We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 25 February 2013

Tha La Xóm Đạo: Người Trăm Năm Cũ



Trước đây lâu rồi, tôi có viết một bài về Tha La Xóm Đạo theo hồi ức, đăng ở báo Giáo Xứ Việt Nam Paris năm 1986.

Bây giờ 25 năm sau, tôi lại viết về Tha La Xóm Đạo, nhân dịp sắp kỷ niệm 25 năm phong thánh 117 vị tử đạo ở Việt Nam (1998-2013).

Thành thật cám ơn Cha Petrus Nguyễn Văn Thắm, hiện là chánh sở giáo xứ Tha La, và cha Trần Anh Dũng, Giáo Xứ Việt Nam Paris đã giúp thêm tài liệu, hình ảnh.

Bối cảnh thời khai sinh xóm đạo

Thường nghe kể, gần cuối trào vua Minh Mạng, khoảng năm 1837, ông Côsimô Nguyễn Hữu Trí cùng một số, độ mươi gia đình, lánh nạn bắt đạo (Thiên Chúa Giáo) từ Huế lần vào miền Nam, ban đầu dừng chân ở Bà Trà (Thủ Dầu Một) rồi di dời đến Suối Đá (Tây Ninh) và cuối cùng định cư tại Tha La, nay thuộc ấp An Hội, xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Họ tự lực khai khẩn đất hoang, ẩn náu mưu sinh, giữ gìn niềm tin đạo Chúa. Thuở đó họ chỉ tổ chức đọc kinh chung giữa các gia đình, địa điểm phải thay đổi luôn để tránh bị theo dõi, dò xét, khi xóm Lò Mo, khi ở Trường Đà.

Tại Tha La ông Côsimô Nguyễn Hữu Trí qui tụ thêm được ông Ngươn (ở Bầu Nâu), ông Hiệp (Rạch Thiên), ông Tròn, ông Trĩa, ông Rẫy, ông Ruộng, ông Phó Dần, ông Hương Quả (Lộc Giang), ông Tổng Phương, ông Tổng Long (Bãi Sau)… Ông Phó Dần, ông Hương Quả là người bên lương có liên hệ họ hàng với ông huyện Paulus Nguyễn Văn Viên, tín đồ Thiên Chúa giáo, một trong những người sau nầy góp công xây dựng nhà thờ Tha La.

Thời bấy giờ, Tha La chưa thành một họ đạo, chưa có linh mục coi sóc nên giáo dân muốn hành đạo, nhận các bí tích (xưng tội, rước lễ…) phải di chuyển 40-50 cây số, xuyên qua rừng, tới Lái Thiêu hay Chợ Quán.




Nhà thờ Tha La
Hình thành và Phát triển - Những niên biểu căn bản

• 1840 Ông Côsimô Trí thỉnh thoảng mời được các linh mục ghé qua giúp giáo dân sống đạo như cha Hiểu, cha Tam, cha Lợi, cha Jean Claude Pernot (Định), 1832-1904.

• 1860 Lần đầu tiên có linh mục, cha Jean Baptiste BESOMBES (tên Việt là Hạnh), 1833-1867, người gốc vùng Aveyron (Pháp) thuộc Hội Thừa Sai Truyền Giáo Paris (M.E.P.). Nhà thờ sơ sài, mái tranh, vách lá được cất ở Lò Mo - Trường Đà (ấp An Lợi, xã An Hòa).

1862 Nhà thờ và nhà một số giáo dân bị đốt cháy bởi tương tranh lương giáo về quyền lợi, chính kiến… Dường như có xích mích giữa cha Besombes Hạnh và người bên lương ở Lộc Giang.

• 1863 Cha Jules ERRARD (Y), 1838-1891, thay thế cha Hạnh, cất nhà thờ tạm.

• 1868 Cha Edouard François Marie VINCENT (Sơn), 1835-1877, cất lại nhà thờ bằng vật liệu nhẹ, có mái tranh dài, một đầu là nhà thờ, đầu kia làm nơi cha cư trú. Sau cha qua đời tại chủng viện Sàigòn 1877, an táng tại Lăng Cha Cả, gần phi trường Tân Sơn Nhứt**

• 1870 Cha Jean FOUGEROUSE (Phụng), 1840-1898, lập 2 trường tiểu học (nam, nữ), nhờ các dì phước dạy học.

• 1874 Cha DƯ mở thêm lớp học.

• 1880 Cha Pierre Marie LALLEMENT (Liễu), 1850-1908, đến Việt Nam 1875, học tiếng Việt ở Bà Rịa và Cái Mơn, dạy chủng viện Thánh Giuse. 1880 : nhiệm sở Tha La. Sau đó cha nhiệm chức Bề Trên Giáo phận Vĩnh Long, đồng thời là trợ bút cho tờ báo Công giáo đầu tiên ở Việt Nam : Nam Kỳ Địa Phận.

• 1881 Cha Louis LAURENT (Bính), 1865-1934, muốn dựng lại nhà thờ bắt đầu hư cũ, nhưng đa số giáo dân đều nghèo. Cha trình với Đức Giám Mục Giáo Phận Sàigòn Isodore Colombert Mỹ, được khuyến khích và giúp cho 400 đồng. Cha tiếp tục vận động các nơi. Ông huyện Paulus Nguyễn Văn Viên hỗ trợ 2200 đồng, giáo dân đóng góp thêm, tổng cộng 3950 đồng. (Đức Cha Colombert Mỹ, 1838-1894, người gốc vùng Mayenne Pháp, thuộc Hội Thừa Sai Paris, đến Việt Nam truyền giáo 1863, xây dựng nhà thờ chánh tòa Sàigòn, viết nhiều sách tiếng Việt về đạo ; qua đời và an táng trong Vương Cung Thánh Đường Sàigòn.)

1885 Sau bốn năm cố gắng, nhà thờ khánh thành.

1887 Cha sở Bính hoàn tất việc cất nhà cha sở, với sự trợ giúp của ông huyện Viên (300 đồng) và một số giáo dân.

1888 Cũng cha Bính tiếp tục khởi xướng việc xây tháp chuông, ba chuông nhứt nhì ba được ba người dâng tặng : ông huyện Viên, bà Thọ, thầy Giêng. Tiếng chuông ngân giống như chuông nhà thờ Đức Bà Sàigòn, vì cùng do hãng Pháp Bolee thực hiện. Bởi sự đóng góp đặc biệt của ông bà huyện Viên trong các công trình xây dựng nêu trên nên lúc qua đời được Giám mục Colombert Mỹ cho phép chôn cất trong nhà thờ. Sau nầy, khi xây lại nhà thờ mới, phần mộ của ông bà Huyện Viên được cải táng, hiện ở trước núi Đức Mẹ, xế mặt tiền nhà thờ Tha La.

• 1889-1890 Cha Jean Baptiste Marie CLAIR (Quang), 1851-1910, sang Việt Nam 1877, dạy trường Latinh 8 năm. Về coi Tha La. Mở hai địa điểm mục vụ mới : Rạch Gốc, Vàm Tây Ninh. Cha cộng tác với tờ Nam Kỳ Địa Phận, khi qua đời chôn ở Lăng Cha Cả**.

• 1909 Cha Victor Charles QUINTON (Tôn), 1866-1924.

• 1919 Cha Gioan Baotixita NGUYỄN THÁI TÔNG, 1870-1951, nới rộng nhà thờ thêm hai gian.

• 1944 Có thêm cha Phêrô Nguyễn Bá Kính về phụ giúp cha Tông.

1946 Cha Kính theo cách mạng kháng chiến, bị tử nạn ở huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Không biết có phải hành động nầy khơi gợi phần nào cảm hứng cho thi sĩ Vũ Anh Khanh khi ông viết bài thơ Tha La đăng trong tập truyện Nửa Bồ Xương Khô, nhà xuất bản Tân Việt Nam Sàigòn 1949. Nghe rằng thi sĩ V.A. Khanh là bạn của nhà văn Thẫm Thệ Hà, tức giáo sư Tạ Thành Kỉnh, nên thi sĩ họ Vũ mới có dịp lưu trú tại quê hương Trảng Bàng của ông Thẫm, tác giả quyển tiểu thuyết Đời Tươi Thắm 1956, cũng lấy Xóm Đạo làm bối cảnh.

• 1950 Cha Phêrô ĐẶNG NGỌC THÁI về làm cha sở Tha La.

1956 Cha đồng ý cho cha Trực đem đồng bào Bắc Việt di cư vào ở xóm Trường Đà.

• 1957 Cha Gioan Baotixita HỒ VĂN VUI (1917-2002 )

- Xây thêm 4 căn, mở thêm lớp nhì và lớp nhất để học sinh có thể học hết bậc Tiểu học tại chỗ khỏi phải đi xa (ra Trảng Bàng), xin thêm 4 dì phước dòng Mến Thánh Giá Chợ Quán về dạy. Lần đầu tiên có bảy thí sinh trường Xóm Đạo đi thi bằng Tiểu học, được sáu em đậu (1958).

- Xây vách thành rào chung quanh nhà thờ.

- Nới rộng hai bên cung thánh.





Hang đá Đức Mẹ
- Xây hang đá Đức Mẹ, nhân kỷ niệm một trăm năm Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức (Lourdes - Pháp). Ngày khánh thành 9-12-1957 đoàn người rước kiệu dài sáu cây số, mời hàng ngàn khách lương giáo tham dự. Tước hiệu Đức Mẹ Vô Nhiễm (Immaculée Conception) từ đó là bổn mạng của họ đạo Tha La, hàng năm vẫn hành lễ vào 8 tháng 12.

- Cất Hội quán cho Ban quới chức có nơi hội họp.

- Xây thêm nhà thờ ở các họ nhánh : Trảng Bàng, Bình Nguyên, Phước Chỉ.

(Cha Hồ Văn Vui trước đó là chánh sở nhà thờ Đức Bà Sàigòn, bị nghi ngờ không thích chính quyền thời Tổng thống Ngô Đình Diệm, cha về nương náu tại Tha La với sự chấp thuận của Đức Cha Simon Hòa Hiền - hồi đó Tha La còn thuộc Tòa Giám Mục Sàigòn. Đến năm 1960 cha rời Xóm Đạo, qua ngã Campuchia sang Pháp học và tốt nghiệp ngành Xã hội học. Sau trở về Việt Nam, có lúc nhiệm chức Giám đốc Cơ Quan Bái Ái Công Giáo Caritas Việt Nam.)

Sau 1960, cha phó Luca Nguyễn Phước Quan tiếp tục điều hành giáo sự Tha La.

• 1965 Cha Giacôbê HUỲNH VĂN CỦA

- Đề xướng việc xây Đài Đức Mẹ ở 6 giáo khu, mỗi khu tự chọn tước hiệu Đức Mẹ, buổi tối giáo dân họp nhau đọc kinh, lần chuỗi.

- Xây thêm ở Gò Dầu và ở biên giới, Gò Dầu Thượng : nhà thờ, nhà cha sở, trường học, quán cơm xã hội…

• 1966 Địa phận Phú Cường thành lập, từ đó Tha La trực thuộc giáo phận Phú Cường.

Xóm Đạo Tha La thành họ đạo, chính thức được nâng lên hàng giáo xứ cùng với ngôi thánh đường, ranh giới và giáo dân hiện hữu (Nghị định 22-9-1966 do GM Phạm Văn Thiên ấn ký, Prot. N 311/66).

Cha Gioakim NGUYỄN VĂN NGHỊ, cũng năm nầy, về làm chánh sở. Ngôi nhà thờ cũ cần xây lại, tân trang, họ đạo không đủ tài chánh, cha Nghị đề ra sáng kiến : mỗi ngày giáo dân để vào heo đất tiết kiệm 2 đồng.

1970 Sau 3 năm khổ công lo toan, nhà thờ khánh thành, có thêm biệt danh “Nhà thờ hai đồng”. Cha Nghị còn tu sửa lại nhà xứ. Các công trình nầy, ngoài cha sở Nghị vất vả, còn nhờ ông Antoine Nguyễn Văn Gia tận tình hỗ trợ, chẳng những giúp công, giúp của, ông còn giúp làm ruộng của nhà chung suốt mấy mươi năm không nhận thù lao.






Cha Nghị cũng di dời hai ngôi mộ của Ông Côsimô Trí và Ông bà huyện Viên ra trước hang núi Đức Mẹ, xế mặt tiền nhà thờ.

Cha còn khởi xướng việc cử hành trọng thể lễ kính ông bà, tổ tiên tại nghĩa trang Tha La vào ngày 2 tháng 11 hàng năm.

• 1995 Cha Giuse NGUYỄN TẤN TƯỚC

- Cất nhà quàng trong nghĩa trang Tha La,

- xây vòng rào bao quanh nghĩa trang

- và xây rào quanh nhà thờ.

• 2000 Cha Philipphê TRẦN TẤN BINH

- Tu sửa cung thánh, tráng xi măng sân nhà thờ.

- Lập nhà máy nước cung cấp nước sạch cho dân xã An Hòa.

• 2005 Cha Petrus NGUYỄN VĂN THẮM

2006 Xây lại hội quán nhà thờ,

2007 Lấy lại được ngôi trường Tiểu học mà nhà nước đã “mượn” từ năm 1975.

2009 Nhà nước trưng dụng 56 mẫu ruộng của nhà chung mà giáo dân đang canh tác để làm khu Công Nghiệp Bourbon An Hòa. Cha thương lượng để các người trực canh và giáo xứ được bồi thường.

Xóm Đạo Tha La trở thành họ đạo tiên khởi ở Tây Ninh. Từ năm 1837 manh nha với hai mươi gia đình, đến nay, năm 2012 tức 175 năm sau, Tha La có hơn hai ngàn nóc gia với khoảng năm ngàn giáo dân, trải qua 50 đời cha sở góp công vun bồi.

Địa danh và con người

Theo ông Hồ Đình Vũ trong bài Địa Danh Miền Nam thì do bởi sự kiện người Khmer sống chung lẫn với người Việt nên có nhiều địa danh bắt nguồn từ ngôn ngữ Khmer được Việt-hóa như Tha La : tiếng Khmer là Schla đọc trại ra.

Schla : nhà nghỉ ngơi, tu dưỡng (của tu sĩ Phật giáo). Cũng có giải thích khác : trạm, trại, nhà lồng, nhà mát… hay “Tha La là một loài cây linh thiêng của đạo Phật” (Thương 358. Commentaire, Site You Tube Tha La Xóm Đạo 17-10-2007)

Trong Việt Nam Tự Điển II (quyển hạ) của Lê Văn Đức cùng một nhóm văn hữu soạn, Lê Ngọc Trụ hiệu đính, ghi : Tha La=chòi, trại của thầy sãi Cao Mên : xóm Tha La, cát Tha La…

Nghe nói trong các vùng trước đây có người Miên sinh sống nhiều như Trà Vinh, Châu Đốc, Sóc Trăng… cũng có nơi gọi là Thala. Nhưng chỉ Tha La Xóm Đạo ở An Hòa, Trảng Bàng là vang danh. (Google Maps : Từ quận lỵ Trảng Bàng, trên quốc lộ 22, rẽ bên trái theo đường Nguyễn Du, độ 4 cây số, thấy Tha La, Tây Ninh, Viet Nam, có ghi rõ nhà thờ Tha La).

Ông Vũ Anh Khanh, tác giả bài thơ Tha La Xóm Đạo đã thăng hoa vùng quê nghèo đầy tre nứa, bụi mù đất đỏ vắng lặng thành một xóm đạo nên thơ ; với trái ngọt cây lành, hoa gạo, trời xanh mây trắng, thoang thoảng gió nhạc buồn trăn trở vận nước lầm than, ly loạn. Từ đó Tha La nổi tiếng, gợi khơi thêm niềm xúc cảm cho các người khác viết về thôn xã nhỏ bé nầy, nhỏ đến độ hiện nay vẫn còn nhiều người chưa biết. Tuy thế Tha La Xóm Đạo vẫn hiển hiện trong văn thơ, tân nhạc, cổ nhạc… Những tác phẩm của Vũ Anh Khanh, Dzũng Chinh, Loan Thảo… không chỉ vang bóng một thời mà có lẽ sẽ còn lưu mãi đến ngàn sau, như người dân xóm đạo đời đời sinh động niềm tin, lặng lẽ trong an bình lẫn gian nan thử thách.





Tinh thần mộ đạo của giáo dân Tha La
Tinh thần mộ đạo là môi trường sản sinh cho xã hội nhiều thế hệ cần cù lao động, sống đời lương thiện ; cung ứng cho Giáo hội Công giáo những ông câu, ông biện nhiệt thành, những bà mẹ sốt sắng làm tông đồ, những tu sĩ nam nữ năng động… Được nghe biết các cha sau đây sinh quán tại Tha La :

- Gioan Baotixita Nguyễn Phụng Dõng, sinh năm 1902, linh mục 1929,

- Phanxicô Xaviê Lê Vĩnh Khương, sinh năm 1903, linh mục 1929, cố chánh sở Thị Nghè, tác giả quyển Từ Việt Nam Sang Roma, nhà in Kim Sơn Saigon 1952,

- Felix Lê Vĩnh Trình, sinh năm 1904, linh mục 1933,

- Phêrô Nguyễn Minh Cảnh, sinh năm 1920, linh mục 1945,

- Giacôbê Nguyễn Văn Vi, sinh năm 1932, linh mục 1960, cố Giám đốc Trung Tâm Công Giáo Tiến Hành,

- Phanxicô Xaviê Nguyễn Hữu Tấn, sinh năm 1925, linh mục 1951, sáng lập cộng đoàn Bác Ái Cao Thái.

Và các nữ tu như dì Viện, dì Tình, dì Nhiễu, dì Nguyễn, sơ Pascale Lê Thị Tríu (quen thuộc với thuyền nhân đã qua một thời ở Palawan, Phi Luật Tân).

Tha La cũng có ba cha sở được nâng lên hàng giám mục :

1. GM Victor Charles Quinton (Tôn) (1866-1924), M.E.P., sinh quán thuộc giáo phận Laval, vùng Mayenne (Pháp),

- 1890 Đến Việt Nam, học tiếng Việt ở Bà Rịa,

- 1909 Làm cha sở Tha La. Sau đó thụ phong giám mục, làm giám mục phó Tông Tòa Sàigòn.

- 1920 Giám mục giáo phận Sàigòn.

- 1924 Bị bệnh, trở về Pháp điều trị, qua đời tại chủng viện Bièvres.

Đức cha Quinton xuất bản nhiều sách bằng tiếng Việt. 17 Thơ chung của 3 giám mục địa phận Sàigòn, Imprimerie de la Mission, Tân Định Saigon 1950 : Phép Hôn phối theo Luật đạo (1914), Việc Bổn phận buộc người đôi bạn phải giữ cùng nhau (1915), Việc Bổn phận cha mẹ phải làm cho con cái (1916), Về sự đọc kinh hôm mai chung trong nhà cùng sự Tôn Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa Giê Su trong gia thất người giáo hữu (1918), Người Lớn phải đi nghe dạy Sách phần ngày Chúa nhựt (1919), Về việc Bổn phận kẻ làm cha mẹ : Dạy dỗ con cái Chúa cho biết đạo thánh Chúa, lo liệu cho nó giữ đạo trọn đời (1920) ; Về Sự ăn năn tội (1921)…

2. GM Giacôbê Huỳnh Văn Của (1915-1995).

- 1943-1958 Chánh sở họ Gia Định, kiêm nhiệm chương trình “Tiếng Nói Công Giáo” trên Đài Phát Thanh Sàigòn. Sau đó gặp khó khăn với chính quyền Sàigòn, cha sang Pháp, sống tại Trung Tâm Bác Ái (Foyer de Charité) ở Châteauneuf, một cộng đoàn chuyên lo tổ chức điều hành các cuộc tĩnh tâm.

- 1964-1965 Trở về Việt Nam làm cha sở Tha La.

- 1966 Giáo phận Phú Cường thành lập với Giám Mục Phạm Văn Thiên, cha HV Của làm Tổng Đại diện giáo phận, kiêm chánh sở họ Búng, rồi Lái Thiêu.

- 1968-1978 Thành lập và điều hành Trung Tâm Bác Ái Lái Thiêu.

- 1976 Được bổ nhiệm làm giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Phú Cường.

- 1978 Sang Pháp chữa bệnh suy tim.

- 1982 Đệ đơn từ chức.

- 1995 Qua đời, an táng tại nghĩa trang giáo sĩ, giáo phận Nice, Pháp.

3. GM Giuse Nguyễn Tấn Tước, sinh năm 1958.

- 1991 Thụ phong linh mục, phụ tá giáo xứ Tha La.

- 1995 Chánh sở họ đạo Tha La.

- 1999 Tu học ở Pháp, Institut Catholique de Paris.

- 2006 Về Việt Nam đặc trách ơn gọi linh mục giáo phận Phú Cường.

- 2011 Thụ phong giám mục, Giám mục phó giáo phận Phú Cường.

- 2012 Giám mục giáo phận Phú Cường.

Đó là trên bình diện tôn giáo.

Còn đối với đất nước, đương nhiên cũng không thiếu những người con Xóm Đạo đi làm bổn phận công dân thời chinh chiến. Mới gần đây, do biến động thời sự, báo giới có dịp nhắc kể tỉ mỉ trận chiến chống Trung Cộng lấn chiếm lãnh hải Việt Nam, tưởng nhớ các anh hùng tử sĩ, nhiều nhất là ông Ngụy Văn Thà, sinh quán An Hòa Tha La, Trung Tá Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa, hạm trưởng chiến hạm Nhật Tảo, đã tử thương ngày 19-1-1974 trong nhiệm vụ bảo vệ quần đảo Trường Sa - Hoàng Sa.

Người trăm năm cũ

Nói về Tha La Xóm Đạo, thấy các bài viết ghi vắn tắt ông Côsimô Trí lánh nạn bắt đạo… kẻ hậu sinh băn khoăn muốn biết hoàn cảnh nào khiến những con người bó buộc phải rời sinh quán lưu lạc tới miền đất lạ hoang dã, vào thời mà phương tiện di chuyển hãy còn khó khăn ?

Xem lại tài liệu lịch sử : Đầu thế kỷ 16, thời Nam-Bắc phân tranh, các vua chúa Lê - Mạc, rồi Trịnh - Nguyễn đều cho phép mở cửa biển, đón các tàu buôn ngoại quốc vào giao thương. Bởi thế, có các giáo sĩ Tây phương vào Việt Nam giảng truyền đạo Thiên Chúa.

Từ đó về sau, các giáo sĩ cứ dần dần vào nước dạy đạo, mà người mình càng ngày càng theo đạo cũng nhiều. Nhưng vì nước ta từ xưa đến nay vẫn theo Nho giáo, lấy sự thờ cúng ông cha làm trọng, lấy sự tế tự thần thánh làm phải… Đột nhiên thấy nhiều người mình theo đạo Thiên Chúa, bỏ cả các thói cũ, chỉ chuyên về một mặt theo đạo mới, bởi vậy cho nên trong Nam ngoài Bắc, vua chúa đều cho ấy là một tả đạo, làm hủy hoại cả cái phong hóa của nước nhà xưa nay, bèn xuống chỉ cấm không cho người trong nước theo đạo nữa và đặt ra phép nghiêm để bắt tội những kẻ không tuân theo chỉ dụ ấy (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Liệu II, trang 99).

Liên tiếp, khởi từ Trịnh Nguyễn Phân tranh, rồi nhà Tây Sơn, và các vua nhà Nguyễn sau đó (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức) vẫn duy trì việc cấm đạo.

Trừ vua Gia Long, vì liên hệ ơn nghĩa với Giám Mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc), có thiện cảm với đạo Thiên Chúa, nên vua để yên cho đạo phát triển. Ban giấy phép cho giảng đạo nhưng không ban hành sắc dụ nào bãi bỏ việc cấm đạo.

Thời vua Minh Mạng 1820-1840, tình hình đất nước không yên ổn : biên giới giặc Xiêm quấy nhiễu, ngoài Bắc Lê Duy Lương khởi loạn ở Ninh Bình, Nông Văn Vân ở Tuyên Quang, Phan Bá Vành ở Nam Định ; trong Nam ở Gia Định Lê Văn Khôi (con nuôi Tả Quân Thượng Công Lê Văn Duyệt) dấy binh chống lại triều đình. Bị vây, Khôi cố thủ trong thành rồi bịnh chết, nhưng bè đảng vẫn tiếp tục chống cự, mãi hơn hai năm sau, 1835, binh triều mới dẹp tan, giết hết 1940 ngụy quân, chỉ đóng củi giải giao về Huế sáu người trong đó có giáo sĩ Pháp Marchand (Du) và đứa con bảy tuổi của Khôi. Cả sáu người nầy đều bị xử lăng trì.

Trường hợp cha Marchand Du là một nghi án. Theo ông Trần Trọng Kim, có người bảo cha muốn làm như GM Bá Đa Lộc, có người bảo cha bị bắt vào thành. Việc bàn đi bàn lại vẫn phân vân không rõ hẳn ra thế nào (Việt Nam Sử Lược II, trang 208). Còn theo LM Vũ Thành, cha Marchand Du đang ở Mặc Bắc, Vĩnh Long bị giặc Khôi cho người tìm xuống, áp lực mời về. Khôi muốn nhờ cha viết thư cầu cứu với người Anh, binh Xiêm, và kêu gọi giáo dân Đồng Nai đến giúp. Nhưng cha đều từ chối, chỉ muốn được về lo việc giảng đạo. (Thư cha Marchand Du gởi GM Jean Louis Taberd, lúc ấy đang ở bên Xiêm, ngày 24-9-1834 kể về tình cảnh bị bắt buộc ở chung với 4000 lính Bình Thuận làm phản triều đình. Dòng Máu Anh Hùng II, trang 76-77).

Vì thế ngày 27-1-1836, vua Minh Mạng ra sắc lệnh cấm đạo toàn diện và bế môn tỏa cảng, từ chối giao thương với các tàu buôn Pháp, Anh, Mỹ…

Lúc bấy giờ, không phải một mình vua ghét đạo mà thôi, phần nhiều những quan lại đều một ý cả, cho nên việc cấm đạo càng nghiệt thêm… Từ đó trở đi, trong Nam ngoài Bắc chỗ nào cũng có giặc giã nổi lên, vua ngờ dân bên đạo theo giúp quân giặc lại càng nghiệt hơn (Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược II, trang 227).

Việc cấm đạo và các hình phạt dành cho người theo đạo cũng tùy triều đại, vua chúa và tùy tình hình chính trị trong nước mà hòa hoãn, giảm nhẹ hay thẳng tay sát hại : từ hiểu dụ, ngăn cấm, phạt tiền, đóng gông, đánh khảo, giam tù, thích chữ vào mặt, phân sáp lưu đày… đến giết thả trôi sông, xử giảo, xử trảm, xử bá đao… Song hành ban thưởng tiền bạc, bổng lộc, phẩm chức cho những ai tố cáo, chỉ điểm bắt được người theo đạo, chứa chấp cũng bị vạ lây, quan chức biết mà không cáo thì bị giáng cấp, đổi nhiệm sở…

Người tín hữu Côsimô Nguyễn Hữu Trí sinh ra và lớn lên trong bối cảnh đó, nên mạo hiểm tìm đường lánh nạn, lần dò vào tận miền Nam trong lo âu, dè dặt. Tha La Xóm Đạo khai sinh trong gian truân bất trắc và người đầu đàn dầy công chịu đựng thử thách đã không yên hàng nhìn thấy Xóm Đạo vươn mình.






Bởi vì, năm 1859 khi hải quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, bắn phá và chiếm thành Gia Định thì triều đình lại ra sắc lệnh tháng 10/1859 bắt đạo nghiêm nhặt hơn nữa. Lần nầy nới rộng các thành phần bị bắt : “Những người ở trong hội đồng giáo xứ”. Do đó, ông Côsimô Trí bị bắt (cùng với Ô. Long, Ô. Thể…) và ông đã chết trong ngục. Hài cốt chôn ở nghĩa trang Xóm Đạo. Sau, phần mộ được cha sở Gioankim Nghị cải táng, di dời về trước núi Đức Mẹ nhà thờ Tha La. Tấm bia cũ ghi khắc :

CÔXIMÔ TRÍ

Hãn nằm đây
Công đức cao dày, bia tạc nay :
Sáng tạo Tha La đã rõ mặt
Quí quyền câu họ lãnh đầu tay
Ghe phen tù rạc vì danh Chúa
Nhiều nỗi khổ hình bởi đạo ngay
Tạ thế Canh Thân 1860,
Nơi khám thất
Anh em giáo hữu chớ quên người.

Anh em giáo hữu chớ quên người lời nhắn nhủ được người Xóm Đạo tuân hành. Hàng năm, giáo xứ Tha La làm lễ giổ cho ông Côsimô Trí vào đầu tháng 8, có con cháu ở các nơi về tham dự.

Ngày 4-8-2012, cha sở Petrus Thắm cùng các linh mục đã đồng tế trọng thể lễ giỗ tưởng nhớ ông Côsimô Trí và các người có công kiến thiết giáo xứ.

Gần đây trên mạng internet, thấy nói về Đêm Canh Thức nơi nghĩa trang Tha La, từ ban tối ngày 1-11 lễ Các Thánh Nam Nữ cho đến rạng sáng 2-11, người sống thắp nến cầu cho kẻ chết, kết thúc bằng một thánh lễ đồng tế vào lúc 4 giờ 30 sáng tại nhà thờ, để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên, họ hàng tộc hệ và các đằng linh hồn.

Không kể các tổ chức khuyến mại thông thường có tính cách thế tục bao quanh lễ hội, nghi thức cầu nguyện sinh động nầy biểu hiện tinh thần thông công giữa thế giới hữu hình và vô hình, một sắc thái truyền thống Ki-tô giáo đồng hành với văn hóa tín ngưỡng tôn kính tổ tiên, có lẽ trong chiều hướng để cho cõi lòng người công giáo Việt Nam mở rộng, hiệp thông với Thiên Chúa, với tổ tiên và đồng bào mọi giới (lời TGM Nguyễn Như Thể khai mạc Tuần lễ tọa đàm về vấn đề Tôn Kính Tổ Tiên tại Huế 29-10-1999).

Đời sau nhìn lại

Sử gia Trần Trọng Kim viết Bao giờ cũng vậy, hễ người ta đã sùng tín một tôn giáo nào thì tất cho cái tôn giáo của mình là hay hơn, và cho người theo tôn giáo khác là thù nghịch với mình, rồi hễ có quyền thế là làm thế nào cũng dùng cách mà hà hiếp người khác đạo với mình.

… Một ông vua nghiêm khắc như Thánh Tổ (vua Minh Mạng, TTMK) mà cấm không được, tất phải giết. Trong khi cấm và giết như vậy, vẫn cứ tưởng mình làm bổn phận làm vua, chớ có biết đâu mình làm sự thiệt hại cho dân cho nước. (Việt Nam Sử Lược II trang 186)

Tại sao người tín hữu Ki-tô bị đàn áp, bị cáo buộc không thờ kính tổ tiên khi mà giới răn thứ 4 ghi rõ nghĩa vụ hiếu đạo; và sách Tân Ước, Huấn Ca… đều nhắc nhở con cái cách hành xử với cha mẹ lúc còn sống cũng như đã qua đời ?

Được biết thuở ấy, giáo quyền Roma cũng rất phân vân trước 2 ý kiến :

- Một bên là các cha Dòng Tên (Jésuites) và Dòng Phanxicô với quan niệm tôn trọng truyền thống dân tộc khi đến truyền giáo tại Á Châu, nên cho rằng người Ki-tô giáo được dâng hương quả, tôn kính những người quá cố… (Vì các tu sĩ Dòng Tên trước khi đến Việt Nam đã truyền giáo tại Trung Hoa, nhận thức được ảnh hưởng sâu đậm của Nho giáo, việc thờ cúng tổ tiên thành nếp văn hóa đặc thù của dân bản xứ.)

- Một bên là các cha Đa Minh và các cha Thừa Sai Paris nói rằng điều nầy trái với giáo lý là chỉ tôn thờ một Thiên Chúa. Người Ki-tô giáo chỉ đọc kinh cầu nguyện cho người quá cố theo nghi thức phụng vụ được chỉ dẫn, không cúng cơm, đốt vàng mã… Có lẽ thời ấy việc hội nhập văn hóa vào đời sống đức tin chưa được chú trọng, mặc dù đã có huấn vụ nhắn nhủ của Bộ Truyền Giáo năm 1659 : “Tôn trọng tập tục cổ truyền của dân bản xứ”. (Xem trang 23, Thoáng Nhìn Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Trần Anh Dũng, 2009)

Cuộc tranh cãi đã khiến ĐGH Clément XIII đặc cử Khâm sứ Achards de la Baume đến Việt Nam xem xét. Nhưng Đức Cha Maignot, đại diện Tông Tòa tại Phúc Kiến (Trung Hoa) lại quả quyết rằng vị đặc sứ được phái đến không thể nào hiểu rõ bằng ngài là người đang sống tại chỗ. Ngài yêu cầu giáo quyền Roma ngăn cấm tục thờ người chết, lễ nghi tôn kính gia tiên. Đức Giáo Hoàng chuẩn y lời xin và cấm không cho các cha Dòng Tên truyền giáo tại Á Châu nữa. Bấy giờ là năm 1715. Đó là một thử thách cho người Công giáo Việt Nam, cho Dòng Tên và có lẽ cũng cho Giáo triều La Mã thời ấy.

Nhưng, như thời gian tuần tự tiến tới, sự việc không ngừng lại ở đó. Hơn 200 năm sau, ĐGH Piô XII mới công bố Tông Thư 8-2-1939 ghi rõ người tín hữu Ki-tô có thể thực hành nghi thức lễ giỗ, bái kính tổ tiên, các anh hùng dân tộc… (Trước Cộng Đồng Vatican II 1962-1965)

Năm 1883, vua Tự Đức băng hà.

Năm 1885, quyền thần Tôn Thất Thuyết đề xướng phong trào Văn Thân. Ông chủ trương trước khi chống Pháp thì phải ra tay giết đạo, vì đoan quyết người bên đạo là nội công của Pháp. Với khẩu hiệu “Bình Tây Sát Tả” ông cho lệnh lập ra một đoàn lính mới gọi là lính đoạn kết, chỉ chuyên mỗi một việc tróc nã và giết hại người bên đạo (Đào Trinh Nhất, Phan Đình Phùng, trang 44). 60 000 người đã bị bách hại vì chiến dịch nầy.

Bên giết, bên tự vệ lần hồi trở thành cuộc chiến lương-giáo tương tàn, mà theo ông Trương Vĩnh Ký, có lúc đôi bên đều hành xử quá khích (Phúc trình gởi Thống đốc Duperré 28-4-1876).

Ông Phan Đình Phùng (1847-1895), sau một thời bất đắc dĩ qui ẩn ở Châu Giang - Mặc Lĩnh, ông vâng lệnh triều đình phất cờ “Bình Tây Sát Tả”. Nhưng rồi ông suy nghĩ lại. Bởi các ông Văn Thân lầm tưởng phàm những người theo đạo Thiên Chúa đều là nội công của người Pháp và đạo Thiên Chúa là Tả đạo (Đ.T. Nhất, Phan Đình Phùng, trang 19), nên khi đóng quân ở núi Vụ Quang, ông ra hiểu dụ Lương dân hay giáo dân đều là xích tử của triều đình, chớ nên vì lẽ gì mà hại lẫn nhau. Ông đề ra khẩu hiệu “Lương-Giáo Thông Hành”.

Khi nghe cáo buộc giáo dân là nội công của Pháp, ông nhận xét Ấy là tại nước mình yếu hèn, không có nhân tài, không có tàu bền, súng lớn, quân mạnh, tướng giỏi, chớ lỗi chi ở giáo dân. Chồn mượn oai hùm, dê đeo da cọp, ấy là thường tình của con người ta, có chi làm lạ. Xứ nào mà không có hạng người hèn ấy. Ông không “vơ đủa cả nắm”.

Thời đó, đạo Thiên Chúa bị xem là tả đạo. Ông P. Đ. Phùng nói Đạo Thiên Chúa lấy Gia-Tô làm Trời, cũng như Thích Ca Mâu Ni là Trời của đạo Phật hay Khổng Phu Tử là Trời của nhà Nho. Hễ ai đã tín ngưỡng điều gì thì điều ấy là Trời của mình. Mình muốn người ta đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của mình thì mình cũng đừng xâm phạm đến sự tín ngưỡng của người ta. Thiên Chúa cũng là một thứ tôn giáo, mặc ai tin thì theo. (Đ.T. Nhất, Phan Đình Phùng, trang 20).

Ông đã ý thức điều mà ngày nay gọi là tự do tín ngưỡng. Con người thẳng thắn nầy được dân gian và tác giả Đào Trinh Nhất tôn gọi “Ông nghè yêu nước”.

Trăm năm sau nhìn lại, những sai sót bởi thân phận làm người như là một hệ lụy của hoàn cảnh lịch sử chính trị lúc ấy.

- Tiếc di ngôn của người khai sinh nhà Nguyễn chẳng được quan tâm Đạo Thiên Chúa, đạo Nho, đạo Phật… đều tốt cả. Không được bách hại đạo nào vì sẽ gây ra các vụ rối loạn trong nước, có khi làm mất nước nữa. (Di chúc Vua Gia Long, điều khoản 36, Dòng Máu Anh Hùng II, Vũ Thành, trang 13.)

- Thương cho quê hương một thời dậy sóng.

- Nhớ người tín hữu tiền bối Côsimô Trí tử vì đạo ở Tha La như 130 000 người đã chết thảm thương trên khắp ba miền đất nước.

Tạ Thanh Minh-Khánh. (2012)
Trích từ sách “Ngàn Năm Hiển Hiện”

** Lăng Cha Cả : Mộ phần của GM Pigneau de Béhaine và của một số giáo sĩ ở Ngã Tư Bảy Hiền, gần phi trường Tân Sơn Nhất. Sau năm 1975, tất cả hài cốt phải di dời, hiện để dưới hầm nhà nguyện của Hội Thừa Sai Paris (M.E.P.).

Tài liệu tham khảo :
- Việt Nam Sử lược, Trần Trọng Kim, Institut de l’Asie du Sud-Est I.D.A.S.E. tái bản tại Paris..

- Việt Nam Chí Sĩ : Phan Đình Phùng, 10 Năm kháng chiến ở Nghệ Tĩnh, Đào Trinh Nhất, Institut de l’Asie du Sud-Est, 1990.

- Dòng Máu Anh Hùng, Vũ Thành, Phong Trào Thanh Sinh Công tại Hoa Kỳ xuất bản, 1987.

- Đặc San Hậu Nghĩa Hoa Kỳ, xuân 2008, tác giả Sầm Tấn Phước.

Chủ Đề Người Lính VNCH :ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN ANH HÙNG VỊ QUỐC VONG THÂN.

Về tấm hình: “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị xử bắn”





Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
Như mọi người đã biết: Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt Cộng xử bắn, là hoàn toàn có thật. Thế nhưng, cách đây khoảng hơn hai năm, một số người đã đưa lên các diễn đàn một tấm hình, mà được cho là tấm hình của “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn bị Việt cộng xử bắn tại Cần Thơ”. Và gần đây nhất, trong những ngày trước và sau Tết Quý Tỵ, 2013, thì tấm hình này lại tái xuất hiện trên các diễn đàn một cách thường xuyên nhất. Riêng người viết, thì cứ thường xuyên nhận được tấm hình này, với những dòng xác định là “Việt cộng xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”.
Chính vì vậy, nên người viết tự thấy cần phải phân tích cho rõ ràng về tấm hình ấy như sau:
Trước hết, không phải bây giờ, mà cách đây hơn hai năm, khi nhận được tấm hình này, thì người viết đã thấy ngay, đây không phải là hình thật. Vì thế, nên người viết phải tìm cho ra xuất xứ của tấm hình, song vẫn không lên tiếng. Nhưng cho đến hôm nay, thì tấm hình này đã được nhiều người cứ thường xuyên gửi lên các diễn đàn và gửi đến cả người viết nữa.
Và đây là những sự thật, cần phải phân tích cho rõ:
Tấm hình này, vốn xuất xứ từ một cuốn phim, mà người viết đính kèm theo bài này, để chứng minh cho những điều ấy:
1- Đạo diễn của cuốn phim này đã vô trách nhiệm khi dàn dựng một cuộc “xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn tại sân vận động Cần Thơ” không trung thực. Bởi trong tấm hình, có hai người, được cho là “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” và “tên Việt cộng đang xử tử Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”.
Như mọi người đều biết, trước khi muốn làm sống lại những biến cố lịch sử thành một cuốn phim về những sự kiện có thật, của một trang lịch sử nào đó, thì trước hết, người đạo diễn phải nghiên cứu và sưu tầm cho thấu đáo về những sự kiện lịch sử ấy, trước khi quay thành phim, để mãi cho đến ngàn sau, các thế hệ trẻ sẽ còn biết đến một trang sử bi thương, mà tiền nhân của chúng ta đã đem cả sinh mạng của chính mình, để làm nên lịch sử, hoặc đã viết lên bằng máu và nước mắt!
2- Trong tấm hình, người ta thấy “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” vào thời điểm ngày 14/8/1975, là ngày bị Việt cộng xử bắn. Nghĩa là kể từ 30/4/1975, thì Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã bị Việt cộng giam cầm ba tháng mười bốn ngày. Thế nhưng, nhìn trong hình “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” vẫn khỏe mạnh, trên khuôn mặt không hề có dấu vết bị hành hạ tù đày, và hoàn toàn không giống với những tấm hình thật của Đại tá Hồ Ngọc Cẩn hiện có rất nhiều trên hệ thống Internet, lại thêm trong cuốn phim ấy, chiếc bảng tên trên túi áo của cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, thì chữ Cẩn đã bị đảo ngược.
3- Về trang phục, trong tấm hình “Đại tá Hồ Ngọc Cẩn” đang mặc chiếc áo mầu đen, cổ kiềng, hơi giống như những đồng phục của các chiến sĩ Xây Dựng Nông Thôn, chứ không phải là áo của tù binh, vì vào thời điểm tháng 8 năm 1975, Việt cộng chưa có phát áo tù cho các vị tù binh.
4- Về một người đã được cho là một tên Việt cộng đang “xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”, thì mặc áo bà ba đen, cổ quấn khăn rằn. Những hình ảnh này, thì ngày xưa, vào một thời chiến chinh khốc liệt, ở những vùng địa đầu giới tuyến, các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã từng đối đầu với những “du kích quân” ở những nơi biên phòng, núi rừng hẻo lánh, và ngay cả người viết đã thường thấy vào những năm trước ngày 30/4/1975, đó là hình ảnh của những du kích Việt cộng tại những nơi bưng biền, những vùng mất an ninh, hoặc đã do Việt cộng hoàn toàn kiểm soát. Còn sau khi cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa rồi, thì tất cả những du kích Việt cộng đã hoàn toàn rũ bỏ hết những chiếc khăn rằn trên cổ; chúng đã trở thành các cán bộ hay công an xã thôn. Vì thế, nên chắc chắn kẻ xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn không bao giờ là một tên du kích cổ quấn khăn rằn. Chẳng những vậy, mà trên tay của tên du kích Việt cộng còn cầm loại súng Colt 45 để xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn nữa!
Xin mọi người hãy đọc lại bài: “Vinh danh Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn” của tác giả Phạm Phong Dinh, để trả lại sự thật oai hùng, và tấm gương quả cảm của vị Anh Hùng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Và, cũng để thấy rõ sự đê hèn, man rợ, đầy thú tính của lũ CSVN. Và, cuối cùng, đừng vì vô tình mà để cho các “nhà đạo diễn, soạn kịch, đóng phim” vô lương tâm, thiếu trách nhiệm dẫn dắt chúng ta đi vào “mê lộ”!

(trích đoạn bài: Vinh danh Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn của tác giả Phạm Phong Dinh)
...
Một nhân chứng đứng ở hàng đầu dân chúng kể lại rằng, trong những giây phút cuối cùng, Đại Tá Cẩn đã dõng dạc hét lớn: “Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm! Đả Đảo Cộng Sản”! Năm sáu tên bộ đội nhào vào tấn công như lũ lang sói, chúng la hét man rợ và đánh đấm người anh hùng sa cơ tàn nhẫn.
Người phụ nữ nhân chứng nước mắt ràn rụa, bà nhắm nghiền mắt lại không dám nhìn. Bà nghe trong cõi âm thanh rừng rú có nhiều tiếng súng nổ chát chúa. Khi bà mở mắt ra thì thấy nhiều tên Việt Cộng quây quanh thi thể của Đại Tá Cẩn và khiêng đem đi.”
(hết trích)
Về cuốn phim “Việt cộng xử bắn Đại tá Hồ Ngọc Cẩn”, hiện đã do Minh Tân giới thiệu trên internet có giá bán hẳn hoi, với một khuôn mặt rất dễ nhận ra là ca sĩ Mỹ Huyền, còn lại gồm những diễn viên khác như sau:
Cp Rn Chương Thin
CODE: vnm01990
Price: $9.99
Dien Vien (Actors)
Role
Tran Hung
Dai Ta Ho Ngoc Can
My Huyen
Tu Khiet
Vu Thai Binh
Sau Dom
Dai Trang
Ba Ho Ngoc Can
Vu Manh Don
Thieu Tuong Nguyen Khoa Nam
Tram Anh
Chi Vu Tam
Le Huynh
Gac Nguc
Huynh Long Giang
Thieu Ta Thoi
Randy
Dai Uy Biet
To Uyen
Tam Kiem
Hong Nhan
Tai Xe Manh
Hoang Dao
Thieu Uy Binh
John Nguyen
Hai Thanh
George Nguyen
Be Nguyen
Tạm kết:
Tất cả những biến cố của lịch sử không phải chỉ dành riêng cho một người nào được viết, mà tất cả mọi người Việt Nam đều có quyền viết, cũng như có quyền tái dựng thành những cuốn phim, viết bằng những bản nhạc - kịch... ; nhưng cần phải làm như thế nào, để thuyết phục được mọi người. Kịch bản phải trung thực và gần gũi với những sự kiện lịch sử đã xảy ra. Nếu là phim, thì phải nói là phim, chứ không được chú thích đó là nhân vật thật. Người Quốc Gia phải khác hẳn với Cộng sản, vì lương tâm của một người Việt Quốc Gia yêu nước chân chính, không bao giờ cho phép mình được đem những sự chân giả để chắp nối, lắp ghép lẫn lộn chung vào, để khiến cho người đời không biết đâu là giả, đâu là thật.
Xin mọi người, ở thế hệ của chúng ta. Đặc biệt là giới trẻ và lớp hậu sinh, cần phải ghi nhớ và phải phân biệt hai tấm hình của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn rằng:
Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn, người đã bị Việt cộng xử bắn vào ngày 14/8/1975, với nhiều tấm hình thật hiện đang có trên hệ thống Internet, chứ không phải là tấm hình do một đạo diễn vô trách nhiệm, đã dàn dựng thành phim.
Xin các thế hệ sau này, dù là bao nhiêu năm nữa, cũng đừng đem tấm hình của cuốn phim này mà đặt lên các bàn thờ, ở những chỗ trang trọng của các vị Anh Hùng Dân Tộc. Vì như thế, là phải tôn thờ hai diễn viên của cuốn phim ấy, chứ không phải là chân dung của cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn!
Paris, 24/2/2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền
--------------------------------------------------------------------------------------
Images intégrées 1

Images intégrées 2


-------------------------------------------------------------------------
[BTGVQHVN-2] Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH: Hồ Ngọc Cẩn
Objet : Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH: Hồ Ngọc Cẩn
Tấm hình VC xử bắn Đại Tá QLVNCH:
Hồ Ngọc Cẩn
Nếu hình này được tụi báo ở tây phương tung ra như chúng đã từng tung hình tướng Loan bắn tên cs năm nào thì chắc có nhiều chuyện hay để bàn.
Xem xong xin phổ biến rộng rãi. Cám ơn các bạn.
HỒ NGỌC CẨN
LÀ VỊ ĐẠI TÁ ANH HÙNG CỦA QLVNCH.
image

"Nhân danh lòng yêu nước, nhân danh lý tưởng công bằng xã hội... một người yêu nước Việt Nam lại đi bắn giết một người khác cũng yêu nuớc Việt Nam, mà nói rằng mình tranh đấu cho Tổ Quốc Việt Nam?…"
Lời nói cuối cùng cũa Đại tá VNCH Hồ Ngọc Cẩn trước khi bị Cộng Sản hành hình:
"Nếu tôi thắng trong cuộc chiến, tôi sẽ không kết án các anh như các anh kết án tôi.
Tôi cũng không làm nhục các anh như các anh làm nhục tôi.
Tôi cũng không hỏi các anh câu mà các anh hỏi tôi.
Tôi chiến đấu cho tự do của người dân.
Tôi có công mà không có tội.
Không ai có quyền kết tội tôi.
Lịch sử sẽ phê phán các anh là giặc đỏ hay tôi là ngụy.
Các anh muốn giết tôi, cứ giết đi. Xin đừng bịt mắt.
Đả đảo Cộng Sản.
Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm".

Chủ Đề Người Lính VNCH :Mũ Xanh TÔN THẤT SOẠN

Chiến Dịch Sóng Tình Thương 1963
Mũ Xanh TÔN THẤT SOẠN

I- Tổng Quát:
Đại Tá Tôn Thất Soạn (SaiGon) Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà (HQVNCH) đã tổ chức một cuộc hành quân tại miền cực Nam của dất nước, vùng Năm Căn thuộc tỉnh Cà Mâu; được đặt tên là Chiến Dịch Sóng Tình Thương Mục đích tái chiếm và bình định khu vực Năm Căn. Do Đại Tá Hải Quân Hồ Tấn Quyền Tư lệnh Hải Quân chỉ huy tổng quát ( TLHQ)
Cuộc hành quân được khai diễn vào ngày 3 tháng 1 năm 1963, trùng hợp với ngày sinh nhật Tổng Thống Ngô Đình Diệm (3-1-1901)

Một lực lượng Hải Quân hùng hậu nhất thời bấy giờ, ngoài các chiến hạm đủ loại tham dự, còn có thêm các Duyên Đoàn và Giang Đoàn Xung Phong và đặc biệt toán người nhái tháo gỡ chất nổ vừa được xử dụng lần đầu tiên trong chiến sử Hải quân Việt Nam.

Lực lượng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) đổ bộ gồm có Tiểu Đoàn 2 (TĐ2) Tiểu Đoàn 4 (TĐ4) Đại Đội Công binh (ĐĐCB) Pháo Đội A 75 ly Sơn pháo (PĐA-75 SP) và Bộ chỉ huy Liên Đoàn ( BCH/LĐ) do Trung Tá Lê Nguyên Khang, Chỉ huy trưởng Liên Đoàn (CHT/LĐ) TQLC chỉ huy trưc tiế
p

II- Thành phần tham dự:
1- Hải Quân:
1 Dương vận hạm (Landing, Ship, Tank) LST
4 Hải vận hạm (Landing, Ship, Medium) LSM
2 Giang pháo hạm (Landing, Ship, Infantry, Large) LSIL
1 Trợ chiến (Landing, Ship, Support, Large) LSSL
1 Giang đoàn xung phong (GĐXP)
2 Duyên Đoàn (DĐ)

2- Thủy Quân Lục Chiến:
Tổ chức lực lượng đổ bộ TQLC gồm:
A-Bộ chỉ huy Liên Đoàn (BCH/LĐ)
Chỉ Huy Trưởng: Trung Tá Lê Nguyên Khang (Khoá 1 Nam Định)
Chỉ huy Phó kiêm Tham Mưu Trưởng (CHP/TMT) Thiếu Tá Nguyễn Bá Liên (Khoá 3 phụ Trừ Bị Đàlạt)
Bộ Tham mưu LĐ với đầy đủ các Phòng, Ban v.v..

B-Tiểu Đoàn 2
Tiểu Đoàn Trưởng (TĐT) Đại Úy Nguyễn Thành Yên (Khoá 6 Đàlạt)
Tiểu Đoàn Phó/ĐĐT1 (TĐP) Đại Úy Cổ Tấn Tinh Châu (Khoá 5 Thủ Đức)
ĐĐT/ ĐĐ2 Đại Úy Nguyễn Văn Hay (Hai Chùa)
ĐĐT/ĐĐ3 Trung Úy Nguyễn Năng Bảo (Sĩ Quan Nam Định)
ĐĐT/ĐĐ4 Đại Úy Hoàng Văn Nam (Khoá 3 FACS Đàlạt)
Trưởng Ban 3 Trung Úy Ngô Văn Định (Khoá 4 phụ Trừ bị Đàlạt)

C-Tiểu Đoàn 4
Tiểu Đoàn Trưởng: Đại Úy Bùi Thế Lân (Khoá 4 Thủ Đức)
Tiểu Đoàn Phó/ĐĐT/4 Đại Úy: Tôn Thất Soạn (Khoá 4 Thủ Đức)
Đại Đội Trưởng ĐĐ1: Trung Úy Nguyễn Thành Trí (Khoá 5 Thủ Đức)
Đại Đội Trưởng ĐĐ2: Trung Úy Trần Văn Hoán (Khoá 13 Đà Lạt)
Đại Đội Trưởng ĐĐ3: Trung Úy Trương Văn Nhất (Khoá 3 FACS Đà Lạt)
Trưởng ban 3: Trung Úy Nguyễn Văn Ánh (Khoá 14 Đà Lạt)

D-Pháo Đội A –75 ly Sơn pháo
Pháo Đội Trưởng: Trung Úy Đoàn Trọng Cảo (Khóa 13 Đà Lạt)

E- Đại Đội Công Binh:
Đại Đội Trưởng: Trung Úy Bùi Văn Phẩm (Khóa 4 phụ Trừ Bị Đà Lạt)
Đại Đội Phó: Thiếu Úy Cao Văn Tâm (Khóa 12 Thủ Đức)

III- Quan niệm Hành Quân
1- Giai Đoạn I: (Khoảng 1 tháng)
Lực lượng TQLC đổ bộ từ mỏm Cà Mâu ( Xóm Mới ) hành quân truy lùng và tiêu diệt Địch tại phía Nam sông Cửa Lớn. Sau đó các Chiến hạm và Hải Đoàn cùng TQLC vào tái chiếm Năm Căn. Một Hải Đoàn khai thông thủy lộ từ Đầm Dơi xuống Năm Căn.
2- Giai Đọan II – (Khoảng 1 tháng)
Xây dựng căn cứ Năm Căn.Tái lập Quận Năm Căn.
Hành quân mở rộng vùng bình định.
Công tác bình định trong giai đoạn này do lực lượng lãnh thổ đảm trách. Hải quân do Thiếu Tá Hải Quân Nghiêm Văn Phú chỉ huy, yểm trợ an ninh thửy trình.

IV- Diễn Tiến Hành Quân
1- Ngày N (3-1-63)
A.Tiểu Đoàn 2 TQLC.
Được chuyển vận trên LSM, HQ-402 Lâm Giang do HQ Đại Úy Dung làm Hạm trưởng, cùng đoàn giang đĩnh hộ tống. Di chuyển trên sông Bảy Hạp từ Tỉnh lỵ Cà Mâu hướng về Năm Căn. TĐ2 sẽ đổ bộ lên bãi Charlie lúc giờ G: 6 giờ 30 sáng, bên bờ sông Năm Căn, sau đó tiến quân về phía Nam, gần mũi Cà Mâu.
LSM HQ-404 chạy sau cách 300 mét chuyên chở Bộ Tham Mưu Hành quân (BTM.HQ) do Thiếu Tá Hải Quân Đinh Mạnh Hùng đảm trách và BCH/LĐ/TQLC, PĐA-75 SP/TQLC, Đại Đội Công Binh/TQLC sẽ đổ bộ lên bờ, sau khi TĐ2 đã thiết lập xong đầu cầu, bảo vệ an ninh sâu trong đất liền.
Đằng sau HQ-404 là Hộ tống hạm (Patrol Craft) PC-HQ-04 và LSSL HQ-226 Linh Kiếm, di chuyển với tốc độ chậm để bảo vệ đoàn “Công Voa” với hỏa lực của các dàn hải pháo 76 ly, 40 ly và đại liên 12 ly 7 rất mãnh liệt và hữu hiệu
Cảnh vật vẫn còn ngủ say trên giòng sông rộng. Hai bên bờ sông, rừng Dừa nước lờ mờ trong bóng đêm. Trời còn tối mò, chưa bừng sáng. Trên bong tàu HQ-402, các thủy thủ trực phiên vẫn phải đứng quan sát cẩn thận phiá đằng trước mũi tàu, chú ý đến các “hàng đáy cá” giăng ngang trên mặt sông để báo cho hoa tiêu biết mà lách tránh, để chiến hạm khỏi bị lưới đáy làm vướng vào chân vịt hay bánh lái tàu…. mặc dù các giang đĩnh mở đường đã dẹp đi nhiều hàng đáy ( rớ cá ) rồi.
Trong lúc này một Duyên Đoàn đang tiến chiếm vị trí làm “ nút chặn” phiá Nam của bãi đổ bộ Charlie, sau đó bố trí và chờ lệnh.

Trời bắt đầu sáng dần, trên con sông rộng nước chảy xuôi giòng ra phía mũi Cà Mâu, vùng tận cùng của quê hương Việt Nam. Từng đám lục bình trôi ra biển, bao quanh vịnh Hà Tiên, quần đảo Phú Quốc.
Giờ tác xạ dọn bãi đổ bộ đã đến, những tràng Đại liên 50 ly, trung liên BAR, tiểu liên, súng phóng lựu trên các giang đĩnh đồng lọat nổ súng. Tiếng nổ chát chúa làm đàn chim giật mình bay vượt lên trên nền trời.

Trong loa máy truyền tin trên một giang đĩnh tiến sát bãi Charlie, có tiếng báo cáo về Bộ Chỉ Huy Hành Quân xen lẫn tiếng súng nổ rền vang “ Bên phải, bên phải… việt cộng ( VC ) đang chạy, 5 tên có thằng cầm tiểu liên… rồi, rồi..trúng rồi… 3 tên …”

HQ-402Đằng sau xa, ẩn hiện các chiến đĩnh rẽ nước chạy lên xuống để bảo vệ các chiến hạm lớn.

Đại úy HQ Vương tham mưu phó hành quân( TMP/HQ ), sau khi cho lệnh các giang đĩnh rời vùng tác xạ ở bãi Charlie, di chuyển về phía Nam tránh đường cho HQ-402 tiến vào vùng đổ bộ Charlie. Các khẩu đại bác 40 ly và các loại hỏa lực trên bong tàu HQ-402 bắt đầu tác xạ tự do để dọn bãi cho TĐ2 TQLC đổ bộ lên bãi Charlie.
Bùn đất cây cối gẫy đổ văng lên tung tóe, các công sự làm bằng bùn đất, cây gỗ tràm sơ sài của địch bị sụp đổ dưới hỏa lực dữ dội của các đại bác hải pháo, một vùng rộng lớn từ bờ sông vào đất liền khoảng 300 mét..

Đúng 6 giờ 30 sáng tại bãi Charlie, lúc HQ-402 vừa “ Há miệng” hạ sàn cửa chiến hạm, các Cọp Biển đã lội xuống nước cạn, tấn chiếm bãi đổ bộ. TĐ2 tiến sâu vào bên trong các rặng dừa nước, dàn rộng bảo vệ an toàn đầu cầu. Du kích VC chỉ bắn lẻ tẻ và bắt đầu “ Chém vè “ bỏ chạy vào rừng Đước bạt ngàn.
TĐ2 rời vùng Charlie, bắt đầu lục soát tiến quân về hướng Nam theo kế hoạch hành quân

HQ-404Thành phần HQ và TQLC còn lại trên HQ-404 lần lượt đổ quân lên bãi Charlie để bắt đầu thiết lập vị trí cho Bộ tham mưu hành quân phối hợp chỉ huy cũng như cho PĐA-75 SP/TQLC sắp đặt vị trí súng sẵn sàng yểm trợ hỏa lực pháo binh cho các đơn vị TQLC.

Khoảng 9 giờ sáng, khi cánh A của TĐ2 vừa chiếm xong mục tiêu (MT) đầu tiên phía Nam Charlie khoảng một cây số thì Việt công ( VC ) bắt đầu dàn chào bằng một loạt súng cối 60 ly, hầu hết đều rớt xuống xình lầy, rừng đước, không gây thiệt hại gì cho quân bạn. Có 1 qủa chỉ nổ cách Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn 2 ( BCH/TĐ2 ) khoảng vài mét, trong đó Đại úy Yên TĐT, Đại úy cố vấn USMC Richard B. Taylor, Trung Úy Ngô Văn Định TB3 may mắn là không ai bị thương tích gì.
Các cánh quân TĐ2, tiếp tục tiến quân lục soát chậm vì dịa thế sình lầy. Di chuyển theo những bờ đất ngăn nước mặn, hoặc đôi khi binh sĩ phải nối đuôi nhau đi trên những cầu khỉ làm bằng thân từng cây tràm cột qua các thân cây đước mọc trong rừng đước. Phía dưới mặt đất là ngập nước sình lầy không lội bộ được.
Đến trưa tạm dừng quân nghỉ để ăn cơm” Ông Già Đầu Bạc” (Đại Úy Yên)
lại ngồi trên một qủa mìn, được che đậy bằng rơm rạ và lá cây khô trên mặt. May mà loại mìn nội hóa khó kích nổ, được khám phá kịp thời.

Các cánh quân chỉ chạm súng lẻ tẻ với du kích Việt công . TĐ2 tịch thâu vài khẩu súng trường nội hóa và súng “ Ngựa trời” loại Bazoka nội hóa ( Hình dáng như con ngựa trời ) cùng mìn bẫy và lựu đạn, trong các chòi lá giữa rừng đước TĐ2 bắt được 5 thanh niên tình nghi trốn giữa rừng.

B- Pháo đội A-75 ly Sơn pháo/TQLC.

Tiền thân của Pháo đội A –75 ly SP/TQLC là Đại Đội trọng pháo 106 ly được thành lập đầu tiên năm 1955 tại hãng phân Mỹ Tho. Để đáp ứng nhu cầu yểm trợ chiến trường miền Nam Việt Nam, loại chiến cụ mới Sơn pháo 75 ly nòng ngắn được thay thế Trọng Pháo 106 ly trong năm 1956.

Sau khi tái thành lập và huấn luyện thành thục, ngày 23 tháng 12 năm 61, một Trung đội của Pháo đội A –75 ly SP đã xuất quân tham dự cuộc hành quân với TĐ1 /TQLC ở Rừng Sát, Quận Quảng Xuyên. Cuối năm 62 một Trung đội khác của pháo độ A-75 ly đã tham dự cuộc hành quân Sơn Dương 2, yểm trợ hỏa lực cho TĐ4/TQLC ở mật khu Lê Hồng Phong tỉnh Phan thiết.

Trong cuộc hành quân chiến dịch Sóng Tình Thương này, đây là lần đầu tiên toàn bộ Pháo đội A -75 ly SP tham dự hành quân yểm trợ hỏa lực cho các Tiểu Đoàn TQLC.

Với địa thế sình lầy ở bãi Charlie, phương tiện eo hẹp, mọi công tác đều dùng sức người, nhân viên Pháo đội thật là vất khi đã ổn định xong các khẩu súng đại bác vào vị trí dể sẵn sàng yểm trợ hỏa lực

C- Đại đội Công binh TQLC.

Đây là lầ đầu tiên ĐĐCB/TQLC xuất quân tham dự hành quân với lực lượng đổ bộ TQLC. Mục đích việc xử dụng Công binh trong chiến dịch này là để thiết lập một doanh trại dồn trú cho đơn vị Địa phương quân (ĐPQ), cách phía Nam quận lỵ Nam Căn, dự trù tái chiếm và thiết lập qua giai đoạn II doanh trại này dự trù thiết lập cách Quận lỵ 1 cây số. “ĐĐCB/TQLC được tăng cường một lực lượng lao công tù Côn Sơn trong công tác tham gia xây dựng doanh trại.”


Tuy nhiên qua mấy ngày sau, Trung Úy Phẩm ĐĐT, Đại Úy John (Cố vấn Công binh, USMC) và Thiếu Úy Tâm ĐĐP, đi thám sát địa điểm dự trù thành lập doanh trại, thì nhận thấy khó mà thực hiện được. Khu đất trống, bằng phẳng tương đối khô ráo. Hai mặt có sông rạch, hai mặt kia là rừng đước, cách một khoảng trống 200 mét. Dưới đáy khoảng đất này vẫn còn là sình lầy lỏng bỏng, không thể xây cất trụ móng vững trải được. Kế hoạch xây dựng được hoãn lại và chờ giới chức có thẩm quyền lựa chọn địa điểm khác..

Qua những ngày đầu lục soát và truy lùng địch, các đơn vị TQLC tiếp tục hoạt động trong khu vực ấn định. ĐĐCB đóng quân bên cạnh BCH/TĐ2 tại Vàm Tân Ân. Có một ngày khoảng 11 giờ trưa, VC pháo kích một loạt đạn súng cối 81 ly vào khu vực lều trại của TQLC. Bên ngoài cửa lều vải khoảng hơn hai thước là bức tường gạch thấp chấn ngang. Thiếu Úy Tâm vừa kịp đội nón sắt và đeo súng Colt 45 ly, chạy tới cửa lều thì một trái đạn rớt nổ, ngay phía bên kia bức tường. Bức tường gạch rung rinh nhưng chưa đổ. Vì sức ép chất nổ và phản ứng tự nhiên, Thiếu Úy Tâm lùi lại và xông ra cửa lều đầu kia. Vừa ra khỏi lều vài thước, trái đạn kế tiếp rớt nổ dưới sát dưới bờ sông, cách người vài thước. Trái đạn ghim sâu dưới bùn sình, nên khi nổ mảnh đạn không văng ngang trúng người. Chỉ có sình bùn tung cao bổng lên, rồi rào rào rớt xuống mặt nước đằng trước. May mắn sau loạt pháo kích của VC này, quân bạn không bị thiêt hại gì.

2- Ngày N+1: (4-1-63)

Tiểu Đoàn 4/TQLC được chuyển vận trên Dương Vận Hạm (Landing,Ship,Tank) LST-HQ-500 Cam Ranh, sẽ ủi bãi vào phía Đông của mũi Cà Mâu về phía biển Nam Hải. TĐ4 sẽ đổ bộ lúc 7 giờ sáng dưới sự yểm trợ hỏa lực của Giang Đoàn xung phong (GĐXP). Giang đoàn này đang làm “nút chặn” tại phía trong song gần mũi Cà Mâu, gồm các chiến đĩnh Monitor trang bị dại bác 40 ly. LCVP cải tiến (Landing, Craft, Vehicle and Personnel ) còn gọi là Tiểu vận đĩnh với các dàn súng 20 ly không giật ( KZ )

TQLC Loi SongTrước giờ G một toán người nhái Hải Quân, bí mật xâm nhập vào bờ biển, thám sát và đặt mìn phá hoại các cơ sở, hoặc công sự chiến đấu nếu có của địch trong vùng dổ bộ.
Sau khi đổ bộ hoàn tất, TĐ4/TQLC di chuyển lục soát lên hướng Bắc, trong thế gọng kìm với TĐ2/TQLC, dồn dịch xuống từ Năm Căn. TĐ4 chỉ chạm súng lẻ tẻ với du kích VC, trong địa thế sình lầy rậm rạp dừa nước. Khí hậu oi bức và ẩm ướt của vùng cực Nam châu thổ sông Cửu Long. Nơi đây nổi tiếng loài muỗi rừng dộc hại sinh sản quanh năm. Buổi chiều cùng ngày, TĐ4 dừng quân lục soát các mục tiêu ( MT ) và nghỉ đêm. Đồng thời TĐ4 đã phát giác và phá hủy một trạm Công binh xưởng chế tạo mìn bẫy nội hóa của VC.

Những ngày kế tiếp sau N+1, các đơn vị TQLC tiếp tục lục soát hành quân như kế hoạch hành quân đã ấn định. Các cơ sở hậu cần của VC đã bị ta phát giác và phá hủy. Du kích dịa phương một số bị tử thương, một số tù binh, hoặc tinh nghi bị TQLC bắt giữ. Số còn lại lợi dụng đêm tối và quen thuộc địa thế nên đã thoát chạy sang các vùng kế cận. TQLC chỉ có vài quân nhân bị thương vì mìn bẫy hoặc VC pháo kích vào vị trí đóng quân.

Trong khu vực mũi Bãi Bùng (Pointe de Camau) dân chúng phải di chuyển trên một loại cầu khỉ nhỏ, được kết bằng thân cây tràm, nối tiếp nhau theo các thân cây đước như là cột trụ cầu. Mặt đất chưa đủ độ cứng để đắp thành bờ để di chuyển bộ. Nhà cửa, trường học v.v… được cất theo kiểu nhà sàn.
Cuộc hành quân này đã được Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Tổng Tham Mưu Trưởng (TTMT) đến thị sát. Lúc đi ngang qua một vị trí đóng quân của Đại Đội TQLC, Đại Tướng Tỵ thấy một con heo lớn được cột giây ở gần đó. Hỏi ra thì anh em trả lời rằng đó là chiến lợi phẩm, tịch thu của VC cất dấu trong chòi lá giữa rừng đước. Đại Tướng Tỵ đã căn dặn TQLC “phải cột trả con heo vào chỗ cũ , vì biết đâu là của dân”.

Đại Tướng Lê Văn Tỵ TTMT/QDVNCH đã từng nhận xét về Hải Quân VNCH như sau “Miền Nam Việt Nam nhiều sông rạch, các cuộc hành quân Đinh Tiên Hoàng, Hoàng Diệu, Nguyễn Huệ ,v.v… đã không thể nào thành công được nếu không có sự yểm trợ của Hải Quân”.

Cuộc hành quân đã dàn rộng qua các vùng sông Ông Đốc. cửa Bồ Đề, sông Cửa Lớn, sông Bẩy Hạp, xóm Ông Trang, Đầm Dơi, Năm Căn v.v….
HQ-401HQ-500 do Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Quỳnh làm Hạm trưởng và đã được xử dụng như Soái hạm. LST này có phòng y tế trang bị để giải phẫu, có cả bãi đáp trực thăng trên sàn tàu. Sau này Hải Quân Việt Nam có thêm 2 Bệnh viện hạm đó là HQ-400 và HQ-401.

Quân y Hải Quân dưới sự đôn đốc của Y sĩ Thiếu Tá Trần Ngươn Phiêu, đã làm công tác Dân Sự Vụ, chữa bệnh cho Dân chúng. Đông nhất là ở vùng cửa Bồ Đề, sông Ông Đốc, Năm Căn..

Mặc dù vùng này trước đây, dưới sự kiểm soát và thu thuế của VC, nhưng dân chúng gặp trường hợp bệnh nặng vẫn đủ phương tiện về Sài Gòn chữa trị bằng đường thủy.

Gần ngã ba Hóc Năng, trên bản đồ đọc thấy có tên Rạch ông Phiêu nên có một thẩm quyền lưu ý rằng đừng cho Bác sĩ Phiêu đi theo các giang đĩnh vào hành quân vùng này. Chắc sợ bị “ xúi quẩy “ vì trùng tên.


3- Ngày N+7 ( 10-1-63 )

Trong ngày N+7 một phái đoàn gồm nha Chiến Tranh Tâm Lý thuộc Bộ Tổng Tham Mưu (NCTTL/BTTM) phối hợp với Bộ Chiêu Hồi và phòng Tâm Lý Chiến Hải Quân (TLC/HQ) đi ủy lạo và thiết lập hệ thống hành chánh Việt Nam Công Hoà (VNCH) tại Năm Căn. Tháp tùng phái đoàn có Đại Tá Hải Quân Hồ Tấn Quyền TL/HQ đến thăm viếng và khen ngợi các đơn vị tham dự chiến dịch và những thành qủa đã thu đạt được.

4- Ngày N+10 dến cuối giai đoạn I

Trong thời gian này TĐ4/TQLC hoạt đông ở khu vực Rạch Ông Trang. Có một buổi chiều, trung đội thuộc ĐĐ1 của Tango (Trung Úy Trí) đi tuần tiễu lục soát, có 2 quân nhân bị thương vì dẫm phải hầm chông, 1 bị VC bắn súng “ngựa trời”, loại Bazoka nội hoá. Được tản thương về Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 4 (BCH/TĐ4) để Y sĩ Trung Úy Hồ Ngọc Chẩn và y tá săn sóc.

“Sài Gòn” (Đại Úy Soạn TĐP) ghé qua thăm thương binh và luôn tiện vào gặp “Lạng Sơn” (Đại Úy Lân, TĐT) đóng quân ở căn nhà lá kế cận. Lạng Sơn liền nói ngay “Xui quá ông ơi. Cứ mỗi lần đi hành quân, ngày nào mà tôi không cạo râu, thì y như là có chuyện, để tôi đi cạo râu mới được”. Nhìn hàng ria mép lởm chởm của Lạng Sơn, Sàigòn chỉ biết “Cười trừ” vì liên tưởng đến lời nói của Lạng Sơn lúc ở Hậu cứ TĐ4 ở Vũng Tầu, trước khi chuẩn bị đi hành quân, thấy Sàigòn sách cặp đen đựng giấy tờ, tài liệu, Lạng Sơn liền chỉ tay vào cặp và nói “ông đừng dùng cặp giả da cá sấu này, người ta nói xui lắm”.

Nhớ ngày đầu năm 1971 “Sàigòn” dẫn Bộ Tư Lệnh tiền phương Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến (BTL/HQ/SĐTQLC) đi hành quân Hạ Lào, Lam Sơn 719.
Nhân viên BTL/SĐTQLC được chuyển vận bằng 3 chiếc C-130 từ phi trường Tân Sơn Nhất ra đến phi trường Khe Sanh, Quảng Trị để thiết lập Bộ Tư Lệnh Hành quân Sư Đoàn (BTL/HQ/SĐ).

Người ta bảo rằng “Ngày đó xuất hành là ngày Xấu ngày Sát Chủ”.
Là đơn vị tác chiến một năm đi hành quân gần hết 365 ngày, thì làm sao phân biệt được ngày tốt ngày xấu.

Câu chuyện đến đây thì bị ngắt quảng, vì có Trung Uý Ánh TB3 vào báo cáo với Lạng Sơn là có các tân Sĩ quan Đà Lạt vào trình diện. Có 10 Sĩ quan khoá 16 Đà Lạt vừa tốt nghiệp về đáo nhậm binh chủng TQLC. Có một số về trình diện ngay tại vùng hành quân. TĐ4 có Thiều Úy Trần Ngọc Toàn, Thiếu Úy Nguyễn Đằng Tống và Thiếu Úy Đỗ Hữu Tùng . TĐ2 thì có Thiếu Úy Nguyễn Văn Kim, Thiếu Úy Nguyễn Xuân Phúc. Sau Khi đã trình diện “Ông Già Đầu Bạc”( Đại Úy Yên TĐT ) tại BCH/TĐ ở Tân Ân “Ông Già” chỉ nói với “Đồ Sơn” (Trung Úy Định TB3) “Cậu” cho một ông về Đại Đội 2 với “Ông Chùa” một ông về ĐĐ3 vời Ông Bảo. Đồ Sơn nói “Dạ” và đưa Thiếu Úy Kim về ĐĐ2, Thiếu Úy Phúc về ĐĐ3. Đến đêm vị trí của TĐ2 bị VC pháo kích 81 ly súng cối. Đại úy Nam ĐĐT/ĐĐ4 bị thương nặng. Trung Úy Định TB3 lên thay thế. Cánh B/TĐ2 do Đại Úy Tinh Châu TĐP chỉ huy, đóng cách ngã ba rạch Tân Ân 2 Km.

Tại ngã ba Vàm Rạch Tân ân, có khu nhà dân chúng ở, có quán hàng buôn bán tương đối đầy đủ các nhu cầu hàng ngày của một vùng xa xôi hẻo lánh này. Có một tiệm bán bánh bao. hủ tíu mì của ông già người Tàu. Có Bia nước đá rượu Đế đầy đủ. Hàng hóa được chở bằng ghe “Đuôi tôm” từ thị xã Cà Mâu về đây.
Sau khi khách ăn uống xong xuôi, để tỏ lòng hiếu khách, ông chủ quán mời “Ông Gìà Đầu Bạc” hút một điếu thuốc “Lào” dể giải rượu chắc là “rượu rắn”. Thấy lạ Đại Úy Taylor cũng xin hút thử một điếu. Nhưng sau đó cả 2 người đều bị ói mửa tùm lum vì không quen Hút. Đại Úy Taylor mặt mày xanh lét. Còn “Ông Gìa Đầu Bạc” thì cứ lấy bàn tay xoa tóc hớt “Cua” trên đầu.

Tối đó Trung sĩ Ngưu, trưởng phiên trực vọng gác của Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn (BCH/TĐ), đến giờ đổi phiên gác. Mọi người đều nằm ngủ ngổn ngang dưới sàn đất trong lều vải. Đầu trùm mùng muỗi kín mít không phân biệt được ai cả. Lúc Trung Sĩ Ngưu đưa tay sờ đầu một người nằm ngủ gần đó. Thấy đầu tóc hớt cụt ngủn. Sinh nghi kéo mùng nhìn kỹ mặt mới biết sờ lầm vào “Ông Già” (Đại Úy TĐT). Hú hồn may mà Ông gìa còn ngủ ngon không bị làm thức giấc. Còn Đại Úy Taylor, sau câu chuyện đó bị mấy anh em trong Trung đội biệt kích TĐ2 gọi đùa là Đại Úy Bazoka, thay vì Taylor, ý muốn nói ông Đại Úy bắn Bazoka, ống thuốc Lào này làm bằng ống tre nứa, dưới đáy có chứa nước, tròn to bằng cổ tay, dài lối 5 tấc và có chân hai càng chống như súng Bazoka.

Đại Úy USMC Richard B. Taylor là Sĩ quan Cố vấn USMC đầu tiên, trực tiếp tham dự hành quân với đơn vị tác chiến TQLC-VN, TĐ2 TQLC trong chiến dịch Sóng Tình Thương này. Đại Úy Taylor được Tổng Thống Hoa Kỳ ân thưởng U.S Silver Star. Ông là một Sĩ quan TQLC Mỹ tham chiến ở Việt Nam được huy chương Mỹ đầu tiên. Trong sách The Easter Offensive của Đại Tá Gerald H.Turley có nhắc đến sự ân thưởng US Silver Star của Đại Úy Taylor.
Trong thời gian chiến dịch Sóng Tình Thương tiếp diễn ở Năm Căn thì Tiểu Đoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến do Đại Úy Trần Văn Nhựt Tiểu Đoàn Trưởng hành quân đổ bộ vào U-Minh-Hạ, hòn Đá Bạc trong vịnh Thái Lan đã đem lại thắng lợi vẻ vang. Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã gắn Đặc cách mặt trận cấp bặc Thiếu Tướng cho Đại Tá Nguyễn Khánh Tư Lệnh cuộc hành quân.

Hải Đoàn xung phong 22 (HĐXP 22) của Hải Quân Đại Úy Lê Hữu Dõng được điều động vào Năm Căn hoạt động trên sông Bồ đề, sông Cái lớn, Ấp Voi, lò than để dẫn đường cho Chiến dịch Sóng Tình Thương.

Trong một cuộc hành quân đột kích, trên đường về, Hải Đoàn bị VC phục kích trên sông Bồ Đề, gần Đình Tân Ân, ngã ba Tam Quan, trước khi vào kinh Cái Nháp.
Một LCM-6 (Landing, Craft, Mechanized) Quân Vận Đĩnh bị VC bắn trúng 1 quả đạn đại bác 75 ly không giật (KZ). Giang Đĩnh liền ủi bãi ngay vị trí đặt súng của Địch. Sau khi đổ bộ xung phong, chiến sĩ HĐXP đã tịch thu được khẩu đại bác 75 ly KZ, 2 súng cá nhân và 5 xác Địch.

5- Kết thúc hành quân ở giai đoạn I (GĐ)

Sau hơn một tháng hoạt đông, kể từ ngày khai diễn Chiến Dịch Sóng Tình Thuơng 3-1-63. Lực lượng TQLC (LLTQLC) đã hoàn tất nhiệm vụ giao phó trong GĐI. LLTQLC nhận được lệnh bàn giao nhiệm vụ cho lực lượng lãnh thổ, qua GĐ II để rời vùng hành quân Năm Căn thuộc tỉnh Cà Mâu.

Liên Đoàn TQLC trở về Hậu cứ nghỉ ngơi để chuẩn bị cho cuộc hánh quân vào mật khu Đỗ Xá ở vùng tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín trong tháng 4 năm 1963. Lực lượng TQLC sẽ tham dự Đỗ Xá cũng là TĐ2, TĐ4, PĐA 75 ly SP và BCH/LĐ

V- NHẬN XÉT:

1- Chiến dịch Sóng Tình Thương là cuộc hành quân Thủy Bộ đầu tiên và lớn nhất với sự phối hợp hoạt động của lực DT Ton That Soan (SaiGon)lượng Hải quân và TQLCVN kể từ ngày cộng sản miền Bắc vi phạm Hiệp Định Geneve 1954. Mục dích tái chiếm và bình định vùng Năm Căn tỉnh Cà Mâu. Vùng Mũi Cà Mâu là một vùng do VC kiểm soát chíếm giữ từ lâu chính quyền Xã ấp của ta chưa kiểm soát được. Ngoại trừ Tiểu Khu Cà Mâu và Biệt Khu Hải Yến do Linh mục Nguyễn Lạc Hóa về đây xây dựng khu trù mật Cái Nước. Lúc này Tiểu Đoàn 2 /TQLC được tăng phái cho Tiểu Khu Cà Mâu dể yểm trợ an ninh cho các khu trù mật đang được xây dựng.

2- Tại vùng Năm Căn nước ngọt để uống là một trở ngại lớn cho mọi người. Tuy Hải Quân có các tàu lớn để chở nước, nhưng cũng chỉ xử dụng rất hạn chế. Sau này khi thiết lập căn cứ Năm Căn, giếng nước ngọt loại Layne được đóng sâu xuống lòng đất để thực hiện và giúp cho sinh hoạt trong vùng. Trước đó dân chúng phải đi lấy nước ngọt từ dảo Hòn Khoai, hay các địa điểm xa ở vùng Cà Mâu, chuyên chở bằng ghe xuồng. Lúc đi lục soát các căn cứ của VC ở giữa rừng Đước, các đơn vị TQLC Đã đập phá nhiều Lu, Khạp bằng gốm, chứa đầy nước uống của Địch. Có nơi chúng trữ hàng chục Lu, Khạp..

Trở ngại thứ nhì là muỗi mòng. Người ta nói có loại muỗi ở vùng này, có thể cắn hút máu đến chết một con bò trong đêm. Heo, gà, gia súc v.v… phải nằm trong chuồng có mùng chống muỗi. Hoặc có những bó lá chuối khô, treo lủng lẳng để súc vật chui vào giữa, cọ sát vào mình để đuổi xua muỗi bay đi.
Đơn vị hành quân đều được phát thuốc thoa chống muỗi, thoa vào tay chân. Ngay cả lúc đội nón sắt, cũng được trang bị lưới Nylon chống muỗi, che kín cổ và mặt mày.


3-
Sau biến cố đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, có lẽ một phần vì ảnh hưởng chính trị ở trung ương Saigon, một phấn kế hoạch ấp chiến lược bị hủy bỏ, cộng thêm lực lượng lãnh thổ của ta không đủ lực lượng và phương tiện để duy trì hoạt động lâu dài ở một vùng dất cô lập như Năm Căn này. Vì vậy chiến dịch Sóng Tình Thương và kế hoạch bình định Năm Căn đã kết thúc vào cuối tháng 11-63.

4- Mãi đến khi Mỹ đổ quân vào chiến trường Việt Nam, Hải Quân Việt Mỹ đã mở cuộc hành quân Seafloat,1966. Dùng Xà lan ghép lại thành căn cứ nổi. Làm bến đậu cho các chiến đĩnh, bãi đáp trực thăng. Làm điểm xuất phát, dùng người nhái làm đơn vị đổ bộ đánh chiếm Năm Căn.

Tiếp theo mở cuộc hành quân “ Solid Anchor “ mở rộng địa bàn bình định một vùng rộng lớn. Tạo Năm Căn trở thành một Quận Hành chánh, Quân sự quan trọng.

Về Quân sự ta có Bộ Tư Lệnh vùng V Duyên Hải (BTL/VV/DH) , căn cứ Hải quân Năm Căn.

Về Hành chánh Hải Quân đã hành quân và hỗ trợ lực lượng Bộ Binh lãnh thổ, tái lập Quân Năm Căn. Hải Quân đã giúp dân chúng quy tụ trên 40 ngàn người, cất nhà mái “Tole” doc theo sông. Dân chúng bắt đầu làm ăn phát đạt, lập lò than, đốn củi đước, đánh cá bắt tôm. Biến Năm Căn thành một Quận trù phú.

5- Nói láo như” Vẹm”

Trong một tài liệu của cộng Sản Việt Nam, viết về chiến dịch Sóng Tình Thương của ta, chúng đã tuyên truyền láo khoét và bịp bơm, có đoạn ghi như sau “Đánh bại chiến dịch Sóng Tình Thương”. Ngày 3-3-63 Địch huy động toàn bộ Sư Đoàn 21, Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, 1 Liên Đoàn Biệt Động Quân cùng với 200 tàu chiến, có từ 8 đến 10 pháo hạm của Mỹ và nhiều máy bay, do Tư Lệnh khu 33 chiến thuật Ngụy trực tiếp chỉ huy, mở cuộc hành quân “Sóng Tình Thương” dùng chiến thuật “Hạm đội nhỏ trên sông” đánh vào rừng đước Năm Căn, bao vây hậu cứ Khu ủy và Tỉnh ủy Cà Mâu (Cán bộ cộng sản Võ Văn Kiệt, nguyên bí thư Khu ủy khu Tây Nam bộ, từng ẩn trốn trong vùng này và trốn chui trốn nhủi khi TQLCVN đi hành quân truy lung trong thời gian này).
Địch có âm mưu thâm độc, thực hiện chiến tranh bóp nghẹt nhằm làm cho dân dói khát phải khuất phục chúng và phải vào các ấp chiến lược. Do bị bao vây, các cơ quan hậu cứ, bệnh viện, truờng học và đồng bào phải “Cất” nước mặn để uống (như “Cất“ rượu), phải nấu trái Mắm hàng chục lượt cho hết chát để ăn.
Lúc này Trung ương đã chi viện vũ khí bằng đường biển cho miền Nam. Trung ương cục phân phối ngay cho chủ lực khu 3, súng B40, B41 dùng dể đánh tàu địch. Ta dùng Tiểu Đoàn U-Minh 1, bộ đội đặc công, pháo binh, bộ đội địa phương, huyện Năm Căn kết hợp chặt chẽ với lực lượng dân quân du kích, trang bị bằng những vũ khí mới được chi viện như B40, B41, DKZ, AT, SKZ… giáng trả lại cuộc bình định, càn quét của địch. Mở đầu là trận phục kích ở Rạch Cây Me (Đông Năm Căn), ta diệt gọn một đoàn tàu địch 12 chiếc (loại PCF và LCM) 1 Tiểu Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, thu trên 100 súng. Sau đó đơn vị chủ lực khu bám địch, đánh liên tục 10 trận.”

6- Nhận xét về vùng Năm Căn của Hải Quân Đại Tá Nguyễn Văn May, khóa 5 Sĩ Quan Hải quân Nha Trang nguyên Tư lệnh vùng V Duyên Hải từ năm 74 đến 30 tháng 4-75 cùng là bạn tù “cải tạo cộng sản” với Mũ Xanh “Saigon” trong 13 năm liền và là bạn bè thân thiết chơi bài chim (mạt chược). Ngôn từ của “cán bộ cai tù” cộng sản, trại giam Hà Tây, Tỉnh Hà Sơn Bình. Đại Tá May nói “Trước năm 63, vùng Năm Căn này là vùng bất trị, mật khu của tụi nó (Việt cộng). Đầu năm 1963 (3-1-63) Hải Quân Việt Nam (HQVN) mở đầu cuộc hành quân Sóng Tình Thương, mục đích là tái chiếm Năm Căn. Đó cũng là cuộc hành quân hỗn hợp đầu tiên do Hải Quân Việt Nam chủ động và điều hợp. Lực lượng dổ bộ là các đơn vị Thủy quân Lục Chiến VN (TQLC VN)”. Nhìn tổng quát, mình có thể thấy việc chiếm cứ Năm Căn, giữa lòng đất địch có những mục đích sau đây: ”Năm Căn là vùng rừng đước âm u, những khúc sông nguy hiểm là sào huyệt dưỡng quân của Việt cộng. Như thế ở giữa lòng địch dù gặp rất nhiều áp lực, đầy cam go nguy hiểm, nhưng sự hiện diện của ta (QLVNCH), phối hợp với chánh quyền (VNCH) yểm trợ công tác bình định, đã gây khó khăn rất lớn cho địch (cộng sản., VC). Địch không còn lúc nào yên để dưỡng quân, sắp xếp các chiến dịch to lớn mà không bị ta làm khó dễ. Và như ai cũng biết, hàng tháng phát xuất từ Sóc Trăng, qua các thủy lộ huyết mạch và nguy hiểm, đoàn giang vận vẫn đi lại điều hòa từ Saigon đến Sóc Trăng và ngược lại. Bao nhiêu ngàn tấn lúa, than, cá tôm từ đây tiếp tế cho Saigon. Và bao nhiêu tấn phẩm vật, nhiên liệu từ Saigon là nguồn tiếp tế cho các Tỉnh thuộc vùng Cà Mâu và phụ cận… quan trọng lắm chứ”.
Đại Tá May thong thả nói tiếp: “Trong công tác bảo vệ an ninh thủy trình, ta phải thay đổi.quy luật hoạt động và chiến thuật để lừa địch, đánh được địch khi bị tấn công. Tôi chỉ thị cho các chiến đĩnh áp dụng chiến thuật “Nhẩy cóc”. Tôi còn nhớ vào tháng 8 năm 74, trong một cuộc hành quân an ninh thủy trình cho một Hải vận hạm LSM vào tiếp tế Năm Căn. Lần này Tôi nghĩ nếu nó tấn công thì mình sẽ được, tôi dùng 8 giang tốc đĩnh PBR, mỗi chiếc chở 2 binh sĩ Địa phương quân và phải nằm núp kín bên trong tàu từ khi rời căn cứ xuất phát cho đến khi ra gần cửa sông Bồ Đề. Khi LSM bắt đầu vào cửa sông Bồ Đề, các PCF và các giang đĩnh thuộc giang đoàn 43 ngăn chặn hộ tống trước và sau LSM như thường lệ, còn 8 chiếc PBR có chở Địa Phương Quân phải đi phía sau LSM khoảng 1 cây số. Khi LSM bị Địch tấn công, chiến hạm và chiến đĩnh vừa phản pháo vừa tiếp tục chạy. Tức thì các PBR phía sau được điều động tăng vận tốc tối đa và đổ bộ ngay vào mục tiêu. Bị phản công bất ngờ và mau lẹ, toán việt cộng phục kích hoảng khiếp bỏ vũ khí chạy lấy người, và bị thanh toán thật dễ, ta hạ được 3 tên và tịch thu được 1 đại bác 75 ly, 1 B41 và 5 súng AK47”.

Được một sĩ quan Hải quân kiêm nhà văn Phan Lạc Tiếp hỏi về “Vấn đề di tản vào giờ phút cuối (30-4-75) của Căn cứ Năm Căn”. Đại tá May thong thả trả lời: “Đoàn tàu khoảng 50 chiếc đủ loại rời Căn cứ Năm Căn và có mặt ngoài biển gần Hòn Tre trưa ngày 1 tháng 5 năm 75…
Nghe Radio, Saigon đã đổi chủ, gọi máy truyền tin liên lạc các nơi, vắng ngắt. Tôi cho lệnh họp nêu ý kiến đi hay ở. Đa số anh em phần lớn là không có gia đình bên cạnh, đều muốn về thăm vợ con, rồi. tính sau. Lúc ấy tôi sẵn phương tiện trong tay, Tôi đi là được, dễ lắm chứ.

Song nghĩ lại. Khi chế độ vững vàng, mình chỉ huy anh em. Bao nhiêu năm tháng cùng nhau chia ngọt sẻ bùi, sống chết có nhau, bây giờ là giây phút khó khăn nhất cho đất nước, tôi thấy lo lắng và bất nhẫn nếu bỏ anh em lại Năm Căn. Việt cộng sẽ vào tàn sát tất cả, không thể xử thế như vậy được” vẫn lời Đại Tá May nhẹ nhàng nói: “Vì cái tình mà gắn bó với nhau để sống tại Năm Căn. Chính cái tình, vì cùng thương nhau mà làm việc, chứ không phải là vì kỷ luật. Cũng vì cái tình ấy mà lúc tan hàng ai cũng muốn về với gia đình, hóa ra kẹt lại cả. Điển hình là ông Trụ (Tư Lệnh Phó Vùng V Duyên hải) lúc tan hàng có mặt tại Saigon theo được tàu ra được nước ngoài, rồi vì cái tình gia đình rồi nhất định trở về. Ông Trụ dẫn con tàu Việt Nam Thương Tín và gần 2000 đồng bào về lại Việt Nam, để mong nhìn được mặt người thân, nhưng không, cũng vào tù cả. Sau bao gian khổ cũng đã đến được Mỹ. Còn nhớ lại thật như một giấc mơ”.
Trên đây là tâm sự của một Sĩ Quan Hải Quân thuộc Quân Lực Viêt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) mà cũng là tâm sự của hầu hết anh em chiến hữu chúng ta, khi nhắc đến những sự việc về cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua, giai đoạn 1954-1975, trong đó liên quan dến vùng đất Năm Căn hung hiểm của chiến dịch SÓNG TÌNH THƯƠNG cách 40 năm về trước.

Mũ Xanh “Saigon”
Iowa City, Iowa
Ngày 1 tháng 11 năm 2003
-------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:
Hải sử, Tuyển Tập Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (California, hy vọng xuất bản 2004)
HQ Thiếu Tá Phan Lạc Tiếp, trong ban biên tập Hải Sử QLVNCH.
HQ Trung Tá Vũ Hữu San, trong lược sử Tổ Chức HQVN.
__._,_.___

Bài Xem Nhiều