We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 15 February 2013

Chuyện có thật dưới XHCN: Làng Cổ Nhuế

Làng Cổ Nhuế

 
Lúc tôi còn nhỏ mẹ tôi thường đe tôi : 
‘’Nếu không học hành tử tế thì sau này chỉ có đi hót cứt thôi con ạ ‘’.

Hình ảnh người gánh phân suốt ngày lang thang trong cái thị trấn nghèo quê tôi làm tôi rùng mình. Cái tương lai có mùi khó ngửi này chẳng quyến rũ được ai. Nhưng mẹ tôi lầm. Thời tôi lớn đây là cái nghề hái ra tiền. Ít nhất cũng hơn hẳn cái sự kiếm ăn với cái bằng tiến sĩ của tôi. Anh biết đấy, viện Khoa Học của tôi nằm cạnh làng Cổ Nhuế, tôi có đủ sở cú để khẳng định với anh điều đó. Làng này sống bằng nghề hót cứt, có đền thờ Thành Hoàng hẳn hòi. Thành Hoàng làng Cổ Nhuế là một vị hót cứt chính hiệu. Trong đền người ta thờ đôi quang và chiếc đòn gánh cùng hai mảnh xương trâu cầm tay ... Người làng Cổ Nhuế đã đời này qua đời khác, ngày lại ngày, làm sạch cho thủ đô Hà Nội. 

Vua Lê Thánh Tông từng ban cho làng này câu đối :
’Khoác tấm áo bào giang tay gánh vác Thiên hạ
Vung hai thước kiếm, tận thu lòng dạ Thế gian’’. 

Anh đừng so sánh làng Cổ Nhuế với làng Phương Lưu ; cạnh trường đại học Hàng Hải của anh ở Hải Phòng. So sánh như thế là hạ nhục làng Cổ Nhuế của tôi đấy. Ngoài cái vinh quang của nghề hốt cứt (lao động là vinh quang), làng Cổ Nhuế còn là quê hương của một đại tướng : Ðại tướng Văn Tiến Dũng, cùng một tổ tiên vinh quang như các vị đồng hương gồng gánh của ông. Hơn nữa làng Phương Lưu của anh tuy hốt cứt nhưng chủ yếu sống bằng nghề đạo chích, chứ đâu có được ‘’tôn chỉ mục đích’’ như dân Cổ Nhuế.
Thanh niên Cổ Nhuế ta thề
Chưa đầy hai sọt chưa về quê hương 

Nhưng không phải dân làng Cổ Nhuế lúc nào cũng được hưởng cái vinh quang của lao động đâu anh ạ. Kể từ những năm hợp tác hóa ồ ạt vào cuối thập niên 50, nghề hót cứt đã phải chịu nhiều cay đắng. Người ta ngăn cấm những người nông dân đi hót cứt, coi như họ là những người trốn lao động, bỏ việc đồng áng để đi ‘’buôn’’ cứt. Người làng Cổ Nhuế phải tôn trọng pháp luật của đảng đành ngồi nhà mà tiếc rẻ những bãi...... đơn côi không người chăm sóc.

Chỉ mãi tới cuối năm 1986, sau đại hội đổi mới của đảng, đất đai được chia ra để cho các gia đình nông dân tự canh tác. Nghề trồng rau ở ngoại thành Hà Nội sống lại, người Cổ Nhuế mới lại được phép đi.... hót cứt và buôn... cứt.

Rau cỏ của xứ ta thơm ngon là nhờ phân Bắc. Các cụ lão nông chi điên dạy thế ! Phân hóa học cho dù là sản phẩm của trí tuệ văn minh, chỉ cho những thứ rau xanh tươi nhưng nhạt thếch.

Ðổi mới và cởi trói do mẫu công khai (Glasnost) có cái mặt trái của nó. Trước đây ai muốn đi hót cứt thì hót. Nhưng từ ngày người người đi hót, nhà nhà đi hót thì theo qui luật. ‘’Người khôn, của hiếm’’, dân Cổ Nhuế đã chiến đấu ngoan cường để dành lấy địa vị đầu ngành.... cứt Việt Nam.

Không biết đại tướng đồng hương , ngày ấy có can thiệp vào chuyện này hay không, nhưng theo qui dịnh của UBND thành phố HàNội dân ngoại thành không được phép tự do đi hót cứt và lấy cứt nữa. Trước đây ngoài những bãi cứt vô tổ chức, vô kỷ luật mà bất cứ ai cũng có thể hót. Người đi lấy cứt có thể đến làm vệ sinh cho các nhà xí hai ngăn ở các thành phố để để thu về cho mình một số cứt kiếm được. Bây giờ người nông dân ngoại thành bị bắt buộc phải mua phân tại chợ Cổ Nhuế, một chợ tự cổ chí kim, từ Ðông sang Tây đều không có, được thành lập năm 1989. Giá cả tùy thuộc chất lượng (nói sau).

Dân ngoại thành bây giờ trở thành người đi lấy phân thuê cho Cổ Nhuế. Họ được phân chia địa bàn hoạt động, theo lịch sắp xếp mang sản phẩm đến chợ nhưng không phải để họ tự bán. Họ chỉ được nhận phần trăm tiền bán mà giá do ban quản lý chợ Cổ Nhuế quyết dịnh. Chống lại ư ?? Mất việc ngay.

Ðội hậu bị, hàng ngàn người xung phong thay chân kiếm cứt (xã hội hiện tại cứt hơi ít lắm, nay phải kiếm, tức là phải đi làm vệ sinh để lấy cứt ở các hố xí, như đã nói trên) Ði kiếm cứt hơn hẳn làm thương nghiệp, đừng nói gì đến nông nghiệp. Mỗi lần tôi hỏi một anh Cổ Nhuế : 
- Giá cả như thế chắc các anh chóng giàu lắm. 
Anh đáp : 
- Anh Giai ơi, trông thế thôi, chứ kiếm được hai sọt thì cũng ăn mẹ nó hết một sọt rồi còn gi !?!

Trong chợ phân, xuất hiện phân giả. Người ta dùng đất xét thuồn qua ống nứa, giã nhỏ thân chối trộn lẫn với nghệ bôi bên ngoài và cho tất cả lẫn vào phân thật. Ðó là bí quyết. Phân giả gây náo loạn cho chợ phân khiên thanh niên Cổ Nhuế phải cử ra một bộ phận ‘’kiểm tra chất lượng’’ trước khi giao hàng. Anh còn nhớ dốc Bưởi chạy về viện Khoa Học không ? Trạm kiểm tra được lập ra tại đó, hoạt động từ mờ sáng đến trưa. Mùi uế khí từ tay các kiểm tra viên thọc thẳng vào sọt phân tìm của giả. Nhờ lành nghề và cương quyết, sau đó vài tuần, những đứa làm phân giả bị cắt giấy phép.

Tại chợ cứt được chia làm bốn loại:

- Hạng nhất (first class) là phân lấy từ khu Ba Ðình... nơi có nhiều gia đình quan chức nên cứt được coi là ‘’nạc’’(tiếng nhà nghề chỉ cục phân rắn chất lượng cao) (!).

- Hạng 2, Từ khu Hoàn Kiếm, nơi có nhiều dân buôn bán, nhiều nhà hàng khách sạn.

- Hạng 3. Từ khu Hai Bà Trưng và Ðống Ða, nơi đa số dân cư là ngưòi lao động, xài nhiều rau nên ‘’mờ’’ (nhiều nước lỏng bõng)

- Hạng 4. Từ ngoại thành, loại này xanh lẹt vì ‘’nguồn nguyên liệu thuần túy là rau muống. Bà con nông dân làm gì có thịt mà ăn.
Có lần tại chợ xuất hiện một sọt phân đề chữ : ‘’Phân ngoại 100 phần trăm’’. Dân chúng không hiểu tại sao có bọn dám qua mặt Hải quan, dám nhập cảng ‘’phân ngoại’’ về xài.

Về sau chủ nhân sọt phân giải thích : Phân lấy từ bể ‘’phốt’’ (fosse septique) của các sứ quán nước ngoài thì không phải là phân ngoại còn là gì ?

Ðây là những điều tai nghe mắt thấy, tôi ghi lại gửi anh để có dịp kể lại cho bà con xa nước nghe chơi... Cho biết quê hương ta có những thứ.... mà người ta hoàn toàn không có. Tôi bảo đảm đây là sự thật ‘’chăm phần chăm’’. Chuyện có thật dưới XHCN.

 Phạm Thế Việt 

Nobel Hòa Bình : Cái Ác Và Sự Dối Trá Đã Được " Vinh Danh."


ỦY BAN TRUY TỐ TỘI ÁC ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
TRUNG TÂM ĐIỀU HỢP TRUNG ƯƠNG

P.O. Box 6147, Fullerton, CA 92834
Điện thoại:
626-257-1057
Email: ubtttadcsvn.vg@...


====================
California, February 14, 2013

From:   Liên Thành
           Chủ Tịch Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
           P.O. Box 6147, Fullerton, Ca. 92834
           Phone: 626-257-1057
           Email: ubtttadcsvn.vg@...

To:       Chủ tịch Ủy Ban tuyển chọn giải Nobel Hòa Bình
            Quý Vị Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ: Dân biểu Ed Royce, Chủ Tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, U.S. Representatives Chris Smith (R-NJ), Zoe Lofgren (D-CA), Tổ chức Freedom Now, Thượng nghị sĩ Quốc hội Ý Đại Lợi, Marco Perduca, Dân biểu Quốc hội Pháp và Thị trưởng thành phố Bègles, Dân biểu Quốc hội Châu Âu, Ramon Tremosa i Balcels

Thưa Quý Vị,
Chúng tôi những người Việt Nam tị nạn cộng sản có mặt khắp toàn cầu được biết gần đây có tin ông Thích Quảng Độ sẽ được quý Ủy Ban đề nghị đưa tên vào danh sách tuyển chọn để nhận lãnh giải Nobel Hòa Bình.

Thưa Quý vị,
Nếu quả chuyện nầy có thật, chúng tôi mong rằng các ông nên xét lại quá trình hoạt động của ông Thích Quảng Độ trước, sau năm 1975, và hiện tại.

Theo chúng tôi được biết vấn đề tuyển chọn người nhận lãnh giải Nobel Hòa Bình phải là kẻ xứng đáng đúng với danh xưng giá trị của giải thưởng, chứ không thể như trước đây quý vị đã trao phần thưởng Nobel Hòa Bình cho Ông Lê Đức Thọ, một cán bộ cao cấp của cộng sản Việt Nam, và sau đó chẳng bao lâu cộng sản Việt Nam đã xé bỏ Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973, xua quân cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam vào ngày 30/4/1975. Đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra tang tóc, đau thương không sao kể hết. Hơn nửa triệu người Việt Nam đã bỏ mạng ngoài biển cả, nơi rừng sâu, khi họ phải tìm đường tị nạn cộng sản. Chính vì vậy, hiện nay có trên 3 triệu người Việt Nam đang sống đời lưu vong ở mọi quốc gia trên quả địa cầu nầy.

Đây là một thảm cảnh, một đau thương của dân tộc Việt Nam chúng tôi, vậy mà ông Lê Đức Thọ một cán bộ cao cấp trong hàng lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam vẫn được nhận lãnh giải thưởng Nobel Hòa Bình cao quý đó.

Lần nầy, ông Thích Quảng Độ nếu được các ông  tuyển chọn vào danh sách đề nghị nhận lãnh giải Nobel Hòa Bình thì quả thật “Ác Đã Thắng  Thiện, Giả Dối Đã Thắng Sự Thật” bởi lẽ:
Từ 1963-30/4/1975 ông Thích Quảng Độ và nhóm PGVNTN của ông ta như: Thích Trí Quang (a member of the Communist Party of Vietnam and the founder of PGVNTN), Thích Đôn Hậu, Thích Thiện Siêu, Thích Nhất Hạnh, Thích Thiện Minh (died in 1978), Thích Minh Châu, Thích Hộ Giác, Thích Huyền Quang đã là những lãnh tụ của phong trào gây rối do cộng Sản Việt Nam dựng lên tại miền Nam Việt Nam với mục đích giả dối là tranh đấu đem lại hòa bình cho nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhưng thực chất những cuộc tranh đấu của họ là nhằm phá nát hậu phương của 17 triệu dân miền nam Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho bọn cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam Việt Nam. Ông Quảng Độ và những người của ông ta đã có các hành động như:
Biểu tình chống đối các chính phủ  của miền Nam Việt Nam, kêu gọi đồng bào đình công bãi thị, tự thiêu, tuyệt thực, đưa bàn thờ Phật xuống đường, chiếm các công ốc, cơ sở của chính phủ, bắt ép học sinh, sinh viên bãi khóa, chận đốt các xe chuyển vận binh lính Hoa Kỳ và VNCH. Đốt tòa tổng Lãnh sự Hoa Kỳ, đốt Phòng thông tin Hoa kỳ, kêu gọi đuổi binh sĩ Hoa kỳ về nước, phản loạn chiếm cứ các tỉnh miền trung Việt Nam trong gần 100 ngày vào năm 1966. 

Kết quả của những hành động tạo rối loạn ở hậu phương đó là gì:

Hơn 56 ngàn thanh niên trẻ tuổi của Hoa Kỳ đã hy sinh trong một chiến trường khốc liệt tại nam Việt Nam với gần 2 trăm ngàn bị thương. 

Hơn 2 trăm ngàn người lính VNCH đã hy sinh với hằng trăm ngàn đã bị thương.

Để rồi vào cuối tháng 4/1975 tại thành phố Đà Nẵng, chính bọn họ với áo cà sa và cờ Phật giáo đã ngồi trên xe tăng T54 của cộng sản hân hoan đón tiếp CS vào thành phố Đà Nẵng, và tại Saigon đã có trên 500 tăng ni của bọn họ ra tận cửa ngõ của thành phố Saigon đón quân đội cộng sản vào tiếp nhận thành phố. (Xem các tài liệu chứng minh đính kèm thư này).

Sau 1975 và hiện tại, Thích Quảng Độ đóng vai là kẻ đối lập với chính quyền cộng sản Việt Nam. Ông ta cho mở một văn phòng điều hành lấy tên là Văn Phòng II Viện Hóa đạo Hải Ngoại.
Dieu Ngu Buddhist Temple, Overseas Office of the Unified Buddhist Church of Vietnam 14472 Chestnut Street, Westminster, CA 92683.

Văn phòng này được đặt tại một địa điểm có hàng trăm ngàn người Việt tị nạn CS cư ngụ. Văn phòng này và cơ quan truyền thông của ông ta đã tung ra những bản tin phỉnh gạt: 
“Đại Lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ hiện đang lãnh đạo giáo hội Phật Giáo VNTN đấu tranh trực diện với chính quyền cộng sản Việt Nam trong nước. Ngài đang bị quản thúc tại Thanh Minh Thiền Viện."

Thế nhưng, thực tế và thực trạng chỉ là một sự dối gạt của ông ta và tổ chức của ông ta đối với người Việt Nam ở quốc nội và quốc ngoại. Sự dối gạt đó đã bị phát hiện qua những dữ kiện như sau:
Những hình ảnh được phổ biến qua báo chí trong nước và hải ngoại cho thấy ông ta rất tự đo đi lại, tự do hội họp nhiều nơi tại Việt Nam, như vậy chứng minh rõ ràng ông ta không hề bị quản thúc.

Trực diện đấu tranh với chính quyền cộng sản Việt Nam vậy mà 37 năm qua chưa hề có một hành động nào chống đối cộng sản VN xẩy ra như ông và tổ chúc PGVNTN đã thực hiện đối với các chính phủ VNCH đệ I và đệ II trước 1975.

Trong 37 năm vừa qua ngoài việc vẫn giữ giọng điệu: PGVNTN (trong đó có đương sự) đã làm hai cuộc cách mạng không tiền khoáng hậu là đạp đổ hai chính thể Đệ I và Đệ II /VNCH do “ngoại bang dựng nên” (Thích Quảng Độ, 1967 & 1974), và sỉ nhục những người lính VNCH là lính đánh thuê cho Mỹ, hành động độc nhất của Thích Quảng Độ chống đối chính quyền cộng sản hết sức mãnh liệt là kêu gọi đồng bào Phật tử “Biểu tình tại gia”.

Tóm lại với nhiều lý do nêu trên chúng tôi thỉnh cầu quý vị nên mở cuộc điều tra tìm hiểu trước khi có quyết định đưa tên Thích Quảng Độ vào danh sách ứng viên được trao giải Nobel Hòa Bình.

Dân Tộc Việt Nam chúng tôi sẽ rất vui mừng và hảnh diện có được một người Việt Nam được đề cử nhận lãnh giải Nobel Hòa Bình, nhưng hy vọng rằng người đó sẽ không phải là Ông Thích Quảng Độ, còn nếu người đó là ông Thích Quảng Độ thì những người Việt Nam chúng tôi sẽ hết sức hổ thẹn vì, Cái Ác Và Sự Dối Trá Đã Được Các Ông Vinh Danh.

Trân trọng kính chào quý ông,






Liên Thành
Chủ Tịch Ủy Ban Truy Tố Tội Ác Đảng Cộng Sản Việt Nam
Cựu Chỉ Huy Phó và Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Thừa Thiên  Huế/VNCH 1966-1974. Người đã trực tiếp tham chiến và chịu trách nhiệm điều tra tội ác Mậu Thân 1968 tại Huế phía Việt Nam Cộng Hòa.
(Sẽ phổ biến bản dịch Anh ngữ đến Quý vị sau).

Phạm Duy truyện dài nhiều tập : Gần 63 năm đỏi lấy 8 năm

Tác giả có biệt hiệu "Con Cò" này viết khá chính xác về Phạm Duy. Chứng tỏ anh ta rất thông suốt về tình cảm và cuộc đời của người nhạc sĩ độc đáo này!

Gia đình ông Phạm Duy đều có máu Văn nghệ. Họ rất yêu nghệ thuật.

Ông anh cả là ông Phạm Duy Khiêm đã tốt nghiệp trường Quốc Gia Cao Đẳng Sư Phạp (École Normale Supérieure là trường nổi tiếng khó vào bậc nhất. Ra trường chỉ cần viết tên mình là Ancien élève de l'École Normale Supérieure là đủ cho mọi người biết ta là ai rồi). Ông Khiêm có viết hai cuốn sách (bằng Pháp văn) là "Légendes des Terres Sereines và "De Hanoi à La Courtine" được tiếng là văn chương rất hay.

Ông anh thư hai, Phạm Duy Nhượng, cũng là nhạc sĩ nhưng ông chỉ viết hai bản nhạc được người đời biết đến là bài "Tà Áo Văn Quân" và "Chiều Đô Thị"

Ông em út là nhạc sĩ Phạm Duy.


-----

Con Người Thật của Phạm Duy



Lời nói đầu
A6A359EC-E570-424C-A335-33410D718AC5_w640_r1_sNghĩa tử là nghĩa tận. Trước một “nhân vật của quần chúng” (a person of the public) vừa nằm xuống, giữ im lặng là thái độ nghiêm chỉnh nhất. Nhưng sự ra đi của Phạm Duy là một ngoại lệ. Nhiều người khen qúa độ. Nhiều người chê qúa lời. Nhiều người muốn khen, chê đúng mức mà không lên tiếng vì e ngại phản ứng của cả đôi bên. Đài BBC cũng tường thuật rất tỉ mỉ về đám tang của ông.

Hãy thử tìm con người đích thực của PD qua tác phẫm, hành động và lời nói của ông để biêt nguyên do của cái dư luận ồn ào sau tin ông qua đời.
 A / NHỮNG LÝ DO KHIẾN PD ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI NHẮC TỚI
1/ Ông là một nhạc sĩ được ngưỡng mộ bởi hàng triệu người Việt từ thế hệ trẻ tới thế hệ gìa, từ giới bình dân tới giới trí thức, từ thời chiến tới thời bình, từ chủ nghĩa Cộng Sản tới chủ nghĩa Tự Do, từ chính quyền độc tài tới chính quyền dân chủ, từ trong nước tới hải ngoại.
2/ Cảm tình của quần chúng đối với ông rất phức tạp. Nhiều người khen. Nhiều người chê. Nhiều người vừa khen vừa chê. Nhiều người trước khen nay chê. Nhiều người trước chê nay khen.
Phe Việt Cộng, sau nửa thế kỷ căm thù ông, nay mua chuộc ông để làm mồi cho chiêu bài “Hòa Giải Dân Tộc”.
Phe Tự Do, qua nửa thế kỷ qúy mến ông, nay ruồng bỏ ông vì nghĩ rằng ông bị kẻ thù mua chuộc.
Những biểu lộ ấy (khen-chê, yêu-ghét, mua chuộc-ruồng bỏ) rất thường tình. Thiên hạ không ngẫu nhiên ( có lý do thầm kín) gán ghép cho ông. Ông cũng không cố ý gây ra. Lối phát ngôn vụng về và nếp sống buông thả của ông đóng một vai trò quan trọng trong sự phán xét của họ.
3/ Những tác phẩm của ông, từ dân ca, tình ca, quân ca, đạo ca, nhi ca v. v.. đều có gía trị độc đáo: mang âm giai ngủ cung hài hòa của dân tộc và lời ca truyền cảm của ca dao.
4/ Nhạc phổ thơ của ông là một tuyệt kỹ. Giới truyền thông đã liệt ông vào hàng “phù thủy” của loại nhạc này. Dù phổ nguyên văn bài thơ (như Ngậm Ngùi của Huy Cận..) hoặc chỉ lấy ý thơ (như Tiếng Sáo Thiên Thai của Thế Lữ..) ông cũng làm cho thơ tăng thêm gía trị.
5/ Đời tư của ông có một vài tì vết. Ông sống buông thả theo thú vui xác thịt, bất chấp hậu qủa (vụ Khánh Ngọc và Julie Quang) khiến những người đạo đức khinh bỉ và những người đối lập khai thác.
6/ Lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước trong những tác phẩm của ông rất hiển hiện. Một người có tình yêu gỉa tạo không thể nào làm được những bài Tình Ca, Tình Hoài Hương, Quê nghèo, Về Miền Trung, Bà Mẹ Gio Linh, Nhớ Người Thương Binh, Vợ Chồng Quê, Em Bé Quê, Ngày Trờ Về, Con Đường Cái Quan, Mẹ Việt Nam, v.v…
uỳtht  8361230146_fe9690a1ae
B/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI KHEN
Hầu hết những người khen đều công nhận rằng ông là một “đại thụ” của nền tân nhạc Việt và là một nhạc sĩ có thiên tài, có lòng yêu dân, yêu quê, yêu nước chân thành. Có người đã tặng ông những đức tính mà thực sự ông không có (như khiêm nhượng, cao siêu). Thậm chí, có người còn vinh danh ông là chiến sĩ chống Cộng hoặc nhà tư tưởng thâm thúy. Những nhận xét như vậy chỉ đúng nửa vời:
1/ Qủa thực ông là một đại thụ của nền tân nhạc Việt. Nhưng đại thụ ấy có tỳ vết: ông đã 2 lần vi phạm luân ký Việt ( vụ Khánh Ngọc và Julie Quang).
2/ Ông không khiêm nhượng mà còn háo danh. Một thí dụ: Trong cuốn video Paris By Night 19, ông trả lời ký gỉa Lê Văn của đài BBC: “ Tôi muốn hậu thế nhắc đến tôi như một người Việt Nam”. Khiêm nhượng thay câu trả lời! Nhưng cũng trong cuốn video ấy ông nói: “ Tôi sẽ làm trường ca Hàn Mặc Tử bởi vì tôi đã có 10 bài Đạo Ca cho Phật giáo thì tôi cũng phải có một bài cho Công giáo mới công bằng”. Thế ra ông là người ban phát ân huệ cho 2 tôn giáo này! Nét háo danh đã lộ liễu trong lời nói vụng về ấy.
3/ Ông không phải là một chiến sĩ chống Cộng mà chỉ là một nhạc sĩ muốn được sinh hoạt văn nghệ mà không bị chỉ đạo bởi chính quyền. Ông bỏ Kháng Chiến về Thành không phải vì muốn xả thân cho lý tưởng chống Cộng mà vì muốn gia đình được sống thoải mái trong chính thể Dân Chủ và bản thân được tự do sắng tác theo tiếng nói của con tim.
Ông đã hưởng trọn vẹn ân huệ của những người đã hy sinh để bảo vệ chế độ dân chủ tự do cho gia đình ông sống yên vui. Bù lại, ông đã đền đáp công ơn của họ bằng vài trăm bài ca bất hủ xưng tụng những thứ cao đẹp mà họ trân qúy. Tuy ông không hy sinh xương máu cho chính nghĩa tự do nhưng ông đã góp phần không ít vào việc tô điểm nó. Tuy ông có nhiều điểm đáng khen nhưng không nên tặng ông cái vinh dự mà ông không xứng (chiến sĩ chống Cộng).
4/ Ông không phải là một nhân vật thâm thúy. Suốt đời, ông chưa nói được một câu nào xứng đáng cho danh hiệu ấy. Một bài nhạc của ông có câu: “Đừng cho không gian đụng thời gian”. Ông mượn ý đó trong thuyết Tương Đối của Albert Einstein (Einstein cho rằng chỉ có không gian, không có thời gian vì thời gian chỉ là phương tiện để đo lường không gian; thí dụ: hai thiên hà cách xa nhau một tỷ năm ánh sáng). Có người đã xin ông giải thích câu đó nhưng ông chỉ trả lời loanh quanh, vô nghĩa, chứng tỏ ông đã không hiểu ông muốn nói gì.
Thật là khôi hài khi một anh chàng văn sĩ VC nói câu này trong đám tang của ông: “ Nhạc PD còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn ”. Hắn nhái câu thậm xưng của Phạm Quỳnh trong thập niên 1930: “ Chuyện Kiều còn thì tiếng ta còn, tiếng ta còn thì nước ta còn”.
(Cũng nên mở một dấu ngoặc ở đây để nói rằng đừng vì một câu của một lãnh tụ CS ca ngợi ông mà chụp cái mũ “thân Cộng” cho ông).
5yyh  r5h5
C/ KIỂM ĐIỂM NHỮNG LỜI CHÊ
Những lời chê ông nở rộ trong 2 thời kỳ:
1/ Thời kỳ thứ nhất từ năm 1950 tới 2005:
Khi ông bỏ Kháng Chiến về Thành, VC đã chê ông là phản động.
Ông đã không phản động mà chỉ phản Cộng.
Phản Cộng vì Cộng không thể cung cấp những nhu cầu căn bản (cơm ăn, áo mặc) cho gia đình ông và không cho phép ông phục vụ văn nghệ theo sở trường mà còn buộc ông phải khai tử một bài hát vô tội (innocent): bài Bên Cầu Biên Giới. Giản dị thế thôi.
2/ Thời kỳ thứ hai từ 2005 cho tới nay:
Khi ông quyết định trở về VN để sống nốt tuổi gìa, một số nạn nhân bị CS đày đọa đã chê ông là phản bội những anh hùng chống Cộng.
Công bằng mà xét thì ông không phản bội ai cả. Lý do ông trở về quê bây giờ cũng giản dị như lý do ông về Thành thuở xưa.
Ở Hoa Kỳ, các con của ông không có nghề ngỗng gì ngoài nghề ca hát mà nghề này thì không cung ứng đủ những nhu cầu vật chất cho chúng. Cộng đồng người Mỹ gốc Việt không bao bọc nổi vài trăm ca nhạc sĩ Việt. Những người lớn tuổi, đã về hưu, gắng gượng mới có tiền dự những buổi đại nhạc hội được tổ chức xuân thu nhị kỳ vì. Giới trẻ trung thì thích nhạc Mỹ vì nó phong phú hơn, sống động hơn, giật gân hơn, hợp nhĩ hơn. Bản quyền sáng tác nhạc không được tôn trọng. Đĩa nhạc được sao chép và bán rẻ rúng công khai trong mọi tiệm nhạc. Sống nhờ trợ cấp xã hội thì không cam lòng. Chìa tay nhận 2000$ để phổ nhạc vài bài thơ “con cóc” của “vô thượng thiền sư” Thanh Hải thì tủi thân cho một nhạc sĩ tài danh như ông.
Giữa lúc nghèo túng thì cơ hội chợt tới: một khế ước trị gía 400 ngàn đô-la trong 4 năm để sưu tầm, hòa âm, trình diễn tất cả những bài ca do ông sáng tác tại VN từ 1945 tới 1975. Khế ước đó không buộc ông phải hòa âm những bản nhạc của VC hoặc sáng tác những bài ca mới cho VC. Thính gỉa của ông sẽ chỉ là những người thích nghe nhạc Phạm Duy bất kể chính kiến. Có thể ông đã biết một cái bẫy vô hình ẩn sau khế ước đó: sách lược“Hòa Giải Dân Tộc” của VC đang ở cao điểm trong thời gian này. Một người có “khí tiết” ắt không chấp thuận. Nhưng Phạm Duy không phải hạng người có khí tiết. Ông không thích sống “gương mẫu” mà thích sống thoải mái, buông thả, sung túc như thường tình.
Thế là ông đưa gia đình về quê hương sống ung dung trong 8 năm cho tới khi ông từ trần. Ông rất thích câu của ai đó nói rằng: “ Về đi thôi! Kiếp sau biết có hay không?”. Tính tình của ông khác đời ở chỗ: rất thích thú khi được khen và rất ít phiền hà khi bị chửi.
Trong 8 năm ấy ông đã gặp đủ hạng người, trong mọi lứa tuổi: ca nhạc sĩ đã quen hoặc chưa quen, thính gỉa yêu nhạc của ông dù đã biết hoặc chưa hề biết tên ông, lãnh tụ CS kể cả những người đã từng cấm hát nhạc của ông như Võ Văn Kiệt, Tố Hữu và Trần Bạch Đằng, người đã tuyên bố một câu vô liêm sỉ năm 1989: “ PD hãy tự sát đi, chúng tôi sẽ cho phổ biến nhạc của ông ta”. Dĩ nhiên ông không thể từ chối gặp mặt những lãnh tụ CS đã mở đường cho ông trở về. Cũng không đáng phàn nàn nếu ông muốn gặp một vài lãnh tụ CS đã chơi thân với ông trong thời kháng chiến chống Pháp. Ông rất dễ tính và vô tư trong việc gặp bạn cũ, chuyện làm qùa chỉ là chuyện tếu hoặc kỷ niệm xưa, không bàn về chính trị. Chả có gì đáng trách cho những cuộc gặp gỡ lấy lệ hoặc xã giao như vậy.
Có một điểm son đáng ghi nhận:
ông không hề bợ đỡ một lãnh tụ CS nào và cũng không hề nói súc phạm tới bất cứ ai của chính thể VNCH trong suốt thời gian 8 năm ấy (cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã phạm lỗi này).Tôi muốn tóm tắt thái độ của Phạm Duy trong một câu sơ sài: Khi sáng tác thì tận tình, khi vui chơi thì tận hưởng, khi nói năng thì thì tận tục. Duyên Anh đã thuật lại rằng PD, trong lúc đùa rỡn với bạn bè, đã nói trong hơi men: “ Ai ngu mới thích nghe nhạc của tôi. Chúng đã được làm trong cầu tiêu”. Có lẽ ông đã làm những bài Tục Ca trong cầu tiêu.
D/ KẾT LUẬN:
Nhạc sĩ tài danh Phạm Duy là một người đáng thương hại nhiều hơn là đáng trách cứ. Cuộc đời của ông trôi nổi qua nhiều vinh nhục, thăng trầm. Ông thích sống buông thả và chỉ có một tham vọng tích cực (productive): sáng tác những bản nhạc có gía trị.
Lối phát ngôn của ông thuộc loại Tú Xương (“Một thày, một cô một chó cái” hoặc “Cao lâu thường ăn quịt, gái đĩ lại chơi lường”). Từ 50 năm nay, chả có ai coi ông như một “qúy nhân”. Họ mến ông vì ông đã cống hiến cho họ nhiều bài ca bất hủ, và đi chung với họ trên một đoạn đường dài nhất của cuôc đời để cùng nhau “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.
Ông chưa bao giờ là công cụ của CS. Trong 5 năm theo Kháng Chiến chống Pháp, ông chưa hề làm một khúc ca xưng tụng một lãnh tụ CS nào mà chỉ xưng tụng những anh hùng, liệt sĩ chống ngoại xâm. Tới khi cáo hồ ló đuôi thì ông bỏ chúng về Thành.
Ông cũng chưa bao giờ là công cụ của chính quyền độc tài. Trong 25 năm sống trong chính thể Quốc gia, ông chưa hề làm một ca khúc suy tôn lãnh tụ nào. Những bài hát “xây dựng nông thôn” là những bài làm ra bởi một tác gỉa công chức hơn là bởi một nhạc sĩ chuyên nghiệp; chúng đã không thọ lâu.
Khoảng 100 bài ca bất hủ của ông đã đi sâu vào mọi làng xóm của thôn quê, mọi ngõ ngách của thành thị rồi “di tản” ra ngoại quốc để ve vuốt nỗi cô đơn của vài triệu người sống lưu vong.
Cuộc “trở về quê” của ông chỉ tổn thương cho thanh danh của cá nhân ông, không có ảnh hưởng đáng kể tới tinh thần chống cộng của quần chúng. Chả có ai “hòa giải dân tộc” với VC chỉ vì Phạm Duy đã hồi hương. Sự hòa giải ấy sẽ không bao giờ xảy ra. Nói cách khác, chỉ có hòa giải khi nào chính thể CS bị giải thể hoàn toàn. Còn nữa, chỉ có lực lượng của quần chúng ở trong nước mới có khả năng giải thể chúng. Vậy thì chả nên qúa quan tâm tới cái sách lược “Hòa Giải Dân Tộc” của chúng. Nó đã chết ngay sau khi vừa sinh ra. Chả nên chia sớt bớt nỗi căm thù VC rồi xối vào những ca nhạc sĩ như Phạm Duy, Từ Công Phụng, Khánh ly, Lệ Thu, Chế Linh v.v… Có một cái gì “bất đắc dĩ” trong viêc trở về của họ (như đã nói ở trên). Vả lại, họ không đem đô-la về nước để góp thêm ngoại tệ cho VC (như một số thương gia và những kẻ ham du hí) mà còn tiêu bớt ngoại tệ của chúng (lãnh thù lao bằng đô-la). Hãy thông cảm cho họ (thông cảm không có nghĩa là cổ võ cho người khác trở về) miễn là họ chỉ thân thiện với dân, chỉ hát cho dân nghe những bài ca mà chúng ta chấp nhận và không nói lảm nhảm, súc phạm tới tinh thần chống Cộng.
Riêng đối với Phạm Duy, hãy để cho ông yên nghỉ, gọi là đáp lễ những bài ca bất hủ mà ông đã cống hiến trong suốt cuộc đời ông. Nghĩa tử là nghĩa tận. Có cả ngàn người (phần lớn là thường dân) đã tiễn đưa ông tới nơi an nghỉ cuối cùng. Vài nhóm trong số người này vừa khóc vừa đồng ca trước mồ ông một số bài chọn lọc, trong đó có bài Tình Ca và một bài chưa được chính quyền VC cho phép (Những Gì Sẽ Đem Theo Vè Cõi Chết). Từ vạn dặm, chúng ta hãy gửi tới ông một chút thương cảm, một chút ngậm ngùi, một chút vị tha. Người yêu chuộng tự do lúc nào cũng tôn trọng tự do ngôn luận (trong đó có tự do chọn lựa lối sống) hơn bất cứ điều gì trên đời.
Ngày 6-2-2013
Con Cò
( Bác Sĩ Nguyễn Văn Bảo )

---
Tôi biết nó thằng nói câu đó
Không có gì quý hơn độc lập tự do."
Tôi biết nó, thằng nói câu nói đó
Tôi biết nó, đồng bào miền Bắc này biết nó
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó đầu tiên đem râu nó bện vào
Hình xác lão Mao lông lá
Bàn tay Nga đầy băng tuyết giá
Cũng nhoài qua lục địa Trung Hoa
Không phải xoa đầu mà túm tóc nó từ xa
Nó đứng không yên, tất bật, điên đầu
Lúc rụi vào Tàu, lúc rúc vào Nga
Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó

Và tình nguyện làm con chó nhỏ
Xông xáo giữ nhà gác ngõ cho cha anh


Nó tận thu từ quả trứng, quả chanh
Học lối hung tàn của cha anh nó
Cuộc chiến tranh chết vợi hết thanh niên
Đương diễn ra triền miên ghê gớm đó
Cũng là do Nga giật Tàu co
Tiếp nhiên liệu gây mồi cho nó
Súng, Tăng, Tên lửa, Tàu bay
Nếu không, nó đánh bằng tay?

Ôi đó, thứ độc lập không có gì quý hơn của nó!
Tôi biết rõ, đồng bào miền Bắc này biết rõ
Việc nó làm, tội nó phạm ra sao
Nó là tên trùm đao phủ năm nào
Hồi cải cách đã đem tù, đem bắn
Ðộ nửa triệu nông dân, rồi bảo là nhầm lẫn!
Ðường nó đi trùng điệp bất nhân
Hầm hập trời đêm nguyên thủy
Ðói khổ dựng cờ đại súy
Con cá lá rau nát nhầu quản lý
Tiếng thớt, tiếng dao vọng từ hồi ký
Tiếng thở, lời than đan họa ụp vào thân
Nó tập trung hàng chục vạn ngụy quân
Nạn nhân của đường lối "khoan hồng chí nhân" của nó.
Mọi tầng lớp nhân dân bị cầm chân trên đất nó
Tự do, không thời hạn đi tù!
Mắt nó nhìn ai cũng hóa kẻ thù
Vì ai cũng đói món nhục nhằn cắn răng tạm nuốt
Hiếm có gia đình không có người bị nó cho đi suốt.

Ðất nó thầm câm cũng chẳng được tha
Tất cả phải thành loa
Sa sả đêm ngày ngợi ca nó và Ðảng nó
Ðó là thứ tự do không có gì quý hơn của nó !
Ôi, Ðộc lập, Tự do !
Xưa cũng chỉ vì quý hai thứ đó
Ðất Bắc mắc lừa mất vào tay nó
Nhưng nay mà vẫn có người mơ hồ nghe nó
Nó mới vạn lần cần nguyền rủa thực to:
Hồ Chí Minh, chính mi loài quỷ dữ !

Nguyễn Chí Thiện


Bài Xem Nhiều