan Viên quai mỏ ra chửi rủa Phạm Duy:
“Cái anh nhạc sĩ dân ca, dâm ca, tục ca từng tuyên bố: “Moa thì có lý tưởng mẹ gì ngoài tình và tiền”, anh ấy năm kia lại giở trò lý tưởng rồi. Đêm ấy tôi ở Bruxelles (Bỉ) đang nói chuyện với anh chị em Việt kiều, thì cách chỗ tôi một cây số thôi, Phạm Duy cùng đoàn nghệ thuật của anh ta đang thóa mạ Tổ quốc.”
Hai năm sau, trên tạp chí Sông Hương số 21, xuất bản tại Huế vào tháng 9-86, cũng lại Chế Lan Viên viết về Phạm Duy, nhưng giọng điệu khác hẳn. Tưởng như lúc này cuối năm 1986, Chế Lan Viên vừa viết vừa cầm khăn mù-xoa thút thít:
“Mất Phạm Duy, chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta chứ chúng ta đâu có bỏ anh. Hồi đi Bình Trị Thiên với tôi năm 49, anh viết “Bên ni, bên tê”, “Bà mẹ Gio Linh” rất xúc động. Nhưng anh đã “dinh tê” về Hà Nội…                                                                                                                                      
Sau chiến thắng vĩ đại của ta hồi năm 75, hình như anh lại xúc động lại. Anh Trần Văn Khê ở Pháp về, hỏi ý kiến anh Tố Hữu, anh Tố Hữu bảo “bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi.” Nghĩa là quên đi thời Phạm Duy theo Pháp và theo Mỹ, chỉ nhớ cái gì đẹp nhất trước kia và nên, sau này…
… Chúng ta kiên trì, nhưng biết làm sao được! Nếu Phạm Duy cóc cần sự kiên trì ấy, 1979 tôi đang ở thủ đô Bruxelles của Bỉ. Đêm ấy cách chỗ tôi 800 mét, đoàn của Duy đang biểu diễn và chửi rủa chúng ta. Tôi chỉ biết nhắn:
-Mọi người đều tùy thích có thể yêu thương hay nguyền rủa trong đời. Nhưng tổ quốc chúng ta đang ốm… Cần gì phải chửi, chờ cho mẹ khỏe ra, giàu lên rồi ai muốn đi đâu thì đi.”
Hai bài viết, cách nhau hai năm. Vẫn cũng một người viết về một người khác mà sao giọng điệu cứ như nước với lửa? Tôi không nói đến sự ngụy biện cố tình đồng hóa Tổ quốc với chế độ Cộng sản của Chế Lan Viên. Chỉ xin bạn đọc lưu ý sự khác nhau trong hai bài viết về cách gọi tên. Ở bài đầu, viết 1984, đăng báo 1985, là “cái anh nhạc sĩ”, “anh”, “anh ấy”…một cách trịch thượng hằn học, xấc láo. Ở bài dưới, viết và đăng cuối 1986, ngược lại, rất ngọt ngào. Hoặc gọi là “anh”, “anh Phạm Duy”. Ra vẻ kính mến. Hoặc gọi “Phạm Duy” không. Ra vẻ thân mật. Hoặc gọi là “Duy” thôi. Ra chừng âu yếm.
… Tại sao bỗng dưng Chế Lan Viên viết về Phạm Duy và đổi giọng ngọt nào với Phạm Duy?
Câu trả lời đầu tiên là: nhờ Trần Văn Khê.
Hãy để ý đến câu văn thật ngắn trong đoạn viết về Phạm Duy của Chế Lan Viên mới dẫn ở trên: “Anh Trần Văn Khê ở Pháp về, hỏi ý kiến anh Tố Hữu…” Trần Văn Khê hỏi ý kiến Tố Hữu về việc gì? Về Phạm Duy. Trước khi đi hỏi ý kiến, Trần Văn Khê làm gì? Báo cáo. Có lẽ nắm bắt được một nét giao động, buồn nản nào đó trong tâm lý Phạm Duy những ngày khắc khoải lưu xứ ở nước ngoài. Trần Văn Khê về báo cáo ngay với “lãnh đạo” bàn bạc ra lệnh. Kẻ thừa hành là Chế Lan Viên. Đoạn viết về Phạm Duy của Chế Lan Viên là một nỗ lực “chiêu dụ” trong âm mưu du kích văn hóa của Cộng Sản nhắm vào Việt kiều.
-Bài viết thứ tư, do tạp chí Làng Văn ở Canada đăng tải, đại ý cho biết trong lần gặp gỡ học giả Lê Hữu Mục ở Quận Cam, nhạc sĩ Phạm Duy đã tuyên bố là “ông ta sáng tác nhạc trong cầu xí”, là “ông ta không chống Cộng , chỉ có chống gậy mà thôi”,“nếu ai cho ông ta 10 ngàn đô-la ông ta sẽ sáng tác nhạc ca tụng Hồ Chí Minh (sic!)”. Dư luận rùm beng lên. Nhạc sĩ Phạm Duy tuyên bố ông ta không có tuyên bố những lời bậy bạ như thế và cho biết sẽ mướn luật sư kiện tờ báo nào đã vu cáo cho ông ta, nhưng không hiểu vì sao, sau đó, mọi chuyện đều chìm xuồng.
Ít lâu sau, cũng theo tin báo chí, nhạc sĩ Phạm Duy đã được VC cho phép về Việt Nam. Khi trở lại Hoa Kỳ ông ta tuyên bố sẽ về Việt Nam mở hai quán cà phê  lấy tên “Phạm Duy”, một tiệm ở Hà Nội, một tiệm ở Sàigòn thì tha hồ mà hốt bạc (sic!).
-Bài viết thứ năm là một bài phỏng vấn do phóng viên Nguyễn Đông Thức của tuần báo Tuổi Trẻ ở trong nước, có nội dung như sau:
Phóng viên (PV): 30 năm qua, ông vẫn sáng tác đều đặn?
-Phạm Duy (PD): Vâng. 30 năm ở Mỹ, tôi viết được khoảng 300 ca khúc. Và riêng trong 10 lần về nước bốn năm qua, tôi đã viết được tập Hương ca, gồm 10 ca khúc về quê hương, bắt đầu với Trăm năm bến cũ (phổ nhạc bài thơ Về thôi của Lưu Trọng Văn), Hương rừng (phổ vài câu thơ trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam), Lời mẹ dặn (phổ thơ Phùng Quán)… và kết thúc bằng Tây tiến (thơ Quang Dũng), thể hiện sự hùng tráng của dân tộc Việt… Mong ước thứ ba hiện nay của tôi là được giới thiệu các ca khúc này  với đồng bào trong nước.
-PV: Mong ước thứ ba, ở tuổi 85? vậy còn thứ nhì, thứ nhất?
-PD: Tôi vừa nộp đơn xin Nhà nước Việt Nam cho phép phổ biến 9 ca khúc cũ của tôi, gồm 5 ca khúc tôi viết trong thời gian dân tộc kháng chiến chống Pháp (Tình ca, Bà mẹ Gio Linh, Quê nghèo, Nương chiều, Ngày trở về) và 4 ca khúc phổ thơ (Áo anh sứt chỉ đường tà - phổ Màu tím hoa sim của Hữu Loan, Ngậm ngùi - thơ Huy Cận, Mộ khúc – thơ Xuân Diệu, Thuyền viễn xứ - thơ Hà Huyền Chi). Đây chính là mong ước thứ nhì của tôi. Nhưng điều mà tôi đang thiết tha mong đợi nhất chính là được trở về sống và làm việc hẳn ở quê nhà. Tôi mong được  về hẳn, đưa tất cả con cái cùng sự nghiệp của mình về…
-PV: Vì sao và từ khi nào ông muốn về?
-PD: Năm 1994, tôi được anh Lưu Trọng Văn – là con của một người bạn tôi, nhà thơ Lưu Trọng Lư - tặng cho bài thơ Về thôi. Có mấy câu đã làm tôi hết sức xúc động và quyết định phải về: Về thôi… Làm gì có trăm năm mà chờ. Làm gì có kiếp sau mà đợi… Vâng, thật sự tôi đã muốn về từ lâu. Tôi đã quyết định chuyển sang bước sáng tác mới. Bài “Về thôi” của anh Văn càng cho tôi thấy rõ tôi chẳng còn được bao năm nữa, đã muốn làm gì thì phải làm ngay thôi…
-PV: Nếu được cho phép trở về, ông sẽ làm gì?
-PD: Tôi sẽ viết thêm một số ca khúc về quê hương sau một chuyến đi xuyên Việt, tiếp tục nghiên cứu dân ca và sẽ xin phép được… biểu diễn.
-PV: Ông vẫn có thể hát ở tuổi này?
-PD: Chứ sao!
Và nhạc sĩ Phạm Duy lập tức hát cho tôi nghe bài Trăm năm bến cũ. Tôi nhìn người nhạc sĩ già đang nhắm mắt say sưa hát và thầm nghĩ cuộc hành trình “nghìn trùng xa cách” về lại bến cũ của ông chắc chắn sẽ không chút dễ dàng, nhưng quả thật ông không còn nhiều thời gian để có thể chờ đợi lâu hơn. Dù ông đã có làm gì đi nữa thì tôi vẫn tin trong sự rộng mở của dân tộc Việt, sau cùng ông sẽ thực hiện được mong ước lớn cuối đời: về với quê nhà, với nơi chốn đã từng cho ông viết những câu “Tôi yêu tiếng nước tôi, từ khi mới ra đời…” và nhiều ca khúc nữa một thời đã làm rung động biết bao người.”
-Bài viết thứ sáu là bài “Nhạc sĩ Phạm Duy, những dự định, niềm vui và niềm tin” được đăng tải trên bán nguyệt san Trẻ, số 174, phát hành ngày 15-02-2005. Tạp chí Trẻ có tòa sọan tại Westmister, Nam California. Đây là một số trích đoạn trong bài phỏng vấn này:
-Bác nghĩ như thế nào khi 30 năm qua Nhà nước Việt Nam chưa cho phổ biến tác phẩm nào của nhạc sĩ Phạm Duy?
-Theo tôi nghĩ. Chính quyền nào cũng có một đường lối chính trị. Trong giai đoạn trước, đất nước đã có sự phân chia rõ rệt. Có người coi tôi là người của “quốc gia”, nhưng nói thế thì hơi quá. Suy cho cùng thì tôi cũng chỉ là một nhạc sĩ. Trong cuộc chia cắt đất nước suốt một quãng thời gian dài 20 năm, có thể có những tác phẩm của tôi không được sự đồng tình của bên này hay bên kia, nhưng với thời cuộc lúc bấy giờ, cũng như một số người khác tôi không thể chống lại chính quyền Sàigòn, có nhiều lúc tôi không thể làm gì khác ngoài cách viết để kiếm sống và để kéo “một đoàn tàu” gồm 1 vợ 8 con. Nếu xét về dĩ vãng thì ai cũng có tội hết. (do người viết bài này gạch đít).
-Thế trong 30 năm sống trên đất Mỹ, bác đã có tham dự những tổ chức nào chống lại Nhà nước Việt Nam, đã lên diễn đàn hoặc đã phát biểu trước giới báo chí những lời chống lại Nhà nước Việt Nam không?
-Ô không! Never and never! Tôi không quan tâm tới những chuyện đó, mặc dù gia đình tôi có nhận những lá thư mời gọi tham gia các tổ chức này nọ. Nhưng cả nhà chúng tôi không một ai tham gia một đảng phái chống đối nào. Với giới báo chí cũng vậy, tôi không hề phát biểu điều gì chống lại quê hương. Nếu quý vị biết có một tờ báo nào đã đăng tin tôi về điều này quý vị hãy cho tôi biết để tôi cải chính…
-Bác quả là một người lạc quan. Nhưng ngẫm lại chặng đường dài của cuộc đời mình, bác có thấy trong lòng còn điều gì ray rứt, buồn phiền hay phải hối hận không?
-Trước kia, có một người bạn là ông Tạ Tỵ đã viết quyển sách về tôi với tựa đề “Phạm Duy, còn đó nỗi buồn”. Có lần ông ấy hỏi tôi về nỗi buồn và tôi trả lời: “Tôi buồn vì tôi thành công mà đất nước thì chưa thành công. Tôi đã thành công và được công chúng đón nhận ngay từ tác phẩm đầu tay “Cô Hái Mơ” phổ thơ Nguyễn Bính, hồi ấy số lượng nhạc sĩ sáng tác khá ít ỏi, chỉ đếm trên đầu ngón tay. Còn đất nước lúc bấy giờ đang bị chia cắt hai miền, năm 72 chiến sự quyết liệt dữ dội kéo theo nhiều điều nghiệt ngã đau buồn. Theo tôi, đất nước chỉ thành công khi nào núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình, no ấm… Nhưng ông ấy không hiểu ý tôi nên đã viết một cách chủ quan tùy tiện về những chuyện tình cảm và chuyện vui chơi lan man. Mặc dù nội dung tác phẩm ông ấy hết lời ca ngợi Phạm Duy, nhưng theo tôi, đó chỉ là quyển “Phạm Duy còn đó nỗi buồn, cười”. Và tôi đã không muốn nhắc đến trong hồi ký của tôi.
-Thế, có còn niềm ray rứt nào làm nhạc sĩ Phạm Duy nặng lòng khi trở về Việt Nam?
-Tôi không quan tâm về thế chế chính trị. Tôi chỉ cần một quần chúng để tôi hát. Những lần về nước trước đây, thú thật tôi vẫn cảm thấy lòng buồn bã và khắc khoải. Vì thấy cái chỗ đứng của nhạc sĩ Phạm Duy trong lòng công chúng còn quá chông chênh. Vâng, tôi cảm thấy mình như một thân cây đã bị nhổ lên đem trồng ở một vùng đất khác, bây giờ đem về trồng lại trên mảnh đất cũ ngày xưa thì bộ rễ chưa thể cắm sâu vào lòng đất, nên thân cành vẫn chông chênh, nghiêng ngả. Bây giờ thấy Duy Quang được hát trước đông đảo khán giả Việt Nam, được hoan nghênh xem như là 50% tôi rồi. Tôi về đây xem như được 100% rồi…
-Bác đã ví mình như một thân cây đã nhổ lên đem trồng ở một vùng đất khác, giờ đem về trồng lại trên mảnh đất cũ thì bộ rẽ chưa thể cắm sâu vào lòng đất, nên thân cành vẫn chông chênh – đó là sự khắc khoải trong cảm nhận của những lần về nước trước đây. Còn bây giờ? Bác mong ước gì khi trở về VN lần này.
-Tôi rất vui khi thấy đất nước ngày càng có nhiều chính sách cởi mở thông thoáng với kiều bào, nhất là khi Nghị quyết 36 kêu gọi thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt thành phần và lý do ra đi… Ở tuổi 85, mong muốn cuối đời của tôi là được trở về sinh sống trên quê cha đất tổ, theo quy luật mà ông bà ta đã đúc kết “lá rụng về cội” Là người nghệ sĩ, tôi tha thiết mong muốn được góp phần vào đời sống âm nhạc tại quê nhà…
-Trong cả gia tài gần một ngàn tác phẩm, bác nghĩ những tác phẩm nào của bác sẽ được các cấp có thẩm quyền xem xét đồng ý cho lưu hành?
-Tôi nghĩ nếu phải bỏ đi 50% tôi cũng thực sự vui lòng. Tôi nghĩ đó là một sự “gạn đục khơi trong” cần phải có. Cái gì đục thì mình mạnh dạn bỏ đi, những gì tinh khôi trong trẻo thì nên giữ lại.
-Bác có tin là ý nguyện của Bác sẽ được cấp có thẩm quyền chấp thuận?
-Trước kia thì không, nhưng bây giờ thì tôi rất hy vọng Nhà nước sẽ xem xét và sớm chấp thuận. Tôi thực sự cảm động khi vừa qua, con tôi là ca sĩ Duy Quang đã được Nhà nước cho phép được biểu diễn tại Việt Nam, điều đó tạo cho tôi một niềm tin rằng Chính phủ Việt Nam luôn rộng lượng đối với những người Việt Nam muốn trở về đóng góp xây dựng đất nước.”
*
Bài viết của nhà thơ Chế Lan Viên cách đây 20 năm nằm trong âm mưu “chiêu dụ những người có tài, có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Để họ động lòng đừng tiếp tục đấu tranh. Để họ làm ngơ mặc kệ bao nhiêu tội ác đang hoành hành trên quê hương khốn khổ. Để những tù nhân chính trị tại Việt Nam vẫn cứ “bình yên” trong các trại tù. Để hàng triệu người dân vô tội tiếp tục bị xua đi vùng kinh tế mới như những bầy súc vật. Để họ cứ tiếp tục hát tình ca, làm văn chương thuần túy dỗ giành nhau thiếp dần trong giấc ngủ lưu đày.”
Nhạc sĩ Phạm Duy là một người có tài, có tầm ảnh hưởng lớn trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Việt Cộng tìm cách “chiêu dụ” ông là chuyện không có gì khó hiểu. Báo chí hải ngoại viết về ông là chuyện đương nhiên.
Khi nhạc sĩ Phạm Duy chối cãi và hăm dọa “kiện đứa nào” nói ông về Việt Nam, chúng tôi có viết bài “Phạm Duy vẫn ở thôn Đoài”. Bài viết này đã được phổ biến trên nhiều tờ báo tại hải ngoại, vào năm 1995
Mới đây, qua hai bài trả lời phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ở trong nước và bán nguyệt san Trẻ tại hải ngoại, đọc những câu nhạc sĩ Phạm Duy xum xoe, bợ đỡ Nhà nước VC, gửi đơn đến Bộ Thông Tin, Văn hóa, Cục Nghệ thuật biểu diễn và các cơ quan liên hệ xin xỏ để được “hoạt động thu âm, thu hình và phổ biến tác phẩm”, bắn tiếng dù cho Nhà nước VC có dẹp bỏ 50% sáng tác của ông thì ông cũng rất vui lòng… những người đã từng ái mộ nhạc sĩ Phạm Duy bỗng cảm thấy “thần tượng” của mình hoàn toàn… sụp đổ!
Nghe nhạc sĩ Phạm Duy cho biết là ông ta quyết định trở về Việt Nam vì được Lưu Trọng Văn tặng cho ông ta bài thơ “Về thôi” vào năm 1994, mọi người đều cảm thấy ngỡ ngàng; nhưng những ai có đọc bài viết “Quê hương, lối về” đăng trên tạp chí Pháp Luật số Xuân Nhâm Ngọ (năm 2000) ở Việt Nam, thì chẳng có gì ngạc nhiên.
Lưu Trọng Văn là nhà văn gốc bộ đội, con của nhà thơ Lưu Trọng Lưu, mà nhạc sĩ Phạm Duy khoe là bạn của ông ta. Trong bài viết “Quê hương, lối về”, Lưu Trọng Văn đề nghị lập ra một “Bộ người Việt Nam ở nước ngoài” để quản lý Việt kiều hải ngoại như sau:
“Chúng ta có các sứ quán nhưng trách nhiệm lớn nhất của các sứ quán là công tác ngoại giao nên không hề có bộ phận quản lý nhà nước giúp đỡ những công dân Việt hoặc Việt kiều ở nước sở tại. Chúng ta có Ủy ban Người nước ngoài nhưng Ủy ban này  lại chưa được đặt ngang tầm một cơ quan lớn của chính phủ và cũng không có các văn phòng đặt ở nước ngoài. Nhiều bà con Việt kiều  cho rằng Quốc hội cần lập ra một bộ, đó là ‘Bộ người Việt Nam ở nước ngoài.’ Tất cả các việc liên quan đến Việt kiều, bộ này có trách nhiệm lo. Khi hình thành ‘Bộ người Việt Nam ở nước ngoài’, chúng ta mới có bộ máy kinh phí để trước hết thống kê ba triệu người Việt Nam ở nước ngoài sinh sống ra sao, làm việc ra sao, có nhu cầu gì…”
Trong bài viết, Lưu Trọng Văn cho rằng Việt Nam ngày nay đổi mới rồi, và dẫn chứng những người “có vấn đề” với Đảng và Nhà nước bây giờ đã về Việt Nam rất thoải mái – như giáo sư Nguyễn Ngọc Giao, giáo sư Đặng Tiến, nhạc sĩ Phạm Duy. Sợ người đọc không tin, bài viết của Lưu Trọng Văn còn đăng kèm hình Đặng Tiến, Phạm Duy chụp chung với những cán bộ Cộng Sản thứ thiệt như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường - những kẻ đã chít “dải khăn sô cho Huế” vào Tết Mậu Thân 1968. Trong bài viết, Lưu Trọng Văn còn quả quyết nhạc sĩ Phạm Duy có tới thăm mộ cha ông là nhà thơ Lưu Trọng Lư.
Để được thực hiện ước mơ cuối đời là được về sinh sống ở Việt Nam và “làm được một đêm nhạc ‘Phạm Duy cuối đời nhìn lại”, do chính ông ta đứng điều khiển từ đầu tới cuối,” qua hai bài phỏng vấn, nhất là bài phỏng vấn của bán nguyệt san Trẻ có toà soạn tại Westminster tại Hoa Kỳ, nhạc sĩ Phạm Duy đã phải nói những lời xum xoe bợ đỡ Nhà nước VC làm những người đã từng ái mộ ông lòng tràn ngập đắng cay. Thấy nhạc sĩ Phạm Duy biện bạch là trong 30 năm sống ở hải ngoại chưa bao giờ phát biểu những lời chống lại Nhà nước Việt Nam mà ngán ngẫm. Lại càng ngán ngẫm hơn khi thấy nhạc sĩ Phạm Duy đã phải biện bạch và bác bỏ quyển “Phạm Duy nỗi buồn còn đó” của nhà văn Tạ Tỵ đã viết để ca tụng ông ta vào năm 1972.
Tôi tin rằng nhạc sĩ Phạm Duy đã rất thành thật khi viết trong hồi ký là đã “bỏ vùng Cộng Sản về với Quốc Gia vì sinh kế, chứ không phải vì lý tưởng”. Khi hiệp định đình chiến ký kết vào năm 1954, nhạc sĩ Phạm Duy và gia đình đã cùng 1 triệu người miền Bắc lên tàu há mồm di cư vào Nam sinh sống và sáng tác, nay lại tuyên bố: “Có người coi tôi là người của “quốc gia”, nhưng nói thế thì hơi quá” nghe có vẻ chướng tai làm sao. Chuyện càng trái khoáy là vì muốn “minh định lập trường”, muốn chứng tỏ là mình đã “sáng mắt, sáng lòng” với Đảng và Nhà nước, nhạc sĩ Phạm Duy đã tự mâu thuẫn khi phủ nhận những gì mà nhà văn Tạ Tỵ đã viết về ông trong quyển “Phạm Duy nỗi buồn còn đó” khi phát biểu: “… Tôi buồn vì tôi thành công mà đất nước thì chưa thành công… Theo tôi, đất nước chỉ thành công khi nào núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình, no ấm”. Không biết nhạc sĩ Phạm Duy sẽ trả lời như thế nào khi Công an Văn hóa thành Hồ đặt câu hỏi: “Vào ngày 30-4-1975, đất nước đã thống nhất, núi sông liền một dải, nhân dân được sống trong hòa bình no ấm… vì sao ông và gia đình lại tìm mọi cách leo lên Đệ Thất hạm đội của đế quốc Mỹ để… chạy trốn tổ quốc cùng với bọn đĩ điếm, ma cô?”
Không ai trách gì một ông già 85 tuổi muốn về Việt Nam để chờ chết. Họa sĩ, nhà văn Tạ Tỵ là một cựu tù nhân chính trị, ở tù VC hơn 10 năm, ra hải ngoại đã viết hồi ký “Đáy Địa Ngục” để tố cáo tội ác của Cộng sản, về cuối đời đã về sống và chết tại Việt Nam. 
Khổng Tử có câu: “Ngũ thập tri thiên mệnh”, tức “tới 50 tuổi mới biết mệnh trời”, và “Lục thập nhi thuận nhĩ”, có nghĩa “tới 60 tuổi nghe thấy đều thông hiểu cả”. Nhạc sĩ Phạm Duy tới 85 tuổi mới “tri thiên mệnh”, nhưng vẫn chưa “nhi thuận nhĩ”.
Vì chút quyền lợi cuối đời nhạc sĩ Phạm Duy đã trở về Việt Nam nói những lời xum xoe bợ đỡ, nịnh hót, nhận tội để xin xỏ Đảng và Nhà nước cho ông được “hoạt động thu âm, thu hình và phổ biến tác phẩm”, để làm một đêm nhạc “Phạm Duy cuối đời nhìn lại”.
Tiếc thay! Vì chút danh lợi cuối đời mà nhạc sĩ Phạm Duy đã tự mình… vĩnh biệt thôn Đoài!
Với cá nhân người viết bài viết này, không phải tới ngày 27-1-2013 nhạc sĩ Phạm Duy mới qua đời: Phạm Duy đã qua đời cách đây 8 năm, khi ông quay lưng chối bỏ căn cước tỵ nạn cộng sản để được về Việt Nam sinh sống.
Đó là cái đất nước Việt Nam bị cai trị bởi chế độ Cộng sản bạo tàn mà ông và gia đình đã phải hai lần chạy trốn!
        NGUYỄN THIẾU NHẪN
          San Jose 27-1-2013
          tieng-dan-weekly.blogspot.com

Con Có Một Tổ Quốc: HOAN HÔ và CẢM TẠ

   SI VIS PACEM, PARA BELLUM
HOAN HÔ và CẢM TẠ
 
 

Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam, một đảng cướp, một đảng vô thần, một đảng có chủ trương tiêu diệt các tôn giáo nói chung và đặc biệt Công Giáo nói riêng, ngày Thứ Ba, 22.1.2013 đã được Đức Thánh Cha Bênêdictô 16 tiếp kiến, sau đó phái đoàn của Nguyễn Phú Trọng lại được Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh - như là thủ tướng- tiếp kiến và bàn thảo nhiều việc mà chắc là rất quan trọng, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Giáo dân Công giáo tại Việt Nam. Được tin này, toàn thể giáo dân Công Giáo Việt Nam rất vui mừng, xin dâng lời hoan hô Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Nguyễn Phú Trọng, và cảm tạ đến Đức Thánh Cha Bênêdicto 16.Dĩ nhiên, hai chữ "GIÁO DÂN" được dùng ở đây chỉ đơn thuần là giáo dân thôi.

Xin đồng bào khoan ngạc nhiên và khoan mắng mỏ kẻ viết bài này khi mới đọc đoạn văn trên. Riêng anh chị em giáo dân Công giáo Việt Nam đang sống tại Việt Nam cũng như tại hải ngoại hãy bình tỉnh tiếp nhận ƠN CỨU ĐỘ mùa Chay Thánh 2013 vì sẽ được Thiên Chúa đổ tràn đầy trên tâm hồn chúng ta, sau buổi gặp gỡ giữa Đấng Đại Diện Đức Giê Su và tôi tớ của Satan này.
Chúa Giê Su đã từng nói: "Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con" (Ga 15:16). Tất cả anh chị em giáo dân hãy vui mừng, vì hôm nay Thầy Giê Su đã chọn chúng ta, những giáo dân, những con chiên trong đàn chiên Việt Nam - dĩ nhiên không có các Đấng Chăn Chiên - để vác Thánh Giá của mình mà theo Thầy Giê Su trong mùa chay này và đó cũng là những ơn phúc mà sau cuộc gặp gỡ long trọng nói trên sẽ mang lại cho chúng ta.Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ chính mình và vác thập giá của riêng mình mà theo Thầy ((Mt 16:24). Giáo dân sắp vác thánh giá khi Nguyễn Phú Trọng về lại Việt Nam.

Trước khi lên đường công du Âu Châu, trong đó có chương trình gặp gỡ Đức Giáo Hoàng Bênêdictô 16, Tổng Bí Thư Việt Cộng Nguyễn Phú Trọng đã gợi ý để Thủ Tướng Việt Cộng Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị một món quà hậu hỉnh để Tổng Bí Thư dâng lên Đức Thánh Cha Bênêdictô 16: đó là bản án 80 năm tù mà Cộng Sản đã ban phát cho 14 thanh niên Công Giáo và Tin Lành thuộc giáo phận Vinh - một giáo phận mà Đức Nguyên Giám Mục Cao Đình Thuyên hãnh diện vì có nửa triệu Cao Đình Thuyên - 14 thanh niên này vì CHÂN LÝ, vì lẽ phải, vì tự do mà bị tù đày.

Đây là dịp để họ vác thập giá đi theo Thầy Giê Su. Chẳng những họ, mà cả gia đình họ, cả đồng bào họ cũng có phần vì đã thông cảm với họ, Thiên Chúa không bỏ sót một công lao nào của anh em. Khi trở về, Nguyễn Phú Trọng sẽ mang nhiều thập giá do Đức Thánh Cha gởi giáo dân Công Giáo Việt Nam, nhiều hơn 80 năm tù, xin anh chị em giáo dân Công giáo Việt Nam đón nhận như thập giá Mùa Chay do Đức Bênêdictô ban tặng, qua trung gian Nguyễn Phú Trọng. Thật xứng đáng khi các giáo dân Công Giáo Việt Nam hoan hô tôi tớ ma quỷ Nguyễn Phú Trọng, và cảm tạ sâu xa Đức Bênêdictô 16 trong cuộc gặp gỡ này.

Nhớ lại năm 1963, khi Mỹ và Cộng Sản đang thực hiện một chiến dịch lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm với một lời vu cáo thâm độc là chính phủ Ngô Đình Diệm đàn áp Phật Giáo, Đặc sứ Ngô Đình Luyện đã đến Vatican xin gặp Đức Giáo Hoàng để trình bày sự thật với những chứng cớ rõ ràng, đã bị Vatican đối xử tàn tệ. Sự việc này đã giáng xuống trên chế độ Ngô Đình Diệm một thiệt hại nặng nề chỉ vì Ngô Đình Diệm là một giáo dân Công giáo.

Thái độ này đã giúp cho Hoa Kỳ và Việt Cộng và tay sai của chúng có "chính nghĩa" để lật đổ tổng thống Ngô Đình Diệm. Trước mắt người đời, đó là một sự bất công lớn lao, một sự sỉ nhục lẽ phải, nhất là khi giáo dân Ngô Đình Diệm đã chết rồi, phái đoàn Liên Hiệp Quốc đã về nước và phúc trình lên Liên Hiệp Quốc chứng thực chế độ Ngô Đình Diệm đã không có hành vi kỳ thị tôn giáo, và chính phủ Hoa Kỳ vận động để phúc trình này không được phổ biến trước Liên Hiệp Quốc vì nó như một cái tát vào mặt Hoa Kỳ và những ai nhân danh kỳ thị tôn giáo để chống đối và lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Vatican đã thêm mấy bao đá vào thập giá của giáo dân Ngô Đình Diệm. Người đời cho rằng chế độ Ngô Đình Diệm "xui" và Hoa Kỳ cũng như Cộng Sản "hên".Nhưng trước mặt Thiên Chúa, thập giá của Ngô Đình Diệm càng nặng, công lao vị Tổng Thống Công giáo này càng cao. Thực đáng cảm tạ Vatican.

Theo tác giả Đặng Tự Do trong bài "Cuộc gặp gỡ giữa Đức Thánh Cha và TBT Nguyễn Phú Trọng" thì "... ngày 25.1.2007, Nguyễn Tấn Dũng được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Ngày 18 tháng 2 cùng năm linh mục Tađêô Nguyễn Văn Lýbị bắt. Năm sau dó xảy ra hàng loạt các vụ đàn áp để cướp đất trong đó nghiêm trọng nhất là tại Thái Hà, Tòa Khâm Sứ hồi tháng 9 năm 2008. Rồi đến các vụ đánh đập các linh mục và anh em giáo dân tai Tam Tòa Đồng Hớihồi tháng 7/2009. Ngày 11.12.2009, Nguyễn Minh Triết được Đức Thánh Cha tiếp kiến. Chưa đầy một tháng sau, ngày 6.1.2010, lại xảy ra vụ triệt hạ thánh giá ở Đồng Chiêm".

Đó chính là những thập giá mà Thiên Chúa đã ân cần nhờ tay Đức Giáo Hoàng trao tặng Giáo dân Công Giáo Việt Nam qua tay các tên đầu sỏ Việt Cộng. Anh chị em Giáo dân đã tiếp nhận và công lao của họ đã được Cha trên trời ghi chép. Hoan hô các tên đầu sỏ Việt Cộng và cảm tạ Đức Thánh Cha.

Có điều đáng chú ý là trong trận "giao bôi" giữa Hà Nội và Vatican, ngoài Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền và Đức TGM Nguyễn Văn Thuận và phải kể thêm Đức Tổng Giám Mục Giu se Ngô Quang Kiệt ra, Vatican không trao thập giá cho các vị Chủ Chăn Việt Nam, do đó, các ngài gần như hợp tác chặt chẻ với Đảng của Hồ Chí Minh. Tại sao vậy? Tại sao các chủ chăn lại thực hành "Kẻ Chăn Thuê"? Điều này, đã có nhiều Giáo Dân chủ trương "cứ để Thiên Chúa phán xét họ, chúng ta là con chiên không nên phán đoán kẻo sẽ bị phán đoán".

Có giáo dân thấy các vị chủ chăn Việt Nam trở mặt với Công lý, mặc nhiên ly khai Giáo Hội hoàn vũ, v.v... đã lên tiếng liền bị gán cho cái tội "chống Cha, chống Chúa".Ai đúng, ai sai cũng không quan trọng, điều quan trọng và rất đau đớn cho Giáo Dân Việt Nam là chính các Đấng Bề Trên lại rao giảng ngược lại LỜI CHÚA, mà tiêu biểu là bài giảng về Cánh Chung Luận của Đức Cha Phê Rô Nguyễn Văn Khảm. Ai cũng cho bài giảng này lạc đạo, kể cả những người "để Chúa phán xét các ngài".

Điều đáng cho giáo dân đau đớn hơn nữa là vài năm trước đây, Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn lại qua tập huấn phương thức tự trị của Công Giáo Quốc Doanh của Tàu. Điều này làm cho giáo dân rất đau đớn và chắc chắn Đức Giê Su sẽ đau đớn gấp bội. Riêng Vatican chẳng lấy làm đau đớn như Đức Giê Su và Giáo dân Việt Nam đâu, vì nếu có, tại sao các ngài cứ coi như Giáo Hội Cộng Giáo tại Việt Nam ngày càng thịnh qua những nhà thờ đồ sộ, những buổi rước kiệu "hoành tráng" có cả ảnh của Hồ Chí Minh xen vào?

Viết đến đây, kẻ hèn này chợt nhớ lời của Cha Abraham phán: "Khi ở đời Lazaro đã chịu biết bao nhiêu khỗ cực, còn các con, các con đã hưởng bao nhiêu vinh hoa phú quý do tôi tớ của Satan ban phát. Không lý do gì mà ngày nay các con lại xin Lazarô Việt Nam nhỏ cho chúng con vài giọt nước". Xin cha Abraham đừng phán như vậy với các Chủ Chăn Việt Nam hôm nay. Cũng xin ghi nhận có những Chủ Chăn tại Việt Nam là Chủ Chăn thật, như Chủ Chăn Kontum, Hải Phòng v.v... tiếc thay số này quá ít.

Đã đến lúc Giáo Dân phải đứng lên sẵn sàng nhận lãnh thập tự mà Vatican ban cho qua tay Nguyễn Phú Trọng. Hoan hô TBT Đảng Cộng Sản và Cảm tạ Đức Thánh Cha Bênêdictô 16.

Xin Chúa ban nhiều thập giá cho chúng con trong mùa Chay này để chúng con xứng đáng nhận lãnh Tin Mừng Phục Sinh 2013. Xin giáo dân Việt Nam quốc nội và hải ngoại rửa chân cho nhau "cùng sa nước mắt mà rửa chân cho các ... Chủ Chăn của mình.


Một giáo dân tầm thường.

Micae Lê Văn Ấn
 http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=3179:hoan-ho-a-cm-t-&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

MƯỜI HAI CON GIÁP: Con nào cũng gần như bị làm thịt


12 con giáp

          Gì chứ mười hai con giáp thì người Việt Nam chúng ta ai lại không biết và không thuộc lòng! Tí, Sửu, Dần, Mẹo…
          Tết năm nay là năm Quý Tỵ. Quý là một trong Thập Can; và Tỵ là một trong Thập nhị Chi.
          Thập Can gồm có Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
          Thập nhị Chi theo thứ tự là: Tí, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
          Hồi nhỏ, có lần Lão Móc gặp một số năm có tên lạ trong cuốn “Việt Nam sử lược” của Cụ Trần Trọng Kim:
“… Tháng Tư năm Ất Vị 1655, tướng Trịnh là Lê Văn Hiển và Phạm Tất Toàn đem quân đánh chúa Nguyễn lần thứ năm. Quân Trịnh vượt Linh Giang đánh vào Nam Bố Chính…”
          Mò mẫm hết mấy này tính toán được rằng năm 1655 là năm Ất Mùi. Và sử gia họ Trần kiêng tên ai đó mà đổi thành Ất Vị.
… Năm Đinh Mão 1625, Trịnh Tráng rước vua Lê thân chinh đi đánh quân Chúa Sãi ở Đàng Trong. Năm đó là năm Đinh Mùi.
Năm Canh Ngũ 1630, quân Trịnh lại đánh Nguyễn lần thứ hai… 1630 là năm Canh Ngọ.
*
          Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhân sinh ư Dần…
          Như vậy có Trời trước, kế đến có Đất rồi sau mới có Người. Đúng! Mấy ông Tàu xưa nói cũng có lý lắm. Nhưng mà “Thiên khai ư Tý” hồi nào, cái Big Bang ấy cách nay 25 tỷ năm, 30 tỷ năm? Chưa ai dám nói chắc. Rồi cái “Địa tịch ư Sửu” ấy hồi nào? 3 tỷ năm, 4 tỷ năm trước đây? Người ta cũng phỏng chừng chứ chưa ai dám khẳng định. Còn chuyện “Nhân sinh ư Daần”, thì người ta nói cái vụ này xảy ra ở Phi Châu, cách đây khoảng 2 triệu năm.
          Đúng hay không đúng? Mấy cái chuyện ấy xa xôi quá.

          Hồi thời Pháp thuộc, có cụ Nguyễn Khoa Vy, sinh năm 1881, người phủ Thừa Thiên có làm một bài thơ 8 câu mà kể đủ mười hai con giáp. Cái lắt léo của bài thơ ấy là phải dùng ca dao, tục ngữ để nói về các con vật của đủ mười hai chi mà không được nói thẳng ra. Cụ Vy làm bài thơ ấy như sau:
      
           1 - Tha ra, cắp lấy, bộ loay hoay,
     2 - Đào lỗ không nên tiếng cả bầy.
     3 - Lạc ngõ theo đuôi trâu dễ bước,
     4 - Cả gan bóp dái chẳng gờm tay.
     5 - Cám treo nhịn đói nhăn răng chịu,
     6 - Cối vẫn ăn no, ỉa miễu đầy.
     7 - Cá gáy hoá ra, chi có cánh,
     8 - Mồng năm len lét trốn đi ngay.

          -Trong câu 1, tác giả nói đến chó, mèo qua câu tục ngữ “Chó tha ra, mèo cắp lấy.”
          -Câu 2: Câu tục ngữ “Chuột bầy đào không nên lỗ.”
          -Câu 3:  "Lạc: ngõ theo đuôi trâu.”
          -Câu 4: "Cả gan bóp dái ngựa.”
          -Câu 5: "Cám treo để heo nhịn đói” và câu “Nhăn răng như khỉ ăn ớt.”
          -Câu 6: Câu tục ngữ: "Gà què ăn quẫn cối xay” và câu “Nuôi dê để ỉa miễu.”
          -Câu 7: "Cá chép hóa rồng” và câu “Cơ chi hùm có cánh.”
          -Câu 8: "Len lét như rắng mồng năm.”

          Đúng là một bài thơ hết sức công phu.

*
          Điểm qua điểm lại, mười hai con giáp ấy rất quen thuộc với loài người. Trừ Rồng là một con vật tưởng tượng, còn mười một con giáp kia, người ta ai cũng từng gặp qua, kể cả con Cọp có vẻ hơi khó gặp nhưng không một sở thú nào không có.
          Giận ai người ta nói: Cái bản mặt thằng đó mười hai con giáp không giống con giáp nào!
          Nói vậy là vì giận quá mất khôn. Không giống con giáp nào còn đỡ, giống một trong mười hai con giáp ấy mới khó coi chứ. Một cái bộ mặt chuột, mặt trâu, mặt rắn, mặt mèo đâu có hay ho gì! Đến như đồ mặt heo, cái tù mặt chó, cái bản mặt dê xồm, cái thứ mặt gà mái, cái mặt dài như mặt ngựa, thứ đồ mặt khỉ… thì quả là tệ hại.
          Đến như mặt cọp. Ai dám nói một người mang mặt cọp là một con người đẹp trai? Còn nếu các bà, các cô lại càng nguy hiểm: đàn bà con gái gì mà dữ như cọp! Quanh đi quẩn lại chỉ có mặt rồng là quý. Long nhan là mặt vua. Thế nhưng nhìn cho kỹ, cái bộ mặt con Rồng cũng không lấy gì làm dễ coi. Con mắt thì lộ, lỗ mũi thì to.
          Hãy cải tiến câu mắng của mình sao cho thực tế hơn một chút.
*
          Vì mười hai con giáp là những con vật quen thuộc cho nên tính đi tính lại, mười hai con ấy đều bị người ta ăn thịt. Có người sẽ cãi: Thịt rồng ở đâu mà ăn?
          Thưa có! Lý ngư hóa long, con cá chép sẽ hoá rồng sau khi vượt tam cấp Vũ môn. Ăn cá chép tức là ăn con rồng lúc chưa tung mây, lướt gió. Tức nói theo kiểu Không Quân là con rồng hay “thằng đó nó chết lúc chưa rời phi đạo.”

          Còn mười một con kia thì thường quá. Có hai con giáp bị người ta ăn gần như hàng ngày là anh Hợi và chị Dậu. Tuất, Sửu và Mùi thì thỉnh thoảng. Đối với một số người ở thành phố thì Tý và Tỵ là hai thứ hiếm. Ngọ và Mẹo ít người ăn. Đến ông Dần lại càng hiếm hơn nữa, hiếm hơn cả ông Thân mà chỉ vùng rừng mới có.
Đối với anh lính trẻ như anh Binh Móc, chỉ trừ con rồng mà anh đã sơi tam bằng cá chép, còn thì mười một con kia anh đã xơi đủ trên đường chinh chiến.

          Một ngày cận Tết ở nơi heo hút Bù Prăng, Phước Hỏa, anh lính trẻ ăn thịt cọp của những người Thượng mang cho. Bà con đi xe đò ngang vùng Rừng Lá năm nào đã hết hồn che mặt không dám nhìn vì cách hơi xa mặt đường một chút hai cái gì giống như hai cái xác … người bị căng trên một thân cây cắm đứng. Thật ra đó chỉ là trò nghịch ngợm của một ông lính trẻ đã bắn hạ và lột da hai con dộc rồi đem căng lên đấy trước khi nấu nướng!
Ai đã từng “lội” vùng Mộc Hoá, Kiến Tường, Mỹ An, Cao Lãnh thì phải nhớ chuột và rắn. Trên đường hành quân, rắn kho muối ớt, rắn bông súng nấu canh chua với trái chòi mòi, chuột nướng lửa củi tràm… thay cho những hộp thịt ba lát đã ngấy lên tận cổ.
          Rồi đến thịt mèo anh cũng chẳng chê, thịt ngựa anh cũng chẳng chối từ. Có người chê anh ăn tạp, anh cười hề hề: lính mà!
*
          Trong mười hai con giáp chỉ có rồng là con vật thần thoại, còn bao nhiêu đều là những con vật rất quen thuộc, kể cả con cọp. Chẳng nói đâu xa, hồi thập niên 50, thế kỷ trước, ở Việt Nam, người đi đêm vẫn gặp các ông kễnh ra ngồi ngắm trăng trên đèo Rù Rì.
          Tại sao toàn những con vật quen thuộc? Có người trả lời là lúc đó con người Đông phương biết bắt đầu làm lịch họ lấy ngay những con vật đã được thuần hóa như Trâu, Ngựa, Mèo, Chó, Gà, Heo, Dê hoặc những con sống ngay trong nhà như Chuột, Rắn hoặc gần nhà như Cọp để đặt tên cho mười hai con giáp. Cũng có thể, có thể thôi, chuyện không lấy gì làm chắc lắm.
          Trong mười hai con giáp, con cọp có vẻ đáng sợ nhất. Trong hai loài cọp, cọp cái đáng sợ hơn. Điều này đã được 3 tỷ đàn ông, con trai trên trái đất xác nhận. Cọp cái làm chúa tể trong… nhà!
*
          Năm nay là năm con Rắn nhưng xin được nói chuyện Cọp vì năm qua “những con rắn trong giỏ lươn” đã bị lửa của Lẽ Phải và Sự Thật của những người cầm bút chân chính đã phải bò ra lổn nhổn và bị đập đầu thê thảm, nhất là sau khi quyển sách “Bên Thắng Cuộc” của “NGƯỜI GIẾT SỬ” VC Huy Đức được quảng cáo rùm beng.  Bèn xin được kể về chuyện Cọp tự sa “cạm bẫy tự nhiên” như sau:

          Có một con cọp lớn về làng vào ban đêm, ngồi giữa cây cầu bắc qua con suối ngăn cách làng và bìa rừng, gầm gừ rất dữ tợn. Dân làng đóng chặt của, đánh trống nổi tù và ầm ỉ… Sáng hôm sau, cọp chẳng bỏ đi như mọi lần. Đến trưa, đến chiều… đến sáng hôm sau, cọp vẫn ngồi lù lù một đống giữa cầu. Lâu lâu còn lại nhớm lên như muốn đứng dậy rồi lại ngồi xuống, cất tiếng gầm thật lớn, đưa chân trước quào quào trong không khí, hay quào trên mặt cầu sồn sột. Đến ngày thứ tư, con vật vẫn còn đó, nhưng không còn vẽ dữ tợn nữa. Đến chiều, dân làng đã dám đến gần cầu. Cọp vẫn trong tư thế ngồi, nhưng đầu gục xuống, rãi nhớt nhiễu chảy dài hai bên mép coi rất thảm não, rõ ràng là cọp kiệt sức…
          Lật xác cọp lên, mọi người ngạc nhiên khi thấy dường như cọp vừa bị… thiến, vết thương còn dính bê bết máu.
          Theo Trọng Ngọc, người kể câu chuyện hy hữu nhưng lại cả quyết là có thật này giải thích thì con cọp bị nạn trong câu chuyện là một con cọp già. Cọp già nên “bị đạn” cũng hơi xệ - như người về già. Cầu làm bằng những thân tre lớn, kết dây mây khá chắc và có những khe. Cọp ngồi giống như mèo, đứng hai chân trước, quì hai chân sau, chẳng may “băng đạn” thõng xuống khe cầu. Cọp lại nhè vùng vẫy “gầm thét khúc ca rừng dữ dội… lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng” ( “Hổ nhớ rừng”,thơ Thế Lữ) nên lại đưa “băng đạn” kẹt trong khe cầu. Bộ phận bị kẹt lại quá nhạy cảm, cọp càng vùng vẫy càng đau đớn…
          Chuyện kể lúc dân làng lật xác cọp lên, hai viên đạn… xệ đựng trong băng đạn còn kẹt dính ở khe cầu.
*
          Năm 1986, cách đây 27 năm, Cọp Chúa Cộng Sản Gorbachev đang ngự trị ở Liên Bang Sô Viết. Sau đó, Cọp Chúa cũng đã tự để “băng đạn” về già thòng xuống khe cầu tư bản chủ nghĩa.   Loài người vui vẻ sống chung với những con cọp cộng sản đã đổi lốt cọp. Nhưng loài người vẫn còn lo ngai ngái với mấy con cọp Trung Hoa, Cuba, Bắc Hàn, Việt Nam.

          Theo nhà tướng số Ngô Hùng Diễn thì, CSVN đã chiếm được miền Nam nhưng rồi chúng sẽ tự diệt khi Võ Nguyên Giáp về thăm “Bác” Hồ bên kia thế giới.
          Năm nay thì Võ Đại Tướng cũng đã hơn trăm tuổi. Chuyện Võ anh hùng tận chỉ còn trong gang tấc!

          Trong khi đó thì Đảng và Nhà Nước ta lại “lên gân” cương quyết tiến lên xã hội chủ nghĩa, không chấp nhận đa nguyên, đa đảng, tiếp tục ra sức đàn áp những người dân trong nước lên tiếng đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền, đàn áp những nhà lãnh đạo tôn giáo, bắt bỏ tù những nhà tranh đấu cho dân chủ.

          Mới đây, Đảng ta lại tiếp tục “lên gân… bis” chơi trò kêu gọi toàn dân góp ý sửa đổi Hiến pháp; nhưng nội bộ vẫn tiếp tục đấu đá nhau loạn cào cào giữa “Cung Vua” (Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang)  với “Phủ Chúa” (Nguyễn Tấn Dũng).

          Biết đâu vì những chuyện này mà Con Cọp Cộng Sản Việt Nam lại tự để “băng đạn” thòng xuống khe cầu chủ nghĩa tư bản! Biết đâu, phải không?

          Hy vọng chuyện đó sẽ xảy ra và toàn dân sẽ lột da và xương của mấy chú cọp VC làm áo choàng và nấu cao hổ cốt để trị bệnh cho Mẹ Việt Nam.

        LÃO MÓC
          tieng-dan-weekly.blogspot.com

Bài Xem Nhiều