We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 3 February 2013

Thương về Nam Quan và Bản Giốc!

Thương về Nam Quan và Bản Giốc!
Xuân về, nhớ Bản Giốc - Nam Quan,
Lệ đắng chia ly mãi ngập tràn.
Ngọn ải mây trôi, in sắc oán,
Đầu ghềnh thác đổ vẳng lời than!
Phi Khanh - Nguyễn Trãi vinh sông núi,
Tầu quỷ - ma Hồ nhục thế gian.
Thác nước còn đây, đâu ải cũ?
Đục ngầu, bọt trắng khóc tường tan!



Hàn Giang Trần
Lệ Tuyền
Họa bài: Xuân về nhớ Nam Quan và Bản Giốc
XUÂN VỀ VỚI QUYẾT TÂM
Xuân về đất nước chẳng vinh quang
Dân chúng khổ đau, máu lệ tràn
Đất tổ nhường dần: thác, ải, đảo
Tài nguyên bán hết: sắt, nhôm, than
Nhân dân yêu nước lâm tù tội
Quốc hội, cộng quyền, làm Việt gian
Năm mới quyết tâm nung chí lớn
Đánh cho Cộng sản phải tiêu tan
BS Phùng văn Hạnh
Họa:
ĐỒNG TÂM!
Tết đến, khơi nguồn nhớ Ải Quan
Giận quân bán nước hận dâng tràn
Tha phương khắc cốt hờn vong quốc
Viễn xứ ghi tâm oán ngất than
Hào kiệt thuở xưa bao chính trực
“Anh hùng” thời đại lắm mưu gian
Nhâm Thìn, thoắt biến trôi năm cũ
Quý Tỵ, đồng tâm, Cộng sản tan!
Dân Nam

Ý NGHĨA NGÀY TẾT



  • DẪN NHẬP

Trong một bài viết trước, chúng tôi có đề cập đến vai trò đặc biệt của con số “3” (1) kèm theo với thuyết Tam Tài như nền tảng cho các sinh hoạt Văn Hóa của dân tộc VIỆT trong suốt chiều dài lịch sử. Riêng về bằng chứng Khảo Cổ về con số “3”, có những bộ ba cái Chạc gặp được trong sáu ngôi mộ ở Lũng Hòa thuộc giai đoạn Phùng Nguyên…..Như vậy là tục khi cúng Tổ Tiên rót 3 chén rượu, đốt 3 nén hương, vái 3 vái…..đã có từ thời ấy rồi,(2) tức cách đây ít nhất bốn ngàn năm. Còn liên quan đến ngày TẾT, chúng ta thường nghe những câu “Vui như 3 ngày Tết” hoặc ngay cả “3 tháng Tết” vào thời kỳ thịnh trị của văn minh Nông Nghiệp trước đây qua ca dao, tục ngữ như :

“Tháng giêng ăn Tết ở nhà
Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”.
Có lẽ vì không nắm vững ý nghĩa ngày Tết, nên ngày nay có những người Việt không những ngạc nhiên mà đôi khi còn tỏ ra bực bội về nội dung văn hóa của hai câu trên. Thật vậy, có điều nghịch lý sau đây : nước ta nghèo mà lại có cái Tết dài nhất “thiên hạ”, trong khi Âu Mỹ giàu sang lại có khuynh hướng cắt giảm các ngày nghĩ lễ, Tết nhất bằng cách khuyến khích Lao Động.

  • A) TỪ LAO ĐỘNG ĐẾN “SỐNG NHƯ CHƠI”

Tuy nhiên, mặt khác “nên nhớ lại Tây Âu mới làm việc quần quật từ lúc có khoa học kỹ thuật. Còn triết lý lao động thì lại đến muộn nữa, mới chừng một thế kỷ rưởi nay”.

Còn trước kia, Triết Cổ Điển Tây Phương “đã xao lảng việc đề cao lao động thì chớ, lại còn coi việc làm là hình phạt hay là cái chi hèn hạ, chỉ đáng dành cho Nô Lệ (gọi là servile). Aristotle cho việc lao tác là bất xứng với người Tự Do. Cũng vì đó mà triết Cổ Điển với Plato, Aristotle….. đã không tìm cách phá chế độ Nô Lệ, lại còn bào chữa cho là cần thiết để xã hội tồn tại. Vì xã hội mà thiếu lao động thì sản xuất sao nổi, mà ai lao động cho đây nếu không có Nô Lệ. Đây quả là một tang chứng về vụ Triết Học đã phản bội Con Người vốn mang trong xương tủy tính chất Tác Hành….. Đó là lý do sâu xa nhất đã gây nên cuộc phản động đề cao lao động như vừa nói tới trên kia…..

Nhưng rồi “mạnh chống mạnh chấp”; hễ cái gì do phản động thì thế nào cũng gây nên sự mất quân bình (vì đi quá trớn trong chiều hướng ngược lại) là cái sẽ dẫn đến chỗ cắt hoạn con người, bắt con người làm quá nhiều về chân tay lao lực, mà lại không để thì giờ phát triển những khả năng khác của con người trung thực”.(3)

Có điều nghịch lý khác bên phía Cộng Sản là tuy rất mực đề cao Lao Động lẫn Kinh Tế, nhưng phe CS lại thất bại thảm hại “hơn ai hết” trong việc phát triển Kinh Tế. Tư Bản tỏ ra khá hơn trong lãnh vực này, nhưng lại gặp những vấn đề nghiêm trọng loại khác.

Thật vậy, trong xã hội Tư Bản, tiến bộ kỹ thuật, phát triển kinh tế thay vì giảm bớt giờ làm việc, gia tăng giờ nhàn rỗi thì ngược lại, như tại Úc chẳng hạn, “càng ngày những người làm việc toàn thời gian phải làm nhiều giờ hơn”.(4)

Theo Clive Hamilton, Ts Kinh Tế, là “nếu loại ra trường hợp của khoảng 10 đến 20% số người ở bậc cuối cùng của mức thang xã hội, nguyên ủy của vấn đề không bắt nguồn từ sự nghèo túng, mà là từ sự sung túc. Vì họ lẫn lộn ý niệm “nhu cầu sinh sống” với “lòng ham muốn” nên họ làm khổ bản thân của họ về những gì họ chưa có. Cái vòng luẩn quẩn của tình trạng “lòng ham muốn gia tăng” kéo theo sự kiện “phải làm nhiều hơn” để có đủ tiền trang trải các đối tượng của sự ham muốn, khiến họ bỏ qua và không còn chú ‎ý đến những điều có thể đem lại hạnh phúc thực sự mà không tốn tiền.

Nguyên ủy theo Ts Hamilton, là chúng ta bị nhồi sọ một cách thường trực bởi giới quảng cáo, truyền thông, các nhà kinh tế duy l‎ý của phe Tân bảo thủ, của cả hai phe Tả Hữu của giới chính trị, và bởi cả của chính chúng ta là sự giàu sang là chìa khóa vạn năng dẫn đến hạnh phúc”.(5)

Chỉ một thiểu số rất nhỏ ‎ý thức được tình trạng trên đã tìm cách giảm bớt giờ làm việc, lợi tức, chi tiêu hầu có cuộc sống quân bình hơn.

Vậy nên, qua thí dụ trên đây, có vẻ chỉ một số rất nhỏ gồm các nhà Tư Tưởng hàng đầu và thành phần Ưu Tú nhất của Tây Phương ngày nay đang tiến lại gần Quan Niệm SỐNG lâu đời của Tổ Tiên Lạc Việt được tóm tắt trong hai thuật ngữ TRI TÚC và BÌNH SẢN

“Thật vậy, có TRI TÚC thì chính quyền mới đủ can đảm hiện thực chế độ BÌNH SẢN (hay Quân Phân Tài Sản), để đáp ứng nhu cầu đầu tiên của mọi người là ĂN. Cốt cách Phong Lưu với việc tổ chức Tết nhất, hội hè đình đám chỉ xuất hiện ở nơi nào có đủ ăn đủ mặc.

Còn về phương diện Tư Nhân, có biết ĐỦ thì người ta mới bỏ thì giờ ra hưởng nhàn, bỏ công của ra mà vui chơi với nhau. Có biết Đủ thì người giàu mới sẵn sàng bỏ tiền của ra cho việc Tết nhất, đình đám hội hè để mọi người cùng hưởng. Triết l‎ý Phong Lưu đã được thực hiện trong môi trường Làng Xã Việt Nam từ thời lập quốc cho tới gần đây”.(6)

Phần trình bày trên cho thấy rằng văn hóa Tây Phương, dẫu Cộng Sản hay Tư Bản, đều có khuynh hướng “biến con người thành con kiến, suốt đời phải tha mồi, để chất đống, tha hoài tha hủy, không bao giờ được ngửa mặt lên ngắm trời đất với muôn hoa đua nở”(7) như Tiền Nhân ta đã từng làm :

“Người ta đi cấy lấy công,
Tôi đây đi cấy còn trông nhiều bề.
Trông trời trông nước trông mây”.

Tóm lại, có lẽ “cần phải đi tìm một nền Triết Lý khác thay vào cả hai nền triết Tây Âu : Cổ Điển thì khinh việc làm, còn Nay thì chỉ biết có việc sản xuất. Cần một nền triết lý Cân Đối đầy đủ cho con người Lưỡng Thê” sống ở hai tầng Hiện Tượng và Tâm Linh.

Có lẽ, “điều đó chỉ có thể tìm ra được trong những miền có triết lý hành động từ đầu, tự cơ cấu. Và đó là trường hợp Việt Nho khi định nghĩa Người như những Tác Nhân, xuất hiện theo cung cách của Bàn Cổ, cái gì cũng tự làm lấy hết; từ việc xếp đặt trời đất, âm dương, cho đến núi sông, cả con người nữa.”(8)

Hoặc theo nội dung của triết lý Tam Tài với chữ “Tài” viết bằng bộ “thủ” hàm ý động tự…..mình đầy nhóc những động tự là động tự. Trên đời này không thể tìm đâu ra một triết lý hành động uyên nguyên đồ sộ như vậy.

Cho nên nếu hiểu thấu được Triết Lý TÁC HÀNH Chân Thực thì phải nhằm phát triển con người đến TRỌN VẸN, chứ Không chỉ có đợt Sản Xuất. Đó là san phẳng theo nguyên lý đồng nhất “A = A” giản lược con người vào nhu yếu duy nhất là Ăn. Không còn biết chi tới “Ở ĐỜI” có chiều kích Vô Biên rộng như Vũ Trụ, khiến Con Người có thể tham dự cùng Trời Đất. Đó là chỗ giải thích Ý Nghĩa của những cuộc TẾT Nhất, Hội Hè Đình Đám trong xã hội Lạc Việt trước đây vậy!(9)

  • B) TẾT LÀ GÌ ?
Có lẽ ý nghĩa chữ TỀT là một lối đọc chữ Tiết, hiểu là tiết nhịp uyên nguyên mà mọi tác động đều nhịp theo thì mới đạt cảnh Thái Hòa “phác nhi giai trúng tiết vị chi hòa” (TD). Theo “Tiết” là những nhịp sống cao độ mà mọi cơ năng đều cố vươn lên cực điểm để cùng nhịp theo với tiết điệu thiên nhiên. Vì thế mà có những cuộc vui, tưng bừng ăn uống đình đám kèm theo nói lên sự sống tràn ngập. Văn minh Nông Nghiệp đặt nền trên “Sinh Sinh” nên chú ý nhiều về Sống hơn về chết như lễ thanh minh, lễ các vong hồn là những lễ không được chú ý lắm…..(10)

Ngoài ra, “muốn hiểu được tầm quan trọng của Tết cần nhớ lại với Việt Nho thì Siêu Hình là THỜI GIAN và TÌNH CẢM. Cả hai đều Vô Hình nhưng lại có Thực….. Đó là hai then chốt của con người, con người cần phải “Tùy Thời”. “Tùy thời chi nghĩa đại hĩ tai”, vì “tùy thời” cũng chính là sống theo Tình, tức là Đạo. Đó là những việc không thể bỏ dù một giây. Nhưng có những lúc cần Trọng Thể hóa: đó là những thời điểm Khởi đầu Mùa, đầu Năm, Nho gọi là Tiết, Việt đọc là TẾT. Đó là ngành chữ THỜI.

Còn ngành TÌNH thì hàng ngày sống tình gia đình, nhưng lâu lâu vào những khởi điểm cũng cần sống theo chiều kích của mình. Sống đầy đủ nhất từ ăn uống, chơi đùa, ca hát, tế tự. Đấy là lý do thâm sâu của các cuộc Tết nhất, hội hè đình đám kéo dài. (11)

Tuy nhiên, muốn đạt được ý nghĩa chân thực của Tết, cần có một triết lý “Chơi” thực sự kiểu ‘Sống như Chơi” nhằm đáp ứng vào hai nhu yếu thâm sâu của con người:

Thứ nhất là thỏa thích mọi nhu yếu toàn vẹn là điều cần thiết cho sự triển nở của con người mà hiểu thấp xuống thì là nắp mở an toàn để con người có dịp xổ bớt ga ra do những điều không thể thỏa mãn, cũng như những điều uất ức, trái tai gai mắt, mà không một ai trong đời tránh hết được.

Do đó, “Minh Triết lập ra những cuộc lễ lạy hội hè: một trong những mục tiêu thấp nhất là tháo khoán tức cho phép vượt thể lệ thường nhật cả trong việc ăn uống cũng như dục tính. Cho nên bản chất Lễ là sự quá cỡ thường với mục tiêu mở nắp an toàn cho các uất ức buồn chán có dịp tiêu tán để bớt đi sức nén.

Còn hiểu cao hơn thì Tết nhất, hội hè chính là để con người được tham dự vào Thời Tính cũng gọi là Đại Thời Đại Không, tức như vượt mọi ranh giới của luật lệ, giai cấp để ai cũng được ăn uống, nói năng, múa nhảy thỏa thích hầu cho những mối tình khát mong sung túc, dư dật, san sẻ bầu bạn có thêm nội dung cụ thể trung thực. Vì thế hội hè vẫn kéo theo đình đám (12)

Đấy là lý do sâu thẳm tại sao Tết với những hội hè kèm theo được coi là thiết yếu cho con người để phát triển những khả thể Vô Biên của mình, là cái giúp con người khỏi thiên lệch sang trời hay đất, tức làm nô lệ cho những cái ngoài mình như tiền tài, quyền quý.

Vậy nên, để đáp ứng nhu yếu thứ hai về Tiết Nhịp, TẾT hay hội hè đình đám chính là những phút linh thiêng mà con người dùng để sống hòa điệu với nhịp vũ trụ của Hóa Công được quan niệm như Trẻ Thơ ca múa “Hóa nhi đa hí lộng”, để cho đúng câu “thiên nhân tương dữ” trời người cùng tham dự. Vì thế Tết cũng kêu là tiết. Và mỗi Tết trở nên cơ hội cho con người sống đời sống của Đại Ngã Tâm Linh, sống hòa mình vào nhịp vũ trụ, để con người sống những giây phút an hành vượt hẳn ra ngoài vòng danh lợi của hai đợt cưỡng hành và lợi hành. Vì chỉ ở đợt An Hành con người mới dễ sống thanh thản trong bầu không khí bao la của trời cùng đất.(13)

  • C) NHỮNG TẬP TỤC GẮN LIỀN VỚI TẾT
Tóm lại, cái Tết của ta rất lớn lao như chưa có đâu ăn tết trọng thể bằng: thời xưa kéo dài đến cả vài tháng với các đặc tính sau đây:

1) GIA ĐÌNH TÍNH

Điều nhận xét đầu tiên nằm trong chữ “tháng giêng ăn tết ở nhà”. Đây là nét đặc trưng, bởi vì Tết là lễ trọng thể nhất cũng như lâu dài nhất trong năm mà lại không mừng ở đền chùa, nhà thờ cũng như không ở những công sở mà lại mừng ngay ở nhà thì điều đó biểu lộ gia đình là nền móng của xã hội, mà không có gì khác thay thế được kể cả tôn giáo lẫn chính quyền. Vì thế những chế độ ghét gia đình như CS đều cố gắng quốc gia hóa cái Tết như thí dụ trước đây nhà cầm quyền CS cho nghỉ ngày mồng một còn mồng hai thì dân phải thi đua trồng cây cho nhà nước. Đó là dùng võ lực để tước đoạt gia đình.

Phía các tôn giáo cũng có tính cách kéo Tết ra khỏi gia đình ít ra là một phần. Không thành công vì chỉ có thể kéo ra khỏi gia đình để đem đến chỗ tinh thần hơn. Nhưng theo quan niệm Việt Nho thì tinh thần đã lại nằm sẵn ngay trong nhà rồi nên không có gì hơn mà phải ra ngoài nếu có ra chăng thì cũng là rất chóng vánh: đi lễ Phật, hay hái sâm hoặc đi nhà Thờ một lát rồi về “ăn Tết ở Nhà” !




2) TỔ TIÊN


Ngày mồng Một đầu năm là ngày trọng đại hơn cả, cũng là ngày nói lên tính chất gia đình đầy đủ hơn hết vì đấy không còn phải là gia đình nhỏ hẹp nữa nhưng là đại gia đình ăn về trước đến các Tổ Tiên đã qua cũng được thỉnh về để cùng ăn Tết với con cháu. Còn về hàng ngang nghĩa là những người đang sống thì dù ở xa mấy mặc lòng trong mấy ngày Tết gia đình cũng cố tụ họp để cùng chung vui. Bởi vậy có thể nói ngày Mồng Một Tết là tuyệt độ cao của đời sống gia đình trong đó mọi người đều được nhắc đến nhờ có tục lệ đọc và ghi Gia Phả.
Học giả Eberhard có nhận xét về việc ghi Gia Phả trong dịp này như sau: “Bất kỳ đứa con nào sinh ra dù là chết yểu cũng được ghi chú tên tuổi phần số để lại các thế hệ về sau, nhờ đấy ai nấy đều có một địa vị trong cái chuỗi dài bất tận của các thế hệ. Thật là một điều đáng suy nghĩ trước sự đổ vỡ của gia đình hiện nay, các nhà tâm lý nói đi nói lại rằng rất nhiều những khó khăn nội tâm của chúng ta như bệnh thần kinh… là hậu quả những cảm thức bất an ninh cách sâu xa, bởi ngay từ trong những ngày bé bỏng đứa trẻ đã cảm thấy mình trơ trọi trên đời: vì sống trong một nhóm tuy là gia đình nhưng thực chất chỉ là một đơn vị kinh tế. Trái lại ở đây ai nấy đều có một địa vị ngay từ lúc bé thơ và truyền lại mãi về sau. Nó vẫn là một phần trong công thể, mặc dù ngày mai có xảy ra sao đi nữa nó vẫn là một phần tử nên vẫn còn được tham dự trong buổi tiệc đầu năm này.”

3) TÁO QUÂN
Điều biểu lộ tinh thần gia đình thứ ba là tục Táo Quân. Ngày 23 tháng Chạp ông Táo về trời lập bô về các việc đã xảy ra trong năm qua có liên hệ đến nước đến gia đình. Đấy là một tục lệ biểu lộ niềm tin vào Hoàng Thiên Thượng Đế của các dân Viễn Đông. Đêm 23 tháng chạp các gia đình thường tiễn ông Táo một bữa cơm thịnh soạn những món ăn toàn là đồ ngọt, cốt để cho khi lập bô ông dùng những lời lẽ ngọt ngào. Vì thế mâm chất bánh ngọt, mức, lại thêm một xị mật ong để bôi mép ông Táo! Lễ này do các ông phụ trách, còn các bà lo bếp núc không tham dự.
Nhân dịp này ông Eberhard nhận xét về mối liên hệ giữa Người và Thần trong xã hội Viễn Đông như sau : “Tuy thần có quyền phép hơn nhưng đó chỉ là sự khác về cấp bậc, chứ không về giống loại. Thần cũng chỉ là những công chức, một thứ quan lại, coi một việc nào đó mà nếu không chu toàn nhiệm vụ thì phải bị đổi đi. Thí dụ khi trời đại hạn dân đã cúng tế đàng hoàng mà thần vẫn không chịu làm mưa thì rất có thể tượng thần sẽ bị đem ra phơi nắng để nếm mùi đại hạn là gì. Cũng có thể bị quăng vào đống rác, rồi dân làng viết đơn lên Thượng Đế xin sai xuống một ông thần khác đắc lực hơn.

Eberhard thêm rằng: “tuy người Âu Tây chúng ta coi đó là chuyện buồn cười nhưng theo các nhà Tâm Lý thì lối quan niệm Bình Đẳng với thần thánh kiểu này không gây ra “mặc cảm” tội lỗi hay ý niệm bị lệ thuộc quá đáng vào quyền năng thần thánh; đó là điều có sức cứu gỡ tâm hồn khỏi nhiều sự căng thẳng thần kinh do sự dồn nén, sợ sệt thần thánh, nên giúp cho con người cảm thức được quyền hạn riêng của mình (Festivals 22). Đối với tục lệ Táo Quân ta có thể coi như việc thanh toán sổ sách trong năm sắp qua đặng có thể bước vào năm mới với tâm hồn thanh thản.
  • 4) MÚA LÂN

Ngoài ra,”trong các trò vui công cộng dịp Tết thì có tục Múa Lân. Trong lúc múa người ta vừa múa vừa ca những bài hát Phương Nam “the leader of the group sang the Southern song” (Festivals 15). Điểm này coi như kiện chứng cho tính chất phương Nam của ngày Tết, tức là chủ tịch thuộc Bách Việt, nhất là Lạc Việt rất ưa Ca Vũ.

Nhưng từ năm 200-100 trước C.N, xẩy ra một sự đứt khúc rõ rệt gây nên do sự thắng thế của Hán Nho tức một thứ Nho đã bị trộn quá nhiều chất thanh giáo Bắc Phương nên từ đấy ca vũ bị trụt xuống dần cho tới độ “xướng ca vô loài”, và dân ca chỉ còn sống bám víu vào một số lễ lạy mà thôi. Bởi vậy cần phải có con mắt tinh tế nhìn những cái bé nhỏ để tìm ra dấu vết của nguồn gốc chúng ta.(14)
  • 5) TRỐNG QUÂN và LỄ HỘI MÙA XUÂN

Như vừa nói ở trên, dân Lạc Việt rất ưa Ca Vũ nên cũng rất thích Chơi Đùa. Ngoài ra, “Thời cổ xưa Chơi thường nằm liền ngõ với Tế Tự, một tác động nền tảng hơn hết của con người, đặt con người vào mối liên hệ chặt chẽ với Linh Thiêng, nên là một tác động cao cả hơn hết, vì thiết lập liên lạc với Vô Biên, tức với cái chi không giới mốc, không bị hạn cục. Ở buổi bình minh nhân loại, ta thấy CHƠI đi cùng TẾ TỰ là do lẽ đó.. Thời ấy các cuộc Tế Tự đều có Múa, có Ca, bởi Ca Múa chính là cuộc Chơi đã được Cơ Cấu hóa. Đấy là lý do tại sao nhiều Triết Gia đã đồng hóa việc Chơi với Tế Tự. Hình ảnh trên mặt Trống Đồng muốn nói là cuộc Tế Tự hay một Cuộc Chơi cũng được, vì tính chất bao la phổ biến của chơi và tế tự như nhau, đích cùng cũng như nhau: đều đặt Con Người liên hệ với Vũ Trụ tức là với Linh Thiêng. Cho nên trong các xã hội cổ đại có vô số cuộc chơi đặt liền với các cuộc lễ. Nhiều nhất và giữ được lâu hơn hết là nơi Việt Tộc: mở đầu là Tế Tự, tiếp nối là Chơi. Nói được các Cuộc Chơi đó nhất là các HỘI MÙA XUÂN chính là sự kéo dài của cuộc Tế Tự. Ông Paul Mus gọi dân Việt là một dân gồm toàn những tay Chơi: “un peuple de joueurs”. Đó là câu nói khen ngợi cùng cực; mọi việc đã được đẩy đến độ Chơi, có nghĩa là đã đẩy đến độ Tế Tự : “il n' agit pas, il officie”.Ông nói: "họ không còn làm nữa, họ tế tự". Paul Mus nói thế vì tính cách thành khẩn của việc, nó hút trọn bầu linh lực không để vương vãi đi đâu chút nào.

Vậy nên khi nói phải sống cái “Sống Như Chơi” cũng chính là nói phải biến cuộc sống trở nên một cuộc Tế Tự thường xuyên và trường kỳ.(15)

Hình thức chói chang hơn hết là Hát TRỐNG QUÂN. Chữ “Quân” nói lên sự Đua, một yếu tố chính cốt của cuộc chơi, nó làm cho sự nỗ lực gắng sức được đưa đến mức tối đa, cho nên nó không thể vắng thiếu trong mọi cuộc chơi. Chơi là Đua: đua thuyền, đua chạy, đua ném lao, đấu kiếm , đấu bò...Trong hát Trống Quân cũng có sự Đua sự Đấu nọ, chứng tỏ là có hai bè đối lập để đua nhau: đua tài khéo hát, đua trí lanh lợi, đua sự hiểu rộng biết nhiều. Chữ TRỐNG nói lên tâm hồn trống rỗng để đón nhận những điều hiểu biết cách đột ngột như Thần Hứng, chứ không biết kiểu lý luận suy tư. Đó cũng là lối biết thường xuyên của xã hội cổ thời. Do vậy những điều hát trong Trống Quân tuy đơn giản mà không thiếu sâu xa thường biểu lộ dưới hình thức câu đố, câu hỏi thách thức, thí dụ một bên hỏi:

“Thành nào năm cửa nàng ơi ?
Sông nào sáu khúc nước chảy trôi một dòng ? ”
Bên kia thưa:
“Thành Hà Nội năm cửa chàng ơi !
Con sông Lục Đẩu (Đầu) sáu khúc nước chảy xuôi một dòng”.

Bên trên thành Hà Nội có núi Ba Vì, có sông Nhị Hà thì Hà Nội tất có năm cửa (2+3=5). Sông Nhị Hà là loại sông “Tương” nước chảy hai chiều theo cơ cấu song trùng cơ bản, chứ không phải như sông Lục Đẩu (số 6) nước chảy xuôi một chiều đâu anh ! Vì “một chiều” sẽ là Duy Vật đi với “lục cực” phải là “năm cửa” mới tới “Ngũ Phúc”...Ta thấy điều hàm chứa sâu xa biết mấy!(16)
Trong quyển “Homo Ludens” (Beacon Press. Boston 1970), tác giả ông J.Huizinga đã cực kỳ khen ngợi hai Học Giả: một là ông Marcel Granet đã biết xuyên qua Kinh Thi tìm ra thể Trống Quân với những lễ hội, những cuộc hát đua tài, đua trí, những nghi thức giúp cho sự phong đăng ngũ cốc trong năm. Ông chỉ tỏ cho thấy cuộc đua tài nọ có ý nghĩa vượt xa các cuộc đua bên Hy Lạp vì chúng bày tỏ tính cách DU HÍ rõ nét hơn.

Người thứ hai được khen ngợi hơn nữa là ông Nguyễn Văn Huyên trong quyển “Chants Alternés” cũng khai thác cùng một đề tài nhưng trên đất Việt, nên hơn được chỗ là trực thẳng, sống động, vì Trống Quân vẫn còn được duy trì ở nước ta cho mãi tới thế kỷ 20 này. Ở đây ta được đưa vào chính giữa cuộc hát Trống Quân trong bầu khí đích thực của nó (chưa bị biến thể như trong Kinh Thi) với hai bè đối đáp, với những câu hát hai bên ve nhau (courtship) bên xướng bên họa dệt bằng những câu đố vui, những trò chơi lanh trí, những tục ngữ phương ngôn, những câu dò hỏi...làm thành mặt trận tình yêu giữa hai phái. Ông Huizinga khuyên những ai muốn có một thí dụ đập vào mắt để chứng minh mối liên hệ mật thiết giữa CHƠI và VĂN HÓA nên đọc sách nọ . Ông Huizinga đã trở lại hai ba lần để nói lên tính chất Cao Độ bên đất Việt hơn đâu hết. Hiểu là Văn Hóa đã đạt NHÂN CHỦ không đâu bằng (Homo Ludens, xem các trang 54, 56, 124)

Tóm lại, so với thời chuyên chế xưa Đông cũng như Tây chủ trương “bãi bỏ cuộc chơi” tức là giết người cách phần mớ tế vi, hoặc tổ chức những cuộc chơi có giết người thật như bên La Mã trước kia, thì các cuộc chơi ở giai đoạn Dân Chủ ngày nay đã cao hơn: đã thoát khỏi Cưỡng Hành để vào bầu khí Lợi Hành. Nhưng Chưa phải là Chót, cần vươn lên đợt AN VI nữa, đó sẽ là cái Chơi ở đợt Nhân Chủ, ăn sâu vào từng cá nhân. Mỗi cá nhân phải có một lối chơi ám hợp hoàn cảnh mình.

Ngoài ra, trong văn hóa Tây Phương, chỉ có quan niệm cuộc sống như “chiến đấu”, “tranh đấu để sinh tồn”, Thiếu hẳn quan niệm coi “Sống Như Chơi”, coi Chơi như một tác động Tế Tự giầu tính chất Linh Thiêng hơn hết. Phải là quan niệm Con Người mênh mông như Trời Đất mới duy trì nổi quan niệm Phong Lưu, mới giữ được những cuộc CHƠI tưng bừng gọi là Tết Nhất, Hội Hè Đình Đám” với vô số hình thái Đùa Chơi: tự ca Lý Liên, hát Quan Họ, hát Soan, hát Đúm, hát TRỐNG QUÂN đến vô số trò chơi đủ các kiểu.

Chính vì thế bức họa CA VŨ Đầu Tiên của con người xuất hiện nơi VIỆT TỐC trong TRỐNG ĐỒNG Ngọc Lữ. Chưa tìm thấy đâu có cuộc VŨ Lớn Lao như vậy, lớn lao bằng cả Đất Trời, Chim đại diện Trời, Rồng đại diện Đất hòa nhịp ca múa với con Người. Chúng ta khen ngợi ông Huizinga đã nhìn thấy trong TRỐNG QUÂN Việt Tộc hình ảnh huy hoàng của cuộc CHƠI Đích Thực hơn hết, Chơi gắn liền với Tế Tự, gắn liền với Hạnh Phúc tràn bờ và ta hân hạnh chỉ trỏ cho ông, cho mọi người thấy kết tinh huy hoàng của các cuộc Trống Quân là Trống Đồng NGỌC LỮ, Mặt Trống chia hai mảnh bán nguyệt; bên lẻ bên chẵn, tất cả người vật chim muông đang ca múa theo hướng thái dương là nguồn mọi sinh lực và hạnh phúc. Đấy là hình ảnh vẽ lại lý tưởng cuộc sống xưa, cuộc sống như Cuộc Chơi, An Nhiên Tự Tại của cõi Tiên. Tiền Nhân VIỆT Tộc đã muốn dùng những Lễ Hội để Biến Lý Tưởng trên thành Sự Thực, biến cuộc SỐNG thành cuộc CHƠI như được đúc ghi lại trong Mặt Trống.(17)

  • KẾT LUẬN
Ngoài TRỐNG ra thì trong cụ thể Tiền Nhân ta đã biến ngày TẾT thành một Cuộc Chơi lớn. “Ba Ngày Tết” đã được trọng thể hóa rất mực không những trong sự sửa soạn ăn uống, áo quần, nhà cửa mà luôn trong thái độ sống. Trong những ngày đó không được để xảy ra cái gì làm mờ đục cuộc vui: không được đòi nợ, cha mẹ né tránh rầy la con cái, ai chửi bới sẽ xui cả năm.Ý Nghĩa đó cũng như các tin tưởng trên là cố Kéo Dài bầu khí Vui Tươi, dư dật, an nhàn trong mấy ngày Tết mong nó sẽ vươn dài ra suốt năm. Lẽ ra cuộc Sống phải là một ngày Tết kéo dài, một cuộc Chơi bất tận, một cuộc Sống đầy Vũ đầy Ca. Nhưng hiện con người chưa đạt được thì ít ra phải tìm cách kéo dài bầu khí ngày Tết rất xa đến đâu hay tới đó. Chờ cho đến lúc hội đủ điều kiện hiện thực được cuộc sống no tròn đầy các cuộc chơi, mà con người ngày nay hằng mơ ước trong một xã hội mà họ gọi là “Hậu Công Nghệ” thì Ngày TẾT của VIỆT Tộc chính là những Hình Ảnh TIỀN HÔ Báo Hiệu xã hội Lý Tường đó vậy !!! (18)

Lê Việt Thường
31/01/2011

CHÚ THÍCH

(1) Lê Việt Thường, “Những Yếu Tố của Nền Nhân Bản Toàn Diện: Việt Nho và Triết Lý Con Số 3”,www.tinparis.net/vanhoa/vanhoa1.html
(2) Kim Định, “Kinh Hùng Khải Triết”, TNQG, USA
(3) Kim Định,“Hồn Nước với Lễ Gia Tiên”,Nam Cung, 1979, tr.163-165
(4) Clive Hamilton, “Growth Fetish”, Allen & Unwin, NSW, Australia, 2003
(5) Idem
(6) Kim Định, “Hồn Nước với Lễ Gia Tiên”, Idem, tr.183
(7) Idem, tr.166
(8) Kim Định, “Phong Thái An Vi”, An Việt Houston, 2000
(9) Idem
(10)Kim Định, “Triết Lý Cái Đình”, Nguồn Sáng, SG, VN, 1971
(11)Kim Định, “Hồn Nước và Lễ Gia Tiên”, Idem, tr.169-170
(12)Idem, tr.175-177
(13)Idem, tr.170-171
(14)Kim Định, “Triết Lý Cái Đình”, Idem
(15)Kim Định, “Phong Thái An Vi”, Idem
(16)Idem
(17)Idem
(18)Idem

Má ơi ! : thằng chó đẻ của má


thằng chó đẻ của

 Tiểu Tử
Má ơi ! Bữa nay là ngày 23 tháng chạp, ngày đưa ông Táo. Không biết những người Việt lưu vong như tụi con có còn giữ phong tục hằng năm cúng đưa ông Táo về Trời hay không, chớ vợ của con năm nào đến ngày này cũng mua hoa quả bánh ngọt cúng đưa ông Táo, cũng thành khẩn như ngày xưa, hồi còn ở bên nhà.
Tu viện Quảng Đức

Năm nay, nhờ vợ của con lau dọn bàn thờ ông Táo để sửa soạn bày lễ vật ra cúng, nên con mới nhớ ra là ngày 23 tháng chạp. Ngày này cũng là ngày sanh của má. Hồi đó, má hay
nói : « Ngày sanh của đứa nào còn khó nhớ, chớ ngày sanh của tao là ngày ông Táo về Trời, không dễ gì quên ! ». Và ngày này hồi đó, khi cúng vái, má hay cầu khẩn : « Ông về ở trển nhờ tâu lại bữa nay tôi lên thêm một tuổi, cầu xin Ngọc Hoàng bớt cho tôi chút đỉnh khổ cực … ». Hồi đó, nghe má cầu xin, con phì cười. Bây giờ, nhớ lại, con bỗng ứa nước mắt… Cuộc đời của má - theo lời tía kể - cũng lắm gian truân từ ngày má bỏ cái làng quê ở bờ sông Vàm Cỏ để đi theo tía dấn thân làm cách mạng vào những năm 1928/29. Gia đình giòng họ từ bỏ má cho nên hồi sanh con, tía bận đi xa, má nằm chèo queo một mình trong nhà bảo sanh, chẳng có người nào đi thăm hết. Vậy mà sau đó, má vẫn tiếp tục bôn ba …Mãi về sau, khi con lên sáu bảy tuổi, có lẽ chỉ vì sanh có một mình con nên tía má mới « trụ hình » - vẫn theo lời tía kể - với nhiều cực nhọc và khó khăn tiếp nối dài dài… Hỏi sao sau này mỗi lần đưa ông Táo má không có lời cầu khẩn nghe tội nghiệp như vậy ?

Nhớ lại, cách đây ba năm má thọ tròn trăm tuổi. Tính ra, từ ngày con đi chui theo ý má muốn - má nói : « Mầy đem vợ con mầy đi đi, để tao còn hy vọng mà sống thêm vài năm nữa » ! – cho đến năm đó, con xa má 25 năm. Con mới 72 tuổi mà cứ bịnh lên bịnh xuống nhưng năm đó con quyết định phải về. Và con đã về …

Thằng Bảy, con chị Hai Đầy ở Thị Nghè nghỉ chạy xe ôm một bữa để đưa con về cái làng quê nằm bên sông Vàm Cỏ. Nó nói : « Đi xe đò chi cho tốn tiền, để con đưa cậu Hai về, sẵn dịp con thăm bà Tám luôn ».

Hồi tụi con bước vào nhà, cả xóm chạy theo mừng. Con nhỏ giúp việc vội vã đỡ má lên rồi tấn gối để má ngồi dựa vào đầu giường : « Thưa bà cố, có khách ». Má nhướn mắt nhìn, hai mắt sâu hỏm nằm trên gương mặt gầy nhom đầy vết nám thâm thâm : « Đứa nào đó vậy ? ». Con nghẹn ngào : « Dạ, con… ». Chỉ có hai tiếng « Dạ, con » mà má đã nhận ra con ngay mặc dầu đã xa con từ 25 năm ! Má nói : « Mồ tổ cha mầy ! Trôi sông lạc chợ ở đâu mà bây giờ mới dìa ? Mà dìa sao không cho tao hay ? » Con ngồi xuống cạnh má : “ Sợ cho hay rồi má trông ” Má nói mà gương mặt của má nhăn nhúm lại : “ Tao trông từ hai mươi mấy năm nay chớ phải đợi đâu tới bây giờ ! ” Rồi má nhắm mắt một vài giây mới để lăn ra được hai giọt nước mắt. Cái tuổi một trăm của má chỉ còn đủ hai giọt nước mắt để cho má khóc mừng gặp lại thằng con ... Xúc động quá con gục đầu vào vai má khóc ngất, khóc lớn tiếng, khóc mà không cần biết cần nghe gì hết. Cái tuổi bảy mươi hai của con còn đầy nước mắt để thấm ướt cái khăn rằn má vắt trên vai...

Suốt ngày hôm đó, má con mình nói biết bao nhiêu chuyện, có sự tham dự của họ hàng chòm xóm. Nhớ gì nói nấy, đụng đâu nói đó ...vui như hội. Vậy mà cuối ngày, không thấy má mệt một chút nào hết. Con nhỏ giúp việc ngạc nhiên : “ Bình thường, bà cố nói chuyện lâu một chút là thở ồ ồ. Bữa nay sao thấy nói hoài không ngừng ! Có ông Hai dìa chắc bà cố sống thêm năm bảy năm nữa à ông Hai !”

Đêm đó, má “đuổi ” con vô mùng sớm sợ muỗi cắn. Con nằm trên bộ ván cạnh cái hòm dưỡng sinh của má. Con hỏi : “ Bộ cái hòm hồi đó má sắm tới bây giờ đó hả ? ” Má cười khịt khịt vài tiếng rồi mới nói : “ Đâu có. Cái hòm mầy nói, tao cho cậu Tư rồi. Hồi Cao Miên pháo kích quá, tao đem cậu Tư về đây ở, rồi ổng bịnh ổng chết. Tao có sắm cái hòm khác, cái đó tao cho thằng Hai con cậu Tư. Tội nghiệp thằng làm ăn suy sụp nên rầu riết rồi chết !” Con nói chen vô : “ Vậy, cái nầy má sắm sau đám của anh Hai ” Má lại cười khịt : “ Đâu có. Cái hòm sắm sau cái hòm cho thằng Hai, tao cho dì Sáu rồi. Hồi chỉ nằm xuống, nhà chỉ không có tiền mua hòm thì lấy gì làm đám ma ? ” Ngừng lại một chút rồi má mới nói : “ Còn cái hòm nầy chắc tao không cho ai nữa. Họ hàng quyến thuộc lần hồi chết hết, còn lại có mình tao thôi, có nó nằm gần tao cũng yên bụng ! ”.

Nằm tơ lơ mơ một lúc bỗng nghe má hỏi : “ Thằng chó đẻ ... ngủ chưa ? ” Con trả lời : “ Dạ chưa ” Má tằng hắng : “ Tao tụng kinh một chút nghen ” Con : “ Dạ ” mà nghe tiếng “ Dạ ” nghẹn ngang trong cổ. Mấy tiếng “ Thằng chó đẻ ” của má kêu con đã làm cho con thật xúc động. Hồi đó – lâu lắm, cách đây sáu mươi mấy bảy chục năm, hồi con còn nhỏ lận – má hay gọi : “ Thằng chó đẻ, lại hun cái coi ! ”. Hồi đó, mổi lần cưng con, nựng con, ôm con vào lòng má luôn luôn gọi con bằng “ thằng chó đẻ ” ! Mà con thì chỉ biết sung sướng khi nghe má gọi như vậy. Rồi con lớn lần, má không còn gọi con bằng “ thằng chó đẻ ” nữa. Con không để ý và chắc má cũng không để ý đến chuyện đó. Mãi đến bây giờ má lại gọi con bằng “ thằng chó đẻ ”, gọi tự nhiên như hồi còn nhỏ. Chỉ có mấy tiếng thật thô thiển bình dị, nghe khô khan như vậy mà sao con cảm nhận tình thương thật là tràn đầy. Và đối với má, dầu tuổi đời của con có cao bao nhiêu nữa, con vẫn là “ thằng nhỏ ”,” thằng chó đẻ cưng ”. Con bắt gặp lại sự sung sướng của hồi đó khi được má gọi như vậy. Rồi bao nhiêu hình ảnh thuở ấu thời hiện về trong đầu con, liên miên chớp tắt. Đêm đó, con trằn trọc tới khuya...

Sáng hôm sau, má biểu con đẩy xe lăn đưa má đến từng bàn thờ để má thắp nhang tạ ơn Trời Phật, Ông Bà. Cuối cùng, đến bàn thờ của tía, má nói : “ Ông ơi, Có thằng nhỏ nó dìa đó. Ông độ cho nó được mạnh giỏi, độ cho vợ con nó ở bên tây được suông sẻ trong công việc làm ăn...” Đứng sau lưng má, con phải cắn môi thật mạnh để khỏi bật lên thành tiếng nấc !

Đẩy má ngang bàn viết cũ của tía, con thấy trên tường có treo hai khuôn kiếng lọng văn bằng đỏ chói có đóng dấu cũng đỏ chói của Nhà Nước. Con ngừng lại đọc : một tấm là huân chương hạng nhứt và một tấm là huy chương hạng ba cấp cho Lê thị Ráng. Con hỏi : “ Cái gì vậy, má ? ” Má nói : “ Mề-đai của tụi nó cho tao. Tụi nó bươi chuyện thời ông Nhạc nào đâu hồi mấy năm 1928-29 rồi chạy lại cho. Cái hạng nhứt đó cho năm ngoái, còn cái hạng ba mới cho đây ” Con cười : “ Vậy là họ hạ cấp má rồi ” Má hỏi : “ Sao mầy nói vậy ? ” Con giải nghĩa: “Thì từ hạng nhứt tuột xuống hạng ba là bị hạ cấp chớ gì nữa ?” Má cười: “Mầy không biết. Cái đầu hạng nhứt đó, cho treo chơi chớ không có tiền. Cái hạng ba đó mới có cho tiền ” Con đùa : “ Vậy má chia cho con chút đỉnh lấy hên coi ! ” Má khoát tay : “ Ối ...từ ngày nhận cái mề-đai đó tới nay đã ba tháng rồi mà có thấy tụi nó đưa tiền đâu. Nghe nói còn mấy khâu gì gì đó chưa thông nên có hơi trễ ! ” Thấy trên văn bằng đề “Lê Thị Ráng ” con thắc mắc : “ Ụa ! Mà Lê Thị Ráng đâu phải là tên của má. Trong khai sanh của con, má là Lê Thị Láng mà !” Má cười khục khục mấy tiếng rồi mới nói : “ Để tao nói cho mầy nghe. Hồi đó tao sanh mầy ở gần nhà thờ Cha Tam, trong Chợ Lớn. Cô mụ người tàu, nói tiếng Việt còn lơ lớ. Cổ hỏi tao tên gì để làm khai sanh. Tao nói tao tên Ráng, mà R cổ nói không được, nên ra sở khai sanh, cổ nói Ráng thành Láng là như vậy ” Mãi tới bảy mươi hai tuổi con mới biết tên đúng của má là “ Ráng ” !

Hôm đưa ông Táo, con có tổ chức một bữa tiệc để ăn mừng một trăm tuổi của má, có họ hàng tham dự đầy nhà. Vừa ngồi vào bàn, dì Bảy Giang nói : “ Theo phong tục mình, con cái phải quì lạy để chúc thọ mẹ cha. Bây giờ, chị Tám được một trăm tuổi, hiếm lắm, quí lắm. Mầy phải lạy má mầy đi rồi ăn uống gì ăn ” Mọi người vỗ tay tán thành. Má cũng cười, nói : “ Ồ phải ! Hồi nẳm, đám cưới của mầy, mầy có đi học lạy với cậu Bảy Dinh, nhưng bên đàng gái miễn lễ chỉ bắt xá thôi, rồi về đây tía mầy cũng miễn luôn. Cho nên tao chưa thấy mầy lạy ra sao hết. Đâu ? Mầy lạy tao coi ! ” Mọi người lại vỗ tay nữa. Con đứng trước mặt má, chấp tay ấp úng: “ Thưa má. Hôm nay là ngày sanh thứ một trăm của má, con xin lạy mừng thọ má ” Rồi con lạy ba lạy, cũng đủ điệu bộ lên gối xuống gối như con đã học lạy cách đây gần năm chục năm. Con lạy mà nước mắt chảy quanh. Con biết rằng lần lạy đầu tiên này có thể là lần lạy cuối cùng, bởi vì qua Tết, con sẽ trở về Pháp với cái lạnh cắt da của mùa đông, rồi sau đó biết có còn về nữa hay không ? Sức khỏe của con càng ngày càng kém, bao nhiêu thứ thuốc uống vô hằng bữa liệu kéo dài sự sống của con được đến bao lâu ? Điều này, con đâu dám cho má biết. Mọi người lại vỗ tay khi con lạy xong. Rồi thì nhập tiệc. Bữa tiệc hôm đó thật là vui. Người vui nhứt là má.

-oOo-

Má ơi ! Bữa nay là ngày sanh thứ 103 của má, ngày đưa ông Táo về Trời. Vậy là ba năm qua rồi, con đã không về thăm má. « Thằng chó đẻ » của má vẫn còn « trôi sông lạc chợ », để cho má cứ phải trông nó về, trông hằng ngày, trông mòn con mắt, trông khô nước mắt !

Má thương con , xin má tha thứ cho con... tha thứ cho con ….


Tiểu Tử


Bài Xem Nhiều