We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 17 February 2013

Đổ xô “cướp” hoa, đường Bạch Đằng náo loạn

Chủ Nhật, 17/02/2013 15:32

(NLĐO) – Sáng 17-2, trong lúc Ban tổ chức Đường hoa xuân Bạch Đằng tại Đà Nẵng tiến hành công tác tháo dỡ thì nhiều người dân đổ xô đến “cướp” hoa, khiến khung cảnh trở nên náo loạn.

Phòng Cảnh sát bảo vệ và cơ động Công an TP Đà Nẵng đã phải điều động 50 chiến sĩ bảo vệ hiện trường ngăn cản người dân vào cướp hoa. Tuy nhiên, nhiều người vẫn tận dụng triệt để các sơ hở để cướp bằng được những chậu hoa mang về nhà.
Đến trưa cùng ngày, khng cảnh dường như hỗn loạn, lực lượng công an trở nên bất lực bởi người kéo đến lấy hoa ngày càng đông.
Sau đây là một số hình ảnh được chúng tôi ghi lại:
Chỉ chạy xe một tay, tay kia vừa nắm vừa giữ cho chắc
Cụ già này cũng không bỏ qua dịp lấy hoa
Đi bộ cũng ráng 2 tay 2 chậu
Lực lượng bảo vệ cũng phải bó tay vì quá đông người cướp hoa
Người đàn ông này vui sướng vì đã "tranh thủ" kịp lúc
Tin-ảnh: Tr. Thường
http://nld.com.vn/20130217033219325p0c1002/do-xo-cuop-hoa-duong-bach-dang-nao-loan.htm

------
Tình đồng chí Việt Trung 1979
Babui
Nhân sĩ trí thức Việt Nam kêu gọi tưởng niệm chiến sĩ hy sinh chống Trung Quốc xâm lược
Tại một nghĩa trang quân đội ngoại ô Hà Nội ngày 1/02/2013. Một cựu chiến binh và nhà hoạt động chống Trung Quốc đặt hoa trên mộ các đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến tranh 1979,
Tại một nghĩa trang quân đội ngoại ô Hà Nội ngày 1/02/2013. Một cựu chiến binh và nhà hoạt động chống Trung Quốc đặt hoa trên mộ các đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến tranh 1979,
Reuters

Tú Anh
Một nhóm 12 nhân sĩ trí thức và sĩ quan cao cấp Việt Nam ký một bức thư chung ngày 17/02/102013, kêu gọi đồng bào trong và ngoài nước nhân ngày 17/02 biểu thị lòng yêu nước tưởng nhớ « những người con yêu của Tổ quốc hy sinh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược trong các trận đánh ngoan cường tại biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam cho đến Hoàng Sa, Trường Sa ».

Ngày 17/02/1979 hơn nửa triệu quân Trung Quốc tấn công toàn diện các tỉnh biên giới phía bắc. 34 năm sau, trong sự im lặng « khó hiểu » của chính quyền Việt Nam, nhiều nhà trí thức công bố một bức thư chung nhắc nhở ngày này là ngày Đặng Tiểu Bình xua nửa triệu quân đánh Việt Nam, chướng ngại ngăn chận tham vọng bá quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc .
Lời kêu gọi 17/02 do các nhân sĩ có tiếng tăm như TS Nguyễn Quang A, TS Lê Đăng Doanh, giáo sư Tương Lại, luật gia Lê Hiếu Đằng, bác sĩ Huỳnh Tấn Mẫm, thiếu tướng Lê Trọng Vĩnh, đại tá Phạm Xuân Phương …ký tên, mời gọi đồng bào trong và ngoài nước biểu lộ tình yêu nước bằng một nén hương, một cành hoa tưởng nhớ công ơn « những người con yêu Tổ quốc đã hy sinh trong cuộc chiến đấu chống Trung Quốc xâm lược tại biên giới phía bắc, phía tây nam, tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Lời kêu gọi này của các nhân sĩ không được đăng tải trên báo chí do Nhà nước kiểm soát. Tuy nhiên, báo Thanh Niên hôm nay đã đăng bài phỏng vấn Thiếu tướng Lê Văn Cương. Cựu viện trưởng viện nghiên cứu chiến lược lên án « Trung Quốc xâm lược » và đặt vấn đề tại sao học sinh Việt nam hoàn toàn không biết, không được học về cuộc chiến này. Thái độ im lặng khó hiểu của chế độ, theo tướng Lê Văn Cương, đã « xúc phạm đến linh hồn đồng bào chiến sĩ » và sẽ bị « hậu thế phê phán ». Thái độ « lãng quên » của chính quyền Việt Nam cũng gây thắc mắc trong giới học giả Nhật Bản, Hàn Quốc.
 

Tây-Ninh: Trảng-Bàng Thương Nhớ


Thương nhớ quê hương
Trảng-Bàng (Tây-Ninh)
"cái nôi của đặc sản văn hóa ẩm thực
bánh canh giò heo
và bánh tráng nướng phơi sương"
*****

Tô "Bacatraba" (Bánh Canh Trảng-Bàng).
An-Tiêm Mai Lý Cang (Paris)
Ai về thôn Trảng
Hãy nhớ đừng quên!
Nhặt lá cây Bàng
Cùng quê cùng phố cùng làng
Hỏi ai rõ cội trảng bàng ở đâu?

Quê hương là gì? Nếu không phải đó là một thứ tình cảm thân thương mà bạn và tôi vừa đã tìm thấy được mối liên hệ kỷ niệm ràng buộc chúng ta vào hình ảnh mái nhà, cục đất, con sông, chùa chiền, đình miếu, trường học, ngôi chợ, buội tre, bờ ruộng, ao làng và còn nữa... Do vậy, yếu tố của thời gian là cột mốc đánh dấu cho một quảng đường đời lịch sử đã đi qua và giữ lại những ấn tượng sâu sắc trong tâm hồn của hầu hết mọi người. Và người ta có thể nói không sai, chính quá khứ vô tình đó đã làm trăn trở con tim của những con người vì hoàn cảnh cuộc đời cho nên phải đành chấp nhận âm thầm một cuộc sống ly hương buồn bã. Nhưng đành vậy, vì đó là số kiếp phù sinh chung của thế nhân da màu bốn giống. Là định mệnh tuần hoàn trong vòng trật tự của hoàn cảnh vạn vật đổi thay, không thể nào thoát ra khỏi được ngoài vòng trật tự biến hóa sanh linh theo ý nghĩa vô thường.
Tuy nhiên, sợi dây thân ái vô hình của bầu không khí quê mẹ, vầng trăng treo nghiêng nghiêng trên ngọn cây dừa, những lúc đêm về có nước sông khuya dâng tràn lên mí cỏ ở thôn trang ta ngày trước. Ngày nay, chính lại là hình ảnh của những bức tranh vô giá, khó mà diễn tả ra cho hết được bằng những thứ ngôn ngữ tầm thường mà chúng ta thường hay quen sử dụng nói chuyện với nhau. Hơn thế nữa, sống lâu ngày ở một nơi quá xa tầm ảnh hưởng văn hóa, phong tục của giống nòi. Và nếu có một câu hỏi nào được đặt ra, nói về tình cảm của con người mang tính chất thắm tình đạo nghĩa vốn là rường cột căn bản của đặc tính dân tộc ta, thiø câu trả lời xứng đáng nhất có thể đó là câu nói "Quê Hương Đẹp Hơn Cả" [1] .
Thật vậy, không mến yêu sao được vì nơi ấy chúng ta hãy còn để lại kỷ niệm cuốn rún dưới cội cây xoài, cây mít...Và từ lâu, chính những vị trí đó từng được tượng trưng xem như là những ngôi từ đường thiêng liêng đã có công giữ gìn gia phả nhục thể cho xác thân tạm bợ nầy của chúng ta. Còn nữa, nếu trong đời sống bình dị của dân gian mình thường dí dỏm với những bài hát, câu thơ, tiếng hò, lời ru mộc mạc...Và khi nó đã thể hiện ra được mối tình thiết tha ca tụng quê hương, thì câu chuyện hoang đường cáo chết ba năm quay đầu về núi cũng có ý nghĩa đủ để cho tâm hồn của chúng ta bao giờ cũng vẫn phải nhớ mãi về bóng dáng xóm làng mình.
Do vậy, thường thì những kẻ tha phương nhưng hễ mỗi khi nghe nhắc tới quê hương chôn nhau cắt rún của mình, thì điều trước tiên là trái tim vương vấn trong tâm hồn của họ không khỏi bị rung động rất nhiều. Và họ lại còn có dịp, để hình dung ra ngay về hình ảnh dưới mái nhà ấm cúng gia đình mà chính họ đã từng nương náu với nhiều kỷ niệm gắn bó cuộc đời cùng với mọi cảnh quang làng mạc. Tuy nhiên, nói chung là cũng có một điều mà nó sẽ làm cho họ phải bị ngạc nhiên ít nhiều. Đó là theo dòng chảy xoáy mòn của thời gian, vô tình đã làm cho tất cả hình ảnh và mọi sự việc trong quá khứ đều phải bị đổi thay không còn nguyên vẹn được như xưa.
Trường hợp Trảng-Bàng quê hương tôi cũng vậy!
Dưới triều đại của vua Minh-Mạng (1791-1841), vùng đất ở địa phương nầy vốn là một trục lộ giao thông huyết mạch về nhu cầu chiến lược quốc phòng, ảnh hưởng ngoại giao đối với lân bang vương quốc Khmer, cho nên đã được triều điønh chọn làm địa điểm dinh điền, đóng chốt quân sự. Và vị tiền hiền đầu tiên từng được nhà vua phong tước, đã trấn nhiệm ở nơi nầy lúc bấy giờ là ông Cả Trước (Đặng-văn-Trước). Và điønh thần tọa lạc ở ngay trung tâm huyện lị nầy, xưa nay còn đó, chính là biểu tượng tỏ lòng biết ơn sâu xa của toàn thể dân làng đối với công đức của ông.

Đền thờ ông Cả Trước tại Trảng-Bàng.


Rồi trải qua bao thời kỳ bị nạn chiến tranh tàn phá và sau mấy thế hệ đời người cùng với đồng bào cả nước góp công lao xây dựng phát triển quê hương, làm đẹp xóm làng, thì giờ đây, khoảng mới chừng vài thập niên vừa mới trôi qua. Từ một điểm địa lý có cái tên dân dã được nhìn thấy bằng nét chấm nhỏ trên bản đồ thân yêu tổ quốc, vậy mà cục đất già nua Trảng-Bàng phút chốc bỗng vươn mình đứng dậy, trở thành một thị trấn quan trọng trên trục lộ giao thông xuyên Á. Sự phát triển quá mau lẹ nầy, cũng đã từng làm cho ngay cả người dân bản địa phải kinh ngạc rất nhiều. Ngày nay, quốc lộ 1 đi ngang qua huyện lị nầy đã đổi tên thành quốc lộ 22A. Và ngôi chợ mới xây cất khang trang hơn, thì được dời về phía giáp ngoại ô của trung tâm thành phố Trảng-Bàng.
Đi thực tế hơn, thiø hoàn cảnh xã hội nước nhà hiện nay đã có rất nhiều sự thay đổi rất lớn về mọi mặt. Nói riêng về các công trình thiết kế, quy hoạch đô thị, chỉnh trang thành phố, thì người ta từng nhận thấy là những dấu hiệu mở mang ấy ngày nay hãy còn tiếp tục phát triển không ngừng. giống như sự vận hành của dòng chảy con sông siết xoáy vỡ bờ tạo thành nên những chi lưu. Do vậy, mà hầu hết cảnh quang từ ở đô thị, tỉnh thành, làng mạc ở khắp mọi nơi bây giờ đều được kể như là hoàn toàn đã bị lột xác. Do vậy, cục đất Trảng-Bàng bây giờ nó cũng không còn được thơ mộng như xưa, nơi mà từng có những dải phố bé nhỏ lụp xụp lúc nào như cũng im lìm trong giấc ngủ.
Trong lịch sử mở mang biên cương bảo vệ sự sinh tồn, thì trên con đường khai phá tiến về phương Nam, tổ tiên của chúng ta thường hay có thói quen, là đặt tên cho từng mỗi địa phương tiếp cận qua sự cảm nhận bằng trực giác của mình. Do vậy, người ta rất dễ hiểu nếu khi xưa có dịp đã từng nghe cũng có rất nhiều trường hợp giống in nhau, chẳng hạn như nào là: Động-Lông-Công, Truông-Mít, Trại-Bí, Rỗng-Tượng, Suối Ông Hùng, Bàu-Rong [2]v.v. Và cái địa danh Trảng-Bàng xa xưa nằm trong tỉnh Tây-Ninh, cũng không thể bị loại trừ ra khỏi thành ngoại lệ đó.
Tuy nhiên, nếu bây giờ muốn đặt vấn đề để truy tầm sự kiện chứng từ có giá trị về lịch sử của vùng địa lý đó, thiø cũng không phải là chuyện dễ. Chính vì lẽ đó mà ngày nay người ta có thể tạm kết luận bằng giả thuyết cho là cục đất Trảng-Bàng khi xưa, vốn là một cái trảng đất to rộng có rất nhiều cây bàng hơn bất cứ chỗ nào ở quanh vùng. Và nói riêng về phương diện tổ chức đơn vị hành chánh, thì cục đất mang tên Trảng-Bàng cũng đã được chính quyền khi xưa quyết định sử dụng chọn đặt thành tên của địa phương nầy khởi từ năm 1867, nếu tính cho đến thời điểm hôm nay (2012) thiø đã được 145 năm. Và cũng do nhờ có tuổi hành chánh khá lâu lại cộng thêm vào với yếu tố địa hình thuận tiện, cho nên Trảng-Bàng bao giờ cũng có một vị thế quan trọng về trục giao thông ở quanh vùng. Cần nói rõ hơn, là trước sau, thì Trảng-Bàng cũng vốn là hình ảnh của một huyện lị già nhất trong tỉnh Tây-Ninh.
Rồi trải qua bao thăng trầm, thiø lịch sử về vùng địa lý hành chánh của mảng đất thiêng nầy có thể được người ta ví như là như hình ảnh của một đứa con lưu lạc. Nay, nó may mắn đã được đoàn tụ gia điønh, châu về hiệp phố để bám lại vào với vùng đất mẹ cũ xưa có muôn ngàn vẻ đẹp thiên nhiên của núi rừng gấm vóc. Và rồi từ những bờ xôi, ruộng mật, nhiều cánh đồng xanh tươi bát ngát trong một sớm chiều đã trở thành khu đất công nghiệp hiện đại được mọc lên bằng với cảnh quang tươi mát, hệ thống cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh. Đường nội bộ thì được trải bê tông nhựa trọng tải vật liệu nặng, và có cả hồ bơi sạch sẽ bên cạnh những hàng cây tô điểm nên thơ ở bên vệ đường.

Cổng vào khu công nghiệp hiện đại
Trảng-Bàng.


Sau tốc độ bứt phá của thời gian, giờ đây thường xuyên mỗi ngày nhất là vào lúc những buổi chiều về, người ta sẽ có dịp mục kích cảnh tượng công nhân viên từ các khu công nghiệp đồng loạt nổ xe máy túa ra y như hoạt cảnh của một đàn ong vỡ tổ, làm rối loạn giao thông gần cả giờ đồng hồ trên đoạn đường xuyên qua trung tâm thành phố Trảng-Bàng. Cần nói rõ thêm, là lúc ấy người ta gần như không hề thấy có bóng dáng của bất cứ chiếc xe đạp nào trên khúc lộ đó. Sở dĩ khuôn mặt Trảng-Bàng ngày nay đã được mau lẹ đổi thay, phát triển không ngừng là nhờ cục đất nầy may mắn có ưu thế địa lợi, là do có nhiều công ty nước ngoài đến đây đầu tư vào các xí nghiệp, cho nên nhu cầu thu hút số lượng lớn bàn tay lao động địa phương lúc nào cũng được họ đón nhận sự hợp tác. Và khu công ngiệp hiện đại "Trảng-Bàng" (vốn là một thí điểm được thành lập đầu tiên ở trong tỉnh Tây-Ninh đã thành công) cũng như khu chế xuất "Linh-Trung III"đều cùng tọa lạc trên đất thuộc xã An-Tịnh hiện nay đã có hơn 30.000 công nhân địa phương và gần 700 nhân viên người nước ngoài luân phiên nhau cùng làm việc thường trực đêm ngày. (Chưa kể đến con số nhân công sẽ đến làm việc ở khu công nghiệp sinh thái "Bourbon" An-Hòa, khu công nghiệp liên hợp "Phước-Đông - Bời-Lời", khu công nghiệp "Gia-Bình", khu công nghiệp"Bàu Rong", khu công nghiệp "Bàu Hai Năm" theo diện quy hoạch dự trù hoàn tất cho đến tới năm 2015). Do vậy, nếu tính theo ước lượng về lợi tức thu nhập bình quân đầu người thì bây giờ Trảng-Bàng là một huyện lị giàu có nhất trong tỉnh Tây-Ninh. Điều nầy, có thể giải thích cho người ta dễ hiểu về nguyên nhân thu hút di dân lao động miền xa đến đây ngày càng nhiều. Hiện nay, tổng số dân cư trong huyện được ước lượng đã có khoảng trên dưới 150.000 đầu người cùng sống trong một diện tích đất đai 334,61 km2 gồm cả hai con sông chảy ngang qua địa phận là sông Vàm-Cỏ-Đông và sông Sài-Gòn. Và theo tổ chức tái cấu trúc các cơ sở đơn vị hành chánh địa phương bây giờ, thì huyện gồm có thị trấn Trảng-Bàng cùng với 10 xã là: Gia-Lộc, Gia-Bình, An-Hòa, Lộc-Hưng, Đôn-Thuận, An-Tịnh, Hưng-Thịnh và Bình-Thạnh, Phước-Lưu, Phước-Chỉ. Nói riêng, là về địa lý của ba xã nằm ở ven biên sau cùng nầy thì đều giáp ranh với lãnh thổ của Campuchia.
Trong lịch sử phân chia quản hạt về vùng địa lý hành chánh huyện lị của nước Việt-Nam ta từ xưa đến nay, người ta phải nói rằng hiếm thấy có duyên phận những cái huyện nào đã từng long đong bị rơi vào cái cảnh chia ly, đoàn tụ như là trường hợp của vùng đất Trảng-Bàng. Nguyên thủy dưới triều nhà Nguyễn, thì nó nằm trong huyện Quang-Hóa trực thuộc phủ Tây-Ninh, dạo ấy thuộc về Gia-Định trong bản đồ Nam Kỳ Lục Tỉnh . Rồi sau đó được nhập vào tỉnh Tây-Ninh, rồi lại bị rơi vào cái cảnh cắt chia ra nữa. Đó là vào những năm cuối cùng khi sắp kết thúc chiến tranh Việt-Nam, thì Trảng-Bàng được tách ra khỏi Tây-Ninh để sát nhập vào tỉnh Hậu-Nghĩa vào năm 1963 sau một thời kỳ bị đổi tên là Phú-Đức vào năm 1961. Và sau khi thống nhất nước nhà thì thêm một lần nữa là Trảng-Bàng lại được châu về hiệp phố, để đoàn tụ gắn bó trở lại với miền đất núi rừng nguyên thủy của nó là Tây-Ninh.
Và vì cũng là một vùng đất văn hóa địa phương đa dạng, cho nên người ta cũng không quên là từ thuở xa xưa...Nếu đem so với quận Châu-Thành và Gò-Dầu-Hạ (của Tây-Ninh hồi đó), thì Trảng-Bàng còn là một quận có rất nhiều tệ đoan xã hội về mặt tứ đổ tường(sắc nha tửu bác) - nhất là á phiện, bài bạc, số đề. Thời kỳ đó, người ta thường thấy có những con người say sưa rượu chè, bê tha nghiện ngập hút xách thân hình vàng vọt, xác xơ ngồi cú rũ ngáp dài bên trên các sạp chợ lúc vắng người. Đặc biệt có nhiều kỷ niệm ấn tượng của tuổi thơ, là hình ảnh đánh trống, chập chả đập lùng tùng xèng của các đám sơn đông mãi võ vào những buổi sáng mai họp chợ. Họ biểu diễn võ thuật, hát ca rồi bán thuốc rượu, cao đơn hoàn tán và làm nhiều trò ảo thuật trông rất vui mắt. Ngoài ra, lúc bấy giờ, các đoàn hát cải lương lớn nhỏ nào ở Sài-Gòn cũng đều có dịp đến triønh diễn văn nghệ ở tại địa phương nầy. Lý do thứ nhất, là vì Trảng-Bàng có rạp hát Đồng-Phước (trong khi ngày xưa nhiều quận không có rạp hát, cho nên các gánh hát thường xuyên phải che lều dựng rạp ngay trong các nhà lồng tại chợ). Và những nghệ sĩ thượng thặng như Út Trà-Ôn (đệ nhất danh ca Vọng-cổ), Út Bạch-Lan v.v cũng như những nghệ sĩ lớp trẻ nổi danh thời đó như Juliette-Nga (tức Thanh-Nga từng đoạt nhiều lần giải Thanh-Tâm), Ánh-Hoa v.v cũng đã từng đến đây triønh diễn nghệ thuật sân khấu cải lương, và có dịp nếm mùi gạo chợ nước sông của đất Trảng-Bàng.Lý do kế tiếp cũng là vì người dân sở tại, vốn có tinh thần ham mộ tiếng ca vọng cổ từ lâu.
Người ta cũng không quên, là trong bối cảnh của xã hội quốc gia cũng lúc bấy giờ, thì cái mốt chưng diện của nam thanh nữ tú là đầu chảy tém, áo cao bồi (chim cò) dành cho phái nam, còn áo (dài) phết gót đầu chảy kiểu tango dành cho phái nữ. Và người ta cũng được nhìn thấy, là hiện tượng nầy đã có xuất hiện khá nhiều ở làng nầy.
Đất Trảng-Bàng ngày xưa, thường được người ta nói vui là cái gì cũng có. Từ chợ búa, tiệm tùng, lò sát sinh, bến xe ngựa, bến ghe, xe đò, xe hàng, rạp hát và cả hồ bơi dã ngoại của...trời cho nữa. (Các nơi tắm lộ thiên là: vũng trâu nằm cạnh đình Gia-Lộc, bến tắm ngựa cạnh giếng Mạch, bàu Lộc-Du cạnh ba cây Thốt-Nốt và khúc kinh Trảng-Bàng cạnh chùa Ông Ba). Có điều, có thể ít được người biết đến. Là nếu ngày nay, đất Trảng-Bàng được người ta nhắc đến nhiều nhờ có đặc sản ẩm thực bánh canh địa phương, thiø ngày trước món bánh ướt, bánh hỏi cũng được rất nhiều cư dân xa gần ưa thích. Tưởng cũng cần nói rõ hơn, là các món ăn đặc sản địa phương nầy xuất xứ cũng từ ngay khu chợ Gia-Huỳnh. Và các cư dân miền Lộc-Hưng, Động Lông-Công, Gia-Biønh, Tha-La, An-Tịnh, Suối Cụt v.v mỗi khi có dịp đi vào Trảng-Bàng đều không bỏ lỡ thì giờ để đến các nơi thưởng thức những hương vị của quê hương.
Nói chung, về màu sắc sinh hoạt nơi đường xưa lối cũ Trảng-Bàng ngày ấy rất là nên thơ vì nhờ cái hồn làng mạc đơn sơ, hiền hòa, chơn chất. Và dù cho có những hình ảnh của các ông già nhà quê bới tóc, ngồi chồm hổm trên ghế đẩu trong tiệm uống cà phê đổ ra dĩa hớp ngon lành. Các bà già cục mịch thản nhiên bỏm bẻm nhai trầu nhổ bừa bãi, tứ tung. Hay có dịp nghe qua các câu chuyện ma quái lộng hành khi xưa dưới gốc cây bàng, thì ngoài tiếng kêu la đêm vắng trong lò mổ heo, còn phải hiểu thêm rằng...Là nơi đây, khi xưa cũng là đất dụng võ của các nhà pháp sư chuyên nghề lừa đảo lên đồng, đi thiếp, khiển trò múa bóng nhập hồn, gieo rắc dị đoan v.v. Nhưng thực tế, thổ ngơi Trảng-Bàng không đến nỗi nào phải có những chuyện mê tín hoang đường kiểu"hồn Trương-Ba da hàng thịt" theo như lời truyền khẩu đùa dzai của các hàng đệ tử lưu linh mỗi khi nhắc tới miền đất ở nơi nầy thuở nào, quê một cục!
Dù rằng đó là những nhận xét qua bức tranh toàn cảnh về màu sắc văn hóa, xã hội sinh động đặc trưng của xóm làng. Tuy nhiên, nó cũng không thể tiêu biểu cho toàn thể sức sống hồn thiêng của tất cả bà con thôn ấp trong suốt thời kỳ chiến tranh đau khổ xảy ra trên đất nước. Dẫu sao, là bằng hữu con dân nghĩa tình làng xã thì mọi người chúng ta ai nấy đều cũng phải có bổn phận liên đới để duy triø liên hệ tinh thần, và bảo vệ, phát huy những đường nét tinh hoa của một ý nghĩa lịch sử không gian thời đi trước.
Trảng-Bàng ngày xưa vốn là một dải đất lành, ở gần vùng Rỗng Tượng. Nơi đây có voi già, và cọp sơn cước Bà Đen từ miệt Kà-Tum lâu lâu bén mảng về làng ăn thịt gia súc trâu bò. Và chỉ thấy xuất hiện giai nhân từng nhỏ gịot! Tuy nhiên, cũng có những người con gái quê làng mới ngày nào chẳng biết cái chi chi...Thế mà ngoảnh mặt lại, thì đã tới kỳ thấy có những ông già se duyên áo dài khăn đóng xông vào nhà mai mối. Do vậy, những chàng trai chậm chân hay vốn có tình yêu nở muộn, thì đành phải an ủi tâm hồn của bậc nam nhi đại trượng phu rằng là ta đây hãy còn nợ núi sông chưa trả, lại sao phải sớm riêng tư lụy gái đã có...chồng! Ngoài ra, Trảng-Bàng cũng còn có những tấm gương bà mẹ tùng phu trọn đạo, quyết nuôi con trở thành gái thảo trai hiền, học hành giỏi giang tới nơi đến chốn. Và trong suốt cả thời gian cuộc đời tần tảo, không dám cam kết lập nên tờ "bát tự liên canh"[3] với bất cứ gia điønh một ai ở trong làng. Thế mà, thỉnh thoảng trong những buổi tiệc tân hôn nơi huyện lẻ đêm buồn, người ta nhận thấy có những kẻ thầm thương trộm nhớ lỡ chuyến tàu, âm thầm xuất hiện để lộ ra đôi dòng hạt lệ chân tình, mộc mạc...Và đó cũng là tất cả những hình ảnh của thời quá khứ đầy kỷ niệm vui buồn.

Bia tháp cổ
Bình-Thạnh Trảng-Bàng.


Còn thực tế ngày nay sau khi chấm dứt chiến tranh, thì lại có thêm một điều lý thú bất ngờ đã làm cho cục đất nầy đã trở thành một địa danh quyến rủ. Trảng-Bàng bây giờ được đánh giá coi như là một nơi có tiềm năng khai thác du lịch, và sự kiện nầy không phải chỉ riêng do nhờ vào có các món ăn đặc sản nổi tiếng địa phương quen thuộc. Nguyên nhân chính của nó, là do có sự may mắn còn tồn tại dấu vết kho tàng của một công trình kiến trúc mang tính tiêu biểu cho nền văn hóa Óc-Eo, theo như tài liệu nghiên cứu của nhà khảo cổ. Đó là hình ảnh của một ngôi tháp khá còn nguyên vẹn vừa được trùng tu, tọa lạc ở trong vùng địa lý Trảng-Bàng. Và thực sự ngày nay chính nhờ vào ảnh hưởng giá trị của kho tàng văn minh tháp cổ Bình-Thạnh (mà dân địa phương quen gọi là tháp Chàm đó), đã khiến cho bây giờ có rất nhiều du khách hiếu kỳ bắt đầu tiøm đến nơi đây để tham quan. Hơn thế nữa, từ lâu ngọn núi Bà-Đen cao ngất từng được người ta ví như là cái nóc nhà của miền đất phương Nam, từng hấp dẫn được hàng triệu du khách thập phương chiêm bái, vãng cảnh. Nay, đất nước hòa bình thì hình ảnh của ngôi tháp Bình-Thạnh, Trảng-Bàng cũng thường được họ ghép thêm vào trong những tuyến tham quan quanh vùng non nước Tây-Ninh. Tháp cổ nầy là một trong hai ngôi tháp hiếm hoi duy nhất được tìm thấy ở miền Nam, đặc biệt nói riêng là hai tháp nầy đều nằm ở trong vùng địa lý Tây-Ninh. Tháp Biønh-Thạnh (Trảng-Bàng) thì khá còn nguyên vẹn hơn hẳn tháp Chóp-Mạt (Tân-Biên) và đã được Hội Nghiên-Cứu Đông-Dương phát hiện vào năm 1886. Trong nhiều thập niên dài, vì lý do chiến tranh và đường giao thông trắc trở cho nên tháp bị hoang phế quá lâu đến nỗi có nhiều người địa phương cũng chưa hề có dịp được tiøm đến tham quan. Tuy nhiên, trước khi quần thể thánh địa Mỹ-Sơn nơi biểu tượng cho lịch sử của tháp cổ Chămpa được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là di sản văn hoá thế giới vào năm 1999, thì trước đó, Bộ Văn-Hóa Thông-Tin cũng đã chính thức công nhận xếp ngôi tháp cổ Bình-Thạnh nầy vào di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1993.

Tháp cổ Bình-Thạnh Trảng-Bàng.


Theo chức năng và mô hình xây dựng của tháp nầy, thì nó giống tương tợ như lối kiến trúc của các đền tháp Chàm ở miền Trung hiện còn tồn tại. Và mặc dù tuy chưa có thể khẳng định được một cách hoàn toàn chính xác về phương pháp xây dựng, nhưng kỹ thuật làm cho các viên gạch chất chồng lên được dính trết và khắng khít chặt chẽ với nhau thì quả thật là một kỳ công tuyệt xảo. Và mặc dù là một công trình di tích lịch sử văn hóa giá trị có tầm vóc quốc gia nhưng tháp cổ Bình-Thạnh nầy lại cũng vẫn không được nổi danh. Và cũng không được người dân trong nước biết đến nhiều hơn là nhà thờ Tha-La, cùng tọa lạc ven bờ sông Vàm-Cỏ-Đông thuộc địa giới của huyện Trảng-Bàng. Tuy nhiên, trong thực tế thì cả hai biểu tượng mang tính hồn thiêng tôn giáo đó, đều cũng không được đồng bào cả nước có dịp biết đến cho bằng món văn hóa ẩm thực dân gian hiện nay đang cực thịnh hành phổ biến từ Nam ra Bắc. Và người dân Trảng-Bàng chính cống ngày nay hết sức lấy làm tự hào, vì quê hương của mình chính là cái nôi đã sản sinh ra món ăn đặc sản nổi tiếng là bánh canh.
Trước năm 1975, tại Sài-Gòn duy nhất chỉ có một tiệm bánh canh Trảng-Bàng chính cống ở tại đường Lý-Thái-Tổ và hiện nay vẫn còn tồn tại. Bây giờ, thì dịch vụ nầy được rất nhiều doanh nhân đã bỏ vốn đầu tư vào các tiệm bánh canh hiện tràn lan ra cả những thành phố lớn ở trong nước. Do vậy, cho nên ngày nay người ta cũng lần bớt ngạc nhiên khi nghe có nhiều người gọi tên cho món ăn đó là phở thịt heo. Thậm chí hơn, là người ta còn có dịp nhìn thấy món ăn đặc sản nầy bây giờ được quảng cáo nhan nhản với cái tên rất ngoại là Bacatraba, tức là bánh canh Trảng-Bàng.

Lò bánh tráng.


Lịch sử của món ăn bánh canh giò heo Trảng-Bàng bắt nguồn từ ở chợ Gia-Huỳnh. Bên cạnh chợ Gia-Huỳnh (là một trong hai cái chợ ở Trảng-Bàng) khi xưa chỉ có một cái quán nhỏ chuyên nghề bán bánh canh. Thuở ấy, vì không có đối thủ cạnh tranh cho nên chất lượng hương vị trình bày trong tô bánh canh có thể không bằng kỹ thuật bây giờ, nhưng về công thức chế biến chủ yếu thì vẫn giống in nhau. Hơn thế nữa, chính hình thức trình bày của món ăn bánh tráng nướng phơi sương cuốn thịt heo dạo ấy cũng không được người ta khai thác triệt để như thời buổi bây giờ. Nghệ thuật chế biến thành bánh canh, cũng như bánh tráng nướng phơi sương đều phải trải qua những giai đoạn khá công phu, cầu kỳ mới có thể được bảo đảm về chất lượng. Bánh canh thiø phải làm bằng bột gạo thơm ngon, đem xay nhuyễn chế thành tinh bột, hấp chín rối ép thành từng sợi tròn dài thành mẩu trắng tinh. Về bánh tráng nướng phơi sương, thì gạo phải đem ngâm cho mềm rồi xay ra thành bột, tráng mỏng trên tấm vải thành hai lớp bằng hơi nước nóng. Sau đó, trải thẳng ra trên những vỉ tre phơi nắng cho khô, rồi nướng dưới ngọn lửa riu riu cho chín trước khi đem ra phơi sương vào ban đêm cho bánh có độ dẻo. Thịt heo thiø luộc bằng nước dừa, phải khéo tay để giữ cường độ trung hòa sau khi vớt thịt ra từ nước nóng rồi bỏ ngay vào nước lạnh. Và nếu đúng theo nghệ thuật chính cống Trảng-Bàng ngày xưa của nó, thì trong tô bánh canh phải có cục xương giò heo. Còn về món ăn bánh tráng nướng phơi sương cuốn thịt heo thì lúc nào cũng phải được kèm theo một mâm rau như nào là: lá cóc chua, tía tô, diếp cá, cần nước, húng, hẹ, ngò, đọt vừng, lá lụa, đọt bời lời, lá săng dẻ, rau quế, lá nhái, đọt kim cang, đọt lá xộp v.v và đặc biệt là không thể không có loại rau mùi ngũ vị: thơm, chua, bùi, chát, ngọt. Và bí quyết hấp dẫn cuối cùng trong món ăn đặc sản bánh canh Trảng-Bàng nầy, thì trước sau cũng vẫn lại là cách pha chế thành nước mắm chấm. Hiện giờ, có nhiều quán bánh canh đã uyển chuyển tự pha chế nước mắm theo công thức đặc biệt của miønh, để đáp ứng đúng theo nhu cầu khẩu vị của số đông thực khách sành điệu về ẩm thực.

Liếp bánh tráng nướng
phơi sương ban đêm.


Ngày nay, mặc dù món ăn bánh canh nầy có dịp đã được phổ biến lan tràn ra cả nước nhưng Trảng-Bàng luôn luôn bao giờ cũng lại là một địa điểm hứa hẹn dừng chân, mời mọc thực khách sành điệu từ ở phương xa đến tận nơi để thưởng thức hương vị chính cống của địa phương. Và cũng để thỏa mãn tính tò mò, tìm hiểu thêm về giai thoại nói về cái Trảng của cây Bàng và cục đất của Trại-Bí có con suối bên cạnh với nhiều huyền thoại hồi xa xưa. Cả hai địa hình nầy nguyên là một vùng thổ ngơi, có giá trị lịch sử đặc biệt về hoàn cảnh dân sinh ở cách không xa miền sơn cước phương Nam qua hai câu đối ngộ nghĩnh vui tai:
trảng Bàng treo biển truyền bá tráng bánh trồng bông trắng bạch
trại Bí trang bị trưng bày trâm bầu trút bỏ trong bình [4]


Hơn thế nữa, Trảng-Bàng cũng còn là một cục đất quý hiếm hoi, là nơi mở mắt chào đời của những con người cao tuổi quá mức đại thượng thọ, viø tính cho tới thời điểm bấy giờ (đầu năm 2011) mà hãy còn sót lại có những cụ già quê gốc ở nơi nầy đã từng sống qua được trên cả 100 năm. Đó là trường hợp của cụ bà Út Hương từng cư ngụ ngay tại chợ Trảng-Bàng, một góa phụ hiền đức từ bao năm tần tảo nuôi con ăn học thành nhân. Và đặc biệt hơn, là cụ bà Phạm-thị-Thương sinh năm 1890 tại Trảng-Bàng nhưng lại trưởng thành ở tại đất Cần-Thơ, vì sau khi lập gia đình thì về ở Cái-Vồn. Từ lâu cụ bà lưu lạc sinh sống ở miền Tây, và bà được coi như là người già nhất trong cõi hành tinh nầy với cái tuổi 120 tính cho đến thời điểm kỷ niệm 1000 năm lễ hội Thăng-Long 2010 [5].
Tuy nhiên, nếu cần phải nói thêm, thì địa danh Trảng-Bàng không phải chỉ được đóng khung có bấy nhiêu với người trong nước, mà trong thực tế, thì hình ảnh cục đất của nó cũng đã được trải dài thêm ra trên bề rộng. Vì đối với thế giới bên ngoài, thì Trảng-Bàng bây giờ là một địa danh nổi tiếng nhờ qua bức ảnh "Napalm Girl"chụp ngày 8-6-1972 mà nạn nhân lúc bấy giờ là em bé Kim-Phúc. Từ lâu, chính tấm ảnh lịch sử giá trị nầy, là một chứng từ có rất nhiều ý nghĩa mang tính biểu tượng của chiến tranh khốc liệt tại Việt-Nam, và đã từng đạt được giải thưởng quốc tế "Pulitzer" vào năm 1973. Và phóng viên của hãng AP may mắn đã chụp được bức ảnh đặc biệt đó đúng vào thời điểm bấy giờ, chính là nhiếp ảnh viên Nick Út (Huỳnh-Công-Út).
Đây là một người Việt-Nam đầu tiên vừa mới được Hiệp-Hội Ký-Giả Người Mỹ Gốc Á (AAJA)[6] bình chọn trao tặng cho giải thưởng cao quý nhất là "Lifetime Achievement Award" (Thành Tựu Trọn Đời) vào trung tuần tháng tám 2011 tại Hoa-Kỳ.

Nữ Hoàng Anh quốc Elizabeth I I tiếp kiến
Đại-Sứ Thiện-Chí UNESCO Phan-Thị Kim-Phúc
và nhiếp ảnh viên Nick Út.


Chính sự kết hợp bằng những chứng từ màu sắc đó cùng với các ngành nghề thủ công truyền thống sở tại như xóm lò bánh canh, xóm lò bánh tráng, xóm làm nón lá, xóm lò muối tôm, các vườn trồng cây trái hoa màu, cánh đồng xinh tươi, vườn lan tươi tốt, trại nấm "Út Huệ" ở An-Tịnh cung cấp cho thị trường tiêu thụ hằng ngày. Ngoài ra, còn có các tiệm ăn bánh canh và bánh tráng nướng phơi sương cuốn thịt heo với thương hiệu từ lâu nổi tiếng ở địa phương lúc nào cũng được nhiều du khách từ phương xa lui tới. Thêm vào đó, là hiện nay tại đây người ta cũng đã thấy có xuất hiện bày bán ra một loại hủ tíu giò heo đựng trong hai tô (một hình thức kinh doanh ẩm thực kiểu mới).Và đặc biệt là thắng cảnh "Ngọc-Sương" ở An-Hòa, một quán cà phê vừa mới mọc lên cạnh nhà thờ Tha-La. Thắng cảnh nầy bây giờ còn được dân ghiền gọi kèm theo bằng hai tiếng "nghệ-sĩ", vì nó được thiết kế hoành tráng với phong cách hấp dẫn đặc biệt. Và có lợi thế về không gian, thoáng rộng hơn cả quán cà phê nổi tiếng "Vườn Đá" ở công viên văn hóa Đầm-Sen tại thành phố Hồ-Chí-Minh bây giờ. Nhờ đó, mà nó đã làm tăng thêm sức quyến rũ thành phần hàng ngàn công nhân làm việc tại các khu công nghiệp quanh vùng. Hiện nay, địa điểm nầy đã được rất nhiều khách hàng địa phương và các vùng lân cận chiếu cố tìm đến tham quan, để thưởng thức hương vị thức uống dưới bầu không khí thơ mộng, hữu tiønh. Điều đó, đã nói lên được về những nét đặc trưng của vùng địa lý, lịch sử của đất Trảng-Bàng (Tây-Ninh).
Tuy nhiên, còn nếu phải tế nhị để được thêm vào những hình ảnh trang nhã trong một bức tranh hoa gấm làm đẹp xóm làng, thì cục đất nầy cũng chính là quê hương của giáo sư Thẩm-Thệ-Hà. Một nhà mô phạm mẫu mực, từ tốn, tận tụy yêu nghề mà sự nghiệp tầm cỡ của ông từ lâu đã từng được các giới đồng nghiệp nghiêm túc đánh giá coi như là thầy của những bậc thầy có bề dày kinh nghiệm giảng dạy về văn chương cho các môn sinh. Hơn thế nữa, chính ngòi bút của nhà văn, nhà báo Thẩm-Thệ-Hà vốn là cây đại thụ trên văn đàn của tỉnh Tây-Ninh cũng còn từng là một ngôi sao chói sáng trong làng văn học của miền đất phương Nam. Ngoài là tác giả của nhiều loại sách giáo khoa giá trị, ông còn có nhiều tác phẩm đa dạng về tiểu thuyết cũng như những bài bình luận sắc bén về văn học nổi tiếng lưu truyền trước nay đã từng thu hút được rất nhiều con số độc giả bốn phương. Và nghệ sĩ ưu tú Thanh-Nga ngày trước từng được mệnh danh là nữ hoàng sân khấu cải lương Việt-Nam, tuy đồng hương của tác giả sinh trưởng ngay cạnh châu thành Tây-Ninh. Nhưng mỗi khi có dịp về quê, đều cũng không bao giờ bỏ qua thời gian để dừng chân ở tại Trảng-Bàng, để luyến lưu với nhiều kỷ niệm và viếng thăm lại bà con cùng khán giả thân tình ái mộ. Còn nữa, các thế hệ hậu sinh chắc có lẽ ít người còn có dịp được biết tới danh tiếng của một đại gia cũng quê gốc ở địa phương nầy từng vang bóng một thời trên con đường sự nghiệp. Đó chính là bà Tám Mai, chủ nhân rạp hát "Quốc-Thanh" tọa lạc ngay tại trung tâm thành phố Sài-Gòn hoa lệ thuở nào.

Mâm bánh tráng nướng phơi sương cuốn thịt heo.


Tóm lại, ngày nay người ta có thể nói rằng nếu bạn là khách viễn du dừng chân giây lát trong các tiệm bánh canh giò heo và bánh tráng nướng phơi sương nằm dọc theo trục lộ đi tới Casino ở Mộc-Bài, thì Trảng-Bàng chính là một nơi để bạn thưởng thức về món ăn đặc sản nổi tiếng địa phương danh bất hư truyền. Và có dịp tham quan nhiều di tích lịch sử như nào là: miếu Ông Cả Trước, nhà thờ Tha-La, các vùng đất ven bờ chi lưu Vàm-Cỏ-Đông vốn là quê hương của bao thế hệ chàng trai anh tuấn oai hùng chống giặc xâm lăng từng nuôi mộng lớn, tháp cổ Bình-Thạnh, di tích Bời-Lời, chùa Phước-Lưu, đình Gia-Lộc v.v. Còn bây giờ, trái lại nếu bạn là người chính gốc Trảng-Bàng thuộc thành phần thế hệ người đi trước, thì sẽ không sao có thể tránh khỏi được mọi sự ngỡ ngàng khi từ lâu mới có dịp trở về viếng thăm làng xưa phố cũ. Và luyến lưu, tiếc nhớ từng bao kỷ niệm với mảnh"hồn quê ta say đắm"[7] của thuở thiếu thời .
Theo bánh xe tiến hóa của lịch sử thời gian, Trảng-Bàng quê hương yêu dấu ngày nay đang từng bước đi trên con đường thay đổi, để hòa nhập vào hình ảnh của một thị trấn văn minh có nhiều triển vọng ở tương lai.
An-Tiêm MAI-LÝ-CANG
(Paris Xuân Tân-Tỵ 2013)


(1) - Bài học trong quyển sách Việt-Nam Giáo-Khoa Thư. (2) - Động (khu) đất gò mối có nhiều cọng Lông-Công. Truông (dải) đất có nhiều cây Mít. Nơi khi xưa có trồng nhiều bí. Nơi khi xưa có voi xuất hiện thường xuyên. Tên của một vị cao tuổi sống cạnh bờ suối. Bàu nước lớn có nhiều rong rêu.
(3) - Tục lệ hứa hôn cho con khi còn nhỏ.
(4) -"Trảng-Bàng" và "Trại-Bí" là hai địa danh, địa hiønh của tỉnh Tây-Ninh.
(5) - (Theo tài liệu thông tin của các báo chí ở trong và ngoài nước vào hồi thượng tuần tháng 03-2010). Và nếu nói thêm, thì năm 1997 thế giới còn có một cụ bà duy nhất gốc người Pháp, tên là Jeanne Calment đã sống tới năm cuối cùng được 122 tuổi.
(6) - Asian American Journalism Association.
(7) - Trong bài thơ " Thương Nhớ Tình Quê Trảng-Bàng" sau đây:
Trảng-Bàng quê xa xăm
Đất thiêng ta ngồi nằm
Ao nhà ta bơi tắm
Gió trăng ta trong ấm
Lá rừng ta xanh thẳm
Lúa bông ta nẩy mầm
" Hồn quê ta say đắm"
Xóm làng ta bao năm
Bà con ta thăng trầm
Láng giềng ta cuốc bẫm
Hàng xóm ta dãi dầm
Người yêu ta hiền lắm
Trao trọn ta tình thâm
Thương nhớ ta để tâm
Hẹn về ta ghé thăm
Ruộng vườn ta hoa gấm
Đồng hương quê tình thắm...
(MLC)

Đây là địa điểm khúc quốc lộ 1 cạnh thánh thất
Cao-Đài Trảng-Bàng, ngày trước là chiến trường, nơi mà
bé Kim-Phúc bị bom đốt cháy cả lưng.
*********

Gò Nổi Xuân Xưa



                Năm 1954, sau Hiệp Định Genève, Pháp rút lui, nước Việt Nam bị chia đôi. Cán bộ, bộ đội Việt Minh tập kết ra Bắc. Đảng cộng sản và Hồ Chí Minh đưa miền Bắc Việt Nam băng qua địa ngục u tối xã hội chủ nghĩa, đi tìm thiên đường cộng sản không bao giờ có thật.
Miền Nam, dưới sự lãnh đạo của tổng thống Ngô Đình Diệm, bắt đầu xây dựng một chế độ dân chủ tự do. Sự thái bình, no cơm ấm áo từng bước được thực hiện. Hình ảnh những ngày đó còn ghi mãi trong tôi, một chú bé được sinh ra và lớn lên tại Quảng Nam, quê hương được mệnh danh là đất địa linh nhân kiệt.
Tuổi thơ của tôi bình yên, êm ả rong chơi trong những thôn làng có tên gọi đẹp như thơ: Thôn Hà Mật, An Trường, Thi Nhơn, Phương Trà, La Qua... Làng Phú Bông, Đông Bàn, Cẩm Lậu... Những địa danh hành chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa đặt cho vùng quê tôi, cũng đẹp không kém: Xã Phú Tân, Phú Phong, Phú Mỹ, Phú Hưng, Phú Lộc...
Những địa danh tôi vừa kể, nằm trên một cái gò, được hình thành bởi dòng sông Thu Bồn. Sông Thu Bồn chảy xuyên qua những vách đá sừng sững của dãy Trường Sơn hùng vĩ, xuôi về đồng bằng, chia hai nhánh tạo thành Gò Nổi, hội tụ lại ở Câu Lâu, trước khi vào cửa Đợi.
Xuân-Hạ-Thu-Đông cùng với dòng sông quê hương, đưa tuổi thơ của tôi vào cổ tích. Ở đó, mỗi vụ mùa dâu tằm, đường mía, ngô khoai, hay lúa thóc đều để lại những hình ảnh đẹp đẽ. Trong bức tranh ký ức đầy màu sắc diệu kỳ của lòng tôi, màu xanh là màu của nương dâu thăm thẳm, trải dài theo ven sông. Những thiếu nữ, lưng mang gùi đựng đầy lá dâu, huyên thuyên trò chuyện trên đường về, nơi các nong tằm đang ăn lên đang chờ đợi.(1)
Màu vàng là màu của lúa chín mọng trên cánh đồng Phuơng Trà, La Qua. Người bù nhìn giữ lúa, những hình nộm bằng rơm được dựng lên để hù dọa bầy chim, trông ngộ nghĩnh như tranh hoạt họa. Chiều xuống, mặt trời từ từ lặn, sau những ngọn núi xa xa. Trong gam màu tím thẩm của hoàng hôn, từng đàn chim bay qua ruộng mía, tìm nơi trú ẩn về đêm. Đèn dầu bắt đầu được thắp sáng, trong nhà của cư dân đồng nội.
Làng quê ở thập niên 50, 60 không có điện, cũng không có bất kỳ một thứ máy móc tối tân gì khác. Nhà nào khá giả lắm, mới có một cái radio chạy bằng pin. Trong làng chẳng mấy ai có xe đạp, hay biết đi xe đạp. Tôi cũng không thấy có một quán nước nào có bán cà phê. Chỉ có quán mì quảng và nước chè lá.
Nói đến miền Trung, hay nói đến Quảng Nam, người ta thường nhớ đến làn điệu ca dao được truyền tụng:
Quê tôi nghèo lắm ai ơi
Mùa Đông thiếu áo, hè thời thiếu ăn.
Cho dẫu là như vậy, hai câu ca dao này, không thể bao gồm cả Gò Nổi. Vì Gò Nổi đất đai trù phú, có nghề trồng dâu nuôi tằm. Làng quê nghèo, nhưng không có ai đói.
Thuở đó, trẻ em nhà quê không biết đến nước đá, hay cà rem cây. Chưa có ai đi dạo, rao bán cà rem trong làng quê. Nếu có, con nít cũng chẳng có tiền mua. Riêng tôi, nhờ ba má có cửa tiệm bán hàng ngay tại bến phà Câu Lâu, nên tôi đã cảm thấy mình sung sướng hơn các bạn khác, vì được thưởng thức cái lạnh mát dịu lạ lùng của nước đá và cà rem cây. Tôi còn nhớ hình ảnh bến phà Câu Lâu ồn ào, tấp nập, có những hàng quán nằm khít khao liền với bến. Phà Câu Lâu đưa xe cộ qua lại, nối tuyến quốc lộ số 1. Khách qua phà dừng chân trong các quán, nhắp bát nước chè nóng hổi, hút điếu thuốc rê cay nồng, uống ly nước trà đá mát lạnh, hoặc ăn một cây cà rem ngọt ngào có màu xanh đỏ, tím .v.v....
Vì bận rộn với hàng quán, ba má nhờ ông bà ngoại chăm sóc tôi. Tôi ở với ông bà ngoại, đi học tại trường tiểu học Phú Lộc cho đến lớp Nhất. Nhà ông bà ngoại có nhiều ruộng đất, nhưng không có người làm. Ông bà cho người ta làm rẻ (2). Vườn nhà ngoại có đủ loại cây ăn trái: Mít, thơm, chanh, cam, quít, ổi... Trái chín được hái xuống, mang ra chợ bán lấy tiền mua muối mắm, thực phẩm.
Cũng giống như tất cả những nhà ở thôn quê miền Trung, dù không thiếu thốn, khi mùa đông đến, nồi cơm của gia đình ngoại vẫn nấu độn khoai sắn khô. Những nhà nghèo ít ruộng đất, thời gian lập đông sẽ phải ăn độn nhiều hơn. Mùa lúa tháng Mười chấm dứt, người ta âm thầm ngồi trong nhà, nhìn mưa gió bay đầy trời, chờ lũ lụt đến.
Người lớn sợ lũ lụt. Trẻ em thì khác. Lũ lụt cũng đem đến cho chúng tôi niềm vui. Nước ở trước ngõ. Nước ngay ngoài sân. Tha hồ bơi sải với bè chuối thả trôi. Tha hồ lùng bắt những con dế cơm mập ú bám đầy trên ngọn cỏ, rồi xỏ xâu mang về cho mẹ làm món dế cơm nhét đậu phộng, chiên mỡ. Chỉ khi nào nước vào tới trong nhà, phải chồng hai cái giường lên nhau mới có chỗ ngồi, nằm, ngủ, lúc đó trẻ em mới thấy buồn bực, vì phải bó chân ngồi một chỗ, không được chạy nhảy. Ôi! Những ngày mưa gió lụt lội! Chén cơm độn khoai khô, sắn khô bốc khói, ăn với muối mè, dưa mắm, hay mắm cái, mới ngon làm sao!
Người lớn rảnh rỗi, đội áo tơi qua hàng xóm, uống nước chè nói chuyện xưa. Trẻ em như tôi tròn xoe mắt, thinh lặng ngồi nghe. Vẫn chuyện chạy giặc Tây, vẫn chuyện sống cực khổ thiếu thốn trong vùng Việt Minh. Chuyện Tây lùng. Chuyện máy bay Tây khủng bố. Chuyện ông bà ngoại tản cư lên vùng thượng du, Quế Sơn Tuyên Phước. Sau đó, bà ngoại xuống vùng thị trấn mua đá lửa, dầu lửa, xà bông cây, alcool.v.v.., mang vào vùng Việt Minh bán. Bà ngoại phải trốn chui trốn nhủi, phần sợ máy bay Tây trên trời bắn trúng, phần sợ trên đường đi, Việt Minh tung những toán “trật tự” ra lùng bắt, tịch thu. Chuyện người lớn kể đi kể lại, năm nào cũng giống nhau. Nhưng chúng tôi, những đứa bé thơ dại, vẫn say mê theo dõi, không thấy chán.
Mùa đông mưa gió lạnh lùng lê thê rồi cũng qua đi. Tháng Chạp trời quang mây tạnh. Nhà nhà chuẩn bị ăn tết. Năm nào bà ngoại của tôi cũng để dành vài ba con gà, dự trữ vài ang nếp, đậu xanh để gói bánh tét, bánh rò, bánh ít, đổ bánh tổ, bánh nổ...v.v..
Có lẽ qua bao nhiêu năm phiêu bạt, được hưởng dụng nhiều loại thức ăn của thành thị, những phẩm vật dân gian kia không còn hấp dẫn khẩu vị của tôi nữa. Tôi chỉ còn cảm nhận hương vị thơm tho của tấm bánh quê xưa, từ trong kỷ niệm. Kỷ niệm là linh hồn của Đất, như một người bạn của tôi nói. Linh hồn của Đất, đã kết thành tình yêu quê hương trong lòng tôi.
Tình yêu quê hương trong lòng tôi, làm sống dậy những ngày chuẩn bị đón tết thuở xưa. Tôi vẫn còn nhớ, khoảng mười lăm tháng Chạp, bà ngoại bắc cái ghế cao, tỉa hết lá trên cội mai già trước sân. Cội mai già cao hơn bốn thước, nơi con chim gõ kiến hàng ngày vẫn kiên trì mổ vào thân cây khúc khuỷu, tạo ra những âm thanh buồn buồn giữa trưa, bỗng thật thanh xuân, khi những lộc non nảy mầm, chờ hoa vàng hé nụ.
Khu vườn óng ả, tươi sáng hơn, vì giồng thược dược ngoại trồng đã kết nụ. Những cánh hoa màu trắng, màu hồng, màu tím nở rộ vào tết, cũng là những gam màu đậm đà, trong bức tranh ký ức của tôi. Hoa được tưới bằng urê thiên nhiên, ngâm với lá cây keo pha loãng với nước. Mỗi sáng, tôi được ngoại giao cho việc tưới hoa. Những bụi thược dược đã cao quá đầu của tôi.
Trẻ em nào cũng nôn nao, đếm từng ngày chờ Tết. Cái nôn nao rất thần tiên của tuổi thơ. Để được mặc quần áo mới. Để được đi đôi dép mới. Để được ăn ngon hơn ngày thường. Để được nhận tiền mừng tuổi. Để được rong chơi, trong không khí đầy khói hương của nhang và pháo. Được miễn tất cả mọi sự la mắng, đòn phạt của người lớn. Thích nhất là được nghỉ học gần hai tuần.
Những ngày chuẩn bị tết, là những ngày vui rất rộn ràng. Mọi người đều thấy lòng hân hoan, phơi phới. Bàn thờ ông bà được quét dọn lau chùi bụi bặm. Lư nhang, chân đèn bằng đồng cũng được mang xuống đánh bóng bằng tro. Các loại bánh ngọt như bánh in, bánh thuẫn, v.v..., bà ngoại tôi đã làm xong từ mấy ngày trước. Chỉ nấu nồi bánh tét, bánh rò, bánh ú là hoàn tất công việc. Người lớn cũng như trẻ em không buồn ngủ. Cả nhà vừa gói bánh, vừa nghe dì tôi, ở Sài Gòn về quê ăn tết, kể chuyện thành phố. Cái gì với tôi cũng hấp dẫn lạ thường. Ngoại tôi lại kể những cái tết chạy giặc Tây. Những cái tết trong vùng Việt Minh thiếu thốn, cực khổ, đói ăn.
Đêm giao thừa thiêng liêng, ai cũng thức khuya, nhưng sáng mùng một tết, cả nhà đều dậy sớm. Ngoại và dì, không biết thức giấc từ bao giờ, đã nấu nước pha trà, mang bánh mứt bày lên bàn thờ. Ông ngoại khăn đóng áo dài, phong thái uy nghiêm thành kính, sửa soạn đốt nhanh đèn cúng đầu năm. Trẻ em, chẳng đợi ai bảo ai nhắc, tự động lấy bộ áo quần mới nhất ra mặc, rồi tự ngắm nhìn chính mình. Trẻ em ngày xưa ở quê, tết được mặc quần áo mới, có lẽ cũng sung sướng như trẻ em ở Mỹ, tới tuổi có bằng lái xe, được cha mẹ mua cho xe mới.
Quê nghèo không có phương tiện giải trí, không sách báo, không tivi, không phim ảnh. Trò chơi của trẻ em, là những trò chơi muôn đời không thay đổi: Nhảy cò cò. Đánh đũa. Nhảy dây. Đếm năm-mười-mười lăm chơi trốn tìm. Bịt mắt bắt dê. Hay ra đồng đào dế, đá gà bằng cọng cỏ chỉ. Nếu có đá banh, banh cũng làm bằng dây chuối khô quấn lại. Thời ấy, chưa có những sản phẩm bằng plastic, nylon, không có trái banh nhựa. Ngày tết, trẻ em được tham dự những trò chơi của người lớn như: Đặt bầu cua, xóc dĩa, tam hường, chơi bài chòi, lô tô.v.v...
Mùng hai tết, tôi về nhà nội ở xã Xuyên Trường, quận Duy Xuyên. Đường vào quê nội, băng qua thôn Hà Mật, băng qua những con đường râm mát dưới bóng tre đầy người qua lại. Tiếng giày guốc khua vang không gian. Tiếng người chào hỏi cười nói làm náo động lũy tre xanh. Sắc hoa đủ màu in trên quần áo mới của mọi người, làm tăng thêm niềm vui của năm mới.
Đi tới đò Gặp, là đến nhánh sông tạo thành Gò Nổi, của hai nhánh sông Thu Bồn. Nhánh sông này nhỏ, cạn hơn nhánh kia. Bến đò Gặp rất vắng khách. Đến đó, tôi phải gọi đò, ngồi chờ ở bờ sông rất lâu. Bên kia là bãi cát vàng rất rộng, thoai thoải chạy từ mé nước, đến tận rặng tre của đầu xóm. Chỉ có ngày tết, may ra mới có thêm nhiều khách qua đò. Bến đò Gặp, những ngày mùa xuân, những ngày nắng hạ, thường thấy tôi, chú bé học trò tiểu học, ngồi chơ vơ một mình, đợi đò sang sông. Chung quanh quạnh vắng. Sông bãi mênh mông. Lòng chú bé cũng mênh mông. Cuối sông tre xanh lã ngọn.
Tết ở bên nhà nội có khác bên nhà ngoại đôi chút. Bên nội, tôi là đứa cháu đích tôn, được cưng chiều, được chú ý nhiều hơn. Ở đây đông vui, vì các cô, các chú dẫn con của họ về. Tôi có nhiều anh chị em để vui đùa.
Tại ngã tư đường lớn của xã Xuyên Trường, là nơi các sòng bầu cua, lô tô, xóc dĩa, bài chòi được dựng lên, trong những ngày tết. Không khí vui nhộn khác hẳn ngày thường. Trong lòng ai cũng có mùa Xuân, nên dù giàu hay nghèo, trẻ hay già, sự rạng rỡ, tươi cười đều hiện rõ trên nét mặt của họ. Sự nhọc nhằn, lam lũ ngày thường, tạm thời biến mất. Họ chỉ lo tới mùng năm mùng sáu, không biết còn chi để tiếp tục ăn tết, vui chơi hay không thôi.
Mỗi năm, tôi đều đón tết giống nhau, nhưng chưa bao giờ ngưng đợi Tết. Những mùa xuân thanh bình như vậy, những sinh hoạt đồng quê êm đềm như vậy, sẽ còn tiếp diễn triền miên ngàn đời, nếu như không có một ngày chiến tranh được mang từ núi rừng Trường Sơn âm u tới, gây bao khốn khổ cho dân lành. Tết năm 1965, là cái Tết yên bình cuối cùng của Gò Nổi.
Việt Cộng từ đâu tràn tới. Chiến tranh ngự trị trên Gò Nổi. Ngôi trường tiểu học Phú Lộc giải tán. Chỉ còn học sinh lớp Nhất của tôi, được thầy giáo Quế gom lại, mượn một lớp học của trường tiểu học Thanh Chiêm đã nghỉ hè, dạy cho hết niên khóa. Để học sinh nào có điều kiện, sẽ thi vào lớp đệ thất của trường Nguyễn Duy Hiệu ở Vĩnh Điện, hay Trần Quí Cáp ở Hội An. Trường Thanh Chiêm không nằm trên đất Gò Nổi, mà nằm bên kia sông, trên quốc lộ 1, gần cầu Câu Lâu.
Những học trò không còn trường, như những con chim không còn tổ. Giờ ra chơi, chúng tôi ngồi buồn hiu. Sân trường Phú Lộc mênh mông, với hàng dương liễu nhu mì thì thầm trong gió, với hai bãi cỏ xanh tươi trước cổng trường, giờ chỉ còn trong nỗi nhớ. Học trò lớp Nhất chạy giặc, tứ tán khắp nơi, còn hơn mười đứa. Sau niên học đó, tôi được đưa vào Sài Gòn.
Chiến tranh đã san bằng Gò Nổi, đã đẩy người dân Phú Lộc ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn. Tôi, chú học trò tiểu học ngày xưa, theo dòng sóng đời, trôi xa trôi khuất, ra khỏi cửa Đợi sông Hoài. Dòng sông Thu Bồn, dòng sông quê hương, từ đó chỉ còn trong trí tưởng.
Bao nhiêu năm lưu lạc cùng trời cuối đất, tôi vẫn cảm nhận: Hình ảnh cả nhà ngồi quây quần bên bếp lửa, canh chừng nồi bánh tét cuối năm, là bức tranh gia đình đẹp nhất, qúy giá nhất của đời tôi. Bếp lửa hồng thơ ấu, bùng cháy mãi ngọn lửa tình yêu đất nước, làm ấm lòng tôi, người con lưu lạc tha hương. Không bao giờ có thể được sống lại những giây phút huyền diệu ấy, dù chỉ một lần. Đời sống như dòng sông cứ xuôi chảy, mỗi ngày một xa nguồn cội. Những bến bờ càng xa, càng thấm lạnh:
Bến chiều nay, bến chiều nay thấm lạnh
Chuyện bếp hồng là cổ tích xa xưa
Có còn ai ngồi quanh bên lửa ấm
Kể nhau nghe về những tối giao thừa.
” (3)

Mười tám năm sau, tôi trở về cố hương. Đứng trên cầu Câu Lâu, nhìn qua bên kia Gò Nổi, nhìn vùng tuổi thơ đã mất dấu, nhìn mùa Xuân đã không còn nữa. Một thoáng gió vào làm mắt cay.
Hoàng Định Nam

Chú thích:
(1) Ăn như tằm ăn lên: Tục ngữ Việt Nam
(2) Làm rẻ : Cho người không có đất, làm trên ruộng của mình, sau khi gặt lúa đôi bên cùng chia quyền lợi với nhau
(3) Thơ Hoàng Định Nam

Chủ đề Mậu Thân 68: Người mẹ bị chôn sống.

Người mẹ bị chôn sống.



Những ai sinh quán, rồi lớn lên hay từng sống nhiều năm ở Huế có thể biết danh tiếng một nhà buôn trầm hương nổi tiếng ở khu chợ Ðông Ba. Vợ chồng nhà buôn là người gốc Huế . Nghe nói nghề buôn bán trầm hương đối với họ là nghề gia truyền từbao đời trước. Tổ tiên họ đã lập nghiệp và họ được trở nên giầu có cũng là nhờtổ nghiệp buôn bán trầm hương.

Mặc dầu sống và làm giầu trong chế độtự do ở Miền Nam, nhưng có cái lạ là người vợ, bà Ba Trầm Hương như người ta quen gọi, lại luôn có thái độ và lời nói bênh vực Việt Cộng trong cuộc chiến tranh Quốc – Cộng vừa qua. Thái độ và lời nói nghịch lý ấy thường bộc lộ, mỗi khi trong gia đình nói đến truyện chính trị. Cứ mỗi khi có truyện như thế, chỉcó bà Ba Trầm Hương và một đồng minh duy nhất là con Sen giúp việc nhà, đứng chung một lập trường ủng hộ Việt Cộng. Trong khi đó chồng Bà, Ông Ba Trầm Hương và một cô con gái lớn xinh đẹp dễ thương là cô Hương Giang thì lập trường đối nghịch, chống cộng kịch liệt. Ông bà Ba Trầm Hương còn mấy cậu con trai nữa, một cậu thì được gửi đi du học ngoại quốc tự túc, còn hai cậu kế đang học trung học, ít quan tâm đến chính trị. Mấy con bà vợ hai của Ông Bà Trầm Hương thì còn quá nhỏ nên không kể đến.

Cô Hương Giáng là con gái đầu lòng của ông bà Ba, đã có chung lập trường chống cộng với Cha cũng phải. Là vì Cô có học thức, ít ra cũng giúp cô thấy được đúng sai, phải trái giữa một bên là chính quyền Cộng Sản Bắc Việt phát động một cuộc chiến tranh thôn tính Miền Nam, đểbành trướng chủ nghĩa cộng sản quốc tế, với một bên là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà phải bất đắc dĩ tiến hành cuộc chiến tranh tự vệ để bảo tồn chế độ tựdo dân chủ trên nửa nước ở Miền Nam và chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Vả lại, lúcấy Hương Giang đang có người yêu là một sinh viên trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt sắp ra trường. Người yêu của cô chính là “Anh Thầy” từng dạy kèm cô nhiều năm ởbậc Trung Học. Tình yêu đã triển nở trong những năm tháng cũ, khi nàng còn là học sinh của trường nữ Trung Học Ðồng Khánh, chàng là học sinh trường Quốc Học Huế. Chàng học hơn nàng bốn lớp, mồ côi cha mẹ, con nhà nghèo, học giỏi, đãđược một người bạn của cha Nàng giới thiệu đến dạy kèm cho Nàng từ năm lớp ÐệNgũ.

Ðến khi tốt nghiệp Tú Tài Hai, chàng đã xếp bút nghiên theo nghiệp kiếm cung, làm nhiệm vụ trai thời loạn. Ðối với Hương Giang, nàng rất tự hào và hãnh diện về sự lựa chọn đời binh nghiệp của người yêu. Tự hào và hãnh diện nhất là đối với bạn bè cùng trang lứa vào những dịp LễTết được cùng chàng đi dạo phố Mùa Xuân, hay trong những ngày phép ngắn ngủi, hiếm hoi.

Ðúng là một cặp trai tài gái sắc coi thật xứng đôi vừa lứa như nhiều người quen biết từng trầm trồ khen ngợi.Vào những dịp sánh đôi tuyệt vời ấy, Nàng thướt tha trong chiếc áo dài trắng đẹp của tuổi học trò, e ấp đi bên cạnh người yêu hào hùng trong bộ lễ phục sinh viên sĩ quan của một trường võ bị nổi tiếng và duy nhất tại miền Nam: Trường Vỏ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Ðó là hình ảnh từng là ước mơ thầm kín của biết bao cố gái xinh đẹp nhưNàng muốn có người yêu là lính trong thời chiến lúc bấy giờ. dù biết rằng tương lai rất dễ mang “Khăn tang cô phụ, còn lóng lánh dấu ái ân” như lời ca của một nhạc phẩm thời chiến nào đấy.

Thế rồi Mùa Xuân năm 1968, Việt Cộng lợi dụng thời gian hưu chiến Tết đã bất ngờ mở cuộc tổng tấn công vào các thành thịMiền Nam Việt Nam. Thành phố Huế cũng bị Việt Cộng tấn công và chiếm đóng cả tháng trời. Lúc đó người yêu của Hương Giang được nghỉ phép về ăn tết với gia đình nàng. Khi biết Việt Cộng tấn công vào thành phốHuế, Trường An, tên người yêu của Nàng,đã lập tức chia tay và tìm cách gia nhập cùng chiến đấu với các đơn vị quânđội, cảnh sát trong thành phố Huế.

Cuộc chiến đấu đã diễn ra ác liệt trong những ngày đầu giữa lực lượng quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà ở Huế với địch quân. Nhưng sau đó, Việt Cộng đã làm chủ tình hình và chiếm đóng thành phố Huế cả tháng trời như mọi người đã biết. Các đơn vị tinh nhuệ tổng trừ bị của quân lực Việt Nam Cộng Hoa như nhẩy dù, biệt kích, thủy quân lục chiến được gửi tới, kết hợp với các đơn vị hải, lục, không quân bao vây tấn công tiêu diệt địch. Sở dĩ cộng quân chiếm giữ được Thừa Thiên Huế lâu như thế, là vì có lệnh trên phải bảo vệ tối đa các di tích lịch sử của cố đô Huế, sinh mạng và tài sản của người dân Huế đang bị Việt Cộng xửdụng làm con tin để ngăn chặn bước tiến quân của quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Và do đó, các mũi tiến công của các đơn vị tham chiến đã tỏ ra hết sức thận trọng. Trong khi cộng quân thì cố bám vào các di tích lịch sử và tập trung dân làm biađỡ đạn để cố thủ, làm chậm bước tiến lực lượng liên quân Việt Nam Cộng Hoà.........

Ðiều bất ngờ cho cả gia đình ông bà Ba Trầm Hương là vào một buổi chiều một ngày trong tuần lễ thứ hai Việt Cộng chiếm đóng thành phố Huế, con Sen giúp việc đã xuất hiện trong bộ bà ba đen với chiếc nón tai bèo và khoác trên vai một khẩu súng AK. Con Sen đã dẫn theo hai nam cán binh Việt Cộng khác trang bị vũ khí đầy người, mở cổng, xồng xộc bước qua sân tiến vào nhà.

Mọi người còn đang lo lắng không biết chuyện lành dữ gì đây sẽ xẩy ra,thì chợt nhận ra con Sen giúp việc nhà mình. Bà Ba Trầm Hương là người đầu tiên đon đả chậy tới đón con Sen và đồng bọn. Có lẽ lúcấy Bà Ba Trầm Hương nghĩ rằng ít ra sự có mặt của con Sen lúc này hẳn là điều lành hơn là điều dữ cho gia đình mình. Vì con Sen lúc này rõ ràng là kẻ nằm vùng của Việt Cộng đóng vai con ở nhà bà,ắt đã biết lập trường của bà đối với Việt Cộng thế nào rồi.

Nhưng bà Ba Trầm Hương đã khựng lại khi thấy nét mặt lạnh lùng và dọng nói khác thường của con Sen:
- Trường An hỉ, Hắn mô rồi, hãy mau ra trình diện với cách mạng?
- Hắn chi mô có ở đây nà con...

Bà Ba lên tiếng trả lời, với dọng thân thương như từng đối xử với con Sen trước đó. Trong khi sắc mặt mọi người trong gia dình hiện diện lúc đó biến sắc rất nhanh, sau một nụ cười hy vọng nơi một kẻ tưởng là cứu tinh đến đã vụt tắt. Hiện diện lúc đó ngoài bà Ba, ông Ba và bà vợ nhỏ của ông Ba, là mấy đứa nhỏcon bà nhỏ. Còn cô gái lớn Hương Giang và hai cậu con trai con bà cả đã ẩn trốnở một nơi an toàn trong nhà. Không hiểu sao con Sen cùng đồng bọn không vào lục soát, chỉ đứng trước thềm căn nhà cổ kính tra hỏi.

- Mợ không được bao che hỉ. Bao che là có tội với cách mạng hỉ. Hãy khuyên và động viên Trường An ra trình diện với cách mạngđể được khoan hồng hỉ.

- Mợ nói thiệt mà Quờn (Tên con Sen), Hắn có về đây mấy ngày trước Tết thăm Hương Giang, rồi trở về Sài Gòn ăn tế với ông chú ruột ở ngã tư Bẩy Hiền rồi nà, Mợnói dối con mần chi nà...( Trường An. không còn cha mẹ, lúc đi học ởvới một người cô ruột ở Huế, có một người Chú là sĩ quan nhẩy dù ở Sài Gòn và một chú ruột khác theo Việt Cộng ra Bắc tập kết năm 1954, sau hiệp định Genève chia đôi đất nước)

Con Quờn sau khi trao đổi gì đó rất nhanh với hai tên Việt Cộng đi cùng, đã lạnh lùng ra lệnh:
- Vậy mợ phải đi theo chúng tôi hỉ, còn cậu Ba và mợ Hai ở nhà ráng tìm và động viên Trường An. ra trình diện cách mạngỉ.Khi nào hắn trình diện thì Mợ Ba mới được về nhà hỉ.

Bà Ba Trầm Hương có vẻ tự tin, quay vào nhà định lấy cái gì đem theo, nhưng con Sen, nay là cán binh Quờn đã giơ tay tỏý ngăn lại và nói:

- Mợ khỏi cần mang theo chi cả, Mợ sẽ trở vềnhà sớm nà, ngay khi Trường An. tự giác đến trình diện cách mạng.

Ba Ba Trầm Hương vốn tính cương trực, không nói gì, cũng không thèm năn nỉ, chỉ lẳng lặng theo sau con Quờn và hai tên đồng bọn, có lẽ là hợp thành một “TổTam Tam chế” theo cách tổ chức của đảng cộng sản.

*********
Thếrồi Huế được giải toả sau một tháng bị cộng quân chiếm giữ. Mặc dầu liên quân Việt Nam Cộng Hoà làm nhiệm vụ giải toả đã có những bước tiến quân thận trọng, song sự cố thủ của cộng quân đã đưa đến sự tàn phá nặng nề một số di tích lịch sử trong thành nội Huế, và nhiều dãy phố nhà cửa bị đổ nát vì bom đạn. Gia đình ông Ba Trầm Hương đã từ các nơi ẩn trốn an toàn trở về ngôi nhà chỉ bị thiệt hại nhẹ. Duy chỉ có Bà Ba Trầm Hương vẫn không thấy trở về, vì Trường An. đưa con rể tương lai của bà đã không ra trình diện như đòi hỏi của con Sen Việt Cộng nằm vùng trong nhà Bà. Mọi người trong gia đình, từ ông Ba Trầm Hương đến bà vợ hai, cùng con lớn, con bé và cả Trường An nữa không khỏi bồn chốn lo lắng cho số phận không biết ra sao của bà Ba Trầm Hương.

Lúc đầu, dù có nhiều tin đồn nói về việc Việt Cộng trước khi “Chém vè”, (tức rút lui) hay bị tiêu diệt tại chỗ, đã giết nhiều người chôn sống tập thể, nhưng không ai trong gia đình ông Ba Trầm Hương lại nghĩ rằng bà Ba Trầm Hương có chung số phận bi thảm như họ. Vì nghĩ rằng, con Sen dầu gì cũng đã biết rõ lập trường ủng hộ hay ít ra là có cảm tình với Việt Cộng của Bà Ba Trầm Hương, thì lý nào lại xử tàn tệ với bà được. Ngay cảnhiều ngày sau đó, khi các tin đồn đã trở thành sự thật. Nghĩa là nhiều người trong gia đình ông Ba Trầm Hương khi đi tìm và dọ hỏi tin tức của bà Ba, đã tận mắt chứng kiến cảnh tượng đau lòng của nhiều gia đình đi đào bới những mồ chôn tập thể để tìm kiếm thân nhân mất tích, song mọi người trong gia đình ông Ba Trầm Hương vẩn không tin người thân của mình có số phận không may như các nạn nhân xấu số ấy.

Nhưng rồi sự thật phải đến đã đến vói giađình ông Ba Trầm Hương. Hôm ấy, khoảng một tuần sau ngày Huế được giải toả, một chàng thanh niên khoảng hai mươi bốn tuổi tìm đến nhà ông Ba Trầm Hương cho tin tức về số phận bà Ba Trầm Hương. Anh thanh niên này là một sinh viên trường Ðại Học Huế, phân khoa Luật, cũng là chỗquen biết trước nên đến cho gia đình ông Ba Trầm Hương hay rằng bà Ba đã bịnhốt chung với anh ta tại trường tiểu học G.H và đã bị Việt Cộng giết cùng nhiều người khác chôn chung trong một hố chôn tập thể ở góc sân trường, nơi có trồng nhiều bụi chuối. Sở dĩ anh sống sót trở về được là vì một may mắn hay một phép lạ mà anh gọi là được thần chết bỏ quên.

Người thanh niên được thần chết bỏ quên ấyđã kể lại rằng: Anh và hàng trăm người khác, thuộc đủ mọi thành phần xã hội, đa số là thường dân vô tội bị nghi ngờ, đã bị Việt Cộng lùa về giam giữ tập trung trong các phòng học của trường tiểu học G.H. Anh và bà Ba Trầm Hương đã bị nhốt chung một phòng trong nhiều ngày, cho đến khi Việt Cộng chống cự không nổi các cuộc tấn công như vủ bão của liên quân Việt Nam Cộng Hoà, buộc phải rút lui. Nhưng trước khi rút lui, vào một đêm kia, chúng đã dùng giây trói từng chuỗi mười người, lần lượn dẫn ra đứng thành hàng ngang trên miệng những hố lớn đào sẵn từ bao giờ ở góc sân trường, nơi trồng những bụi chuối xanh tươi. Hai tên Việt Cộng áp tải từng sâu người như thế đã dùng súng AK ria một loạt đạn làm sâu người ngã đổ xuống hố. Hết đợt này đến đợt khác cho đến khi đầy hố lấp đi, chúng di chuyển đến hố khác.

- Vậy tại sao anh sống được hỉ? Cô Hương Giang nóng lòng vội hỏi, lòng bồn chốn lo lắng, nước mắt rưng rưng như muốn khóc.

- Thìđã bảo là thần chết bỏ quên tôi nờ.
Anh thanh niên uống cạn ly trà như đểtự trấn an trước khi phải kể lại giây phút hãi hùng nhất xẩy ra với anh.Theo lời kể, thì anh cũng bị Việt Cộng trói sâu chuỗi như mọi người và bị dẫn ra đứng thành hàng ngang trên miệng hố. Một loạt AK nổ vang và anh cũng ngã đổ xuống hố như mọi nạn nhân. Không biết anh đã chết ngất trong bao lâu, chỉ biết khi tỉnh lại anh cảm giác được mùi tanh nồng của máu và toàn thân anh đẫm máu. Anh chưa hoàn hồn thì kìa một đợt chuỗi dây người khác đang được bọn hành hình Việt Cộng dẫn tới miệng hố của anh. Một loạt AK nổ vang, những thân người ngã đổ còn nóng hổi đè trên người anh. Máu phun có vòi tắm ướt người anh. Sau một lúc định thần, chàng thanh niên biết rằng mình chưa chết, chân tay còn cử động được, với một tính toán rất nhanh thời gian đi vào và ra một đợt giết người của toán Việt Cộng hành hình, bản năng sinh tồn đã giúp anh vùng dậy, gỡ giấy trói lỏng khỏi hai tay, bò lên miệng hố gần đầy xác người, lần vào bụi chuối, rồi tìm cách thoát thân ra khỏi khuôn viên nhà trường, lợi dụng đêm tối len lỏi vào khu dân cư kế cận để tìm đường trở về nhà.

Ðến đây, mọi người như nín thở. Ðã có những tiếng khóc nghẹn nghào, nhưng không ai lên tiếng để được nghe người thanh niên bị thần chết bỏ quên kể tiếp. Anh kể tiếp rằng, khi về được đến nhà thì trời còn tờ mờ sáng, Anh gõ nhẹ cửa đôi ba lần mới nghe tiếng chân người rón rén ra mở cửa. Nhưng cánh cửa vừa hé mở đã vội đóng sập lại và nghe tiếng hú lên hãi hùng bị nén lại ngay, rất nhanh của người mở cửa. Mặc dầu vậy anh thanh niên cũng kịp nhận ra người mở cửa là người chị lớn. Có lẽ bà đã quá sợ hãi khi vừa mở cửa đã nhìn thấy anh như một bóng ma, mặt đầy máu và quần áo đẫm máu. Một lúc yên lặng nặng nề trôi qua. Chàng thanh niên vừa gõ cửa vừa khẽ gọi, âm thanh đủ người trong nhà có thể nghe được:

- Chị, chịCh. Chị Ch. Em Đại. đây, Đại. đây chị Ch. Mở cừa mau cho em vô hỉ.
- Mi...Mi..Đại hỉ, răng rứa?
- Em bịthương máu nhuộm ướt cả, mở cửa mau cho em vô, chị Ch.....

Cánh cửa phụt mở, và đóng sập lại ngay sau khi anh thanh niên đổ nhanh vào nhà.
Chàng thanh niên đã thoát chết như thế trong một cuộc hành hình tập thề của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân nằm 1968 ở Huế. Nhờ đó, theo chỉ dẫn của người thanh niên này, gia đình ông Ba Trầm Hướng tìm được xác của bà Ba Trầm Hương đã thối rữaở một hố chôn tập thể trong khuôn viên trường tiểu học G.H. Tất cả gia đình các nạn nhân đã không hẹn mà cùng gặp một ngày, để đào bới tìm xác người thân. Căn cứ vào quần áo, đồ trang sức và dấu vết riêng, bà Ba Trầm Hương đã được chồng con tìm thấy xác đem về mai táng.

Thực ra anh thanh niên cũng không biết chắc nhờ đâu anh sống sót trước hàng loạt đạn AK của những tên Việt Cộng hành hình. Anh và nhiều người nghe anh kể lại chỉ suy đoán rằng, có lẽ đạn đã ghim vào những người khác bên cạnh, rồi kéo anh đổ xuống, hoặc anh đã ngả xuống, chết ngất trước khi loạt đạn AK nổ đến phiên anh.....Nếu không thì đây phải là một phép lạ hay nói theo tướng số, thì chàng thanh niên này có số mạng lớn nên thần chết đã bỏ quên chăng?

Tôi viết lại câu truyện có thật này theo lời kể của Hoàng một trong những người con trai của ông bà Ba Trầm Hương, khi anh này vào sống chung với người chị cả Hương Giang sát cạnh nhà tôi ở Sài Gòn. Một câu truyện thật trong hàng ngàn truyện thật liên quan đến hơn năm ngàn nạn nhận bị Việt Cộng sát hại thảm thương, chôn vùi trong những mồ chôn tập thể ở huế trong biến cốTết Mậu Thân năm nào. Nếu tất cả những câu truyện thật này được phơi bầy, chắc phải in thành hàng ngàn trang sách. Ðó là một tội ác tầy trời mà ngày nay thếgiới văn minh gọi là “Tội ác chống nhân loại”, những thủ phạm phải bị xét xử và trừng phạt.

Ðến đây, nhiều câu hỏi được đặt ra, nhưng vẫn chưa có câu trả lời là, bao giờ thì những kẻ phạm tội ác chống nhân loại này là Việt Cộng bị đem ra xét xử và trừng phạt? Ai sẽ khởi động tố quyền, thủtục tố tụng và cơ quan tài phán nào có thẩm quyền xét xử thủ phạm đây?

Huy Anh
-------
 
MẬU THÂN, VẾT THƯƠNG THẾ KỶ



(Tưởng niệm 40 năm biến cố Mậu Thân)
 
 
Bốn mươi năm trước, một mùa xuân
Khắp nẻo thôn xa đến phố gần
Dân dã nôn nao mong hưởng Tết
Lính chờ hưu chiến, phút dừng quân

 
Hỡi ơi, Xuân ấy có đâu ngờ
Súng nổ điên cuồng, nát giấc mơ ...
Thành phố hoang tàn theo pháo giặc
Mùa xuân tắm máu giữa giao thừa !!!

 
Tại sao tàn nhẫn giết dân tôi ?
Hưu chiến vì đâu máu đỏ trời !
Tập thể một mồ, ngàn xác chết
Xác già, xác trẻ, xác nằm nôi !!

 
Mùa Xuân sao nỡ giết dân tôi ?
Cả triệu sinh linh chết ngậm ngùi
Từ trẻ đợi giờ khoe áo mới
Đến già đang ước bữa cơm vui ..

 
Mùa Xuân, ai đã giết dân tôi ?
Một nửa quê hương khói lửa vùi
Ai pháo vào dân, vào bịnh xá
Vào trường, vào chợ, viện mồ côi ?!

 
Ôi tang thương ấy bởi vì đâu
Sao chọn ngày xuân dựng thảm sầu ?!
Để mãi Mậu Thân dòng uế sử
Cho đời nguyền rủa đến ngàn sau !

 
Xuân này là đã bốn mươi xuân
Nỗi hận niềm đau vẫn bội phần
Hằn dấu vết thương, đen thế kỷ
Mậu Thân, tội ác của vô thần !

 
Bao nhiêu oan khuất vẫn còn đây
Hận bốn mươi năm chửa lấp đầy
Chẳng lẽ cúi đầu than khóc mãi
Quê hương đang đợi cuộc vần xoay ...

 
Hỡi nào toàn quốc đứng vùng lên
Nhân bản, yêu thương dựng lại nền
Dân chủ, công bình xin kiến tạo
Ngàn đời hiển hách giống Rồng Tiên

 
Đừng ngần ngại nữa, góp bàn tay
Cứu chính đời ta khỏi đọa đày
Và cứu dân lành trong đáy ngục
Bạo quyền lừa mị bấy lâu nay ...

 
Cứu quê cho hết vặn mình đau Và Mậu Thân xưa bớt hận sầu
Tiễn những hồn oan về cõi tịnh
Cờ Vàng công chính để muôn sau ...


Ngô Minh Hằng


Bài Xem Nhiều