We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 23 February 2013

Vẻ Vang Dân Việt: TÂN TRUNG TÁ TRẦN CHU THỦY



“Nhân dịp Bác sĩ vừa được vinh thăng Trung Tá, tôi viết thư này để gởi lời chúc mừng nồng nhiệt nhất của tôi đến với Bác sĩ”. Lời chúc mừng này của ông John Kitzhaber, Thống Đốc Tiểu Bang Oregon trong một công văn đã đánh dấu một bước thăng tiến mới trện con đường binh nghiệp của vị nữ lưu người Mỹ gốc Việt mà cái tâm là một “lương y như từ mẫu” và cái chí lại dũng mãnh như bà Trưng bà Triệu trên quê hương thứ hai này.
Y Sĩ Trung Tá Trần Chu Thủy rời Việt Nam bằng đường biển cùng gia đình năm 1975 lúc mới 9 tuổi. Gia đình ông Trần Đức Điền có năm người con mà cô là trưởng nữ với hai em trai và hai em gái. Thân phụ cô đã từng là quân nhân QLVNCH trước khi mất nước. Tàu di tản khởi hành từ Vũng Tàu qua Guam rồi đến trại tỵ nạn tiểu bang Arkansas. Sau đó cả gia đình đã rời trại đi định cư tại Nam California; tại đây cô đã học ở Westminster High School rồi vào University of California Los Angeles (UCLA) ở Los Angeles; tốt nghiệp Bachelor về Science – Biology năm 1990.

Sau khi gia đình dời về Oregon, cô sinh viên trẻ đã học College of Optometry tại  Pacific University, Forest Grove OR; tốt nghiệp năm 1994. Sau khi tốt nghiệp, cô tân khoa đã thực tập với tư cách nội trú sinh tại Eye Clinic, American Lake VA Hospital, Tacoma WA. Từ 1995 đến 1998, Bs Thủy là Optometric Physician về General Ophthalmology tại Dr Gerald Brooksby’s Clinic ở Portland OR; đồng thời bà cũng mở bệnh xá riêng từ 1995 đến nay tại Rose City Vision Care ở đại lộ Sandy. Từ 2005 đến 2009, Bs Thủy cũng làm việc tại Transvision For Eyes, Primery Care Optometry Clinic ở Beaverton OR.
Về giáo dục, Bs Thủy là thành viên của Parkrose School District Board và sẽ ra ứng cử chức vụ lãnh đạo vào tháng 5/2013 sắp tới. Về chính trị hồi tháng 11/2012, Bs Thủy đã là ứng viên chung kết tranh cử Dân Biểu Tiểu Bang, đơn vị District 47 nhưng bất thành vì chuẩn bị chưa chu đáo. Về mặt xã hội, hiện Bs Thủy có chân trong Board of Advisory Committee for City of Portland Office for Human Right & Equity; Leadership Steering Committee for Ready for Kindergarten Program; Co-Troop Leader of Girl Scout Troop 45687 của tổ chức Hướng Đạo Hoa Kỳ; và dĩ nhiên, bà luôn giúp cộng đồng tỵ nạn CS với tư cách Phó Nội Vụ “muôn năm” của BCH/CĐVN Oregon.
Trước khi nhập ngũ, Bs Thủy đã từng là thiện nguyện viên của Lion Club International, một tổ chức dân sự quốc tế có khẩu hiệu là “We Serve” và sáng lập viên nổi tiếng Helene Keller; phục vụ về nhãn khoa miễn phí cho người nghèo tại nhiều quốc gia Nam Mỹ châu; kể cả hai chuyến tại Việt Nam khoảng năm 1995-1996. Ngay sau khi gia nhập quân ngũ, Bs Thủy là Chief of Optometry thuộc Không Đoàn 142 MDG Oregon Air National Guard của tiểu bang Oregon từ 2008 đến nay. Không Đoàn 142 (F-16 Fighter Wings) ngoài nhiệm vụ bảo vệ không phận miền Tây Bắc Hoa Kỳ gồm hai tiểu bang Washington và Oregon; còn làm công tác dân sự vụ giúp kẻ nghèo với hàng trăm chuyên viên đến từ các binh chủng khác như US Air Force, US Army và US Navy để mở các chiến dịch nhân đạo như “Pacific Angels” năm 2010, “Artic Care” năm 2011 cho dân Esquimos và Indians ở Alaska cũng như các nơi khác.
Trong buổi lễ gắn lon Trung Tá hồi 3:30PM hôm 9/2/2013 tại Willamette Room Bldg 170 thuộc căn cứ Portland Air National Guard- 6801 NE Cornfoot Rd.- Đại Tá Heidi Kjos, Chỉ Huy Trưởng Không Đoàn 142 đã giới thiệu binh nghiệp của Tân Y Sĩ Trung Tá Trần Chu Thủy với quan khách, quân nhân các cấp, thân hữu và thân bằng quyến thuộc hiện diện của 3 tân sĩ quan. Thân phụ mẫu vị tân Trung Tá đã được mời đích thân gắn lon cho trưởng nữ của mình. Thân mẫu của bà đã không giấu nổi xúc cảm ngập tràn thể hiện trên khuôn mặt ngấn lệ và bàn tay run rẩy! Y Sĩ Trung Tá Thủy trong phần phát biểu đã kể nguồn gốc một gia đình tỵ nạn Cộng Sản; bắt đầu bằng chuyện tình giữa một nam và một nữ là thân phụ mẫu của mình, người đã can đảm vượt đại dương liều chết để tìm tự do và tương lai cho con cháu mình. Đến Mỹ, đôi uyên ương ấy đã phải lao động cực nhọc nuôi năm đứa con nhỏ khôn lớn và học hành thành tài. Câu chuyện cảm động đến nỗi không một tiếng động nhỏ nào trong hội trường hàng trăm người chi phối. Vị tân Trung Tá cũng đã phát biểu vài lời bằng tiếng Việt dành riêng cho cha mẹ mình để tỏ lòng cảm ơn công đức sinh thành dưỡng dục; và cũng làm cả hội trường rộ tiếng cười khi diễn giả nói đùa rằng mình mới ở lứa tuổi đôi mươi! Lần đầu người viết bài này được nhìn thấy vị lương y thay hình đổi dạng từ chiếc blouse trắng sang bộ quân phục rộng tựa như được quân đội cung cấp sao thì mặc vậy! Ngoài hai sắc phục lương y và quân y, Bs Thủy còn rất lộng lẫy trong y phục dạ hội; lấp lánh bởi ánh đèn màu và những bước Tango Argentine điêu luyện!
Sau nghi thức gắn lon giản đơn và nhanh chóng, thân nhân và quan khách của ba tân sĩ quan đã lần lượt đến câu lạc bộ KQ tại Colwood Banquet Hall, 7313 NE Columbia Blvd để dự tiệc khoản đãi; cũng đơn giản theo thể thức “self services” và chấm dứt tại đó buổi chiều cùng ngày. Có đại diện BCH/CĐVN/OR và một số nhân sĩ trong cộng đồng tham dự. Một bằng tưởng lệ của CĐVN/OR đã được Phó CT Nội Vụ Nguyễn Thanh Tâm, đại diện BCH trao tặng vị tân Trung Tá về những thành tích mà bà đã và đang giúp cho cộng đồng người Việt Quốc Gia những năm qua. Vị tân Trung Tá cũng đã chụp hình lưu niệm với mọi người có mặt.
Được biết trong hàng ngũ thế hệ thứ hai của dân Việt tỵ nạn Cộng Sản tại Mỹ, có không ít nam nữ sĩ quan cấp Trung Tá trong các binh chủng của quân đội Hoa Kỳ. Trong vài năm qua đã có 13 Hải Quân Trung Tá gốc Việt được vinh thăng Đại Tá như các Trung Tá Dương Nhân Hưu, John Nguyễn, Nguyễn Mark Minh-Duy, Đỗ H. Thủy, Trần Quốc Bảo, Phạm Tùng Xuân, Thiện Douglas, Đoàn William Ray II, Huỳnh Thanh T, Lạc Tri H., Trần Jim T., Liebig Tina Trần, Dương Thanh X. Nổi tiếng nhất trong hàng ngũ Trung Tá có lẽ là HQ Trung Tá Lê Bá Hùng, người đã chỉ huy một chiến hạm Mỹ ghé thăm hữu nghị Việt Nam mấy năm trước đây. Chỉ binh chủng Hải Quân không thôi đã có 10 Đại Tá, 40 Trung Tá và 80 Thiếu Tá gốc Việt; 35% trong số này trực tiếp chỉ huy và tác chiến, 65% là SQ Tham Mưu. Người chỉ huy Lữ Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 101 Dù tại chiến trường Afghanistan cũng là con dân Việt, Đại Tá Lương Xuân Việt; được tiên đoán có thể là vị tướng lãnh gốc Việt đầu tiên trong tương lai. Sư đoàn 101 Dù này đã từng tham gia các cuộc hành quân nổi tiếng như Khe Sanh và Lam Sơn 719 tại Hạ Lào hồi năm 1974 trong chiến tranh Việt Nam.
Trong dịp lễ nhậm chức hôm 21/2/2013 của TT Obama, Bs Thủy đã gặp gỡ nữ Đại Tá KQ gốc Việt tên Mylène Huỳnh, Giám Đốc một trung tâm quốc tế về hàng không ở thủ đô Washington DC, 7700 Arlington Blvd, Suite # 5156, Falls Church, VA 22042. Ngoài lãnh vực quân đội, dân Việt thế hệ thứ hai cũng ngày càng tham gia về các lãnh vực sinh hoạt khác của đại cường quốc giàu mạnh nhất thế giới này như văn hóa, khoa học, truyền thông, chính trị ..vv.. như Luật Sư Tiến Sĩ Vi Nguyễn 34 tuổi ở Houston TX; Leyna Nguyễn của đài KCRA ở Sacramento CA. và đài WRDW-TV ở Augusta, Thúy Vũ của CBS, Vicky Nguyễn của đài FOX 10 ở Phoenic AZ, Mary Nguyễn của đài WFTV tại Orlando FL ..vv.. Trong cộng đồng người Việt Quốc Gia tại Oregon, ngoài Y Sĩ Trung Tá Thủy còn có Trung Tá Nguyễn Thế Thăng cũng thuộc ngành trừ bị Vệ Binh Quốc Gia Hoa Kỳ, người đã được vinh thăng Trung Tá năm ngoái. Cũng như các sĩ quan thứ thiệt kể trên, Trung Tá Thăng và Y Sĩ Trung Tá Thủy rất khiêm tốn và lịch thiệp. Chỉ có kẻ bất tài, thất đức và háo danh mà thẩm quyền không lớn hơn bãi đậu xe mới phải tự mua lon lá, súng đạn và trang phục cho cái quân binh dị chủng không số quân của mình để lòe người yếu bóng vía!.
Thành ngữ Việt có câu “Giặc đến nhà đàn bà cũng phải đánh”: Sự có mặt của Y Sĩ Trung Tá Thủy trong hàng ngũ quân đội trừ bị Hoa Kỳ càng có ý nghĩa hơn trong thời chiến sau khi bọn khủng bố Hồi giáo tấn công nước Mỹ; khi mà luật động viên đã bị bãi bỏ từ sau chiến tranh Việt Nam và khi mà tiếng gọi của non sông càng trở nên cấp thiết. Với lứa tuổi mới ngoài tứ tuần; như chưa phỉ chí tang bồng, Bs Thủy còn dự định sẽ ra tranh cử lần nữa chức dân biểu tiểu bang năm 2014 để đại diện cho đơn vị District 47 mà bà đã thất cử năm 2012 chỉ vỏn vẹn với 355 phiếu so với đối thủ. Chắc rằng bề dày kiến thức và kinh nghiệm bản thân sẽ giúp bà thành công trên phương diện chính trị như đã thành công trên phương diện quân sự và chuyên môn. Thành tích của vị nữ lưu gốc Việt đáng nể trọng này đã đem lại vinh dự cho cộng đồng người Việt Quốc Gia địa phương và vẻ vang cho dân Việt khắp nơi nói chung. “Honor virtutis praemium”: Vinh dự là phần thưởng của lòng can đảm!
HÀ BẮC
 http://www.baocalitoday.com/index.php?option=com_content&view=article&id=12543:v-vang-dan-vit-tan-trung-ta-trn-chu-thy&catid=7:gia-inh-giao-dc&Itemid=55

Ta đi về Roma…

Sáng 12.2.2013, Linh mục Federico Lombardi, Giám Đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã cho các ký giả biết ĐTC Benedict XVI đã tuyên bố thoái vị vì lý do sức khoẻ. Linh mục nhấn mạnh rằng quyết định thoái vị của ĐTC không phải là do ngài mắc một chứng bệnh cụ thể nào nhưng do tình trạng sức khoẻ suy sút theo tuổi già.
Linh mục còn cho biết thêm rằng trong Công Nghị Hồng Y vào sáng 11.2.2013, ĐTC đã tuyên bố: Sau nhiều lần tự vấn lương tâm trước mặt Chúa, tôi đã đi đến sự xác tín rằng năng lực của tôi, do tuổi cao, không còn phù hợp để cáng đáng đầy đủ sứ vụ Giáo Hoàng.”
Khi một biến cố lớn như thế xẩy ra, dĩ nhiên là có nhiều sự suy đoán khác nhau. Đa số nhấn mạnh đến sức khoẻ của ĐTC ngày càng xấu đi, chẳng hạn như báo Turin's La Stampa nói rằng trong chuyến viếng thăm Mexico vào tháng 3 năm vừa qua, ĐTC đã bị té trong đêm khi thức dậy đi vệ sinh. Sáng hôm sau, Ngài rờ đầu thì thấy có máu đông dính tóc. Tuy nhiên, cũng có một số bình luận nhảm nhí như Giáo Hoàng muốn trốn tránh trách nhiệm về vụ các linh mục xâm phạm tình dục hay vụ tài liệu mật bị tiết lộ, v.v.
Hôm 8.2.2013, cơ quan thông tin “National Catholic Reporter” cho biết ký giả Peter Seewald, người đã từng phỏng vấn ĐTC Benedict XVI để viết cuốn "Light of the World" (Ánh sáng của thế giới) có kể lại rằng vào tháng 8 năm ngoái, khi gặp ĐTC ở Castel Gandolfo, ông có hỏi rằng các tín hữu Công giáo có thể trông đợi điều gì từ ĐTC trong tương lai, ĐTC trả lời:
"Các tín đồ có thể trông đợi thêm điều gì từ tôi ư? Không nhiều lắm. Tôi là một người lớn tuổi và sức mạnh của tôi đang giảm dần. Và tôi nghĩ tôi đã cố gắng hết sức rồi.”
Đây không phải là lần thứ nhất một Giáo Hoàng thoái vị. Trong quá khứ đã xẩy ra nhiều trường hợp như vậy vì nhiều lý do khác nhau, như năm 653 ĐGH Martinô I đã bị Hoàng Đế La Mã Đông Phương là Heraclius bắt và lưu đày qua Hy Lạp; ĐGH Celestine V (1215-1296), một người rất đạo đức, được bầu làm Giáo Hoàng khi đã 84 tuổi, nhưng ngài chỉ làm được 5 tháng thì từ nhiệm; ĐGH Gregory XII (1406 đến 1415) được bầu khi tình trạng ly giáo xẩy ra nên Hoàng đế Sigismond phải triệu tập Công đồng Chung Constancia năm 1413 để giải quyết, Ngài đã tuyên bố từ chức để chấm dứt thời kỳ ly giáo, v.v.
Qua nhiều biến cố, có khi rất nghiêm trọng, nhất là trong những thời kỳ bị bách hại, ly giáo hay có sự lẫn lộn giữa thế quyền và giáo quyền…, Giáo Hội Công Giáo Roma vẫn đứng vững và ngày càng phát triển. Cho đến nay, Giáo Hội đã có Giáo Hoàng thứ 265 và sắp bầu Giáo Hoàng thứ 266. Trước khi nói về tiến trình bầu Giáo Hoàng mới, chúng ta thử nhìn qua tình trạng Giáo Hội Công Giáo Roma hiện nay.
HIỆN TÌNH GIÁO HỘI ROMA
Tài liệu thống kê cho biết số người theo Kitô giáo trên thế giới hiện nay là khoảng 2,18 tỷ, trong đó 26% ở Âu châu, 37% ở Mỹ châu, 24% ở Phi châu và 13% ở Á châu Thái Bình Dương. Riêng Giáo Hội Công Giáo Roma có 1.195.671.000 tín hữu, chia ra như sau:
- Số tín hữu: Châu Mỹ 586.998.000, Châu Âu 284.924.000, Châu Phi 185.620.000, Châu Á 129.661.000, Châu đại dương 9.468.000.
- Số Giám Mục: 5.104 vị.
- Số Linh Mục: 412.236 vị.
- Số tu sĩ nam nữ: 54.665 nam và 721.935 nữ.
NGÔI VỊ GIÁO HOÀNG
Trong các tôn giáo lớn trên thế giới hiện nay là Kitô giáo, Hồi Giáo, Ấn giáo và Phật giáo, chỉ có Kitô giáo có Giáo Hội, còn các tôn giáo khác không có. Giáo Hội Kitô giáo do chính Chúa Jesus lập khi Ngài nói với thánh Peter: “Con là Peter, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi.” (Tu es Petrus et super hanc petram aedificabo Ecclesiam meam, et portae inferi non praevalebunt adversus eam.) Mat (16,18).
Điều 331 Bộ Giáo Luật quy định rằng Giám Mục của Giáo Hội Roma, nơi Ngài được duy trì nhiệm vụ mà Thiên Chúa đã trao cách đặc biệt cho Phêrô, phải được chuyển tiếp cho các người kế vị Ngài, là thủ lãnh của tập đoàn Giám Mục, Đại diện Đức Kitô và Chủ chăn của toàn thể Giáo Hội trên trần gian.
Điều 332 quy định rằng Đức Thánh Cha nhận lãnh quyền sung mãn và tối cao trong Giáo Hội do sự bầu cử hợp lệ mà Ngài đã chấp nhận cùng với sự tấn phong Giám Mục. Nếu người đắc cử mà chưa có chức Giám Mục, thì lập tức phải được truyền chức Giám Mục.
Như vậy, tất cả những người có chức linh mục đều có thể được bầu làm Giáo Hoàng, chứ không phải chỉ riêng các Hồng Y hay Giám Mục.
Để tránh một Giáo Hoàng có thể bị bắt buộc từ nhiệm, đoạn 2 của điều 332 quy định rằng nếu xảy ra trường hợp Đức Thánh Cha từ chức, thì để được hữu hiệu, sự từ chức phải được tự do và được bày tỏ cách hợp thức nhưng không cần được ai chấp nhận.
Trong Giáo Luật, Giáo Hoàng Roma được gọi là “Romanus Pontifex”, tiếng Anh thường gọi là Pope và tiếng Việt dịch là Đức Thánh Cha hay Đức Giáo Hoàng. Chữ “Pontifex” theo cổ ngữ có nghĩa là Trưởng Giáo.
THỦ TỤC BẦU GIÁO HOÀNG
Thủ tục bầu Giáo Hoàng được thay đổi nhiều lần qua lịch sử. Cuộc bầu cử ĐGH Urbanô VI năm 1378 bằng cách giơ tay đã đưa tới một sự tranh chấp, tạo ra một Giáo Hoàng giả (Anti-Pope) là Clêmêntê VII, đưa đến cuộc ly khai lớn trong Giáo Hội (Great Schism 1378-1417). Sau đó lại có một vị thứ ba cũng đứng lên đòi nắm quyền kế vị Thánh Phêrô! Do đó, luật bầu cử Giáo Hoàng về sau đã được quy định rất chặt chẽ.
Thủ tục bầu hiện nay được ấn định do Tông Hiến “Universi Dominici Gregis” (Toàn Thể Đoàn Chiên Chúa) được ĐTC Gioan Phaolô II ký ban hành ngày 22.2.1996 và được bổ túc do Tự Sắc (motu proprio) ngày 26.6.2007 của ĐTC Benedict XVI. Thủ tục này khá phức tạp, chúng tôi xin tóm lược những nét chính.
Sau khi ĐTC đương nhiệm qua đời hay thoái vị, Mật Nghị Hồng Y (Conclave) phải được triệu tập trong vòng 15 ngày và trể nhất là 20 ngày. Mật Nghị sẽ do ĐHY niên trưởng triệu tập.
ĐTC Benedict XVI quyết định từ nhiệm kể từ ngày 28.2.2013 nhưng Ngài sẽ từ bỏ chức vụ kể từ ngày 27.2.2018. Như vậy Mật Nghị Hồng Y sẽ được triệu tập kể từ ngày 28.2.2013.
Các Hồng Y được quyền bầu Giáo Hoàng phải dưới 80 tuổi và không quá 120 vị. Số Hồng Y dưới 80 tuổi hiện nay có 117 vị, trong đó có 61 vị người Châu Âu, 19 vị Châu Mỹ Latin, 14 vị Bắc Mỹ, 11 vị Châu Phi, 11 vị Châu Á và 1 vị Châu Đại Dương. Nước Ý có số Hồng Y cử tri đông nhất là 21 vị. ĐHY Phạm Minh Mẫn của Việt Nam 78 tuổi cũng được dự bầu.
Trước đây, các vị Hồng Y dự bầu được cư ngụ tại tại Điện Giáo Hoàng (Papal Palace), nay sẽ cư ngụ ở Điện Domus Sanctae Marthae có đầy đủ tiện nghi hơn.
Cuộc bầu cử bắt đầu bằng một Thánh Lễ buổi sáng tại Đền Thánh Phêrô, sau đó các Hồng Y đến Nguyện Đường Sistine để bầu. Những ai không được bầu phải đi ra. Trước khi bầu, các Hồng Y phải long trọng tuyên thệ tuân theo đúng luật lệ bầu cử, tôn trọng kết qủa bầu cử, bênh vực và bảo vệ quyền lợi Giáo Hội, và đặc biệt “tuyệt đối giữ bí mật về tất cả mọi sự việc liên quan đến cuộc bầu cử Giáo Hoàng Roma”.
Mỗi ngày có 4 lần bỏ phiếu, 2 lần buổi sáng và 2 lần buổi chiều. Cứ sau hai lần bỏ phiếu, tức 12 giờ trưa và 7 giờ chiều, khói sẽ được đốt lên ở ống khói của Nguyện Đường Sistine. Khói đen báo hiệu chưa thành và khói trằng báo hiệu đã thành.
Vì các Hồng Y dự bầu có thể bầu cho bất cứ ai có chức Linh mục, chứ không phải chỉ bầu cho các Hồng Y tham dự Mật Nghị và người được bầu phải có ít nhất 2/3 tổng số phiếu mới được coi là đắc cử, nên có khi cuộc bầu cử phải kéo dài. Kỳ bầu cử dài nhất trong lịch sử của Giáo Hội là kỳ bầu cử năm 1271, phải kéo đến 1.095 ngày mới bầu được ĐGH Grêgôriô X. Trong khi đó, cuộc bầu cử năm 1503, chỉ mất vài giờ là bầu xong ĐGH Giuliô II.
Vì những khó khăn trên, Tự Sắc ngày 26.6.2007 của ĐTC Benedict XVI quy định rằng nếu sau 33 hay 34 lần bỏ phiếu mà chưa thành, có thể chọn 2 vị có phiếu cao nhất để bầu. Hai vị này không có quyền bỏ phiếu. Kết quả vẫn vị nào đạt tới 2/3 tổng số phiếu mới được coi là đắc cử.
Khi có một vị đạt số phiều bầu, Trưởng Hồng Y Đoàn hỏi rằng ngài có chấp nhận làm Giáo Hoàng hay không, và nếu chấp nhận ngài lấy danh hiệu gì. Nếu vị đắc cử tuyên bố chấp nhận,  lập tức ngài trở thành Giám Mục Giáo Phận Rôma và là Giáo Hoàng của toàn thể Giáo Hội hoàn vũ.
CON ĐƯỜNG GIÁO HỘI ĐI
Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta thấy trong số 32 vị Giáo Hoàng đầu tiên, đã có tới 28 vị tử đạo. Năm vị tử đạo đầu tiên có tên như sau:
1.- Thánh Phêrô (Peter): từ năm 32 đến 67.
2.- Thánh Linus: từ năm 67 đến 76.
3.- Thánh Anacletus/Cletus: từ năm 76 đến 88.
4.- Thánh Clêment I: từ năm 88 đến 97.
5.- Thánh Evaristus: từ năm 97 đến 105.
Chúng tôi xin tóm lược lại cuộc đời của vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo Hội là thánh Phêrô để qúy vị có thể nhận thấy người được Chúa chọn và giao phó sứ mạng không như nhiều người đã tưởng.
Phêro (Peter) sinh năm đầu tiên của kỷ nguyên mới, tức cùng tuổi với Chúa Jesus. Ông sinh tại Bethsaida, một thị trấn nhỏ thuộc miền Galilê, trên bờ biển Tiberia, Palestine. Ông và Anrê là hai anh em cùng làm nghề đánh cá ở Caphanaum bên cạnh hồ Galilê (Mt,4,23). Lúc 30 tuổi, ông đã gặp Chúa Jesus qua sự giới thiệu của Anrê, được Chúa chọn làm tông đồ và đặt tên cho ông là Peter, nghĩa là đá. (Ga 1, 42). Ông đã đi theo Chúa trong suốt con đường Chúa rao giảng tin mừng, tử nạn và phục sinh.
Sau khi Chúa về trời, ông trở thành người lãnh đạo Giáo Hội đầu tiên. Ông đã cùng các môn đệ khác của Chúa đi rao giảng tin mừng khắp nơi, từ Jerusalem đến Giaffa, Cesarêa, Antiokia… Sau cùng ông đến Roma vào khoảng năm 44. Trong cuộc hành trình này, ông bị bắt bớ và giam giữ rất nhiều lần.
Tháng 8 năm 64, Hoàng đế Nero của Roma bắt đầu bách hại giáo dân Kitô giáo. Giáo Hoàng Phêrô cũng đã bị bắt và đưa ra hành hình.
Năm 1895 nhà văn Ba Lan Henryk Sienkiewicz đã dựa vào Kinh Thánh và bối cảnh lịch sử của đế quốc La Mã thời bạo chúa Nero cầm quyền, viết cuốn tiểu thuyết có tên là “Quo Vadis?”  Cuốn tiểu thuyết này được hãng MGM dựng thành phim năm 1951, gây tiếng vang lớn.
Khi cuộc bắt bớ và giết hại các Kitô hữu xẩy ra ở Roma, nhiều người đã khuyên Phêrô rời khỏi Roma, vì ông phải tồn tại để lãnh đạo Giáo Hội. Lúc đầu ông không chịu đi, nhưng vì có sự thúc giục của nhiều người, ông đã quyết định ra đi. Một tiểu đệ đã đi theo giúp ông. Nhưng trên con đường Appia, gần cửa Capena, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thập giá trên vai. Phêrô hỏi:
Quo Vadis, Domine?
(Thưa Thầy, Thầy đi đâu?)
Chúa Jesus đáp:
Eo Romam iterum crucifigi.
(Thầy đi vào thành Roma để chịu đóng đinh một lần nữa.)
Phêrô hiểu ra ẩn ý của Chúa nên ông quay trở lại thành Roma.
Người đệ tử không được thấy cảnh Phêrô gặp Chúa Jesus, nên khi thấy ông đột nhiên quay trở lại, đã cất tiếng hỏi:
Quo vadis, Domine?
(Thưa Thầy, Thầy đi đâu?)
Phêrô trả lời:
Eo Romam…
(Thầy đi về Roma...)
Sau khi trở lại Roma một thời gian, Phêrô đã bị bắt và bị tống giam. Trong thời gian bị giam, ông đã cảm hóa hai người lính canh ngục tên là Processus và Martinianus và cả hai đã được rửa tội và tử đạo.  Ông bị kết án tử hình trên thập tự, bị dẫn tới hý trường Caligula trên đồi Vatican. Khi trông thấy thập giá, ông cảm thấy mình không xứng đáng được chết như Thầy mình, nên yêu cầu được đóng đinh treo ngược.
Giáo Hội ngày nay cũng phải tiếp tục đi theo con đường Chúa Jesus và thánh Phêrô đã đi.
MỖI THỜI ĐẠI MỘT NGÔN SỨ
Ngày 31.8.2012 ĐHY Carlo Maria Martini, TGM thành Milan, Ý, qua đời, thọ 85 tuổi. Một ngày sau đó, hãng thông tấn Reuters đã phổ biến một bản tin dưới đầu đề “In final interview, Cardinal says Church "200 years out of date" (Cuộc phỏng vấn cuối cùng, ĐHY nói “Giáo Hội lạc hậu 200 năm”.
ĐHY Martini là một nhân vật rất được yêu mến của Vatican. Ngài có quan điểm cởi mở về nhiều vấn đề nhưng được cả hai Giáo Hoàng John Paul II và Benedict XVI kính trọng.
Nhật báo Corriere della Sela của Ý đã đã đăng bài phỏng vấn cuối cùng với Ngài được thực hiện vào tháng 8. Khi đó Ngài đã nói: “Giáo hội đã mỏi mệt... các phòng cầu nguyện của chúng ta đều vắng vẻ” và “Các vụ tai tiếng lạm dụng tình dụng trẻ em (của một số linh mục) buộc chúng ta phải thực hiện một lộ trình chuyển đổi.” Theo Ngài, để vượt qua sự mỏi mệt của Giáo Hội là phải “thay đổi triệt để – bắt đầu từ Giáo Hoàng và các Giám Mục...”
Hiện nay, các cơ quan truyền thông và nhiều người đang tiên đoán ai sẽ được bầu làm Giáo Hoàng trong những ngày tới đây. Có người tiên đoán có thể là một vị ở Mỹ châu vì tại đây có số tín hữu cao nhất. Nhưng Giáo Hội Công Giáo không nghĩ như vậy. Lịch sử của dân Do Thái và của Giáo Hội cho thấy rằng mỗi thời đại sẽ có một ngôn sứ được sai đến, vì thế Giáo Hội luôn tin tưởng vào Chúa Thánh Thần:
Anh em không cần biết đến thời giờ và thời hạn Chúa Cha đã toàn quyền sắp đặt, nhưng anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bây giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Jerusalem, trong khắp các miền Judea, Samaria và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1, 7–8)
Thánh Thần còn giúp cho các Tông Đồ đề ra những quy định sáng suốt và hợp lý để giải quyết các khủng hoảng hay các vấn đề nan giải trong Giáo Hội (Cv 15, 28)
Vì thế, trước khi bầu cử, các Hồng Y hát kinh “Veni creator Spiritus” để xin Đức Chúa Thánh Thần đến hướng dẫn họ. Họ không xét đoán theo khả năng riêng của mình.
Những người tín hữu Công Giáo đang chờ đợi vị Giáo Hoàng mới với tất cả niềm tin tưởng và hy vọng.
Ngày 21.2.2013
Lữ Giang

 http://www.lamhong.org/2013/02/22/ta-di-ve-roma/
-----

Toàn bộ phim tài liệu "Linh Địa Đức Mẹ: Những nơi Đức Mẹ hiện ra"


Chủ Đề Người Lính VNCH : Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù





Không biết tại sao nhiều người viết và nhắc tới đơn Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù (ĐĐ2TSND)? “ Nó” cũng giống như hằng trăm, hằng nghìn đơn vị cấp đại đội khác, cũng đánh giặc, cũng “oánh” lộn, “uýnh” trúng, ba gai, coi Ông Trời bằng cái nắp vung, khiến nhiều lần tôi cũng phải phát khủng, hoá điên vì “Nó”…! Nhẫm tính ra tôi làm Đại Đội Trưởng “cái” đơn vị này gần 6 năm dài chứ chứ ít ỏi gì sao, lớp này ngã xuống, lớp khác bổ sung, đến rồi đi, đi rồi quay trở về, có nhiều "ông Thiên Lôi” quậy tàn canh gió lốc, thần thiên chứng kiến cũng sầu bi lắc đầu ngao ngán lẫn hố hố cười sảng khoái, ma quỷ lỡ độ đường cúng quẩy cô hồn tháng bẩy, linh lạc bay tứ tán muôn phương nhìn thấy cũng buồn khóc lẽ loi “lòi le” một mình…như thế, như vậy và như thị …ha…ha…ha…!!! Nhưng khi xung chiến trận thì có Tổng Lãnh Thiên Thần Micae (Michael) đỡ đầu là “Hộ Pháp” của binh chủng Nhẩy Dù giáng thế cũng chưa chắc đã can gián, phân bua, đình cản mấy “ổng” được…! Nhiều trận xông vào những mục tiêu “cửa tử” chết người, “Quan” chưa kịp chỉ huy điều động thì đã nghe thấy mấy “ông Thiên Lôi” đã đứng trên miệng hầm vạch quần đái xuống với giọng cười ha hả khoái trá, VC đang chong súng từ dưới bắn lên dòn tan, “Thiên Lôi” nhoài mình nhanh nhẹn tránh né tinh ranh như sóc cáo và rút chốt lựu đạn “thẩy lổ” như đánh bi, đánh đáo giỡn mặt tử thần ngổ ngáo, ngịch ngợm như trong thôn xóm những ngày còn thơ dại hồn nhiên… và đau thương tan nát như vỡ đi từng mạch máu co thắt nhói tim khi phải vuốt mắt tiễn đưa bằng hữu và những “đứa em Thiên Lôi” về “vùng 5” nơi cõi mịt mùng mà đời không còn gặp lại nhau:
Ôi…bằng hữu đã lên đường quá vãng
Trận mạc tan tành không một nén hương
Tiễn nhau đi lửa cháy đỏ thôn làng…
Tôi yên lặng cúi đầu như pho tượng
(Tiễn Biệt - mũđỏútbạchlan)
Những ai đã từng chung cam khổ, hiểm nguy trên chiến trường trong quảng đời quân ngũ dài lâu ắt hẳn sẽ đồng cảm với Anh – Em chúng tôi những Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ “thấu nỗi” gia đình Huynh Đệ Chi Binh không phải chỉ là từ ngữ để chỉ “thứ” Tình “nó” bàng bạc như hời hợt mông lung mà lại rất gắn bó, thắt chặc và tình thâm như Huynh Đệ Thủ Túc sống chết hết lòng bảo vệ cho nhau, đôn đốc nhắc nhở kinh nghiệm chiến trường, Sĩ Quan “om” Lính những kinh nghiệm tử sinh qua “bề dầy” trận mạc như những châm ngôn, những qui tắc để giữ thân và chiến thắng trên chiến trường mỗi ngày qua thêm khốc liệt …vì kẻ nội thù Bắc Quân có cùng một giống nòi Việt Nam với chiến đấu tính tinh xảo, kỳ tuyệt …đã được hun đúc kinh qua bao trường thiên chiến cuộc chống cự với giặc Hán phương Bắc để dựng Nước, giữ Nước và mở Nước đến ngày nay…! Nên Ta rõ thấu Địch và Địch cũng tỏ lòng Ta. Nhưng Quân Dân miền Nam khác với “rợ” Bắc Cộng vì chúng ta Thiện, Lành, Hài Hoà và Văn Minh …biết trân quí “cái” Tốt Đẹp từ bản chất con Người, đãi lọc văn hoá của mình, cắt tỉa văn hoá du nhập tự phương xa sao cho hợp với mình, với thời… làm thêm phong phú văn vẽ rồi “thì là” Việt Nam, điển hình như “Người SàiGòn” mà tứ dân địa phương Nam – Trung - Bắc hội tụ, hoà nhập rồi lẫn vào nhau thành “cái” đặc trưng “Dân SàiGòn”, nếp sống SàiGòn, giọng nói SàiGòn…loài chim se sẻ là những “thị dân” chuyên cư trú trên mái nhà trong thành phố cũng có đời sống sinh hoạt cộng hưởng với thị dân thứ thiệt rất Sàigòn, rất bản lĩnh, rất hào phóng, rất “anh hùng mã thượng” và cũng rất lè phè nhậu nhẹt cụng ly chí chát, tân nhạc xen lẩn vọng cổ hoà điệu chẳng phiền hà gì ráo trọi…Nhưng thói tiểu nhân, chơi xấu, cà chớn, chơi mẹ đụ, nịnh trên đạp dưới là không được làm bạn chung mâm, chung bàn “tao dzọng cho mầy thấy mẹ” là “thuật” ngữ ban cho “thằng cà chớn” kèm theo vài cú đá, đạp văng ra đường, nạn nhân sịt máu mũi, phun ra vài cái răng cửa thích đáng biểu đồng tình…Vì vậy
cho nên, từ Đại Đội Phó đến Binh Nhì vừa về đơn vị trình diện là “Quan” quán mục xem “chân cẳng anh hùng” lượng định “Hảo Hớn Lương Sơn” hay “gà mái” để mà “xử thế” an bày trong hàng quân sao cho hợp tính cách hữu dụng và trên hết là thân tình tự Tâm thể hiện Thân cận, Thân “giáo” để làm gương. Tôi thương mến tất cả “thuộc hạ” thế đứng chỉ huy trong Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù đơn vị tinh nhuệ, thiện chiến ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Họ là “thượng thừa” của tôi trong tình nghĩa cao thượng Tử Sinh xương máu trên chiến trường và Họ chính thật là bản thân thủ túc của tôi. Những khi dưỡng quân an bình ngắn hạn tôi vẫn thường “lên lớp” căn dặn “mấy ông Thiên Lôi” như “Tố Nữ Kinh Bửu Giám": “Các anh em, mấy “ông cố nội”, mấy “ông thiên lôi”, mấy tên cà chớn tụi bây, tụi mầy…là Lính của Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù nổi tiếng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà khi chiến đấu thì hiên ngang trên chiến trường, nhưng về thành phố phải thể hiện phong cách thanh lịch “con nhà”. Không như khỉ đột về thành… "! Mà “thanh lịch” làm sao chứ ! Họ vừa mới được bốc ra khỏi trận mạc tử địa thì trổ ngay đủ mọi phương cách kỷ xảo, mánh mung là “dù” trốn ngay ra phố mặc cho ăn boot de sault, lãnh phạt...thả giàn không cần bán vé, bị Quân Cảnh hốt, giải giao trả về đơn vị, “Quan” tra vấn, “Lính” trả lời ngâm nga:
Tóc nàng dài nàng cài hoa thiên lý
Tóc em dài Quân Cảnh kí đầu Em...!
“Quan” Tôi không “dằn” được cười bèn thị uy “ngọt”: “ Thôi đi !... đi hớt tóc đi “ông cố nội”…!!! Hết ý !
Tháng 5 năm 1972, Đơn Vị vất vả tả tơi sau một tháng ăn thua đủ với SĐ320 CSBV là một sư đoàn chủ lực thiện chiến thuộc Quân Đoàn 3VC tham gia chiến dịch Bắc Tây Nguyên năm 1972. Sư đoàn 320B gồm các trung đoàn 48, 64 và một trung đoàn bộ đội địa phương của mặt trận B5 tăng cường cho mặt trận Trị Thiên 1972. Các trung đoàn 48 và 64 của Sư đoàn 320 B là các đơn vị chủ lực phòng thủ Cổ Thành Quảng Trị trong suốt 81 ngày đêm từ 6-6-1972 đến 15-9-1972. Đặc biệt là Trung Đoàn 48 với khẩu hiệu: "48 còn, Quảng Trị còn” và Trung Đoàn 48 VC nầy đã bị Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà xoá sổ, tử thi cán binh VC đã tanh bành với đất đá trong Cổ Thành… được kết thúc ngày 18-6-1972 với chiến thắng anh dũng của Quân Lực Miền Nam và ngọn cờ Vàng chiến thắng phất phới ngạo nghễ bay trong gió trên tường thành Quảng Trị. Đơn vị của tôi chỉ được an dưỡng 6 ngày tại hậu cứ, chờ bổ sung quân số và tái trang bị, lại cấm trại 100%...! Nhận lệnh hành quân kế tiếp là “bốc” rồi “thả” vào chiến trường Quảng Trị. Sáng ngày 14-5-1972, sau phiên họp hành quân ở Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (BCHLĐIIND) Đại Tá Trần Quốc Lịch nói:
- “ Đại Úy Út ở lại gặp Tôi “!
Ngồi trong văn phòng riêng của Liên Đoàn Trưởng, Tôi hơi lo âu hồi hộp không biết sự việc hung hay kiết, vì cách đây 4 ngày Tôi đã lén lút cho phép tất cả “Quan và Quân” được về thăm nhà 4 ngày và phải trở về đơn vị đúng thời hạn…?! Nếu có lệnh lên đường hành quân lúc này thì Tôi lãnh đủ, vì quân số chỉ còn có năm bảy chục mạng ở trại gia binh mà thôi ! Nhưng ý nghĩ đó chỉ thoáng qua trong đầu rồi tan biến ngay đi, vì Tôi biết chắc chắn rằng Ông sẽ “châm chế” không nỡ khiển trách Tôi và đơn vị vì tính Ông bộc trực, cảm thông với binh sĩ đồng khổ cực, gian nguy ở chiến trường …lại nữa mới vừa hai tuần lễ qua chúng tôi đã vào sinh ra tử cứu Ông và Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn bị địch trùng trùng tứ phía tấn công ở Võ Định và căn cứ 43. Tôi tự hỏi: Misson Imposible chăng ? Có thể lắm ! Ông bước vào, vòng ra sau ghế ngồi của Ông cười cười rồi ra lệnh:
- Anh nghe đây: Đây là khẩu lệnh, Anh không cần biết của ai...khi ra đến Phú Bài...Anh phải làm như thế này...thế này...Anh có gì thắc mắc không ?
Thắc mắc cái gì ? Thi hành trước khiếu nại sau đã thế rồi và Tôi chưa bao giờ nhận một lệnh hành quân nào " Tiếu Ngạo Giang Hồ " như thế này ?!!! Sau này Tôi mới biết đây là chỉ thị riêng của Trung Tướng Dư Quốc Đống (Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù) qua lời yêu cầu của Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng (Tư Lệnh Quân Đoàn I) . Lệnh hành quân “Đóng Phim” ...trong khi mặt trận Quảng Trị và Huế đang bước vào giai đoạn sinh tử khốc liệt: Sư Đoàn 3Bộ Binh như tan biến nơi nào đó, Sư Đoàn1Bộ Binh đang vất vã hiểm nguy giữ từng ngọn đồi trên dãy Trường Sơn phía Tây Huế cùng với Liên Đoàn I Biệt Động Quân, Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đã rút về án ngữ phòng tuyến phía Nam sông Mỹ Chánh, Lữ Đoàn I Nhẩy Dù và Lữ Đoàn III Nhẩy Dù đang hỗn chiến với Bắc Quân VC ở An Lộc, Lữ Đoàn II Nhẩy Dù đã tử chiến với Bắc Quân ở mặt trận Tam Biên giờ như mãnh hổ thấm thương què quặt đang “gom bi” chờ phục hồi sinh lực ...bây giờ còn lại đơn vị Tôi “anh hùng xông tứ phương” nơi nào cực hiểm nguy như chỉ mành treo chuông, tử thần Bắc Quân lởn vởn cường bạo tấn công, vây hãm chờ đoạt hồn Quân Ta …thì đơn vị Đại Đội 2 Trinh Sát Nhẩy Dù và đơn vị 81 Biệt Cách Dù được điều động “bốc” và “thả” tới nơi để tử chiến giải nguy cho Quân Bạn…nay “Đại Đội Chiến” lại được lệnh đi " Đóng Phim " thì quả là tiếu lâm khôi hài không chỗ nào “chê” được …!!! Mà là đóng phim thật mới “tuyệt” làm sao ! Qua những thước phim nhựa của Trung Tâm Điện Ảnh Quân Đội nầy đã chứng tỏ ĐĐTS2ND của Tôi thật "thanh lịch” trên đường phố Huế vào mùa Hè năm 1972 dường bao…?!!! Đây những “scene” và “casting” tài tử là “Quan và Quân” ĐĐ2TSND đóng phim “đánh đấm” và “dỗ an” dân Huế rất ư là tận tình hết ý như ri:
Ngày 15 tháng 5 năm 1972, …Khi phi cơ vừa thả ĐĐ2TSND xuống phi trường Phú Bài, Tôi gọi tất cả 4 Sĩ Quan Trung Đội Trưởng, 6 Sĩ Quan Toán Trưởng, Thường Vụ, Sĩ Quan tiền trạm họp bỏ túi tại chỗ, mỗi người đã có sẵn bản đồ hành quân trên tay được phân phối khi còn trong C130 trên đường bay ra xứ Huế. Tôi bắt đầu ra lệnh “Hành Quân Đóng Phim”:
- Các Anh cũng biết, chúng ta là đơn vị Nhẩy Dù đầu tiên đến Huế và sẽ vào Quảng Trị từ khi Quảng Trị đã bị mất vào tay Cộng Quân…! Bây giờ thì hãy ghi nhớ những khẩu lệnh của Tôi, nếu chỉ một hành động sơ xuất nào thì các Anh phải trực tiếp chịu trách nhiệm...! Rõ chưa ? Thôi,… tất cả đã thông suốt, cứ thế mà thi hành, nhớ luôn luôn trên máy…!
10 giờ 30 phút sáng, đoàn xe 6 chiếc GMC lăn bánh chạy rời khỏi phi trường với chiếc jeep có huy hiệu con Ó Nhẩy Dù dẫn đầu. Theo lệnh, tất cả quân nhân khi lên xe, tháo ba lô để xuống sàn xe, thay mũ sắt bằng mũ đỏ, chỉ có giây ba chạc và súng cá nhân, không được ngồi mà phải đứng quay mặt ra ngoài thành xe trình diễn khí thế Bataillon De Commandos vào “đại lễ” dẹp trừ bạo loạn và an dân…!!!
Tôi dẫn đầu đoàn xe, chạy thật chậm, khoảng chừng được vài cây số cho dừng lại trên Quốc Lộ I...Ngược đường trước mặt là đoàn người chạy loạn, hằng trăm, hằng nhiều ngàn nam phụ lão ấu, đàn ông, đàn bà, con nít tay gồng, vai gánh thân nhân, đồ vật với xe lam, xe bò, xe đò, xe đạp, xe máy chất đầy bao bị tất tả đang hướng về phí Nam, Đại Lộc, Lăng Cô, Đèo Hải Vân…! “Tài tử” ĐĐTS2ND bắt đầu đóng phim: họ nhẩy xuống xe, tận tình, tận lực phụ giúp đẩy những chiếc xe do người kéo cực nhọc nặng nề, bồng mấy đứa bé mà bà mẹ đang cỏng, tay bồng tay dắt dăm ba đứa bé con, mấy “ông Thiên Lôi” nhanh nhẩu móc trong giây ba chạc những hộp trái cây, thịt ba lát, thuốc lá cà phê trong khẩu phần Ration C phân phát cho mọi người hể hả rất ư là chí tình Quân Dân như cá với nước và “Phim” đã trở thành “Thực” trước tình huống đùm bọc, chở che đồng bào hoạn nạn trong chiến cuộc…! Thật sự cảm động đã có nhiều giọt lệ ứa trên khoé mắt đỏ cay vì thiếu ngủ không ngăn được chảy dài trên làn da mặt đen đủi rám nắng dạn dầy chiến trường của mấy “ông Thiên Lôi” và đồng bào đồng cảm…Ôi có hạt kim cương nào sánh bằng những giọt nước mắt thấm đượm ân tình trong cơn “tao ngộ” hoạn nạn nầy chứ…!
- Các Ôn là Lính con Ó hỉ, bộ đội Cộng Hoà hỉ…? Tụi tui từ Đông Hà, Ái Tử, Quảng Trị chạy vào Huế cả tháng nay...khổ quá phải chạy tiếp vào Lăng Cô kiếm thóc, kiếm cá mắm mà ăn đói quá…! Bà con ơi...! Bà con ơi...Lính Dù đây nè...Lính Dù trở ra Quảng Trị nì...!!!
Chúng Tôi còn nhiều “pha” đóng phim và có nhiều trường hợp, trạng huống như thật lẫn lộn chẳng biết đâu là thực hư rất “truyền cảm” và cũng rất nực cười khoái trá tạm quên đi mai đây chúng tôi sẽ phải xông vào nơi gió cát với súng nổ liên thanh và đạn bay xé rách không gian, không biết ai còn ai mất trong cuộc tử sinh…?! Chúng tôi và đoàn người chạy loạn tiếp tục xuôi ngược cuộc hành trình lên đường vào ra xứ Huế…bất giác tôi tự hỏi những ngày tháng kế tiếp rồi họ sẽ ra sao và về đâu ? Tôi làm sao biết được khi mà thành phố Huế trước mặt đang trong tình trạng hỗn loạn, tang tóc thê lương…! Đoàn xe dừng lại phía Bắc cầu Tràng Tiền, Trung Đội1Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ1TSND) phụ trách khu Quốc Học Đồng Khánh, Trung Đội 2Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ2TSND) trách nhiệm khu Đài Phát Thanh, Đại Học Luật Khoa, Văn Khoa, Trung Đội 3Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ3TSND) đi dọc xuống Vĩ Dạ…ba lô mũ sắt để lại trên xe, súng cầm tay, giây ba chạc,mũ đỏ tinh anh “hành quân dạo phố” với phương châm ghi nhớ nằm lòng “phải thanh lịch” (lời của đàn anh Mũ Đỏ Bác Sĩ Trần Văn Tính), phải tươi cười nhả nhặn vẩy tay, vẩy tay phe phẩy chào hỏi với mọi người trên đường phố như thân thương tà áo tím ngày thanh bình chưa có bóng giặc “răng hô mả” tấu từ núi rừng kéo về chặt đầu chôn sống trong những hố hào lấp cạn…! Tôi chợt nhận ra là mình như quen đã thuộc với Huế qua những tác phẩm văn chương tả về Huế và nỗi niềm của bạn thân kể chuyện tình của Anh khi đóng quân ở Huế trước kia rất vui, rất tình và cũng rất ngổ ngáo dễ thương, lính ồn ào trêu ghẹo sổ sàng không “thanh lịch” lại nữa dù ở đâu trên đất nước Việt Nam cũng là quen thuộc trú xứ biết bao tình vì là Quê Hương mà:
“Núi Ngự Bình không “chim” buồn xao xác…!
Đò Sông Hương vắng khách đĩ kêu trời”…!
Và hôm nay ngồi đây hồi tưởng lại mối tình ray rức với người “Em xứ Huế” chưa nguôi: “Dị ghê hỉ…” ! …và vẫn để yên bàn tay “En” lùa vào ngực với gò má ửng hồng im lặng đê mê…! Cái dịu dàng lãng mạn như tiết Xuân thoảng nhẹ qua cành chồi mai non buổi sớm, nhưng nồng nàn âm ỉ dễ bốc cháy bùng ngọn lửa trong lò nấu bánh tét,bánh nậm …giao thừa của nửa đêm về sáng…Huế đấy, “Huế của Tôi”, Huế với thành nội, hồ Tĩnh Tâm cổ kính với những tà áo tím buồn muôn thưở, buồn não thiên thu những ngày mưa tầm tả, mưa rã rít dai dẳng như không muốn tạnh mang theo hơi lạnh hoang vu của cây cỏ gẩy đổ làm tan tác Kim Long, làm thêm cho mười hai nhịp cầu Trường Tiền như muốn run rẩy và cô quạnh chi lạ …hay chính tâm hồn tôi đang nỗi cảm hàn vì chiều mưa qua phố Huế…Ôi …Cầu Trường Tiền dài mười hai nhịp, lỡ thương nhau rồi không biết duyên kịếp về mô…!
Cầu Trường Tiền dài mười hai nhịp…
Bến Vân Lâu vắng bóng người câu !
Nước Hương Giang trôi dạt nặng hồn sầu !
Đò Gia Hội tiếng đàn ca lặng vắng !
Trường Đồng Khánh đâu rồi tà áo trắng ?
Bạch Hổ Cầu cũng thiếu nắng tà huy,
Bài thơ Kim Long trong chiếc nón kiêu kỳ,
Chùa Thiên Mụ giục sáng trời cũng hết,
Gà Thọ Xương bặt tiếng gáy kêu sương,
Hồ Tịnh Tâm mang nặng cảnh đoạn trường !
Chùa Diệu Đế, mã Âm Hồn vắng lạnh,
Dốc Nam Giao, Chùa Từ Đàm hiu quạnh !
Biết bao giờ mới có sự đổi thay…?
Nắng mới lên sưởi ấm những hồn gầy,
Cho Dân Tộc chuyển vươn mình sống dậy.
(Phù Vân Am)
Tiếp tục trên đường “tiến quân” bắt gặp những quân nhân ăn mặc xốc xếch, chận lại xét hỏi giấy tờ, không giấy tờ, lịch sự mời lên xe và canh giữ tại chỗ để giao lại Quân Cảnh sau đó, cũng không quên mời họ một điếu Pallmall hay Lucky, một gói cà phê Instant từ Ration C...rất ư là “thanh lịch”…!!! Trung Đội 4Trinh Sát Nhẩy Dù (TĐ4TSND), Trung Đội Viễn Thám (TĐVT) và Bộ Chỉ Huy Đại Đội (BCHĐĐ) đặc trách chợ Đông Ba, Thành Nội, đường Trần Hưng Đạo từ cầu Bạch Hổ xuống tới cầu Đông Ba và những màn trình diễn thật ngoạn mục:
- Út Bạch Lan...207 ? Đây 207 (là ám hiệu của Đại Tá Trần Quốc Lịch). Tới đâu rồi ?
- Trình 207 mọi việc diễn tiến như đã hoạch định...Nghe có tiếng âm thoại khác là lạ trong máy...?
- Út Bạch Lan ... ? Đây Thái Xuân…(Thái Xuân là Thiếu Úy Thái Trung Đội Trưởng Trung Đội 2 Quân Cảnh 204 của Sư Đoàn Nhẩy Dù).
- Tôi nghe.
- Đích Thân đang ở đâu ?
- Đầu cầu Trường Tiền.
- Đích thân chờ Tôi, Tôi sẽ đến đó ngay.
Năm phút sau, chiếc xe Jeep mui trần QC204 của SĐND trờ tới, ném vội vả lên GMC của Trung Đội Viễn Thám hơn hai chục bộ quần áo bộ binh bẩn thỉu rách rưới, hơn chục đôi dép không chiếc nào giống chiếc nào, sáu toán viễn thám thay đồ “trang phục” chớp nhóang xong phóng vội xuống xe biến mất trong lòng đường phố… Thượng Sĩ Nhất Nguyễn Tá thường vụ Đại Đội, Anh nguyên là Võ Sư Võ Bình Định, mỗi lần mấy “ông thần” ba gai phạm kỷ luật trình diện Thượng Sĩ Tá thường vụ thì cũng thường có cái màn “khúc nôi” khóc lóc không thể nín cười:
Thượng Sĩ nhìn Em Thượng Sĩ cười
Em nhìn Thượng Sĩ lệ Em rơi…!
Vợ Em mới đẻ ngày hôm trước
Trể phép vì Em rước vợ dzìa "
Đến 12 giờ trưa trong khi tất cả đơn vị đang thi hành nhiệm vụ. Tôi vào nhà lồng chợ Đông Ba, tìm sạp cơm tôm chua thịt ba rọi luộc, rau sống với trái vã để ăn trưa và mang theo ba máy PRC25 k êu rè rè bên cạnh, một máy hàng dọc với các Trung Đội, một máy hàng ngang với Thiếu Úy Thái QC, một máy trực tiếp với Lữ Đoàn… Một cô bé mang rỗ rau và tô cơm trắng đặt lên bàn ngập ngừng hỏi :
- Các Ôn là Lính Nhẩy Dù hả ? ...Ừ ! Cô ta bổng la lên: “ Mệ ơi...Mệ ơi Lính Dù nì, Lính Dù ra “Huệ” rồi nì...!!!
Một c ảm xúc không thể diễn tả nổi lâng lâng dâng ngập trong hồn tôi khi nhìn cô bé mang đĩa thịt luộc trở ra bàn với gương mặt rạng rở vui mừng cười chúm chím và nói mời:
- Ăn đi mấy Anh, hết Em mang ra nữa...!!!
Tết Mậu Thân 1968, lần đầu Tôi ra Huế. Cố Đô được phủ cả một giãi khăn sô ngút ngàn nước mắt, thành quách phố phường đỗ nát với những đống gạch vụn điêu tàn vẫn còn vương mùi thuốc súng và “cái” âm khí rờn rợn cô hồn tang tóc u uất thê lương vướng vít oan khiên trong những cơn gió chợt thổi hơi se lạnh thoáng qua…! Ta hãy lắng nghe trong âm thanh im lặng quá vãng không còn hiện hữu trong thế gian nầy! Nhưng những dòng chữ huyết lệ của Cô Nguyễn Thị Thái Hoà là một điển hình nạn nhân xứ Huế viết trải phơi bày, tố cáo những kẻ giết người với căn tính ác độc thù hận đằng đằng sát khí của anh - em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Tôn Thất Dương Tiềm, Lê Văn Hảo trong cuộc tàn sát bè bạn sinh trưởng lớn lên cùng trong “non nước Thần Kinh” và “thương về Cố Đô” yêu dấu:
“Trên đoạn đường từ Văn Khoa ngang qua trường Thiên Hựu, cầu Kho Rèn, lên tới nhà nội chúng tôi thấy nhiều người bị trói dính chùm vào với nhau đi trước mấy người mặc đồ đen đi dép râu, mang súng.
Súng nổ tư bề mà sao không thấy bóng dáng lính mình ở đâu cả. Chỉ thấy lính bộ dội Bắc Việt khắp nơi.
Trên đường Hàm Nghi, Nguyễn Thị Đoan Trinh chạy ngang nhà nào mà y thị gật đầu là y như rằng trong nhà đó có người bị bắt đem ra, người thì bị bắn tại trước nhà, người thì bị dắt đi, mấy ông bà cụ trong nhà chạy theo nằm lăn ra đường khóc la thảm thiết… Bộ đội ngoài Bắc thì cứ chửi thề luôn miệng:”… đéo mẹ câm mồm, ông bắn bỏ mẹ bây giờ…”!
Chúng tôi đem Hải vào nhà, đặt anh trên divan. Ông nội lấy mền đắp lên xác Hải.
Hai người anh tôi đang trốn trên trần nhà đòi xuống nhìn mặt Hải. Ông nội không cho. Anh Lộc giở nắp trần nhà sát góc tường, thò đầu xuống vừa khóc vừa nói:” Ti, đẩy cái ghế đẩu qua cho anh…”. Tôi nghe lời ra đằng sau bếp lấy cái ghế đẩu mang lên để ngay góc phòng cho anh Lộc nhẩy xuống. Ông nội ngó lên, quơ quơ hai tay, giọng ông lạc đi:”… đừng xuống, ông nội lạy con, đừng xuống, ở trên đó đi mà…”! Anh Kính đang ở trên đó, cũng đang khóc. Lộc chưa kịp nhẩy xuống thì nghe tiếng nói, tiếng chân người ngoài sân. Anh vội vàng đóng miếng ván lại thì bọn Hoàng Phủ Ngọc Phan cũng vừa vào đến. Thấy Phan bước vô, mặt Văn biến sắc, anh lắp bắp nói với ông nội:” Anh Phan cho tụi con đem xác về đó ông ơi”! Ông nội đứng im không nói. Hai mắt cú vọ của nó ngó ông nội hỏi:”…thằng Lộc, thằng Kính ở mô”? Ông nội nói:” Tui không biết”! Phan gằn giọng:” Ông thiệt không biết tụi hắn ở mô ? Tụi hắn năm mô cũng về ăn tết ở đây mà ông không biết răng được”? Ông nội nói:” ba ngày tư ngày tết, ăn xong thì tụi hắn đi chơi, đi thăm bà con họ hàng chứ chẳng lẻ ở nhà hoài răng? Chừ thì tui biêt tụi hắn ở nhà mô mà chỉ…”!
Mắt Phan ngó láo liên khắp nơi, chợt thấy cái ghế đẩu ngay góc phòng, nó cười khan một tiếng.
Tôi đứng núp sau lưng ông nội, Hoàng Phủ Ngọc Phan hung hăng bước tới, xô ông nội qua một bên, nó nắm lấy tóc tôi kéo tôi ra về phía hắn. Ngó lên trần nhà la lớn:” Lộc, Kính, Hiệp, tụi mày không xuống tau bắn con Ti”!
Nó vừa nói, vừa xoáy mái tóc dài của tôi trong tay, nó đẩy tới, đẩy lui. Tôi đau điếng, tôi sợ, tôi run lẩy bẩy, nước mắt ứa ra nhưng không dám la thành tiếng. Ông nội tôi chấp tay lạy nó như tế sao:” Tui lạy anh tha cháu tui, con gái con lứa, hắn biết chi mô”! Thằng Phan càng la lớn:” tau biết tụi mi trên đó, có xuống không thì nói, tau bắn con Ti”. Phan xô tôi té xuống, lấy chân đạp lên lưng, chĩa mũi súng lên đầu tôi hô:” một, hai, ba…”. Lập tức anh Lộc mở nắp trần nhà thò đầu xuống la to:” đừng, đừng bắn em tau, tau xuống, để tau xuống…”!
Ông nội tôi chạy lại giữ cái ghế cho anh bước xuống, hai chân ông run, ông té sấp, đang lúc anh Lộc tìm cách tuột xuống,thò hai chân xuống trước, hai tay còn vịn trần nhà, khi đôi chân vừa chạm chiếc ghế đẩu thì Phan đã nỗ súng, đạn trúng ngay chính giữa cổ, máu phọt ra, anh Lộc dẫy dụa mấy cái rồi nằm im.
Mặc ông nội tôi la hét thất thanh, Phan chĩa súng bắn lên trần nhà, nghe tiếng anh Kính lăn tới đâu, nó bắn tới đó, bắn nát trần nhà, hết đạn nó dành lấy cây súng của một thằng khác bắn tiếp, cho tới khi anh Kính tôi rớt xuống theo mấy miếng ván. Anh Văn ngồi bệt xuống đất, nhắm mắt, bịt tai, run lẩy bẩy, ngồi kề bên cạnh anh người tôi tê cóng, đái ỉa ra cả quần, ông nội tôi nhào tới ôm anh Kính, hai mắt trợn trừng, anh đang thều thào những lời sau cùng, ông khóc, ông chửi rủa thằng Phan, nó say máu, bắn luôn ông nội tôi, Ông tôi đổ xuống bên cạnh anh Kính…!
Kính Thưa Quý Vị,
Đó là những cái chết oan khiên của những người ruột thịt thân yêu mà tôi phải chứng kiến tận mắt với muôn ngàn đau dớn. Trong bà con thân tộc nội-ngoại hai bên của tôi có rất nhiều người bị bắt đi ở nhà thờ Phủ Cam, một số bị bắt ở nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế. Số người bị chôn sống, mất tích lên tới 70 người. Tất cả đều là học sinh, sinh viên, thường dân, nông dân, buôn bán ở chợ An Cựu.(ngưng trích)
Sau Tết Mậu Thân, những hầm mộ chôn vùi nạn nhân xứ Huế bị quân Việt Cộng chôn sống đã được thân nhân đào bới truy tìm, tổng kết đã có hơn 5747 bộ hài cốt được cải táng… và mãi cho đến ngày nay và mai sau nữa cứ mỗi lần Đông qua Xuân đến người người vui Xuân đón Tết thì ở Huế nhà nhà cũng cúng giỗ người thân yêu đã bị Việt Cộng giết trong Tết Mậu Thân 1968…! Đây là chiến thắng “đáng” được Việt Cộng tự hào, cổ võ và mồm loa mép giãi rêu rao là thành quả giải phóng miền Nam ư…?! Bây giờ là mùa Hè 1972, Tôi trở lại Huế lần này, sau bốn năm, dù rằng Huế đã một phần nào phục hồi sinh lực, vết hằn đớn đau Tết Mậu Thân có đôi chút nguôi ngoai…Nhưng hôm nay nỗi phập phòng lo sợ khi hằng vạn vạn dân quân từ Quảng Trị chạy về tá túc tị nạn làm thành phố thêm hỗn loạn vô trật tự dễ thường tan vỡ thật không lường…! Nên ĐĐ2TSND được chọn để “thế Thiên hành Đạo” khử loạn - an dân theo kế sách “chiến tranh chính trị” của Thượng Cấp đề xướng ban “khẩu thị” và mấy “ông Thiên Lôi” thi hành rất hữu sự…!!!.
Bịch...bịch...bịch...Tôi liếc ra ngoài thấy Thượng Sĩ Tá đang biểu diễn Võ Bình Định, đá song phi, đấm vào ngực, pha thêm chút Judo vật ngã mấy tên mặc quần áo xốc xếch, không mũ, không giày, đang lang thang định phá rối trong chợ… đám lính Nhẩy Dù lao tới nắm cổ áo lôi sềnh xệch quẳng lên hai chiếc GMC đang đậu trước cửa chợ Đông Ba. Ở phía bờ sông Hương, Trung úy Thông TĐT/VT với mũ đỏ đang xét giấy tờ hai tên tóc dài mặt nghênh nghênh ngổ ngáo:
- ĐM… mấy ông làm gì xét giấy tờ của tôi ?
Bịch...bịch...bịch… hai tên ngã lộn nhào xuống đất, lại ăn thêm một báng súng vào bụng, một “yên hùng” Nhẩy D ù rút dây nịt trói tay bẻ ngoặc phía sau đẩy lên xe. Ở nơi kh ác một tên mặc quân phục rách rưới, nhưng mang đôi giày Sault của Nhẩy Dù bước vào quán ăn mắm tôm chua của Bà Bảy Xíu :
- Đói quá có cái gì cho Tôi ăn không ? Cô bé trả lời:
- Dạ...dạ chỉ có cơm với mắm tôm chua thôi ạ !..
- Được mang ra đây!
Hắn ngốn tọng vào mồm như kẻ chết đói lâu ngày rồi xô ghế nghênh ngang bước ra khỏi quán không trả tiền, không một lời nói…! Thì bổng nghe bịch...bịch...bịch...Trung sĩ Minh đang giữ máy truyền tin của Tôi với cái máy PRC25 trên vai, trở báng súng M18 giọng vào bụng tên lính ăn quịt, nghe tiếng “hự” hắn ôm bụng lăn lộn trên mặt đất sau đó bị đẩy lên xe. Trung úy Mỹ đang ở khu Quốc Học Đồng Khánh gọi:
- Đích Thân , Tôi cần vài ba thằng đào ngũ.
- Chờ.
Chiếc xe jeep chở bốn tên đã bị bắt phóng trở qua cầu Tràng Tiền, thả xuống trước dinh Tỉnh Trưởng Thừa Thiên” thi hành nhiệm vụ”. Chờ cho đến 4 giờ tan học, nam sinh Quốc Học, nữ sinh Đồng Khánh túa ra đường như bầy ong vỡ tổ, “bốn tên lính đào ngũ” bắt đầu nham nhở chọc ghẹo, một màn biểu diễn “Anh Hùng Nhẩy Dù cứu Mỹ Nhân” thi thố Taekwondo tung Dapchagi vào ngực đối phương phường “Bùi Kiệm” phải gió “ép Liễu ghẹo Hoa” không “thanh lịch” giữa chốn “học đường” phồn hoa còn nếp “Văn Miếu” ơn Thầy “Quốc Tử Giám” lục sáu, tam ba, gia nhà, quốc nước…!!! Bịch…bịch…bịch…hự…hự…hự “bọn du đảng” bốn tên lính đào ngũ nham nhở bốc hốt sờ mông, bóp vú nữ sinh đã bị trừng trị hạ đo đất ngoạn mục và bị xúc lên xe Quân Cảnh chở đi …”hoạt cảnh” giữa Lính Dù và bốn tên đào ngũ diễn ra trước hằng trăm cặp mắt tò mò thích thú thán phục của đám học trò nam thanh, nữ tú nghịch ngợm kháo nhau như họp chợ...!!! Từ thành Nội, TĐ4TSND cũng báo cáo tình hình “chiến sự” tương tự…!!! Tôi gọi TĐ2TSND và TĐ3TSND di chuyển ngược về cầu Tràng Tiền, cùng TĐ1TSND hòa nhập vào dòng áo dài nữ sinh Đồng Khánh các “tiểu thơ” nhởn nha qua cầu, yểu điệu thục nữ biến vào phố chợ săn lùng hàng quán bởi thói quen ăn quà vặt, bên ni hàng chè hạt sen long nhãn, bên nớ cơm hến, bún bò, bên tê bánh xèo, bánh khọt…mỹ nhân lượn qua hàng quán, “anh hùng” theo bén gót chực chờ cơ hội “kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” và lẫm bẩm chữi thề :” Mẹ …mấy cái thằng trời đánh sao không mần đại cho rồi…” và vẫn với nụ cười cùng cái gật đầu chào hỏi “thanh lịch” ông đi qua bà đi lại cám ơn, cám ơn và không có chi…rất ư là Nhẩy Dù “thanh lịch”…!!!
- Út Bạch Lan...đây Thái Xuân (Quân Cảnh204ND) đang phối hợp với Quân Cảnh Tiểu Khu Thừa Thiên)
-Tôi nghe đây.
- Đã quá đích thân, Tôi không ngờ Trinh Sát Dù “đóng phim” tuyệt cú mèo !
Đến 6:00 giờ chiều tập trung tất cả trở lại tư thế và vị trí cũ, phân loại: đào ngũ thứ thiệt giao cho Quân Cảnh Tiểu Khu Thừa Thiên, đào ngũ giả kín đáo thay lại quân phục Nhẩy Dù, tiếng cười nói vang vang trên GMC:
- “Lính mình uýnh lính ta, bị bắt rồi thả ra, thả ra đi uýnh tiếp, uýnh tiếp rồi bị bắt, bị bắt rồi thả ra...quá đã...quá đã…”!!!
Lại thêm có tiếng cải vã than phiền như gây lộn:
- “ …con c… mày...mày đá đít tao đau thấy mẹ…tao đã lộn hai vòng rồi, mắc mớ gì mầy còn dọng thêm một báng súng vào bụng tao...”?
Cũng có thêm tiếng cười khoái trá:
- “ Mẹ... không có cái gì đã cho bằng hồi nãy tao đm ông Thông, Ổng chỉ có đá đít tao mà còn tức cười nữa...”!!!
Tôi lại nghe tiếng quát của Trung Úy Thông Trung Đội Trưởng Viễn Thám:
- “ Im đi...đây nè mấy chục cái địa chỉ và tên họ của mấy cô học sinh Trung Học Thành Nội, chia nhau ngày mai viết thư cho họ, nhớ đừng viết tục tỉu nha mấy ông cố nội…”!
Đêm đó, đêm 15-5-1972 chúng tôi tạm đóng quân ở cầu An Hòa, đường ra Quảng Trị. Không ngũ được, tôi bước xuống võng, xỏ chân vào giày Sault, mang giây ba chạc, rút cái đèn pin bằng cây bút cấm trong túi với cái mũ sắt chụp lên đầu. Sơn Nhung, Hạ Sĩ Nhất người Miên bên cạnh Tôi như hình với bóng lòm còm bò dậy, mò trong Balô tìm C4, bật diêm quẹt, chỉ hai phút sau tôi có ly cà phê nóng hổi trên tay. Trong những giây phút này, tôi không có một thoáng suy nghĩ nào về cha mẹ vợ con gia đình mà tôi chỉ nghĩ đến những người Lính Trinh Sát Nhẩy Dù thân thương như thể tay chân của chính mình, họ đã ở bên cạnh cuộc đời và đồng chia cộng gian khổ hiểm nguy 24 giờ ngày đêm đối diện với thần chết không biết đâu mà lường, nào ai biết ngày mai sẽ ra sao trên đường chiến chinh máu lửa…?! Chiều nay họ còn đùa với nhau: “ lính mình uýnh lính ta, tao uýnh hộc máu mầy, cho mày tởn tới già, đừng la cà phá phách ở đây nữa… “, rồi ngày mai, ngày mốt, hay những ngày sau nữa, họ cùng tôi lao vào lửa đạn với địch thù thứ thiệt, sống chết chỉ cách nhau như sợi tóc có vài giây đồng hồ. Tôi với Sơn Nhung đi một vòng qua các lều poncho dã chiến, trở về chỗ của mình thì trời vừa gần sáng. Dân chúng ở khu vực chung quanh đã thức dậy, các bếp lò cũng nhóm lửa. Tôi vẫn ngồi đó với ly cà phê đã nguội chờ trời sáng hẳn. Thiếu Úy Hiền Toán Trưởng Viễn Thám, vừa đi vừa cài nút áo đến gặp tôi và nói :
- Đại Úy có mấy người dân muốn gặp ...!!!
Tôi đi ra niềm nở đón tiếp người dân xứ Huế thăm đơn vị Nhẩy Dù. “Phái đoàn” gồm có: một người đàn ông trung niên và hai cụ bà với gánh gồng trên vai thân thiện:
- Thưa Đại Úy,...dân ở đây gọi tui là Bảy Sói, trước đây tui là Cảnh Sát, Tết Mậu Thân gia đình tui bị VC giết rụi, tui thoát chết được vì lúc đó tui không có ở nhà...đây là gánh xôi, đây là gánh bánh bột lọc với nồi chè Vĩ Dạ của bà con nấu đêm qua khi nghe nói Nhẩy Dù ra Huế...xin Đại Úy nhận cho Anh Em ăn lấy thảo…tuy chỉ là thức ăn đơn sơ gia bản…Nhưng là tấm lòng của dân Huế thương mến Lính Nhẩy Dù đã xã thân chiến đấu bảo vệ Huế trong những ngày dầu sôi lửa bỏng...! Có thêm tiếng phụ nữ phụ hoạ: “ …răng mà thương như núm ruột, dân “Huệ” tui thương Lính Nhẩy Dù “đực” ruột…”En” ăn bánh, ăn chè đậu “vạn” hỉ…ngọt thanh nớ…”!
Tôi quá xúc động và bổng dung “tịt ngòi” bèn ú ớ không thưa thốt được một lời “huê mỹ” chữ nghĩa ba hoa thường ngày “phú lĩnh” mất tiêu …để đáp lễ cám ơn tấm thịnh tình cho ra vẻ lễ nghĩa cung cách hoặc thể hiện tình Quân – Dân, “hậu phương và tuyền tuyến” bèn phổng đá vả lã âm thanh nghẹn trong cổ họng, nhưng run run tay bắt mặt mừng rất ư là cảm động…thật là “cảm động”…!!! Thuở nhỏ mài quần “xà lỏn” trên ghế trường làng cũng có đọc qua sách vở và tiểu thuyết về lịch sử sự hình thành Cố Đô Huế của Vua Gia Long và những chuyện tình lãng mạn ở đất Thần Kinh, cũng tìm hiểu chút…chút ít phong tục tập quán Hoàng Triều nhà Nguyễn cùng những nét đặc thù của dân Huế: Phụ nữ Huế dù buôn gánh bán bưng nhưng lúc nào cũng mặc áo dài giữ phong cách, cô gái Huế dù con nhà nghèo hay phú quý cũng vẫn một vành nón Huệ nghiêng nghiêng với tà áo tím và dăm bài thơ trữ tình lãng mạn, “Huệ” thơ mộng qua mái tóc đen tuyền bay bay sợi tóc mai qua cầu huyền ảo với dòng sông Hương uốn khúc biết đâu là mái tóc, đâu là sông Hương, “Huệ” ướt át hữu tình và u uẩn như đáy mắt sâu thăm thẳm cả một trời chiều mưa buồn rười rượi mà ánh điện đường vàng leo lét không soi thấu nỗi lòng thổn thức của bài thơ Ngõ Ý: Tôi nuốn nói yêu người, ngày mai qua Thành Nội…ngày mai qua Thành Nội…và đặc biệt nhìn từ phía sau mông cô gái Huế tròn lẳng không trĩu trệ rất ư là chiêu tình quân tử “nhất dạ lục giao nam tắc tử”…!!! “Huệ” với những lễ nghi triều chính khuôn mẫu với Ông Hoàng, Bà Chúa và “Họ” của dòng Tôn Thất dài lê thê năm chữ, sáu, bẩy từ …xướng danh nghe lạ tai và thích thú …!!! “Huệ” cũng vẫn là “quê hương tôi nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo mùa hè thiếu ăn và tiếng hò Mái Đẩy tâm sự của Cụ Thúc Địch nghe buồn não nuột từ đầu nguồn con sông kéo dài lê thê như không muốn rơi rớt ở cuối sông khiến chạnh lòng “nược non”…! Tuy nghèo ăn thiếu mặc nhưng dân “Huệ” không thiếu tình người và phú quí ân nghĩa…! Tôi ân cần:
- Cụ cho cháu xin nắm xôi ! Xôi còn nóng bốc khói thơm phức hương nếp một, buổi sáng lạnh mù sương mà có nắm xôi của cụ lúc này chẳng thua gì buổi “ngự thiện” của Vua Minh Mạng trong Nội Cung…! Tôi nói thật chí tình mà nghe sao cứ như “hài” kịch…quả thật vụng về không phải lúc !
Qua hình ảnh ân cần của Ông Bảy Sói và hai cụ bà, tôi chợt nghĩ đến hình ảnh đau thương của dân Huế …! Đâu phải chỉ với Tết Mậu Thân 1968, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 hiện tại…mà tự xa xưa người dân xứ Huế đã phải nhận chịu rất nhiều tai ương oan khiên như thời:
" Nhất giang lưỡng quốc bất khả Thuyết,
Tứ nguyệt tam Vương bất khả Tường..."
Hay Vua Duy Tân hỏi Trần Cao Vân:
  • Tay dơ lấy nước rửa, Nước dơ lấy gì để rửa ?
Và quả thật là khí thiêng sông núi thiên niên vận hành khuôn đúc hình hài dòng giống Việt tinh anh nên Khẩu Khí của một Vị Vua tuổi đời còn thơ dại mà đã Chính Khí Hạo Nhiên bàng bạc khắp đất trời đã trẩm triệu phán:
  • Nước dơ lấy máu rửa.
Tôi bảo Thượng Sĩ Tá gọi các Trung Đội lên nhận xôi chè và bánh bột lọc phân phối cho đều đơn vị.
Trên đường vào Quảng Trị cuối tháng 5-1972, Lữ Đoàn II Nhẩy Dù (LĐIIND) gồm có Tiểu Đoàn 5 Nhẩy Dù (TĐ5ND), Tiểu Đoàn 7 Nhẩy Dù (TĐ7ND), Tiểu Đoàn 11Nhẩy Dù (TĐ11ND), Tiểu Đoàn1Pháo Binh (TĐ1PB) và Trinh Sát 2Nhẩy Dù (TS2ND) là mũi dùi chính vượt sông Mỹ Chánh theo trục từ Nam lên Bắc tiến vào Quảng Trị, trong khi Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến đã dạt về phía Đông tiến lên Cửa Việt. TS2ND của tôi được một chi đoàn chiến xa của Thiết Đoàn 17 Kỵ Binh cỏng theo đuôi TĐ7ND trên quốc lộ I tiến vào ngã ba Long Hưng, khi còn cách ngã ba Long Hưng chừng vài cây số thì có lệnh của Đại Tá Trần Quốc Lịch LĐT/LĐIIND dừng lại xuống xe và chờ lệnh.
Tôi không nhớ ai là tác giả đặt cái tên sau này là: "Đại Lộ Kinh Hoàng"?Vì chỉ một đoạn đường ngắn ngũi không đầy một cây số mà tôi cùng TS2ND đang đứng đây, dọc theo trên đường có hằng trăm hay hằng ngàn, nhiều ngàn xác người dân chết đã thối rữa, tuy mùi hôi thối không còn nặc nồng nhưng vẫn còn quyện mùi tử khí tanh tưỡi rờn rợn trong không khí vướng vít không siêu thoát…! Nơi nầy là thi thể của người đàn bà trẻ bụng to như đang có thai nằm nghiêng với xác đứa con một hay hai tuổi trong tay buông thỏng, kế bên là xác bà cụ già trên lưng còn gùi đứa cháu gái thơ ấu, những xác người phủ lên mặt đường chung quanh là các cụ ông râu tóc bạc phơ với áo quần rách rưới tơi tả, xác người chết với xác người chết đầy trên “Đại Lộ Kinh Hoàng”…! Tôi lặng người nhìn “quang cảnh” địa ngục có thật ở trần gian là tác phẩm của bầy quỉ đỏ hiện thân người đã gieo rắc tai ương kinh hoàng cho người dân nghèo hiền hoà Quảng Trị ! Nơi kia lác đác mươi xác lính Địa Phương Quân đã chết tay vẫn còn ôm khẩu XM16, năm ba chiếc xe đò cộc cạch lật nghiêng ngữa, mươi chiếc xe bò, xe ngựa chỏng gọng, ngựa thì còn xác, bò thì không, bao bị túi xách đồ đạt lỉnh kỉnh còn cột chặt vào thành xe...không biết họ đã chết bao lâu, nhưng mắt vẫn mở trừng trừng oan uổng vì có ai đâu cạnh kề mà vuốt mắt cho nhau, tất cả đã chết hết…chỉ có trời xanh, mây trắng là rõ mặt con người oan nghiệt tận số và loài côn trùng hoang gậm nhấm hình hài, không một nén hương, không lời cầu kinh đưa linh hồn về nơi …không biết về đâu…? Tôi ra lệnh ngay tức khắc, tất cả quân nhân các cấp quan cũng như như lính đồng bộ bỏ ba lô xuống, tay xẻng cá nhân đào huyệt mộ chôn tất cả xác chết này tại chổ với lời khấn vái hồn thiêng siêu thoát và phù hộ anh em chúng tôi được bình an sau chiến trận sẽ rất khốc liệt nay mai vào Cổ Thành Quảng Trị...chỉ hai tiếng đồng hồ trong khi chờ lệnh Lữ Đoàn thì TS2ND đã hoàn thành được một nghĩa địa không tên tuổi, không bia mộ, không nhang đèn hương khói tiễn linh, chỉ với xót xa cho những oan hồn uổng tử và sao “nghe” cay cay ở khoé mắt mà muối xót trong lòng như tiễn biệt người thân thương:
Những bằng hữu lên đường tôi ở lại
Tôi xin chấp tay yên lặng cúi đầu…
Không nói được dẫu một lời vụng dại
Trong hồn tôi sương phủ mấy nhịp cầu !
(TGĐ…không nhớ rõ lắm!) .
Thiếu Úy Mai một tay với cái xẻng, tay khác đang gạt những giọt mồ hôi trên trán cười cười hỏi tôi:
- Hôm nay mình chôn họ, ngày mai ai chôn mình ?
- Đừng nói "gỡ" ông cố nội...!
Tôi ngồi tựa lưng vào lề đường, Sơn Nhung lại pha cho tôi một ly càphê, tôi móc điếu thuốc lá ba con mèo châm lửa thâm tâm lý luận cùn: “ Tao là Tao, Mày là Địch, Mày là Mày, Tao là Địch...trên trận mạc Tao không bắn Mày thì Mày cũng bắn Tao như một qui luật bất biến của chiến tranh, nhưng cớ sao chúng mày có thể xã súng vào số đông người dân nghèo hiền hoà vô tội đang trốn chạy tử thần một cách dã man như loài dã thú như thế này…?!
Nhìn những nắm mộ vừa mới lấp mắt tôi đã nhạt nhoà bóng mây mờ ảo lung linh, bất thần bàn tay tôi nắm chặt bá súng với tiếng vọng câm thù âm thầm từ đâu đó:
Ôi…Quảng Trị điêu linh đất nghiệt hình !
Thôn xóm rên xiết, xác người trong biển lửa…!
Nầy Chị, nầy Em, Cha Mẹ, Ông Bà…