We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 18 February 2013

Chim ơi! Vĩnh biệt sao đành!

Lời tác giả: Ở đời có những chuyện nói ra nghe khó tin nhưng lại là chuyện rất thật. Khi viết lại (2001), tôi vẫn thấy chuyện này như mới xảy ra, mặc dầu nó đã qua đi 25 năm rồi. Nó có những hình ảnh khiến người ta liên tưởng đến thời nô lệ thượng cổ trung cổ rất xa xưa nào đó: Hai người đàn bà trẻ cầm hai cây roi, xông xáo giữa một đám đàn ông trần truồng, tay chân khẳng khiu lòng khòng với dáng vẻ những con kanguru... Nhân chứng biết chuyện giờ vẫn còn nhiều. Tôi có gọi điện thoại đến một số người trong cuộc để nhờ xác định lại một vài chi tiết. Chuyện xảy ra ở trại giam B5 Tân Hiệp, Biên Hoà, vào năm 1976.

Khoảng cuối năm Ất Mão, không biết bệnh ghẻ phát xuất từ đâu, lan tràn nhiều nơi ở miền Nam Việt Nam và đặc biệt phát triển mạnh trong các trại tù. Ghẻ lan đi như một trận dịch. Người ta nói ghẻ theo chân mấy anh bộ đội từ rừng sâu về đồng bằng nên cũng gọi là ghẻ bộ đội. Nó không chỉ phát triển ở người mà còn ở các loài khác như chó, mèo và cả đến các loài sống dưới nước nữa. Những ai sống gần đồng gần suối lúc bấy giờ hẳn đã thấy những con cá da bị lở loét gớm ghiếc bơi lờ đờ, có con tưởng chừng như chỉ còn cái đầu với bộ xương...

Khoảng tháng 7 tháng 8/75, tôi bị đưa vào trại giam B5 Tân Hiệp Biên Hoà. Trại này có mười bốn phòng, chứa ngót ngàn người. Mỗi phòng đều có cầu tiêu và bể lớn chứa nước. Tuy vòi nước chảy mạnh, mở tự do, nhưng lượng người quá đông nên việc tắm rửa rất khó khăn. Bị nhốt chừng một tháng thì một số tù bắt đầu bị ghẻ, khởi đầu bằng những nốt nhỏ ngoài da làm cho người ta ngứa ngáy khó chịu. Trại không có thuốc trừ ghẻ nên bạn tù đã “sáng tạo” ra cách lấy nước đắng trong các ống thuốc lào để xức. Mặc dầu thứ nước đen đó có một mùi hôi rất khó chịu nhưng nhiều người vẫn tranh nhau xin để dùng. Kết quả nhiều hay ít không rõ, chỉ biết rằng, ghẻ vẫn lan ra.

Rất tội cho những người bị ghẻ “tiền phong”! Ghẻ hành hạ họ đã đành, cái lòng, cái đầu họ cũng muốn lộn tung lên vì bị bạn bè xa lánh có khi đến độ phũ phàng! Người bị ghẻ tiếp theo sau cứ trách người bị ghẻ trước “Vì mày lây sang cho tao đấy!” Trong hoàn cảnh từ chỗ nằm đến chỗ để đồ đạc đều ở trong thế ép buộc “chen vai sát cánh”, vậy mà cũng phải cắt chiếu phân ranh! Cái dây mùng, cái chéo áo bên này vướng qua bên kia một chút đôi khi cũng sinh chuyện. Những cái miệng nhỏ nhen cứ mở ra là “Ở dơ thì sinh ghẻ chứ có gì lạ!” hoặc “Ghê tởm quá! Thế mà không biết chút lịch sự, cứ chung lộn với người ta!” Thậm chí khi chia đồ ăn, có cả chuyện người lành hất chén của người bị ghẻ khi người này vô tình đặt chén gần chén mình. Không thiếu những toán “người lành” ngồi với nhau rỉa rói những người bị ghẻ. Nói không quá đáng, họ hất hủi những người bị ghẻ thiệt tình như “con chó ghẻ”. Có anh còn lên mặt giảng giải về phép vệ sinh, về phép xã giao, lịch sự nọ kia... tưởng chừng như mình là kẻ hoàn toàn tốt. Một số sợ ghẻ đến nỗi phải nhịn phần ăn quá đạm bạc của mình để thuê những người sáng mắt bắt con ghẻ trong các mụn ghẻ. Người ta dùng cái kim khều khều trong mụn ghẻ rồi khươi ra những sinh vật cực nhỏ, mắt thường rất khó thấy, quệt lên một cái gì đó. Chính mắt tôi đã thấy những sinh vật li ti này nhúc nhích. Trông con ghẻ hơi giống con nhện, nhỏ hơn cả con “mạc” gà. Tuỳ người ghẻ nhiều hay ít, người ta linh động ấn định số lượng con ghẻ bắt ra được để lấy một phần ăn hay nửa phần ăn. Nhưng bắt mãi ghẻ vẫn lan nên nghề này rốt rồi cũng không thọ.

Dịch ghẻ lan thật nhanh. Nhiều người tắm xát xà phòng như điên hàng ngày vẫn không thoát. Rồi những người hay giảng phép giữ vệ sinh cũng không ngăn chận được bệnh ghẻ đến với họ. Chuyện trớ trêu là cái người hay nói chuyện vệ sinh, hay mỉa mai khinh bỉ những người bị ghẻ nhất về sau lại dẫn đầu về ghẻ. Đó là ông Ẩn. Tôi là một trong những người bị ghẻ đầu tiên, ông ta từng nhìn tôi bằng cặp mắt khinh thị như nhìn con quái vật. Mãi tới ngày ông Ẩn được thăng ngạch ghẻ “thượng hạng ngoại hạng” ông mới chịu nở với tôi một nụ cười. Lúc ấy trong phòng không còn ai tránh được ghẻ nữa, còn khác nhau chăng là ghẻ nặng hay nhẹ. Có điều ai cũng nhìn nhận là người da sáng sủa bị ghẻ chiếu cố mạnh mẽ hơn người da tối tăm. Một điều khá tức cười nữa là con ghẻ cũng biết nể “thể diện” con người. Nó mọc khắp chỗ hở, chỗ kín, trên đầu, khắp bàn chân, bàn tay... nhưng nó vẫn chừa ra cái mặt cho bất cứ ai. Phong trào “gảy đàn” trong phòng phát triển sôi nổi. Càng gãi càng ngứa! Càng ngứa càng gãi! Lúc này hết còn ai đổ thừa cho ai vì tất cả đều đã bị nhiễm ghẻ. Nhưng nhìn chung, những người có thăm nuôi được bồi dưỡng ghẻ vẫn ít phát triển hơn. Ngược lại, những người thiếu thốn lại còn dễ mang thêm môt chứng bệnh khác: bệnh tê bại. Dần dần có một số người phải bò lết thay vì đi đứng bình thường.

Có người bị ghẻ chay, mọc nốt trên da, tuy ngứa nhưng không làm mủ, loại này tương đối ít dơ dáy. Có người lại bị ghẻ mủ, chỗ nào cũng mưng lên từng cục mủ, lớn thì bằng hạt bắp, mọc nhiều ở lòng bàn tay, bàn chân, nhỏ thì bằng mũi kim mọc khắp mình mẩy, đụng đến thì vỡ ra nhầy nhụa tanh tưởi không ai chịu được. Cũng có người bị mang cả hai loại. Tôi thuộc dạng chay, mủ kiêm toàn này. Về sau có một số người bị ghẻ nặng đến độ kiệt quệ.

Ghẻ mủ làm người bệnh khổ sở hơn ghẻ chay rất nhiều. Người bị ghẻ nặng luôn đau đớn theo từng cử động. Nằm ngửa, nằm nghiêng, nằm sấp đều đau đớn theo từng cái trở mình. Ngồi không yên nằm cũng không ổn, thức chẳng xong ngủ cũng chẳng xuôi. Tôi đã lâm cảnh đau đớn, đờ đẫn, mê mê mệt mệt, ngày cũng như đêm. May lắm khi nào trời mát lạnh tôi mới thực sự ngủ được chút ít. Tôi chỉ tỉnh hẳn người mỗi khi được mở cửa cho ra sân trại tắm nước phèn và phơi nắng.

Sân trại giam hình chữ nhật, đất pha cát, có một số giếng đào không sâu lắm, nước đầy phèn. Sân cũng có trồng vài cây trứng cá để lấy bóng mát. Ban đầu trại ấn định hằng ngày cán bộ trực từng đợt mở cửa một hai phòng cho tù ra sân hít thở, phơi nắng một hai tiếng. Những lúc được ra chơi như thế, hầu hết tù nhân chỉ mặc quần xà lỏn và ở trần. Trong dịp này, một số tù cũng đem áo quần ra giặt phơi, tắm táp. Cũng có người thèm thuốc quá nhưng không có thuốc, họ phải hái lá trứng cá khô vấn hút cho đỡ ghiền. Đây là những dịp tốt cho tù khác phòng chuyện vãn, trao đổi gởi gắm quà cáp cho nhau.

Về sau, thấy người bị ghẻ và tê bại ngày càng nhiều, trại đặc ân cho những tù bệnh nặng ở tất cả các phòng đều được ra sân suốt ngày. Họ được tắm giặt, phơi phong thoải mái. Đó là cái ân huệ mà chẳng người tù nào muốn từ chối. Dù không làm được gì họ cũng dựa cây dựa tường để hít thở thoải mái, tránh bớt được cái ngột ngạt hôi hám trong phòng. Nghiễm nhiên họ cũng trở thành những tay liên lạc tốt giữa các phòng tù.

Nhưng dù cho tù bệnh ra sân thường ngày mà khan hiếm thuốc chữa và thiếu bổ dưỡng thì bệnh đâu có giảm! Thấy được điều đó, trại phải lo tìm một biện pháp mới.

Một buổi sáng, viên cán bộ tới mở cửa cho bọn tôi ra ngoài dặn:

“Mấy anh bị ghẻ mủ đem tất cả áo quần theo ra ngoài hết!”

Dặn xong anh ta bỏ đi mở cửa các phòng khác. Chúng tôi bắt đầu phỏng đoán nọ kia. Có thể là đổi phòng. Dám lần này họ dồn những tù ghẻ nặng về một hay hai phòng để cách ly cho ghẻ khỏi lây lan lắm. Thật sự số tù bị ghẻ và tê bại nặng được cho ra ngoài lúc bấy giờ chắc đã cao hơn con số một trăm. Người nào cũng trơ bộ xương cách trí, bụng thóp lại, hai tay do chứng tê bại tạo cho họ thói quen co gập cổ khuỷu lại trước ngực, hướng lòng bàn tay và các ngón ra phía trước, bước đi lựng khựng trông chẳng khác gì những con kanguru. Viên cán bộ mở các cửa phòng xong, bỏ đó mặc ai làm gì thì làm, đi mất tiêu.

Chừng nửa giờ sau, tôi thấy hai người đàn bà trẻ, một khá mập, một mảnh khảnh đều mặc áo bà ba đi vào, mỗi người cầm một cây roi. Cả hai đều khoảng hăm lăm hăm bảy tuổi. Đi gần đến chỗ bọn tôi đứng thì họ ngừng lại. Hai bà lặng lẽ nhìn người này rồi người khác như xoi bói điều gì. Chốc sau lại có hai người tù khỏe mạnh từ phía nhà bếp vác hai cái bao nhỏ nhưng khá nặng đến quăng xuống gần thềm một cái giếng. Đó là hai bao muối hột. Tiếp đó là bác sĩ tù Lê Công Hùng tay xách hai cái xô chứa nước bước đến. Ông vốn người Bắc, cựu thượng uý, vào Nam dự chiến dịch Mậu Thân và bị bắt trong dịp này, sau đó xin cải danh thành chiêu hồi. Ông được trại chọn làm bác sĩ khám bệnh cho tù. Chúng tôi chưa hiểu họ định làm gì thì người đàn bà mảnh khảnh đến trước mặt tôi, nhìn tôi từ đầu đến chân rồi nghiêm nghị nói:

“Cởi quần ra!”

Tôi ngạc nhiên như trên trời rớt xuống. Lúc ấy trên thân tôi chỉ có độc một cái quần đùi. Thế nghĩa là gì? Tôi ngẩn ngơ nhìn lại bà ta dò hỏi. Những bạn tù chung quanh cũng ngơ ngác nhìn bà ta và tôi. Bà ta lặp lại pha một chút cười:

“Tôi biểu anh cởi quần ra, anh nghe rõ không?”

Tôi hỏi lại:

“Cán bộ bảo cởi quần đùi này?”

Bà ta gằn giọng:

“Chứ còn cái gì nữa!”

Tôi đâu hiểu ý bà ta muốn gì. Mọi người đàn ông gần đàn bà lạ, lại là đàn bà trẻ trung láng lẩy, đều có cái xốn xang gió bão trúc gốc gẫy cành là chuyện thường tình. Cái lệnh “cởi quần ra” của người nữ cán bộ này khiến tôi vô cùng lúng túng. Tôi lo sợ sự nhạy cảm của mình. Nhưng liền đó, tôi chợt nhớ rằng, “hài nhi” của tôi đã bệnh liệt giường qua bao nhiêu ngày rồi...

Trong khi tôi đang dùng dằng thì người đàn bà hơi mập kia cũng chỉ một loạt nhiều anh tù khác ra lệnh:

“Tất cả mấy anh này cũng cởi quần ra hết!”

Qua mấy phút nhìn nhau, cả trăm người tù đàn ông đều tồng ngồng trước mặt hai người đàn bà trẻ. Thật là một cảnh tượng khác thường tôi chưa hề tưởng tượng tới bao giờ. Người đàn bà khá mập nói với bác sĩ Hùng:

“Anh lựa cho tôi mấy người mạnh khỏe!”

Bác sĩ Hùng lựa được sáu anh trong đám. Chốc sau chúng tôi mới biết mấy bà lựa những người này để múc nước tắm cho chúng tôi. Tôi và ba anh bạn khác được gọi lại đứng gần giếng để mấy anh kia dội nước và kỳ cọ cho. Hai cán bộ nữ đứng quan sát và đưa roi chỉ nặn mụt ghẻ này, gỡ mụt ghẻ nọ. Tuy có đau rát nhưng cái đau rát chịu đựng được có pha chút sảng khoái. Từ khi lên mười, tôi có bao giờ được ai tắm cho như vậy đâu!

“Xách xô nước kia lại đây!”

Người đàn bà khá mập ra lệnh. Một anh tù ì ạch xách xô nước đầy lại, trong đó có sẵn một cái lon gô. Xô nước đã được một người tù quậy hoà tan vào cả lon muối hột. Người đàn bà khá mập nói tiếp:

“Anh hãy múc nước trong xô dội cho anh này!”

Gô nước vừa dội lên mình là tôi nhảy dựng người và hét lên. Rát ơi là rát! Không khác gì xát ớt hiểm vào da bị thương! Tôi phải gập người lại, hai tay bụm lấy hạ bộ mà rên rỉ trong khi tiếng cười chung quanh vang rân. Anh tù dội nước ngưng lại. Người nữ cán bộ thét lên:

“Anh cứ dội cho nó! Không dội làm sao mà lành!”

Mấy gô nước muối nữa dội xuống làm cho tôi rát đến thấu xương tưởng chừng muốn ngất đi.

“Thôi, được rồi! Lấy nước lạnh dội lại cho anh ta!”

Khoảng nửa giờ sau tôi mới trở lại bình thường. Tôi thấy nhiều cặp mắt nhìn tôi mỉm cười, trong đó có cả bà cán bộ mập. Bấy giờ lại tới phiên tôi đứng vừa phơi nắng vừa chứng kiến những người bạn khác chịu trận. Bị dội nước muối sau khi các mày ghẻ bị tróc nó rát không tưởng tượng được. Không một ai bị dội vào mà khỏi phải rên la nhảy tưng tưng lên! Tới phiên anh tù người Đại Hàn bị dội, anh hét tướng lên như bò rống rồi vùng chạy bươn bả gặp ai xô vẹt ra nấy. Mấy người tù khỏe phải chạy theo bắt anh ta lại dội nước muối tiếp mặc cho anh vùng vẫy la hét. Trong khi người ta tắm cho anh, tôi lẳng lặng đưa mắt quan sát. Tôi chợt nhận ra một điều khác thường. Cái thân hình khẳng khiu vì thiếu ăn, bệnh hoạn của anh ta lại mang cái “hạ bộ” hết sức kỳ dị. Nó rất lớn, hơi đỏ, cương láng lên không khác gì hạ bộ của trâu bò thời kỳ sung sức. Hèn gì bình thường tôi thấy anh ta chỉ mặc quần đùi một ống! Tên anh ta không biết viết thế nào nhưng mọi người vẫn gọi là Chung Goam. Anh là một kỹ sư, can tội làm việc giúp Việt Nam Cộng Hoà. Lần tắm ghẻ bằng nước muối đầu tiên đã làm cho những người bị ghẻ vô cùng khiếp sợ.

Hôm sau Chung Goam và một số anh không dám ra ngoài tắm nữa.

Cũng bắt đầu từ hôm đó, ngày nào hai nữ cán bộ cũng cầm roi trên tay, xông xáo giữa đám tù đàn ông trần truồng, khẳng khiu, đi lựng khựng hay ngồi ủ rũ. Tôi cứ tưởng tượng ra đó là hai nữ chủ nhân và đám nô lệ của một thuở xa xưa nào. Hai nữ cán bộ ấy bấy giờ chúng tôi đã biết tên, bà mập có bầu tên Phấn, bà mảnh khảnh tên Hồng, đều là người miền Nam.

Cũng kể từ hôm hai cán bộ nữ bắt những người tù bị ghẻ cởi truồng thì vấn đề tù nhân cởi truồng trong trại trở nên bình thường. Nhiều anh chưa bị ghẻ bao nhiêu cũng ở truồng ké cho thoải mái. Bất cứ khi nào, trước bất cứ cán bộ trại nào, kể cả trưởng trại, không ai quan tâm đến chuyện tù mặc quần hay cởi truồng nữa. Dĩ nhiên là ngoại trừ khi đi làm việc.

Ngày kế tiếp thì trại xảy ra một biến cố lớn: Chung Goam qua đời. Có lẽ anh là người đầu tiên chết vì bệnh ghẻ trong tù!

Mãi sau này, khi tôi bị giam ở khám đường Bà Rịa, nơi có đến mấy chục người chết vì bệnh ghẻ, tôi mới rút được kinh nghiệm tất cả những ai bị ghẻ mà đến độ bộ dái sưng lên như dái trâu, mặc quần không được nữa, thì chỉ một hai ngày sau nhất định phải chết. Chính hai người bạn nằm bên trái cũng như bên phải của tôi ở khám đường Bà Rịa, một anh tên Liên, một anh tên Đày, đều chết vì chứng đó. Tôi vẫn còn xúc động mỗi lần nhớ lại việc vài hôm trước khi chết, hai anh này còn dùng muỗng ăn cơm, thay phiên cạo ghẻ cho nhau đến chảy nước vàng và cứ khen “Đã quá! Đã quá!”...

Thấy Chung Goam chết, trại không còn để tự do ai muốn ra tắm thì ra nữa mà bắt buộc các phòng phải đưa những người bị ghẻ nặng ra “tắm muối”. Tắm muối như một cực hình ai cũng khiếp sợ. Ngày nào cũng có cảnh la hét tơi bời ở giếng tắm. Cho nên rất nhiều anh hễ có cơ hội thuận tiện là trốn tránh. Ngày kia, một anh Tàu Chợ Lớn tên là Lý Tường, bị lôi ra tắm nhưng anh cứ mặc quần dài và nhất quyết không chịu cởi. Cán bộ Phấn nổi giận ra lệnh:

“Mấy anh cứ đè nó xuống mà cởi ra!”

Lý Tường phát khùng lên quay nhìn cán bộ Phấn trừng mắt nạt lại:

“N... l... hay sao mà bắt người ta cởi quần để coi c...?”

Mọi người ngẩn tò te ra hết. Gã cán bộ trực đứng gần đó quay mặt giả lơ, miệng tủm tỉm cười. Còn Lý Tường nạt lại cán bộ xong, liền vùng chạy. Cán bộ Phấn hét lên:

“Bắt nó lại! Bắt nó lại!”

Thế là mấy anh khỏe mạnh đuổi bắt Lý Tường lại, đè xuống cởi đồ ra mà tắm cho hắn. Cán bộ Phấn cũng cười khi thấy Tường vùng vẫy la hét vì bị dội nước muối. Nhiều người tưởng hắn sẽ bị phạt hay ít nhất cũng bị rày một trận cảnh cáo nhưng rồi chẳng có chuyện gì xảy ra hết...

Kế hoạch chữa ghẻ bằng cách tắm muối trong trại B5 Tân Hiệp Biên Hoà đã trải qua nhiều tháng sau tết Bính Thìn. Những người ghẻ chúng tôi thành quen lệ cứ sáng ra là loã lồ trăm phần trăm ngồi đợi mở cửa. Một số lớn người bị ghẻ nặng dần thuyên giảm thật sự. Trại cho đây như là một thành công trong kế hoạch chữa bệnh do sáng kiến của trại. Riêng tôi thì không hẳn tin như thế. Tôi thấy những người bệnh đang phát triển mà được gia đình tới thăm, ăn uống đầy đủ thường thuyên giảm rất nhanh. Một anh ghẻ mủ đang đầy người, cầm chén cầm đũa không được, thế mà chỉ sau một tuần được thăm thì ghẻ lặn bớt và nhiều vết lở mím miệng đâm da. Hiệu quả nhất là có vitamin B1 trợ sức. Thuốc tây bấy giờ quá đắt, quá hiếm cho nên người được gia đình cung cấp vẫn hay giấu kín để phòng thân. Những gia đình không kiếm ra được thuốc B1 thì gởi cám trộn đường cho thân nhân. Những gói cám đường tù trao cho nhau cũng là một thứ quà quí. Chỉ tội nghiệp những người không được thăm nuôi bệnh vẫn kéo dài. Dù sau, tắm nước muối riết rồi sự đau rát cũng dần quen phần nào.

Lúc bấy giờ tôi nghĩ rằng hiệu quả của sự tắm nước muối này chỉ là ở chỗ ngăn ngừa sự lây lan của ghẻ. Sau này khi bị đưa vào khám đường Bà Rịa tôi mới có thêm một nhận định khác. Khám đường Bà Rịa số người bị ghẻ ít hơn nhiều so với số lượng người bị ghẻ tại trại B5 nhưng lại chết trên hai mươi người, trong khi trại B5 chỉ chết một viên kỹ sư Đại Hàn Chung Goam. Phải chăng là nhờ trại B5 cho tù tắm nước muối hàng ngày trong khi khám đường Bà Rịa cả tuần tù mới được tắm sơ sài một lần, đó là chưa kể trường hợp tù biệt giam có người cả năm không được tắm? Phải chăng người bị chết là do nhiễm trùng?

Chung Goam từ khi vào tù cho đến khi chết không hề có ai thăm viếng. Anh lại là người ngoại quốc không thạo tiếng Việt nên khó bày tỏ với ai những khó khăn của mình. Cái chết của anh đã làm tôi giật mình. Người tôi yếu đuối và nhỏ con hơn anh ta nhiều. Tôi cũng bị ghẻ trước anh ta khá lâu. Phải nói đúng vào dịp tết Bính Thìn tôi đã đạt mức quán quân về ghẻ ở trại B5 Biên Hoà. Toàn thân tôi chỗ nào cũng nổi nhọt mủ, chỉ chừa mặt. Hai bàn tay chạm nhau một cái là mủ chảy tèm lem. Lại thêm chứng tê bại phụ vào, tay tôi không còn sử dụng chính xác nữa. Khi ăn, tôi phải dùng cả hai tay đưa cái chén lên rồi cố gắng dùng tay trái ép chén vào ngực để giữ. Tay phải lại đưa xuống cầm muỗng bằng cách dùng hai ngón tay chỉ và trỏ để kẹp cán muỗng. Rất nhiều lần tôi đã làm đổ mất phần ăn của mình. Người tôi càng ngày càng luội, lúc nào cũng chỉ ưa nằm. Mà nằm thì cứ mê thiếp từng cơn, đầu óc thì cứ bị ám ảnh chuyện chết chóc.

Nhưng cũng may, vận tôi chưa đến ngày cùng! Một hôm tôi ra phơi nắng thì gặp ba vị cứu tinh. Đó là ông Võ Huyến, cựu Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Quảng Trị, ông Cái Viết Pháp, cựu Chỉ huy phó Trung tâm huấn luyện Cảnh sát Dã chiến Đà Lạt và anh Lưu Phát. Lưu Phát có thời gian cùng làm việc một chỗ với tôi, cũng lại là anh ruột Lưu Khánh Vân, bạn học của tôi. Cả ba người đều mới được thăm nuôi nên đều tiếp tế thức ăn cho tôi. Riêng ông Võ Huyến, thấy tình trạng tôi kiệt quệ như thế, đã không ngần ngại đưa cho tôi cả gói thuốc B1. Kỳ diệu như phép màu, chỉ mấy ngày sau tôi đã giảm bệnh nhiều, nhất là chứng tê bại. Từ đó về sau, mỗi lần được thăm nuôi, mấy ông ấy vẫn tìm cách chia sẻ cho tôi. Có một ông đại tá tên Cát, người cao lớn, tôi chưa hề quen biết, cũng có lần cho tôi một gói đồ toàn thức ăn tốt như đường, cá và bột mình tinh. Ông lại an ủi tôi:

“Qua thấy cặp mắt em còn ‘thần’ lắm, không thể chết đâu mà sợ!”

Không biết ông coi tướng được thật hay là chỉ trấn an tôi, nhưng nhờ đó tôi cũng an tâm rất nhiều. Nếu không gặp được những người ấy, nhất là ông Võ Huyến, có thể tôi đã tranh đi theo Chung Goam rồi.

Qua thời gian được cho ở truồng ra ngoài tắm muối, đầu óc tôi cũng dần bình thường. Ông Võ Huyến biết tôi ngoài đời hay ngâm thơ nên mỗi lần gặp phòng ông được ra chơi, ông lại gọi tôi. Ông khuyên tôi nên ngâm thơ để giải buồn cùng luyện lại giọng. Trong thời gian bị ghẻ phát triển nặng, giọng tôi bị tắt, chỉ nói được khào khào. Tôi nghe lời, bắt đầu ngâm thơ trở lại. Bất cứ bài thơ nào tôi cũng nói là của Tố Hữu hết. “Hồ trường” cũng của Tố Hữu, “Nhớ rừng” cũng của Tố Hữu, “Hai sắc hoa tygon” cũng của Tố Hữu nốt... Mà đã ngâm thơ Tố Hữu thì cán bộ không bao giờ thắc mắc. Tôi vốn thuộc một số bài thơ nổi danh như “Đêm liên hoan”, “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, “Đôi mắt người Sơn Tây”, “Đôi bờ” của Quang Dũng, “Nhà tôi” của Yên Thao, “Màu tím hoa sim” của Hữu Loan, bốn bài thơ của T.T. K.H., một số của Tản Đà, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Thế Lữ... nên nhiều người thích nghe tôi ngâm. Một số kiếm giấy bút lén nhờ tôi đọc cho chép lại những bài họ thích. Tôi không thể chép giúp vì chứng tê bại đã làm tôi không sử dụng viết được. Ngày nào tôi cũng được thính giả người thưởng táng đường, kẻ cho trái chanh, cái bánh... Chính chút nghề mọn này đã giúp tôi mau hồi phục sức khoẻ thêm. Mỗi lần nhớ lại chuyện cũ, tôi không khỏi tức cười vì cái việc hi hữu mình đã làm: ở truồng ngâm thơ mà vẫn được đông thính giả ái mộ như thường! Có lúc có cả cán bộ đến nghe nữa. Những lúc đó, tôi vẫn tiếp tục ngâm, nhưng hay dùng thơ thứ thiệt của Tố Hữu. Cán bộ nghe cũng khoái chí vỗ tay khuyến khích.

Có một lần tôi trần truồng ngâm thơ cho một nhóm thính giả cũng trần truồng kẻ đứng người ngồi thưởng thức như thế thì cán bộ Phấn đến. Bà ta cũng ngồi xuống nghe. Anh Tám, một bạn tù cùng phòng với tôi vẫn rất thích nghe thơ, đang ngồi bên tôi bỗng cười khục khặc cụi tay vào người tôi rồi bỏ đi nơi khác. Tôi không hiểu anh muốn nói gì, vẫn tiếp tục ngâm nga. Khi về phòng tôi thấy anh cứ nhìn tôi mà cười ngặt nghẽo. Mấy người chung quanh xúm lại hỏi chuyện gì. Anh kể không ra hơi:

“Tôi đang nghe thằng này ngâm thơ thì mụ mập tới ngồi gần tôi. Nhìn thấy mụ nây nây cái bầu ba bốn tháng, thằng nhỏ của tôi ngủ mê đã mấy tháng nay thình lình nhảy nhổm dậy khiến tôi hoảng hồn phải chạy đi chỗ khác! Nghĩ mà cứ tức cười!”

Mọi người nghe Tám nói đều cười nghiêng cười ngả. Một anh hỏi tôi:

“Nếu ‘ngâm sĩ’ gặp trường hợp đó thì mần răng hè? Không lý đang ngâm mà cán bộ tới thưởng thức lại bỏ chạy! Nặng tội lắm, biệt giam như chơi đấy!”

Một người khác đùa:

“Ngâm sĩ lúc này lấy cả hai tay mà vò nó cũng không nhúc nhích được chứ đừng nói là nó nhảy nhổm dậy!”

Anh này nằm gần tôi nên biết rõ về tôi. Quả thật, mặc dầu bệnh ghẻ và bệnh tê bại của tôi có giảm nhiều nhưng hài nhi của tôi vẫn còn thiêm thiếp liệt giường. Một anh khác lại cười ngặt nghẽo nói:

“Ngâm sĩ bây giờ đã thành ‘công công’ rồi. Để tôi ngâm thế ngâm sĩ đôi lời gọi là thương tiếc thằng bé đã qua rồi một thời quá khứ liệt liệt oanh oanh nhé:

Trời đất từ nay xa cách mãi!
Cửa động, đầu non, đường lối cũ!
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!
(thơ Tản Đà)

Các bạn thấy mấy câu thơ có hợp cảnh hợp tình không?”

Mọi người lại tiếp tục cười ó khen hay. Lôi ra được những câu như thế thì thật tuyệt diệu. Nhưng chết cha! Như vậy là lạm dụng và bất kính đối với nhà thơ tiền bối đáng yêu rồi! Hi vọng rằng người xưa cũng thông cảm cho lũ hậu bối tìm chút vui nhỏ trong bước đường cùng chăng? Một người lại hỏi:

“Công công là cái gì?”

“Công công là từ dành riêng xưng gọi mấy anh thái giám ngày xưa.”

Sau buổi vui đùa trên của các bạn tù, tôi càng lo nghĩ về mình. Quả thật đã khá lâu, tôi không nghĩ tới chuyện gì ngoài sự hành hạ của bệnh hoạn. Bây giờ bệnh đã giảm nhưng hài nhi của tôi vẫn cứ co ro gầm mặt. Phải chăng đời nó đã tàn?

Lợi dụng lúc mọi người yên ngủ, tôi thử mân mê vuốt ve nó nhiều lần, đủ cách, đủ kiểu nhưng nó vẫn vật và vật vượi vô hồn. Nó có thể bình phục không đây? Qua một thời gian cố gắng không kết quả, tôi đã nghĩ đến cuộc sống gia đình sau này với một viễn tượng tối tăm. Sống đây cũng như chết rồi ư!

Cửa động, đầu non, đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Ôi, lời thơ buồn thúi ruột! Từ đó, hằng ngày tôi thẫn thờ ra sân nhưng không còn hứng thú gì để ngâm nga nữa. Lòng tôi đang trĩu nặng nên tôi cứ tìm chỗ vắng mà ngồi. Dù vậy, đêm về tôi vẫn thử kiểm tra vốn riêng và vẫn hoàn toàn thất vọng!

Thời gian cứ thế trôi qua. Những người chung quanh ngạc nhiên về thái độ của tôi nên bắt đầu hỏi thăm. Chẳng đặng đừng, tôi phải tâm tình với một người bạn thân. Không ngờ anh ta hở ra với người khác để rồi cuối cùng ai cũng biết hết. Chẳng bao lâu sau, mọi người đều chú ý đến tôi làm cho tôi càng khó chịu. Có người thật tình khuyên giải an ủi, nhưng cũng có người lấy đó để trêu chọc làm trò cười. Mấy câu thơ của Tản Đà bỗng được nhiều người ngâm nga.

Lại một chuyện tức cười nữa xảy ra, một anh tù vốn chẳng hề màng đến thơ phú, một hôm cũng ồ ề ngâm Cửa động, đầu non, đường lối cũ. Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi! Gặp lúc viên quản giáo đi ngang, nghe anh ta ngâm, viên quản giáo hỏi:

“Anh đang ngâm thơ gì đó?”

Anh tù ghẻ trả lời tỉnh bơ:

“Thơ Tố Hữu đấy cán bộ!”

Viên quản giáo hỏi lại:

“Có thiệt thơ Tố Hữu không? Thơ Tố Hữu làm gì mà có ‘ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!’ à? Anh liệu hồn mà ngâm thơ phản động!”

Nói xong viên quản giáo bỏ đi thẳng. Anh em tù nhìn nhau cười. Không ngờ sau này khi ra tù, tôi có gặp một bạn tù cũ, nhắc lại chuyện xưa thì anh này cũng tưởng mấy câu thơ đó là của Tố Hữu thiệt.

Một hôm, tôi đang ngồi một mình thì anh Khởi bước lại ngồi xuống bên cạnh. Trước đây anh cũng là tù ở truồng, nhưng gần đây anh đã mặc quần trở lại. Khởi nhỏ nhẹ hỏi:

“Thằng cháu anh nó đã ngồi dậy được chưa?”

Tôi cười méo mó khôi hài:

“Nó đành tâm vĩnh biệt tôi rồi anh ạ! Tôi đã cố làm nhiều cách mà đều vô hiệu.”

Anh Khởi tủm tỉm cười:

“Tôi bày cho anh một cách, anh hãy cố gắng thử xem sao nhé! Nói thiệt với anh, trước đây tôi cũng bị như anh, sau nhờ nhìn lén cán bộ Phấn mấy lần mà nó hoạt động trở lại đấy anh. Anh cứ ráng vừa ‘chiêm ngưỡng’ vừa tưởng tượng nhiều pha gây cấn thử xem sao. ‘Chiêm ngưỡng liệu pháp’ có thể là cách trị liệu thần diệu đấy!”

Tôi chỉ nhìn Khởi cười buồn. Khởi lại hài hước tiếp:

“Nhưng nhớ hễ kết quả sơ sơ là lo chuồn liền chứ đừng chờ nó khỏe mạnh mà hung hăng lên là mang họa đấy nhé!”

Cán bộ Phấn có bầu cỡ ba bốn tháng chi đó. Bà ta có thói quen cẩu thả, hay bạ đâu ngồi đấy. Anh em tù nhiều người dù gần chết nhưng vẫn hay “bình phẩm” nọ kia để vớt vát tinh thần. Tôi vốn nhút nhát nên bình thường không dám đấu tranh trực diện như thế mà chỉ âm thầm luyện công thôi. Hôm ấy, sau khi nghe Khởi mách nước, tôi quyết định thử ứng dụng “chiêm ngưỡng liệu pháp” xem sao. Biết đâu nó chữa trị được căn bệnh của tôi! Thế là tôi cứ ngong ngóng cán bộ Phấn đến. Vừa trông đợi vừa cố tưởng tượng những đòn “hồi mã tấn thương” thật tuyệt vời. Nhưng thể chất đã quá tàn lụi, dù cố gắng tưởng tượng thế nào cũng vô ích. Suốt ngày đó, cán bộ Phấn vẫn bặt tăm hơi, chỉ có cán bộ Hồng mảnh khảnh “ít gợi cảm” vào điều hành việc tắm rửa. Hôm sau cũng chỉ một mình cán bộ Hồng vào lo công việc. Lòng tôi cảm thấy buồn buồn như mất mát một cái gì. Phải nói thành thật, cả ngày tôi không ngớt theo dõi những cán bộ vào ra cổng trại. Tôi quên luôn cả mục tiêu cần đạt là để chữa bệnh mà lại ngỡ như mình đang mong đợi một người tình, một người bạn thiết xa cách lâu ngày. Mong ngày không được lại mong đêm. Quả đúng là liên tưởng củng cố đam mê, thời gian ấy gần như lúc nào tôi cũng nghĩ tới người đàn bà đó...

Cũng may, bà Phấn không đi hẳn. Một buổi sáng kia, với cái dáng nâng náo hơn, bà Phấn lại xuất hiện để chỉ huy việc tắm xát chữa bệnh. Sau một hồi xông xáo làm việc, bà Phấn lại gốc cây trứng cá chảng chân ngồi. Tôi thấy cơ hội thuận lợi đã đến, bèn giả vô tình, mon men lại gần làm như núp nắng dưới bóng cây. Lúc này trại nới việc thăm nuôi, gia đình tiếp tế thuốc men cho tù khá thoải mái. Những người bị ghẻ nặng nguy ngập phần lớn đã được bắn tin cho gia đình thăm nuôi tiếp thuốc, bệnh cũng giảm lần. Một số tù ở truồng đã mặc quần trở lại. Những người bị xếp vào hàng tanh tưởi nhất, trong đó có tôi, bây giờ đã ít bị người khác né tránh. Tôi đã có thể lẫn lộn giữa đám đông một cách bình thường để hành động không lộ liễu. Hễ có cơ hội là tôi tận tình vận dụng phương thức “ba mặt giáp công”: mắt thì liếc chiêm ngưỡng, đầu óc thì tưởng tượng những đòn phép thần sầu, tay thì lén mân mê “nó” để hà hơi tiếp sức. Nhưng than ôi! Tôi cố thử đi thử lại rất nhiều lần mà hài nhi vẫn thiêm thiếp giấc nồng...

Đêm này qua đêm khác, tôi cứ nghĩ về tương lai tối tăm của mình:

Trời đất từ nay xa cách mãi,
Cửa động, đầu non, đường lối cũ,
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi!

Thế là hết rồi. Trước kia tôi đã nghe nhiều người nói về cái bệnh khốn kiếp kia. Nó đã làm cho bao nhiêu người thấy mất hết ý nghĩa của cuộc sống. Nhiều gia đình đã ly tan vì nó. Tôi cứ hay nghĩ về mấy con gà trống thiến béo nung núc thui thủi kiếm ăn một mình không bầu bạn mà thương. Thôi thì cứ mặc dòng đời đưa đẩy. Cả ngày về tôi cũng chẳng còn thiết tha mong đợi nữa. Dù sức khỏe có phần vãn hồi nhưng tôi không còn chút nào hứng thú ngâm nga như trước. Tôi chỉ muốn được tĩnh lặng, không ai quấy rầy. Cái danh công công của tôi đã dần thành thông dụng. Tôi cũng thản nhiên chấp nhận, không vui, không buồn...

Thấy tình hình chữa ghẻ cho tù khả quan, hai cán bộ nữ cũng thưa tới điều khiển việc tắm rửa lần. Những người ra ngoài lúc này dần mặc quần đùi trở lại càng nhiều. Riêng tôi, tuy không còn tin tưởng mấy, nhưng nhớ lời người xưa “còn nước còn tát”, tôi vẫn tiếp tục luyện công cầu may.

Một hôm, lựa lúc mọi người đã tắm xong cả tôi mới ra giếng. Lúc đó trời nắng hơi gắt, mọi người đều tìm chỗ tránh nắng. Tôi muốn được một mình một chiếu tôi tìm một chỗ vắng để dễ luyện công hơn. Không ngờ “cao nhân tất hữu cao nhân trị”, một vài anh đã đoán biết ý tôi. Tôi đang tập trung thần lực truyền sức cho hài nhi thình lình một toán bốn năm người vừa cười vừa chạy nhanh đến chỗ tôi:

“Chào công công! Công công luyện chưởng thành công tới đâu rồi?”

Tôi ngượng ngùng chỉ hài nhi cười:

“Nó vẫn mê mê muội muội vậy thôi!”

Anh Bằng, người bạn tù tuổi cỡ năm mươi, ít nói, luôn tỏ ra đàng hoàng chững chạc, nhìn tôi thương hại:

“Được rồi, để mai tôi cố giúp anh thử sao! Ngày mai cũng vào giờ này, tôi ra đây tắm cho anh!”

Mấy người khác đều cười nửa tin nửa ngờ:

“Phải đấy, ngày mai tụi tôi sẽ ra đây chứng kiến sư phụ làm phép cho công công!”

Một anh cười hô hố:

“Mấy con mẹ y tá chữa được bệnh ghẻ mà lại không chữa bệnh này cho chả luôn, thiệt là bất nhân!”

Một anh khác nhìn anh Bằng dò hỏi:

“Anh không trêu gạt công công đó chớ!”

Anh Bằng cũng cười:

“Tôi nói thật mà! Biết đâu cách làm của tôi lại hiệu quả thì sao!”

Tư cách ăn ở hàng ngày của anh Bằng đã làm tôi có chút tin tưởng. Mà cũng có thể do tôi đã hết đường xoay xở, nên cố bám víu vào lời nói đó. Tôi nhìn anh biết ơn:

“Tôi rất hi vọng ở sự giúp đỡ của anh. Tôi sẽ nhớ ơn anh suốt đời!”

Anh Bằng nhìn tôi nói có vẻ thành thật:

“Tôi cũng hi vọng giúp được anh. Nhưng trước hết, nhất là trong đêm nay, anh hãy cố gắng tập trung trí tưởng tượng vào những pha cụp lạc nhất mà anh đã gặp trong đời. Nó sẽ giúp anh rất nhiều. Mong anh chuyến này toại nguyện!”

Suốt đêm đó, phải nói là tôi đã lạm dụng quá đáng. Tôi không thành công trong việc thức tỉnh hài nhi mà lại làm cho hài nhi nôn mửa tả tơi. Tôi lại càng tràn trề thất vọng vì nghĩ như thế chỉ làm cho nó đuối sức thêm.

Hôm sau, đến giờ hẹn, tôi ra giếng thì anh Bằng và rất nhiều người cùng theo ra. Tôi để ý thấy anh Bằng cầm một cái hũ Péniciline. Sau khi tắm rửa và đợi khô người xong, tôi ngồi bên miệng giếng đợi anh Bằng làm phép. Phải nói là tôi cũng khá hồi hộp. Những người khác có lẽ cũng như tôi, đều chăm chú theo dõi hành động của anh Bằng. Anh mỉm cười mở hũ péniciline: chỉ có một ít thuốc nước gì trong trong dưới đáy hũ. Anh nhìn mọi người rồi nhìn tôi:

“Công công hãy ra sức tưởng tượng đi! Bà Phấn, bà Hồng hay nàng tiên nào đó cũng được!”

Anh bảo tôi chấm ngón tay vào hũ thuốc rồi quệt lên hài nhi. Tôi quệt nhiều lần cho đến khi hết thuốc trong hũ. Ban đầu tôi cảm thấy mát mát nhưng sau đó nó nóng lên như bôi dầu nhị thiên đường. Tôi cũng cảm thấy có cả mùi dầu nhị thiên đường. Anh Bằng nói:

“Anh xoa bóp đều cho hài nhi đi! Thuốc trợ sức ngày trước xuất ngoại đem về còn chừa đó!”

Tôi làm theo lời anh, dùng cả hai bàn tay để xoa như người ta dùng tro để tẩy nhớt khi làm thịt con cá chạch hay con lươn. Mọi người chung quanh chăm chú theo dõi. Một vài người lên tiếng hỗ trợ cổ võ:

“Hậy, hậy, dô, dô!”

Lần đầu tiên từ sau trận bệnh ghẻ, tôi thật sự thấy hài nhi cựa quậy. Mọi người cùng cười rôm rả:

“Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Nó chuẩn bị ngồi dậy đó! Chúc mừng! Chúc mừng!”

Và quả thật nó chuyển gồng mình rồi ngóc đầu lên. Tôi sung sướng quá chừng. Trông nó cũng còn đẹp trai như thuở nào. Nó gật gật như thể cám ơn những người chung quanh đang thật tình chúc mừng cho nó. Một anh khen:

“Nó nghễu nghện trông chẳng khác gì một nhân vật quyền uy đang hiểu dụ dân chúng về một kế hoạch kinh tế nhảy vọt sắp thực hiện hỉ!”

Người bên cạnh thúc cùi chỏ vào người mới phát biểu, nói khoả lấp:

“Thôi, đừng đi quá lạc đường! Thế mới phải chớ! Tôi đã biết nó đâu nỡ để cho ngâm sĩ chịu cảnh ‘Cửa động đầu non, đường lối cũ, Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi’ sao đành?”

Ngô Viết Trọng
 Nguồn: Trích trong tập truyện Ngõ tím, in năm 2003, cùng tác giả
 http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvnvn0n2n1n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

đất người, quê thói



Nếu hai Bác không đến nhà gặp Ba Mẹ để hỏi cưới con thì sao?
Thì con xin phép chia tay với con trai của hai Bác.

Trong lần sơ ngộ khi Ba Mẹ chồng tôi từ Châu Âu sang California dự lễ ra trường của con trai, ông bà đã hỏi tôi như vậy. Việc nhà trai đến nhà tôi làm lễ dạm ngõ không chỉ quan trọng đối với tôi vì danh dự của gia đình, vì sự đền đáp của tôi đối với đấng sinh thành, vì phẩm giá của cá nhân tôi, mà còn vì đó là một phần hãnh diện của tôi đối với văn hóa gốc.


hương quê khác họ

Tôi may mắn di dân ở tuổi trưởng thành, khi tôi đã có một ý thức rõ rệt về căn tính văn hóa của mình, và chọn giữ một nếp sống nhiều Việt tính. Điều chỉnh văn hóa không chỉ xảy ra khi một người định cư ở một quốc gia khác, mà ngay cả khi trong nước, vì những phong tục văn hóa cũng luôn thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, chỉ ở hải ngoại, khi văn hóa Việt được đưa vào một xã hội khác, thì những cọ xát văn hóa mới thực sự xảy ra một cách mạnh mẽ và thấu đáo, từ những việc rất nhỏ trong nếp sống đến những điều sâu xa hơn trong tư duy sắc tộc.

Căn cội sâu nhất của văn hóa không thuộc về những hình thức hay nghi lễ cố định, mà nằm trong ý nghĩa và tư duy đằng sau mỗi phong tục tập quán. Theo thời gian, con người có thể thay đổi cách thể hiện mỗi phong tục tùy theo nhu cầu và thị hiếu của xã hội, nhưng ý nghĩa sâu xa đằng sau mỗi phong tục không thay đổi, mà chỉ được phong phú và làm nổi bật hơn. Đơn cử trường hợp cưới hỏi. Từ những phong tục cổ chúng ta chỉ được biết qua ca dao như tục nộp cheo, cho đến những hình thức cưới hỏi của hôm nay để thích ứng với xã hội loài người ở thế kỷ 21, tất cả cũng chỉ quy về một điểm: ngày thề nguyền yêu thương của đôi tân hôn, ngày đại hỷ của hai họ.

Khi chuẩn bị lập gia đình, tôi dành thời gian tìm hiểu về phong tục cưới hỏi của người Việt, vừa ôn lại những gì mình biết, đào sâu những gì mình chưa biết, vừa hệ thống hóa tất cả những kiến thức đó. Có hai lý do khiến tôi chuyên tâm làm việc này. Thứ nhất, tôi luôn thích tìm hiểu và quý trọng văn hóa Việt Nam, nên thường tạo cơ hội để mình đào sâu và tích lũy vốn liếng quý giá này. Thứ hai, chồng tôi không phải là người Việt, nên tôi phải đóng vai trò ‘đại diện’ cho văn hóa gốc của tôi, để hướng dẫn anh và gia đình anh về những hạt ngọc mà tôi muốn gìn giữ trong di sản tinh thần của tôi.

Tôi xin cố vấn với những vị quan tâm và dấn thân cho văn hóa Việt mà tôi quen biết ở khắp nơi. Nghị Viên Vũ Khánh Thành, MBE, ở Luân Đôn đã chu đáo gửi sang cho tôi quyển cẩm nang về phong tục cưới hỏi của người Việt do Viện Nghiên Cứu Nho và Đông Nam Á tại Luân Đôn thực hiện. Những tài liệu như vậy cho tôi một nhịp cầu với những thế hệ đi trước, giúp tôi an tâm khi có trong tay một phần của bản đồ văn hóa Việt Nam. Nếu đời trước không truyền lại, đời sau lấy gì để học và sống văn hóa?

Vậy người Việt hải ngoại – trong những cọ xát văn hóa khi tủa đi tỵ nạn và di cư trên toàn thế giới – đã giữ lại những gì từ văn hóa gốc? Câu hỏi thật đơn giản, nhưng câu trả lời thì ngược lại. Mỗi quốc gia thứ hai có những hoàn cảnh riêng biệt, cho phép cũng như khiến cho người Việt ở nơi đó thích ứng theo điều kiện có thể. Ở Quận Cam, California, chẳng hạn, người Việt tụ họp đông đảo, mỗi dịp lễ hội từ Tết Nguyên Đán đến Rằm Trung Thu đều có những sinh hoạt cộng đồng sống động và đầy sức sống, kết hợp văn hóa Việt Nam và những nếp sống địa phương, như đi diễu hành ở Little Saigon, hay những trò chơi hiện đại tại Hội chợ Tết. Ở những vùng ít người Việt tại Châu Âu, chẳng hạn như thủ đô Stockholm của Thụy Điển, Tết Nguyên Đán được tổ chức lặng lẽ hơn, khánh tiết đơn giản hơn, nhưng lại gần hơn với cái Tết truyền thống, ít có những ‘biến tấu.’ Nhưng dù ‘tân thời’ như Tết của Bolsa, hay ‘cổ truyền’ như Tết của Stockholm, ý nghĩa của ngày Tết – và sự thiêng liêng, nỗi háo hức, tình gia đình trong những ngày trời đất giao mùa này – vẫn không thay đổi, dù chúng ta ở nơi nào trên quả địa cầu.

ăn, nói, gói, mở

Chúng ta đi, mang theo quê hương. Nhiều người đã nói như thế về kinh nghiệm tỵ nạn. Và trong quê hương đó, có văn hóa. Văn hóa chính là linh hồn của quê hương, được thể hiện qua nhiều chiều kích, từ ngôn ngữ cho đến ẩm thực, từ sinh hoạt hằng ngày cho đến đời sống tinh thần. Để thực hiện một cuộc thống kê quanh thế giới xem người Việt hải ngoại ở khắp nơi giữ những phong tục nào, giữ làm sao, thay đổi chỗ nào, thì không ai làm nổi. Nhưng tôi cho rằng có một nguyên tắc cơ bản có thể tổng kết được một phần lớn những thích ứng và duy trì văn hóa này, đó là: ăn, nói, gói, mở.

Học ăn, học nói, học gói, học mở – câu tục ngữ này tóm tắt được những gì chúng ta đang làm trong thổ ngơi văn hóa gạch nối (hybrid) ở hải ngoại. Học ăn – có thực mới vực được đạo. Ẩm thực là con đường gần nhất để đưa người ta đến với một văn hóa khác. Ở những vùng thịnh văn hóa như Quận Cam, người ta có thể thưởng thức những món ăn tuyệt hảo của biết bao quốc gia trên thế giới, cho dù chưa biết nhiều (thậm chí không biết gì) về những nước này. Nhưng trong ẩm thực cũng hàm chứa biết bao ý nghĩa văn hóa tiềm ẩn. Thử lấy trường hợp ăn phở. Người Việt Nam rất chuộng tinh thần dân chủ, nhưng cũng hết sức đề cao tính cộng đồng. Mỗi người chọn cho mình thịt tái hay chín và các nạm gầu gân sách khác nhau, nhưng mọi người cùng chung nhau nồi nước phở, rổ bánh phở, và đĩa rau giá ớt, ai thích gì thì thêm nấy, ít nhiều tùy hỷ.

Học nói. Ngôn ngữ chất chứa văn hóa. Thích ứng ngôn ngữ cũng cần thiết là một con đường hai chiều, từ việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ trong gia đình, đến việc trân trọng và đề cao tiếng Việt trong các sinh hoạt truyền thông, văn chương, sáng tác, nghệ thuật phim ảnh, ca nhạc. Quan trọng nhất là chúng ta cần tham gia vào đời sống trí tuệ của dòng chính, đồng thời mang theo tư duy của văn hóa dân tộc theo mình. Đây là điều mà tôi đã vạch ra cho mình trong học thuật và nghiên cứu, và sau gần hai mươi năm thực hiện, thấy rất khả thi và hữu hiệu.

Gần bốn thập niên sau khi người Việt định cư tại hải ngoại, nhiều tác giả hay đạo diễn đã dùng tư duy Việt trong tác phẩm của mình, phản ảnh kinh nghiệm sống mà trong đó văn hóa Việt được thể hiện một cách cụ thể và vi tế. Tuy nhiên, chúng ta không thể không nhắc đến cái ảnh hưởng và cách biểu đạt của văn hóa bản xứ trong những tác phẩm này. Một số tác giả thuộc dạng hybrid trong sáng tạo, họ lai hai văn hóa, cho dù dòng máu của họ thuần Việt. Cho nên cho dù chúng ta nhận ra trái tim Việt Nam trong sáng tác của họ, thì chắc chắn chúng ta cũng thấy nguồn ôxy là của xứ chủ lưu, và mạch máu đôi khi lại là mạch máu địa phương, vì những đạo diễn hay tác giả này sinh trưởng tại hải ngoại.

Hơn nữa, vì áp lực phát triển chuyên môn, rất nhiều các tác giả và đạo diễn gốc Việt thành danh đều dùng ngôn ngữ bản xứ, và như vậy, trái tim Việt Nam không còn thuần túy Việt Nam nữa – nó đã được chuyển hình và có một nhịp đập mới. Như đã nói, ngôn ngữ chất chứa văn hóa. Khi một nhà văn chọn một ngôn ngữ để sáng tác, thì chính ngôn ngữ đó đã vô hình chung đóng một dấu ấn trên tác phẩm và tâm thức của tác giả. Cho nên có thể những tác giả này vẫn dùng nước mắm để nêm nếm cho tác phẩm của họ, nhưng cách nấu thì không còn thuần túy Việt Nam, và sản phẩm sau cùng cũng sẽ mang một nhân diện riêng của nó. Sự phức hợp trong chọn lựa và thể hiện này nói lên việc chúng ta phải học gói, học mở trong môi trường sống ở hải ngoại: nên gói ghém như thể nào để đưa văn hóa gốc vào đời sống nhập cư, và nên mở ra những phương thức mới nào để hài hòa và thích ứng với xã hội chủ lưu.

Văn hóa là một thực thể sống, không cứng ngắc và đóng khung, hay bất biến. Ngay cả khi văn hóa không “di cư” ra khỏi Việt Nam, thì cũng đã có nhiều thay đổi cá thể. Nhưng những thay đổi trong một văn hóa không thể được ‘định lượng’ dễ dàng, vì khi nói đến văn hóa, thì không phải nói đến một đề toán có thể dùng cộng trừ nhân chia để đưa ra một con số rõ ràng, dứt khoát. Không mấy ai có thể gột tả hết những thay đổi tâm lý của một cô gái ở tuổi dậy thì. Văn hóa cũng ‘dậy thì’ khi trãi qua một sự thay đổi. Cái ‘dậy thì’ của văn hóa còn mênh mang và mạnh mẽ hơn cả cái dậy thì của bất cứ thiếu nữ nào.

đất người, quê thói

Đang nằm ở phòng hồi sức trước khi được chuyển qua khu sản phụ, tôi nửa tỉnh nửa mê, vừa ôm con mới sinh vừa nói chuyện với chồng và con đầu lòng, thì cô y tá cười và nói với tôi:

Xin chia buồn với chị. Cả hai cháu đều giống anh như đúc, không giống mẹ chỗ nào cả!

Cô y tá không phải là người Việt, nên tôi không ứng đáp với câu tục ngữ “Con giống cha, giàu ba họ.” Tôi chỉ nói:

Thưa Cô, tôi mừng là như vậy. Vì xác thì giống Ba, nên hồn sẽ giống Mẹ.

Tôi vẫn đùa là các con tôi muốn tự chứng minh gia phả của mình, nên đứa nào cũng rinh nguyên bàn tay, cái mũi, tướng đi của Ba làm của riêng. Văn hóa Việt ở xứ người cũng là những đứa con của hai nền văn hóa, sản phẩm của một dạng ‘hôn nhân song tộc.’ Những nghi thức cử hành Tết Nguyên Đán, hay cưới hỏi, tuy có thay đổi để thích ứng với thị hiếu mới và hoàn cảnh ở địa phương mới, nhưng tâm tình vẫn là những gì đã được truyền lại từ bao đời trước qua nhiều cách khác nhau, từ gia đình cho đến cộng đồng. Và như vậy, hình thức dù có thay đổi, nhưng ý nghĩa và cốt lõi vẫn không đổi, cho dù đã có thêm những ý nghĩa mới. Diễn hành Tết ở Bolsa là một hình thức mới, nhưng nó vẫn quy về cái thiêng liêng và sự quan trọng của những ngày đầu năm. Nhờ vậy, nên dù ở ‘đất người,’ chúng ta vẫn duy trì di sản của ‘quê thói.’

Trong đời sống ở hải ngoại, người Việt thích ứng văn hóa như một chọn lựa có ý thức. Chúng ta quyết tâm hội nhập, nhưng vẫn muốn giữ lại bản năng văn hóa của mình. Sự hội nhập của lớp trẻ gốc Việt tại Mỹ, hay tại các nơi khác, đều chịu ảnh hưởng lớn của môi trường địa phương. Có một sự tình cờ rất thú vị khi tôi thực hiện hai cuộc phỏng vấn độc lập về nhân diện văn hóa với hai bạn trẻ sinh ở hải ngoại và chưa hề gặp nhau, một sống ở Bắc California, và một ở Lausanne, Thụy Sĩ. Cả hai đều nói mình 70% Mỹ hoặc Thụy Sĩ, và 30% Việt Nam. Điều này cho chúng ta thấy có một điểm tương đồng nào đó trong quá trình hội nhập của lớp trẻ Việt tại hải ngoại.

Chỉ trừ ngoại lệ của Little Saigon, Quận Cam, hay những cộng đồng lớn khác, ở các cộng đồng người Việt hải ngoại nhỏ hơn, văn hóa và ngôn ngữ chủ đạo vẫn là của dòng chính. Do đó, nhân diện văn hóa của các bạn trẻ ở những cộng đồng ít người Việt sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng chính nhiều hơn, có nghĩa là họ sẽ hội nhập một chiều nhiều hơn vì không có môi trường văn hóa sắc tộc để nuôi dưỡng họ. Trong trường hợp này, ‘quê thói’ đã bị mai một rất nhiều.

Khi nói đến sự giao thoa giữa hai văn hóa, thì ‘dung hòa’ có vẻ thụ động và hơi êm tai. Hội nhập là chọn lựa có ý thức những gì mình muốn giữ từ văn hóa gốc, và học những gì mình thấy hay từ văn hóa thứ hai. Dung hòa nghe rất êm ả, nhưng hội nhập văn hóa là những giằng co và chọn lựa khốc liệt. Trong quá trình hội nhập, hai nền văn hóa sẽ cọ xát với nhau trong cuộc sống của một cá nhân, và khiến cho cá nhân đó đôi khi phải rất nhức đầu để chọn lựa, mà đôi khi lại là sự tiến thoái lưỡng nan. Cho nên, hội nhập văn hóa là những chọn lựa hằng ngày trong đời sống. Một ví dụ đơn giản nhưng phổ biến: Lập gia đình rồi, nên ra riêng, hay ở chung với Ba Mẹ, nhất là khi mình là con một? Ba Mẹ gắn bó với mình quá, thì cũng quyến luyến, khó đi. Mà không đi, thì lại có những lấn cấn khác.

Lúc chị gái tôi lấy chồng và dọn ra riêng, tuy mừng cho hạnh phúc của chị, nhưng tôi buồn và nhớ chị, tôi hỏi Ba, “Ba ơi, sao chị dại quá, đổi sáu người trong nhà để lấy một người dưng?” Nếu được, chắc tôi đã dụ dỗ cả hai vợ chồng chị về ở chung rồi. Nhưng có lẽ vì đó là lần đầu tiên một người trong anh chị em rời gia đình để có đời sống riêng, nên tôi bị chấn động như vậy. Khi tới phiên mình lấy chồng, thì… tôi cũng ra riêng, nhưng lúc đó, không ai hỏi Ba tôi câu nào hết, vì đã có nhiều chị em lập gia đình dọn ra riêng trước tôi rồi, không có gì phải thắc mắc!

Có nhiều chọn lựa đòi hỏi một ý thức sâu sát hơn về giá trị của văn hóa gốc. Xã hội chủ lưu ở bất cứ quốc gia nào cũng có những định kiến về người thiểu số, và đôi khi biến những giá trị văn hóa của một sắc dân thành một điều sáo mòn. Hình ảnh cây tre của Việt Nam rất đẹp, nhưng khi bị công thức hóa trong cách suy nghĩ của xã hội Mỹ, thì nó mất cái đẹp và giá trị văn hóa của nó đi, khiến những người Mỹ gốc Á tránh dùng hình ảnh cây tre vì không muốn bị giới hạn bởi hình ảnh ấy. Tôi không đồng ý với sự tránh né đó, và dùng hình ảnh cây tre trong sáng tác của mình một cách có ý thức và có ý nghĩa. Đây là một trường hợp mà chúng ta không thể ‘dung hòa’ hai văn hóa, mà phải quyết liệt để bảo tồn một nét đẹp của văn hóa dân tộc. Ở đây, chúng ta dù ở ‘đất người,’ nhưng vẫn quyết liệt để giữ gìn một ‘quê thói’ của mình.

Ở thời đại đa văn hóa toàn cầu, giữ gìn văn hóa gốc là một cuộc chiến không có điểm dừng. Nếu chúng ta tiếp tục học ăn, nói, gói, mở, và dạy cho cháu con phương cách để làm những điều đó, chúng ta sẽ giữ được văn hóa Việt không bị trộn lẫn và biến mất trong dòng cuồng lưu đa văn hóa của ngôi làng thế giới. Sau gần bốn thập niên, cuộc đấu tranh cho dân chủ, tự do, và công bằng trên quê hương khởi đi từ những ngày đầu tỵ nạn, vẫn còn đó. Nhưng ở giai đoạn này, khi mà cộng đồng Việt hải ngoại đã có được đến thế hệ thứ tư, thứ năm, thì cuộc chiến văn hóa đã trở nên khốc liệt hơn hết. Văn hóa là chất men để làm cho những thế hệ tương lai có thể ‘dậy bột,’ tìm về với dân tộc, gắn bó với cội nguồn, và tiếp tục cuộc đấu tranh cho một Việt Nam tốt đẹp hơn.


 Trangđài Glassey-Trầnguyễn

Những cảnh đau lòng các cô gái Việt : Bị gạt bán vào một ổ mãi dâm ở Moscow.

Bốn cô gái Việt đang gặp nguy hiểm ở Nga


Thanh Trúc, phóng viên RFA

2013-02-15

Bốn thiếu nữ Việt Nam bị gạt bán vào một ổ mãi dâm ở Moscow. Họ tìm cách trốn nhưng bị bắt lại và bị chủ chứa khống chế khiến người nhà ở Việt Nam phải lên công an rút đơn tố cáo.


AFP photo
Gái mại dâm ở Nga đang bị cảnh sát kiểm tra giấy tờ. Ảnh mang tính minh họa.



Bị buộc làm gái mãi dâm


----
 
Buôn người Việt sang Nga: Ai bao che?

Chống Buôn Người
Nạn Nhân Việt Bị Kẻ Buôn Người Bắt Làm Con Tin Ở Nga
Mạch Sống, ngày 18 tháng 2, 2013

Bốn nạn nhân bị buôn vào con đường nô lệ tình dục, trong đó có một em vị thành niên, hiện đang bị kẻ buôn người bắt làm con tin ở Moscow, thủ đô Cộng Hoà Liên Bang Nga.

Ngày 2 tháng 2 vừa qua các cô này đã trốn thoát nhân lúc bà chủ nhà chứa và các tay chân của bà ta cùng lúc vắng mặt. Nhưng chỉ 8 ngày sau, các cô đã bị đường dây buôn người đến tận chỗ lẩn trốn để bắt lại.

“Ngoài chúng tôi ra, các nạn nhân này chỉ báo cho thân nhân của họ ở Việt Nam, và thân nhân của họ chỉ báo cho công an Việt Nam biết địa điểm lẩn trốn”, Ts. Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc Điều Hành của BPSOS và đồng sáng lập viên Liên Minh Bài Trừ Nô Lệ Mới ở Á Châu (CAMSA), cho biết. 

Công an Việt Nam trấn an gia đình của bốn nạn nhân này rằng Toà Đại Sứ Việt Nam sẽ cử người đến tận chỗ đang lẩn trốn để đưa họ về nơi an toàn.

“Chúng tôi dặn các nạn nhân phải hết sức cẩn thận vì thông tin có nguy cơ bị rò rỉ từ Toà Đại Sứ Việt Nam ở Nga”, Ts. Thắng nói. “Rất tiếc họ đã không cẩn thận đúng mức.”

Theo người hiểu chuyện, nhà chứa của đường dây buôn người này thường xuyên tiếp đón và trọng đãi một số giới chức thuộc Toà Đại Sứ Việt Nam lui tới.

Trung Tâm Thượng Mại Matxcơva, nơi tập trung cộng đồng Việt tại Moscow


Chờ mãi không thấy ai đến cứu trong khi số tiền đem theo khi trốn đã cạn, ngày 9 tháng 2 các nạn nhân gọi điện thoại cho Ông Nguyễn Đông Triều, Tham Tán Công Sứ Liên Bang Nga, ở Toà Đại Sứ Việt Nam tại Moscow để kêu cứu. Ông Triều trả lời: “Ai đưa các cô sang đây, thì nói họ đưa về.”
Chẳng bao lâu sau, bà chủ chứa, tên Nguyễn Thuý An, cho người đến tận nơi bắt lại cả bốn nạn nhân đang lẩn trốn.
“Hiện nay có tổng cộng 15 nạn nhân tại nhà chứa này, và chúng tôi có đầy đủ thông tin về họ”, Ts. Thắng nói. “Chúng tôi cũng có đầy đủ thông tin về Bà An và một số chân tay của bà ta cũng như một số giới chức đã bao che cho bà ta.”
Ông cho biết là trước tình trạng bốn nạn nhân bị bắt lại đang bị đe doạ tính mạng, BPSOS vận động sự can thiệp trực tiếp và mạnh mẽ của chính quyền Liên Bang Hoa Kỳ và Liên Bang Nga.
Nữ Dân Biểu Sheila Jackson Lee (Dân Chủ, Texas) khi viếng thăm Việt Nam ngày mai sẽ nêu lên với các giới chức Việt Nam về hồ sơ này, và một hồ sơ nữa cũng ở Nga do BPSOS cung cấp.   
“Chúng tôi làm việc rất chặt chẽ với văn phòng của DB Jackson Lee và cung cấp cho Bà những thông tin về đường dây buôn người vốn đã hoạt động trên 20 năm nay từ Việt Nam sang đến Nga,” Ts. Thắng nói.
Trước khi lên đường nữ DB Jackson Lee đã họp với vị Giám Đốc Văn Phòng Theo Dõi và Bài Trừ Nạn Buôn Người thuộc Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ về tình trạng buôn người từ Việt Nam sang Nga.
Ts. Thắng cho biết là DB Al Green (Dân Chủ, Texas) cũng rất quan tâm về hồ sơ của các nạn nhân đang bị bắt làm con tin vì một trong các cô này có thân nhân sống ngay trong vùng cử tri của ông ta. DB Green trước đây đã đề nghị FBI bảo vệ cho Cô Vũ Phương Anh, hiện sinh sống ở Houston, và gia đình cô ở Việt Nam vì bị đe doạ sau khi cô tố giác sự can dự của giới chức chính quyền Việt Nam trong các vụ buôn người lao động, tại một buổi điều trần trước Quốc Hội Hoa Kỳ vào tháng Giêng năm ngoái.
DB Christopher Smith (Cộng Hoà, New Jersey), tác giả của đạo luật chống buôn người ở Hoa Kỳ, trong chuyến công du Nga tuần này sẽ nêu lên với chính quyền Liên Bang Nga các hồ sơ buôn người do BPSOS và CAMSA cung cấp, trong đó có trường hợp của bốn cô gái đang bị bắt làm con tin.
“Chúng tôi cung cấp khá đầy đủ thông tin để giúp cảnh sát Liên Bang Nga thực hiện cuộc giải cứu”, Ts. Thắng nói. “Quan trọng không kém là phải đề phòng sự rò rỉ thông tin từ trong lòng của Toà Đại Sứ Việt Nam ở Nga ra cho kẻ buôn người.”
Từ đầu năm 2012, BPSOS đã lên tiếng và can thiệp cho 4 vụ buôn người Việt sang Nga, liên quan đến tổng cộng gần 300 nạn nhân. Uỷ Ban Điều Tra của Liên Bang Nga cho biết là họ đang thực hiện cuộc điều tra theo đơn yêu cầu của BPSOS.
“Đây chỉ là đỉnh chóp của tảng băng ngầm khổng lồ”, Ts. Thắng nhận định.
Riêng ở quanh Moscow có vài ngàn xưởng may “đen” do người Việt làm chủ và cũng không ít các nhà chứa hoạt động gần như công khai dưới sự bảo hộ của xã hội đen và một số giới chức Toà Đại Sứ.
Ts. Thắng cho biết rằng đây là thời gian Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đang đánh giá và xếp hạng Việt Nam về thực tâm chống buôn người.
“Cách tốt nhất để chứng minh thực tâm là chính quyền Việt Nam giải quyết thoả đáng các hồ sơ buôn người mà chúng tôi đã cung cấp cho Bộ Ngoại Giao và nhiều dân biểu Hoa Kỳ”, Ts. Thắng giải thích. “Trong đó có cả những trường hợp dính líu đến một số giới chức nhà nước và công ty quốc doanh.”

Đứng Chàng Hảng

Đứng Chàng Hảng

Hiện nay tại Hoa Kỳ, mấy bạn trẻ có phong trào mặc quần lưng rộng xệ thấp khỏi rốn. Để giữ cho cái quần không bị tuộc xuống, các cô cậu phải luôn dang hai chân ra dù lúc đứng hay đi. Đây là cách đi hay đứng theo kiểu "chàng hảng", trông thật buồn cười.

Mỗi lần nhìn thấy cảnh đó, tôi liên tưởng đến một số người trong xã hội chọn thái độ "đứng chàng hảng" với hy vọng được "vững" hoặc yên thân. Quý độc giả thử tưởng tượng, ngay ngày 30-4-75, một người thường tự hào không muốn “dính dấp đến chính trị” nhưng khi giặc cộng tràn vào thành phố hay thủ đô thì họ vội vả chạy xuống bến tàu. Vì không có sự dứt khoát là nên rời Việt Nam tìm tự do hay ở lại với bọn VC để “không làm chính trị”, nên đứng theo kiểu chàng hảng, một chân thì “cột chặt” trên bến tàu, một chân “đóng đinh” trên boong tàu và khi tàu rời bến thì người ấy sẽ ra sao? Nhẹ thì rơi xuống nước, nặng thì... Xin quý độc giả tưởng tượng giùm?

Đồng nghĩa với thái độ "đứng chàng hảng", người Mỹ có câu nói "If you stand in the middle of the road, you will get hit from both sides". Tạm dịch: (Nếu mầy đứng giữa đường, mầy sẽ bị đụng bởi cả hai phía.) Mà thật vậy, người khôn ngoan phải chọn đứng bên nào một phía thôi. Người dại thường hài lòng với thái độ "đứng giữa" của họ.

Cách sống theo kiểu "gió chiều nào, che chiều đó" chẳng khác nào một người cha mẹ sanh ra,  dù thân mình có xương sống nhưng chỉ thích cong lưng như thể không có xương sống; hoặc chọn cách đứng chàng hảng khiến cho diện mạo của mình bị thấp xuống, dù cái đám này hay xách mé người khác không cao bằng mình. (Thành phần này chúng ta có thể hiểu theo kiểu nghĩa bóng hay nghĩa đen gì cũng trúng cả)

Đám người tự hào về thái độ “không làm chính trị” hay “trung dung”, hoặc “ở giữa”, đối với họ không có phải hay trái mà chỉ có quyền lợi thôi. Họ không có lập trường gì cả, không có quan điểm riêng gì hết, không có suy tư độc lập gì ráo, mà chỉ “đứng chàng hảng” để yên thân, hoặc hưởng lợi.

Như tôi từng đề cập trước đây, có những người từng bị VC hành hạ, làm nhục, đày ải họ trong các nhà tù khổ sai sau ngày 30-4-75, nay được tự do rồi nhưng không làm gì cả. Họ không góp phần tố cáo tội ác VC hay làm giảm thiểu tội ác, hoặc chấm dứt chế độ ác độc đó… trái lại cứ ra vào Việt Nam để hưởng thụ, để mong VC nó ban bố cho chút “ơn mưa móc”, hoặc móc ngoặc làm ăn với VC… dù trong lòng họ cũng căm thù VC… Và tôi đã khẳng định rằng nếu họ chỉ nuôi lòng “thù hận” kiểu đó, thì họ sẽ chết trước “kẻ thù”. Riêng những ai mang nhãn hiệu “Cơ Đốc Nhân”, nhưng luôn có lối suy nghĩ theo kiểu xác thịt và thường có những hành động giống như “tay sai ma quỷ” thì dù đang sống cũng như “chết” dù đang giữ những chức vụ quan trọng trong giáo hội như “linh mục”, “mục sư”, “giáo sĩ”, “giáo hạt trưởng”, “viện trưởng viện thần học.. thì cũng “rất xa Thiên Đàng”.

Một vị Giáo Sư Việt Nam đang dạy trong Trường Thần Học tại Hoa Kỳ đã viết thư ủng hộ lập trường của tôi về bài viết nêu trên, bằng một đoạn văn Anh ngữ như sau: “You write not to please them but to express your observations and feelings which many thoughtful Christians are very concerned about. Elijah was not welcomed when he criticized the Israelites for “di hang hai” (1 Kings 18:21) and he himself was against 450 false prophets of Baal!”

Tạm thoát dịch: “ông viết không phải để làm hài lòng họ nhưng để bày tỏ sự nhận xét của ông mà nhiều con dân Chúa cũng rất bận tâm. Giống như trường hợp (Ê-li thời Cựu Ước, được ghi lại trong sách 1 Các-vua 18:21). Ông ấy không được hoan nghênh khi phê bình dân Do Thái “đi hàng hai”. Một mình ông ấy đã đánh bại 450 tiên tri của thần Ba Anh…”

Như vậy thì đâu có phải chỉ thời bây giờ, mà ngàn năm trước cũng có loại “đứng chàng hảng” hay “đi hàng hai”. Kinh Thánh Cựu Ước cho biết Ê-li thẳng thắn phê bình vua đã bỏ điều răn của Ðức Giê-hô-va, để  đã tin theo thần Ba-anh”. Kết quả ông bị lên án là làm “rối loạn Y-sơ-ra-ên”.

Ê-li đã công khai khuyến cáo dân Y-sơ-ra-ên rằng: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Ðức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Ðức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.”. Dân sự ngày xưa im lặng là vì họ đang “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng”. Đối với họ, Thiên Chúa hay thần nào cũng được. Chân lý của Chúa hay đường lối ma quỷ cũng không sao. Điều này không khác chi ngày nay có quá nhiều người áo mũ xênh xang, tư cách vào đạo đức thì quá kém nhưng lại mong hay thích người ta gọi mình là “cha” hay “sư” hoặc “thầy” và lúc nào cũng “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng” bằng luận điệu “không làm chính trị”.

Cho dù mình “không làm chính trị”, hoặc không muốn “dính dấp đến chính trị” đi nữa thì lằn ranh Quốc-cộng phải được đào cho sâu và vạch cho rõ để thế hệ con cháu chúng ta không còn nhầm lẫn. Thái độ gian manh và sự tử tế phải “hắc bạch phân minh”. Thiên Đàng và địa ngục không thể kết duyên. Không thể đồng hóa giữa tội ác tày trời của phường gian ác và khuyết điểm của người hiền lương hầu mong làm lu mờ tội lỗi của chúng. Không thể có sự thoả hiệp (compromise) giữa ma quỷ và con cái của Đức Chúa Trời.

Trước thực trạng đất nước Việt Nam ngày nay quá nghèo đói, lạc hậu, đạo đức suy đồi, nhân tâm ly tán, những gì thuộc về nhân từ, đạo đức, tự trọng phải “nhường chổ” cho tàn bạo, ác độc, vô liêm sỉ lên ngôi. Người trong nước đã chua chát rằng "ở Việt Nam mọi thứ đều giả, chỉ có dối trá là có thật!". Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: "Căn bệnh nặng nhất, chí tử nhất, toàn diện nhất của xã hội ta hiện nay là bệnh giả dối. Chính cái giả dối tràn lan khiến người ta không còn thật sự tin vào bất cứ điều gì nữa….”
Cho tôi kể chuyện này, nghe chơi rồi bỏ. Có mấy ông bà “thiêng liêng nửa vời” thích nói sau lưng người khác bằng cách lên án vu vơ người viết bài này, “công kích mục sư”, hoặc “quậy”. Tôi tố cáo những tên gian trá đội lốt “mục sư” để nói và làm những điều gây tổn thương danh Chúa, hoặc có lợi cho VC mà lên án rằng tôi “công kích mục sư” là sao? Tôi thẳng thắn phê bình thành phần giáo quyền bất xứng, chỉ thích bám trụ, chỉ thích “làm lãnh đạo” nhưng chẳng đếm xỉa gì đến tiếng “rên siết” của “con chiên” mà lên án rằng tôi “quậy” là thế nào?

Mấy ông bà nhận mình là “trí thức”, là “yêu nước”, là “tu sĩ”, là “đạo đức” đang sống đời tự do tải hải ngoại, có điều kiện theo dõi tình hình thế giới và đất nước Việt Nam, có thể lên tiếng bênh vực cho đồng bào mình đang bị hà hiếp, nhưng cứ “bịt mắt” để không còn nhìn thấy thực trạng tại Việt Nam ngày nay.

Tự hào làm chi về một dân tộc có “bốn ngàn năm văn hiến” mà lại có quá nhiều phụ nữ bị bán ra nước ngoài làm nô lệ tình dục? Vênh váo hào làm chi về một đất nước có quá nhiều “anh hùng” nhưng thực chất chỉ là loại quái thai của dân tộc, lớn lên để cướp của giết người, hà hiếp lương dân, nhưng vô cùng khiếp nhược với kẻ thù phương Bắc? Hảnh diện làm gì về một loại “đỉnh cao trí tuệ loài người” mà để cho đất nước như cái thùng rác của thế giới? Một đất nước đi đâu cũng nghe đảng ca tụng nhau toàn là “anh hùng” nhưng dân mình bị cai thầu ngoại quốc đập giầy vào mặt mà không có một thái độ bênh vực. Tụi Trung cộng cho dân của chúng nó nghênh ngang ra vào Việt Nam như chỗ không người, chúng chiếm đất, lấn biển, giết ngư dân Việt Nam mà đảng VC không dám lên tiếng bênh vực nhưng lại vỗ ngực nhận mình “anh hùng” là sao? Từ cổ chí kim có một đất nước nào mà thằng ăn cướp ngồi chiểm chệ xử nạn nhân kẻ cướp không? Có một đất nước nào mà bọn côn đồ được phép bỏ tù người lương thiện không? Chỉ có ở Việt Nam.

Vây thì mấy ông bà thường xuyên ra vào Việt Nam với cái “vỏ bọc” giảng đạo, làm từ thiện, xây mồ mả ông bà cha mẹ, báo hiếu gì đó… có dám mở miệng cáo trách cái đám lãnh đạo trong đảng VC không? Hay cứ hùng hồn tuyên bố tôi “không làm chính trị”, tôi “đứng giữa”, hay tôi “trung dung” nhưng thực chất chỉ là những kẻ tự bịt mắt để dễ “đi hàng hai” hoặc có cớ “đứng chàng hảng” để chờ xe hai chiều tông vào, rồi mới chịu thức tỉnh?

Kết luận: Nếu ai nhận mình là người Việt Nam còn lương tri, bắt buộc phải biết đau xót khi nhìn thấy dân tộc Việt Nam đang trên bờ vực thẳm. Nếu mình có lòng yêu nước thì chắc chắn phải biết “nổi giận” khi chứng kiến dân mình bị kẻ gian xúc phạm và không cho phép mình giữ thái độ “đi hàng hai” hoặc “đứng chàng hảng”.  Vui sướng gì mà vác mặt về Việt Nam để đú đởn ăn nhậu với bọn côn đồ, hay “hồ hởi” ca hát cho bọn VC và thành phần tư bản đỏ nghe? Dân lành nào có đủ tâm trí để thưởng thức âm nhạc với cái bụng đói meo? Hoặc yêu nghệ thuật thế nào được khi tâm trí rối bời? Chỉ có những con người lương tâm chai lì mới ra vào Việt Nam quỳ lụy VC để được ca hát, vui chơi, hưởng thụ… bất chấp “máu người khác đổ xương người khác phơi” hầu cho những vòng hoa thêm đỏ thắm mà VC đã “ân cần” tròng lên cổ những kẻ thích “đứng chàng hảng” hoặc thích làm tay sai cho ma quỷ.

Huỳnh Quốc Bình

Salem, Oregon ngày 14-2-2013

P.O. Box 20361,
Salem, OR 97307.
USA

(503) 949-8752   

Việt Cộng đâm trúng tim đen: Tị nạn nào về VN như đi chợ



Xuân Này Con Không Về
.


LTG: Bài viết này tôi xin đặc biệt tặng cho người nhạc sĩ trẻ Việt Khang và những ai đang bị VC cầm tù vì “tội yêu nước” và cũng để nói lên lòng bất mãn của mình trước hiện tượng những ca nhạc sĩ Việt Nam tại hải ngoại đã lần lượt quay về Việt Nam quỳ lụy đảng cướp VC để được hát, để được mang vòng hoa đỏ thắm, y như nhuộm máu đồng bào. Tôi cũng viết bài này để trân trọng tặng những ai phải xa nhà trong ngày xuân vì nhiệm vụ, hoặc những gia đình có người thân ra đi đấu tranh vì lý tưởng giải phóng dân tộc mà mùa Xuân nào cũng vắng nhà, hoặc không bao giờ trở lại để có được mùa xuân đoàn tụ. (HQB)


“Xuân này con không về” là tựa đề bài hát của Trịnh Lâm Ngân hay nhạc sĩ Nhật Ngân. Có thể nói đây là bài hát khá nổi tiếng được ra đời vào thập niên 60. Nó nổi tiếng là vì một số lời lẽ mới nghe qua tuy có vẻ đơn giản, bình dân, nhưng nếu ai chịu khó nghe kỹ từng lời thì mới thấy sự sâu sắc bởi ý tình của dòng nhạc. Nếu tôi không lầm thì nhạc phẩm này được ca sĩ Duy Khánh hát đầu tiên và ông hát rất thành công. Nó thành công đến nỗi trong giới yêu nhạc, có người tưởng lầm rằng nhạc phẩm này do chính Duy Khánh sáng tác, và cũng chính nhạc phẩm này đã gắn liền với tên tuổi của người nhạc sĩ gốc miền Trung, có giọng hát rất đặc biệt này.

Lời mở đầu của bài hát, diễn tả tâm trạng một người trẻ xa nhà trong ngày xuân. Người ấy vì hoàn cảnh không thể về thăm mẹ mình và các em, dù năm trước đã hứa là sẽ về, nhưng ngày xuân đến mà người ấy vẫn biền biệt nơi xa: “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con, khi thấy mai đào nở vàng bên nương. Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về, nay én bay đầy trước ngõ, mà tin con vẫn xa ngàn xa”

Có lẽ tôi không cần phải giải thích thì ai nghe bài hát cũng hiểu tâm trạng nhân vật chính trong nhạc phẩm này phải sống xa nhà và nhớ lại những kỷ niệm thời mình còn bên mái ấm gia đình với mẹ và các em: “Ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui, nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi. Bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng, trông bánh chưng chờ trời sáng, đỏ hây hây những đôi má đào.”

Người bạn này biết rằng nếu mình không về được thì mẹ của mình buồn lắm. Mình là con lớn mà phải sống xa nhà, còn mẹ mình và đàn em nhỏ đang sống trong nghèo túng:“Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm, mái tranh nghèo không người sửa sang, khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân. Đàn trẻ thơ ngây, chờ mong anh trai, sẽ đem về cho tà áo mới, ba ngày xuân đi khoe xóm giềng.

Dù anh biết rằng nếu mình không về được thì mẹ mình buồn, nhưng nếu mình về để cho mẹ và em được vui thì mình không làm tròn bổn phận người trai thời chinh chiến. Vì thế, anh xin mẹ thương anh mà hãy đợi ngày mai: “Con biết bây giờ mẹ chờ em trông, nhưng nếu con về bạn bè thương mong. Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, mẹ ơi con xuân này vắng nhà… Mẹ thương con xin đợi ngày mai...”.

Chính đoạn kết này đã khiến người viết xúc động vào những ngày xuân, mỗi khi nghe đến. Nay là thời điểm có những cảm xúc khác trong ngày xuân nên tôi xin viết ra để hầu bạn đọc, trong lúc mọi người đón xuân nơi đất khách quê người. Và bài viết này người viết muốn gửi đến quý độc giả trước cao điểm ngày xuân để ai có phước, cha mẹ còn sống trên đời và nếu hoàn cảnh cho phép thì hãy cố gắng về thăm cha mẹ trong ngày xuân.

Dĩ nhiên bài viết này không cổ võ cho việc trở về Việt Nam thăm cha mẹ dù các vị còn sống. Đối với người viết, ngày các người con bỏ nước ra đi lánh nạn VC, không một ai nghĩ đến ngày trở lại nếu chế độ VC còn đó. Ngay những người vội vã bỏ nước ra đi vào thời điểm 30-4-75 cũng không ai nghĩ đến ngày trở lại nếu chủ nghĩa hay con người cộng sản còn kia. Chính vì đó, mà nhiều người con yêu của các bà mẹ Việt Nam, mùa xuân nào cũng xa gia đình dù họ có thể trở về thăm nhà bằng nhiều “lý do chính đáng”.

Ngày xưa, trước ngày VC thôn tính trọn vẹn miền Nam, tác giả bài hát đã diễn tả hình ảnh những người lính trẻ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa xa nhà, ngày xuân không thể về với gia đình, bởi bao nhiêu người như họ phải chào xuân ngoài trận chiến. Vì thế những người lính trẻ ấy đã không chọn sự êm ấm cho riêng mình, qua câu “Bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường, không lẽ riêng mình êm ấm, mẹ ơi con xuân này vắng nhà…”



Thời gian gần đây tại quê nhà, một người nhạc sĩ trẻ không nổi tiếng, gần như không ai biết anh là ai cho đến khi tiếng ca hiền hòa của anh được cất lên qua hai bài nhạc do chính anh sáng tác: “Việt Nam Tôi Đâu?” và “Anh Là Ai?” Khi làm điều đó, chắc chắn Việt Khang đã đứt khoát chọn thái độ “không lẽ riêng mình êm ấm” và sau khi hai bài hát nêu trên được luân lưu khắp nơi trên thế giới, thì anh đã thật sự “vắng nhà”. Có thể anh sẽ còn phải vắng nhà, không chỉ mùa xuân năm nay, mà còn nhiều mùa xuân khác nữa, bởi ai cũng biết những bản án rừng rú vài năm của bọn VC, có thể là vài mươi năm không chừng, nếu chúng còn tồn tại.

Nhắc đến ca nhạc sĩ trẻ Việt Khang tôi có thể nói “Việt cộng sợ Việt Khang”. Nói như thế, rất có thể quý độc giả cho rằng tôi nói quá lời. Không đâu, tôi không nói quá lời. Nếu bọn VC không sợ Việt Khang thì chúng đã không có bản án kỳ quặc đó. Ai đời, bọn bán nước lại có quyền kết án người yêu nước. Mà cho dù bọn VC có lộng hành trong giai đoạn đen tối của đất nước, thì bọn chúng cũng chỉ có thể giam cầm Việt Khang chứ chúng không thể “bỏ tù” lời ca và tiếng hát của anh đã được vang đi thật xa, nếu không muốn nói là bay khắp nơi trên quả địa cầu, nơi có những người Việt Nam cư ngụ.

Viết đến đây tôi bỗng thấy lòng mình se lại và trào dâng một niềm uất hận. Tôi hận bọn VC gian ác là bọn buôn dân, bán nước, là một đảng cướp, là tập đoàn “hèn với giặc nhưng ác với dân”. (Những ông bà nào “thiêng liêng” có thể ngưng tại đây để khỏi phải lên án rằng tôi “thích nói chuyện trính trị” hay “thích chửi VC”.) Tôi cũng trách những ai nhận mình là người “quốc gia”, hoặc “tỵ nạn chính trị”, hoặc “trí thức”, hoặc “không làm chính trị”, hoặc “tôi không theo phe nào” hoặc “lo chuyện thiêng liêng” mà lại nhẫn tâm “đón xuân” trong sự đau khổ của người khác. Trong số những người mà tôi cho là nhẫn tâm đó, có một ca nhạc sĩ nổi tiếng tại Tiểu Bang Oregon, Hoa Kỳ, nơi tôi cư ngụ, đã chọn thái độ quay về Việt Nam lần thứ hai để hát trên sự đau khổ của toàn dân, hát trên sự nhọc nhằn của các bà mẹ Việt Nam, hát theo kiểu dẫm nát trên trái tim của những người yêu nước giống như Việt Khang, các bạn trẻ và người dân vô tội. Có người chống cộng dù không từng ân oán gì với chế độ VC. Họ tố cáo VC là vì VC gian ác. Họ chống VC là vì VC là con cái của thế lực tối tăm. Họ lên án VC vì VC là kẻ bán nước. Nói chung, họ đang ở tù, đang bị khủng bố vì lòng yêu nước, họ bị bịt miệng vì dám nói lên sự sai trái của đảng VC. Vậy mà mấy ông bà ca nhạc sĩ, mấy tay “trí thức”, mấy “nhà yêu nước” ở hải ngoại lại vác mặt về ca ngợi VC hay hát cho VC nghe, là nghĩa làm sao?

Vào đầu tháng 12 năm 2012 vừa qua trong một bài viết của tôi có tiêu đề: “Đền ơn đáp nghĩa” tôi cố ý nhắc khéo người nhạc sĩ nổi tiếng này để ông đừng phản bội lại sự ủng hộ của đồng hương Việt Nam và giới mộ điệu âm nhạc tại Oregon. Tôi chỉ nhắc khéo, vì thật sự tôi cũng từng quen biết và cũng từng ngưỡng mộ tài năng của ông. Có thể nói là tôi từng “mê” một số ca khúc do ông sáng tác. Vì “mê” nhạc phẩm của ông, vì muốn “vuốt mặt, nể mũi” nên tôi chỉ viết:

“Trong một quyển sách của Mục Sư Phan Thanh Bình, có đoạn ông viết như sau: “Những nghệ sĩ sau thời gian nổi tiếng và khá giả nhờ sự ủng hộ của khán thính giả, nên họ đã tổ chức những buổi “tạ ơn” hay “cảm ơn” và những ai muốn được họ tạ ơn hay cảm ơn... thì phải mua vé tham dự..." Điều đó không sai. Tôi biết ít nhất một ca nhạc sĩ rất nổi tiếng. Tại địa phương ông cư ngụ, chưa ai thấy ông đóng góp một xu cho những công tác ích lợi chung trong cộng đồng. Ông cũng không hề một lần đóng góp lời ca tiếng hát của ông cho đồng hương địa phương thưởng thức, nếu có thì phải trả thù lao. Ông chỉ chu du ca hát xứ người. Vậy mà khi cần tiền, ông bèn tổ chức “tạ ơn em” tại địa phương nơi ông không buồn quan tâm trong mấy Thập Niên. Điều buồn cười hay khôi hài, là đã có năm bảy trăm người, mỗi người bỏ ra năm bảy chục Mỹ kim, để mua vé danh dự, hoặc thượng hạng, hầu có thể nghe ông hát “tạ ơn em” và mua CD nhạc của ông mang về tiếp tục nghe ông "tạ ơn em"... Điều phũ phàng hơn hết là khi cộng đồng có những buổi tổ chức có tính cách xã hội, giúp đỡ những ai cần giúp đỡ, hoặc biểu tình lên tiếng tranh đấu cho những người bị VC đàn áp tại Việt Nam, thì ông ca nhạc sĩ này lại biệt tăm và số người tham dự buổi ông tổ chức “tạ ơn em” cũng mất dạng.”

Đọc những dòng chữ trên có người cho rằng tôi đã “đánh hơi nặng tay” mặc dù tôi không nêu đích danh đương sự. Nhưng cũng có người chê tôi là “đánh mà như giỡn chơi”. Cũng có người khuyên tôi là đừng làm chuyện “đàn gảy tai trâu” vô ích.

Bây giờ tôi xin được nói chuyện của mình. Cách đây gần hai mươi năm, Má tôi lìa trần cũng vào ngày đầu năm, nhưng mùa Xuân đó tôi cũng không về được, bởi tôi không chọn sự êm ấm cho riêng mình, dù tôi có đầy đủ lý do chính đáng để trở về. Vài tuần lễ trước khi Má tôi trút hơi thở sau cùng, qua điện thoại, Người đã trìu mến hỏi tôi bằng giọng nói của các bà mẹ Nam Kỳ: “Chừng nào mầy về thăm tao?”. Sau khi tôi nêu rõ lý do, Má tôi đã thông cảm cho tôi và hiểu rõ hoàn cảnh đất nước cũng như nỗi khổ đau của đồng bào trong nước và những ai vượt thoát VC còn kẹt lại trong các trại tỵ nạn, nên Người nói bằng giọng trầm buồn và chứa đựng bao nhiêu sự thương yêu dành cho thằng con xa xứ: “Thôi cũng được, chừng nào hoàn cảnh đất nước cho phép, con nhớ về thăm Má…”.

Tôi nhớ Má tôi và những người thân yêu trong gia đình, nhưng tôi không thể “nhẫn tâm” quay về Việt Nam khi chế độ VC còn đó, đồng bào thân yêu tôi vẫn bị đọa đày, người dân Việt của tôi trốn chạy chủ nghĩa và con người cộng sản còn đây và đang bị Liên Hiệp Quốc thanh lọc để trả về Việt Nam, bởi không tin rằng họ là thành phần tỵ nạn chính trị. Thế giới không tin là phải, bởi tin làm sao được khi có quá nhiều người từ hải ngoại trở về cái nơi mà họ từng bỏ ra đi vì cho rằng không có tự do, mất quyền làm người? Dân của tôi người tự mổ bụng, tự thắt cổ, tự cầm dao đâm vào tim để phản đối sự từ chối của thế giới và cũng để gióng lên tiếng kêu tuyệt vọng cho đồng bào mình tại hải ngoại được biết. Rất tiếc, nhiều người đã bịt tai, bịt mắt để dễ dàng trở về Việt Nam theo kiểu “áo gấm về làng”, bất chấp tiếng rên siết của đồng bào bên quê nhà và tại các trại tỵ nạn vào thời điểm đó. Họ tự hào rằng “không làm chính trị”.

Ngày xuân, tôi viết bài này bởi một số lý do đã nói và cũng để nhớ đến Má tôi. Đồng thời tôi cũng muốn nói lên lòng bận tâm của mình, khi phải chứng kiến nhiều người tỵ nạn VC tại hải ngoại ra vào Việt Nam như người ta đi chợ. Có người về hát cho VC hay bọn tư bản đỏ nghe trong cái vỏ bọc “vì nghệ thuật”. Có người mang tiền về Việt Nam tiếp máu cho VC qua nhãn hiệu “từ thiện”. Có người thường xuyên về Việt Nam để kiếm bồ nhí trai tơ, với lý do “báo hiếu”, hoặc “xây mồ mả cho ông bà, cha mẹ”. Có người về Việt Nam để “buôn thần bán thánh” bằng danh nghĩa “tu sĩ thiêng liêng”. Về bằng cách nào cũng đều là những kẻ nhẫn tâm trên sự đau khổ của người khác, khi mà sự trở về của họ chỉ là cái cớ hơn là một lý do chính đáng cần được sự thông cảm của mọi người.

Riêng người ca nhạc sĩ nổi tiếng mà tôi quen biết trong vòng gần hai mươi năm khi gia đình tôi di chuyển đến Tiểu Bang Oregon, ông đã trả lời phỏng vấn của báo chí sau lần ông thoát khỏi “căn bệnh ngặt nghèo” và trở về Việt Nam lần thứ hai, như sau: “Cái chết với tôi nhẹ nhàng lắm, bởi tôi nghĩ không có gì tồn tại mãi được, cũng phải đến lúc phai tàn. Nếu có điều gì vĩnh cửu thì đó là tình yêu như sáng tác mới nhất của tôi, “mãi mãi yêu em”.

Người viết rất mừng vì ông ca nhạc sĩ này vẫn còn sống sau “căn bệnh ngặt nghèo” cần sự chú ý của những người ngưỡng mộ ông, trong đó có tôi. Nhưng bây giờ tôi quá buồn, và thất vọng, bởi “ông đã chết” trong lòng tôi. Và điều mà tôi cho là “vĩnh cửu” mà người Việt yêu chuộng tự do trong ngoài nước sẽ khó quên, đó là vòng hoa đỏ thắm như máu đồng bào, mà ai đó đã tròng vào cổ vợ chồng ông, trong chuyến về Việt Nam vừa qua của họ.

Huỳnh Quốc Bình

Salem, Oregon, Hoa Kỳ ngày cuối tháng Giêng năm 2013

Phóng Sự : NHÂN DÂN THƯƠNG NHỚ NGÀN ĐỜI KHÔNG NGUÔI..


 
BẤT CHẤP SỰ NGĂN CẢN CỦA CA csVN,
GIỚI TRẺ VẪN ÐẾN THẮP NHANG CHO TỬ SĨ QLVNCH
 

Hôm nay trong phóng sự đặc biệt từ Việt Nam, thông tín viên SB-TN gửi ra bản tin về việc giới trẻ đã đến thắp nhang cho tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa tại nghĩa trang Biên Hòa dù Công an ngăn cấm... (video insert)

Nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa nằm ở địa phận Dĩ An, Bình Dương là một trong những điểm mà công an mật vụ Cộng sản Việt Nam cho người canh gác và theo dõi ngày đêm, hầu như bất kỳ ai đến đây cũng bị dòm ngó, ghi lại số xe, ngay cả việc bị gọi vào phòng quản lý nghĩa trang công an kiểm soát để trình báo giấy tờ.

Do sự khó khăn này, nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa rất vắng vẻ và hoang tàn do thiếu người chăm sóc, hương khói. Tuy nhiên mỗi độ xuân về, rất nhiều nhóm người già trẻ trong lẫn ngoài nước vẫn đến đây dọn dẹp cỏ rác, bất chấp sự tra hỏi, sách nhiễu của công an mật vụ. Ðặc biệt khoảng 3 năm gần đây, rất nhiều nhóm bạn trẻ miền Nam đã chọn những ngày xuân để đến thắp nhang tưởng niệm anh linh tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh vì tự do. Ước tính có khoảng 20,000 ngôi mộ tử sĩ nằm ở đây, nên việc thắp mỗi ngôi mộ một nén nhang cũng là việc tốn nhiều thời gian, mất cả nửa ngày. Trong thời gian thắp nhang viếng mộ, công an chìm chạy xe máy theo từng điểm, chụp hình lại và hạch hỏi. Không ai trong những người đi tảo mộ được phép dùng máy chụp hình ghi lại quang cảnh hay riêng một ngôi mộ nào, dù đó là mộ của gia đình mình.

Nhiều người đã không kìm được nước mắt khi chứng kiến sự trả thù man rợ của chế độ Cộng sản khi nhìn thấy việc công an cho người đục gần hết các di ảnh trên bia mộ, đục nát các tên tuổi hoặc ngày mất, ngày chôn trên bia. Tàn độc hơn, trên mỗi ngôi mộ, chế độ Cộng sản còn ra lệnh cho tay sai âm thầm trồng cây dương xỉ lên trên các các mộ. Dương xỉ là một loại cây có rễ lớn, hút và ăn chất trong lòng đất rất mạnh để sinh tồn. Việc cho trồng dương xỉ để nhằm hủy hoại toàn bộ hài cốt nằm phía dưới mộ, dễ bề cho việc chiếm đất, hoặc làm cho thân nhân của các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa khó lòng lấy được toàn vẹn xương cốt về thờ cúng.

Vào tháng 11 năm 2006, Thủ tướng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định mang số 1568 nhằm muốn giải tỏa và chiếm dụng 58 hecta đất khu nghĩa địa này sang các mục đích thương mãi. Nhưng do còn ngại dư luận quốc tế và ảnh hưởng đến nguồn kiều hối mà chế độ Cộng sản còn chưa tiến hành. Ðó là con số tiền khổng lồ hàng năm do người Việt tỵ nạn cộng sản hiện đang sống ở hải ngoại gửi về giúp thân nhân. Con số này lên tới 11 tỷ đô la mỗi năm.

Vì các lý do đó, nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hòa hiện là cái gai trong mắt của chế độ. Giờ đây, số lượng giới trẻ tăng dần, quan tâm về nghĩa trang và tỏ lòng kính trọng lại làm cho ngành an ninh Cộng sản Việt Nam trở nên khó chịu hơn bao giờ hết.(SBTN)

Bài Xem Nhiều