We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 24 February 2013

Chủ Đề Người Lính VNCH : LONG HỒ Tái chiếm Toà Hành Chánh tỉnh Quảng Trị

Thiếu Tá Lê Quang Liễn viết về Tái chiếm Toà Hành Chánh tỉnh Quảng Trị 
 Lê Quang Liễn   
vn lequanglien
LONG HỒ là biệt danh của cựu Thiếu tá TQLC Lê quang Liễn.
Sau khi mản khóa học Bộ binh Cao cấp cuối năm 1971, tôi về BTL/SĐ nhận Sự vụ lịnh và trình diện TĐ2/TQLC. Tr/tá Tiểu đoàn trưởng Nguyễn xuân Phúc chỉ định tôi làm Đại đội trưởng Đại đội 4. Tiểu đoàn phó lúc đó là Th/tá Trần văn Hợp, khóa 19 Vỏ bị Đà lạt. Chúng tôi đã qua những ngày đông rét mướt, lạnh buốt trên những căn cứ Holcomb, Sarge, Bá Hô..Rồi được về Sài gòn nghĩ dưỡng quân. Chưa được bao nhiêu ngày thì chiến sự bùng nổ lớn tại vùng hỏa tuyến. CSBV đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Genève và xua quân vượt qua vĩ tuyến 17 và vùng phi quân sự vào ngày 30/3/1972. Chúng xử dụng một lực luợng lớn gồm hai Sư đoàn 304, 308 và 4 trung đoàn biệt lập là 31, 246, 270 và 126 đặc công thuộc Mặt trận B5 cùng với sự yểm trợ của khoảng 200 chiến xa thuộc Trung đoàn 203 và 204 và ba Trung đoàn pháo 38, 68 và Trung đoàn 84 Hỏa tiển địa không. Chỉ trong vòng 4 ngày đầu 11 căn cứ hỏa lực của ta ở vùng giới tuyến đã bị uy hiếp nặng nề trong đó có căn cứ Mai lộc của Lữ đoàn 147 /TQLC. Hai Tiểu đoàn 4 và 8 cũng rời bỏ hai căn cứ Sarge và Bá Hô, Holcomb..Lữ đoàn 369/TQLC cùng với các Tiểu đoàn 2,5,9 cũng được không vận ra phi trường Phú bài và được tăng cường cho mặt trận phía tây tỉnh Quảng trị. Tiểu đoàn 2 tiến về căn cứ xa nhất có tên là Động Ông Đô (Barbara). Những trận đánh quyết liệt xảy ra tại đây. Đại đội 4 đã tỏ ra vững vàng, tự tin với những trách nhiệm mà Tiểu đoàn đã giao. Nhưng cuối cùng trong thế trận chung: thị xã Quảng trị rơi vào tay giặc. Những cảnh tàn sát đồng bào trên ĐẠI LỘ KINH HOÀNG từ cầu Bến Đá đến chi khu Mai lĩnh thật là đau lòng và Lữ đoàn 369 với sự cương quyết của Đ/tá Lữ đoàn trưởng Phạm văn Chung BẢO VỆ PHÒNG TUYẾN MỸ CHÁNH, không cho giặc tràn về phía Nam. Ba Tiểu đoàn 2+5+9 dàn trãi thành một tuyến khá rộng, về phía tây đến đồi Trần văn Lý và phía đông đến ấp Vân trình, một địa danh đã xảy ra những trận đánh sau này. Đại đội 4 được giao nhiệm vụ bảo vệ CẦU MỸ CHÁNH. Một vị trí rất quan trọng trên đường tiến quân của Cộng quân lúc bấy giờ.
Sư đoàn TQLC đã giữ vũng được phòng tuyến Mỹ Chánh và cuộc chiến không ngừng lại ở đây. Có một sự thay đổi nhân sự của Tiểu đoàn. Tr/tá Nguyễn xuân Phúc bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 cho Th/tá Tiểu đoàn phó Trần văn Hợp, Anh về làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 /TQLC do Đ/tá Nguyễn năng Bảo chỉ huy. Đ/U Phạm văn Tiền làm Tiểu đoàn phó và bàn giao Đại đội 5 cho Tr/U Huỳnh văn Trọn vừa đi học Basic Marine ở Mỹ về.

Ngày 28/6/1972, hai lực lượng Tổng trừ bị là Nhảy Dù và TQLC bắt đầu vượt sông Mỹ chánh và tiến chiếm Quảng trị.
Ngày 11/7/1972: một cuộc đổ quân vào lòng địch của TĐ1/TQLC vào quận Triệu phong nhằm cắt đứt con đường tiếp vận quan trọng của địch là Hương lộ 560. Tiểu đoàn 6 và Tiểu đoàn 2 là những đơn vị tiếp ứng quan trọng cho cuộc hành quân này. Riêng Tiểu đoàn 2 xuất phát từ Hương lộ 555 tiến về phía tây, qua các vùng Ngô xá đông, Ngô xá tây, Thâm triều, Bích la hậu, tiến đến bờ đông của dòng sông Vĩnh định để Công binh TQLC bắt chiếc cầu dã chiến cho Thiết đoàn 20 mang M48 sang để đối đầu với tăng của địchtại vùng Chợ Sãi, Triệu Phong. Lộ trình di chuyển không dễ dàng vì bộ binh và Thiết giáp địch đã phục sẳn tại đây. Nếu không phải những con Trâu điên và những con Voi điên Thiết giáp chấp nhận cuộc chiến thì khó lòng mà thắng được. Những anh chàng Quái điểu đã sang bên kia bờ sông Dịch cũng cùng chung số phận của Kinh Kha mà thôi.
TĐ2 tiếp tục gánh vác trách nhiệm của TĐ1 trao lại. Đại đội 4 lại nhận vị trí đóng quân của ĐĐ4/TĐ1 của Đ/U Trịnh văn Thềm.Từ vị trí này ĐĐ4 có nhiệm vụ đánh chiếm cây cầu sắt bắc qua sông Vĩng định trên Hương lộ 560. Và từ đây đánh dọc lên phía bắc chiếm chợ Sãi. Đó chính là những con đường huyết mạch dẫn vài thị xã Quãng trị.

TĐ2/TQLC sau 15 ngày đêm đánh chiếm và trấn giữ chợ Sãi thuộc quận Triệu Phong, khu vực được coi là yết hầu của địch, chúng tôi đã thực sự ngăn chặn được một trong ba cửa ngõ xâm nhập, tiếp viện, tải thương của địch từ Đông Hà, Cửa Việt cho thị xã Quảng Trị.

Hai đại đội ĐĐ4 (Đại úy Lê quang Liễn, ĐĐT) và ĐĐ5 (Trung úy Huỳnh văn Trọn, ĐĐT) được cánh B TĐ2 TQLC (Đại Úy Tiểu đoàn phó Phạm văn Tiền) chỉ huy đã thành công trong nhiệm vụ làm thất bại âm mưu tái chiếm Chợ Sãi của Trung đoàn 101 CSBV mặc dù chúng đã xử dụng đến 3 tiểu đoàn Bộ Binh có pháo yểm trợ, dùng chiến thuật xa luân chiến để cố đẩy lui hai đại đội Thủy Quân Lục Chiến này ra khỏi Hương lộ 560.

Chúng tôi đã hoàn thành nhiệm vụ giao phó nhưng với cái giá phải trả chỉ riêng ĐĐ4 có 23 quân nhân tử thương trong đó có 2 Trung đội trưởng là Chuẩn úy Dương và Chuẩn úy Hội và hơn 62 quân nhân bị thương.

Về phía địch, tổn thất nhân mạng rất nặng nề, do dân chúng sau này cho biết CSBV đã tải thương rất nhiều về tuyến sau. Vì cường độ hỏa lực rất ác liệt và hai bên giao chiến rất gần nên Đại đội 4 đã xử dụng tù binh địch để thu gom chiến lợi phẩm hầu tránh thương vong cho quân ta. Sau này, tin tình báo kỹ thuật cho biết tên trung đoàn trưởng 101 bị mất chức vì thua trận dù y đã xin thêm một ngày nữa để tấn công.

Sau khi hoàn tất nhiệm vụ tái chiến Chợ Sãi, TĐ2 /TQLC đã bàn giao lại cho TĐ1/ TQLC và về tuyến sau để dưỡng quân, bổ sung và có nhiệm vụ bảo vệ Bộ Tư Lệnh SĐ/TQLC/HQ tại Quận Hương Điền. Rời vùng hành quân đầy máu lửa, bao nhiêu ngày đêm chiến đấu cam go, anh em chúng tôi từ sỉ quan đến binh sỉ chỉ thèm một giấc ngủ an bình dù ngắn ngủi, được tắm rửa để giũ bớt cát bụi.. và ít giây phút riêng tư để nghĩ về gia đình sau hơn 15 ngày đêm thức trắng để chiến đấu với địch.

Đầu tháng 9 năm 1972, trong một buổi họp tại Bộ Tư Lệnh với TĐT/TĐ2TQLC và tất cả các sĩ quan Đại đội trưởng, Thiếu tướng Tư lệnh Bùi thế Lân có chỉ thị: “Sư đoàn hiện có trong tay một khối hỏa lực yểm trợ hùng hậu do Quân lực và đồng minh Hoa Kỳ cung ứng. Vừa rồi Tướng Tư Lệnh Không lực Hoa Kỳ vùng Thái Bình Dương có viếng thăm Bộ Tư Lệnh và hứa sẽ ưu tiên và tăng cường các phi vụ B52 cho Sư Đoàn TQLC. Vì vậy tôi ra lệnh cho quân nhân các cấp: phải tái chiếm thị xã Quảng Trị và Cổ thành trong vòng 2 tuần lễ tới, vì đây là một mục tiêu có tầm mức quan trọng cả về quân sự lẫn chính trị và TĐ2/ TQLC sẽ là một trong những đơn vị được vinh dự thi hành lệnh trên.”

Chúng tôi rất hãnh diện được trở lại tuyến đầu cùng các tiểu đoàn 3, 6, 8 trong trận thư hùng chung cuộc nầy với Cộng Sản Bắc Việt tại thị xã Quảng Trị. Từ thâm tâm các Mũ xanh Thủy Quân Lục Chiến, chúng tôi hãnh diện với màu cờ sắc áo và luôn luôn tự hào là một trong những đơn vị ưu tú nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, do đó chúng tôi hăng say nhận lãnh trách nhiệm tham dự những trận đánh quan trọng để giải quyết chiến trường; hơn nữa chúng tôi, TĐ2/TQLC là đơn vị tiêu biểu và được sự tin cậy của Sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Vào giai đoạn sau cùng trong kế hoạch tái chiếm Thị xã Quảng trị và Cổ Thành Đinh công Tráng, 2 Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến được giao phó nhiệm vụ như sau:

_Lữ đoàn 147 TQLC với 2 nỗ lực chính: TĐ 3 và TĐ 7 đánh từ hướng Đông Bắc.

_ Lữ đoàn 258 với 2 nỗ lực chính: TĐ 2 và TĐ 6 đánh từ hướng Tây Nam.

Bộ chỉ huy TĐ 2 TQLC đóng tại ngã ba Long Hưng, góc đường Lê Huấn và Quốc lộ 1.

* ĐĐ4/TĐ2 TQLC tiến dọc theo đường Hồ đắc Hanh để tiến chiếm trường nữ trung học Teresa Phước Môn và từ đó tiến dọc theo bờ Cổ Thành hướng Tây Nam để tái chiếm Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Tri.. Đây là mục tiêu then chốt để TĐ 6làm đầu cầu tiến vào Cổ thành.

*Đại Đội 5 Tiểu đoàn 2 TQLC bên trái ĐĐ4/TĐ2 TQLC.

Tiểu Đoàn 6 TQLC bên phải ĐĐ4/TĐ2 TQLC.
Rạng sáng 14/9/1972: địch dọn “điểm tâm” cho Đại đội 4 và Đại đội 5 bằng một trận pháo 130 ly ác liệt. Ban chỉ huy Đại đội 4 đóng quân ở một căn nhà gạch đổ nát mà trước đây là quán cà phê Sanh trên đường Hồ đắc Hanh, bị trúng một quả 130 ly, nhưng may mắn là tôi và 2 hiệu thính viên HS Hoàng và HS Chính chỉ bị ngộp thở và xây xát nhẹ vì nhờ hầm tránh pháo có sẵn trong nhà, nhưng Đại đội có 2 quân nhân cần tải thương.
Mục tiêu đầu tiên của Đại đội là trường Phước Môn, cách khoảng 300 mét. Trung đội 43 của Chuẩn úy Thu bị địch bắn chặn rất ác liệt vì địch đã “ngửi thấy” quyết chí tấn công tái chiếm Tòa Hành Chánh của Thủy Quân Lục Chiến, nên bằng mọi giá chúng phải ngăn cản cuộc tiến quân của ta. Để phản kích địch, tôi phải dùng hỏa lực pháo bắn tiếp cận của từng khẩu 105 ly với đầu nổ chậm, điều chỉnh “trái-phải-xa-gần” từng 10 mét một; đây là lối bắn rất quen thuộc của các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến năm 1972, để đối phó với các chốt địch và các hầm chữ A. Cuối cùng, tôi dùng đại bác 90 ly của chiến xa M48 bắn trực xạ để hạ nốt một chốt địch còn sót lại trong trường Phước Môn.

Đến 14 giờ 30 chúng tôi hoàn toàn làm chủ mục tiêu là Trường Trung học Teresa và qua khai thác tù binh ta biết địch thuộc Sư Đoàn 320 B vừa vượt sông Thạch Hãn đêm qua, lúc 3 giờ sáng, ở khu vực tòa hành chánh. Phương tiện vượt sông là dây thừng căng từ Tòa hành chánh với phía bờ sông đối diện. Một tù binh quê quán ở Quỳnh Lưu, Nghệ An cho biết đơn vị vượt sông do tên thiếu úy Dũng chỉ huy và tên này đã tử thương. Chúng còn cho biết rất sợ lối đánh thần tốc, bám trụ và pháo của Thủy Quân Lục Chiến (qua nhật ký của một tù binh đã ghi “ghét những cây pháo chết tiệt của ngụy” hoặc “A trưởng (tiểu đội trưởng) gọi đi lãnh tiếp tế nhưng vờ không nghe vì ngại pháo”).

Tuy vậy các chốt bắn sẻ của địch ở các cao điểm hướng bờ sông Thạch Hãn vẫn hoạt động rất mãnh liệt vì chính cá nhân chúng tôi trong lúc phối hợp để đóng quân với Đ/U Nguyễn văn Loan (ĐĐT/TĐ6 TQLC, bạn cùng khóa 20 Đà lạt) và Tr/U Đại đội phó Nguyễn hửu Hào đã suýt mất mạng vì một cú bắn sẻ cách đầu chỉ non gang tay làm cho gạch, xi măng ở khung cửa sổ rơi tung tóe trước mặt.

Để chuẩn bị cho trận đánh kết thúc vào sáng mai: Mục tiêu 28 (Tòa Hành Chánh tỉnh Quảng Trị), tôi và ĐĐP Nguyễn Hữu Hào – có biệt danh là Ông già 72 vì tài xử dụng hỏa tiển cầm tay M72 rất tuyệt vời của Hào – bàn tính rất chi tiết những việc cần làm chiều và tối nay hầu hoàn thành nhiệm vụ và giảm thiểu thương vong cho đơn vị vì chẳng cấp chỉ huy trực tiếp nào không đau lòng, xót xa khi đơn vị có thương vong.

Địa hình thị xã Quảng Trị lúc đó khá bằng phẳng vì các cao ốc, khu phố, các trụ điện hầu như bị san bằng và đường phố bụi phủ một lớp dày đến vài phân do những trận oanh kích và mưa pháo của ta lẫn địch. Tôi và đại đội phó Hào đã hoạch định như sau:

a. Nghi binh tấn công để phát giác sự bố trí quân và các ổ súng cộng đồng của địch hầu tìm cách thanh toán.

b. Đêm nay tôi và tiền sát viên pháo binh Thiếu úy Tài sẽ tác xạ khu vực quanh Tòa hành chánh, dọc đường Trần hưng Đạo, bờ sông và giữa dòng Thạch Hãn để gây căng thẳng và ngăn chặn địch xâm nhập.

c. Xin cánh B/TĐ2 TQLC tác xạ vào các đường tiến sát của địch, vào bờ sông Thạch Hãn phía đối diện Tòa Hành Chánh. Bộ chỉ huy địch có lẽ đã dời về khu vực Tòa Hành Chánh và hầm rượu ngầm (do Pháp xây cất bên cạnh Tòa Hành Chánh) sau khi bị phi pháo nhồi nát khu Cổ Thành Đinh công Tráng.

d. Phối hợp với Đại đội 5 của Tr/U Huỳnh văn Trọn để đồng loạt tấn công vào 6 giờ 30 sáng 15/9/72 hầu lợi dụng được yếu tố bất ngờ và tầm quan sát của địch vì trời còn tối do ảnh hưởng của trận bão Flossie (?).

Suốt mùa hè 72, hai Đại đội 4 và Đại đội 5 của chúng tôi như cặp bài trùng đã từng phối hợp rất chặt chẽ và ăn ý trong nhiều trận đánh ác liệt.

e. Các Trung đội 41 và 43 chỉ trang bị vũ khí đạn dược cơ hữu và một ngày lương khô để được nhẹ nhàng, tận dụng tối đa tính cơ động ngõ hầu giảm thương vong do trang bị quá nặng nề. Ba lô cá nhân sẽ do trung đội 44 của Chuẩn úy Hiếu và Thường vụ Đại đội (Thượng sĩ Đào Chữ) coi sóc.

f. Đạn dược trừ bị được tải lên gần vị trí xa nhất của đại đội ngay trong đêm.

Ngày 15/9/72: Quảng Trị đang mùa mưa bão, nước sông Thạch Hãn dâng cao, trần mây thấp, trời rất u ám. Suốt bao ngày qua, nơi đây đã xảy ra bao nhiêu đau thương tang tóc, máu đổ thịt rơi, do tập đoàn Cộng Sản khát máu đến “giải phóng miền Nam”.

Khu vực Cổ Thành đã được Tiểu đoàn 3 và Tiểu đoàn 6 khống chế nên Đại đội 4 đỡ lo hỏa lực địch từ trên cao bắn xuống.

Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Trị là mục tiêu 28 trên phóng đồ hành quân của TĐ2/ TQLC. Hỏa lực yểm trợ cho cuộc tấn công, ngoài sự yểm trợ tận tình và vô cùng hiệu quả của các pháo thủ mũ xanh, Đại đội 4 còn được tăng cường 2 chiến xa M48 và 2 thiết vận xa M113 có trang bị súng phun lửa. Hai Trung đội 41 và 43 của Chuẩn úy Đức và Chuẩn úy Thu làm nỗ lực chính với lệnh hành quân rất rõ ràng:

Hiệu lệnh tấn công khi chiến xa M48 và thiết vận xa M113 chuyển xạ cao trên mục tiêu 92. Trung đội 41 bên trái, 43 bên phải phối hợp với 2 thiết vận xa 113 tấn công thật nhanh, tràn ngập vị trí địch bằng hỏa lực và điều động. Đại Đội Phó Hào chỉ huy cánh quân nầỵ

Tôi và Trung đội 42 của Chuẩn úy Huyện là thành phần tiếp ứng, sẵn sàng tấn công dứt điểm mục tiêu… Nếu tình thế xấu, Đại đội 4 hoặc sẽ bám trụ hoặc chỉ tấn công thăm dò phía trước.

Các Mũ xanh Đại đội 4 Trâu Điên được chuẩn bị kỹ lưỡng như được chấp cánh khi phối hợp tấn công với Thiết giáp M48 và Thiết vận xa M 113. Nhìn đồng đội sẵn sàng trong tư thế tác chiến với áo giáp, nón sắt và súng đạn đầy người, tự nhiên tôi thấy hãnh diện và tin tưởng vô cùng và một thoáng lo âu cho đoạn đường thử thách trước mặt: chỉ một đoạn đường ngắn nhưng một số anh em chúng tôi có thể đi không đến!!

Đại đội 4 và Đại đội 5 vừa rời tuyến xuất phát khoảng 20 thước thì địch bắt đầu chống trả bằng những tràng AK47 nghe rất chát chúa và B40 chống chiến xa. Thật may mắn, những loạt B40 đều bắn cao nên bị trợt mục tiêu, có lẽ địch mất bình tĩnh trước khí thế xung trận của Trâu Điên và M113. Tuy nhiên tôi thấy có 3 cọp biển bị thương và 2 quả B40 nổ gần trung đội 42 trừ bị của Đại đội 4. Các đại liên của M113 hạ thấp nòng súng xuống, bắn cày nát vùng đất trước mặt, những tràng M16, M79, đại liên M60 nghe dòn dã và tiếng hô xung phong nghe vang rền cả góc trời, cộng thêm những loạt súng cối 60 ly của Đại đội 4 bắn rất chính xác vào vị trí địch đã làm hỏa lực của chúng yếu hẳn đi.

Trong vùng ánh sáng tờ mờ của ngày 15/9/1972, bụi đất bay mịt mù trận địa. Đại đội 4 và M113 không để lỡ thời cơ, nhanh chóng tấn công và tràn ngập vị trí địch quanh các công sự bảo vệ Tòa hành chánh. Trên đường tăng cường cho trung đội 41, giao thêm 4 cọp biển bị thương cho y tá và thường vụ Đại đội để săn sóc và tải thương. Tuy vậy, vẫn còn một tổ do tên thiếu úy Lê viết Thắng – quê Quảng Bình, vừa mới cưới vợ được 20 hôm và mới xâm nhập, đã ngoan cố chống cự và bị tiểu đội do Hạ sĩ nhất Cao thanh toán, hạ 4 tên, thu tại chỗ 1 AK47, 1 K54, 1 đại liên 12 ly 7 và 1 B40. Hạ sĩ nhất Cao và Thiếu úy Hào sau nầy những chiến sỉ xuất sắc năm 1972, được tưởng thưởng “Biệt Công Bội Tinh” do chính Phó Tổng thống Trần văn Hương trao tặng và được công du Đài Loan. Hơn chục tên cộng sản Bắc Việt thuộc Sư đoàn 320B đã buông súng đầu hàng để tránh bị tiêu diệt. Do trở ngại trên trục tiến quân, nên hơn một giờ sau Đại đội 2 / TĐ8 /TQLC do Đ/U Bùi phúc Lộc chỉ huy, mới bắt tay được với chúng tôi để phòng thủ bên cánh phải (hướng Bắc), nhờ đơn vị bạn giúp sức nên chúng tôi yên tâm hơn để tập trung lục soát mục tiêu vừa tái chiếm.

Kết quả: sau khi làm chủ hoàn toàn khu vực Tòa Hành Chánh Tỉnh Quảng Trị, chúng tôi thu hồi được cả khuôn dấu của Tòa Hành Chánh lúc 8 giờ 30 sáng 15/9/72.

Riêng đại đội 4 đã tịch thu một số lớn chiến lợi phẩm và một kho tiếp liệu gồm:

* 412 súng cá nhân
* 102 súng cộng đồng
* 40 thùng lương khô doTrung Cộng sản xuất.
* 23 máy truyền tin của Trung Cộng
* 18 tù binh
* Nhiều hố chôn tập thể và xác quanh khu vực Tòa Hành Chánh và khu hầm ngầm bên trái Tòa Hành Chánh, khoảng 30 xác.

Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến phải dùng 6 đợt thiết vận xa M113 để chuyển tù binh và chiến lợi phẩm về Bộ Chỉ Huỵ

Qua các máy truyền tin tịch thu của CSBV, chúng tôi nghe chúng gọi nhau ơi ới một cách hoảng loạn, chứng tỏ chúng hoang mang cao độ; có một tên cứ ôm đầu la hét, theo ĐĐP Hào cho biết tên nầy vì quá sợ pháo nên đã lên cơn như vậy từ nhiều ngày trước, hoặc chúng đại tiểu tiện ngay trong Tòa Hành Chánh vì không dám ra ngoài do sợ pháo.

Tòa Hành Chánh bị hư hại nặng, chỉ còn lại tầng trệt, quanh khu vực cầu thang chính của Tòa Hành Chánh, tôi không thể đứng thẳng người được vì gạch ngói ngổn ngang.

Để giữ vệ sinh cho khu vực đóng quân, chúng tôi phải rải bột sát trùng DDT lên các hố chôn tập thể và thu dọn chôn cất các tử thi của cái đám “sanh bắc tử nam” còn ngổn ngang trong khu vực.Sau khi tái chiếm hoàn toàn thị xã Quảng Trị, dân chúng bị kẹt lại bên kia sông Thạch Hãn đã lợi dụng lúc quân Cộng sản Bắc Việt “chém vè” đã đào thoát về khu vực quân ta kiểm soát. Họ cho biết quân Cộng sản chạy tán loạn về hướng Đông Hà, Cam Lộ, và để đỡ mất mặt, chúng phao tin quân ta được lính Thái Lan, Đại Hàn tăng cường nên chúng tạm về đâỵ

Việc tàn quân địch “chém vè” được chứng nghiệm đúng, vì sau khi chiếm thị xã, chúng tôi được một thời gian hơn nửa tháng không bị chúng quấy phá, thỉnh thoảng chỉ bị pháo tầm xa 130 ly.

Hơn 30 năm qua đi, hôm nay tôi phải ngồi viết lại bài nầy vì món nợ ân tình quá lớn đối với các đồng đội thuộc Đại đội 4, Tiểu Đoàn 2 Thủy Quân Lục Chiến, những Mũ xanh đã hết lòng phục vụ cho Binh chủng và Tổ Quốc. Một số anh em đã anh dũng hy sinh hoặc tàn phế và sau 30/4/75 một số đồng đội khác đã trải qua những năm tháng trong lao tù cộng sản hoặc nổi trôi theo vận nước điêu linh.

Những anh hùng thực sự của đơn vị là những Binh nhì Hợi, Binh nhất Danh, Chính, Hạ sĩ Hoàng, My, Hội, Rít, Trãi, Ba Gà, Khắn, Hạ sĩ nhất Cao, Trung sĩ Trọng, Trần Sơn (em Trần Vệ K19), Trung sĩ nhất Cảnh, Thượng sĩ Đào Chư, các Chuẩn úy Dương, Hội, Huyện, Hiếu, Thu, Đức, các Thiếu úy Lộc, Tài (Pháo binh), Nguyễn hữu Hào… và còn nhiều người nữa mà tôi không nhớ hết được. Chính họ đã thực sự viết nên những trang quân sử hào hùng của Binh chủng, những chiến sĩ tự do chiến đấu để ” Bảo Quốc An Dân”.

Những người lính Mũ xanh sống thật hồn nhiên, đôn hậu, chan hòa tình cảm, rất nhẫn nại và chịu khó nhưng luôn luôn tỏ ra can đảm và chấp nhận hy sinh như nhà văn mũ xanh Huỳnh văn Phú đã mô tả “Thủy Quân Lục Chiến sống hùng, sống mạnh nhưng sống không lâu”.

Vì người khinh binh hôm nay có nhiệm vụ mở đường, đối đầu với hiểm nguy đợi chờ trước mặt, họ vẫn bình thản, can trường thi hành mệnh lệnh. Và khi chiều xuống, đơn vị dừng quân, họ lo đào hầm hố, gài mìn bẫy để phòng thủ đêm, nhưng vẫn kể cho nhau nghe những chuyện tiếu lâm hoặc ngâm nga những câu thơ thay vần thơ tình có chút lãng mạn, hầu quên đi nỗi nhọc nhằn trên vai người lính như đại để:

Nam: Thương chi cho uổng công tình,
Anh vế trong nớ bỏ mình bơ vơ.

Nữ: Bơ vơ thì mặc bơ vơ,
Anh về trong nớ nhớ viết thơ cho mình
Những người lính Mũ xanh mang trên người trọng trách nặng nề như định mệnh đã dành sẵn cho họ nên họ luôn gắn bó với đơn vị cho đến lúc gục ngã hoặc cho đến giờ bị bức tử.

Họ thật sự là những chiến sĩ vĩ đại của đất nước.

Tôi phải ghi lại những sự kiện nầy để các thế hệ nối tiếp biết rằng ông, cha của họ đã chiến đấu anh dũng như vậy, nhưng phải bị thua trận, bị bức tử vì sự phản bội của đồng minh và của một số chính trị gia miền Nam đã ngây thơ tin vào hòa hợp, hòa giải dân tộc của Cộng Sản và để nhớ lại những đồng đội của tôi đã nằm xuống nơi chiến trường sau khi đã chiến đấu vô cùng anh dũng để bảo vệ mảnh đất tự do nơi địa đầu giới tuyến. Tôi phải ghi lại vì ngày 30/3/72 các chiến sĩ mũ xanh của đại đội 4, Tiểu Đoàn 2, Thủy Quân Lục Chiến với quân số trên 170 nhảy vào vùng hành quân nhưng đến lúc tôi rời đơn vị vào ngày 26/9/72 khi được bổ nhiệm làm trưởng ban 3 rồi sau đó Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 2/ Thủy Quân Lục Chiến thì đại đội 4 chỉ còn trên dưới 30 khuôn mặt cũ của ngày xuất quân với không ít hơn một lần bị thương qua những trận đánh hào hùng trước đó.

Tôi thật hãnh diện và không khi nào quên được những đồng đội can trường tuyệt vời, đã chiến đấu khi Tổ Quốc lâm nguy, không sờn nguy hiểm, không màng hiển vinh, coi cái chết tựa lông hồng, đúng là những cảm tử quân như truyền thống của Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến.

Viết để kỷ niệm 30 năm
Ngày tái chiếm thị xã Quảng Trị và Cổ Thành Đinh Công Tráng.
Houston, mùa Thu 2002http://www.tqlcvn.org/html_file/vietnam/toahanhchanh_leqlien.htm
Thiếu Tá LÊ QUANG LIỄN
LONG HỒ là biệt danh của cựu Thiếu tá TQLC Lê quang Liễn.

.....

Thiếu Tá Lê Quang LiễnAnh sinh ngày 4/7/ 1942 tại Huế. Sau khi đậu Tú tài 2 tại trường Trung học Quốc học (Huế), Anh vào Sài gòn theo học Đại học Dược khoa từ 1961 đến 1963. Tình nguyện gia nhập Khóa 20 Trường Vỏ bị Quốc gia Việt nam ngày 1/ 12/1963. Mản khóa ngày 20/11/1965 và tình nguyện phục vụ Binh chủng TQLC từ năm 1965-1975. Anh được đưa về TĐ1/TQLC giữ chức vụ Trung đội trưởng rồi Đại đội phó. Năm 1969 Anh được du học Khóa Căn bản Sỉ quan TQLC /Hoa kỳ tại Quantico thuộc tiểu bang Virginia. Về nước được thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng ĐĐ1/TĐ8 vừa mới thành lập. Năm 1971 Anh tham dự khóa Đại đội trưởng tại Trường Bộ binh Thủ đức. Cuối năm 1971 Anh về làm Đại đội trưởng ĐĐ4/TĐ2/TQLC và tham gia những trận đánh quyết liệt trong mùa hè đỏ lửa năm 1972.

Sau chiến thắng Cổ thành Anh được thăng cấp Thiếu tá và làm Trưởng ban 3 rồi Tiểu đoàn phó TĐ2/TQLC. Đầu năm 1973, Anh tham dự Khóa học Bộ binh Cao cấp tại Long thành, Thủ đức. Mản khóa học Anh về làm Tiểu đoàn phó TĐ9/TQLC và là Tiểu đoàn phó TĐ7/TQLC từ tháng 12/1974 cho đến ngày bị bắt tại cửa Tư Hiền (Huế ) 27/3/1975. Anh bị giam trong những trại tù CS từ ngày 27/3/1975 đến 12/2/1988 trong đó có 4 năm 7 tháng 24 ngày bị biệt giam vì tranh đấu tại trại Bình Điền, Huế. (Tứ nhân bang TQLC: Phạm Cang + Lê quang Liễn + Ngô thành Hữu + Lê tự Hào là những người cuối cùng rời trại tù Bình Điền).

Nền giáo dục XHCN Nền giáo dục XHCN ưu việt


 
 
- ...Cái bằng này dạo này đắt khách lắm, cứ 10 thằng vào đây thì 8 thằng mua cái này. Nói chú không tin chứ hơn một nửa số bằng quản trị của quan chức Việt Nam hiện nay là do anh cấp đấy. Nên bọn anh đã hợp đồng dài hạn với mấy thằng đầu trâu ở bộ Giáo Dục rồi, do đó chú em sẽ có giá rất mềm.... Vâng giá cả cụ thể thế nào thưa anh? Bằng giả 10 chai, bằng thật 50 chai... Thằng cha này có khùng không nhể, đi mua bằng mà cũng có bằng thật à...

 
Bẩm các cụ,

Hôm rồi, chả biết trời xui đất khiến thế chó gì mà lão sếp bỗng nổi hứng hỏi tui:

- Này, bằng cấp của chú thế nào? lâu ngày anh quên mất.

Cái lão súc vật này, lão biết tỏng tui đék có bằng cấp gì ráo, cứ nhắm chỗ hiểm mà bóp, chứ quên mịa gì. Tui nổi cáu:

- Em thì chỉ có răng với lựu đạn.

- Thế thì gay đấy... Tổng giám đốc vừa chỉ thị, nhân sự phòng mình phải có bằng cấp từ đại học trở lên...

- Anh có thể châm chước cho em được không...

- Anh với chú thì lo gì, nhưng đây là chỉ thị của ban giám đốc, anh không can thiệp được. Chú ráng kiếm sớm đi.

Tui biết chả có chỉ thị nào sất, lão sếp thường hay có ý kiến lăng nhăng để chứng tỏ lão không phải người thừa. Chẳng biết kiếp trước lão là con gì, chứ kiếp này thì cứ con gì bẩn nhất là lão. Bản tính của lão là càng xin xỏ, lão lại càng không cho, để ra vẻ lão là quan trọng, biết thế nên tui đành ngậm miệng.

Hơn nữa, thực sự thì muốn có cái bằng đại học ở Việt Nam mình thì khó chó gì, chỉ tốn chút tiền. Ngay lão sếp của tui cũng có bằng tiến sĩ quản trị kinh doanh đấy, nhưng tui đánh cược đó là bằng mua. Lão mà có bằng tiến sĩ thật thì tui kê đầu xuống cho các cụ ngồi. Thề đấy!!! Nên chắc chắn lão chẳng chê bằng lậu của tui đâu.

Sau vài tiếng thưa chuyện cùng bác Google, tui bắt đầu công việc "học đại học". Tui đến phố Háng Lạ * (mới nghe tên đã thấy sướng), nơi được mệnh danh là tinh hoa của người Hà Nội, thiên hạ bảo rằng tất cả trí tuệ của Việt Nam đều từ nơi ấy mà ra. Hehe... thế mới tài!!!
Tui đến vào giữa trưa. Bọn chợ trời đang ngồi ngáp vặt. Mấy thằng trai hoi tóc xanh tóc vàng đang nhún nhẩy theo một bài hát dạng té ghế đang ra rả phát từ quán cà phê. Cánh chị em thì xanh đỏ đủ màu, phơi da phơi thịt, nhưng lúc này tui không hứng. Rồi theo lời giới thiệu và chỉ dẫn của bác Google, cuối cùng tui cũng tới được nơi cần tới. Đó là công ty Thiên Mã. Công ty quảng cáo ồn lắm thế mà lại nằm tút trong hẻm, lầy lội, trâu chê không đi. Đã thế cái phòng tiếp khách thì hùm hụp, tối om như hang cáo.

Tui đang đứng lớ ngớ, bỗng một "con cáo" nhảy xổm ra:

- Kìa chú em. Chú em cần gì, anh giúp. Hehe... mặt mày thư sinh sáng sủa thế kia, chắc là muốn mua bằng phải không? Chú em đến đúng chỗ rồi. Ngồi đi, ngồi đi...

Mặt mày sáng sủa mà đi mua bằng, mịa mới gặp mặt "thượng đế" đã chửi, buôn bán kiểu chó gì thế.

- Vâng, thú thật với anh là dạo này công ty em dở thói mất dạy, đòi hỏi bằng cấp linh tinh này nọ. Trình thì em dư, bằng cấp chỉ là thủ tục thôi...

- Thằng chó nào đi mua bằng mà chẳng bảo thế, thôi thôi vào đề đi, chú muốn bằng của trường nào, loại gì? Tụi anh có tất.

- Muốn mua cái bằng đại học quốc dân, ngành quản trị đấy ạ.

161 chuyên ngành thạc sĩ bị dừng đào tạo
- Được, cái bằng này dạo này đắt khách lắm, cứ 10 thằng vào đây thì 8 thằng mua cái này. Nói chú không tin chứ hơn một nửa số bằng quản trị của quan chức Việt Nam hiện nay là do anh cấp đấy. Nên bọn anh đã hợp đồng dài hạn với mấy thằng đầu trâu ở bộ Giáo Dục rồi, do đó chú em sẽ có giá rất mềm.

- Vâng giá cả cụ thể thế nào thưa anh?

- Bằng giả 10 chai (triệu), bằng thật 50 chai.

Thằng cha này có khùng không nhể, đi mua bằng mà cũng có bằng thật à. Tui thắc mắc:

- Ơ, anh nói thế là thế nào? mua bằng mà cũng có bằng thật à.

Hắn cười nham nhở:

- Hehe... thế mới tài!!! Này nhá, bằng được đóng mộc thật, có chữ ký hiệu trưởng thật, có chữ ký chuyên khoa thật, có học bạ 4 năm hẳn hoi, có đủ cả đồ án, từ các kỳ thi cho đến tốt nghiệp, tất cả đều được bảo đảm. Như thế chẳng phải bằng thật thì là cứt trâu à?

Hừm... với cách ăn uống như lợn của các quan chức nước mình thì bọn này làm được chứ chẳng phải chơi... thấy tui có vẻ chưa yên tâm, hắn trấn an:

- 1 thằng sinh viên học 4 năm rồi tốt nghiệp ở trường đại học quốc dân, có cái gì thì chú có cái đó. Như thế đã là bằng thật chưa?

Tui tin rằng bọn này làm được thế thật, nhưng cũng muốn vặn vẹo chút:

- Vẫn có cái mà thằng sinh viên ấy có mà em không có đấy.

- Cái gì? chú nói nghe thử, nếu đúng anh làm con chú.

- Kiến thức!

- Aha... cái này chú lại càng có thể yên tâm. Thằng sinh viên đó cũng đék có kiến thức như chú vậy.

Ừ nhể... đúng là tui không thể làm cha hắn thật.

Hehe... thế mới tài!!!

Ma Xó

Dân Tầu Tháo Chạy Khỏi Tàu Cộng !

alt
Việc gì phải cuốn gói bỏ đi khỏi một nước được xem là sắp trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới để đến một nước đang lao đao bờ vực, có nguy cơ sụp đổ khỏi vị trí cường quốc số một như Mỹ? Thế nhưng chuyện nực cười đầy mỉa mai này lại đang xảy ra với nhiều người Hoa lục. Một lần nữa, thử đặt câu hỏi là vì sao?
Ván bài có ít nhiều cơ hội
Viết trên Forbes (28/10/2012), cây bút Gordon Chang cho biết, tổ chức Global Financial Integrity ước lượng rằng, từ năm 2000 đến 2011, Trung cộng đã mất 3,79 ngàn tỉ USD bởi các vụ lén lút gởi tiền ra nước ngoài một cách bất hợp pháp. Trong 2 năm qua, 1,05 ngàn tỉ USD đã bị thất thoát; và theo Wall Street Journal, chỉ trong 12 tháng (tính đến tháng 9/2012), khoảng 225 tỉ USD đã “vượt biên” khỏi Hoa lục.
Tình trạng này đang làm thiệt hại đáng kể dự trữ ngoại tệ quốc gia Trung cộng. Một trong những nguyên nhân trực tiếp khiến kinh tế Hoa lục bất ngờ bị “thoái vốn” là do hiện tượng ngày càng có nhiều người giàu Hoa lục bỏ ra nước ngoài. Theo báo cáo mới nhất của “Hồ Nhuận bách phú” (Hurun Report), Hoa lục hiện có hơn một triệu “thiên vạn phú ông” với tài sản hơn 10 triệu tệ (1,6 triệu USD).
Tuy nhiên, bản báo cáo công bố ngày 31/7/2012 trên cũng cho biết, hơn 16% trong nhóm “thiên vạn phú ông” đã di cư ra nước ngoài hoặc đang nộp hồ sơ di trú, trong khi 44% người khác có ý định tương tự trong tương lai gần. 1/3 tài sản người giàu Hoa lục hiện cũng ở nước ngoài. Theo The Economist (4/8/2012), niềm tin chính trị đang bị mất ở Trung cộng. Hiện chỉ có chừng 28% người giàu còn bày tỏ hy vọng cho hai năm tới, giảm từ 54% so với năm 2011.
alt Ngày càng có nhiều người giàu Trung cộng sang Mỹ định cư
Victor Shih thuộc Đại học Northwestern (Mỹ) cho biết, 1% các hộ gia đình giàu nhất Trung cộng đang sở hữu 2-5 ngàn tỉ USD tài sản (bất động sản, vốn lưu động). Cho nên, nếu họ “manh động”, dự trữ ngoại tệ của Trung cộng chắc chắn ảnh hưởng, chưa kể những tác động kéo theo đối với hệ thống tài chính quốc gia và sự vận hành của cỗ máy kinh tế…
Ngoài ra, có đến 85% người giàu đang lên kế hoạch cho con ra nước ngoài du học. Theo CNN, trong niên khóa 2009-2010, Trung cộng đã qua mặt Canada, Ấn Độ và Đại Hàn để trở thành nước có nhiều du học sinh nhất tại Mỹ; và tiếp tục tăng 23% (lên đến hơn 723.000 du học sinh) tại Mỹ trong niên khóa 2010-2011. Từ năm 1999 đến nay, số du học sinh Hoa lục đứng thứ hai tại Đại học Harvard (chỉ thua Canada). Điều này cho thấy thêm rằng, hệ thống giáo dục Trung hoa chưa bao giờ là niềm tự hào đối với chính công dân nước họ.
Cuộc tháo chạy khỏi Trung cộng thật ra đã hình thành từ nhiều năm và bắt đầu bùng nổ vài năm gần đây. Làn sóng di cư đang hướng đến Canada, Anh, Australia và đặc biệt Mỹ. Chỉ riêng tại Mỹ, 65% đơn xin di trú diện đầu tư trong năm tài khóa 2011 đều đến từ Hoa lục (Wall Street Journal 11/5/2012). Theo chương trình này, người đứng đơn và thân nhân trực tiếp được phép thường trú tại Mỹ nếu họ đầu tư ít nhất một triệu USD vào Mỹ và thuê mướn được 10 công nhân làm việc trong 2 năm.
Trong vài trường hợp, do thời gian chờ trung bình hai năm để được cấp visa EB5 định cư thường trú Mỹ, nhiều dịch vụ “cò” đã ra đời; đồng thời một số người cũng được tư vấn đến những nơi dễ hơn chẳng hạn đảo St. Kitts ở Caribbean hoặc thậm chí Bulgaria hay nước Đông Âu nào đó rồi từ đó tìm cách thâm nhập vào sâu châu Âu. Với dân giàu xổi Trung cộng, một triệu USD là khoản tiền không phải quá sức để có được tấm vé “vượt biên chính thức” mang cả gia đình ra nước ngoài. Nó bộc lộ một sự thật mỉa mai rằng, Hoa lục vẫn là nơi chưa mang lại giấc mơ ngay cả đối với chính công dân mình!
Hiện tượng ra đi không chỉ xảy ra đối với người giàu mà cả với giới trí thức. Một phóng sự mới đây trên New York Times (31/10/2012) đã cho thấy việc này. Ở tuổi 30, Trần Quát đã đạt được nhiều thành công mà nhiều người Trung cộng mơ ước: có một căn hộ riêng và một nghề lương cao tại công ty đa quốc gia. Nhưng vào giữa tháng 10/2012, cô Trần đã xách valy đáp chuyến bay nửa đêm đến Australia để bắt đầu cuộc sống mới, làm lại từ đầu, chấp nhận rủi ro.
alt
Như hàng trăm ngàn người khác cô Trần cũng mất niềm tin khi sống ở đất nước mình, nơi môi trường ngày càng kinh khủng, tham nhũng ngày càng lộng hành và người dân thấp cổ bé họng ngày càng bị đẩy xuống tận cùng của hố đen xã hội, nơi mà một bộ phận công nhân và nông dân đang chua chát oằn mình biến thành những nấc thang cho công cuộc phát triển trong khi một bộ phận thiểu số bòn rút cạn kiệt sinh lực quốc gia lại nhẫn tâm đánh cướp tất cả những gì có thể cướp và thậm chí cả tự do.
“Dân trung lưu ở Trung hoa không cảm thấy an toàn cho tương lai và đặc biệt cho tương lai con cái” – nhận xét của Tào Thông, giáo sư Đại học Nottingham – “Họ cũng không nghĩ tình trạng chính trị (Trung cộng) là ổn định”. Sự kiện Bạc Hy Lai đã để lại nhiều dư chấn chưa tan. “Sẽ tiếp tục có nhiều bất ổn và rủi ro, thậm chí ở cấp cao nhất, thậm chí ở cấp Bạc Hy Lai” – nhận định của Lương Tại, chuyên viên di trú thuộc Đại học Albany – “Người dân (Hoa lục) đang tự hỏi rồi điều gì sẽ xảy ra trong hai ba năm tới trước mắt”…
alt
Sự rũ áo ra đi của Trần Quát là sự tiếp bước theo chân 508.000 người Hoa lục đã từ bỏ quê hương đến 34 quốc gia thuộc Tổ chức phát triển hợp tác kinh tế (OECD) vào năm 2010 (tăng 45% so với năm 2000); là sự tiếp bước theo chân 87.000 người Trung hoa đến định cư tại Mỹ năm 2011 (so với 70.000 năm trước đó). Theo Bộ Thương mại Trung cộng, hiện có đến 800.000 người Tàu đang làm việc tại nước ngoài gấp 13 lần năm 1990. Họ chấp nhận làm mọi việc, từ chạy bàn, lái taxi đến bốc vác, với tâm lý chẳng thà “khổ” ở Mỹ hoặc Anh còn “sướng” hơn ở Trung cộng nhiều lần! “Tất cả cho thấy hiện tượng trên được thúc đẩy bởi nỗi sợ mất mát tại Hoa lục” – theo Hạng Bưu, nhà nhân khẩu học Đại học Oxford – “Ra nước ngoài trở thành một ván bài có thể mang lại ít nhiều cơ hội”.
Vấn đề “vượt biên chính thức”, chứ không phải “chảy máu chất xám”, đang trở thành chủ đề được bàn cãi căng thẳng trên các phương tiện truyền thông chính thống. Phương Trúc Lan, giáo sư Đại học Nhân Dân, gần đây đã viết trên tờ Diễn Đàn Nhân Dân rằng, nhiều người dân Hoa lục đang “bỏ phiếu bằng đôi chân”, ám chỉ sự biểu lộ mất niềm tin bằng thái độ rũ áo ra đi…
Còn ai tháo chạy nữa?
“Tháo chạy khẩn cấp” là từ chính xác để nói về bọn này: đám quan tham từng vét sạch két sắt quốc gia rồi cao chạy xa bay. Theo bản tin China News ngày 6/6/2012, thống kê chính thức từ Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Trung cộng cho biết có tổng cộng 18.487 viên chức Trung hoa đang trốn tại nước ngoài bởi dính vào tham nhũng và biển thủ ngân khố từ năm 2000-2011.
Bọn tội phạm này (trong đó có những tên cộm cán như Cao Sơn, Dương Tú Châu, Tưởng Cơ Phương, Trình Tam Xương) đã mang theo hơn 157 tỉ USD. Vụ việc trở thành nóng bỏng đến mức một hội thảo liên ngành với chuyên đề về nạn viên chức tham nhũng trốn ra nước ngoài đã được tổ chức tại Bắc Kinh ngày 23/5/2012.
alt
Sự nghiệp đang thành công tại Trung cộng, Trần Quát vẫn quyết định sang Úc
Năm 2011, Ngân hàng Trung ương Hoa lục đưa ra báo cáo cho biết có 18.000 viên chức đã trốn ra nước ngoài từ 1995-2008 với số tài sản thất thoát lên đến 125,7 tỉ USD. Trong thực tế, theo Lý Thành Ngạn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu liêm chính Chính phủ thuộc Đại học Bắc Kinh, số viên chức đào tẩu có thể lên đến 10.000 với tài sản thất thoát lên đến hơn 150 tỉ USD. Từ năm 2011, Bắc Kinh đã bắt đầu theo dõi tài khoản cũng như nơi ở của thân nhân viên chức.
Theo China Economic Weekly, việc giám sát này đã giúp chặn được trung bình 50 viên chức trốn khỏi Trung cộng mỗi ngày! Theo Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao Trung cộng Tào Kiến Minh, với sự giúp đỡ của giới tư pháp nước ngoài, Trung cộng đã bắt được 1.631 tội phạm đào tẩu và thu hồi được 1,2 tỉ USD.
Trong số bọn “tội phạm kinh tế” đào tẩu, bọn quan tham hám gái là đáng chú ý hơn cả. Trong vụ “ăn đường sắt” chấn động Hoa lục, lực lượng chống tham nhũng đã phát giác một trong những kỹ sư chính của Bộ Đường sắt Trung cộng, Trương Thự Quang, có một biệt thự vô cùng sang trọng (5 phòng ngủ, 5 toilet) theo kiểu Địa Trung Hải tại Los Angeles, trị giá 840.000 USD, khi lương của hắn chỉ có 365 USD/tháng! Hẳn nhiên ngôi biệt thự tại Mỹ là nơi được thiết kế để Trương “hạ cánh” một khi đánh hơi thấy tai họa sắp chụp xuống đầu – một thủ đoạn quen thuộc của giới “lỏa quan”.
Năm 2010, một viên chức viễn thông tại Tứ Xuyên, tên Lý Hướng Đông, bỗng nhiên ly dị vợ và tống “mụ ấy” sang Canada. Thế rồi, ngày nọ, chỉ một ngày trước khi có lệnh bắt chính thức tội biển thủ 60 triệu USD, “Lý tiên sinh”, liệu việc như thần, đã nhanh chóng chuồn mất dạng sang Canada.
alt
Tương tự, Dương Tương Hồng, Bí thư một quận tại Ôn Châu, khi đánh hơi thấy “có động”, đã “tiên hạ thủ” bằng cách gấp rút tổ chức lễ cưới cho con gái tại Paris để lấy cớ đi Pháp. Có điều, khi “tẩu vi” (và không trở lại), “Dương đại nhân” đã ôm theo 12 triệu USD tiền hối lộ từ giới trùm bất động sản! Cần chú ý rằng, ở một nơi mà luật chỉ cho phép công dân mang không hơn 50.000 USD ra nước ngoài mỗi năm như Trung cộng, những vụ lén lút đem hàng triệu đôla ra ngoại quốc như nói trên đã cho thấy rằng hẳn phải có các đường dây “dịch vụ” tinh vi chắc chắn như thế nào từ những tên quan tham nhũng khác.
Nó cho thấy thêm rằng lỗ hổng luật pháp Trung cộng lớn đến như thế nào, nó cũng cho thấy một hiện tượng “ăn xổi ở thì” lan rộng như thế nào, không chỉ ngoài xã hội mà cả trong giới chính quyền, với tâm lý vơ vét thật đậm rồi chuồn. Cho đến nay, Trung cộng vẫn chưa có giải pháp thống nhất trong việc ngăn chặn giới chức tham nhũng trốn ra nước ngoài. Tháng 1/2012, chính quyền Quảng Đông tuyên bố viên chức nào có thân nhân di cư nước ngoài sẽ không được thăng chức. Đó hoàn toàn là một biện pháp chữa cháy tạm thời.
Nguyễn Cao Trí

Chủ Đề Người Lính VNCH :Thảm Cảnh Gia Đình Nhạc Sỹ, Đại Úy VNCH NGUYỄN HỮU CẦU

 
Biến c năm 1975 đ m xung trên quê hương Vit Nam bi ván c chính tr quc tế, mt cuc đ sc ca các thế lc siêu cường. Cuc chiến tranh không nhm đ chiến thng ti Vit Nam mà ch nhm thc hin thế liên minh mi toàn cu đã đưa người Vit Quc gia chúng ta lâm vào cnh đau thương ti nhc chưa tng có trong lch s nước nhà vào mùa Xuân năm 1975.
 Cu Đi Úy VNCH,  Nhc s  Nguyn Hu Cu là mt nn nhân thm thương trong nhng nn nhân thm thương nht, cũng như tt c binh lính, sĩ quan thuc Quân Lc Vit Nam Cng Hòa, không b súng, không b ngũ, không nhường mt tc đt cho gic, phi chiến đu đến hơi th cui cùng.

Non Phn ba Thế K B Giam Cm Trong Điu Kin Tù Đày Khc Nghit, Đôi Mt Anh Đã  Mù Lòa

Trước thc trng mt đt nước hoang tàn đ nát, có nhng v Tướng lãnh trung can vi li th "T Quc - Danh D - Trách Nhim" phi đơn phương chiến đu, vi cuc chiến mà thế gii đã cáo chung QLVNCH - mt quân đi tinh nhê ngày nào nay đã mt hết nhược khí chiến đu bi súng đã b b gy, vũ khí, danh d đu b tước đot.
Năm v Tướng lãnh và nhiu Sĩ quan thuc Quân Lc VNCH đã tun tiết đ bo toàn khí tiết vào nhng ngày tàn cuc chiến.
Min Nam Vit Nam hp hi, đng bào đ xô ra bin c trong cơn hn lon kinh hoàng.
Xin các bn hãy lng đng tâm hn cùng chúng tôi chia x thm cnh bi thương tt cùng ca mt gia đình Sĩ quan thuc Quân lc VNCH:  Đi úy Nguyn Hu Cu sau ngày Min Nam b BC T
************ ********* ******
                    
      *    Alo! Ch Hai .
·         Bích đó h, em đang đâu ?
·         Em đã ti bến xe Min Tây ri, em đang ch ch Hai đây.
·         Làm sao ch Hai có th nhn ra em?
·         D, em đang cnh quán cà phê trước cng bến xe. Em mc áo sơ mi trng, qun tây xanh, đi nón Casquette màu xanh,
·         Ch thy em ri. Ch đang đi ti em đó. Em thy ch chưa? Ch mc qun đen, áo trng ct tay đi gn ti em đây nè.
·         Em thy ri ch Hai ơi. Ch Hai em đây nè.
·         Ngc Bích, em ca ch,
·         Ch Hai…. ch Hai ơi!
* Em ch ch có lâu không? Ch ra đây đón em t nhiu tiếng đng h ri, nhưng ch không biết mt mày em ra sao. Ch phi ngó chng, phi hi thăm tng người xung xe đến t Rch Giá.
·         Ch Hai ơi! Em vui mng lm. Phi tri qua nhiu đon đường vt v em mi có th tìm gp ch hôm nay. Em t ơn Tri Đt đã cho em tìm li được ch Hai. Em c ng như mt gic mơ dài, gic mơ gia ban ngày. Em mơ có ngày tìm gp được ch Hai nay đã thành s tht. Ch Hai, ch hãy k cho em nghe ti sao gia đình mình ra nông ni, sao Ba mình li mang án kh sai?
·         Em ơi vn nước đo điên. Ba thân nơi lao lý, ch em chúng ta ct nhc chia lìa, c ng sut đi này không có ngày gp em,
·         Ch Hai ơi! Ba mươi my năm qua không m không cha, ch làm sao sng ni, bng cách nào ch Hai còn sng được đến hôm nay? Bng cách nào ch Hai tìm gp được Ba? Bng cách nào ch Hai tn ti được gia cuc đi đy giông bão này trong sut c na đi người như vy?
·         Bích em à,  ngày 30 tháng 04 đen ch Hai ch va 4 tui, Ba đi tù ci to, m bước sang ngang, em lúc đó va mi  lên 2 tui. M bng em theo đi xây duyên mi. Ch trôi ni sng vi h hàng, nay nhà người này mai nhà khác, làm lng vt v đ kiếm bát cơm sng kh sng ti nhc qua ngày. Ch Hai chưa tng được cp sách đến trường như bao nhiêu đa tr cùng trang la khác. Khi Ba mãn hn tù sau gn 6 năm “ci to”, Ba  tr v nhà thì m đã không còn nhà đ đón Ba na. Ch nh  là ch cũng ch được gp Ba vài ln, ri mt hôm vào ngày rm tháng 8, Ba b bt li, chúng nó hung hung h h đến nhà xing trói ba li ri dn gii ba đi, giam cm tra kho ít lâu ri h đưa  Ba ra tòa xét x, ba  b tuyên án t hình v ti “chng phá chính quyn” ri h t đng giãm án xung còn chung thân kh sai. Lúc bà ni còn sng thnh thong bà có dn ch đi thăm Ba, nhưng ri sau ngày bà ni mt, ch Hai như chiếc lá đơn đc gia cơn lc xoáy gia giòng đi trôi ni, thân không nuôi ni ly thân làm sao dám nghĩ đến chuyn đi thăm nuôi Ba được.
·         Ch Hai...ơi .
·         Ch biết mình còn có mt đa em trai nhưng đã b chia cách t ngày quê hương b “gii phóng”, t ngày c đt nước này không còn tiếng súng mà ch còn thc ti là bóng ti ba giăng. Ch bàng hoàng khi được gp li em hôm nay. Bích ơi, hãy nói cho ch nghe ti sao em biết mà tìm đến ch, my mươi năm qua em sng thế nào? M ca mình bây gi hin đâu? M hin nay ra sao ri h em?
·         Ch Hai ơi! Ba mươi my năm qua, em c ng mình có m có cha, c ng Trn Ngc Bích là con ông Trn Văn Phng, du gia cnh cũng có nhiu khó khăn thiếu túng, nhưng em cũng may mn được cp sách đến trường, hc sư phm ri ra trường công tác trong nghành giáo dc. Mùa Thu năm 2002, em được bu chn là giáo viên ưu tú , 
Cơ quan đ ngh kết np đng cho em. Được tr thành Đng viên là ước mơ, là công danh s nghip là con đường thăng tiến cho tt c nhng ai đang tn ti trên đt nước này, dù đang công tác bt c ban ngành nào cũng phi có đng mi thoát ra khi tng lp b tr, mi thay hn lt xác đ đng vào hàng ngũ ca giai cp lãnh đo, giai cp thng tr. Vào đng tc là bước vào con đường thăng tiến, bi mi đc quyn đc li đu nm trong tay đng.  
Đến năm 2003, Chi b chp thun và chuyn đ ngh lên cp trên. Đu năm 2004, h mi cho em biết s tht rng giáo viên Trn Ngc Bích không phi là con Ông Trn Văn Phng mà là con ca ti phm Nguyn Hu Cu – mt tù nhân chính tr phm vi mc án chung thân kh sai.
·         Ti nghip cho em, trước thc tế đó, trước s đ kích gièm pha gay gt ca đng nghip, ca bn bè như vy tâm trng ca em lúc đó ra sao?
·         Em nghe như Tri Đt điên đo quay cung! "Ba tôi là người tù chính tr vi bn án kh sai chung thân!"  Lúc đó em xé nát và ném tung t đơn xin gia nhp đng. Không! Tôi không cn đng  tôi ch cn ph t tình thâm! Em chy nhanh v nhà, va chy va khóc "Ba ơi!  Ba ơi!" Ri em vi vã đi tìm M. Em trách  M ti sao không cho em biết sm v thân thế ca mình, sao không nói cho em biết em còn có người ch đang lưu lc phương nào, vì nếu l như đường đi đưa đy, hai ch em gp nhau hoàn cnh nào đó ri vô tình mà yêu nhau thì ti li này ai gây ra hi M? Ri t đó em đi tìm Ba và ch. Em ln li ra Rch Giá hi han hết người này đến người n trong c cái th xã đó. Em nghe người ta nói trước kia bà ni là giám đc Nha Khí Tượng, th xã Rch Giá, tìm đến nơi mi biết bà ni đã qua đi. Nim hy vng tr nên mt mùng hơn. Ri tri đt run ri thế nào mà em li tìm gp được mt người quen cũ c

   Lê  Chân     

Bài Xem Nhiều