We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 1 March 2013

Có Thiên Chúa hay không có Thiên Chúa?


PHỦ NHẬN THIÊN CHÚA
BẰNG THỰC NGHIỆM : BẾ TẮC
BẰNG LÝ LUẬN : TÀO LAO

Trên nhiều websites tiếng Việt lúc này thấy xuất hiện khá nhiều bài viết tán dương và cổ võ cho quan điểm vô thần (atheistic opinion.) Tất cả gặp nhau ở một điểm là phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa (God hay Thượng Đế hay Tạo Hóa.) Điều đáng tiếc là một số đã nhân cơ hội quay sang bôi nhọ, công kích, và mạ lỵ Thiên Chúa Giáo. Các bài viết có khi là sự trực tiếp bầy tỏ quan điểm. Có khi dịch từ các phát biểu hoặc luận văn của các triết gia hoặc khoa học gia hàng đầu trong lãnh vực nghiên cứu và khả năng hiểu biết của các vị này. Vấn đề trình bầy một quan điểm, dù là vô thần, để giúp học hỏi là chuyện đáng hoan nghênh. Nhưng đưa ra quan điểm của những nhân vật cho dù thuộc hàng trí giả trong thiên hạ, coi là chân lý tuyệt đối, rồi dựa vào đó để bôi bác, đánh phá, cho tín ngưỡng của người khác là cuồng tín, cực đoan, mê tín, dị đoan v.v. là một chuyện không thể chấp nhận được.
Chúng tôi có đọc, không dám nói là hết nhưng, một số khá lớn các bài loại này. Những bài viết phần lớn dựa vào quan điểm của hai nhân vật trí giả hàng đầu trong lãnh vực triết học và khoa học hiện nay là triết gia Bertrand Russell và nhà vật lý vũ trụ Stephen Hawking. Nhận định chung của chúng tôi là, con người không thể phủ nhận được sự hiện hữu của Thiên Chúa dù bằng lý luận như Russel, hoặc bằng thực nghiệm như Hawking. Việc làm của họ không đạt được mục đích, bởi vì không thể và vô ích, hoặc rơi vào bế tắc. Vì thời giờ quá eo hẹp, hôm nay chúng tôi xin đề cập đến quan điểm vô thần của triết gia Bertrand Russell trước. Quan điểm của nhà vật lý vũ trụ Stephen Hawking xin để đến lần sau, khi thời giờ cho phép.
Quan điểm vô thần của triết gia Bertrand Russell được trình bầy trong bài diễn văn nổi tiếng của ông “Why I am not a Christian” do ông Lê Dọn Bàn dịch sang tiếng Việt đang được nhiều người nhắc tới như là một mẫu mực về lý luận trong lúc này. Bài diễn văn được biết đến nhiều là vì quan điểm vô thần rất quyết liệt của ông. Toàn bài là những luận chứng triết học phủ nhận sự hiện hữu của Thượng Đế. Russell phê phán quan điểm của thần học Kitô giáo là nông cạn và thiếu sót. Chúa Giêsu cũng chẳng tài cán gì hơn ai, không phải là một con người khôn ngoan thượng đẳng (ý nói không phải là Thượng Đế.) Nhận định của ông là nếu có Thiên Chúa thì Thiên Chúa quá tầm thường lại độc ác, vì đã dựng nên một thế giới đầy rẫy đau khổ và bất công, lại còn dựng nên hỏa ngục đời đời để trừng phạt con người có tội. Russell cho rằng Đấng Christ không đứng cao ngang bằng hạng với nhiều nhân vật lịch sử như Đức Phật, Socrates. Xem ra ông rất thù ghét đạo Công Giáo, ông kết luận về Giáo Hội Công Giáo như sau: “Tôi nói với tất cả thận trọng rằng, đạo Kitô, như tổ chức giáo hội, đã từng và vẫn còn là thù nghịch chính của các tiến bộ đạo đức trên toàn thế giới……” Russell nói thế nhưng ông không thể chối cãi được sự thật lịch sử là, khoa học kỹ thuật tiến bộ và phát triển trước nhất và mạnh mẽ nhất tại các nước theo Thiên Chúa giáo, nền văn minh Thiên Chúa Giáo vươn tới đỉnh cao nhất trong các nền văn minh của nhân loại, những tấm gương sống quên mình vì hạnh phúc của người khác đa số đều là người Thiên Chúa giáo v.v. và v.v.
Chúng tôi tự biết mình tài hèn sức mọn, sở học không nhiều, kiến thức lại thiếu, nhưng cũng dám bạo phổi trình bầy một vài suy nghĩ riêng tư về triết gia Bertrand Russell và những luận chứng của ông nêu lên để bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Chúng tôi không đi vào phê phán từng luận chứng, mà chỉ nêu một vài điểm quan trọng trong đó và cũng thường gặp ngoài công luận. Mơ ước của chúng tôi là, cho dù có Thiên Chúa hay không, thì con người cũng nên tôn trọng tín ngưỡng hay không tín ngưỡng của nhau. Đối với bản thân là một tín hữu công giáo, chúng tôi luôn tâm niệm rằng cho dù thật sự không hề có Thiên Chúa đi chăng nữa thì con người cũng nên tự dựng nên một Thiên Chúa riêng cho mình mà tôn thờ. Vì không có Thiên Chúa, con người sẽ lên ngôi Thiên Chúa. Cái thảm họa xã hội vô thần của người cộng sản” một phần ba nhân loại ngày nay đã trải nghiệm và mọi người trên thế giới đã mắt thấy tai nghe. Nó dã man, tàn bạo và kinh hoàng như thế nào là một thực tại không ai có thể phủ nhận.
Để tránh hiểu lầm, chúng tôi xin minh định, bài viết này không phải để tranh luận, lý do là vì triết gia Bertrand Russell không còn nữa. Thật sự chúng tôi cũng không dám, xin nói thật, mà đơn giản chỉ đưa ra nhận xét riêng tư của chúng tôi về ông, về quan điểm của ông. Lại nữa, chúng tôi không nhân danh công giáo để phát biểu, mặc dầu chúng tôi là một tín đồ công giáo. Sống trong một thế giới tự do, quyền tự do phát biểu là quyền của mọi người. Chúng tôi dù chỉ là phàm phu, cũng phải được quyền bầy tỏ quan điểm như bất cứ ai. Không phải chỉ có giới này, thành phần nọ mới được quyền phát biểu về những vấn đề quan trọng. Một điềm khác nữa là, để trình bầy quan điểm của mình, chúng tôi không nêu lên vấn đề “Có Thiên Chúa” như một luận đề để bảo vệ. Căn cứ vào tư cách, đạo đức cá nhân của triết gia Bertrand Russell, phân tích các luận chứng ông nêu, chúng tôi cho rằng, quan điểm Thiên Chúa không hiện hữu của ông không đứng vững, các luận chứng ấy chứa đầy rẫy thiếu sót và bất cập về nhiều mặt. Những thiếu sót và bất cập đó có thể xem như là mặt tích cực trong việc bảo vệ quan điểm riêng của chúng tôi “Có Thiên Chúa hiện hữu” mà như đã nói trên, chúng tôi không nêu lên thành một luận đề để bênh vực. Đó là cách gián tiếp chúng tôi trình bầy quan điểm của mình.
Bước vào bài viết, chúng tôi xin đặt ra một câu hỏi rồi sẽ tuần tự bàn bạc để bạn đọc dễ theo dõi. Câu hỏi đó là: Bertrand Russell cho rằng Thiên Chúa không hiện hữu, tức không có vấn đề sáng tạo, hay nói cách khác, vũ trụ vạn vật là do chúng tự thành, có phải là một chân lý đáng tin cậy không? Câu trả lời của chúng tôi đơn giản là KHÔNG. Và tại sao thì:
1. Với kinh nghiệm - Chỉ cần hướng mũi giáo vào vài điểm khó giải và nhậy cảm nhất mà Russell nêu lên trong bài diễn văn “Why I am not a Christian” là có câu trả lời rồi. Các luận chứng của ông phần nhiều (nói hơi quá) đều là lý sự cùn (triết lý mà,) đôi khi nhảm nhí nữa. Vả lại, như chúng ta thường thấy xẩy ra trong triết học, học thuyết này đánh đổ học thuyết khác, triết lý nọ phủ định triết lý kia là chuyện xẩy ra như cơm bữa. Điều này dễ hiểu thôi, bởi vì tất cả chỉ là lý thuyết, nói đúng hơn là giả thuyết, không có chứng minh cụ thể. Duy vật sử quan (Materialistic Conception of History) là một lý thuyết vô thần hấp dẫn nhất từ trước đến nay, bởi vì nó dựa trên căn bản đáng tin cậy nhất để thuyết phục là dùng lịch sử giải thích sự tiến hóa của xã hội, thế mà cũng đang trên con đường đi tới nghĩa địa, thì thử hỏi ba cái lý sự cùn của Russell có nhằm nhò gì., đứng vững và tồn tại được mãi không? Dùng lý luận để phủ nhận Thượng Đế là điều không tưởng và vô ích, bởi vì kinh nghiệm sống cho thấy, tin có Thượng Đế là một “đức tính” nền tảng của đời sống tâm linh của con người từ lúc sinh ra. Một đứa trẻ còn rất nhỏ mỗi khi gặp đe dọa, nơi nó chạy đến để tìm sự che chở là cha mẹ. Trước sự đe dọa, cha mẹ em bé dù là người tàn tật, yếu đuối, hay bất lực, em bé vẫn chỉ tìm đến cha mẹ chứ không một ai khác. Tại sao? Là bới vì em chỉ tin vào cha mẹ em. Tự nhiên thế thôi. Càng khôn lớn hơn, đời sống tâm linh con người càng trưởng thành hơn. Cuộc sống bắt buộc phải đấu tranh quá phức tạp mà sự che chở của cha mẹ không đủ bảo đảm nữa, sự tin tưởng của đứa con vào cha mẹ tự nhiên chuyển dần sang một đấng thần linh quyền năng. Người theo Phật tin Phật. Người Hồi tin Đấng Allah. Người theo Chúa tin Chúa v.v. Đức tin như vậy là bẩm sinh và là thuộc tính của con người. Không ai có khả năng tiêu diệt niềm tin đó được. Hỏi, người CS có chắc chắn vô thần không? Thưa, chưa chắc. Phạm Văn Đồng lúc về già lại gõ mõ tụng kinh. Lenin trước khi chết mơ ước có 10 Fransis Assisi (vị thánh bên Công Giáo) để xây dựng lại nước Nga là những thí dụ nên suy gẫm. Họ thực sự vô thần hay hữu thần?
2. Tiểu xảo của Russell - Bertrand Russell tự biết không thể đạp đổ được tượng thần Thượng Đế trong tâm thức con người, ông phải vận dụng đến hạ sách là hạ thấp tư cách cá nhân của Đức Giêsu để làm việc đó. Ông đánh giá Đức Giêsu là một con người kém trí tuệ, thiếu khôn ngoan, và thiếu cả đạo đức (độc ác) v.v. Chúng ta thử nhìn vào cái hạ sách này xem sao.
a/ Chúa bất tài - Nếu Thiên Chúa thật sự vô cùng tài trí và khôn ngoan, Ngài đã chẳng dựng nên một thế giới chênh lệch và đầy rẫy bất công như thế này. Kẻ quá giầu, người lại quá nghèo. Người quyền cao chức trọng, kẻ làm tôi mọi suốt đời không ngóc đầu nổi. Người thì quá thông minh, kẻ ngu dốt đến lạ lùng ….. Đó là lý luận và biện chứng nêu ra để phê bình Chúa: Ngài là một con người kém thông minh và thiếu khôn ngoan. Đây là vấn nạn của hầu hết mọi người trên thế gian chứ không phải riêng gì Bertrand Russell. Một xã hội không còn bất công, không còn người bóc lột người, mọi người sống bình quyền và bình đảng, làm việc theo khả năng, hưởng theo nhu cầu v.v. là điều ai không mơ ước? CS Nga, CS Tầu, CS Vietnam đã cố gắng thử xây dựng xã hội lý tưởng này rồi, nhưng kết cục lại chỉ là một xã hội phản chứng trần truồng và thê thảm: bất công càng chồng chất bất công, chênh lệch càng thêm chênh lệch, đạo đức càng ngày càng suy đồi, xã hội điên đảo càng đảo điên hơn, con ngưòi càng bóc lột con người hơn. Cả Giáo Hội Công Giáo thời sơ khai cũng đã từng xây dựng giáo hội cộng sản. Nhưng khó quá. Giáo Hội cũng không làm nổi, đành phải dừng lại ở chỗ rao giảng luật yêu thương của Chúa cho con người thực hành mà cải tạo xã hội.
Để lý giải cái vấn nạn vô cùng khó khăn này, chúng ta thử tưởng tượng thế này. Thế giới hiện nay có khoảng 14 tỷ người. Chúa công bằng vô cùng, dựng nên 14 tỷ người này và thỏa mãn cho họ đầy đủ mọi nhu cầu một cách sung mãn và đồng đều, không ai hơn kém ai. 14 tỷ ngưòi tài trí thông minh như nhau, học giỏi như nhau, thành đạt như nhau, công ăn việc làm như nhau, tiền bạc kiếm bằng nhau, có nhà ở khang trang như nhau, xe hơi giống nhau, gia đình vợ đẹp con khôn như nhau v.v. Như vậy thì chuyện gì sẽ xẩy ra? Chắc chắn mọi người lúc đó sẽ lại chửi Chúa rằng: Thiên Chúa gì mà ngu quá vậy không biết. Cái thế giới monotone (đơn điệu) thế này boring (nhàm chán) quá, như thế này thì làm sao mà sống nổi đây? Lúc đó con người lại mơ ước trở lại cuộc sống xưa kia, dù sao cũng đỡ nhàm chán hơn. Như thế thì người ta chỉ biết trách móc Chúa mà không hiểu Ngài. Chúa tạo ra cái thế giới chênh lệch và bất công này để làm gì? Nếu triết gia Bertrand Russell có thực sự nghiêm chỉnh đọc Thánh Kinh, hẳn ông sẽ tìm ra được thánh ý của Chúa. Ngài dậy: “… … Điều răn thứ hai là: Người phải yêu người thân cận như chính mình (Mc 12, 31.) Thiên Chúa dựng nên con người, đòi buộc con người phải thương yêu nhau, còn tạo ra cơ hội là dựng nên một xã hội không đồng đều và đầy rẫy bất công để con người thực hành đức bác ái. Thực hành luật yêu thương là chia sẻ và san sẻ cho nhau các sở hữu tinh thần lẫn vật chất. Chiến tranh, loạn lạc, tai ương, bất công, đói khổ v.v. là tại con người thiếu tình yêu thương, không biết chia sẻ và san sẻ cho nhau những gì mình nhận được từ Thiên Chúa hơn người khác. Nếu con người sống luật yêu thương như Chúa dậy thì thế giới sẽ không có chiến tranh, xã hội sẽ hết bất công, và con người đâu có còn phải đau khổ. Vậy thì thế giới bất công là do Thiên Chúa bất tài, kém thông minh hay tại con người tham lam, ích kỷ?
b/ Chúa ác độc - Quả thực cái hình ảnh “hỏa ngục đời đời” Chúa dựng nên để phạt kẻ có tôi xem ra tàn nhẫn và độc ác quá. Nhưng vẫn là chuyện có thể hiểu được và cũng dễ chấp nhận thôi nếu chúng ta chịu tìm tòi và suy nghĩ. Chúng tôi muốn nói với những ai không chấp nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa quyền năng rằng, “nếu” có Thiên Chúa thì Ngài thuộc về thế giới thường còn và vô hình, chứ không thuộc thế giới vô thường và hữu hình này. Do đó những chữ “đời đời, vĩnh hằng v.v.” nên hiểu ý niệm thời gian là của thế giới vô thường. Thật ra chẳng làm gì có thời gian. Thời gian chỉ là khái niệm con người dùng để mô tả sự thay đổi của vạn vật. Trái đất quay nửa vòng chung quang trục Bắc Nam từ Đông sang Tây ta có một ngày. Nó di chuyển trên quĩ đạo chung quanh Mặt trời một vòng ta có một năm. Giả sử trái đất đứng yên một chỗ, không di chuyển, cũng không quay thì làm gì có ngày và có năm. Nhà triết học qua bên thế giới thường còn mà nói chữ “đời đời” hay “vĩnh hằng” v.v. người ta sẽ cười cho.
Vậy phải giải thích chữ “đời đời trong hỏa ngục” như thế nào để cho Chúa khỏi phải bị nguyền rủa là ác đức?
Một vật xoay tròn đều - cái bánh xe chẳng hạn - phát sinh ra lực qui tâm, và đồng thời còn phát sinh ra phản lực gọi là lực ly tâm. Tất cả các vật thể nằm trong vòng ảnh hưởng của sự quay đều của bánh xe đều bị hai lực đó tác động, hoặc bị hút vào tâm của bánh xe, hoặc bị đẩy ra xa khỏi bánh xe. Bánh xe càng quay nhanh, sức hút và sức đẩy càng mạnh. Mỗi vật thể nằm trong tầm ảnh hưởng của bánh xe quay chỉ bị tác động một lần, hoặc bị hút, hoặc bị đẩy, và hậu quả là vĩnh viễn, nghĩa là không bao giờ có chuyện hút vào rồi lại đẩy ra hay ngược lại nữa.
Con người sống trên đời, thân xác có sinh, có diệt nên thuộc thế giới vô thường đời này. Linh hồn (tâm thức?) không bị hủy hoại nên sau khi chết, đi về thế giới thường còn. Việc thiện, ác của con người trên đời do tâm thức tự do quyết định mà làm ra nên vẫn đi theo tâm thức về thế giới bên kia. Thế giới thường còn bên kia ví như cái bánh xe quay tròn đều. nó cũng phát sinh ra lực qui tâm và phản lực ly tâm. Con người chết, phần tâm thức mang theo về thế giới bên kia các việc thiện, ác đã làm ở trên đời. Do đó nó được hút vào thiên đàng hay bị đẩy xuống hỏa ngục tùy theo mức độ nhiều ít hay nặng nhẹ của thiện, ác. Tác động của bánh xe vô hình này đối với mỗi linh hồn cũng chỉ xẩy ra một lần và hậu quả vĩnh viễn. Đó là ý niệm đời đời ở bên kia thế giới thường còn: thiên đàng hay hỏa ngục.
Chúng tôi đưa ra hình ảnh cái bánh xe quay để giải thích khái niệm thời gian của thiên đàng (vĩnh cửu) và hỏa ngục (đời đời) cho dễ hiểu thôi, mặc dù chính mình cũng chưa hẳn thỏa mãn với sự giải thích đó. Chắc chắn không thể dùng hình ảnh của thế giới vô thường này để cắt nghĩa việc thưởng phạt đời sau của Thiên Chúa được, bởi vì vấn đề sẽ rơi vào bế tắc. Rất tiếc sự bế tắc lại nằm trong giáo lý của Phật, lãnh vực mà tôi đã thú nhận là thiếu kiến thức nên không dám lạm bàn, rất dễ bị hiểu lầm và lầm lẫn. Bởi vì bên Thiên Chúa Giáo có vấn đề “hỏa ngục đời đời” nên triết gia Bertrand Russell cho là Chúa Giêsu độc ác, thiếu khoan dung, tư cách thua cả Đức Phật hay Socrates. Do đó mà chúng tôi muốn cho thấy rằng theo kinh Phật, con người ta sau cái chết, tùy nghiệp sẽ thành Phật, vô Niết Bàn, xuống ngục A Tỳ hay đầu thai là chuyện không lý giải được: bế tắc. Chúa Giêsu vẫn là Thiên Chúa nhân hậu và đầy khoan dung, không tin cứ thử khiêm tốn qùi dưới chân Thánh Giá suy gẫm mà coi sẽ thấy.
Như vừa trình bầy, phê bình những điều vô cùng rối rắm và khó hiểu trong giáo lý của Đức Phật thật sự ngoài khả năng của tôi. Để giữ cho không khí hòa ái và cho bớt nhức đầu, tôi xin kể hầu quí bạn đọc câu chuyện ngày xưa cho vui. Khoảng 1978 hồi còn nằm trong trại tù Tân Lập, Vĩnh Phú, tôi ở cùng đội với một vị Đại Đức tên Minh, tuyên úy Phật Giáo QĐIII. Ông ở trên lầu (sàn trên), nằm bên cạnh đại úy Nguyễn Hưng, phi công, con của cựu tỉnh trưởng tỉnh Định Tường thời Đệ ICH, cụ Nguyễn Trân. Tôi nằm tầng trệt (sàn dưới.) Buổi chiều sau khi tù vô “chuồng,” thỉnh thoảng tôi lên lầu truyện gẫu với vị tuyên úy dễ mến này. Có một lần chúng tôi đàm đạo về Phập Pháp (tôi muốn học hỏi.) Tôi hỏi thầy Minh về cái pháp vô ngã, vô thường trong đạo Phật. Ông giảng cho tôi một thôi một hồi, rồi sau cùng hỏi tôi có hiểu không. Tôi trêu chọc ông, thật sự chẳng hiểu mô tê gì (đói thấy mụ nội làm sao mà hiểu): “Thì thấy có thầy Minh đấy, mà lại không phải là thầy Minh, nhưng hóa ra là thầy Minh thật, thế mới hay.” Ông cười hiền hậu: “Anh hiểu rồi đấy.” Tôi được trớn đùa thêm: “Bởi vì ông cũng đang nằm trong phòng giam trại tù Tân Lập chứ có phải tại phòng tuyên úy ở Biên Hòa đâu.” Thật ra tôi mù mờ chẳng hiểu gì cả. Đại Đức Minh khen thật hay khen xã giao, tôi cũng chẳng biết nữa.
Cái bế tắc tôi muốn nói ở đây không phải vấn đề vô thường hay thường còn, vô ngã hay tự ngã, mà là vấn đề hai chữ “tự do” của con người theo Phật Giáo. Một người, tôi đặt tên là A chẳng hạn, còn sống anh rất khôn ngoan và xông xáo. Suốt đời anh bất kể Trời, Phật, bất chấp luật pháp, việc tàn ác, thất đức nào anh cũng không từ, miễn sao anh và vợ con anh được sung sướng. Sau khi chết, với bản chất khôn ngoan và xông xáo cố hữu, để được sung sướng, A nhất định phải bon chen nhập vào Đại Ngã của vũ trụ để thành Phật, hay ít ra xoay xở vô Niết Bàn cho sướng, chứ tội gì chui đầu vào ngục A tỳ hay đầu thai thành trâu, chó cho khổ. Ai cấm anh đâu? Tự do mà. Nếu anh không được phép hành động theo bản năng thì rõ ràng anh đã mất tự do. Vì trên đời anh ác độc quá nên anh bị bắt phải đi đầu thai làm con trâu kép cầy trả báo. Câu hỏi đặt ra là, ai, cái gì có quyền bắt anh A phải đi đầu thai làm kiếp trâu? Ai có khả năng và có quyền tước đi quyền tư do hành động theo bản năng vốn có của anh? Nếu có Đại Đức Minh ở đây, tôi tin chắc ông sẽ trả lời tôi rằng nguyên do là tại cái “Nghiệp” của A. Vâng tôi biết thế. Phật Pháp dậy rằng Nghiệp là nguyên nhân gây ra Quả. Vâng, nhưng Nghiệp đây chỉ là một khái niệm trừu tượng, vô ngã, vô tri thì làm sao nó có ý chí và quyền năng để tước đoạt tự do của anh A được. Tôi cho rằng đó là chỗ bế tắc của Phật Pháp bởi vì Đức Phật cũng đã gạt bỏ đi Thượng Đế quyền năng.
Tiện đây tôi cũng xin tạt qua vấn đề Phật Pháp “Duyên Khởi” trong đạo Phật một tí. Phật Pháp dậy rằng, trong cái thế giới vô thường này, tất cả đều tùy Duyên. Hữu Duyên tất thành, vô Duyên tất hoại. Nhưng cái ý niệm “Duyên” nó có khác cái gì ý niệm Nghiệp gì đâu. Duyên cũng chỉ là một ý niệm mơ hồ, trừu tượng, vô ngã và vô tri thì làm sao tác động vào vạn vật để khiến chúng thành hay hoại được. Cứ coi Duyên như một chất xúc tác đi. Nhưng chất xúc tác trong hóa học là vật chất hữu thể, nó khác xa. Luận lý về Nghiệp hay Duyên cũng giống như lý luận đấu tranh giai cấp của Marx. Marx nói trong xã hội con người cần có đấu tranh gai cấp mới có tiến bộ. Khi được hỏi, khi các giai cấp đã bị tiêu diệt, chỉ còn giai cấp công nhân thôi thì có phải giai cấp này hết đối tượng tranh đấu, xã hội hết tiến hóa không? Marx bí quá trả lời, lúc đó con người đấu tranh với thiên nhiên. Một triết gia lừng danh, một trí giả khuynh đảo được cả thế giới, thế mà lúc lâm vào chỗ bí thì hồ đồ, ăn nói tào lao như vậy đó. Thê thảm!
3. Bertrand Russell: một bậc trí giả hay trí thức gà mờ?
Sau cùng, để làm rõ tính khả tín trong quan điểm vô thần của triết gia Bertrand Russell, chúng tôi xin nhận định về tính cách trung thực trong quan điểm của ông, tức là sự vô tư, sáng suốt của người nêu quan điểm, mà không quan ngại đến sự chính xác của quan điểm. Sau đây cần nêu lên một vài điểm mốc lịch sử cần thiết trong thời sinh tiền của ông để nhìn vấn đề cho thấu đáo:
- Bertrand Russell: sanh năm 1872 chết năm 1970 (thọ 97 tuổi)
- Karl Marx: sanh năm 1818 chết năm 1883 (tho 64 tuổi)
- Liên Bang Sô Viết thành lập : năm 1917
- Hiệp Định Geneve chia cắt VN : ngày 21 - 7- 1954
- Tỉnh lỵ Phước Thành của VNCH bị CS chiếm : ngày 18 - 9 - 1961
- Trận Ấp Bắc tỉnh Bến Tre xẩy ra : ngày 02 - 1 - 1963
- Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên Đà Nẵng : ngày 08 - 3 - 1965
Nhìn vào các mốc thời gian trên, trong mỗi người không thể không nẩy sinh ra một số thắc mắc. Những thắc mắc phải có như sau:
a/ Thời sanh tiền của triết gia Bertrand Russell (97 năm) là thời kỳ bành trướng mạnh nhất của triết thuyết duy vật của Karl Marx. Russell có hiểu biết gì về lý thuyết Duy Vật Biện Chứng của Karl Marx không? Ông có nhìn thấy hay biết gì về việc người CS thực hành triết lý duy vật vô thần của Marx tại các nước CS Nga, Đông Âu, Trung Hoa, VN, Triều Tiên, và nhiều nơi khác nữa trên thế giới không?
b/ Theo Hiệp Định Geneve, VN bị chia cắt tạm thời thành 2 quốc gia riêng biệt: VNCH miền Nam, và VNDCCH miền Bắc. Biến cố có tính cách quốc tế quan trọng này xẩy ra tại Geneve, Thụy Sĩ, triết gia Russell có biết việc phân chia này không?
c/ Chiến tranh xâm lược miền Bắc gây ra cho miền Nam có thể kể từ khi CS đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Thành ngày 18-9-1961, sau đó trận Ấp Bắc ngày 01-1-1963, và rồi cứ thế càng ngày càng bùng nổ lớn và khốc liệt theo thời gian. Báo chí Tây phương có tường thật không?
d/ Hoa Kỳ chỉ thực sự tham chiến tại VN kể từ ngày Thủy Quân Lục Chiến của họ đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 8-3-1965. Điều này có nghĩa là VGCS miền Bắc gây chiến xâm lược miền Nam trước rồi Hoa Kỳ mới nhẩy vào tham chiến sau. Bertrand Russell có biết các sự kiện này không?
Có thể nói Russell là người sinh ra cùng thời với chủ nghĩa vô sản của Marx, nên con người ông đồng thời cũng gắn liền với cuộc chiến tranh xâm lược để bành trướng của chủ nghĩa này. Tất cả các sự kiện xẩy ra liên quan đến VN trong thời chiến chắc chắn phải được phổ biến từng ngày, từng giờ trên các phương tiện truyền thông Âu Châu. Một triết gia lớn như Russell không thể không biết hoặc nhầm lẫn được. Ông đủ trí tuệ để biết nguyên nhân của cuộc chiến, phân biệt được ai là kẻ gây chiến, và ai bị bó buộc phải tự vệ. Thế nhưng triết gia Russell đã đứng hẳn về phía bọn xâm lược Bắc Việt. Ông lập ra các tòa án xử tội ác chiến tranh nhắm vào Hoa Kỳ. Chúng tôi không tán thành việc nước Mỹ trực tiếp tham chiến tại VN, nhưng việc quân đội Hoa Kỳ sử dụng vũ khí gì, phương tiện chiến tranh nào để chiến đấu, so với việc giết người bằng cách trấn nước, bổ quốc lên đầu, lấy dao cắt cổ, mổ bụng để nhét chất nổ vào trong, giật mìn xe đò, pháo kích trường học v.v. của VGCS thì hãy còn thua xa về mức độ dã man và tàn bạo. Tòa án của triết gia Russell đã tổ chức nhiều phiên tòa ở Âu Châu và Mỹ. Tháng 11-1969 ông còn kêu gọi ông U Thant, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc hỗ trợ cho ông thiết lập một Ủy Ban Quốc Tế điều tra việc ông cho là Hoa Kỳ hành hạ và giệt chủng dân chúng miền Nam VN trong thời chiến tranh. Ý ông muốn đem vụ Mỹ Lai ra xử. Thật là quái đản, một vụ giệt chủng khủng khiếp hơn vụ Mỹ Lai gấp bội, tàn ác gấp bội, nhất là được tính toán kỹ càng ở Huế mà chúng ta thường gọi là “Vụ thảm sát tết Mậu Thân” xẩy ra trước vụ Mỹ Lai chỉ vài tháng trời, thế mà Bertrand Russell không biết? Không ai thấy ông nói lên dù chỉ một nửa lời công đạo? Không lẽ ông không biết vụ thảm sát tết Mậu Thân thật?
Thái độ của Bertrand Russell buộc người VN chúng ta phải đặt ra thắc mắc là ông có biết hay không biết các biến cố trong chiến tranh VN, hiểu hay không hiểu vấn đề để chọn thái độ và chỗ đứng cho đúng với cương vị và đạo làm người của ông? Nếu ông biết mà vẫn giữ lập trường và chọn chỗ đứng bên cạnh bọn xâm lược Bắc Việt thì ông không xứng đáng được gọi là trí thức, chứ chưa nói là trí giả, là một con người đầy thiên kiến, thiên vị, vô lương tâm và vô nhân đạo. Còn như nếu ông không biết thì quả thật khả năng nhận thức của một triết gia như ông rất đáng nghi ngờ. Chuyện xẩy ra ở dưới đất ông không biết thì làm sao biết được chuyện trên trời? Việc con người mà ông không biết, hoặc biết không đến nơi đến chốn thì làm sao khẳng định được việc của Thượng Đế? Chuyện ngay trước mặt và trong tầm nhìn mà ông không nắm vững thì làm sao thấu đáo được thực tại Thiên Chúa vô hình, có hay không có? Vậy thì ông chứng minh được cái gì bằng ba cái lý sự cùn của ông?
Như trên chúng tôi đã viết, triết thuyết này có thể bị triết thuyết khác đánh đổ. Như vậy thì bất kỳ triết tuyết nào cũng vậy, chưa phải là sự thật phổ quát, là chân lý tuyệt đối. Quan điểm của triết gia Bertrand Russell cũng không ngoại lệ, nó không thể được coi là chân lý hiển nhiên mọi người phải chấp nhận. Hơn nữa tư cách và đạo đức cá nhân của ông còn có nhiều chỗ bất cập như đã trình bầy. Cho nên việc phủ nhận sự hiện hữu của Thiên Chúa của ông chỉ đáng kể là một mớ lý luân tào lao. Ông có đọc Thánh Kinh, nhưng đọc để đem ra bôi bác. Đáng tiếc, trong Kinh Thánh có chỗ Chúa Giêsu nói rõ về ông, ông lại không chịu đọc, hoặc có đọc mà không thèm quan tâm. Chúa nói: “Lậy Cha là Chúa tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn. Vâng, lậy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha (Mt 11, 25-26.)
Duyên Lãng Hà Tiến Nhất

“ĐÁNH CHIẾM” Âm mưu của các quyền lực

Âm mưu của các quyền lực
Sau khi ĐGH Benedict XVI tuyên bố từ nhiệm, các nhà quan sát và chính các viên chức lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo cũng đã nhận ra rằng một chiến dịch vận động “đánh chiếm” ngôi vị Giáo Hoàng ở Roma đang được tiến hành, không phải từ trong nội bộ của Giáo Hội Công Giáo, mà do các quyền lực (powers) thực hiện nhằm dựng lên một vị Giáo Hoàng, nếu không gióng như một Ban Ki-moon, Tổng Thư Ký LHQ, luôn sẵn sàng thi hành sự chỉ đạo của các cường quốc, thì ít ra không có những hoạt động gây khó khăn cho họ.

Về phương diện thế quyền, Vatican là một quốc gia nhỏ bé nhất trên thế giới với diện tích chỉ 0,44km2 gồm thành phố Vatican với tường thành bao bọc và hơn 10 toà nhà khác ngoài thành, bao gồm những đại thánh đường, văn phòng hành chính các bộ thuộc Giáo Triều Roma và biệt thự Castel Gandolfo, nơi Đức Giáo Hoàng đến nghỉ hè. Nhưng về phương diện giáo quyền, Giáo Hội đang lãnh đạo khoảng 1,2 tỷ tín hữu có mặt gần như khắp nơi trên thế giới, nên tiếng nói của Giáo Hội có ảnh hưởng về nhiều phương diện.

Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Phương không muốn Giáo Hội nói đến một số vấn đề đang gây khó khăn cho họ như vấn đề phá thai và hôn nhân đồng tính; vấn đề tranh chấp giữa Do Thái và Palestine; vấn đề cuộc chiến ở Iraq đã khiến hơn 120.000 thường dân bị giết, trên 1,5 triệu người phải rời nhà cửa, trong đó có ít nhất 500.000 người buộc phải ở trong các lều tạm trú tồi tàn mà không có các dịch vụ công cộng; vấn đề trên một triệu thường dân ở Congo bị tàn sát trong các cuộc nội chiến, v.v.  Ngay cả những vụ tàn sát ghê rợn người Kitô giáo đang xẩy ra ở Nigeria, họ cũng không muốn Giáo Hội đưa những hình ảnh đó ra trước công luận vì Nigeria không phải là “mục tiêu” của họ. Trong khi đó Giáo Hội lại không ngừng báo động về những vấn đề này.

Trái lại, tại những nơi được coi là “mục tiêu, các quyền lực muốn Giáo Hội phải đồng hành với họ và làm công cụng cho họ. Một thí dụ cụ thể là năm 2010, khi biến cố Thái Hà nổi lên ở Hà Nội, có nhiều dấu hiệu cho thấy các quyền lực muốn nhân cơ hội này biến Giáo Hội Công Giáo Việt Nam thành một lực lượng đối kháng thay thế Giáo Hội Phật Giáo Ấn Quang đang bị suy tàn. Khi “những con nai vàng ngơ ngác” sắp bị trúng kế thì Giáo Hội đã can thiệp và ngăn chận kịp thời.

Các quyền lực đang xử dụng các hệ thống truyền thông để tạo một Giáo Hoàng theo ý muốn của họ bằng cách một mặt đánh phủ đầu để triệt hạ uy tín của Giáo Hội và các giáo sĩ mà họ tin đang có ảnh hưởng quyết định trong Giáo Hội, và mặt khác đưa ra những hình ảnh mà theo họ có thể đưa Giáo Hội ra khỏi những khó khăn. Nhưng Giáo Hội đã có những biện pháp để ngăn chận những âm mưu này.

KHI CÁC QUYỀN LỰC RA TAY

Ngày 23.2.2013, Linh mục Lombardi, Giám Đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, đã mạnh mẽ tố giác sự xuyên tạc và vu khống của một số cơ quan truyền thông về hoạt động của Tòa Thánh. Linh mục nói rằng hành trình của Giáo Hội trong những tuần lễ cuối cùng của triều đại Giáo Hoàng Benedict XVI là rất là cam go, xét vì tình trạng mới mẻ. Ngài nói:

“Thực vậy, không thiếu những kẻ lợi dụng lúc kinh ngạc và ngỡ ngàng của những người có tinh thần yếu đuối để gieo rắc hoang mang và sự mất uy tín cho Giáo Hội và các vị lãnh đạo Giáo Hội, bằng cách dùng đến những phương thế cổ xưa - như nói xấu, xuyên tạc, và đôi khi vu khống nữa - hoặc tạo sức ép không thể chấp nhận được để ảnh hưởng đến việc thực thi nghĩa vụ bầu cử của thành viên này hay thành viên khác trong Hồng Y Đoàn, cho rằng vị ấy không xứng đáng vì lý do này hay vì lý do khác.”

Sau đó Linh mục nói thẳng ra rằng “các quyền lực” (powers), tức các nhà cầm quyền, muốn dùng hệ thống truyền thông để gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử Giáo Hoàng. Linh mục nói:

“Qua diễn biến của các thế kỷ, các Hồng Y thường phải đối phó với nhiều hình thức áp lực. Nếu trong quá khứ cái gọi là các quyền lực (tức các nhà cầm quyền) đã thực hiện những áp lực lên việc bầu Giáo Hoàng, thì ngày nay có một âm mưu thực hiện điều đó qua công luận.”

[Through the course of the centuries, Cardinals have faced many forms of pressure. If in the past, the so-called powers (i.e. states) exerted pressures on the election of the Pope, today there is an attempt to do this through public opinion.]

Quả thật, trong lịch sử của Giáo Hội Công Giáo đã xẩy ra nhiều cuộc xung đột giữa thế quyền và giáo quyền. Thí dụ vào năm 824, vị đồng Hoàng Đế Lothair cương quyết đòi phải cho những người La Mã, giới tu sĩ và giáo dân được quyền tham gia vào việc bầu chọn Giáo Hoàng. Ông hứa sẽ không can dự vào cuộc bầu cử với điều kiện vị Giáo Hoàng được chọn phải thề trung thành với Hoàng Đế. Năm 962, ĐGH Gioan XII phải đồng ý thề trung thành với Hoàng Đế La Mã là Otto lúc đó, để đổi lại việc Hoàng Đế không can dự vào việc bầu cử.

Tháng 8 năm 1903, khi 62 vị Hồng Y họp để bầu người kế vị ĐGH Léo XIII, các vua ba nước Áo, Pháp và Tây Ban Nha đã xử dụng quyền phủ quyết (veto) với các ứng cử viên Giáo Hoàng. Dựa vào quyền này, vua nước Áo đã loại trừ không cho ĐHY Mariano Rampolla, một Hồng Y nổi tiếng, tranh cử chức Giáo Hoàng. Mãi đến khi ĐHY Giuseppe Sarto trở thành Giáo Hoàng Pius X, ngài mới ban hành tự sắc hủy bỏ đặc quyền phủ quyết này của các vua.

Ngày xưa, phạm vi hoạt động của Giáo Hội còn giới hạn, nên các quyền lực có thể can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của Giáo Hội. Ngày nay, phạm vi hoạt động của Giáo Hội bao trùm cả thế giới nên các quyền lực không thể can thiệp trực tiếp được nữa, nhưng họ đã can thiệp gián tiếp qua các hệ thống truyền thông (media) như Linh mục Lombardi đã tố cáo.

NHỮNG QUẢ BONG BÓNG ĐƯỢC THẢ RA

Cuộc thăm dò của Trung tâm Nghiên cứu Pew được công bố ngày 22.2.2013 cho biết hơn một nửa số người theo Công Giáo ở Mỹ cho rằng sẽ là một điều tốt đẹp nếu Giáo Hoàng mới là người đến từ Nam Mỹ, Châu Á hoặc Châu Phi. Nói cách khác, họ không muốn một Giáo Hoàng từ Âu Châu. Đây là một quả bong bóng.

Các cơ quan truyền thông khác đã thả ra hai quả bong bóng khá hấp dẫn: Theo họ, một trong hai Hồng Y Mỹ sau đây có thể được cử làm Giáo Hoàng, hoặc là ĐHY Timothy Dolan, hiện là TGM New York và là Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ, hoặc là ĐHY Patrick O'Malley, TGM Boston.

Tờ La Repubblica ở Ý, một tờ báo chuyên thả bong bóng về Vatican trong hai tuần qua, loan tin rằng các Hồng Y người Ý đi tiên phong trong việc đề cử một Hồng Y Mỹ làm Giáo Hoàng. Tờ này nói có tin cho biết ĐHY Tarcisio Bertone, hiện là Quốc Vụ Khanh của Toà Thánh, một người đầy quyền lực, đang lặng lẽ vận động cho “ứng cử viên” Dolan.

Ký giả Stéphane Bussard viết một bài bằng tiếng Pháp dưới đầu đề “L’Amérique catholique rêve d’avoir son pape” (Người công giáo Mỹ mơ ước một vị giáo hoàng của họ) đăng trên báo Le Temps, nói rằng từ khi nghe tin ĐGH Benedict XVl từ nhiệm, người Công Giáo Mỹ ước mơ một ĐGH Mỹ.

Bài báo nói rằng ĐHY Dolan là người trung thành với giáo lý của Vatican trong những vấn đề  tu sĩ độc thân, truyền chức cho phụ nữ, cho phép phá thai và ly dị, nhưng tên ngài không được nhắc đến trong danh sách các Hồng Y kế vị, mặc dù tên ngài vẫn có trong danh sách bầu Giáo Hoàng.

Tác giả nói rằng theo dư luận thì trong cuộc bầu cử Giáo Hoàng sắp tới nếu người kế vị ĐGH Benedict XVl là người Mỹ, Giáo Hội Công Giáo có nhiều lợi thế hơn, vì số người Công Giáo Mỹ đông nhất thế giới sau Brésil, Mexico và Philippines. Có 74 triệu người Mỹ được định danh là Công Giáo và gần 100 triệu người đã được rửa tội. Nhưng người Mỹ Công Giáo mất đà phát triển.

Theo tác giả, Hoa Kỳ từ lâu đã đóng góp lớn nhất cho Vatican, trước cả Pháp và Đức. Việc bầu một người Mỹ còn là một sự bất ngờ làm chấn động Công Giáo vẫn luôn nằm ở Âu châu.

Nếu các cơ quan truyền thông Mỹ đứng ra làm công việc “vận động” này sẽ bị coi là “thổi ống đu đủ” hay gây áp lực. Để cơ quan truyền thông Ý và Thụy Sĩ làm rồi các cơ quan truyền thông Mỹ loan lại sẽ được coi là “thông tin”. Nhưng một câu hỏi lớn đã được đặt ra: Tại sao các cơ quan truyền thông Ý và Thụy Sĩ lại đi “vận động” cho Giáo Hoàng Mỹ?

Khi các ký giả Hoa Kỳ vây quanh ĐHY Dolan và hỏi ngài về chuyện ngài có thể được chọn làm Giáo Hoàng, ngài đã cười và nói: “Mấy người nào đoán như thế thì là những người hút cần sa rồi nằm mơ giữa ban ngày.”

Còn ĐHY Patrick O'Malley cho rằng đó chỉ là việc "nhàn rỗi trò chuyện" mà thôi. Ngài nói:

"Tôi biết rằng đã có nhiều dự đoán về những người có thể thay thế đức Giáo Hoàng Benedict. Tuy nhiên, tôi cho những dự đoán đó toàn là những chuyện hão huyền. Thay vào đó, chúng ta nên tập trung vào việc cầu nguyện để Đức Thánh Linh ngự xuống giúp đỡ và hướng dẫn các vị Hồng Y bầu cho được một người cần cho Giáo Hội tại thời điểm này."

Trong bài “Tại sao sẽ không có một Giáo Hoàng người Mỹ?” đăng trên FoxNews.com ngày 21.2.2913, Linh mục Dòng Tên Thomas Worcester, giáo sư Sử tại College of the Holy Cross, đã nhận định rằng nếu Trung Quốc thống trị thế giới, cơ hội có một Giáo Hoàng người Mỹ có thể được đặt ra, nhưng hiện nay Hoa Kỳ đang thống trị thế giới về quân sự, chính trị, ngoại giao, văn hoá và kinh tế, ít người không phải là người Mỹ muốn cộng thêm vào danh sách đó sự thống trị về tôn giáo.

NGĂN CHẬN SỰ CHI PHỐI

Ngày 22.2.2013 ĐGH Benedict XVI đã ban hành Tông thư Tự sắc “Normas nonnullas” điều chỉnh một số điều khoản của luật bầu Giáo Hoàng để tránh những sự chi phối từ bên ngoài. Tông thư khá dài, nhưng chúng ta chỉ cần lưu ý đến hai quy định sau đây:

Quy định thứ nhất đáng chú ý là “không một Hồng Y cử tri nào sẽ bị loại trừ khỏi việc bầu cử tích cực hay thụ động, vì bất cứ lý do hay viện cớ nào…”

Như vậy các Hồng Y dưới 80 tuổi đều đến tham dự Mật Nghị để bầu Giáo Hoàng. Không ai có quyền viện lý do này hay lý do khác để ngăn cản.

Quy định thứ hai là ấn định thời hạn họp Mật Nghị để bầu Giáo Hoàng mềm dẽo hơn. Trước đây thời hạn này được ấn định là 15 ngày kể từ khi trống ngôi Giáo Hoàng và không quá 20 ngày. Tông thư mới cho phép Hồng Y Đoàn quyền bắt đầu Mật Nghị trước 15 ngày, nếu nhận thấy có sự hiện diện của tất cả càc Hồng Y cử tri, và cũng có thể kéo dài ra vài ngày nếu có các lý do nghiêm trọng. Tuy nhiên, lâu nhất vẫn là 20 ngày.

Quy định này có thể giúp Mật Nghị Hồng Y họp sớm hơn, tránh cảnh dùng thời gian kéo dài để làm “lobby” hay gây áp lực.

Giáo Hội Công Giáo tin tưởng rằng việc chọn ai làm Giáo Hoàng là do sự soi sáng của Đức Chúa Thánh Thần. Do đó, các áp lực hay suy đoán thường không đúng. Cụ thể là năm 2005, không ai liệt kê ĐHY Joseph Ratzinger vào danh sách các vị có thể đắc cử Giáo Hoàng, nhưng ngài đã đắc cử và trở thành Giáo Hoàng Benedict XVI.

Vatican có câu ngạn ngữ Latin: “Qui intrat papa exit cardinalis” (Ai  đi vào là Đức Thánh Cha, đi ra là Hồng Y). Người Mỹ dịch "He who enters the conclave as Pope leaves as a Cardinal."

LỜI CHÀO TỪ BIỆT

Năm nay, khi giảng tĩnh tâm cho Giáo Triều Roma vào Mùa Chay với đề tài “Nghệ thuật cầu nguyện, nghệ thuật tin", ĐHY Gianfranco Ravasi, Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Văn Hóa, đã nói:

“Chúng ta đang ở trong thung lũng vây quanh bởi quân Amalek, nơi có bụi mù, lo âu, và bao nhiêu điều kinh khủng, nhưng chính nơi đây cũng có những giấc mơ và hy vọng vì ngay từ bây giờ chúng ta biết rằng trên núi có người chuyển cầu cho chúng ta”.

Đoạn này được cảm nhận từ chương 17, sách Xuất Hành (Cựu Ước). Chương này kể lại rằng trong trận đánh giữa người Do Thái và quân Amalek, bao lâu ông Môisê giang tay cầu nguyện thì Israel chiếm ưu thế so với quân Amalek. Và khi nào cánh tay của ông hạ xuống, Israel bị lâm vào thế yếu.

Ngày 23.2.2013, ĐGH Benedict đã kết thúc tuần tĩnh tâm nói trên. Dựa theo bài giảng của ĐHY Gianfranco Ravasi, ĐGH nói:

"Vẻ đẹp của công trình ấy (công trình do Thiên Chúa tạo dựng) bị sự ác trong trần thế này chống đối, bị đau khổ và sự hư hỏng chống lại. Như thể ma quỷ muốn làm nhơ bẩn mãi mãi công trình sáng tạo của Thiên Chúa, chống lại Thiên Chúa để làm cho chân lý và vẻ đẹp của Ngài không thể nhận ra được…

“Trong thinh lặng của đêm đen, chúng ta có thể lắng nghe Lời Chúa. Tin không là gì khác hơn là động chạm đến bàn tay Thiên Chúa, trong đêm đen của trần thế, lắng nghe Lời Chúa, nhìn thấy tình yêu”.

Ngài 27.2.2013, khi chào từ biệt khoảng 200.000 tín hữu trên thế giới đến tiển đưa ngài tại công trường Thánh Phêrô, ĐGH đã nói:

“Con thuyền Giáo Hội không phải của tôi, không phải của chúng ta, nhưng là của Chúa, và Người không để cho nó chìm. Chính Chúa điều khiển nó, chắc chắn qua cả các người mà Người đã chọn, bởi vì Người đã muốn như thế.

“Thiên Chúa hướng dẫn Giáo Hội, Người luôn đỡ nâng Giáo Hội nhất là trong những lúc khó khăn. Người luôn ở gần chúng ta, Người không bỏ rơi chúng ta, Người ở gần chúng ta và bao bọc chúng ta với tình yêu của Người. Chúng ta đừng bao giờ mất đi quan niệm đức tin này, là quan niệm duy nhất đích thật của con đường của Giáo Hội và của thế giới.”

Tại Sài Gòn, trong văn thư đề ngày 25.2.2913, ĐHY Phạm Minh Mẫn kêu gọi các tín hữu “hãy cùng nhau cầu nguyện cho Đức Bênêđictô XVI và cho vị Giáo Hoàng tương lai, để ngài tiếp nối các vị tiền nhiệm đáng kính, hướng dẫn chúng ta bước theo Chúa Giêsu Đấng Cứu Độ, trên con đường hòa nhập vào gia đình nhân loại, yêu thương đến cùng, khiêm tốn phục vụ cho sự sống mới và sự phát triển toàn diện của con người.”

Ngày 28.2.2013


Lữ Giang

Hàn Quốc: Học chết thử một lần...

Học chết thử một lần...


image



Hàn Quốc là một trong những quốc gia có tỉ lệ tự tử cao nhất thế giới và chính phủ Hàn Quốc đang phải chịu sức ép ngày càng tăng để ngăn chặn tình trạng này. 
Dường như tỷ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế nhanh trên thế giới, nhiều người Hàn Quốc ngày càng cảm thấy ít hạnh phúc hơn. Số liệu mới nhất của chính phủ Hàn Quốc cho biết các vụ tự tử ở nước này đã tăng hơn gấp đôi trong 10 năm qua. Trung bình mỗi ngày ở Hàn Quốc có tới 42 người tự tử khi đang ở độ tuổi từ 10-40.


image
Tự tử là vấn nạn lớn của Hàn Quốc. Trong ảnh, người hâm mộ đội mưa tưởng nhớ Park Yong Ha - một diễn viên nổi tiếng Hàn Quốc, tự tử năm 2010. Hình minh họa



Cứ 100.000 người thì có đến 28 người chết do tự tử, tỉ lệ cao nhất trong số 33 thành viên thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Đặc biệt, những người tự tử ở độ tuổi 20 chiếm đa số với 44,6%. Chưa hết, trẻ vị thành niên cũng không là ngoại lệ ở Hàn Quốc. Bộ Giáo dục Hàn Quốc cho biết chỉ trong năm 2010 đã có tới 146 học sinh tự tử, trong số đó có 53 em học cấp 2 và 3 em học tiểu học.

image

Giải mã cho xu hướng tự tử đã thành trào lưu ở Hàn Quốc, các chuyên gia tâm lý nhận định rằng hầu hết các nạn nhân đều bị mắc chứng bệnh trầm cảm nặng do phải chịu quá nhiều áp lực, gặp khó khăn trong công việc hoặc dính tin đồn bôi nhọ người Hàn Quốc rất coi trọng danh dự, họ có xu hướng hình thành lòng tự tôn của mình thông qua cách người khác cảm nhận và đánh giá họ như thế nào. Khi không thể hiện được mình với mọi người theo cách tốt nhất hoặc khi lòng tự trọng bị tổn thương, họ tìm tới cái chết.

Mở khóa học chết thử để ngăn chết thật

Để đối phó với “quốc nạn” này, Hàn Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp ngăn ngừa như thành lập các trung tâm ngăn chặn tự tử trên cả nước, lắp đặt điện thoại khẩn cấp trên các cây cầu, mở thêm các phòng tư vấn sức khỏe tâm thần trên khắp cả nước, tăng cường các chương trình giáo dục cho giới trẻ…

Đặc biệt, gần đây ở Hàn Quốc còn có các khóa học “chết thử” để ngăn chặn nạn tự tử đang gia tăng ở nước này. Giáo sư điều dưỡng tại Đại học Sahmyook (Hàn Quốc) Kang Kyung-ah và cũng là người tổ chức khóa học “chết thử” ở một quận Đông Bắc Seoul, cho biết: “Trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, dù họ trẻ hay già”. Còn một người từng có ý định tự tử khẳng định: “Chỉ có một bước từ sự sống đến cái chết, nhưng sự khác biệt rất lớn”.

Theo Giáo sư Kang, “khóa học này có thể giúp nhiều người thay đổi nhận thức về ý nghĩa cuộc sống và giúp họ có cơ hội hiểu bản thân hơn”. Dẫn chứng cụ thể, ở tuổi 62, ông Ha Yu-soo bắt đầu lo nghĩ về cái chết và tự hỏi không biết khi nào tử thần sẽ gõ cửa. Thế rồi, ông Ha quyết định tham gia một lớp học “chết thử” ngay tại Hàn Quốc.

Ông được mặc một chiếc áo choàng truyền thống bằng sợi gai dầu màu vàng (thứ trang phục được mặc cho người chết ở Hàn Quốc) và nằm vào trong một chiếc quan tài. Ông cảm thấy bình an cho đến khi nắp quan tài đóng lại, chỉ còn bóng tối và sự ảm đạm. Khi đó, ông mới nhận ra nỗi sợ hãi tồi tệ nhất: bóng tối vĩnh cửu cuối cùng đã đến. Bước ra khỏi chiếc quan tài lạnh lẽo, ông Ha nói cùng tiếng thở dài nhẹ nhõm: “Ơn trời vì đây chỉ là một lễ tang giả”.

Bầu không khí sau đám tang thông thường rất ảm đạm, song những người tham gia “chết thử” lại vui mừng vì được trở lại cuộc sống. Họ bắt đầu vỗ tay và hát vang một bài ca mang tên “Hạnh phúc”.

image

Ông Ha là một trong số 70 người tham dự khóa “chết thử” được một văn phòng địa phương ở quận Đông Bắc Seoul thực hiện. Phương châm của khóa học này là: “Đừng biến cuộc sống thành một sự ban ơn”.

Bà Baek Sung-ok, mắc bệnh ung thư buồng trứng từng từ chối hóa trị vài năm trước, cho biết việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy trân trọng hơn những người xung quanh. Bà cất tiếng từ trong quan tài: “Tôi sẽ từ bỏ tính tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con gái nhiều hơn”.

Theo China Daily, một hoạt động khác trong khóa học “chết thử” này là viết thư tuyệt mệnh. “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận và vị tha hơn với nhau”, viết những dòng trên cho 4 con yêu của mình, ông Kim Young-sook đã không thể cầm lòng. Đúng là trải nghiệm cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người.

Tất nhiên, trong khi một số người thấy đám tang giả như một cách để phản ánh cuộc sống và chuẩn bị cho cái chết, thì nhiều người lại hoài nghi liệu việc mô phỏng cái chết có thể ngăn chặn tự sát và cho rằng một số doanh nhân đang làm việc này để kiếm lời. Giáo sư Kang phản biện: “Thay vì chuẩn bị cho cái chết, chương trình này muốn họ nghĩ về cuộc sống và tận hưởng nó một cách có ý nghĩa hơn”.

Theo Phụ nữ Thủ đô


Chết thử và Chết thật

image

Chuyện mô tả một người giả vờ chết sau khi uống một ly nước lọc, mà người nhà tưởng ông đã uống thuốc độc để quyên sinh. Ðã hơn nửa thế kỷ qua, tôi không còn nhớ tác giả mô tả nhân vật chính trong vở kịch giả chết như thế nào và có sự phụ giúp của ai không, nhưng trong khi chờ tẩm liệm, ông được nghe và biết con cái, bà con và bạn bè của ông nói về ông và đối xử với ông như thế nào!

Bạn cứ thử tưởng tượng ra khi đã nằm trong quan tài ở nhà quàn rồi, mà bạn có thể nghe những người đến viếng, bề ngoài thắp nén nhang kính cẩn viếng bạn, nhưng sau đó lại đàn đúm nói xấu bạn hết lời, hay đứa con bất hiếu đang toan tính chi ly chia phần phí tổn tang lễ sau này cho anh em ra sao,  và lăm le để ý đến cái nhà, cái xe, trương mục trong ngân hàng của bạn và rồi đây sẽ gửi người vợ già của bạn vào nhà dưỡng lão nào?

Giá người ta có thể chết thử một lần rồi sống lại thì sướng biết mấy? Bạn sẽ biết có bao nhiêu trang báo chia buồn, sẽ có bao nhiêu tràng hoa viếng, bao nhiêu người tiễn chân bạn đến mộ phần. Sẽ có bao nhiêu người vui mừng khi nghe tin bạn qua đời, và sẽ có những ai thương yêu thật sự, bàng hoàng, tiếc nuối về sự ra đi của bạn.Thế giới này không còn sự hiện hữu của bạn có thay đổi gì không?

Nhưng người ta chỉ có thể chết một lần, nên mọi điều xẩy ra sau cái chết, vui buồn, xấu tốt, bạn không thể nào biết được, nếu chết là hết. Thôi như thế cũng hay! Nếu biết những gì xẩy ra sau cái chết của bạn, có hai điều xẩy ra, một là bạn muốn chết phứt đi cho xong, hai là lại yêu cuộc sống này hơn. Tôi nghĩ là bạn sẽ chọn điều thứ hai, vì dầu sao cuộc sống này cũng không đến nỗi nào đáng ghét.

Một văn phòng dịch vụ ở Hán Thành, Nam Hàn có sáng kiến là sẽ tạo cơ hội cho khách hàng qua một lần chết thử, để thấy cảm giác nó ra sao, cũng như quan niệm về sự sống có gì thay đổi, khi bạn, coi như từ cõi chết, sống trở lại, dở nắp hòm ngồi dậy. Ông Ha Yu-soo, 62 tuổi là một người khách hàng của dịch vụ chết thử. Ông mặc một bộ quốc phục dành cho người chết khi tẩm liệm, nằm thẳng trong quan tài chiếc quan tài chật hẹp, ông không cảm thấy điều gì khác lạ thay đổi, cho đến khi nắp quan tài được đóng lại và nghe tiếng búa gõ trên nắp hòm. Trong bóng tối vây tỏa, lặng câm, ông cảm thấy sợ hãi vô cùng, tưởng như mình đã chết thật. Những giây phút trong bóng tối dày đặc đó, những ý nghĩ chết chóc ập đến, và bao nhiêu ý nghĩ hiện lên trong đầu óc ông. Nhưng may, ông đã trấn an mình: “Ðây chỉ là một sự chết giả mà thôi!” Lạy trời, đẹp đẽ biết bao khi ta vẫn còn sống! Từ“phút chết” trong bóng tối bước ra ngoài ánh sáng của sự sống, trong tâm hồn ông đã có một sự thay đổi lớn.

Ban tổ chức khóa học, cho biết, kinh nghiệm về cảm giác sắp chết sẽ mang lại ý nghĩa về sự sống cho tất cả mọi người, bất kể họ già hay trẻ, thuộc tầng lớp nào trong xã hội.

Sau khi chết thử, những người này cảm thấy sự sống đáng quý hơn, những người chung quanh mình đáng yêu hơn, tha thứ mọi lỗi lầm của kẻ khác. Ðiều này cũng như sau khi thoát chết trong một tai nạn thảm khốc nào đó, con người trở nên hiền lương, bỏ mọi sự tham lam, cố chấp hẹp hòi, và mở rộng tấm lòng hơn đối với tha nhân.

Nhiều người đã thay đổi sau khi họ thoát chết từ vụ tháp đôi ở New York hay từ vụ Tsunami mới đây của nước Nhật. Chúng ta sẽôm hôn mọi người, xem cái tôi từ nay là hạt cát, chúng ta sẽ không còn kẻ thù, không còn ai để ghét bỏ. Ngoài đường phố sáng nay sao thấy ai mặt mày cũng trung hậu, dễ thương, chúng ta muốn chào hỏi với cả thiên hạ, bắt tay mọi người và la lớn ở góc phố như một thằng điên: “Tôi vẫn còn sống! Tôi yêu thương hết thảy mọi người!”

Khi nằm trong quan tài “chết thử” có thể người ta sẽ nghĩđến những việc lâu nay chưa làm, những món tiền chưa tiêu hết, những điều chưa nói với ai đó. Trước khi chết, bạn sẽ viết thư cho ai, để lại chúc thư như thế nào, nói những lời trăn trối ra sao? Một người trước khi chết thửđã viết cho con: “Ngay cả khi cha không còn trên cõi đời này, mong các con hãy hòa thuận vàđối xử với nhau tử tế hơn!” Một bệnh nhân ung thưđang ở vào thời kỳ cuối cùng, cho biết, việc trải nghiệm cái chết thử làm bà cảm thấy thương yêu hơn đối với những người xung quanh. Bà hứa “sẽ từ bỏ thói tham lam, ích kỷ với chồng và yêu con cái nhiều hơn”.

image

Ðó chỉ mới là chuyện “chết thử!”Còn như, bằng cách nào đó bạn biết rằng chỉ còn 24 giờđồng hồ nữa thôi, bạn sẽ thở hơi thở cuối cùng, giã từ cuộc đời đẹp đẽ này, thì bạn sẽ làm gì, suy nghĩ ra sao, đối xử với mọi người như thế nào? Trong trương mục ngân hàng, bạn có nửa triệu đồng chưa tiêu hết, bạn sẽ phân bố như thế nào, cho ai? Bạn chưa kịp nói với ai một lời xin lỗi, chưa kịp nói với ai một lời yêu thương. Trong sự hối hả của chút thời gian còn lại, bạn hối tiếc những gì, ân hận điều chi? Có những người trong gian trá, lừa lọc kiếm đồng tiền bất chính, để trở nên giàu có, có những kẻ đạp lên đầu người khác để tìm chỗ tiến thân cho mình, tiền của, danh vọng nào có thể mang theo?

Không, cũng  như những người chết khác, bạn sẽ ra đi tay không? Chỉ còn 24 tiếng đồng hồ ngắn ngủi nữa thôi, dù có vội vàng, chúng ta cũng không làm kịp những điều chưa làm, sửa đổi kịp những điều lầm lỗi. Ðó là trường hợp chỉ một mình bạn ra đi.Những nhà tiên tri trên thế giới này loan báo về một ngày tận thế, dùđã sai nhiều lần và nói đi nói lại nhiều lần, đến nỗi những lời tiên tri đã trở thành một trò bịp nhảm nhí, nhưng phần tôi, tôi vẫn tin sẽ có ngày như thế. Chúng ta đã thấy cảnh tượng bình địa ở Hiroshima và Nagasaki vào tháng 8-1945, khi hai quả bom nguyên tử rơi xuống đã giết khoảng 210, 000 người. Trận sóng thần tồi tệ nhất trong lịch sử được ghi nhận là tại Ấn Ðộ Ðương vào năm 2004 đã gây cảnh hoang tàn và giết chết 230,000 người ở 11 quốc gia. Tsunami ở Nhật năm 2011 làm thiệt mạng hơn 20,000 người và những quang cảnh chúng ta thấy ở miền Bắc nước Nhật không khác gì một bãi rác khổng lồ. Ðó chính là hình ảnh cho ta thấy trước những gì sẻ xẩy ra trong ngày tận thế.

Ðến một ngày nào đó quả đất này sẽ nổ tung hay tất cả các băng sơn ở Bắc Băng Dương sẽ tan rã, nhận chìm địa cầu này dưới hai mươi thước nước. Sẽ không còn một sinh vật nào trên trái đất này nữa! Nếu có một ngày như thế sẽ đến ngay ngày mai đây thôi, liệu chúng ta có sống được một ngày tốt hơn, ngay thẳng hơn, tử tế với đồng loại của chúng ta hay không? Không cần phải chết thử, mỗi người chúng ta đều phải đến một ngày chết thật!

“Thử chết” ở Thái Lan

(Tin tuc) - Wat Prommanee là một ngôi đền kỳ lạ tại Thái Lan bởi đến đó bạn có cơ hội trải qua cảm giác chết đi sống lại chỉ với một số tiền nhỏ.
Wat Prommanee nằm cách thủ đô Bangkok 60 dặm về phía Bắc và khi đến đây bạn sẽ được tận mắt nhìn thấy 9 cỗ quan tài lớn với màu sắc rực rỡ nằm ngay tại điện chính. 9 cỗ quan tài được cho là biểu tượng của 9 tầng địa ngục.

image
9 chiếc quan tài đặt trong ngôi đền Wat Prommanee



Và điều bất ngờ hơn cả là bạn sẽ thấy hàng nghìn người xếp hàng chờ đợi với mong muốn được trải qua cảm giác chết đi sống lại trong vòng 90 giây.

image
Đến Wat Prommanee bạn có cơ hội nằm trong  quan tài...

Được biết kể từ khi nghi lễ đặc biệt này ra đời tại đây, ngôi đền này đã trở nên nổi tiếng trên toàn thế giới và những người bi quan hay cảm thấy tuyệt vọng thường tìm đến đây để cầm một bó hoa, thì thầm những lời cầu nguyện rồi nằm trong quan tài, lắng nghe kinh Phật, tỉnh dậy và cảm thấy cuộc sống tuyệt vời hơn rất nhiều.

image
...để thử cảm giác chết đi sống lại.

image
Khi đó bạn sẽ được lắng nghe tiếng đọc kinh của các nhà sư....

Chị Nual Chaichamni, một người đã từng trải qua cảm giác đặc biệt này cho biết: “Khi nằm trong quan tài tôi cảm thấy rất ấm áp và khi bước ra, tôi thấy thoải mái hơn trước rất nhiều. Lúc đó, tôi bắt đầu nghĩ về những điều tốt đẹp, nghĩ về hình ảnh của Đức Phật  ở trên điện thờ và tôi cảm thấy tốt hơn”.

image
...và khi tỉnh dậy bạn sẽ thấy cuộc sống tốt đẹp hơn trước rất nhiều

Có lẽ nếu có cơ hội đến thăm Thái Lan, bạn nên tới ngôi đền đặc biệt này để cảm nhận cảm giác khi nằm trong quan tài, lắng nghe tiếng đọc kinh của các nhà sư và để hiểu cuộc sống quý giá đến nhường nào.

Chết thử một lần cho biết

(TNO) Những ai muốn biết cái cảm giác nằm trong quan tài ra sao thì xin mời đến khách sạn Mausoleum ở tỉnh Giang Tô (Trung Quốc).

Chủ khách sạn là một phụ nữ, bà Jiao Meige. Đầu tiên, bà thuê một khu đất định làm trang trại nhưng vì trong khu đất có quá nhiều ngôi mộ cũ nên chẳng ai dám làm việc cho bà. Làm trang trại không xong, bà chủ quyết biến nó thành... khách sạn dựa trên một thế mạnh mà không phải ai cũng có được: những ngôi mộ!
Cái khách sạn của bà được xây giống như một lăng mộ, còn những chiếc giường thì có hình quan tài! Ban đêm, nhân viên khách sạn sẽ không làm việc nên các vị khách quý  tha hồ “chết” mà không sợ bị bất kỳ ai làm phiền. Còn nếu họ thấy buồn thì cứ việc ra khỏi “quan tài” mà thăm viếng các “láng giềng”  nằm trong các ngôi mộ thật ở bên ngoài.


Đoan Nhật

Bỏ Mạng : Trí Thức Theo Cộng

Trí Thức Theo Cộng

image
Có người đã cho rằng điều đáng ghi nhớ nhất trong thiên niên kỷ vừa qua của nhân loại là sự hình thành và sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản. Theo thiển ý, chẳng những đó là điều đáng ghi nhớ nhất, mà còn là sự kiện lịch sử quan trọng nhất. Nhân loại chưa bao giờ bị thống khổ và kinh hoàng như thế, với hàng trăm triệu người bị sát hại dã man, bị đầy đọa xuống hàng súc vật, và thế giới nhiều phen đã bị cộng sản đẩy đến bên bờ một cuộc chiến tranh nguyên tử. Nếu trí ngu con người đã tạo ra cái chủ nghĩa ác ôn này, thì cũng chính trí khôn con người đã nhận ra con quái vật đó, và tiêu diệt được nó. Một số người Việt Nam, thế hệ cha anh của chúng ta hôm nay, đã đi rước lấy cái chủ nghĩa giết người này về, gây tang thương máu lửa trong gần một trăm năm qua, với những khổ đau chất ngất cho chúng ta, và con cháu tới ngày nay. Trong khi tại cái nôi của chủ nghĩa này, người ta đã chặt đầu con rắn độc cộng sản từ lâu, thì chúng ta vẫn còn đang bị nó xiết cổ!
Tại sao?
Chúng ta đã quằn quại, khổ công suy nghĩ, phân tích, xem tại sao tới nay cộng sản vẫn còn ngự trị trên nước ta, và đã có nhiều câu trả lời:
Tại thời cơ chưa tới; tại dân trí ta còn kém, tại nền văn hóa Khổng giáo đã khiến các sĩ phu chỉ biết cúi mặt tôn thờ chính quyền, dù là chính quyền vô đạo lý và bất nhân; tại chúng ta thiếu đoàn kết, tại cộng sản Việt được Chệt đỏ chống lưng cho nó ngồi, tại chính sách Hoa Kỳ muốn duy trì việt cộng để be bờ chống Tàu cộng tràn xuống Đông Nam Á v.v… Đồng ý với câu trả lời nào, là tùy sự suy nghĩ của mỗi người, và không phải là mục đích của bài viết này. Điều tôi muốn trình bày là tại đất nước ta, đã có một tầng lớp trí thức đem tài năng và uy tín của họ, để phục vụ cho một bọn cướp tàn bạo nhất trong lịch sử, giúp cho giặc quàng cái xiềng vô cổ dân ta, và chính bản thân họ đã lãnh hậu quả của sự sai lầm đó ra sao.
Tại sao một bọn vô học, hiếu sát và lưu manh, có đầy đủ tính chất của một bọn cướp, lại đã có thể nắm đầu những kẻ được đất nước nuôi dưỡng để lãnh đạo, những kẻ “đầu đầy chữ, bụng đầy sách” có sự hiểu biết hơn người, và là tinh hoa thời đại?
Tại sao trong lúc người dân ít học đã biết rõ sự tàn độc và nhưng mưu đồ đen tối của lũ bịp cộng sản, thì có những nhà trí thức lại mê muội đồng hành với bọn đạo tặc và ca ngợi cái ác? Thật là những câu hỏi làm đau đầu và khó trả lời!
Chủ nghĩa cộng sản được một số cán bộ ít học đưa vào Việt Nam. Có nhiều lý do để cho rằng bọn này chẳng hiểu gì nhiều về cái chủ nghĩa mà chúng nó muốn gieo rắc. Xin đừng ai ngụy biện để chứng minh rằng những ông Nguyễn Sinh Cung, Đặng Xuân Khu, Trần Phú, Đỗ Mười, Lê Duẩn, … và hầu hết các cấp lãnh đạo của Việt cộng, đã đọc và hiểu thấu đáo Tư Bản Luận! Nếu có ông trí thức nào bỏ công đọc các kinh điển của chủ nghĩa Mac, rồi “phụ đạo” cho các lãnh tụ, thì với trình độ văn hóa tiểu học, các lãnh tụ đó có sức để hiểu nổi không? Cụ Nguyễn Mạnh Tường, một người nằm “trong chăn” cộng sản, viết cuốn Hồi Ký Un Excommunié, đã mỉa mai bọn lãnh tụ cộng sản về sự mù tịt, không biết chút gì về cái chủ nghĩa mà chúng cuồng tín. Thật ra, cho tới lúc này, bọn đầu sỏ của Việt cộng trong cái gọi là Bộ Chính Trị, tự thâm tâm, đều biết chúng chỉ là một bọn bịp.
Chúng như một lũ mù đang dọ dẫm tìm đường đi để tự cứu! Cộng đảng đã từng sửa sai bao nhiêu lần, sửa lại theo cái đã cho là sai, và cuối cùng đưa ra cái mô hình xã hội mà chính chúng cũng không dám nói rõ là chúng đang rụt rè trở lại con đường tư bản: Kinh Tế Thị Trường Theo Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa! Thế nhưng trong khi đó, một số trí thức, ngay từ những ngày đầu, khi chủ nghĩa cộng sản mới được du nhập xứ Việt, đã vội tung hô bọn cộng, giúp chúng gieo rắc môt cái chủ nghĩa vô cùng tàn độc! Vẻ uyên bác, cùng với xảo thuật và miệng lưỡi của đám trí thức theo cộng này, đã góp phần quan trọng cho sự thành công của lũ chơi bạc bịp! “Xã hội không còn giai cấp; làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu; phá tan biên cương loài người sống thân yêu …”, những món hàng không tưởng đầy sự bịp bợm ấy, đã một thời được các ông trí thức theo cộng say sưa truyền đạt, nay trở thành chuyện khôi hài vô duyên, chẳng còn anh Cộng lớn, Cộng bé nào dám nhai lại. Không biết chúng ta có nên gọi những ông có học, có bằng cấp cao, mà đầu óc đã ngừng suy luận, hoặc chỉ suy nghĩ về danh, lợi, này là trí thức? Trí thức, như chúng ta thường nghĩ, phải là kẻ hiểu sâu, biết rộng, phân biệt phải trái, là tinh hoa chỉ lối cho người khác noi theo. Ngoài lãnh vực chuyên môn, người trí thức phải biết quan tâm đến cái thể chế và tổ chức xã hội mình đang sống, góp sức làm cho xã hội ngày một tốt đẹp hơn. Người trí thức chỉ đường cho quần chúng noi theo, phải nhận chân được sự lương thiện và sự bịp bợm. Có người sẽ coi lại: biển học thì mênh mông, các tổ chức xã hội, thể chế chính trị thì phức tạp, ai mà dám cho mình là người biết hết sự đời. Trong khi đó thì bọn Cộng sản là bậc thầy của sự bịp bơm và là bọn điếm đàng quốc tế, được huấn luyện và dạy dỗ những phương cách vô cùng xảo quyệt để lừa bịp. Vả lại, chúng tôi cũng không thích nghiên cứu chính trị, nên không biết gì về chủ thuyết cộng sản. Ấy cũng là sự thường vậy!. Thưa vâng, không ai biết hết sự đời! Ít người muốn tìm hiểu về chính trị. Nhưng cái thể chế chính trị do một bọn cướp áp đặt lên đầu mình, thì mình cần, và có bổn phận phải biết nó ra sao chứ! Huống chi chủ thuyết cộng sản và những hậu quả khốc liệt của nó trong gần một thế kỷ qua, trên khắp thế giới, thì không ai có thể chối bỏ là mình không biết tới nó. Vả lại, nếu đã nhận mình không biết rõ về cộng sản, thì lý do gì khiến mình đi theo nó, ca tụng nó? Một điều quan trọng thiết thân đến đến chính ta, đến con cháu ta, đến xã hội mà ông cha đã nghàn năm vun đắp như thế, mà những kẻ được đời tôn xưng là trí thức lại nhắm mắt tin theo. Không những chỉ hùa theo cái ác, các ông còn dâng hiến tài năng và trí óc cho bọn dã nhân, để chúng thêm nanh thêm vuốt, trong cái xảo thuật bịp bợm và cướp đoạt chính quyền. Nếu trí các ông ù lì, con tim hóa đá, không còn suy nghĩ, và vô cảm trước bao tang thương dâu biển do cộng sản gây ra, thì các ông trí thức, cũng còn có đôi mắt, đôi tai chứ? Có cần chi phải vận dụng tới trí thức uyên bác của các ông để nghiên cứu xem cộng sản là gì! Các ông phải thấy lũ dân đen mà các ông cho là ngu dại, do cảm tính, đã biết ngay rằng chủ nghĩa cộng sản là con rắn độc, là tên bạo chúa tàn ác chưa từng có trong lịch sử nhân loại.
Đã có bạo chúa nào trong cuộc đời ngự trị của hắn, tiêu diệt được cả trăm triệu người vô tội? Bằng kinh nghiệm và cảm nhận, những kẻ mà các ông cho là kém cỏi và vô học, những thằng dân đen, đã bỏ chạy cộng sản còn nhanh hơn tránh dịch hạch! Biết bao lần người dân đã “bỏ phiếu bằng chân” khi cộng sản tới. Chả lẽ các ông không còn cả một chút tò mò trẻ thơ để hỏi: tại sao người ta phải bỏ chạy như thế? Nếu mắt các ông không mù, tai các ông chưa điếc, sao các ông không nhìn thấy bao cảnh kinh hoàng, không nghe những lời than van kêu khóc xé trời, rạch đất của người dân trong nanh vuốt giặc! Hay các ông không thích nhìn gần, mà chỉ muốn viễn mơ về các khung trời xa lạ, để mở mang trí óc? Nếu thế, các ông phải thấy hễ nơi nào có cái bóng dáng “xã hội chủ nghĩa”, là nhân dân nơi ấy tàn mạt, xã hội nơi ấy điêu tàn! Đây là một sự thực hiển nhiên, phơi bày trước mắt loài người lâu gần một thế kỷ; nhưng bọn trí thức theo cộng dường như đã mù, và câm, nên không thấy, và không nói lên được một điều gì!
Danh từ trí thức tôi viết đây, không phải chỉ gồm có những người học cao, văn bằng lớn, mà còn bao gồm cả những ông nhà văn, nhà báo, những người có tên tuổi và địa vị trong xã hội, đã từng là ngọn đuốc hướng dẫn dư luận một thời.
Hồi còn là học trò nhỏ, và ngay khi đã theo học đại học, tôi luôn kính sợ và cảm phục các ông có bằng lớn, các ông viết văn, viết báo, nghĩ rằng mình chỉ nên dựa cột mà nghe, khi các sư, sĩ bàn luận chuyện quốc gia đại sự. Nhưng trong trí óc non nớt của tôi lúc đó, đã thấy có những đám khói mây mờ mịt của sự ngờ, khi thấy ông giáo sư này nói “gà”, nhưng ông tiến sĩ nọ lại kêu “ vịt ”. Các ông trí thức tranh cải nhau rất kịch liệt về nhiều vấn đề họ nêu ra. Nhưng riêng về chuyện tranh cãi nhau giữa người theo và người chống cộng, thì bọn theo cộng đâu cần đến chân lý. Các ông theo cộng thường né tránh lời tố cáo sự không tưởng và tàn độc của cộng sản, bằng cách tố ngược lại những khuyết điểm và sai lầm của phe quốc gia! Kiểu tranh luận cù nhầy này, rút lại chỉ là sự tố cáo các sai lầm vớ vẩn giữa người quốc gia và những anh tập sự làm cán cộng, làm nhạt nhòa đi cái cốt lõi, là sự không tưởng, sự tàn bạo kinh khiếp và nguy hiểm của chủ thuyết Cộng sản.
Bọn trí thức theo cộng, khi bị đuối lý trước những lý luận tố cáo sự bất lương của họ, và trước những sự thực hiển nhiên sờ mó được, về sự sai lầm và tàn độc của cái chủ nghĩa mà họ tôn thờ, vẫn nhơn nhơn, lì lợm, lớn tiếng xưng tụng cộng sản. Họ nghĩ rằng lý của kẻ mạnh bao giờ cũng sẽ là chân lý, và cộng sản là kẻ mạnh, là thế lực đang lên. Không may cho họ, công sản không phải là kẻ mạnh, và lại là thế lực đang đi xuống! Khi cái chủ nghĩa này lăn đùng, đột tử, ngay tại nơi nó phát sinh, những anh theo cộng, nhất là những anh đi hai hàng, lừng chừng đứng giữa, bỗng cảm thấy tẽn tò, vỡ mặt, trước cái xác chết xú uế của chủ nghĩa cộng sản và một núi rác phó sản của nó quá đỗi dơ bẩn, mà từ bao lâu các anh tôn thờ hôn hít. Nhiều anh quay ra cải chầy cải cối: “Chủ nghĩa cộng sản theo lý thuyết, vẫn là chủ nghĩa rất tốt, có sức hấp dẫn. Chỉ khi thực hành mới biết nó không như lý thuyết, và những sự sai lầm của nó, có thể do những người thi hành và áp dụng cái chủ nghĩa ấy gây ra!”. Theo cái trí ngu đần của tôi thì trên đời này không hề có cái lý thuyết nào đúng, mà khi đem áp dụng, thì nó thành ra sai! Lại như nói rằng những sai lầm là do người thi hành gây ra, tức là công nhận những tay tổ sư nhà Cộng như Lê Nin, Stalin, Mao, Hồ… đều là kẻ đã áp dụng sai chủ nghĩa cộng sản. Nhưng nếu những tổ sư nhà cộng mà còn không biết áp dụng sao cho đúng chủ nghĩa, thì ai sẽ làm được chuyện đó? Hỏi như thế chỉ để vạch trần cái lý luận gian manh của mấy anh theo cộng tới giờ thứ 25.
Nhưng xin cho tôi trở lại với chủ đề bài viết: điểm qua một số trí thức theo cộng và hậu quả mà họ nhận lãnh.
1 - Trí Thức Nguyễn Hiến Lê.
Học giả Nguyễn Hiến Lê, một người mà tôi rất kính trọng, trong Hồi Ký của ông, cho biết ông đã đọc trước sau khoảng hai chục cuốn viết về cộng sản Nga, Trung Hoa, Đông Âu. (Thực ra, người Việt chúng ta đâu có cần phải đọc sách nhiều như thế, để biết cộng sản là cái gì! Và tìm hiểu cộng sản qua sách vở, có khi đưa tới sai lầm gây ra đại họa. Nhưng ông Lê là…học giả mà!). Ông Lê cũng được nhiều bạn di cư vô Saigon kể cho ông nghe chính sách điền địa ở Bắc tàn nhẫn tới mức bỏ tù, giết cả những người kháng chiến, có con ở trong kháng chiến, chỉ vì họ có gần hai hecta đất, và bị liệt vào hang địa chủ bóc lột. Chính những bạn của ông Lê cũng đã giúp kháng chiến, đều có lòng ái quốc, đều là những người tốt, mà không thể sống ở ngoài đó được, phải bỏ nhà cửa, họ hàng, mồ mả tổ tiên, vào Nam với hai bàn tay trắng, sống chen chúc trong những khu lao động, can đảm lập lại cuộc đời. Và ông Lê, sau khi đã nghiên cứu, biết rõ cộng sản như thế nào, ông biện minh cho thái độ thân cộng của ông như sau:
“Tôi tuy ghét, tởm Stalin, Mao Trạch Đông…nhưng vẫn tin rằng chế độ cộng sản công bằng hơn chế độ tư bản …, cộng sản Bắc Việt không thể nào tàn nhẫn như Nga và Trung Hoa được! ”
Và ông Lê kết luận bằng cách quơ cả đám trí thức vào phe của ông:
“ Đó là tâm lý chung của đa số trí thức Saigon, chứ chẳng của riêng tôi. ”
[Hồi Ký – Tập 3, trang 20, nhà xuất bản Văn Nghệ].
Ông học “giả” khả kính, đọc thiên kinh vạn quyển, được tận mắt, tận tai nghe các bạn thân ở Bắc thuyết trình cho nghe sự tàn bạo của bắc cộng, mà ông vẫn “tin rằng ” và còn võ đoán rằng “đó là tâm lý chung của đa số trí thức Saigon”, thì những ông trí thức, học “thiệt” sẽ “ tin rằng” và có “tâm lý ” ra sao về cộng sản? Sự suy diễn của nhà học giả - và của đa số trí thức Saigon, theo lời ông Lê – cũng rất kỳ lạ, đến mức khó hiểu.
Ghét Mao Trạch Đông, ghê tởm Stalin, nhưng lại tin rằng cộng sản Bắc kỳ không tàn nhẫn như Nga, Tàu! Cộng sản Việt há không phải là một bản sao, một thứ học trò hăm hở theo lời thầy, và tên đày tớ tuyệt đối vâng theo lời chủ? Nếu đã nhận là Nga Tàu tàn bạo bất nhân, thì thằng tay sai là Việt cộng, được các sư tổ cộng sản cầm tay chỉ việc, làm sao mà khác được? Có khi bọn việt cộng còn muốn “vượt chỉ tiêu” của cha, anh nó về mức độ tàn nhẫn và dã man. Kìa, hãy xem anh Pol Pot xứ Chùa Tháp, học trò yêu của Mao đã vượt Mao ra sao về mức độ tàn bạo! Tại sao nhà học giả không dựa vào những điều mắt thấy, tai nghe, những điều sách vở cung cấp cho ông, mà ông lại “tin rằng” một cách vô căn cứ như thế? Chỉ sau khi việt cộng chiếm Miền nam, và thi hành các chính sách tàn bạo, ông Lê mới vỡ mộng. Ông biện luận về sự sai lầm của ông như sau:
“Muốn thấy một chế độ ra sao, thì phải sống dưới chế độ đó dăm năm. Muốn nghe ai phê bình, khen chê gì thì nghe, muốn đọc sách gì thì đọc, dù là người thông minh, chịu suy nghĩ, cũng chỉ biết lờ mờ một chế độ thôi.” [Hồi KÝ – Tập III trang25-26]
Phải sống dăm năm dưới chế độ cộng sản, rồi mới biết nó ra sao! Nếu cứ phải sống dưới chế độ cộng sản dăm năm, để biết nó thế nào, rồi mới quyết định chống nó hay theo nó, thì đây thật là một cuộc thí nghiệm điên rồ và chết người. Khi bị cộng sản xâm chiếm, không nên chống cự, vì mình chỉ biết lờ mờ về cộng sản. Hãy để cho nó cai trị dăm năm, xem sao đã. Điều chắc chắn là khi biết nó ác ôn, thì rất khó vùng vẫy khỏi tay nó, và nếu có thể, thì cái gíá phải trả để thoát cùm gông sẽ đắt như thế nào! Tôi đọc nhưng lời ông Lê viết trong cuốn Hồi Ký III, nhiều lúc bực mình không chịu nổi, về sự biện minh rất kỳ cục của ông. Xin chịu ông Lê có tài biện luận, để xóa sự sai lầm về thái độ thân cộng của ông. Nhưng trong khi ông học giả chỉ “ biết lờ mờ ” về cộng sản, ông lại ca tụng nó, và thằng dân đen không có đến nửa chữ để nghiên cứu nghiên cò về cộng sản để lận lưng, lại quá biết cộng sản như thế nào, và chạy trối chết để mong thoát tay nó! Còn gì khôi hài hơn không? Những ông trí thức theo cộng trong nước ngày xưa, và ở hải ngoại bây giờ, đều có chung một “đức tính”: các ông luôn mang một bộ mặt cao ngạo, nói, viết, những câu ngang dạ, ra điều ta đây là kẻ nhìn xa trông rộng, dè bỉu những người chống cộng là thiển cận, là cực đoan, là chụp mũ bừa bãi! Khi chúng ta đang đổ xương máu để ngăn chặn một kẻ thù hung hiểm, thì các ông viết báo, phát ngôn những lời xỏ xiên, châm chọc, tìm đủ mọi khe hở để lách mũi dao nham hiểm vào lưng chúng ta, và tán dương cộng sản; nhưng các ông không dại gì chạy ra bưng với giặc trong thời chiến, và ngày nay cũng không rời bỏ tiện nghi vật chất và tự do ở nước ngoài để “về xây dựng đất nước” như miệng các ông hô hào và tán tụng cộng sản. Mưu chước của các ông trí thức này là làm thế nào để vẫn được sống yên thân trong sự bảo vệ của chính quyền quốc gia, hoặc an toàn ở ngoại quốc, mà vẫn lập công được với giặc, vẫn được một bọn lủng lẳng đứng giữa, tán tụng là có cao kiến! Tệ hơn nữa, xưa cũng như nay, các ông luôn tranh đấu đãi quyền lợi, đãi tự do nơi cái chính quyền mà lúc nào các ông cũng dài mỏ chê bai.
Ông học giả Nguyễn Hiến Lê viết:
“Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh, với cộng sản. Tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mỹ. Tôi phục tinh thần hy sinh, có kỷ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp”[Hồi Ký – Tập III, trang 17-18 ]
Ông học giả phục cộng sản, khinh các chính phủ quốc gia “bù nhìn” nhưng ông khôn lắm, ông cứ sống ở vùng quốc gia để an toàn, yên ổn ngồi soạn, viết hơn trăm tác phẩm.
Có khi nào ông học giả tự hỏi: Nếu ông “may mắn” được sống trong chế độ cộng sản, ông có thể nào xuất bản được 100 tác phẩm? Ông cũng vờ vịt, làm như không biết bọn Bắc cộng là tay sai của Nga, Tàu. Khi những kẻ mà ông “sẵn lòng giúp ”, dùng thế lực và sự trợ giúp của cộng sản quốc tế, cướp được miền Nam, như ông mong muốn, ông Lê đã trắng mắt, nhìn chúng cướp tiền ông dành dụm trong ngân hàng, do ông khổ công dài lưng nặn óc viết văn; chúng đã chiếm nhà ông ở Long Xuyên; chúng “treo bút” của ông, khiến ông không còn cho được tác phẩm nào ra đời! Ông phải âm thầm xé một số tác phẩm ông dầy công tra cứu, viết lách, thành giấy vụn. Ông cũng kinh hãi, không còn dám nghĩ đến chuyện về thăm cố hương miền Bắc, thăm căn nhà ở ngõ Phất Lộc, tại Hà Nội, nơi có nhà mồ lão quái “Hồ Chủ tịch mà tám chín phần mười người Việt kính mến” [Hồi Ký tập III, tr 20], chỉ vì Miền Bắc nay đã tan hoang, sau khi việt cộng xây dựng “thành công” cái mà chúng gọi là chủ nghĩa xã hội! Nhưng dù sao ông Lê cũng còn lương thiện.
Trong cuốn Hồi Ký – Tập III, ông đã thành thực mô tả cái xã hội xấu xa mà bọn cộng đã áp đặt lên Miền Nam sau năm 1975, và tuy quá muộn màng để hối lỗi, ông đã không tiếc lời mạt sát bọn cướp vô học khi chúng đã phô trương hết sự bịp bợm và tàn ác, sau ngày thành công cướp đoạt chính quyền Miền Nam. Vào lúc bọn việt cộng phải chọn “đổi mới hay là chết”, như chúng nói, chúng đã cho in Hồi Ký của ông Lê. Nhưng bản chất lưu manh cố hữu, chúng chỉ cho in nhưng phần ông Lê đã lầm lạc khen chúng, và xóa đi những trang ông chửi cha chúng nó. Việt cộng cũng lập lờ đánh lận con đen, để đồng bào hiểu lầm, là ông học giả ủng hộ chúng, bằng cách đặt tên một con đường nhỏ, đâu đó trong thành Hồ, là đường Nguyễn Hiến Lê. Tôi sở dĩ viết về ông Lê trước tiên, vì ông là một người tôi ngưỡng phục. Ông Lê học giả mà còn hiểu về cộng sản như thế, thì những ông, bà trí thức “học thiệt” khác, sẽ thờ cộng như thế nào! Vâng, chúng ta hãy điểm qua vài ba trí thức khác, đã bán linh hồn cho quỷ, để thấy “mỗi người một vẻ”, họ đã góp sức đưa cái xiềng cộng sản và cổ dân ta như thế nào. Ông Nguyễn Hiến Lê mất ngày 22 tháng 12 năm 1984.
2. - Trí Thức Nguyễn Mạnh Tường
Nói tới tên ông, nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ, Văn và Luật tại Montpellier, Pháp trong một năm, lúc mới 23 tuổi. Ngoài ra, người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập! Điều đó không có chi lạ. Ông đã theo “cụ Hồ” đi kháng chiến, và kể từ lúc ấy, đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt. Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đãnh ông, dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng. Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết, chúng ta khó tương tượng ông “lưỡng khoa tiến sĩ” này lại bị đau nhục dưới tay “vượn người” như thế! Nhưng vì đâu nên nỗi?
Hoàn cảnh lịch sử? Lòng yêu nước, hay sự bịp bợm của cộng sản đã đưa ông vào thảm trạng?
Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền, cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa theo “Bác.”
Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng tròng, khó bề thoát ra. Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay một lô chức tước “phó”, vô danh và…vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô, v…v..
“ Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa.”
Năm 1956, có phong trào đãi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:
“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình… ”
Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi! Ngày nay, dù đã có một tay cộng sản gộc, chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố:
“Cộng Sản không thể sửa đổi ”,
nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ… để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng. Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch. Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng:
“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.
Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở:
“Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!” Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao?
Ông kể lại:
“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen sa hoa của những người tư sản.
Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói.”
Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho một trái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói, lấy đâu gạo, bắp cho gà! Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’:
“mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó”
Thê thảm không còn gì để nói! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đãnh của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà: sách vở, quần áo của ông, son phấn, tóc giả của bà, muỗng nĩa trong bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được cộng “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói!
Cộng sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục. Nhiệt thành, say sưa, vì khi Cộng mới nổi lên, ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng. Công lao hãn mã, vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ, năm 1956, đem tài hùng biện, chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới, là Bắc cộng có “chính nghĩa” khi dùng súng đạn để “giải phóng miền Nam ” Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị cộng mưu dìm cho chết, chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận. Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn. Không khuất phục được ông, bọn cộng vô học ghen, tức, đầy đọa và hạ nhục ông.
So sánh với những anh “trí thức” hải ngọai ngày nay, từng kinh hoàng bỏ chạy khi cộng sản tới, lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc, mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến, chúng ta phải kinh ngạc về sự “khả úy” của các “trí thức” hậu sinh. Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn việt cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời.
Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13 tháng 6 năm 1997.
3. Trí thức Dương Quỳnh Hoa.
Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng sản Pháp, gia nhập cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon nằm vùng và do thám cho cộng. Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây, bọn theo cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được cộng dụ dỗ cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng, nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.
Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà. Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn:
“ Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées?”
Bà trả lời:
“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un term à la “grande illusion”
dịch tạm:
Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua?
Bà DQH:
Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn”
Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:
“Tôi