We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 6 February 2013

Quý Tỵ – nói chuyện Rắn trong Kinh thánh



Lòng không Thiên Chúa, Xuân không Tết;
Sống chẳng nghĩa nhân, Tết chẳng Xuân.

RẮN TRONG ĐỜI SỐNG
Chẳng ai lại không biết rắn. Rắn đứng hàng thứ 6 trong 12 con giáp. Rắn thuộc loài bò sát, là động vật máu lạnh, và cùng lớp với các loài có vảy như thằn lằn, tắc kè, nhưng rắn không có chân.






Có nhiều loại rắn. Rắn nào cũng có độc tố, chỉ khác nhau mức độc hại. Còn có loại rắn hai đầu, chặt mất đầu này nhưng đầu kia vẫn sống. Rắn nước có vẻ “hiền lành” nhất nhưng được coi là chúa các loài rắn. Nghe nói rằng ai ăn được 3 mật rắn nước thì dù bị rắn nào cắn cũng không sao, và còn có thể “đánh mùi” được rắn đang xuất hiện đâu đó.

Rắn có bộ xương rất nhỏ và dễ vỡ, thế nên khó có dạng hoá thạch. Nhưng trên cơ sở hình thái học, rắn tiến hoá từ tổ tiên của loài thằn lằn. Nghiên cứu gần đây dựa trên công nghệ gen và sinh hoá xác nhận rắn tạo ra loại nọc độc cùng nguồn gốc với vài họ thằn lằn còn tồn tại.

Tất cả các loài rắn đều là loài ăn thịt. Chúng có thể ăn cả những con rắn khác và các động vật có vú, các động vật nhỏ như thằn lằn, chim, sâu bọ, kể cả trứng của các loài khác. Một số loài rắn có nọc độc để giết chết con mồi trước khi ăn, một số loài rắn khác thì xiết con mồi đến chết, có những loài rắn nuốt sống cả con mồi.

Xương hàm dưới của rắn rất linh hoạt, hai hàm không cố định mà đa số được nối thẳng vào sọ, cho phép chúng mở rộng miệng để nuốt trọn con mồi dù cho con mồi lớn hơn nhiều so với đường kính thân rắn.

Sau khi ăn, rắn trở nên lười biếng và thụ động khi hệ tiêu hóa bắt đầu làm việc. Lúc này, hệ tiêu hóa hoạt động rất mạnh, nhất là khi phải tiêu thụ con mồi lớn. Ở một số loài rắn, toàn bộ hệ tiêu hóa sẽ nghỉ ngơi giữa những bữa ăn để tránh thất thoát năng lượng vì rắn ăn khá ít.

Người xưa có câu: “Rắn già, rắn lột; người già, người chột vào hang” (ý nói người già thì chết, “hang” ở đây là huyệt mộ). Khi rắn lột da, nếu không có đủ độ ẩm thì sẽ rất nguy hiểm, lớp da khô không thể bị lột ra. Lớp da bám lại sẽ là nơi sản sinh ra bệnh tật và vi khuẩn. Một phần nhỏ ở cuối đuôi rắn không hề thay đổi khi rắn lớn lên. Rắn tự cắt đứt đường máu đưa tới khúc đuôi “thừa” và từ từ phần đuôi đó sẽ rụng.

Toàn thân rắn được bao bọc bởi một lớp vảy. Những chiếc vảy này rất cứng, không lớn lên tương ứng theo sự trưởng thành của thân rắn. Vì vậy, cứ 2-3 tháng rắn phải thay da một lần. Những chiếc vảy này không chỉ giúp rắn bảo vệ mình mà còn có chức năng như bàn chân để có thể trườn bò. Một số loại rắn đặc biệt có khả năng lướt nhanh, chúng có thể “lướt” rất xa, tầm phóng xa khoảng gần 14 m.

Nọc rắn tuy độc hại, có thể giết chết người, nhưng chính độc tố đó lại có thể cứu người. Đúng như tiền nhân nói: “Dĩ độc trị độc”. Y học đã dùng hình tượng rắn làm biểu tượng.

Nọc độc rắn có thể là “độc tố thần kinh” hoặc “độc tố máu”. Độc tố thần kinh tấn công hệ thần kinh, còn độc tố máu tấn công hệ tuần hoàn. Rắn độc sử dụng độc tố máu thường có nanh tiết chất độc ở trước miệng, giúp chúng dễ dàng tiêm thẳng chất độc vào nạn nhân. Rắn sử dụng độc tố thần kinh có nanh nằm ở phía sau miệng, và nanh đó cong về phía sau.

RẮN TRONG Y DƯỢC
Theo Đông y, thịt rắn làm thông kinh mạch bị bế tắc và trừ phong hàn nên được dùng để trị các chứng phong thấp. Nó cũng có khả năng chữa trị chứng tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm (eczema).

Rắn là nguồn cung cấp chất đạm rất tốt, thịt rắn tương đối nạc, ít mỡ, vì rắn vận động nhiều. Thịt rắn chứa nhiều vitamin và khoáng chất quý như kali, canxi, sắt, kẽm, vitamin A, D, B1, B2, B6, B9...

Đông y dùng rắn dưới nhiều dạng: Ngâm rượu, nấu cháo, rượu pha máu rắn, ăn mật rắn. Y học cổ truyền Trung quốc có kê những toa thuốc lấy từ 2 loại rắn: một từ rắn độc Bạch hoa xà (chỉ chung 2 loài rắn hổ và cạp nong) và một từ rắn nước gọi là Ô sao xà.

Đông y cho rằng rắn (không kể phủ tạng) có tính ấm, vị ngọt, tác động vào Can kinh và Tỳ kinh. Cả hai loại trên có tác dụng như nhau, nhưng rắn nước thì yếu hơn. Thịt rắn được dùng để trị các chứng phong thấp, tê ngoài da, ngứa, nhất là ngứa kinh niên do chàm. Da rắn sau khi lột (xà thuế) có tính bình, vị ngọt mặn, có tác dụng khu phong, chống co giật nên được dùng trị bệnh phong ngứa ngoài da, và động kinh ở trẻ em.

Huyết rắn làm tăng sinh lực, bổ thận, có thể dùng chung với mật rắn để tạo thành “huyết xà đởm”. Mật rắn vị đắng, tính hàn, có thể làm hạ hỏa và tiêu đờm do nhiệt gây ra. Mật rắn cũng giúp làm tan máu bầm, được ngâm rượu để chữa chứng nhức xương và phong thấp.

RẮN TRONG KINH THÁNH
Rắn được coi là “biểu tượng” của sự độc ác, ám chỉ những người ranh mãnh, lọc lừa, gian dối, quỷ quyệt, không nên tiếp cận mà phải tránh xa. Người ta thường dùng thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà” để chỉ những kẻ đưa kẻ thù về làm hại gia đình hoặc tổ quốc mình – tương tự câu “rước voi về giày mả tổ”.

Rắn cũng là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà Thiên Chúa đã tạo dựng. Chính con rắn đặt vấn đề với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không?” (St 3:1). Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn” (St 3:2). Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu!” (St 3:4).

Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế?”. Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn” (St 3:13). Thiên Chúa phán với con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi” (St 3:14).

Và Thiên Chúa nói tiếp: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó” (St 3:15).

Cựu ước nhiều lần nói tới loài rắn.
Ông Gia-cóp có lời chúc phúc: “Ước gì Đan là một con rắn trên đường, một con rắn lục ở lối đi, cắn gót chân ngựa, khiến người cưỡi phải ngã ngửa” (St 49:17).

Có lần Thiên Chúa hỏi ông Môsê: “Tay ngươi cầm cái gì đó?”. Ông đáp: “Thưa một cây gậy” (Xh 4:2). Người phán: “Vất nó xuống đất đi!”. Ông Môsê vất nó xuống đất, và nó hoá ra con rắn. Ông Môsê liền chạy trốn (Xh 4:3).

Xh 7:8-13 ghi lại lời Chúa phán với ông Môsê và ông Aharon: “Nếu Pharaô bảo các ngươi: Hãy làm một phép lạ xem, thì ngươi hãy nói với Aharon: Anh cầm cây gậy của anh, ném xuống trước mặt Pharaô, và gậy sẽ hoá thành một con rắn to”. Ông Môsê và ông Aharon liền đến với Pharaô và làm như Đức Chúa đã truyền. Ông Aharon ném cây gậy của mình xuống trước mặt Pharaô và bề tôi của vua: gậy hoá thành một con rắn to. Pharaô cũng triệu các hiền sĩ và pháp sư đến; và các phù thủy Ai-cập cũng dùng phù phép của mình mà làm như vậy: mỗi người ném cây gậy của mình và gậy hoá thành một con rắn to. Nhưng gậy của ông Aharon nuốt gậy của họ. Dù vậy, Pharaô vẫn cứng lòng, không nghe ông Môsê và ông Aharon, như Đức Chúa đã nói trước.

Thiên Chúa lại phán với Môsê: “Ngươi hãy đến nói với Pharaô lúc sáng sớm, khi nhà vua ra mé nước. Hãy đứng chờ để đón vua ở bên bờ sông Nin. Hãy cầm trong tay cây gậy đã biến thành rắn” (Xh 7:15).

Tân ước cũng nhiều lần nhắc tới loài rắn.
Thấy nhiều người thuộc phái Pharisêu và phái Xađốc đến chịu phép rửa, ông Gioan Tẩy giả nói với họ rằng: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Mt 3:7).

Một lần nọ, khi nói về việc cầu nguyện, Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá? Hoặc nó xin con cá, mà lại cho nó con rắn?” (Mt 7:9-10; Lc 11:11).

Còn khi nói về việc truyền giáo, Chúa Giêsu nói: “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10:16).

Với những người tà tâm, Chúa Giêsu quả quyết: “Loài rắn độc kia, xấu như các người thì làm sao nói điều tốt được? Vì lòng có đầy, miệng mới nói ra” (Mt 12:34). Hoặc lần khác, Ngài nói: “Đồ mãng xà, nòi rắn độc kia! Các người trốn đâu cho khỏi hình phạt hoả ngục?” (Mt 23:33).

Nói về “dấu lạ” ở những người có lòng tin khi trừ quỷ nhân danh Ngài, Đức Kitô cho biết: “Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ” (Mc 16:18).

Khi đám đông lũ lượt kéo đến xin được làm phép rửa, ông Gioan nói với họ: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Lc 3:7).

Nhóm Mười Hai hớn hở báo cáo với Sư Phụ về việc ma quỷ chạy cụp đuôi khi nghe nói đến tên Giêsu, Đức Kitô nói với họ: “Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em” (Lc 10:19). Nhưng Ngài nói thêm: “Chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời” (Lc 10:20).

Cuối cùng, Đức Kitô nói về chính Ngài: “Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy” (Ga 3:14).

Ngài nói về việc Ngài chịu chết nhục nhã trên Thập giá vì vâng lời Chúa Cha và vì yêu thương chúng ta. Đó là Giờ Cứu Độ, là thời điểm giọt Máu và giọt Nước cuối cùng chảy ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, và đó cũng là Giờ Thương Xót. Chính giây phút đó, Đức Kitô đã chứng minh Lòng Chúa Thương Xót là tha thứ mọi tội ác và mọi hình phạt đời sau cho tên cướp Dismas: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23:43).

Dù tội lỗi ngập đầu, thế mà Dismas (người trôm lành) đã được trắng án và là người đầu tiên được vào Nước Trời, dù trước đó Dimas chỉ nói một lời cầu xin đơn giản: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!” (Lc 23:42).

Năm mới, chúng ta phải canh tân thành con người mới, ai cũng phải không ngừng cố gắng sống khôn ngoan như con rắn nhưng không được sống xảo quyệt như nó, nhất là phải tái quyết tâm: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”.

Bí quyết canh tân là thực hiện lời Chúa Giêsu: “Hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5:48). Canh tân bản thân để không chỉ ích lợi cho bản thân và gia đình, mà còn ích lợi cho xã hội, cho tổ quốc, và cho Giáo hội.

Niềm vui đầu năm mới: PHÉP LẠ HAY CHỈ LÀ SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN HAY TẤT NHIÊN ?



 
Niềm vui đầu năm mới này xin được gửi đến các thân hữu, nhất là các đồng môn Luật khoa Sài Gòn và các quý đồng nghiệp luật sư đã quan tâm thăm hỏi về tình trạng sức khỏe liên quan đến căn bệnh viêm gan C (Hepatitis C) của tôi, để như lời thông báo tin vui và chân thành cảm tạ.Đồng thời qua bài viết này cũng muốn gửiđến những ai đồng bệnh, có chung niềm tin tôn giáo với tôi, như một kinh nghiệmđiều trị căn bệnh viêm gan C không cần hay chưa cần phải dùng đến thuốc mà hiện nay hiệu quả mới chỉ đạt 50% đến 60%.
Nội dung bài viết này lần lượt trình bầy:
- Diễn biến căn bện viêm gan C của tôi
- Phương cách tự điều trị và hiệu quả.
- Hiệu quả là một phép lạ hay chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay tất nhiên?
I/- DIỄN BIẾN CĂN BỆNH VIÊM GAN C CỦA TÔI.
Khoảnh hơn 10 năm trước, cắn cứ vào xét nghiệm máu, bác sĩ cho biết tôi mắc bệnh viêm gan C từ lâu. Tôi được gửi đến bệnh việt Memorial Northwest Houston để làm thử nghiệm “Liver Biopsy” (cắt miếng gan xét nghiệm tình trạng hoạt độc của virus C). Kết quả xét nghiệm này theo bác sĩ chuyên khoa gan cho biết virus C không hoạt động, chưa cần chữa trị, chỉ cần theo dõi định kỳ bằng thửmáu và cần lưu ý đến chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, tập thể dục, không uống bia, rượu, thức khuya, làm việc quá sức làm cơ thể suy yếu tạo điều kiện cho virus hoạt động…Bác sĩ nói: sau 3 hay 4 năm làm lại xét nghiệm “Liver Biopsy” nếu thấy tình trạng căn bệnh không phát triển, lượng virus không tăng và không hoạtđộng, thì tôi có thể yên chí sẽ không chết vì bệnh viêm gan C.
Khoảng bốn năm sau, xét nghiệp máu cho thấy lượng virus tăng cao trên 10 triệu, bác sĩ chuyên khoa bệnh viện Bend Taub cho tôi xét nghiệm “Liver Biopsy” lần thứ hai. Kết quả bác sĩ cho biết sự gia tăng cao số lượng virus C là do tôi đã làm việc quá sức, cơ thể suy yếu nên virus C hoat động. Tuy nhiên bác sĩ cho hay là vẫn chưa cần uống thuốc trị liệu, chỉcần điều chỉnh lại chế độ làm việc, ăn uống, nghĩ ngơi và tập thể dục…Tôi đã thực hiện đúng theo lời khuyên của bác sĩ điều trị, sức khỏe trở lại bình thường, ổn định.
Vào khỏang đầu năm 2011, xét nghiệm máu cho thấy lượng virus tăng đến trên 17 triệu, bác sĩ gia đình đã vội gửi qua bệnh viện Lyndon Johnson, một bệnh viện khu vực dành cho bênh nhân có Thẻ Vàng (Gold Card) cho làm xét nghiệm Scat-Can với kết quả là gan bị chớm sơ, bác sĩ chuyên khoa gan yêu cầu tôi cần phải uống thuốc trịbệnh nếu không sẽ có nguy cơ tiến triển đến ung thư gan. Tôi hỏi thuốc hiệu quảra sao, thì bác sĩ cho biết thuốc trị viêm gan C hiện nay vẫn chỉ hiệu quả50-60%.
Mặc dầu tình trạng sức khỏe của tôi lúc này có hơi suy yếu, da mặt có biến sắc (tái,sạm đen),đôi lúc cảm thấy mệt mỏi, tóc rụng, song tôi nghĩ có lẽ đó chỉ là hậu quả nhất thời sau khi dùng nhiều thời gian và tâm lực tổ chức “Đại Hội Mùa Xuân Toàn Cầu Cựu Sinh Viên Luật Khoa Sài Gòn” vào đầu Tháng 4-2010 và tổ chức ra mắt tác phẩm “Thời Đại Của Tôi” của Gs. Vũ Quốc Thúc vào tháng 11- 2011, nên virus C có điều kiện hoạt động mạnh chăng.
Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy tình trạng sức khỏe không đến nỗi nào, nên nghi ngờ rằng xét nghiệm có thể không chính xác chăng. Tôi lại liên tưởng tới người anh em cột chèo cũng bị viêm gan C, đã uống thuốc trong tình trạng cơ thể còn khỏe mạnh, bị phản ứng thuốc, đã ngưng ngang, bị đau đớn hành hạ ít tháng rồi qua đời cách nay 8 năm ở vào tuổi 62. Do đó tôi ngần ngại không muốn uống thuộc trị bệnh và có yêu cầu bác sĩ điều trị chuyển hồ sơ bệnh trạng của tôi về bệnh viện Bend Taub ở downtowm Houston (Bệnh viện trung ương của Thẻ Vàng), nơi trước đây đã làm xét nghiệp “Liver Biopsy” cho tôi lần thứ hai, nói là tôi chưa cần phải uống thuốc, dù số lượng virus có hơi cao, song vẫn ở mức độ an toàn.
Tại bệnh viện Bend Taub, sau khi làm xét nghiệm máu và căn cứ vào xét nghiệp “Liver Scat-can” của bện viện Lyndon Johnson, bác sĩ điều trị cũng yêu cầu tôi cần uống thuốc. Một lần nữa tôi có ý diên trì, nên nói với bác sĩ rằng sao tôi thấy sức khỏe tôi vẫn bình thường mà. Tôi yêu cầu cho tôi làm thử nghiệp “Liver Biopsy” lần thứ ba, nếu kết quả thấy tôi vẫn cần phải uống và chích thuốc điều trị thì tôi sẽ làm theo lời khuyên của bác sĩ. Bác sĩ điều trị đã mời bác sĩ trưởng khoa đến hội ý trước mặt tôi và đi đến quyết định đồng ý cho tôi làm “Liver Biopsy” một lần nữa.
Ngày 27-9-2011 tôi được làm xét nghiệm “Liver Biopsy” tại bệnh viện Bend Taubở downtown Houston. Sau khi có kết quả xét nghiệp bác sĩ điều trị nói tôi vẫn cần phải uống thuốc và tôi đồng ý. Bác sĩ lên lịch cho tôi sẽ bắt đầu uống và chích thuốc vào tháng 4 năm 2012. Bác sĩ cũng nói trước là hiệu quả thuốc trị viêm gan C đến nay vẫn chỉ đạt 50-60% và khi uống và chích thuốc này sẽ có một số phản ứng thuốc mà tôi phải chịu đựng (tóc có thể rụng, tâm sinh lý có hiện tượng tiêu cực…). Một số bạn bè cũng khuyên tôi uống thuốc đừng sợ và đưa ra một số người quen biết ởHouston cũng đã uống thuốc có hiệu quả, không có phản ứng tồi tệ để khích lệ tôi.
Đến Tháng 4 năm 2012 tôi liên lạc lại với bệnh viện để được uống và chích thuốc trị viêm gan C. Nhưng họ cho hay vì tôi không liên lạc trước để “confirm” nên phải đến tháng 7 năm 2012 mới có lịch trình uống thuốc cho tôi.
Trước khi đến ngày hẹn uống và chích thuốc hai tuần, tôi được xét nghiệm máu. Đúng ngày hẹn tôi đến bệnh viện bend Taub gặp bác sĩ điều trị.
Bác sĩ điều trị nói tôi ngồi chờ khá lâu, khoảng 30 phút sau bác sĩ trở lại cùng với một bác sĩ khác khá lớn tuổi so với vị bác sĩ điều trị rất trẻ, tôi đoán là giáo sư dạy trường y khoa Baylor, khác với nữ bác sĩ Trưởng khoa tôi gặp trướcđây (Vì tôi nghe nói bệnh viện Bend Taub là một trong những bệnh viện thực tập cho sinh viên trường y khoa Baylor nên có nhiều giáo sư giỏi làm việc nơi bệnh viện này).
Vị bác sĩ này đã làm chúng tôi ngạc nhiên, vui mừng khi nói rằng tôi chưa cần phải uống thuốc ngay bây giờ, có thể chờtrong vòng 2 năm tới một loại thuộc mới trị bệnh viêm gan C hiệu quả cao hơn, chắc chắn hơn nhiều so vơi loại thuốc hiện có chỉ hiệu quả 50%-60%. Tôi sợ nghe lầm có hỏi lại con gái tôi đi cùng có đúng bác sĩ khuyên như vây không. Con gái chúng tôi hiện là y tá cho môt bệnh viên tư tại Houston xác nhận đúng như vậy.
Thế nhưng để chắc chắn hơn, tôi đã dùng medicare đến khám bệnh tại “Liver Center” thuộc bệnh viện Saint Luke trực thuộc“Baylor College of Medicine” ở Downtown Houston để xin khám và thử nghiệm một lần nữa rồi sẽ quyết định có nên uống thuốc ngay hay làm theo lời khuyên của bác sĩ bệnh viện Bend Taub.
Ngày 5-11-2012 tôi được cho xét nghiệm máu và ngày 4-12-2013 được làm xét nghiệm MR, ABD, W&W/0 CONTRAST, với kết quảsau cùng (Final result) mọi thứ đều “within normal limits” (copy đính kèm).
Tuy nhiên vị bác sĩ chuyên khoa điều trịlại khuyên tôi bây giờ còn khỏe mạnh nên uống và chích thuốc điều trì thì tốt hơn là để đến lúc sau này lớn tuổi, già yếu mà cần phải uống thuốc điều trị sẽít hiệu quả và có nguy cơ hơn.
Trước hai lời khuyên trái ngược trên, căn cứ trên các xét nghiệm nhiều lần, cho đến lúc này tôi cảm thấy sức khỏe toàn diện rất tốt, tạm thời tôi quyết định theo lời khuyên của bác sĩ điều trị bệnh viện Bend Taub: không uống thuốc mà chờmột loại thuốc mới trong tương lai hiệu quả cao và chắc chằn hơn loại thuốc hiện nay, mà theo lời bác sĩ chỉ đạt 50-60% mà thôi.
II/- PHƯƠNG PHÁP TỰ ĐIỀU TRỊVÀ HIỆU QUẢ.
Phải nói rằng sau khi biết được kết quả “Scat-can” lá gan của tôi bị “chớm sơ”,những người lo lắng nhất là vợ và các con tôi, những người thân trong gia đình nội ngoại, ai nấy đều chỉ biết cầu nguyện theo niềm tin tôn giáo.
Phần tôi, do cuộc đời đã được tôi luyện trong nhiều khổ đau và nghịch cảnh, nên khi biết căn bệnh của mình tiến triểnđến biên độ hiểm nguy, tôi vẫn bình tĩnh, không chút lo sợ. Vì tôi luôn tâm nguyện rằng bệnh tật là lẽ thường, có bệnh thì chữa trị, hết bệnh thí tốt, không hết thì chết là cùng. Ai cũng phải bệnh, cũng phải chết, buồn rầu, lo sợkhông làm hết bệnh mà còn làm bệnh trầm trọng hơn, vẫn không tránh được cái chết mà còn dẫn đến cái chết nhanh hơn. Vì vậy tôi vẫn sống bình thường, luôn lạc quan tin tưởng sống theo châm ngôn tự vạch ra từ thời trai trẻ: “Hãy sống tích cực với hiện tại, để không bao giờ phải ân hận với quá khứ, luôn luôn lạc quan tin tưởng hướng về tương lai”. Thực tế tôi đã thể hiện đúng như vậy, thân nhân sống gần tôi đều thấy và có lẽ cácđồng môn, đồng nghiệp và thân hữu sinh hoạt, gặp gỡ tiếp súc với tôi ở Houston có thể chứng thực sự thể này.
1. Phương pháp tự điều trị.
Trong tinh thần lạc quan tin tưởng tôi đã thực hiện phương pháp tự điều trị bằng sự kết hợp giữa sức mạnh của niềm tin tôn giáo và sức mạnh của thể lý để trấn áp bệnh tật.
a)- Để có sức mạnh của niềm tin tôn giáo: Tôi đã cầu nguyện với Đấng mà tôi tin yêu tôn thờ là Thượng Đế, là Thiên Chúa Toàn Năng vô hình.Nhưng dưới cặp mắt “Đức tin” cho tôi xác tín rằng: Có một Đấng Tạo Hóa, đã tạo dựng nên vũ trụ, vạn vật, cho vận hành theo những quy luật chung cho muôn loài, cũng như quy luât riêng cho mỗi loài. Trong số muôn loài đó có loài người là một sinh vật thượng đẳng trong loài động vật, cũng vận hành theo quy luật chung của các loài động vật và quy luật riêng của loài người. Bệnh tật, sựsống sự chết đều nằm trong sự vận hành của các quy luật hình thành, phát triển, tiêu vong.Cầu nguyện với Đấng Toàn Năng làm chủ các quy luật ắt là phải có hiệu quả. Tôi xác tín như thế và tôi đã thực hành
b)- Để có sức mạnh thể lý: Tôi đã thực hiện những việc sau đây:
* Thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc, nghỉ ngơi, dinh dưỡng.
Một cách tổng quát là giảm giờ làm việc kiếm sống và sinh hoạt tập thể,mỗi đêm phải ngủ ít nhất 7 tiếng, ngày ăn ba bữa và uống nước nhiều lần mỗi ngày, với thực phầm chọn lọc không tác hại cho gan
- Giảm giờ làm việc bằng cách giảm giờ lao động kiếm sống, giảm giờ hoạt động doàn thể, công ích, nhất là không ngồi làm việc trên computer quá lâu. Trước đây tôi thường ngồi liên tục có khi ba bốn tiếng đồng hồ trước computer, nay ngồi khoảng một giờ thì đứng dậy uống nước, vận động ít phút rồi ngồi tiếp tục. Uống nước là cách bắt buộc tôi không thể ngồi lâu, phải rời computer đi restroom.
- Mỗiđêm phải ngủ ít nhất 7 tiếng. Trước đây tôi thường thức khuya, ngủ ít, chỉkhoảng bốn năm tiếng là thức dậy lúc 5 -6 giờ sáng tập 4 bài “Dưỡng sinh thực hành”. Nay tôi phải đi ngủ sớm đểlàm sao đủ 7 tiếng mỗi đêm mà vẫn dậy sớm đúng giờ luyên tập.(Thường có thói quen khoảng 5 giờ sáng là tựnhiên thức dậy, không ngủ lại được dù có muốn ngủ nướng).
- Ngàyăn ba bữa: Sáng sớm, sau khi tập 4 bài “Dưỡng sinh thực hành”, tôi ăn bữa sáng khoảng 6-6:30 với: 5 thìa canh Oatmeal hiệu Quaker OATS, Quick 1-minute, bỏ vào một ly lớn, cho nước sôi 1/3 ly, một phút sau bỏthêm vài thìa nho khô (organic Raisins) và vài thìa “Dried Cramberries” hiệu“Craisins” quậy đều, dể khoảng 1 phút, đổ sữa tươi hiệu “Horizon – Organic –DHA Omega-3 – Fat-Free”, quậy đều. Sau đó dùng hỗn hợp này uống 5 viên thuốc bổ:“One A Day , Men’s”, “Omega 3- Fish Oil” hiệu “Kirkland”, “Garlic –Complex”hiệu “Nature Made”, Glucosamine HCI 1500 mg- With MSM 1500mg” hiệu “Kirland” và“ Vitamin D3 2000 I.U” hiệu “Kirland”.
Sau khi uống 5 viên thuốc bổ trên, với ½ ly sữa hỗn hợp còn lại, tôi thêm 3 thìa “Cheerios” và dùng hết để kết thúc bữa ăn sáng.
Bữaăn trưa vào khoảng 12:00 noon, bữa ăn tối khoảng 6-7:00pm với các thức ăn dễ tiêu, lợi gan. Theo lời khuyên của bác sĩ nên ăn nhiều rau quả, cá, ăn ít thịt, nhất là thịt bò và thịt heo, không uống rượu bia và các thực phẩm không tốt cho gan như trứng, đồ ăn tái, sống…
* Thực hiện kiên trì chế độ tập luyện cơ thể thường nhật,đúng phương pháp.
Trước ngày bác sĩ yêu cầu tôi phải uống thuốc trị bệnh, tôi cũng đã thực hiện thường nhật chế độ luyện tập cơ thể nhưtrên để tạo sức đề kháng cho cơ thể chống lại bệnh tật. Vì theo bác sĩ điều trị, sở dĩ căn bệnh viêm gan C của tôi trở nên trầm trọng chính là vì đã lạm dụng sức khỏe, làm cơ thể suy yếu trong thời gian qua, nên virus C mới có điều kiện hoạt động mạnh được.
Chế độ luyện tập cơ thể của tôi hàng ngày là:
* Vào buổi sáng mỗi ngày,không bỏ ngày nào, thức dậy lúc 5 hay 6 giờ sáng. Bước ra khỏi giường:
- Uống ngay một ly cối nước lạnh.
- Khởi động lần lượt bốn bài “Dưỡng sinh thực hành”:Thể dục tổng quát Thiền nguyện (cầu nguyện theo niềm tin tôn giáo theo lối thiền:ngồi “bán kiết” hay “Kiết già”, tập trung tưtưởng, cầu nguyên trong tâm theo kinh nguyên và lời nguyện không đọc thành tiếng) – Kích da (thích thích các huyện đạo trên da toàn thân…)– và Kích xương (kích thích các đầu khớp xương toàn thân).
Sau khi kết thúc bốn bài “Dưỡng sinh thực hành”, mất khoảng 45 phút, tôi ăn sáng và uống 5 loại thuốc bổ như đã trình bầy ở phần trên. Ngoài ra, thỉnh thoảng tôi đi bộ thêm khoảng một tiếng đồng hồ vào những buổi sáng,khi thời gian làm việc kiếm sống rơi vào buổi chiều.
* Vào buổi tối trước khi đi ngủ, không tập toàn bộ 4 bài “Dưỡng sinh thực hành” mà chỉ chọn trong mỗi bài một số động tác có tác dụng cho máu huyết lưu thông dễ dàng giúp ta dễ ngủ, nên thời gian tập chỉkhoảng 15 phút. Sau đó đi tắm, làm vệ sinh cá nhân, dùng bàn chải tóc chải đầu để kích thích các huyệtđạo trên đầu giúp ta dễ ngủ,khi lên giường chỉ cần 5 phút tập trung tư tưởng làđi vào giấc ngủ tự nhiên.
Đây là một phương pháp dưỡng sinh tựhình thành trong thời gian tôi bị biệt giam 17 tháng 20 ngày tại nhà tù Việt cộng ở số 4 Phan Đăng Lưu Gia định (1978-1980). Sau đó được thực hành và hoàn chỉnh mỗi bài theo thời gian.Trước đây,việc thực hành trong một thời gian dài có tính tùy tiện, không thường xuyên do điều kiện cuộc sống không cho phép. Mãi sau này trong thời gian 5 năm trở lại đây, chúng tôi mới có điều kiện thuận lợiđể thực hành thường nhật, không bỏ ngày nào, dù đi chơi xa đến bất cứ nơi nào vẫn tập. (Chúng tôi đã viết xong phần lý luận cách nay khoảng 3 năm,có phổ biến hướng dẫn thực hành cho môt số thân hữu, và có ý định sẽ in thành cuốn sách nhỏ kèm một DVD có hình ảnh hướng dẫn để phổbiến,khi kiểm nghiệm có hiệu quả chắc chắn nơi chính mình và các thân hữu. Nay có lẽ đã đến lúc chúng tôi sẽ thực hiện ý định này nay mai, vì thấy quả thực đã có hiệu quả thực tế…)
Hiệu quả tức thời thấy được là trong quà trình tập luyện 4 bài “Dưỡng sinh thưc hành”, phát sinh hiện tượng “trung tiện” nhiều lần trong khi đang tập, mồ hôi ứa ra (dùở trần tập trong thời tiết nóng hay lạnh) và nhu cầu “Đại tiện” luôn phải có sau khi kết thúc thực hành 4 bài “Dưỡng sinh thực hành”. (Nếu không thấy các hiện tượng vừa kể là tập chưa đạt hiệu quả do tập luyện chưađúng phương pháp).
2.- Hiệu quả:
Trong tinh thần lạc quan tin tưởng tôi đã thực hiện phương pháp tự điều trị bằng sự kết hợp giữa sức mạnh của niềm tin tôn giáo và sức mạnh của thể lý để trấn áp bệnh tật như vừa trình bầy trên. Mặc dầu hiệu quả không tiêu diệt được hoàn toàn căn bệnh viêm gan C (vì cho dù có dùng thuốc cũng không thể đạt được hiệu quả này), nhưng sau hơn một năm thực hiện, chúng tôi ghi nhận được hiệu quả (mà nếu có trị liệu bằng các loại thuốc trị liệu hiện hành có lẽ cũng chỉ đạt đến thế) trên các phương diện: Y lý, thể lý và tâm sinh lý như sau:
a) Hiệu quả về y lý: Như đã trình bầy trong phần diễn biến căn bệnh viêm gan C của tôi ở trên, kết quả xét nghiệm toàn diện sau cùng đã cho thấy tất cả đều bình thường trong giới hạn không còn hiểm nguy (within normal limits) tôi không còn bị bắt buộc phải uống thuốc để tránh nguy cơ trầm trọng hơn (gan chớm sơ nay không còn. Lương virus C giảm thấp đến mức không còn hiểm nguy tiến triển đến ung thư như bác sỉ chẩnđoán…). Do đó, tôi có thể chọn lựa uống thuốc ngay trong tình trạng cơ thểcòn khỏe mạnh với hiệu quả 50-60% (Theo ý kiến của bác sĩ điều trị ở “liver Center” bệnh viện S. Luck) hay chờ vài năm nữa khi có loại thuốc mới hiệu quả cao hơn và chắc chắn hơn (Theo ý kiến bác sĩ điều trị ở bệnh viện Bend Taub).
Vì vậy nay tôi đã quyết định chờ một loại thuốc mà tin y khoa đã cho hay là có thể chữa trị dứt hẳn viêm gan C, trong một thời gian ngằn, ít phảnứng tâm sinh lý, thuốc đã được kiểm nghiệm và sẽ đi vào sản xuất bán trên thịtrường nay mai.
b) Hiệu quả về thể lý và tâm sinh lý:
Hiện tại tình trạng sức khỏe của tôi đã phục hồi rất tốt, da mặt đã khởi sắc, hồng hào, sáng ra không còn “tái,sạm đen” như trước, tóc không rụng mà đã mọc lại trên đỉnh đầu, vòng bụng nhỏ lại,làm việc không biết mệt, nhất là ngồi làm việc bên computer nhiều giờ không thấy mệt. Tất nhiên là không liên tục như trước dây.
Vềchế độ dinh dưỡng hiện tôi ăn ngon, dễ ngũ và ngủ đủ 7 tiếng mỗi đêm, bộ máy tiêu hóa làm việc rất tốt. Hiệu quả rõ nhất là không còn bị táo bón, đều đặn mổi ngày đi đại tiện 2 lần dễ dàng như được uống thuốc xổ vào buổi sáng cũng như buổi tối sau khi tập các bài “Dưỡng sinh thực hành”.
Về tâm lý phải nói rằng hiện tại tôi rất lạc quan, tinh thần hưng phấn, nhiều cảm hứng sáng tác và hoạt động hăng say như có một xung lực mới.
Dường như tất cả những hiệu quả nêu trên, ngoài vợ con và thân nhân, chính các thân hữu, đồng môn, đồng nghiệp sinh hoạt trong Câu Lạc Bộ Luật Khoa Việt Namở Houston đều nhận thấy. Chẳng thế mà vào dịp Đại Hội Thường Niên 2012 của CLBLKVN vừa qua, thấy tôi “hát hăng quá” đã có người nói đùa trong bàn tiệc mừng Tân niên Dương lịch 2013 và mừng Đại Hội thành công, rằng:
- sao anh Thiện Ý sung sức thế, hồi xuân hả? –Thôi thì chúc anh chị sang năm mới cuối năm sinh thêm một Út nữa nhá !?!”.
Chúng tôi, trong sự phấn chấn bèn đáp lại rằng:
- Cảm on, cảm ơn…”Hồi xuân”thì không mà “hồi sinh” thì có đấy; sinh thêm “Út nữa” thì không, nhưng chuẩn bị cùng anh em chuẩn bị tổ chức thành công “Đại Hội Cựu Sinh Luật khoa Viên Việt Nam Toàn Cầu”với chủ đề :”Cựu sinh viên luật khoa Việt Nam, niềm tự hào và ước mơ” dự trù vào năm 2014, mới được Đại Hội thông qua, trước khi tôi bước vào tuổi “Thất thập cổ lai hy” là có đấy”.
III/- HIỆU QUẢ LÀ MỘT PHÉP LẠHAY CHỈ LÀ SỰ TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN HAY TẤT NHIÊN?
Để trả lời câu hỏi này thiết tưởng cần làm rõ ý nghĩa các từ ngữ phép lạ, trùng hợp ngẫu nhiên, trùng hợp tất nhiên.Chúng tôi đã tra cừu 4 cuốn tự điển:Hán-Việt của học giả Đào Duy Anh, Từ điển Việt-Anh của Viện Ngôn Ngữ Học Việt Nam, Từ điển Anh- Việt, Việt Anh của Gs. Nguyễn Văn Khôn và The Oxford Modern English Dictionary. Đối chiếu ý nghĩa từ ngữ xinđược diễn giải như sau:
Phép lạ hay phép mầu (Miracle, Charisma) là chuyện, việc, vật kỳ lạ, kỳ diệu, huyền diệu, phi thường, kỳ công, kỳ tích. Vận dụng vào trường hợp của tôi:Viêm gan C (hepatitis) virus tăng cao, scat-can chớm sơ, các bác sĩ điều trị đề nghị cần dùng thuốc trị liệu nếu không sẽ phát triền thành ung thư gan. Nay sau một năm tự trị bằng sức mạnh siêu nhiên (niềm tin tôn giáo) và sức mạnh tự nhiên (dinh dưỡng và luyện tập cơ thể), căn cứ vào kết quả các xét nghiệm sau cùng (MR, ABD, W&W/O CONTRAST) tất cả đều“Within normal limits” (virus C giảm dưới mức hiểm nguy, vết sơ biến mất) bác sĩ lại để cho bệnh nhân có quyền lựa chọn dùng thuốc trị liệu ngay (hiệu quả50%-60%) hay có thể chờ thêm thời gian trị kiệu bằng thuốc hiệu nghiệm hơn (với hiệu quả cao và chắc chắn hơn).Vậyđây có phải là “Việc kỳ lạ, kỳ diệu, huyền diệu hay phi thường…” để được coi là một “phép lạ” hay “phép mầu” theo ý nghĩa từ ngữ không?
Có thể có hai cách trả lời khác nhau:
1.- Một là phủ định hiệu quả không phải là phép lạ theo niềm tin tôn giáo. Đó là câu trả lời của những người chỉ tin vào khoa học, không tin vào những điều thần bí, siêu hình của niềm tin tôn giáo.
Trong trường hợp của tôi, họ có thể công nhận hiệu quả, nhưng không coiđó là một “phép lạ”. Hiệu quả ấy cóđược là do tác động chủ yếu của việc Thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc, nghỉ ngơi, dinh dưỡng và luyện tập cơ thể. Vìđã làm đúng quy luật vận động phát triển tự nhiên của sự sống làm gia tăng sứcđề kháng của cơ thể chống lại bệnh tật. Sức đề kháng ấy đã chỉ có thể gián chỉ,làm giảm tác hại của virus C ở mức an toàn cho bệnh nhân, chứ không tiêu diệt hoàn toàn để chữa lành bệnh tật. Niềm tin tôn giáo nếu có, thì chỉ có tác dụng về tinh thần giúp con bệnh có ý chí, nghị lực, lòng tin tưởng và lạc quan góp phần thúc đẩy việc Thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc, nghỉ ngơi, dinh dưỡng. luyện tập cơ thể để có hiệu quả.
Và vì vậy, hiệu quả do những lời cầu nguyện theo niềm tin tôn giáo là không có thật, chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên (lucky change,by change at, by haphazard, casual, adventious) hay tình cờ (fortutious, fortunate,accidental…).do hai phương pháp trị liệuđược thực hiện song song trong cùng một thời khoảng, nên dễ lầm tưởng cầu nguyện theo niềm tin tôn giáo là đã có hiệu quả như một “phép lạ”.
2.-.Hai là Công nhận hiệu quả và coi đó là một “phép lạ” theo niềm tin tôn giáo. Bởi vì, nếu coi hiệu quả chỉ là do đã thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc, nghỉ ngơi, dinh dưỡng, luyện tập cơ thể không thôi, thì chưa đủ và không thể có được hiệu quả như thế được. Nghĩa là vẫn công nhận hiệu quả có phần tác động do phương pháp trị liệu bằng sức mạnh thể lý, nhưng dưới cặp mắt “Đức tin tôn giáo”,hiệu quả ấy phải có tác động sức mạnh siêu hình của niềm tin. Vì hiệu quả ấy làđiều phi thường, là khác với bình thường cần phải uống thuốc để ngăn chặn một cơ nguy, nay không cần uống thuốc vẫn ngăn chặn được cơ nguy ấy (chớm sơ gan có nguy cơ tiến tới ung thư gan).
Thật ra, cả hai cách trả lời trên đều có phần đúng nhưng phiếm diện do đứng trên hai phạm trù khác nhau: phạm trù “Tri thức khoa học” phạm trù “Đức tin tôn giáo”.Bao lâu nay vẫn có quan niệm cho rằng có sự đối lập giữ hai phạm trù này và tìm cách phủ định lẫn nhau.
Thế nhưng thực ra là cái này tìm cách khẳngđịnh cái kia. Vì không thuộc phạm vi bài viết này, nên chỉ ngắn gọn là: phạm trù tri thức khoa học bao gồm tất cả những gì con người đã hiểu biết được, chứng minh được các quy luật vận hành của vũ trụ vạn vật trong đó có con người. Phạm trù “Đức tin tôn giáo” tiếp nối để con người hiểu biết về các quy luật siêu hình vận hành vũ trụ vạn vật mà tri thức khoa học chưa soi rọi tới.
Nói cách khác, tôn giáo như chỉ đưa ra các giả thiết, định đề về vũ trụ vạn vật để các nhà khoa học tìm cách chứng minh đâu là sự thật, còn các tín đồ bằng “cặp mắt đức tin” xác tín đó là chân lý tuyệt đối (chủ quan đối với tín đồ) hay chân lý tương đối (khách quan với người khác tôn giáo, tín ngưỡng). cho đến khi ánh sáng khoa học soi rọi được đểtrở thành chân lý tuyệt đối với mọi người (như2+2=4).
Trở lại trường hợp căn bệnh của tôi, diễn biến như đã trình bầy. Hiệu quả thì đã rõ, tôi đã không phải dùng thuốc, sau một năm tự điều trị bằng phương pháp kết hợp giữa sức mạnh của niềm tin tôn giáo và sức mạnh của thể lý để trấn áp bệnh tật.Tôi cho rằng hiệu quả ấy có được do tác động của cả hai:sức mạnh của niềm tin tôn giáo có được qua lời cầu nguyện của chính tôi, các thân nhân và bạn hữu khắp nơi (sức mạnh quy luật siêu hình) và sức mạnh của thể lý (sức mạnh quy luật hữu hình) do thực hiện nghiêm túc chế độ làm việc, nghỉngơi, dinh dưỡng. luyện tập cơ thể để có hiệu quả. Cả hai đều thống nhất trong luận lý về niềm tin (Phép lạ) và luận lý khoa học (quy luật dinh dưỡng và vận động).
Thật vậy, luận lý vềniềm tin tôn giáo xác tín về một Thượng đế hay Thiên Chúa Toàn năng vô hình đã tạo thành vũ trụ vạn vật, cho vận hành theo quy luật chung cũng như riêng cho mỗi loài. Con người là một sinh vật thượng đẳng trong giới động vật cũng vận hành theo quy luật chung của loài động vật và quy luật riêng của loài người. Bệnh tật, sự sống sự chết đều nằm trong sự vận hành của các quy luật hình thành, phát triển, tiêu vong.Cầu nguyện với Đấng Toàn Năng làm chủ các quy luật để tâm linh được soi sáng biết cách trị liệu căn bệnh theo quy luật sao cho hiệu quả. Tôi đã được soi sáng tâm linh để biết kết hợp giữa sức mạnh của niềm tin tôn giáo (ý chi, nghị lực, sức mạnh tinh thân…là sự vận hành của qui luật siêu hình) và sức mạnh thểlý theo tri thức khoa học (kiên trì luyện tập cơ thể tạo sức mạnh thể lý qua thực hành 4 bài Dưỡng sinh thực hành và chế độ dinh dưỡng, làm việc, nghỉ ngơi). Tôi xác tín như thế và tôi đã thực hành đem lại hiệu quả thực tế.
Luận lý của niềm tin tôn giáo trên đây hoàn toàn phù hợp với luận lý tri thức khoa học.Vì như trên chúng tôiđã trình bầy tổng quát mối tương quan giữa hai phạm trù “Tri thức khoa học” và phạm trù “Đức tin tôn giáo” (ngoài tầm tri thức khoa học) không mâu thuẫn nhau, không tìm cách phủ định nhau mà cái này tìm cách khám phá để khẳng định cái kia, bổ túc cái kia. Tầm tri thức khoa học về vũ trụ, vạn vất trong đó có con người ngày một mở rộng theo thời gian, chính là để khám phá, để khẳng định, chứ không phủ định giá trị đích thực của những quy luật siêu hình thuộc phạm trù đức tin tôn giáo nói chung và Thiên Chúa Giáo nói riêng.
Vì vậy đến đây có thể tạm kết luận:hiệu quả không phải dùng thuốc, sau một năm tự điều trị bằng phương pháp kết hợp giữa sức mạnh của niềm tin tôn giáo và sức mạnh của thể lý để trấn áp bệnh tật, quả là một phép lạ theo niềm tin tôn giáo, không phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên mà là một sự trùng hợp tất nhiên (necessarily, naturally) phải như thế, không thể khác hơn.Đấy không phải là sự mê tin, vì có sự thống nhất giữa lý luận của niềm tin tôn giáo và tri thức khoa học.
Thiện Ý
Houston, ngày 03 tháng 03 năm 2013

Chuyến Tàu Ba Mươi Tết


Chiều hăm chín Tết năm 1978, Trại Cải Tạo Huy Khiêm của tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì ngày mai cho tới mồng Hai Tết, đoàn tù khổ sai của Việt Nam Cộng Hòa tạm nghỉ lao tác, được đổi khẩu phần Tết với đường, thịt heo, cơm trắng không độn và một bao thuốc "có cán". Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái danh sách phóng thích tù nhân vào mỗi dịp Tết về, sẽ được "cán bộ" gọi trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Đúng 1 giờ trưa chiều Ba Mươi Tết năm đó, trại có mười người được nhận giấy phóng thích về nguyên quán trình diện. Quỹ trại không có tiền cho tù nhân mua giấy xe đò xe lửa, nên ai lo mạng nấy bằng cách lội bộ, từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết xa chừng 30 cây số. Tám giờ tối cả bọn tới nhà ga thì đã lỡ chuyến tàu chợ, nên đành phải chờ chuyến tàu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc 11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ có tôi về Phan Thiết, còn lại đều ở rất xa tận Sài Gòn, Nha Trang... Chia ly rồi sắp chia ly nữa, anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi, hứa hẹn.

Trong khoảnh khắc năm cũ sắp tàn, mọi nhà cài then đóng cửa đón mừng năm mới, thì chúng tôi cũng đang chờ phút giây thay đổi của đất trời. Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong rừng lá, cạnh vách núi Ông cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chục nếp nhà lá lụp xụp của các công nhân hỏa xa và dân làm gỗ. Có lẽ hôm nay mọi người đã về quê ăn Tết nên xóm nhỏ thật đìu hiu không có một chút sinh khí, chứng tỏ nàng Xuân chưa ghé chốn này.

Cũng may Suối Kiết là một ga lớn trên tuyến đường xe lửa Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến tàu chợ và suốt đều phải ngừng lại, dù khách có hay không. Về đêm, núi rừng càng buốt cóng lạnh căm. Bộ quần áo trận năm nào dù đã được đắp thêm chục mảnh vá, vẫn không ngăn nổi cái sắt se xa xót, như từ một cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm chiếm tâm hồn những bóng ma đang lạc lõng trong đêm Xuân, không biết rồi sẽ về đâu, để kiếm chút hơi ấm của tình quê.

Trong cái hiu hắt của đêm buồn, cũng đủ để mọi người nhìn rõ hình ảnh của sự cô đơn nơi ga lẽ, từ những thanh sắt han rỉ tróc sơn trước quầy bán vé, cho tới hàng ghế gỗ mọt đầy vết bẩn. Tất cả bỗng dưng được trùng phùng một cách ngẫu nhiên với những người tù không bản án, những quân, công, cán, cảnh của VNCH bại trận, vừa được phóng thích trong đêm Tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải vui lên một chút để mừng năm mới, thay vì mượn rượu phá thành sầu, cả bọn lại chụm đầu vào nhau, rít chung vài bi thuốc lào ăn Tết, trong khi bên ngoài gió núi lồng lộng thổi, tạt sương muối vào mặt mũi da thịt, khiến cho cơn lạnh đói càng thêm hành hạ mọi người.

Hình như Giao Thừa sắp đến trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho vợ con, bạn bè, đồng đội, đồng bào... được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi ơi giờ này không biết mẹ già em thơ, vợ con... có còn như những ngày Xuân dấu ái trước năm 1975, giao thừa đi lễ chùa, xin xăm hái lộc, nhà có vui Xuân đón Tết hay gia đình cũng lại như tôi, tại sân ga nơi rừng núi thẳm tăm tối lạnh lẽo này, cô đơn, đói lạnh và nhục nhã trùng trùng.

Kỷ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút dẩn dắt đưa tôi về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán.

Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suối Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc, đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược. Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng trời sầu thảm không đáy, lạc lõng trên quê hương hận thù với kiếp sống nào hơn loài cỏ cây.

Rồi thì tàu cũng đến, chúng tôi chia tay trong nước mắt, cuối cùng ai nấy hấp tấp lên tàu như kẻ trốn nợ trong đêm trừ tịch, giữa tiếng còi tàu lanh lãnh thét vang, phá tan cảnh tịch mịch của rừng núi âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.

Chuyến tàu suốt Sài Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm, nhiều toa hành khách vắng ngắt lạnh tanh, không như ngày thường chen chân không lọt. Có lẽ mai là mồng Một Tết Nguyên Đán, nên ai cũng muốn ở nhà để xum họp với gia đình. Đất trời buồn mênh mông quá, thêm gió thổi vi vút từ hai bìa rừng thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để được nhìn lại quang cảnh cũ Trong các toa tàu, đèn đóm tối om, dăm ba hành khách nằm dài trên ghế như đã ngũ tụ lâu rồi.

Mặc kệ, tàu vẫn chạy xiết trên đường sắt như con thú điên, với hai ánh đèn pha phá tan màn đêm tăm tối. Hỡi ơi cuộc đời sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà đang đầm ấm chờ đón chúa xuân, thì tôi trong một tối ba mươi tết, buồn rầu nơi toa xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng nép mình trong cô quạnh, để đón một mùa Xuân vàng úa nữa, sắp rơi xuống bờ vai của cuộc đời.

Trong giờ phút năm cũ sắp tàn, con tàu cũng hối hả lướt qua từng ga: Vắng Sông Dinh, Sông Phan, Suối Vận, Mường Mán rồi Phú Hội vừa đúng 12 giờ rưỡi sáng. Thế là năm mới đã qua và tôi cũng đã lỡ dịp nghiêng mình chào đón nàng Xuân mới trên quê hương mình.

Trên tàu, ai nấy đều thức dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết. Tất cả đều xa lạ, hờ hững, buồn rầu, im lặng như bóng tối, không ai chúc nhau một lời ngắn ngủi dù là ngày Tết. Bỗng đâu đấy nơi một thôn xóm nào đó, dọc theo con đường sắt vang lên mấy tràng pháo chuột, bóng sáng lập lòe như muốn đuổi theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn rầu thương tiếc. Nỗi náo nức thầm kín vừa lóe lên, chợt tắt hẳn khi nghĩ đến thực tại não nùng.

Hỡi ôi! mấy chục năm về trước, tôi, người lính trẻ xa nhà vẫn đam mê chạy đuổi theo những giọt mưa Xuân giữa trời lửa loạn. Nay trong buổi Xuân về, người lính già lội ngược thời gian tìm vết ngày thơ như còn giấu đâu đó, nơi vòm trời đồng đội, và em, và những Tết cuối cùng trong quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng hoàng xúc động, như thể vừa bước chân lên con tàu về quê hương, của những Tết ấm yên hạnh phúc đầu đời.

Nên có bài thơ buồn tặng bạn bè trong đêm trừ tịch nơi quê người:

Sáu nhăm tuổi vẫn đời phiêu bạt
như thuở rong chơi buổi thiếu thời
gác trọ buồn hiu mình với bóng
nỗi sầu thiên cổ cháy tim côi

Ngao ngán hoàng hôn trong ngục đá
võ gầy mộng ảo bước lang thang
ai đem thương nhớ vào trong lệ
khiến tuổi xanh mơ đã ố vàng

Một sáng tàn Thu rời xóm học
một chiều cô lạnh giã từ nhau
một ngày về phép buồn ly cách
nhìn chiếc xe hoa rẽ lối nào

Từ đó trăng xưa mờ tuổi mộng
đạn bom ru điệu máu quân hành
rừng khuya bản thượng dài cô tịch
chờ giấc chiêm bao cũng lạnh tanh

Bước chân lận đận đời chinh chiến
vẫn chẳng nguôi ngoai nỗi đoạn trường
rượu có làm hờn sôi thệ nguyện
nhưng không xóa hết lệ thương vương

Rồi nuốt thêm đau ngày rã ngũ
súng gươm gãy rỉ khóc bên đường
tuổi tàn đời quẩn theo tiền kiếp
nghiên bút chôn vào cõi gió sương

Quê người chạy giặc mờ nhân ảnh
thăm thẳm chia xa những bến đời
em một bờ sông, ta ngỏ lạ
tha phương quán gió đếm mưa rơi

Quanh quẩn tìm nhau trong cổ mộ
bạn bè dâu bể biết còn ai
những thằng tri kỷ về lòng đất
muốn nhớ nhìn mây để thở dài

Phan Thiết quê xa trời bảng lảng
Mường Giang, biển mặn nước chung dòng
đứng nghe bầy sếu kêu ra rả
bừng dậy niềm đau ngập nhớ mong

Thơ viết nghìn trang chưa thấy đủ
mẹ ơi, trăm nẻo cứ mong tìm
chiều chiều mẹ đứng bên cầu nhỏ
đáy mắt già nua dõi bóng chim

Mấy chục năm ròng trên xứ lạ
tóc xanh rồi bạc vẫn chưa về
chinh y, vó ngựa thời say tỉnh
dò dẫm tàn theo khúc nhạc mê

Soi gương ngơ ngẩn buồn thê thảm
mấy chục năm xa, vẫn muộn phiền
tủi thẹn nhìn ngày qua tháng lại
biết về đâu hỡi bước cô miên?


Nhớ Đêm Ba Mươi Tết
Từ Xóm Côn Hạ Uy Di
HỒ ĐINH

Lải Nhải Chuyện Tết : NẾU NGÀY MAI NẾU?


                    
 DƯ THỊ DIỄM BUỒN

Nếu ngày mai nếu? Cộng còn bám quê!
Sống mãi trong tôi, nhưng chẳng trở về!
Hồi ức dấu yêu! Trường xưa, lối cũ...
Nhà thờ, chùa, miễu, cây, trái sum sê

Hoàng hôn ngã bóng ruộng lúa mênh mông
Ttại nghêu ngao hò hát mục đồng
Nhắc nhở nhà nông hết ngày nương rẫy...
Bìm bịp kêu chiều... nước lớn đầy sông

Chim sợ bù nhìn, vội vỗ cánh bay
Chuột, lươn, tôm, cá... bắt trục, lưới, chài
Thôn dân vất vả sau ngày trồng, cấy...
Gia đình đạm bạc nếp sống thẳng ngay

Cha chẻ lạc tre, má ngồi tỉa cau...
Ông vấn thuốc rê phụ bà ốp trầu...
Con, cháu chong đèn học hành chăm chỉ
Dưới trời an lạc của thuở xuân nào...

Nếu ngày may nếu? Lính trấn ngoài biên
Tay ôm súng trận... nhuần sách thánh hiền
Từ Cà Mau, nửa cầu sông Bến Hải...
Nam Bắc phân chia ranh giới hai miền!

Nếu ngày mai nếu? Giặc đã tràn vào!
Dân tình khốn khổ, đất nước lao đao!
Nội chiến vãn hồi! Tương tàn cốt nhục!
Cải tạo, cầm, giam, biển nhuộm máu đào...

Nếu ngày mai nếu? Bỏ xứ ra đi!
Tận đáy tâm tư còn lại những gì?
Xin tạ Ơn Trên nay đà vượt thoát...
Mảnh đời tiếp nối làm cánh chim di

Chim xây tổ ấm hướng đậu cành Nam
Gia đình ổn định, cần mẫn siêng năng
Con trẻ đến trường, cơm no, áo ấm...
Tự do, hạnh phúc... có gì băn khoăn

Sáng dậy, gió hiền man mác vờn quanh
Chim quyên ríu rít nhảy nhót chuyền cành
Hé nhụy mai vàng, trúc đào, bích hợp...
Tơ nắng bình minh chiếu sáng long lanh...

Nếu ngày mai nếu? Việt Nam trở mình
Non nước dậm ngàn... thôi hết điêu linh
Thị thành thôn quê toàn dân no ấm
Cờ vàng phấp phới đất nước thanh bình

Ươm mầm lúa mới đồng ruộng xanh tươi
Cô thôn rộn rã vang tiếng nói cười
Xuân về cung chúc bách niên gia lão...
Tình xuân thắm thiết gieo rắc mọi nơi

Nếu ngày mai nếu! Xuân cố hương ơi!
Khấn nguyện, cầu xin, mong đợi... rã rời
Ai có chờ đâu quê người xuân đến!
Viễn khách ngậm ngùi mắt lệ xuân rơi

Nếu ngày mai nếu? Đêm nay đón xuân!
Câu đối, trà, hoa, bánh, pháo... Chúc mừng
“Vạn sự cát tường, thân tâm an lạc...”
Bùi ngùi tiếc nuối, hồn những bâng khuâng!

DƯ THỊ DIỄM BUỒN

---


Lải Nhải Chuyện Tết

Lẩm Cẩm
 
Quanh đi quẩn lại ngày tháng hết
Mới Tết mà bây giờ lại Tết
Biết chúc gì nhau vào dịp Tết?
Chẳng biết sao, cứ nói đến Tết với những lời chúc tụng, là Lẩm Cẩm lại nhớ ngay đến bài thơ năm chữ nổi tiếng viết về ông đồ già của Vũ Đình Liên thời tiền chiến:
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bầy mực tàu giấy đỏ
Bên Phố đông người qua
Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng mú rồng bay…
Ông đồ già đã sẵn sàng để “hoa tay thảo những nét” rồi đấy, vậy thì bà con ta nhờ ông viết hộ những lời chúc gì?
“Nhất Bản Vạn Lợi”: tốt lắm chứ, đi buôn với vốn một đồng , mà làm ăn có lời đến hàng ngàn, hàng vạn…
“Thọ Tỉ Nam Sơn”: tốt lắm chứ, bà con ta chúc nhau sống lâu như ngọn núi kia cứ lừng lững trơ gan cùng tuế nguyệt…
“Phúc Như Đông Hải”: tốt lắm chứ, bà con ta chúc nhau được phúc nhiều như biển Đông rộng mênh mông…
“Đa Tử, Đa Tôn, Đa Phú Qúy”: cũng tốt lắm chứ, nhưng xét cho cùng, thì chỉ mục “đa phú qúy” thì ai ai cũng “hồ hởi phấn khởi” đón nhận thôi; chứ còn bây giờ mà nếu cứ “thuận vợ thuận chồng” thì “con đông mệt quá!” Lời cầu chúc “đa tử đa tôn”, vì thế, e rằng ít ai đủ cam đảm nhận lãnh!
Theo tôn ý của một bạn hiền cao niên của Lẩm Cẩm, thì chẳng những chỉ vào dịp Tết nhất, mà ngay cả hàng ngày, lời chúc tốt nhất, thực tế nhất bà con ta nên chân thành trao cho nhau là lời chúc sức khỏe tốt.
Lý do thật dễ hiểu. Nếu không có sức khỏe để có thể ngược xuôi buôn bán, thì làm sao có “vạn lợi”? Nếu không có sức khỏe để có thể vui hưởng tuổi già, thì “thọ tỉ nam sơn” để làm chi? Nếu không có sức khỏe để vui hưởng cây phúc mình đã vun trồng, thì cái “phúc như Đông hải” đó để cho ai? Nếu không có sức khỏe để sống vui cùng con đàn cháu đống, thì “đa tử, đa tôn” mà làm gì?
Theo lão bạn hiền, nếu muốn có sức khỏe tốt, mọi người chỉ cần nhớ lời dặn dò “đêm bẩy, ngày ba, vào ra không kể”
Vì biết Lẩm Cẩm quá rõ, chi nên nói đến đây là cụ liền cười lớn, chỉ tay vào mặt Lẩm Cẩm mà rằng: “Chớ vội vận dụng đầu óc đen tối của nhà ngươi mà liên tưởng ngay đến chuyện toa thuốc Minh Mạng! Lời khuyên của lão chẳng dính dáng gì đến ‘chuyện ấy’ đâu!”
Lão bạn hiền giải thích rõ “đêm bẩy ngày ba, vào ra không kể” nhằm chỉ 3 việc cần làm để có sức khỏe tốt:
Đêm bẩy: mỗi đêm ngủ từ 7 tiếng trở lên;
Ngày ba: ngày ăn ba bữa; và
Vào ra không kể: mỗi lần đi ra hoặc đi vô, nhớ uống nhiều nước.
Ngoài việc chỉ rõ những việc cần làm hàng ngày, cụ còn hướng dẫn thêm là nếu muốn, chúng ta cũng có thể cầu xin các đấng linh thiêng phù hộ, độ trì cho có sức khỏe. Tuy nhiên, cụ nhấn mạnh là phải biết cách cầu cho đúng. Và cách van vái tốt nhất như sau:
CT (viết tắt “chúng ta”): Con cầu Trời phù hộ những người thân cùng bạn hữu của con mãi mãi được khỏe mạnh và hạnh phúc.
Trời: Chỉ cho 4 ngày thôi.
CT: Thế thì xin Trời cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong những ngày mùa xuân, những ngày mùa hè, những ngày mùa thu và những ngày mùa đông.
Trời: Chỉ cho 3 ngày thôi.
CT: Nếu chỉ được 3 ngày, thì con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trong ngày hôm qua, ngày hôm nay và ngày mai.
Trời: Chỉ cho 2 ngày thôi.
CT: Như vậy, con xin cho họ được khỏe mạnh và hạnh phúc trọn ngày hôm nay và ngày mai.
Trời: Chỉ cho 1 ngày thôi.
CT: Vâng, cũng được.
Trời (thắc mắc): Vậy là ngày nào?
CT: Con xin cho họ được mạnh khỏe và hạnh phúc từng ngày.
Trời (vui vẻ cười rồi phán): Tốt lắm, những người thân và bạn hữu của con sẽ được khỏe mạnh và hạnh phúc mỗi ngày.
Chúc “Thọ Tỉ Nam Sơn” là chúc cho nhau sống lâu, mà sống lâu
tức là chúng ta trở thành già! Vì thế, có những vị tỏ vẻ lo lắng về cái già, đồng thời nuối tiếc thời son trẻ đã qua! Diễn tả khuynh hướng lo buồn và nuối tiếc này là hai bài thơ sau đây:
Ngày xưa … Ngày nay
Ngày xưa mái tóc buông lơi,
Bây giờ sợi rụng sợi rơi đầy nhà.
Ngày xưa da trắng nõn nà,
Bây giờ da đã trổ hoa đồi mồi.
Ngày xưa miệng cười thật tươi,
Bây giờ móm xọm, rụng mười cái răng.
Ngày xưa mặt sáng như trăng,
Bây giờ xám xịt như vầng mây đen.
Ngay xưa yểu điệu như tiên,
Bây giờ lẹt đẹt như con vịt bầu .
Ngày xưa chum chúm núm cau,
Bây giờ lỏng thỏng như bầu trên cây.
Ngày xưa nhựa sống căng đầy,
Bây giờ vắt mãi bẩy ngày cũng không.
Ngày xưa thắt đáy lưng ong,
Bây giờ to bụng, còn mông phẳng lờ.
Ngày xưa rậm rạp cỏ mơ,
Bây giờ thưa cứng tựa hồ rễ tre.
Ngày xưa ăn nói dễ nghe,
Bây giờ cẳn nhẳn chua lè khó ưa.
Ngày xưa thích được mây mưa,
Bây giờ hạn hán hết ưa tù tì.
Ngày xưa thường sánh vai đi,
Bây giờ chỉ thích năm ì xem phim.
Ngày xưa nhớ nhau đi tìm,
Bây giờ mặc kệ, con tim mất rồi!
Ôi thời oanh liệt
Ngày xưa sung sức thì nghèo,
Bây giờ rủng rỉnh thì teo mất rồi!
Ngày xưa sức khỏe tuyệt vời,
Bây giờ nó có đàn hồi nữa đâu!
Ngày xưa sức mạnh như trâu,
Bây giờ công cụ nát nhàu như dưa!
Ngày xưa chẳng kể sớm trưa,
Bây giờ loáng thoáng, lưa thưa gọi là!
Ngày xưa như sắt như đồng,
Như đinh đóng cột, như rồng phun mưa.
Bây giờ như cải muối dưa,
Mười thang Minh Mạng vẫn chưa ngẩng đầu!
Trải qua một cuộc bể dâu.
Ôi thời oanh liệt còn đâu nữa mà …
Nay mai về với ông bà,
Nấp sau nải chuối ngắm gà khỏa thân!
Mèng đéch ơi, cái gì mà chưa chi đã vội lo “nấp sau nải chuối, ngắm gà khỏa thân”? Sao mà buông trôi thế, chán thế? Đâu đến nỗi gì sớm thế?
Vậy, nếu không muốn lo buồn, nuối tiếc, tiêu cực thì có thể vui được bằng cách nào?
Khó chi mô? Trước hết, cần phải cùng nhau đồng ý về một điểm: bao nhiêu tuổi mới là già? Bài thơ Lẩm Cẩm đã đọc được ở đâu đó trả lời rất rõ:
60 chưa phải đã già
60 là tuổi mới qua dậy thì
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
90 mới bắt đầu già
Đêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương
100 có lệnh Diêm Vương
Cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng
Bao giờ đạn hết lên nòng
Từ từ nằm xuống là xong một đời.
Niên tuế đã đủ trăm rồi, mà Diêm Vương còn bật đèn xanh cho “cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng”, thì có chi mà ngại chuyện già? Thực tế ngày nay cho thấy:
Thất thập xưa khó tìm ra,
Ngày nay thất thập mỗi nhà đều đông.
Ngày xưa thất thập ngồi không,
Ngày nay thất thập còn mong đi làm.
Ngày xưa thất thập lão làng,
Ngày nay thất thập là chàng thanh niên.
Vì ngày nay thất thập còn là thanh niên, cho nên:
Thất thập về nước liên miên,
Các cháu gái nhỏ luân phiên chào mời:
“Mừng anh thăm nước nhà chơi,
Mời anh cắt tóc, thảnh thơi gội đầu.
Mời anh trẻ đẹp, sang giàu,
Đón em qua Mỹ, em hầu hạ anh.
Như vậy, tại sao ngại chuyện già? Các ông 70 thì như thế, còn các bà thì sao?
Các bà bảy chục xuân xanh,
Tóc đen, má phấn, xâm viền vành môi.
Bà nào cũng đẹp, cũng tươi,
Lả lướt sàn nhảy, nói cười thật duyên.
Các bà dáng dấp dịu hiền,
Các ông say đắm nghiêng nghiêng mắt nhìn.
Như vậy, tại sao ngại chuyện già? Vì các lý do thượng dẫn, tác giả bài thơ mới “vững niềm tin”:
Bây giờ tôi vững niềm tin
Trả lời câu hỏi linh tinh ban đầu:
“Tuổi già khởi sự từ đâu?
Tuổi già khởi sự khi nào ta quên.
Quên chồng, quên vợ, quên tên,
Quên cười, quên bạn, quên mình là ai?
Người ta chỉ già sau khi đã quên, còn chưa quên là dứt khoát chưa già. Vì chưa quên, chưa già, chi nên mới có chuyện tìm bạn bốn phương của các cụ thuộc loại sáu, bảy chục bó để mà du dương, để mà hủ hỉ với nhau :
Nữ 60 tuổi xinh ngoan,
Cả đời chăm sóc lo toan việc nhà.
Chồng về Nam Việt năm qua,
Gặp cô con gái bán “bar” mê liền.
Em nay chán cảnh ngồi thiền,
Anh nào yêu bé, cho tên tặng hình.
* * *
Nữ 65 tuổi giỏi dang,
Chồng vừa khuất núi vì mang bệnh già.
Các con nay lớn ở xa,
Cảnh nhà đơn chiếc vào ra một mình.
Anh nào tức cảnh sinh tình,
Biên thư, điện thoại, gửi hình em coi.
* * *
Nam 70 tuổi hiên ngang,
Dẻo dai, tốt tướng, nhà sang nhất miền.
Tháng tháng nhà nước phát tiền,
Ngồi xe Nhật lái liên miên cả ngày.
Tìm em gái Việt thơ ngây,
Ai muốn qua Pháp, anh đây sẵn sàng.
* * *
Nữ 75 tuổi dịu dàng,
Chồng con bỏ lại lang thang chợ đời.
Thân già lặn lội ngược xuôi,
Đi chùa, đi chợ, lôi thôi lạc đường.
Tìm người cùng cảnh đoạn trường,
Nắm tay đi tiếp quãng đường dở dang.
Vì cái già là lẽ tự nhiên (sinh, lão, bệnh, tử), nên dù ta có lo cũng chẳng được. Hơn nữa, vì cái già cũng chẳng phải là cái đáng ghét, nên vào tháng Chín niên 2009, thi sĩ TSN đã phóng bút ra bài thơ:
Thích Già
Làm sao tránh khỏi được tuổi già?
Thời gian xồng xộc sau lưng ta,
Chớp mắt, hai phần ba thế kỷ,
Theo cơn gió lốc vụt bay qua.
Tuổi già vẫn đẹp như cành hoa,
Dù khô, nhưng chẳng thiếu mặn mà,
Sắc hương tuy không còn lộng lẫy,
Nhưng đủ thêm duyên giữa lẵng hoa.
Ngắm cháu dễ yêu, ta thích già,
Bé thơ nũng nịu gọi Ông Bà,
Hương thơm sữa mẹ trên má phính,
Còn gì sung sướng hơn đời ta?
Dìu nhau âu yếm khi về già,
Còng lưng, chống gậy chung đường xa,
Chẳng phải ghen tương khi ai ngó,
Miệng vui khẽ hát bản tình ca.
Đừng lo bệnh hoạn khi về già,
Thiên đường, địa ngục ai thoát xa,
Tiền bạc sao mua thêm tuổi ngọc,
Vậy cứ vui đi, sợ chi già?
Cái kết luận “vậy cứ vui đi, sợ chi già” của người thơ TSN thật chí lý!
Để vui với cái già, Lẩm Cẩm xin kể hầu qúy vị đôi ba chuyện vui về người già.
1. Thành Công Của Người Già
Lúc 5 tuổi, thành công là không đái dầm.
Lên 10 tuổi, thành công là biết đi xe đạp.
Đến 16 tuổi, thành công là có nhiều bạn bè.
Khi 20 tuổi, thành công là có người yêu mình.
Đến 40 tuổi, thành công là rủng rỉnh tiền bạc.
Lên 50 tuổi, thành công vẫn là rủng rỉnh tiền bạc.
Lúc 60 tuổi, thành công là vẫn có một người yêu mình.
Sang 70 tuổi, thành công là vẫn đi được xe đạp.
Qua 80 tuổi, thành công là vẫn có nhiều bạn bè; và
Khi 85 tuổi, thành công là không đái dầm!

2. Như Bé Sơ Sinh
Hai cụ ông ngồi hóng mát dưới tàn cây trong khuôn viên của nhà già.
Cụ Ngọ quay sang nói với người bạn:
- Ông Sửu ơi, năm nay tui 83, cả ngày toàn thân đau nhức, rêm rêm miết đi thôi! Ông cỡ tuổi tui, ông thấy mình mẩy thế nào?
Cụ Sửu đáp:
- Tui thấy mình giống như “bê-bi” sơ sinh.
Cụ Ngọ nghi ngờ:
- Thiệt hả? Giống “bê-bi” thiệt hả?
Cụ Sửu khẳng định:
- Chứ còn gì nữa! Hổng có tóc, hổng có răng và dường như tui vừa đái dầm ướt quần; vậy hổng phải giống “bê-bi” thì giống cái thứ gì?
3. Lãng Tai
Cụ Hai Tín năm nay vừa đúng 90. Sức khỏe cụ tốt, thân thể tráng kiện, tinh thần minh mẫn. Cụ không quên, không lẫn chi hết; chỉ có cái tai là yếu, nên khả năng nghe của cụ bị giảm sút đáng kể!
Con cháu nhiều lần đề nghị cụ đeo máy trợ thính để nghe cho rõ, nhưng cụ nhất định không chịu. Mãi đến khi bác sĩ gia đình ráo riết khuyên, thì cụ mới đồng ý. Cụ lặng lẽ mua và dùng máy nghe, nhưng không cho con cháu biết.
Sau hai tuần lễ dùng máy trợ thính, cụ Hai Tín trở lại gặp bác sĩ theo lời dặn. Bác sĩ hỏi:
- Sao, cụ đeo máy rồi thấy nghe rõ không? Có vấn đề gì không?
Cụ trả lời:
- Máy trợ thính này tốt thiệt, giúp tui nghe rõ hết sức!
Bác sĩ hỏi:
- Con cháu chắc rất vui và hài lòng với chuyện cụ chịu đeo máy nghe?
Cụ Hai Tín:
- Tụi nó đâu có biết tui đã đeo máy trợ thính, nên làm gì có ý kiến chi. Mấy
đứa con tui còn không biết một chuyện nữa là kể từ ngày tui đeo máy và nghe rõ tất cả những gì tụi nó nói, tui đã thay đổi di chúc ba lần rồi đó!
Tết nhất, ngoài ba thứ thường có như bánh mứt, bánh chưng, bánh tét, thịt kho, dưa hành, la de, củ kiệu…, bà con ta còn có thể lai rai chút rượu. Khách đến thăm ngày đầu năm, chủ nhà rót chén rượu đầu xuân để chủ khách cùng nhau đối ẩm.
Mai Quế Lộ là một trong những thứ rượu Lẩm Cẩm từng được thưởng thức trong dịp Tết nơi quê nhà. Gần đây, vì biết Lẩm Cẩm ưa thứ này, một bạn hiền đã chỉ cách làm rượu Mai Quế Lộ mà bạn hiền cam đoan nhấp vào rất tới!
Làm theo cách này, phải mất ít nhất 6 tháng mới có rượu để nhấm nháp, chi nên khi công thức làm rượu lọt được vào mắt qúy vị, thì không cách chi qúy vị có thể kịp có Mai Quế Lộ để thưởng thức dịp Tết này! Tuy nhiên, Lẩm Cẩm cũng cứ xin phổ biến cách làm rượu đơn giản và dễ dàng dưới đây để, nếu muốn, qúy vị có thể nhâm nhi Mai Quế Lộ vào dịp Tết con Mèo:
- Mua:
1 chai Glutinuos Rice Cooking Wine
1 ly rượu Rhum ( Meyers Rhum, original dark )

- Rang vàng :
2 muỗng (tablespoon) Hạt Ngò Khô (Graines de corriande)
30 gram vỏ Cây Quế (Cinamon)
30 gram Đinh Hương (Dried Cloves)
5-6 trai to Đại Hồi (Anise )

- Cho tất cả vào một keo thủy tinh, đậy thật chặt và kín. Để ít nhất 6 tháng thì dùng được.
Càng để lâu, rượu càng có mùi thơm.
Vào dịp Tết, những người thơ còn thường sáng tác các thi phẩm vịnh cảnh Xuân. Lẩm Cẩm nhớ là cách đây đôi ba năm, một bạn hiền cao niên và thân qúy là ông giáo Đỗ Quang Vinh đã gửi tặng bài thơ “Mãi Mãi Còn Xuân”. Bài này ông giáo sáng tác theo thể thất ngôn bát cú thuận-nghịch độc:

Mãi Mãi Còn Xuân
(thuận-độc)
Hương xuân ngát toả thắm tình thơ,
Ngọc chuốt lời dâng ngập cõi bờ.
Thương mến chứa-chan còn mãi ước,
Dấu yêu ngây-ngất vẫn hoài mơ.
Dương-triêu ánh rực tranh sao đẹp!
Tuyết trắng đông tàn cảnh quá xưa!
Vương-vãi nắng xuân còn mãi mãi,
Sương pha tóc mướt óng vàng tơ.
(nghịch-độc)
Tơ vàng óng mướt tóc pha sương,
Mãi mãi còn xuân, nắng vãi-vương.
Xưa quá, cảnh tàn đông trắng tuyết!
Đẹp sao, tranh rực ánh triêu-dương!
Mơ hoài vẫn ngất-ngây yêu dấu,
Ước mãi còn chan-chứa mến thương.
Bờ cõi ngập dâng lời chuốt ngọc,
Thơ tình thắm toả ngát xuân-hương.

Điểm rất đặc biệt của “Mãi Mãi Còn Xuân” là nó có thể biến dạng thành 17 bài khác nhau, tùy theo cách cắt từ, ngắt câu và ráp nối. Xin mời qúy độc giả vui Xuân bằng cách tự tìm ra các bài thơ từ bài số 3 tới bài số 15, dựa vào chỉ dẫn dưới đây của ông giáo:
- Ngắt giữa bài đọc xuôi, thì được bài 3 và 4.
- Ráp 2 câu đầu bài 3 với 2 câu cuối bài 4, thành bài 5
- Ráp 2 câu cuối bài 3 với 2 câu đầu bài 4, thành bài 6
- Cắt 2 từ đầu mỗi câu trong bài đọc xuôi , thành bài 7
- Cắt 3 từ cuối mỗi câu trong bài đọc xuôi , thành bài 8
- Cắt từ thứ 3 và thứ tư mỗi câu của bài đọc xuôi thành bài 9
- Cắt 4 từ đầu mỗi câu trong bài đọc xuôi, thành bài 10.
- Ngắt giữa bài đọc ngược, thì được bài thứ 11 và 12.
- Ráp 2 câu đầu bài 12 với 2 câu cuối bài 13, thaành bài thứ 13
- Ráp 2 câu cuối bài 12 với 2 câu đầu bài 13 thì được bài 14
- Cắt 2 từ đầu mỗi câu trong bài đọc ngược thì được bài 15.
Với hai bài thơ thứ 16 và 17, thì dưới đây là cách tạo thành:
- Cắt 3 từ đầu mỗi câu từ dưới lên trên trong bài đọc ngược, rồi đảo vị-trí của 4 từ còn lại, thì được bài 16:
Tóc mướt pha sương,
Nắng xuân vãi-vương,
Tàn đông trắng tuyết.
Rực ánh triêu-dương
Ngây-ngất yêu dấu,
Chứa-chan mến thương.
Lời dâng chuốt ngọc,
Ngát toả xuân-hương.
- Cắt từ thứ 3 và thứ tư của 4 câu trong bài 12, rồi cắt từ thứ tư và thứ năm của 2 câu đầu trong bài 13, rồi cắt 2 từ đầu của câu thứ 3, rồi cắt từ thứ ba và thứ tư của câu cuối trong bài 13, thì được bài thứ 17:
Tơ vàng tóc pha sương,
Mãi mãi nắng vãi vương.
Xưa quá đông trắng tuyết!
Đẹp sao ánh triêu-dương!
Mơ hoài vẫn yêu dấu,
Ước mãi còn mến thương,
Ngập dâng lời ngọc chuốt,
Thơ tình ngát xuân-hương.
Đọc hết cả 17 bài thơ “Mãi Mãi Còn Xuân” của người thơ Đỗ Quang Vinh, chắc qúy vị đồng ý với Lẩm Cẩm là thi sĩ già của chúng ta quả đã nghịch ngợm một cách tài tình trong cách sáng tác thơ độc đáo của ông!
Lải nhải đã dài, Lẩm Cẩm xin chấm hết. Và bắt chước lão bạn hiền, Lẩm Cẩm chân thành cầu chúc qúy vị sức khỏe thật tốt.

Bài Xem Nhiều