We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 8 February 2013

Chuyện Ly Kỳ Và Bí Hiểm Của Trung Quốc

Người viết cứ mong có ngày rảnh rỗi thì viết truyện trinh thám bí hiểm mà chỉ có… Trời mới hiểu nổi. Có lẽ ông Trời cũng sợ rằng mình không hiểu, nên Trời chưa cho. Là trò chưa chơi. Trong khi chờ đợi cái ngày chậm đến ấy, ta vẫn có thể thao dợt cho quen, ngay trong thể loại kinh tế.


Gặp ngày đẹp trời, khi tổng thống Hoa Kỳ đang lên xe hoa cho một nhiệm kỳ mới, thì chả nên xối nước lạnh vào niềm hưng phấn của thiên hạ mà viết chuyện bí hiểm, như nhà nước tìm đâu ra tiền để cứ rộng chi cho bá tánh? Hay là gánh thuế sẽ là bao nhiêu sau khi gánh hát là Quốc Hội diễn xong cái màn thỏa thuận về ngân sách vào ngày Tết Tây? Chi bằng ta nói chuyện Tàu…


Kỳ bí như câu hỏi “bao giờ nước Tàu có loạn?”


Từ năm năm nay, khi các nước dân chủ Tây phương đều mếu máo về chuyện chi thu ngân sách mà kinh tế cứ bèo nhèo như dải rút trên sàn – đẩy mãi chưa thấy nhúc nhích – kinh tế Trung Quốc vẫn lừng lững đi lên.


Năm 2010, trên cao điểm của sự khốn khó toàn cầu, lãnh đạo xứ này đã bơm thuốc cường dương cho toàn dân đạp xe vượt qua Nhật để thành nền kinh tế hạng nhì thế giới. Qua năm 2012 vừa rồi, Trung Quốc còn cho thấy là sẽ lấn Hoa Kỳ để chiếm giải quán quân trong một tương lai không xa. Có thầy bói Mỹ còn sủ quẻ nói rằng cái năm đại tiểu vận trùng phùng đó sẽ là 2030! Khiếp!


Giới kinh doanh thì cứ kè kè nhìn vào túi bạc, chứ giới kinh tế phải biết nhìn xa trông rộng!


Họ bảo rằng sau 30 năm tăng trưởng trung bình là 9% thì nền kinh tế nào cũng thấm mệt và từ nước đại sẽ giảm đà thành nước kiệu. Vì vậy, chẳng ai ngạc nhiên nếu kinh tế Trung Quốc có tăng trưởng thấp hơn trước. Nhưng dù thấp hơn con số sinh tử là phải 8% một năm – nếu không, Thiên triều sẽ có loạn – tuần qua, thống kê cho biết là mức tăng trưởng vẫn là 7.8%. So với trung bình 1.8% của nước Mỹ năm nay, hoặc 3.8% kể từ năm 1790 đến giờ, con số 7.8% là sự thần kỳ bí hiểm.


Giới kinh tế thì cứ đùa với con số trừu tượng, chứ các nhà xã hội thì nhìn vào chuyện sâu xa hơn!


Quả là kinh tế Trung Quốc có đạt tốc độ tăng trưởng kỳ diệu, đấy chỉ là lượng. Chứ nói về phẩm thì sự thật lại chẳng hồng hào như vậy vì là tăng trưởng thiếu phẩm chất. (Từ “phẩm chất” này mới đúng, chứ “chất lượng” là chữ ngô nghê vừa chất vừa lượng của người Hà Nội!) Thiếu phẩm chất vì bất công, với chỉ số Gini cứ tăng chứ không giảm, và là cơ sở của tham ô lãng phí. Lại còn gây ô nhiễm và tai nạn tầy trời lệch đất với các dự án hạ tầng thuộc loại tàu hủ – mềm xèo – hay xe lửa cao tốc bỗng dưng bốc khói. Những vụ nổi loạn tại Tứ Xuyên hay Ô Châu là sự nhắc nhở và nạn biểu tình đấm đá đã thành cơm bữa. Nhưng lãnh đạo vẫn thản nhiên dẹp loạn và dàn dựng thành công màn thay bậc đổi ngôi trong đại hội 18.


Giới xã hội học cứ ưa bàn ngang tán dọc về chuyện nhân văn, chứ các kỹ sư mới biết về vật lý.


Họ giải ra rằng bước nhảy vọt vĩ đại của Trung Quốc về công nghệ (hay thuật lý) chỉ là trò ăn cắp hoặc ăn cướp. Ăn cắp là khi sao chép bản quyền trái phép, quốc sách của Thiên triều. Ăn cướp là khi luật lệ đầu tư quy định điều kiện của liên doanh: Công ty đầu tư nước ngoài phải chia sẻ bí quyết với đối tác nội địa, cho đến ngày đối tác đuổi ra và ca bài tự chủ. Vì vậy, dù có ào ạt đầu tư vào loại kỹ nghệ hạ đẳng, Trung Quốc chưa có loại cao kỹ hai tếch, mà hai ba tếch gì thì cũng chỉ là cóp nhặt ngoài da. Nhưng vì sao Trung Quốc đã hết đạp xe mà tống ga xông tới, có sản lượng xe hơi cao nhất địa cầu và sẽ có ngày bán xe cho Mỹ chạy?


Các kỹ thuật gia cứ nói chuyện máy móc, chứ giới quân sự mới biết về lẽ tử sinh của an ninh.


Họ báo động là Trung Quốc dồn tiền vào kỹ nghệ quốc phòng và ráo riết chế biến loại võ khí hiện đại để tìm lợi thế trong một hình thái chiến tranh bất cân xứng. Trong khi đó, vì ngân sách ngặt nghèo, Hoa Kỳ giảm dần quân phí, khoảng 900 tỷ trong 10 năm tới. Kết quả là Thiên triều đang uy hiếp các lân bang và chen chân lấn đất của con cháu Thái dương Thần nữ. Một vụ đụng độ Hoa-Nhật sẽ có thể xảy ra, Hoa Kỳ sẽ làm gì khi đó…?


Kết hợp ngần ấy chuyện vừa hung vừa cát, người ta phải kết luận, rằng với tất cả những bất toàn của hệ thống kinh tế chính trị Trung Quốc, xứ này vẫn đang vươn lên và có ảnh hưởng quốc tế lớn lao chưa từng thấy. Trong khi đó, ba khối tiên tiến là Âu-Mỹ-Nhật cứ lẹt đẹt và lãnh đạo cãi nhau suốt buổi mà chưa tìm ra ánh sáng.


Với công tâm của một nhà khoa học (hí hí), người viết phải kết luận như vậy. Chán thật!


Nhưng, làm sao giải thích vài chuyện bí hiểm sau đây?


Nếu Trung Quốc có tương lai sáng láng như vậy và lãnh đạo đảng Cộng Sản Trung Hoa đã rửa nhục cho toàn dân sau 150 năm gục mặt xuống đất thì người dân Hoa Lục tất nhiên phải hài lòng và tin tưởng vào ngày mai chứ? Nói đến người dân là chuyện tầm phào, dân đen nào biết gì đâu!


Người có tiền tại Trung Quốc mới là thành phần thính mũi và sáng mắt, và giới đầu tư của họ hiển nhiên là biết chọn mặt gửi vàng. Vì sao mà họ lại đầu tư ra ngoài? Lãnh đạo Bắc Kinh đã nâng gấp bốn định mức đầu tư của nước ngoài vào Hoa Lục, nôm na là chiêu dụ đầu tư quốc tế, nhưng lần đầu tiên mà đầu tư của dân Tàu ra nước ngoài đã vượt ngạch số tư bản nhập cảng vào bên trong. Bụt chùa nhà không thiêng sau năm năm tuột dốc của thị trường chứng khoán Thượng Hải?


Mà nói gì về chuyện đầu tư chính thức theo kiểu văn minh?


Không ai có thể giải thích nổi trào lưu mới là “tẩu tán tài sản”, thuật ngữ kinh tế thì gọi một cách sạch sẽ là chuyển ngân tư bản hay “capital flight”, chứ thật ra, giới trung lưu và doanh gia Trung Quốc đang kiên trì, chậm rãi và quyết liệt đem tiền ra ngoài. Chính quyền tìm mọi cách kiểm soát mà chuyện ấy vẫn xảy ra, ngày càng nhiều hơn trước. Khó hiểu hơn cả cho quan thuế quốc tế, nhất là Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại, nhiều người quýnh quáng nhét vội cả trăm ngàn đồng Ếch xanh vào cặp nên bị bắt tại phi trường! Của đi thay người?


Nói vậy vẫn là chưa thấm nhuần văn hóa Khổng Mạnh! Loạn bang bất cư.


Người ta không chỉ tẩu tán tài sản mà còn tháo chạy theo ngả chính thức. Ðàng hoàng làm thủ tục nhập cư vào các nước dân chủ da trắng và không có tinh thần kỳ thị. Thứ tự được chiếu cố là Gia Nã Ðại, Hoa Kỳ, Úc và Tân Tây Lan (New Zealand). Họ là những ai? Toàn là giới có tiền và có học. Theo tờ Dương Tử Hối Báo trích dẫn nguồn tin của các công ty tư vấn quốc tế, 27% các doanh gia Trung Quốc có tài sản từ 16 triệu đô la trở lên đã nộp đơn xin định cư ở xứ khác và 47% đang tính toán như vậy.


Khi đó ta mới nhớ lại rằng rất nhiều con cháu của đám thái tử đảng đã tốt nghiệp ngoại quốc, có tài sản chuyển dần ra ngoài, thụ đắc quốc tịch xứ khác và chuẩn bị bãi đáp an toàn. Nghĩa là thành phần ưu tú của Trung Quốc đã biết cái gì đó rất bí hiểm ở bên trong! Các đại gia của đảng ta ở Việt Nam chả phát minh ra cái gì cả.


Không phải là đề tài trinh thám lồng trong chuyện “kinh tế cũng là chính trị” của buổi đầu năm hay sao?


Nguyễn-Xuân Nghĩa

Bắc Kinh “Bầu Trời đen” như trong phim Lord of the Rings

Bắc Kinh đối phó với “bầu trời đen”
Games wallpapers- The Lord Of The Rings Rise Of Isengard | 5652 ...
với định luật nhân quả… hiện tiền
 Cali Today News – Báo chí quốc tế và ngay cả báo chí Bắc Kinh đưa tin là Bắc Kinh hiện bị ô nhiễm trầm trọng, trầm trọng tới mức bầu trời trên thành phố này trở thành bầu trời đen, người dân bị chính phủ ra lệnh “ở trong nhà”, không nên ra đường, và thậm chí không nên đi làm,… Tình hình có thể còn kéo dài trong vài ngày tới vì hiện Bắc Kinh không có gió để thổi loãng không khí ô nhiễm ra, hay làm tan loãng đi bầu trời đen. Các chuyến bay ra vào Bắc Kinh cũng bị hủy bỏ vì… không thấy đường hay tầm nhìn quá ngắn (poor visibility)…
Những tòa nhà cao như chìm trong hố thẩm đen tối, không trơ gan cùng tuế nguyệt nữa,…
Và cực chẳng đả, người dân phải ra đường, nhưng trước khi ra, họ che cả mặt mũi kín mịt để tránh bị nhiễm độc… Dịch vụ bán các mặt nạ trở thành thời thượng và kinh doanh béo bở.
Bắc Kinh hòan toàn bị ô nhiễm, hoàn toàn bị nhiễm độc, và đây là lần thứ hai liên tiếp xảy ra trong vòng hai tuần, và điều này đã khẳng định là mức ô nhiễm thật kinh hoàng và có thể sẽ tiếp tục bao phủ bầu trời Bắc Kinh thêm nhiều lần nữa, trong thời gian ngắn tới,…
***
Mức ô nhiễm đến mức nào?
Theo Tòa Đại Sứ Mỹ, mức ô nhiễm là PM2.5, một mức độ rất nghiêm trọng, ở độ 526 micrograms trong mỗi một mét khối không khí, gấp 20 lần mức ô nhiễm an toàn mà tổ chức Y Tế Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc quy định.
Hai tuần trước, mức ô nhiễm là PM 2.5, qua dụng cụ đo đạt của tòa đại sứ Mỹ cao đến 886 micrograms cho mỗi mét khối không khí.
Ngày trước, khi tòa đại sứ Mỹ loan báo và báo động mức ô nhiễm không khí tại Bắc Kinh thì chính phủ nước này đã phản ứng nặng nề, trách Hoa Kỳ xen vào công việc nội bộ của Trung Quốc.
Chuyện ngớ ngẫn như thế mà họ cũng nói được: Ô nhiễm không gian thì đâu chỉ là chuyện của Trung quốc? Bầu trời nhà anh thối um, vườn nhà anh bẩn thỉu và hôi tanh, đâu phải chỉ ảnh hưởng đến anh mà thôi và đâu phải chỉ có mình anh chịu? Chuyện đơn giản như thế mà Trung quốc cứ thích “bày tỏ thái độ” bực mình!
So với Bắc Kinh, tình hình một số nơi cũng tệ hại không kém. Ở các vùng miền đông Trung quốc, tầm nhìn dưới 100 mét, và theo thông tấn xã Xinhua thì hãng hàng không Air China đã phải hủy bỏ 14 chuyến bay ra vào Bắc Kinh. Phi trường phía đông thành phố Qingdao thì bị đóng lại và đã hủy 20 chuyến bay.
Tình hình này diễn ra vào thời điểm rất quan trọng. Bắc Kinh đang mở chiến dịch khuyến mãi du lịch 6 tuần, liên quan đến dịp Tết Nguyên Đán, vào ngày 10 tháng 2, 2013. Tình trạng ô nhiễm bùng nổ này xảy ra ngay tuần đầu tiên của chiến dịch 6 tuần du lịch, khiến Bắc Kinh chới với.
Một số người hải ngoại cũng nghe tin là Bắc Kinh đang “onsale” các package du lịch với giá rẻ hơn bèo, để thu hút khách quốc tế vào Trung quốc, nhưng trời hại họ qua tình trạng ô nhiễm này khiến du khách quốc tế chạy dài, không dám tới hay hủy bỏ chuyến đi.
***
Hiện nay, dư luận quốc tế và nội địa đều chỉ trích tình trạng ô nhiễm này và muốn nhìn thấy Bắc Kinh giảm bớt ô nhiễm. Ông trùm đầu tư địa ốc Pan Shiyi, người từng yêu cầu các thành phố phổ biến nhiều hơn nữa, chi tiết hơn nữa các thông tin về phẩm chất không khí, thì hiện nay tuyên bố rằng ông ta sẽ đề xuất “Luật Không Khí Trong Lành” với tư cách là đại biểu quốc hội nhân dân Trung quốc.
Chỉ trong vòng 3 giờ đồng hồ, ý kiến này của ông được chuyển tiếp (forwarded) hơn 2,300 lần, và đã nhận hơn 14,184 phiếu bầu mà trong đó 99.1% ủng hộ.
***
Đó là mới nói đến chuyện ô nhiễm không khí, hậu quả của tình trạng phát triển kỹ nghệ nhưng bất chấp môi trường…. Họ thấy lợi trước mắt là làm, mà không để ý gì đến chuyện nhiểm độc lâu dài, bâát chấp tương lai,…...
Hai tuần nay, chuyện bầu trời Bắc Kinh bị nhiễm độc được xem là câu chuyện báo động rằng nếu tình trạng này không cải thiện, thì Bắc Kinh sẽ chìm trong bầu không khí hắc ám và bệnh hoạn. Bầu trời Bắc Kinh nhiễm độc tệ hại cho thấy sự tác dụng trực tiếp và hiện tiền của luật nhân quả (law of immediate cause and effect).
Có một chuyện khác mà không nói thì sẽ thiếu đó là tình trạng Bắc Kinh bị sa mạc hóa và Trung quốc đang bị hóa thành sa mạc. Họ hủy diệt môi trường trầm trọng vì lợi ích kinh tế trước mắt đã khiến môi trường khô cằn, nóng bức và khiến cho bão sa mạc mang cát đến dần bao phủ Bắc Kinh và nhiều nơi khác một cách trầm trọng. Tương lai, Trung quốc sẽ trở thành sa mạc, và đang bị sa mạc hóa,...
***
Thế nhưng, chuyện Trung Quốc là câu chuyện dài, đâu chỉ kết thúc ở chuyện không khí  nhiễm độc hay sa mạc hóa!
Còn biết bao nhiêu hậu quả khác mà người Trung quốc đã và đang hứng chịu cũng từ luật nhân quả nói trên như:
- Con người Trung quốc sẽ đau yếu và bệnh tật ra sao khi mà thực phẩm và rau quả nhiễm độc nặng nề?
- Văn hóa và đạo đức xã hội của Trung quốc sẽ bị băng họai ra sao theo lối sống duy lợi cực đoan và vật chất hóa triệt để?
- Còn nhiều nữa và nhiều vấn đề nữa cần nói đến.
Trung quốc đã đi lạc đường và sẽ còn lạc đường dài dài: Thay vì đặt con người là trung tâm của mọi thứ như tư tưởng L’homme est la mesure de toute chose do triết gia Platon khởi xướng, thì họ đặt những lợi ích vật chất tạm bợ lên trên mọi thứ khác, kể cả con người...
Sự đảo lộn và trái ngược này đến lúc sẽ bắt Trung quốc trả giá, mà “bầu trời đen” hiện nay mới chỉ là khúc nhạc đầu, đoạn ouverture của bài trường ca về hậu quả mà họ sẽ phải đương đầu,...
Việt Nam cũng cần phải lưu ý đến con đường sai lầm mà Trung quốc đang đi...
Nguyễn Xuân Nam


 ---

Trung Cộng xác nhận có những „làng ung thư“

Phương Tôn dịch
 
Kim loại nặng gây độc cho những giòng sông và nguồn nước ngầm hoặc khói độc gây tác hại hơi thở – Giờ đây nhà cầm quyền Trung Cộng mới chính thức công nhận rõ ràng những hậu quả thảm khốc cho người dân. Một bản báo cáo của bộ Môi trường vừa đề cập đến những „làng ung thư“ nằm kế cận những trung tâm kỹ nghệ. Đây là những nơi thường xuyên xảy ra những căn bịnh nặng.
Kinh tế Trung Cộng bùng phát, kỹ nghệ đưa ra những con số tăng trưởng như trong mộng, đồng tiền tuôn trào như nước. Tuy nhiên từ lâu, những nhà bảo vệ môi trường đã đưa ra những lời cảnh báo về những tác hại tiêu cực do sự bùng nổ kinh tế. Thiên nhiên và con người bị tác hại cực mạnh qua việc không khí và đất đai bị ô nhiễm. Nay là lần đầu tiên nhà cầm quyền Trung cộng xác nhận có sự hiện hữu của những „làng ung thư“. Đây là những nơi có tỷ lệ người dân mắc bệnh ung thư tăng mạnh.
„Trong những năm qua chất độc và môi trường ô nhiễm (…) đã gây nên những vấn đề sức khỏe trầm trọng“, trích đoạn trong một bản báo cáo của bộ môi trường. Ngoài ra bản báo cáo cũng nhắc đến „Không khí và nước bị nhiễm độc nặng nề dẫn đến tình trạng khẩn nguy.“ Từ đó nối kết những rủi ro dài hạn cho dân chúng, thí dụ như cái được gọi là „làng ung thư“.
Tuy nhiên có điều, bản báo cáo không trưng dẫn số lượng hay tình trạng những làng bị nạn này. Cũng như những tin tức chi tiết nói về loại bệnh và mức độ thường xuyên xảy ra cũng bị bỏ qua không đề cập đến.
Heavy smog envelops Beijing
Mặc dù vậy, bản báo cáo được xem là đề cương của „kế hoạch ngũ niên về việc kiểm soát rủi ro hóa chất“ là điều đáng chú ý. Dù rằng thường xuyên đã có những lời đồn đãi và những khai báo không chính thức vể mức độ mắc bệnh ung thư tăng cao tại những khu vực lân cận các trung tâm kỹ nghệ nhưng cho đến nay vẫn chưa có một lời tuyên bố rõ ràng của nhà nước về những hậu quả tiêu cực của việc khai thác quá độ. Thay vào đó những bằng chứng về sự thiếu liên hệ giữa việc bị nhiễm độc và tích lũy bệnh lại được thường xuyên nêu ra. Wang Canfa, luật sư môi trường xác nhận cùng đài BBC Anh quốc, đây là lần đầu tiên khái niệm „làng ung thư“ xuất hiện trong tài liệu chính thức của nhà cầm quyền.
„Tôi cho rằng đây là tiến triển tích cực“ Ma Jun, nhà hoạt động môi trường nói cùng báo „Telegraph“. „Vấn đề được định danh có thể là khởi điểm cho một giải pháp lâu dài cho vấn đề.“ Trong tiến triển đang chú ý này Ma nhận thấy một bước tiếp của nhà nước nhằm minh bạch hơn trong những gì có liên hệ với thiệt hại môi trường.
Ngày càng nhiều người chết vì ung thư
Số liệu được nêu dẫn ngày càng đáng báo động trong đất nước khổng lồ này: Trong những năm vừa qua, ung thư trở nên nguyên nhân thứ nhất gây nên tử vong trong nước. Theo thống kê, cứ mỗi bốn người dân Tàu lại có một người chết vì ung thư. Mức tử vong của người bệnh ung thư trong vòng 30 năm vừa qua tăng lên 80%.
Bên cạnh không khí hít thở bị ô nhiễm trầm trọng, tại những thành phố lớn như vừa qua với thành phố Bắc Kinh, còn thêm những giòng sông, nước ngầm, đất nông nghiệp trong tình trạng tồi tệ đáng sợ. Deng Fei nhà báo Trung quốc, người từ lâu theo dõi sự liên hệ giữa ô nhiễm và sự tăng vọt bệnh ung thư nói cùng báo „Telegraph“, anh ta rất sợ hãi khi quan sát những giòng sông tại quê hương của anh. „Phải có thay đổi gì đó thật sớm, nếu không thì chúng ta sẽ mất tất cả.“
Theo „Extreme Umweltverschmutzung: China räumt Existenz von Krebsdörfern ein“ – Spiegel Online

Chim Kêu Vượn Hú

Những năm tháng của mấy chục năm về trước, mỗi độ Tết âm lịch về, lòng tôi lúc nào cũng buồn buồn. Một nỗi buồn không sao tránh được. Nỗi buồn đó như thói quen, như bệnh lâu ngày, như một công thức đời sống bám chặt lấy mình. Là người Việt tha hương lâu năm khi Tết Nguyên Đán về chắc chắn không nhiều thì ít lòng ai cũng nao nao buồn, khi sửa soạn lòng mình để đón một năm mới ở xứ người. Cười đấy, nói đấy, nhưng bỗng dưng có lúc ngồi lặng thinh, im ắng, ứa nước mắt một riêng mình, nhớ về quê nhà, nhớ ông bà, cha mẹ dù còn sống hay đã qua đời.

 Có một năm, chỉ còn một vài ngày nữa là Tết. Tôi lái xe từ chợ về nhà, trời chưa vào tối, nhưng là mùa đông nên âm u, lái xe giữa đường bỗng nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ quê nhà thăm thẳm làm lòng quặn thắt, phải tạt xe vào lề đường, vừa bật lên khóc nức nở, vừa gọi phôn cho cô em (đang làm việc ở sở), em tôi cũng bối rối nhưng chẳng biết nói gì hơn là vài câu an ủi: mình phải buồn là chuyện tự nhiên thôi.

Những năm gần đây tôi lại mang một tâm trạng khác. Tôi đối diện với tuổi đời, biết là mình đã sống, đã kinh qua buồn vui, biết “Niềm vui ngọt ngào nhất của đất trời đều là kết quả của những ưu phiền” nên lòng tôi chỉ mang mang một nỗi buồn rất nhẹ nhàng về năm tháng, lại thấy tâm an khi nghĩ mẹ cha đã ở một chốn tốt đẹp và đang chúc phúc cho con cháu. Còn mình, thì theo lẽ đương nhiên của đất trời sẽ được gặp lại mẹ cha một ngày nào đó. 
Tưởng lòng mình đã lắng xuống với buồn vui, nhưng mấy tháng cuối năm nay, đọc cái bản tin về một người mẹ trẻ, ôm hai đứa con nhỏ nhẩy lầu ở Đại Hàn, chết cả ba mẹ con, tôi không sao giữ cho tâm an được. Khổ đến thế nào mà cô phải đi đến quyết tâm cả ba mẹ con cùng chết.

Chim Kêu Vượn Hú  Má ơi! Đừng gả con xa
chim kêu vượn hú biết nhà má đâu 
Câu ca dao của miền Nam thời xa xưa đó bỗng quay về trong trí tôi mấy ngày cuối năm. Thuở đó, gả con xa có nghĩa là gả con sang làng khác, sang tỉnh khác. Là đưa dâu, đón dâu hết một ngày đò dọc hay đi bằng xe hàng một chặng đường dài từ sáng đến chiều. Cô gái đi làm dâu xa, khi sanh đứa con đầu lòng mới được về cho mẹ chăm nom “Con so nhà mạ/Con dạ nhà chồng” Sanh con cứng cáp rồi lại quay về bên chồng. Có khi cả năm tới tết mới được ôm con về thăm cha mẹ, hay

cha mẹ ốm đau lắm hoặc qua đời mới được về trả hiếu. Vì cô đã thuộc về dâu con nhà người. Cha mẹ thương nhớ con nhưng gái lớn thì phải theo chồng, nên tuy khóc nhưng cũng mừng vì con có gia đình. Nếu con được vào gia đình khá giả, tử tế cha mẹ hãnh diện, an tâm; nếu chẳng may con lấy phải chồng nghèo cũng khuyên con chịu thương chịu khó gánh vác giang san bên chồng, ở cho phải đạo dâu con. Số cô có vất vả lắm cũng là thức khuya, dậy sớm, làm đủ mọi việc

trong gia đình. Số cô có khổ lắm thì gặp anh chồng vô tích sự, còn cờ bạc, rượu chè, gặp mẹ chồng cay nghiệt bắt bẻ. Như thế đã là quá sức chịu đựng cho một người phụ nữ rồi và làng trên, xóm dưới, ai cũng chê trách cái gia đình bên chồng
cay nghiệt đó. 

Chữ “Má ơi” cho ta biết câu hát đó phát xuất ở miền Nam nước Việt. Gái quê của miền tây Nam Bộ đẹp nổi tiếng. Gái Mỹ Tho, Cần Thơ, Bến Tre, gái Cao Lãnh, Nha Mân cô nào cũng đẹp, cũng da trắng, tóc dài. Hình ảnh những cô gái dậy thì trong chiếc áo bà ba ngồi bên sạp trái cây là hình ảnh những du khách ngoại quốc cho in vào những tấm thiệp lưu niệm gửi đi khắp nơi trên thế giới.
Cha mẹ chỉ gả cô sang làng khác, sang tỉnh khác thôi mà cô đã tức tưởi kêu lên như vậy rồi. Bây giờ cô lìa cha mẹ, xa anh em, xa làng, xa nước, sang tận Đại Hàn, Đài Loan, Trung Quốc lấy chồng.

Cô đi lấy chồng, một người chồng lớn hơn cô từ 10 đến 20 tuổi, người chồng tàn tật hay người chồng mang bệnh tâm thần, có cô chồng gần bằng tuổi cha mình. Cô không nói cùng chung ngôn ngữ, cô không biết gia cảnh nhà chồng, cô bước lên máy bay, bay tít lên vòm trời rồi hạ xuống một vùng đất hoàn toàn xa lạ. Cô kêu lên “Má ơi!” 
 Nhưng má cô không thể nào nghe được tiếng kêu đó nữa. Cô mất liên lạc với gia đình, với quê nhà, ngay khi bước chân vào nhà chồng. Cô bị hành hạ, đánh đập, cô không biết chỗ trốn, không biết chỗ chạy. Nhà chồng trấn lột hết giấy tờ tùy thân của cô, cô không có một tờ giấy nào chứng minh cô là một người vợ đến từ phương xa, cô không có ngôn ngữ để giãi bầy.
Ở Đại Hàn, cô bị cả nhà chồng đánh đập. Cô bị đánh đến gẫy xương, cô chết, xác vứt xuống hầm như vất một con chó chết; cô bị đánh đến dập gan, nát phổi, cô chết ngay bên cạnh đứa con sơ sinh; hay cô tự tử vì không còn lối nào thoát ra được sự hành hạ ngoài cái chết. Cô ôm cả hai đứa con thơ dại nhẩy từ lầu cao xuống để ba mẹ con cùng chết. Đó là cách duy nhất có thể bảo vệ mình và con mình. 
 
Ở Đài Loan, sau khi làm vợ vài tháng, cô bị đánh đập gán cho bao nhiêu tội cô không hề có, trước khi họ mang đi bán, như bán một con heo vào những động mãi dâm. Cô mất hết đường về.
Ở Trung Quốc, hình ảnh những cô dâu Việt Nam mặc áo dài truyền thống được quảng cáo trên tường, trên cột đèn ngoài phố, với cái giá rẻ mạt kèm theo những hàng chữ: Không còn trinh, được đổi cô khác. Cô về đến nhà chồng mới hay mình được đem về làm con vật tế thần cho từ bố chồng, anh chồng, đến em trai của chồng. Người ta coi như mua về được một con nô lệ vừa lao động trong việc đồng áng vừa phục vụ tình dục cho những người đàn ông trong nhà. Cô cũng không bao giờ trốn được họa chăng là phép lạ.
Nhưng phép lạ, đôi khi cũng xẩy ra nên thế giới bên ngoài mới biết được những nghịch cảnh mà những cô gái Việt Nam gánh chịu. Có cô đã trốn thoát. 
 
Tại sao biết những chuyện bất hạnh như thế có thể xẩy ra cho mình mà các cô gái quê, vẫn theo nhau vào Sài Gòn tìm đến những dịch vụ hôn nhân với người nước ngoài.
Các bà mẹ vẫn hân hoan khi có con gái lấy chồng Hàn, chồng Đài Loan. Vì cũng trong mười cô chết thì có một cô may mắn sống, một cô không bị nhà chồng hành hạ và mang được tiền về cho cha mẹ ở cái làng nghèo nàn bên Việt Nam. Cái làng mà ruộng đồng, ao cá, không còn vì đất đai bị chiếm hết để xây cao ốc hay công xưởng, nhà máy. Có khi bị chiếm để xây những nghĩa địa cho các đại gia hay các ông lớn (chưa chết,) những ngôi nhà mồ, đắp tô với rồng bay phượng múa, phỏng theo mô hình cung điện của các vua chúa thời xưa bên Trung Hoa. 
 
Có bà mẹ đã nói: “Ôi! Trời kêu ai nấy dạ. Đâu có phải ai lấy chồng Hàn, chồng Đài Loan cũng chết hay cũng bị mang bán cả đâu. May mắn nó mang tiền về xây nhà mới cho mình chứ lấy chồng Việt để ôm nhau chết đói à?” Có bà ngoại, bà nội nhìn con cháu bé lên bốn lên năm cất tiếng khen: “Con bé này xinh quá, nuôi cho mau lớn rồi gả chồng Hàn.”
Tôi đã nhiều lần đọc được những cái tin như thế, nghe lòng bải hoải cả mấy tuần. Cứ tự hỏi: Sao ở trong nước, không có phu nhân hay một tiểu thư nào là vợ, con, của một ông Bộ Trưởng, ông Tổng Giám Đốc, ông Thủ Tướng hay một Đại Gia nào đó với gia tài cả trăm triệu, cả bạc tỷ Mỹ kim, đứng lên làm một việc gì tốt lành cho những cô gái này, như: xây trường dạy nghề, hướng dẫn công việc, cho mượn vốn buôn bán, để cứu giúp những cô gái quê, ít học, có một công việc nuôi thân. Tôi nghĩ nếu các cô được hướng dẫn thì cái tỷ lệ mang thân làm dâu Hàn, dâu Đài Loan, dâu Trung Quốc sẽ bớt đi nhiều. Hay ít ra giúp họ tìm cho rõ ngọn nguồn trước khi ký vào những tờ giấy hôn thú mang rủi nhiều hơn may đó.
Cái động lực nào đã đưa các cô đến chỗ không sợ hãi trước những chuyện người chồng Hàn có thể đánh vợ cho đến chết, hay hành hạ cho đến lúc người phụ nữ phải tự tử để an thân. Người chồng Đài Loan có thể mang vợ đi bán cho ổ mãi dâm, hoặc chuyện phải làm nô lệ tình dục cho cả một gia đình bên Trung Quốc. Kinh hoàng quá!
Cái xã hội cô đang sống có đưa bàn tay nào ra, níu cô lại, giúp đỡ cô hay cũng chính cái xã hội đó thản nhiên nhìn cô bước vào một thế giới cô không có khả năng hình dung ra trước được. Đau thương quá! 
Cô đi lấy chồng như thế đau khổ cho cô, tủi nhục cho cha mẹ đã đành mà còn xấu hổ cho cả một quốc gia nữa. Ông anh tôi ở tiểu bang California, một hôm kể cho tôi nghe, ở cái Club anh chơi Tennis, anh gặp một người đàn ông Đại Hàn mới nhập hội chơi. Sau vài lần chơi chung, cà phê, ăn sáng hai người có vẻ hợp lắm. Một hôm anh Đại Hàn hỏi anh tôi người nước nào, anh tôi nói là người Việt Nam. Hôm sau thấy anh ta lạnh lùng ra mặt và có ý tránh không nói chuyện, mới đầu anh tôi không để ý, sau thấy mình hỏi anh ta lờ như không nghe. Anh tôi thấy vậy cũng phớt tỉnh. Anh không thích tôi thì tôi cũng chẳng cần thích anh. Bẵng độ hai ba tuần không nói với nhau, anh Đại Hàn bỗng một hôm quay lại thú thật: Mới đầu tôi tưởng ông là người Hoa hay người Phi, tôi không biết ông là Việt Nam. Tôi không thích dân Việt Nam, một cái dân gì mà cứ mang con gái họ bán hết cho nước này nước khác làm vợ. Người Hàn tử tế coi thường người Việt ở chỗ đó. Anh tôi nổi xùng. Thế cái thằng đi mua vợ rẻ có đáng khinh không? Hai bên lý sự một hồi, bất phân thắng bại. Bây giờ họ nói chuyện với nhau trong lúc chơi banh, nhưng vẫn không phải bạn. Một bên mua vợ giá rẻ và một bên bán vợ với bất cứ giá nào. Bên nào đáng khinh hơn.
Anh tôi kết luận: Nhục cho cả nước, anh em mình sang tận đây rồi mà vẫn nhục lây.
Có con mà gả chồng gần
Có bát canh cần nó cũng mang sang. 
Tôi được người lớn tuổi hơn giảng cho nghe: canh Cần là do chữ Tần Tảo (một loại rau Tần/ tảo là rau) Ngày trước người nghèo có thể kiếm rau tần trong vườn nấu những bát canh đạm bạc. Người con gái nghèo đi kiếm rau tần cả ngày được gọi là tần tảo. Nên mới có chữ “Tần Tảo” chỉ cho người phụ nữ chịu khó làm việc trong hoàn cảnh túng thiếu.
Bây giờ ở Việt Nam, các cô gái quê dù có muốn tần tảo cũng hiếm có cơ hội, cô  không lấy chồng gần, vì người chồng gần cũng chẳng có việc làm, cả hai vợ chồng cô giỏi lắm cũng chỉ kiếm được một bát canh cho cả gia đình, làm sao cô có cơ hội để đem sang chia cho cha cho mẹ được. Cô đành phải lấy chồng xa, cô coi thân cô như một cuộc bài may rủi. Biết đâu cô chẳng kiếm được người tử tế, biết đâu cô chẳng mang tiền về cho mẹ uống thuốc, cho mẹ có một bát canh thịt thơm ngon, cho cha sửa nhà, mua sắm truyền hình, tủ lạnh, biết đâu…, biết đâu…, biết đâu…Cô lại chết thảm thương như thế. Cô không kêu được:“Má ơi!” nữa rồi.
“Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.”
Tâm nào còn an được để đón xuân về!
(Jan. 2013)
Tơ nhện mùa xuân
mùa xuân treo trên cành hoa đào, những nụ còn xanh đã xôn xao, con chim bé xíu xòe cánh vẫy, đi ra đi vào dưới tán lá cong 
giữa hai nhánh hoa có con nhện chăng tơ mắc võng, nó chạy bên này sang bên kia, cái võng nó treo mong manh quá, em chỉ sợ gió thổi cuốn đi
nhưng gió hình như là rất nhẹ, nên chiếc võng đong đưa mà không rơi, những sợi tơ chùng như có ai kéo xuống, rồi lại buông tay khi tơ đang chơi vơi 
em bây giờ lòng mềm như tơ nhện, sợ chuyện thương tâm tránh chuyện buồn, chỉ muốn nghe những điều rất nhẹ, êm như ngọn gió ngày vào xuân
ngày vào xuân có khói thơm mùi trầm hương, có hoa thở nhẹ ở trong vườn, có hình bóng mẹ cha về ăn tết, có con, có cháu, có yêu thương 
ngày vào xuân lượng Trời như cha rộng tay ban phát, chim hót trong vườn, bướm bên hàng giậu, nhựa ở cành khô, lộc ở hoa, em dán lên tường câu đối đỏ, nhuộm tình rất cũ của hai ta 
ngày vào xuân tình Đất như mẹ mở lòng ra, cho anh cho em con cá ở sông, con bò trên cánh đồng, cho cả bánh chưng trên bàn, con gà trong bếp, em ôm vào lòng nghe mật chẩy đầy tay
ngày vào xuân bạn cũ gặp nhau như những giọt rượu nồng đựng chung trong chén, mỗi ngày ta sống là một hồng ân, ta tặng cho nhau từng mảnh xuân rất mới, ngửa mặt uống vào trong ngực cả thâm ân. 
hãy hưởng những ngày mùa xuân thật đẹp, võng nhện thời gian cứ chao qua
giọt thời gian mới rơi nhè nhẹ, nhẹ như tơ nhện mới như xuân.
Trần Mộng Tú
(Xuân Quý Tỵ - 2013)

"Tự ái dân tộc" ! : VỀ GIÁO SƯ JOEL BRINKLEY CỦA ÐẠI HỌC STANFORD

VỀ GIÁO SƯ JOEL BRINKLEY CỦA ÐẠI HỌC STANFORD



JOEL BRINKLEY, một giáo sư tại Ðại Học Stanford Hoa Kỳ, từng được giải Pulizer, cựu phái viên hải ngoại của báo New York Times đã đưa lên Chicago Tribune’s website một bài viết thuật lại cuộc hành trình 10 ngày xuyên Việt Nam của ông ta với kết luận rằng “Người Việt Nam ăn thịt chuột nên trở thành hung hăng hiếu chiến”.
Ông Giáo sư Stanford này đã viết “Mặc dù đã có sự thành công về kinh tế, nhưng sự thèm ăn của người Việt Nam vẫn độc đáo, kỳ cục”(“Despite increasing prosperity, Vietnam 's appetites remain unique”)
Ông Joel Brinkley kể lại rằng trong cuộc hành trình tại Việt Nam này ông đã quan sát sự chết của những con sóc, chim và chuột. Ông viết như thế này “Bạn sẽ không tiêu phí nhiều thời gian tại Việt Nam trước khi bạn để ý thấy có một cái gì bất thường. Bạn không nghe chim hót, không thấy những con sóc chạy trên các cành cây hoặc thấy những con chuột nhốn nháo giữa những rác rưởi. Không có con chó nào được dắt ra đi trên đường. Nói tóm lại, bạn thấy hoàn toàn không có con thú hoang dã nào cũng như không có loài vật được nuôi trong nhà. Tất cả các loài vật ấy đã đi đâu hết? Bạn sẽ bị kinh ngạc khi biết: Hầu hết chúng đã bị ăn thịt.”
(Nguyên văn: “You don't have to spend much time in Vietnam before you notice something unusual. You hear no birds singing, see no squirrels scrambling up trees or rats scurrying among the garbage. No dogs out for a walk.
“In fact, you see almost no wild or domesticated animals at all. Where'd they all go? You might be surprised to know: Most have been eaten.”)
Ông Giáo Sư Stanford này đã đưa ra hai nhận định sau đây:
  1. “World Wildlife Fund describes the state as the world's greatest wildlife malefactor.” (Quỹ Bảo Vệ Thú Hoang Dã Thế Giới đã mô tả quốc gia này là nơi tàn ác nhất thế giới đối với thú hoang dã!”
  2. “Người Việt Nam có khuynh hướng hiếu chiến vì thích ăn thịt ố đặc biệt là thịt chuột, chim và chó.”
( Vietnam 's “aggressive tendencies” are tied to its penchant for eating meat – particularly rats, birds and dogs)
Những kết luận hồ đồ, thiếu cơ sở khoa học (cả nhân văn lẫn thực nghiệm) đã làm cho người Việt Nam và nhiều người khác trên thế giới phẫn nộ. Chưa nói đến vấn đề kiến thức văn hóa căn bản mà “vị” giáo sư Stanford, giải thưởng Pulizer này đã và đang có, mọi người cũng đã thấy rằng đây là một nhận định mang tính chất kỳ thị và thái độ hiếu chiến tấn công trực tiếp vào một nền văn hóa. Ðây là một hành động không thể dung thứ được. Bởi vì Joel Brinkley đường đường là một giáo sư của Ðại Học danh tiếng Stanford, một khôi nguyên Giải Pulizer chứ không phải là “đồ bỏ đi”.
Có lẽ vì vậy mà Ban Ðiều Hành của Tribune Media đã đưa ra một thông cáo nói rằng “bài báo nói trên không đáp ứng các tiêu chuẩn của báo chí, vì nó không được Ban Biên tật duyệt qua.
“Chúng tôi lấy làm tiếc vì chuyện nảy xẩy ra, và chúng tôi sẽ thận trọng dể bảo đảm rằng trong tương lai quá trình biên tập sẽ luôn được thực hiện.”
Tục ngữ Việt Nam có câu “Một người làm xấu cả bậu mang nhơ” không biết các giío sư đồng nghiệp của Joel Brinkley đã nghĩ như thế nào?
Không ai có thể ngờ rằng một vị Giáo sư Ðại Học Stanford lại có những “công trình nghiên cứu thiếu thực nghiệm, thiếu cơ sở tâm sinh lý học như thế. Tôi không biết rõ ông Joel Brinkley dạy môn gì ở Ðại Học Stanford, nhưng qua những kết luận hồ đồ, tổng quá hoá thiếu luận lý, thiếu quan sát và thí nghiệm thì người ta thấy rõ rằng vị giáo sư thiếu một số kiến thức về môn Tâm Sinh Lý Học (Psychophysiology/ nghiên cứu về tương quan giữa Tâm Lý và sinh lý/ về ảnh hưởng về các chất trong cơ thể đến hành vi con người).
Ông cáo buộc rằng “người Việt Nam vì có khuynh hướng ăn thịt (nhất là thịt chuột, thịt chim và chó) nên có khuynh hướng hiếu chiến”. Chính cái kết luận hồ đồ này đã tố cáo sự thiếu kiến thức khoa học nhân văn và thực nghiệm của ông Giáo sư Joel Brinkley. Có lẽ ông không hề biết Lamarck, Darwin và thuyết tiến hóa, cũng không theo dõi các công trình nghiên cứu Tâm Sinh Lý Học trên Cambridge Journals Online vân vân nên mới pham những khuyết điểm trầm trọng như vậy.
Ðúng thế, Brinkley nói ông đã đi xuyên suốt Việt Nam trong 10 ngày. Mười ngày trên một con đường thiên lý Nam-Bắc hơn 2,000 km (khoảng 1,300 miles), ông đi bằng gì và quan sát theo phương pháp nào? Ông đã đi qua những thành phố nào? Những khu rừng nào và dừng lại được bao lâu để kết luận rằng “không nghe chim hót, không thấy những con sóc chạy trên các cành cây hoặc thấy những con chuột nhốn nháo giữa những rác rưởi. Không có con chó nào được dắt ra đi trên đường. Nói tóm lại, bạn thấy hoàn toàn không có con thú hoang dã nào cũng như không có loài vật được nuôi trong nhà.”
Ông nói là: ”khộng có con chó nào được dắt ra đường cả” để chứng minh là không có chó nuôi trong nhà! Thật ông quá ngây ngô nếu không muốn nói là dốt về văn hóa Việt Nam . Người Việt nuôi chó không phải để “dắt đi chơi” ông Brinkley ạ! Họ nuôi chó để giữ nhà và có thể để dọn phân con trẻ nữa. Ngoài ra chó ở Việt Nam được thả rong, không cần thiết chủ nhà phải “Walk a dog” như ở Mỹ.
Ông giáo sư Stanford đặt câu hỏi “Tất cả các loài vật ấy đã đi đâu hết?” và tự trả lời “Bạn sẽ bị kinh ngạc khi biết: Hầu hết chúng đã bị ăn thịt.”
Ðúng là nói mò! Ngưới Việt ít ai ăn thịt sóc, thịt chuột, chỉ có người nghèo khó không mua được thịt bò, heo, gà mới dùng đến chuột. Còn thịt chó thì là món thích khẩu của một số người, đa số là người miền Bắc. Người ta cũng nuôi chó để ăn thịt giống như một vài vùng ở miền Tây Trung cộng. Họ ăn thịt chó vào mùa Thu và Ðông vì cho là bổ phổi. Không ăn vào mùa hè.
Ðiều quan trọng nhất cần nói với ông Joel Brinkley là chưa có một nghiên cứu nào về tương quan giữa thái độ hiếu chiến nơi con người và việc ăn thịt cả. Theo thống kê thì Hoa Kỳ là quốc gia có dân ăn thịt đông thứ nhì thế giới, giáo sư Brinkley có biết không?
Một phó Giáo sư Môi Sinh con người tại trường Ðại Học Rutgers và là chuyên gia Bảo Tồn Sinh vật Hoang dã tại Việt Nam, bà Pamela McElwee nói “Tôi không hiểu là tại sao ông ta (Joel Brinkley) lại có thể đi từ việc không thích người ăn thịt chó, thịt chuột đến ý tưởng liên quan với việc bảo tồn thú vật hoang dã tại Việt Nam.” Bà Pamela McElwee cũng chỉ trích việc liên kết thói quen ăn thịt của người Việt Nam với sự hiếu chiến. Bà nói rằng tất cả các quốc gia Ðông Nam Á đều đã phải lâm vào cảnh chiến tranh.”
Trong một cuộc phỏng vấn sau khi bị chỉ trích, Brinkley nói ông ta đã rút kết luận từ mười ngày quan sát của ông tại Việt Nam . “Tôi đi với một nhóm và đó là nhận xét mà tất cả chúng tôi cùng có đó là không có đời sống hoang dã tại Việt Nam .”
Trên Website báo chí JimRomenesko.com, Brikley biện bạch cho khẳng định của ông rằng thói quen ăn thịt làm cho người Việt Nam hiếu chiến hơn các dân tộc láng giềng Ðông Nam Á. “Thức ăn hàng ngày đơn giản giầu chất protéin sẽ làm cho bạn cường tráng hơn kẻ khác, tại Lào, Căm-Bốt và các nước Ðông Nam Á khác người ta ăn gạo và rất ít thứ khác. Do đó mà một nửa số trẻ em Lào lớn lên bị còi cọp, ngay cả ngày nay. Tại Căm-Bốt thì tỷ lệ này là 40 phần trăm. Có nghĩa là họ tăng trưởng ngắn hạn và không sang trọng lắm. Cũng có thể do đó mà họ sẽ ít hiếu chiến hơn người Việt Nam chăng? Tôi nghĩ như vậy.”
Tôy nhận thấy rằng giáo sư Stanford Joel Brinkley càng chống chế càng lòi cái dốt của ông ra. Xin hỏi ông “khờ-me đỏ có phải người Căm-Bốt không? Ông có biết Polpot như thế nào không? Ông có biết thực phẩm chính của người Việt Nam là gì không? Người Lào ăn xôi, thì người Việt Nam ăn cơm, cũng từ “rice” mà ra đấy ông giáo sư Brinkley ạ! Ngoài ra, đa số người Việt Nam hiện nay dưới chế độ cộng sản không có thịt mà ăn đâu, làm sao nói là có thói quen! Tầng lớp cán bộ cao cấp và đại gia mới ăn nhiều thịt. Chắc ông giáo sư đã được bọn này tiếp đón, đãi đằng, nên mới suy ra là dân Việt Nam có thói quen ăn thịt!
Tâm tính của một dân tộc tùy thuộc vào nòi giống, hoàn cảnh sinh hoạt và phong thủy của khu vực chứ không phải do thức ăn ra. Ông giáo sư Brinkley chắc chắn không ăn thịt chó, thịt chuột, nhưng sao cách ăn nói của ông không nhã nhặn hiền lành một chút nào cả?
Ông nên biết là cái kết luận hồ đồ, thiếu cơ sở nghiên cứu, thiếu kiến thức tối thiểu về văn hóa địa phương của ông là một thái độ hiếu chiến tấn công trực diện vào văn hóa của một dân tộc khác (dù ông chối rằng “which was not my intension”) cũng ít ai tin được.
Có người suy đoàn rằng: “Có lẽ ông đã bị một tên cán bộ cộng sản Việt Nam nào đó, chẳng những nó không cho phép ông dẫn đoàn người của ông đến quan sát một số nơi nào đó, mà còn dứt khoát xua đuổi ông với thái độ thô bạo, nên ‘Thua me gỡ bài cào” khi về Mỹ, ông viết bài đăng báo để rửa hận và trả đũa. Giận mất khôn, ông giáo sư Stanford này đã vơ đũa cả nắm, phạm sai lầm trầm trọng về phương diện nghiên cứu và liêm sỉ trí thức.
BẰNG CẤP, CHỨC VỊ VÀ GIẢI THƯỞNG KHÔNG THỂ BẢO ÐẢM LÀ CÓ ÐỦ KIẾN THỨC: ÐÓ LÀ TRƯỜNG HỢP JOEL BRINKLEY CỦA ÐẠI HỌC STANFORD

NGUYỄN-CHÂU

 ----
 "Tự ái dân tộc" ! 

VỀ GIÁO SƯ JOEL BRINKLEY CỦA ÐẠI HỌC STANFORD


Kính thưa quý đồng hương,
Là người Việt Nam ai mà không cảm thấy bị "tổn thương" vì lòng "tự ái dân tộc" chính đáng khi có ngưòi nói năng kỳ thị đối với dân tộc mình.
Tuy nhiên, tôi không cho rằng "Có lẽ ông đã bị một tên cán bộ Cộng Sản Việt Nam nào đó, chẳng những nó không cho phép đoàn người của ông đến quan sát một số nơi nào đó, mà còn dứt khoát xua đuổi ông với thái độ thô bạo, nên 'Thua me gỡ bài cào' khi về Mỹ, ông viết bài đăng báo để rửa hận và trả đũa. Giận mất khôn, ông giáo sư Stanford nầy đã vơ đũa cả nắm, phạm sai lầm trầm trọng về phương diện nghiên cứu và liêm sỉ trí thức" là một điều suy đoán của ai đó đâu.
Nếu người ai đó nói như thế là họ đã nói trúng phóc tim đen của ông Joel Brinkley, bất kể ông là một giáo sư có bằng cấp đầy mình của đại học Stanford đi nữa đó quý vị.
Hơn nữa, giáo sư Nguyễn Châu đã dạy dỗ cho ông giáo sư bá láp nầy một bài học bằng sự kiện thực tế. Đó là, ... "đa số người dân Việt Nam dưới chế độ cộng sản không có thịt mà ăn đâu, làm sao nói là có thói quen (ăn thịt) ! Tầng lớp cán bộ cao cấp và đại gia mới ăn nhiều thịt. Chắc ông giáo sư đã được bọn nầy tiếp đón, đãi đằng, nên mới suy ra là dân Việt Nam có thói quen ăn thịt !
Thiển nghĩ, ông giáo sư đại học Stanford nầy đã vun tay quá trán và đã lỡ "bút sa gà chết" rồi. Thế nào ông ta cũng không tránh khỏi tự ái về "cái tôi" của mình mà nguỵ biện để chửa thẹn.
Tôi đề nghị quý vị khi đọc bài viết của GS Joel Brinkley thì cứ tự động thay thế 3 chữ "người Việt Nam" bằng 4 chữ "những thằng Việt Cộng" hay "những con Việt Cộng" hay "những tên đại gia" để nhuận sắc bài viết của ông giáo sư "sai lầm trầm trọng về nghiên cứu và liêm sỉ trí thức".
Ngoài ra, quý vị cũng đừng quên là có những kẻ "phản chiến", "trốn quân dịch",... đã trở thành "tổng thống, giáo sư, viện trưởng đại học HK,...? Chỉ có xã hội Mỹ mới có như thế mà thôi!
Vài hàng thô thiển xin góp tiếng trước một vấn đề liên quan đến tự ái dân tộc Việt.
Trước thềm năm mới, kính chúc quý vị được vạn sự an lành.
Trân trọng kính chào quý vị.
Người lính già QLVNH Võ Văn SĨ

Nữ Thủ Tướng Úc tham gia hội Tết Việt Nam và ca tụng sự thành công của người gốc Việt

Cali Today News - Nữ Thủ Tướng Úc Julia Gillard đã tham gia vào hội chợ Tết của người Úc gốc Việt ở Sydney tối thứ bảy qua và bà lên tiếng ca tụng nhiều thập niên thành công của cộng đồng gốc Việt trên đất Úc.
Tại Hội Chợ Fairfield Showground nằm về phía tây Sydneyd, bà Gillard lên tiếng: “Năm 1977, một chiếc tàu nhỏ bằng gỗ vượt biển từ Vịnh Thái Lan, tiến đến vùng duyên hải phía bắc Úc rồi đến gần Darwin”.
Bà Thủ tướng đọc diễn văn.
Bà nói : “Trên tàu lúc đó có 31 thuyền nhân Việt Nam khao khát tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Rồi 35 năm trôi qua, người gốc Việt đã thành công với lòng quyết tâm, tràn đầy tham vọng và họ  mở hết tấm lòng cho Úc châu”
Bà Gillard cho là chuyến tàu vượt biên năm đó là thử thách cho nước Úc vì đây là lần vượt biên lớn lao nhất từ Châu Á vào Úc kể từ thời kỳ đổ xô đi tìm vàng đến nay.
Bà nói: “Giờ đây thế hệ thứ nhất đó đã luống tuổi, nhưng con cháu họ đã hòa nhập một cách thành công vang dội trong nhiều lãnh vực ở quốc gia này”
Thế hệ thứ ba của dòng thuyền nhân đầu tiên của người Việt, theo bà Thủ Tướng Úc, đã nói “một thứ tiếng Anh đặc sệt giọng Úc rồi”. Bà Gillard nói: “Quý vị đã đến đây, có người chỉ còn bộ đồ mặc trên người, nhưng không phải đi bằng hai tay không, mà bằng cả lòng hy vọng”
Bà kết luận tuyệt vời: “Quý vị đã cố gắng bắt lấy cơ hội, đã vào quốc tịch Úc với lòng quyết tâm và đã chấp nhận cuộc sống mới với tầt cả tấm lòng. Giờ đây chúng tôi xin đón Tết cùng với quý vị bằng hai chữ “cám ơn”
Trường Giang (nguồn AAP)

Beverly Hills: Chuyện Xấu Hổ Chết Đi Sống Lại!

Chết Đi Sống Lại!
Thời bà con trong nước choá mắt vì Việt kiều giầu có xưa rồi.
Beverly HillsNay là cảnh dân Việt tại Mỹ bất ngờ khi đón người từ trong nước du lịch Mỹ.

“Anh Ngọc, Thứ Bẩy tới vợ chồng Phương Dung đến Los Angeles. Tất cả nhóm bạn ở Nam California sẽ đi gặp Phương Dung nhưng còn đang bàn tính là không biết nên dẫn vợ chồng Phương Dung đi ăn ở nhà hàng nào”.

Vợ tôi gọi điện thoại nói chuyện với tôi trong sở. Phương Dung là bạn học chung Đại học Văn Khoa với vợ tôi sau 1975, vẫn còn ở SàiGòn. Vì thời cuộc, nhóm bạn Đại học ấy một số di cư ra hải ngọai, một số sinh sống ở Việt Nam. Trong tất cả mấy cô học chung Đại Học Tổng Hợp năm 1978 đó, không một ai nổi tiếng và sung túc như Phương Dung bây giờ.

Tôi gặp vợ chồng Phương Dung lần đầu tiên năm 2000 khi chúng tôi dẫn cả bốn đứa con về Việt Nam để chúng nó mục kích tận mắt quê hương nguyên thủy của bố mẹ. Mặc dù Tổng Thống Clinton vào tháng 2 năm 1994 đã ký sắc lệnh bãi bỏ cấm vận với Việt Nam, mãi đến tháng 3 năm 1998 các công ty Mỹ mới được phép đầu tư, và đến tháng 7 năm 2000 thì chính phủ Mỹ mới cho phép Việt Nam tự do buôn bán ở thị trường Hoa Kỳ. Vì thế, năm 2000 Việt Nam vẫn còn là một quốc gia nghèo. Số người giầu có và số lượng xe hơi không tăng lên gấp mấy mươi lần như tôi nhận thấy vào tháng 2 năm 2008 ở SàiGòn (Số lượng hàng hoá xuất cảng từ Việt Nam sang Mỹ nhẩy vọt 900% từ 2001 so với năm 2009).

Tôi không biết gì về Phương Dung lúc bấy giờ, chỉ nghe vợ tôi nói có vợ chồng một cô bạn tên Phương Dung rủ đi ăn cơm tối. Vì gia đình tôi sáu người khá đông, và vì chúng tôi không biết nhà ở đâu, Phương Dung cho một chiếc xe van đến đón chúng tôi ở khách sạn. Chiếc xe khá to, có bốn băng ghế, anh tài xế chở chúng tôi đến một vi-la sát ngay ranh giới SàiGòn gần cầu xa lộ. Bên ngoài cổng gắn hệ thống camera kiểm soát, mở cổng ra khách thấy ngay một vườn hoa kiểng bên trái. Vợ chồng tôi đã dẫn con chúng tôi đi thăm vài gia đình ở SàiGòn nên chúng nó đã thấy đời sống dân tình như thế nào, nhưng đến nhà Phương Dung thì khác biệt. Bước chân vào nhà Phương Dung, cô con gái út nói với tôi: “Bố ơi, nhà này không khác gì nhà bên Mỹ.”. Cô con gái tôi nói đúng. Ngoại trừ một điểm là không có thảm, nhà Phương Dung thiết kế và trang hoàng như bên Mỹ với bàn ghế và đồ trang trí đắt tiền.

Mình thường nói được cái này, mất cái khác. Phương Dung là trường hợp ngoại lệ: vừa giầu mà lại vừa xinh đẹp, dáng người thon, da trắng, mặt có nét người Âu Mỹ, thoáng nhìn sẽ không nghĩ cô ta sinh sống ở Việt Nam. Trong một buổi đi ăn tối khác bạn bè cũ gặp nhau, có một anh ở SàiGòn ngày xưa cũng học chung lớp nhưng chưa bao giờ gặp Phương Dung cho đến khi chúng tôi về SàiGòn, khi gặp nhau anh ấy ngỡ rằng Phương Dung đang sống ở ngoại quốc nên hỏi Phương Dung đang sống ở quốc gia nào?

- Phương Dung bay đến San Francisco. Nghe nói là có ba má và em Phương Dung ở Arizona cũng qua California, tất cả sẽ cùng xuống Los Angeles. Nhóm bạn ở đây đang bàn không biết dẫn Phương Dung đi ăn ở đâu. Vợ tôi nói.

- Phương Dung chắc ăn món gì cũng được, Mỹ, Tầu, Nhật? Tôi hỏi.

- Phương Dung đi chơi ngoại quốc khắp nơi nên ăn món gì mà không được? Vợ tôi trả lời.

- Hay là mình rủ Phương Dung và gia đình đi ăn ở ToDai?

ToDai là một nhà hàng thức ăn đồ biển & sushi Nhật Bản seafood buffet, ăn tự chọn vô giới hạn, mở đầu tiên vào năm 1985 ở miền Nam California. Bây giờ ToDai có khoảng 25 chi nhánh, giá khoảng 30 dollar một người.

- Đến Todai thì đủ loại thức ăn, không thích món này thì ăn món khác. Rồi, nói với mọi người là mình chọn ToDai. Nhớ là đừng để Phương Dung trả tiền, chỉ một người trả rồi cả nhóm sẽ chia ra tính sau. Mình về SàiGòn đi ăn lúc nào Phương Dung cũng trả tiền, bây giờ cô ấy và gia đình qua đây chơi, mình rủ đi ăn, cả đám ở bên Mỹ lại để Phương Dung trả tiền thì kỳ lắm. Tôi nhất quyết.

Vợ tôi nghe xong cũng đồng quan điểm với tôi, nói là sẽ bàn với các cô khác nhất trí không để cho Phương Dung trả tiền. Ngày hẹn Thứ Bẩy thấm thoát đã đến. Vợ tôi đưa cho tôi địa chỉ khách sạn để tôi lái xe. Nhìn tên khách sạn Shutters On The Beach, tôi hơi giật mình vì đây là khách sạn năm sao, giá mướn phòng $450 dollars một đêm, tọa lạc ngay bãi biển Santa Monica, cách nhà tôi 40 phút lái xe. Tôi chưa bao giờ có bạn sang trọng hay khách của công ty tôi đến ở khách sạn này nên chưa có dịp đến khách sạn, dù rằng bãi biển Santa Monica gần nhà tôi nhất, mỗi lần đi biển thường thì tôi đến biển này.

Santa Monica là thành phố thiết lập đã lâu đời, và vì ngay bãi biển nên nhà cửa rất đắt tiền và chật chội. Tìm chỗ đậu xe do đó cũng khó khăn, nhưng sau hai mươi phút loay hoay tôi cũng tìm được chỗ đậu xe cách khách sạn bằng khoảng cách từ Móng Cái đến Hà Tiên. Vào quầy tiếp tân của khách sạn, chúng tôi gặp vợ chồng Mai đã đến trước, vợ chồng Phương Dung, và rồi ba cặp vợ chồng khác cũng lần lượt đến. Ngồi vào ghế ở khu phòng tiếp tân hàn huyên tâm sự, chúng tôi mới biết là vợ chồng Phương Dung mướn đến bốn phòng mỗi ngày trong chuyến đi du lịch bẩy ngày từ San Francisco đến San Diego, toàn là khách sạn năm sao. Một phòng cho hai vợ chồng, ba phòng kia cho hai người con, ba má và vài người khác trong gia đình từ Arizona bay sang đi chơi chung.

Sau vài mươi phút thăm hỏi, chúng tôi nói đến việc ăn tối. Chưa kịp đề nghị nơi ăn thì Phương Dung nói là đã tìm ra nhà hàng cho tối nay! Chúng tôi ai nấy cũng trố mắt ngạc nhiên vì vừa mới đến Los Angeles thì làm sao Phương Dung biết nhà hàng nào mà chọn. Hơn thế nữa, Phương Dung trú ngụ ở SàiGòn chứ đâu phải ở Hoa Kỳ? Phương Dung mới nói là hỏi quầy tiếp tân thì họ đã chỉ cho tiệm ăn nào sang nhất ở đây, Phương Dung không biết chỗ ấy ở đâu, nhưng người tài xế biết.

Gia đình của Phương Dung tổng cộng khoảng chừng 12 người. Chúng tôi cả thẩy là năm cặp vợ chồng lái xe riêng đến đây nên cùng nhau tính toán nếu mỗi xe chở thêm ba người nữa, năm xe sẽ chở thêm được 15 người. Nhóm tùy tùng của vợ chồng Phương Dung chỉ có 12 người, chia ra ngồi lên năm xe khác nhau thì đủ dư chỗ. Thế nhưng chưa kịp nói với mọi người thì Phương Dung đã bảo chúng tôi để hết xe lại ở khách sạn vì Phương Dung có xe chở. Tôi thắc mắc ghê gớm xe nào chở được hơn hai mươi người thì khi vừa bước chân ra khách sạn, mọi người chúng tôi, đám bạn Phương Dung ở Mỹ, lại trố mắt lần thứ hai: trước khách sạn đã có một chiếc xe bus to tướng, nhỏ hơn xe bus thường một cỡ, với khoảng chừng mười hàng ghế, hai dẫy hai bên, 40 chỗ ngồi, đậu chình ình trước cửa. Sau lời giải thích của Phương Dung, ai nấy đều há mồm kinh ngạc: vợ chồng Phương Dung bao cả chiếc xe bus và người tài xế Mỹ suốt thời gian một tuần từ San Francisco đến San Diego! Từ ngày sang Mỹ đến giờ, tôi chưa bao giờ biết một người nào ở đây mướn xe với luôn tài xế một ngày, huống chi là một người từ Việt Nam sang Mỹ, mướn xe không phải một ngày mà là một tuần, và không phải mướn xe hơi mà là xe bus!

Tất cả lên xe cho anh tài xế lái. Tôi nghĩ nhà hàng đâu đó gần khách sạn nên ngạc nhiên thấy anh tài xế lái vòng vo khá lâu, chừng 45 phút, len lỏi trong xe cộ đông đúc, từ Santa Monica qua Westwood Village, Wilshire, và rồi cuối cùng, Beverly Hills.

Beverly Hills là thành phố đắt hàng đầu nước Mỹ. Con đường shopping Rodeo Drive là nơi quy tụ cửa tiệm hàng hóa đắt nhất nước Mỹ. Ai đến ăn nhà hàng ở Beverly Hills, trả tiền xong về nhà ban đêm đi ngủ bảo đảm không những đau bụng mà ngày hôm sau sẽ phát hiện bệnh trĩ kinh niên vì bị ngất ngư trả tiền ăn hôm trước.

Chiếc xe bus chạy chầm chậm và cuối cùng dừng trước nhà hàng Mr. Chow. Beverly Hills có hai nhà hàng đắt nổi tiếng, Spago và Mr. Chow, khách đến ăn ở đó có thể gặp minh tinh tài tử Hollywood đến ăn trưa hay ăn tối. Sau mỗi đêm tranh giải Oscar, tài tử thường đến đây dự tiệc, và hôm nay chúng tôi sẽ ăn ở Mr. Chow!

Thấy chiếc xe bus trờ đến đậu ngay trước cửa rồi bao nhiêu người da vàng tóc đen Á Đông bước xuống đi vào tiệm ăn, hai anh Mỹ trắng trẻ làm nghề đậu xe cho khách (valet parking) nói thì thầm với nhau: “Mấy người Chinese này có nhiều tiền lắm đó!”. Đã đặt bàn sẵn và vì số khách quá đông, chúng tôi được mời lên một phòng riêng trên lầu.

Nói chuyện cà kê dê ngỗng là điều chính yếu thứ nhất khi bạn bè gặp lại nhau. Điều chính yếu thứ hai là gọi món ăn. Khi anh bồi bàn đem menu ra cho mọi người đọc, đám bạn Mỹ của Phương Dung chúng tôi da mặt đang hồng hào bỗng trở nên tái xanh: trung bình một món ăn khoảng 50 dollars, quá đắt so với giá nhà hàng bình thường khác. Thế nhưng phóng lao phải theo lao, ai nấy gọi phần ăn cho mình. Phương Dung đặt thêm nhiều món khai vị và ba chai rượu. Tôi nhanh nhẹn đếm số người trong bàn ăn: 22. Cho là một phần ăn $50 dollars, 22 người nhân 50 dollars là $1,100. Cộng với ba chai rượu, nước uống, món khai vị khác, khoảng $600, cộng với 8.5% thuế, cộng với 20% tiền bồi dưỡng, số tiền tổng cộng lên đến khoảng $2200 dollars. Mồ hôi tôi bắt đầu chẩy nhễ nhại khi tôi nhớ mấy ngày trước đã nói với vợ tôi là một người ở Mỹ trả tiền, nhất định đừng để Phương Dung trả. Bụng tôi bắt đầu đau quằn quoại vì tôi là người đầu tiên nói chỉ một người trả tiền, do đó người trả tiền hôm nay phải là tôi. Cái câu “nhất định đừng để Phương Dung trả tiền” làm tôi tiếc hùi hụi mình đã sẩy lời, không uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói. Nó như là một lưỡi dao vô hình khốc liệt hơn tất cả các loại bệnh hiện hữu trên thế giới, đang xoáy vào tim tôi với tốc độ sao xẹt, nhanh hơn cả chiêu Hoàng Gia Lim Lương (xà ngang đỡ trần nhà) của Cô Gái Đồ Long.

Từ giây phút ấy trở đi, chỉ lo nghĩ việc đại diện vợ và tất cả các bạn bên Mỹ rút cái thẻ tín dụng “cà” $2,200 tiền ăn tối, tôi càng trở nên nóng lạnh, không thấy tiệm này nấu ăn ngon một tí nào. Vậy mà minh tinh tài tử đến ăn! Tôi gọi món mì xào. Ngồi đếm mấy cọng mì trên đĩa, tôi tự nhủ chưa bao giờ tôi ăn ở tiệm nào mà một sợi mì bán đắt kinh khủng như vậy. Có khoảng chừng 50 sợi mì, có nghĩa một sợi là một đô-la! Tâm trạng của tôi có lẽ cũng giống như thâm tâm của bốn cặp vợ chồng bên Mỹ, ai nấy ăn trong chán chường đau khổ, ăn để mà sống chứ không phải sống để mà ăn, khi nghĩ đến cái bill sẽ trả, trong khi Phương Dung thì ăn nói huyên thuyên không nghỉ vì gặp cả người nhà lẫn bạn thân.

Có những lúc đọc một quyển sách thật hay mình không muốn nó chấm dứt, đó là tình trạng của tôi hiện giờ. Tôi muốn bữa cơm tối hôm nay kéo dài vĩnh viễn để chúng tôi không phải đối diện với cái hoá đơn khổng lồ đó. Nhưng việc phải đến rồi cũng đến. Sau gần hai giờ ăn tối, người bồi bàn đem cái bill ra, và chắc có lẽ Trời Phật đã hiểu thấu lòng vợ chồng tôi cũng như đám bạn Phương Dung bên Mỹ, anh ta đưa cái bill cho chồng Phương Dung! Trong suốt cuộc sống, tôi chưa bao giờ nợ ơn ai như nợ ơn anh bồi bàn của nhà hàng Mr. Chow tối hôm nay. Tôi như người vừa bị nhồi máu cơ tim đã chết đi nhưng may mắn có người hô hấp nhân tạo cứu sống lại kịp thời, bàng hoàng tỉnh giấc. Trong cả đám đàn ông ngồi ở bàn ăn, chỉ có chồng Phương Dung thoạt nhìn nổi bật ngay là tướng “đại gia” nên anh bồi mới đưa hóa đơn tính tiền cho chồng Phương Dung mà không đưa cho tôi hay mấy ông khác. Thật là hú hồn, hú vía. Thoát chết trong đường tơ kẽ tóc nhưng tim tôi vẫn còn đau nhói.

Phương Dung lấy cái bill, mở ví tay đầy ắp tiền $100 đô-la, gọi một anh trẻ trong đoàn tùy tùng của Phương Dung -anh chàng này ở Việt Nam, đi theo Phương Dung để thông dịch tiếng Anh (Phương Dung nói tiếng Pháp lưu loát), gọi anh bồi và trả tiền mặt trong khi anh chàng trai trẻ thông dịch những gì Phương Dung nói.

Tối hôm ấy cả đám bạn bên Mỹ của Phương Dung ra về với lòng hân hoan chưa từng thấy. Đây là một cảm giác chết đi sống lại kinh hoàng, khiếp đảm, hãi hùng…
Nguyễn Tài Ngọc

Bài Xem Nhiều