We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 4 March 2013

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH



Tác giả, hiện cư trú và làm việc tại vùng San Jose, đã hai lần nhận giải viết về nước Mỹ do Việt Báo chủ xướng. Ngay từ năm đầu tiên, với bài "Chương Kết Của Cuộc Đời", cô được trao giải danh dự 2001. Sau 4 năm liên tục góp thêm bài viết mới, cô nhận giải vinh danh tác phẩm Viết Về Nước Mỹ 2005, với bài về một cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà và bài về một quả phụ Mỹ thời chiến tranh Việt Nam. Bài sau đây trích, kể chuyện một mình vượt biển giữa thập niên 80’ và trở thành cô giáo cho những thiếu niên không thân nhân tại trại tị nạn.
Ngày 30 tháng Tư 1975, Saigon sụp đổ. Những gia đình đang ở trong các cư xá sĩ quan, cư xá công chức bị đuổi ra khỏi nhà. Cùng chung số phận, gia đình chúng tôi bị đuổi khỏi mái nhà thân yêu trong cư xá, nơi chúng tôi có một thời nhỏ dại êm ả. Mẹ đưa chúng tôi về căn nhà riêng Ba Mẹ đã xây nên bằng công sức của Ba Mẹ, nhưng nhà này cũng bị tịch thu. Sau hai lần mất nhà, chúng tôi lớn lên như câu ca dao "Còn cha gót đỏ như son, mất cha lăn lóc như lon sữa bò." Ba chúng tôi còn sống, nhưng đang bị đầy ải trong trại cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc. Những ngày u ám đó in hằn vào đầu óc của chúng tôi, khiến chúng tôi trưởng thành sớm hơn tuổi của mình, vì chỉ được xã hội cho nếm mùi cay đắng.
Đầu thập niên tám mươi, trước những bế tắc không lối thoát, Mẹ thu xếp gởi anh chị em chúng tôi, từng đứa, vượt đại dương để đến một vùng đất tự do, ở đó không có khủng bố tinh thần, ở đó không có trại cải tạo giam giữ những người hoàn toàn lương thiện, và ở đó chúng tôi sẽ được học hành thành người. Cũng như rất nhiều người vợ lính khác, Mẹ đảm đang, xuôi ngược nuôi chúng tôi, nuôi Ba trong các trại tù cải tạo từ Bắc vào Nam. Tất cả những điều đó đẩy chúng tôi đến đường cùng, không còn lựa chọn nào khác hơn là phải đưa chính mạng sống của mình đánh cuộc với định mệnh, với đại dương. Còn nhớ thời đó, người dân miền Nam Việt Nam vẫn truyền miệng một câu ngạn ngữ của thời đại "Một là con nuôi mẹ, hai là mẹ nuôi con, ba là con nuôi cá." Cứ thế một hai ba Mẹ lo cho con một mình vượt biển. Khả năng vượt thoát chỉ là một phần ba. Ròng rã gần mười lăm năm dài, từ cuối năm 1975 đến đầu năm 1990, hàng trăm ngàn thuyền nhân (hay theo như cách gọi của UNHCR United Nations High Commissions for Refugees, Cao Uỷ Tỵ nạn Liên Hiệp Quốc là "Boat People") đã đến được bờ bến tự do. Cùng lúc, hàng trăm ngàn thuyền nhân khác gởi thân vào lòng đại dương.
Chưa qua khỏi tuổi thơ, nước mất, nhà tan, chúng tôi, không có thời mới lớn, tự động bước vào tuổi trưởng thành trước những khó khăn của Mẹ, vượt quá nỗi khổ của bà Tú Xương ở thế kỷ mười chín, vừa nuôi chồng trong tù cải tạo, vừa nuôi một bầy con dại còn ở Tiểu học hoặc ở những năm đầu Trung học. Từng đứa một, khi có điều kiện, Mẹ gởi chúng tôi ra đi.
Đến phiên tôi, Mẹ chỉ đưa được tôi ra bến xe liên tỉnh để đi Vũng Tàu. Cả hai mẹ con đều đội nón lá rộng vành để che những giọt nước mắt lã chã rơi không ngừng. Mẹ khóc nhiều hơn những lần đưa các anh em trai của tôi ra đi, vì tôi là con gái duy nhất trong nhà, thân gái dậm trường. Ngồi trên xe đò từ Saigon về Vũng Tàu, trong một góc xe đò, tôi úp nón lên mặt, để che đôi mắt sưng đỏ vì khóc của mình.
Gần một tuần lênh đênh trên đại dương, chỉ có trời và nước, xanh thẫm ban ngày, đen kịt ban đêm, không có cả một cánh chim, tôi nhớ Ba, nhớ Mẹ quay quắt, nhưng vẫn hài lòng với chọn lựa của mình. Hai ngày đầu, như mọi người trong lòng thuyền, tôi bị say sóng, nôn ra cả mật xanh, mật vàng. Đó là lần đầu tiên trong đời, tôi hiểu thế nào là "mửa mật". Vậy mà chỉ hai ngày sau, quen dần với cảm giác bập bềnh của con thuyền nhỏ trước lực đẩy của nước ở đại dương, tôi tỉnh táo lại hoàn toàn với đầy đủ sinh lực của "tuổi mười bảy bẻ gãy sừng trâu" mặc dù đã hai ngày không ăn uống. Khi thuyền ra hải phận quốc tế, chúng tôi được lên khoang thuyền hít thở không khí trong lành đầy vị mặn của đại dương, hình như có thoang thoảng mùi vị của tự do.
May mắn hơn những người tỵ nạn khác, chúng tôi đi bình yên, không gặp một thuyền nào khác. Trời êm biển lặng vào tháng sáu đầu mùa hè đưa chúng tôi đến thẳng đất liền của Mã Lai sau năm ngày sáu đêm lênh đênh trên biến.
Lên tới đất liền, cùng với chú lái tàu, tôi phải vận dụng vốn liếng tiếng Anh hạn chế đã tích lũy trong những tháng năm chuẩn bị vượt biên để giải thích cho nhân viên Cảnh sát Mã Lai biết chúng tôi là ai, tại sao chúng tôi đặt chân đến đây. Đó chỉ là lần đầu, một khởi đầu kéo dài mãi cho đến bây giờ, phải giải thích tương tự cho rất nhiều người khác nhau thuộc nhiều chủng tộc hiểu tại sao chúng tôi phải bỏ quê hương ra đi để sống đời lưu vong.
Những giờ phút đầu tiên trên đất liền, chúng tôi lại bị "say đất". Quen với trạng thái bồng bềnh, trôi nổi trên mặt nước; khi trở lại mặt đất bằng phẳng, mỗi lần đặt bước chân xuống, tôi có cảm giác mặt đất chao đảo như còn trên mặt sóng nhấp nhô. Sau hai ngày bận rộn với đủ thứ giấy tờ khai báo với cảnh sát địa phương Mã Lai, chúng tôi được đưa ra trại Pulau Bidong, trại tỵ nạn chính thức của Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đặt trên lãnh thổ Malaysia để thành một người tỵ nạn chính thức có số căn cước thuyền nhân, chờ được phỏng vấn định cư ở một nước thứ ba. Lần này, hành trình từ đất liền ra đảo Pulau Bidong vững chắc hơn trên một thuyền khá lớn của UNHCR, có tên là "Blue Dart", khoảng cách lại ngắn, nên chúng tôi không bị say sóng.
Trại tỵ nạn Pulau Bidong đã dược xây dựng tương đối đầy đủ khi chúng tôi đến đảo vào giữa thập niên 80, có đủ trường Tiểu học, Trung học cho trẻ em, trường huấn nghệ (Vocational School) cho người lớn, có thư viện, có cả Chùa, Nhà thờ trên "đồi tôn giáo", có Bệnh viện với cái tên khá ngộ nghĩnh và dễ nhớ là "Sick Bay". Chúng tôi được đón tiếp với những thùng mì ăn liền vĩ đại hãy còn bốc khói, giống hệt như những thùng mì Liên Hiệp Quốc phân phàt cho nạn nhân của thiên tai Tsunami ở South Asia cuối năm 2004.
Lần đầu tiên ăn đồ cứu trợ, sống bằng lòng nhân đạo của người khác, một thân một mình ở trại tỵ nạn của một đất nước khác, nước mắt tôi lăn dài, nghĩ đến Ba vẫn đang mỏi mòn trong ngục tù cải tạo ở núi rừng âm u đầy chướng khí của miền Bắc vẫn thiếu ăn, thiếu mặc; nghĩ đến Mẹ đang vò võ một mình ở nhà, chắc là vẫn đang cầu nguyện cho bầy con đã tứ tán mỗi đứa một quốc gia, một phương trời khác nhau, ở tuổi chưa đến hai mươi.
Tưởng là mình đã rất can đảm khi dám chấp nhận cảnh "thân gái dặm trường", không ngờ, ở trại tỵ nạn Pulau Bidong, đến khu vực Cô nhi (Minor Refugees Residential Section), dành cho các em dưới mười sáu tuổi đến trại tỵ nạn một mình, tôi thấy em nhỏ nhất chỉ mới sáu tuổi.
Ở đó, có Hanh, chỉ mới mười một tuổi, thông minh, đầy cương nghị, có Bố đang bị "học tập cải tạo" -như Ba tôi- được Mẹ gởi đi vượt biển một mình trên một thuyền bị hải tặc, mọi người đói lả gần ba ngày trước khi đến được trại tỵ nạn. Ở trại tỵ nạn, cậu bé tuy mới mười một tuổi nhưng có sự khôn ngoan và nét chửng chạc cúa một người ngoài hai mươi học hành chăm chỉ, hết học Anh Văn lại quay qua học Toán, quanh quẩn cả ngày ở trường Trung học trên đảo Pulau Bidong.
Ở đó, có Huyên, một em gái mới mười ba tuổi, cả gia đình mất tích trên biển khi thuyền bị lật. Như một phép màu, Huyên bám được một thùng plastic rỗng, trôi nổi bồng bềnh giữa đại dương gần nửa ngày, trước khi được một tàu tỵ nạn khác đi ngang vớt lên. Người ta đã thấy cô bé Việt Nam nhỏ bé mắt nhắm nghiền, gần như hôn mê bất tĩnh. thân xác mỏng manh như chiếc lá khô, hai tay vẫn còn bám chặt cái thùng nhựa rỗng bồng bềnh trên đại dương.
Ở đó, có Việt, rất thâm trầm, dù mới mười lăm tuổi, nhà cửa bị tịch thu, Ba bị giam ở khám Chí Hòa vì "tội nhà giàu", Mẹ gởi em ra đi với nhà hàng xóm để thoát khỏi tương lai đen tối của giai cấp "tư sản mại bản".
Còn biết bao các em khác nữa. Mười một tháng sau đó ở Pulau Bidong, với vốn liếng Anh ngữ từ những năm ở trường Trung học, và những sách vở của thư viện trên đảo, tôi đã có cơ hội giúp cho UNHCR và cả các phái đoàn Mỹ, Canada, Úc trong việc thông dịch mỗi khi họ đến phỏng vấn thuyền nhân.
Mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn cảm giác xót xa khi nhớ lại những lần thông dịch cho những ngưồi đàn bà, con gái Việt Nam bị làm nhục bởi hải tặc trên đường vượt biển, em nhỏ nhất chỉ mới mười hai tuổi. Hồi đó, Cao ủy trưởng Alan ở Pulau Bidong chỉ định tôi chuyên làm công việc thông dịch đàn bà con gái trong các cuộc phỏng vấn các thuyền vượt biển bị hải tặc. Đó là một công việc rất tế nhị và đầy xót xa. Đến một độ nào đó, nỗi đau vượt quá sức chịu đựngi, người ta mất cảm giác. Nhiều người nữ thuyền nhân, mặt còn đầy nỗi kinh hoàng nhưng kể lại từng chi tiết ô nhục mà chính mình phải gánh chịu với giọng đều đều, thản nhiên, lạnh lùng như nói chuyện trời mưa, trời nắng, trong khi chính tôi và cô May, Cao ủy của UNHCR đã giọt ngắn giọt dài. Mỗi lần dịch hay viết xong một hồ sơ tàu tỵ nạn bị cướp, tay áo tôi ướt đẫm vì nước mắt. Tôi vẫn tự hỏi thủ phạm trực tiếp cho nỗi đau này là hải tặc Thái Lan, thủ phạm gián tiếp thực sự là ai?
Đó là khoảng thời gian rất bận rộn với công việc thông dịch ban ngày giúp cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn. Ban đêm, tôi còn dạy thiện nguyện cho các em , chỉ nhỏ hơn tôi vài tuổi, ở trường Trung học trên trại Tỵ nạn. Trường chỉ dạy hai môn Anh văn và Toán. Sách học là những quyển sách đơn giản tương dương trình độ của bộ "English for Today" quyển I đến quyển III. Trước ngày ra đi, tôi chỉ mới học xong quyển IV ở Việt Nam , nhưng nhờ làm việc, tiếp xúc nhiều với các nhân viên UNHCR, và bằng lòng thương yêu các em chân thành như em ruột của chính mình, tôi mang hết kiến thức và hiểu biết của mình truyền lại cho các em, mặc dù tôi chưa hề được qua một trường lớp nào về Sư phạm. Chúng tôi, những người dạy thiện nguyện ở trường Trung hoc. vẫn đùa với nhau là mình đã theo một "trường phái sư phạm mới", lối dạy "mèo nhỏ tha chuột lớn"
Có lần, giải nghiã cho các em một từ mới, "dignity" -có nghĩa là phẩm giá- tôi không biết làm thế nào để giảng cho các em hiểu, đành viết lên bằng câu thí dụ "We lost everything, but never lose our dignity". Viết đến đó, tự dưng nước mắt tôi lăn dài, các em ở tuổi mười bốn, mười lăm lúc đó cũng khóc theo. Những giọt nước mắt đó vẫn còn đọng trong tâm khảm tôi cho đến bây giờ, cùng có niềm tin ở một thế hệ trẻ lưu vong có đầy đủ đầu óc và trái tim Chắc chắn, các em học sinh lúc đó, trên bước đường tha hương sau này, sẽ nhớ và hiểu nghiã chữ "dignity" hơn ai hết, và các em sẽ sống xứng đáng với lòng kỳ vọng của thân sinh các em, khi Ba Mẹ các em đã phải đứt ruột gởi con ra biển một mình.
Mỗi tuần hai lần, tàu "Blue Dart" của UNHCR cho nước ngọt, mì gói, gạo và thực phẩm tươi gồm gà và rau cải, đôi khi còn có dưa hấu hay thơm vào cho thuyền nhân.
Hầu hết chúng tôi đến trại tỵ nạn chỉ với một bộ quần áo dính trên người. Chúng tôi được phát áo quần từ một kho áo quần "second hand", tương tự như áo quần cũ bán trong Goods Will ở Mỹ. Áo quần thường rộng thùng thình, quá khổ, nhưng chúng tôi tự sửa lại đúng với kích thước của mình. Cao ủy tỵ nạn Liên Hiệp quốc đã rất là chu toàn trong việc bảo vệ và chăm lo cho những người tỵ nạn chính trị,
Đến lúc được chuyển qua trại chuyển tiếp Bataan ở Philippines để được hướng dẫn về đời sống văn minh của Mỹ trước khi chính thức đến Mỹ như một người tỵ nạn, chúng tôi được huấn luyện chương trình buổi sáng, buổi chiều làm "Teacher Aid" cho các giảng viên người Phi. Ở đó, đời sống đầy đủ hơn, và lạc quan hơn vì chúng tôi biết chắc chắn ngày mình được định cư ở Mỹ. Và cũng ở đó, tôi có thì giờ tự học nhiều hơn cho chính mình, chuẩn bị một thời kỳ gian nan khác, một khởi đầu từ con số không ở quê hương thứ hai. Một vài lần được về chơi ở Manila (thủ đô của Philippines), những chuyến du lịch đặc biệt bằng xe bus dành riêng cho các "Teacher Aid", chúng tôi vẫn ngậm ngùi thương cho sự lạc hậu của đất nước mình ngay cả khi so sánh với các nước Á châu khác như Philippines.
"Nỗi buồn nhược tiểu" đó càng tăng cao khi trên đường bay qua Mỹ, tôi được dừng chân hai ngày ở Tokyo- Nhật, thủ đô của nước Á châu giàu mạnh nhất sau khi nếm bài học xương máu với hai cột khói trắng hình nấm khổng lồ ở Hiroshima và Nagasaki cuối thế chiến thứ hai. Tokyo văn minh sáng rực ánh đèn ban đêm tương phản với Saigon lạc hậu tranh tối, tranh sáng, Nước mắt tôi lại chảy xuống cho sự thụt lùi của quê hương đã bị bỏ lại sau lưng.
Tôi đến Mỹ một tuần trước lễ Giáng sinh, cùng một thuyền nhân Việt Nam khác, hoàn thành nhiệm vụ cuối cùng được giao từ UNHCR, giúp đoàn người tỵ nạn gồm 85 người kể cả một vài người Lào và Cambodia cũng trốn chạy khỏi quê hương như chúng tôi. Giữa những hành khách Mỹ tự tin,cao to, với nhiều hành lý cồng kềnh về nước đoàn tụ với gia đình nhân dịp Giáng sinh và Tết dương lịch, rất dễ nhận ra những người tỵ nạn nhỏ bé, mảnh mai mắt mở to vui mừng lẫn ngơ ngác, chỉ có hai bàn tay trắng với những túi xách của UNHCR và IOM (International Organization for Migration) chỉ có giấy tờ nhập cư vào Mỹ và giấy tờ tùy thân .
Được chuẩn bị đầy đủ với gần 6 tháng học về "American Culture Orientation" ở trại chuyển tiếp Bataan, Philippines, với trình độ Anh văn tương đối sau một năm tiếp xúc và làm thông dịch viên cho nhân viên Cao ủy Tỵ nạn LHQ, tôi không đến nỗi bị lâm vào cảnh"mán về thành", nhưng thật sự đời sống ở Mỹ khác xa với đời sống ở quê nhà như mặt trời với mặt trăng, như ngày với đêm.
Hình ảnh của Ba với mái tóc bạc trắng ở tuổi năm mươi trong lao tù cải tạo, hình ảnh Mẹ với đôi mắt buồn trong những ngày chuẩn bị gởi chúng tôi ra đi là nguồn nghị lực không bao giờ cạn, tiếp sức cho chúng tôi trong thời gian chân ướt chân ráo ở quê hương thứ hai.
Từ nhiều trại tỵ nạn ở nhiều nước khác nhau: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, anh chị em chúng tôi đến Mỹ trong nhiều thời gian khác nhau, được trùng phùng, như trăm sông đổ về biển, và mang sức sống của tuổi hai mươi lao vào đất nước của tự do và cơ hội.
Một người bạn cũ của Ba, qua Mỹ từ năm 1975, đang làm ở tổ chức thiện nguyện USCC, giúp tôi có được trợ cấp một lần là 650 dollars dành cho người tỵ nạn mới đến , bác viết cho tôi một reference letter và từ đó "I m on my own way". Bác cũng giới thiệu cho tôi đến tìm việc làm ở một vài nơi. Trời thương, "thánh nhân đãi kẻ khù khờ", tôi được nhận vào làm full time ở một công ty lớn chỉ hai tuần sau ngày đến Mỹ. Lúc đó là đầu tháng giêng, giữa mùa Đông ở Mỹ, trời lạnh buốt, buổi sáng tôi thức dậy từ sáu giờ ba mươi, trời còn tối, ra đứng chỗ xe bus ở đầu đường, trời lạnh cóng, dưới 40 độ Fahrenheit, tôi phải mặc ba bốn lớp áo, nhưng áo quần cũ chị em chúng tôi đã mua từ Goods Will để vừa với túi tiền của mấy chị em lưu lạc quê người, chỉ có hai bàn tay trắng, với lòng tin của Ba Mẹ đặt ở mỗi chúng tôi. Một tuần sau, chịu không nổi cái lạnh gần đông đá , từ 32 đến 39 độ Fahrenheit của mùa đông thứ nhất ở Mỹ, tôi dùng cái paycheck đầu tiên của mình thuê người dạy lái xe và dốc hết tiền trợ cấp một lần cho người mới đến mua một cái Toyota Celica đã mười bốn tuổi, để đi học và đi làm.
Đời sống lúc đó, còn nhỏ, là một hình tam giác với ba đỉnh là nhà, trường học và sở làm không hề có giải trí, không có cả thời gian để buồn và nhớ nhà.
Đến Mỹ muộn màng, sau gần mười năm miền Nam sụp đổ, biết thân phận mình là "trâu chậm", chúng tôi lao đầu vào học, không dám để phí thêm một giờ phút nào. Mùa hè, học phí cao hơn, tôi chỉ ghi danh theo học một lớp, và làm part time cho một trạm bán xăng ở gần nhà Nghĩa là lúc đó, tôi đi làm full time, đi học full time quanh năm. Nhiều lúc quá mệt mỏi, tôi lại tự nâng đỡ tinh thần mình bằng câu nói cửa miệng của người Mỹ "No pain, no gain", và nhớ đến kỳ vọng của Ba Mẹ đã đặt ra cho chúng tôi. Buồn nhất là những lần bất chợt nghe được những câu hát rất đúng với tâm trạng của mình "Ai trở về xứ Việt nhắn giùm tôi người ấy ở trong tù .....", nghĩ đến Ba, nước mắt tôi vẫn lăn dài, và tự bảo lòng mình phải cố gắng học giỏi hơn để Ba Mẹ vui hơn, đủ nghị lực sống trong đời sống bị khủng bố tinh thần thường xuyên ở quê nhà.
Có lần được phát biểu cảm tưởng với thời gian ba phút trong một lần nhận học bổng, tưởng là sẽ cảm ơn đủ tất cả mọi người và hứa với "scholarship foundation" sẽ cố gắng nhiều hơn, nhưng tôi chỉ nói được gần hai phút:
- Xin cảm ơn tất cả thầy cô đã có công dạy dỗ tôi, xin cảm ơn Hội đồng trao tặng học bổng cho tôi. Xin tri ân đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang và cung cấp một đời sống tự do, no đủ cho tất cả những người tỵ nan, lưu vong. Vinh dự hôm nay xin được dành riêng cho tất cả những người đã nằm xuống cho chúng tôi có được ngày hôm nay, và xin đặc biệt danh riêng cho Ba tôi, người vẫn con đang bị đày ải trong lao tù Cộng sản vì đã ở trong một quân đội bảo vệ tự do, xin được dành riêng cho Mẹ tôi, người đã rất chu toàn trong việc nuôi dậy con cái một mình.
Một phút còn lại, tôi không nói được vì cử tọa trước mặt đã mờ đi sau màn nước mắt, mùi vị đắng cay sau năm 75 ở quê nhà vẫn kéo về với đầy nỗi xót xa, ngay cả trong giờ phút ngọt ngào nhất. Một thầy giáo người Mỹ gốc Ba Lan đã tỵ nạn Cộng sản từ cuối thập niên 60, dạy tôi từ năm đầu Đại học, hiểu rất rõ tâm trạng của một người tỵ nạn, đã lên diễn đàn giúp tôi hoàn tất lời phát biểu. Lần đó, tôi được đặc cách đề cử trực tiếp cho học bổng niên khoá kế tiếp, mà không phải qua những thủ tục bình thường. Món tiền tuy không lớn, cũng đủ để trang trải chi phí sách vở, học phí, ăn ở cho một năm học, là một yểm trợ vật chất lớn lao cho tôi trong ba năm đầu chân ướt chân ráo ở quê người.
Có những điều hằn sâu trong ký ức, lúc nào cũng tưởng như mới vừa xẩy ra, như chuyện say sóng đến độ "mửa mật" của những ngày lênh đênh trên đại dương vẫn ám ảnh tôi không nguôi. Cho nên, có lần được chọn là "Employee of the year" được tặng vé cho một chuyến đi cruise trên biển một tuần cho hai người, nhớ lại cảm giác đắng nghét ở miệng, cảm giác mất thăng bằng của những ngày mới đặt chân lên đất liền, tôi đã nhường lại phần thưởng đó cho "the runner up" trước con mắt ngạc nhiên của mọi người làm cùng chỗ.
Đó không phải là điều duy nhất người bản xứ không hiểu những người tỵ nạn, những người Mỹ gốc Việt lưu vong. Họ cũng không hiểu tại sao rất nhiều người Việt Nam nhỏ bé ốm yếu vẫn đội mưa đội gió hàng giờ giương cao những tấm biểu ngữ "Human Right for VietNam", "Freedom for VietNam" ở một góc đường nào đó trong đời sống lạnh lùng, đầy tất bật của đất nước Hoa kỳ.
Sau khi đã ổn định, -đã có một "career" đàng hoàng thay cho cái "job" để kiếm sống - có thời tôi đi dạy thiện nguyện cho một trường Việt ngữ ở điạ phương, học sinh là các em teenagers. Dù cùng tuổi nhưng học trò của tôi bây giờ vô tư, ngây thơ, khác xa các em trong trại tỵ nạn chững chạc, trưởng thành trước tuổi.
Ở trường Việt ngữ, ngoài bài giảng từ sách của trường, thì giờ còn dư, chúng tôi giảng trích đoạn từ tác phẩm "Mùa hè đỏ lửa" của nhà văn Phan Nhật Nam, từ bài thơ bất khuất "Nếu ai hỏi" của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện để các em hiểu rõ hơn giá trị của tự do, và biết yêu thương cha mẹ hơn, biết ơn cha mẹ các em đã hy sinh rất nhiều để các em có được ngày hôm nay.
Đời sống ở Mỹ vốn tất bật, nhưng một phút bình lặng nào đó của tâm hồn, dù đang bị kẹt xe trên một xa lộ xe cộ tất tả ngược xuôi hay đang ở trong một cuộc họp ở sở, đầu óc tôi vẫn lang thang về với quê nhà, và buồn thay, bao giờ cũng vậy, mùi vị đắng nghét như đang bị "mửa mật", mùi vị chua cay của một thời vẫn hiện về, rõ ràng, mồn một như chuyện hôm qua.
Và có một lần "chuyện hôm qua" càng rõ nét hơn. Đến thăm Massachusetts Institute of Technology (MIT) nổi tiếng về chuyên ngành Toán và Kỹ thuật, đang ngồi chờ người bạn ở cafeteria của trường, bỗng một sinh viên người Á châu đi qua, đi lại trước mặt tôi nhiều lần. Sau cùng, anh ta dừng lại, lịch sự hỏi bằng tiếng Mỹ:
- Xin lỗi, chị có phải là cô Thuyên ở trường Trung học Pulau Bidong năm 1988 không?
Tôi trả lời bằng tiếng Việt:
- Đúng rồi, em có thể nhắc cho tôi nhớ em là ai không?
Người thanh niên vui mừng, rồi bằng một thứ tiếng Việt rõ ràng và lễ độ, anh ta trả lời:
- Em là Hanh đây chị, em học cùng lớp với Huyên và Việt ở Pulau Bidong. Chị nhớ em không?
Hanh vẫn nhận ra tôi sau mười lăm năm không gặp, nhưng tôi thì không thể nhìn ra được anh thanh niên cao lớn chững chạc trước mặt mình là cậu bé đen nhẻm, chững chạc, chăm học ở trại tỵ nạn năm xưa
Hanh lúc đó đang ở năm cuối của chương trình Tiến sĩ Toán, như ước mong ngày nào em đã trình bày trong một giờ thực tập nói tiếng Anh ở lớp học nhỏ xíu, mái lợp tôn thô sơ giữa đảo Pulau Bidong. Hanh kể cho tôi nghe về chuyện em đến Mỹ một mình ở tuổi mười hai, cùng với một nhóm ngườI Việt Nam tỵ nạn đặt chân đến Mỹ ở phi trường San Francíco, Hanh đổi máy bay về Massachusetts. Đi một mình, dưới mười lăm tuổi, nên Hanh được một cô Stewardess đích thân dắt lên máy bay trước.
Ra đón cậu bé tỵ nạn Việt Nam ở phi trường Logan Boston- là đại diện của một tổ chức thiện nguyện và cha mẹ nuôi của Hanh. Đó là một gia đình ngươi Mỹ gốc Tiệp Khắc, qua Mỹ tỵ nạn từ thập niên 60s. Dù chưa bao giờ có ý định xin con nuôi, nhưng thấy Hanh là một cậu bé mới mười một tuổi vượt biển một mình, không có thân nhân, nên họ muốn đưa Hanh vê nuôi. Cả hai ông bà đều dạy Trung học. Ông dạy Toán, bà dạy Home Economics (tương tự như môn Nữ công gia chánh ở Việt Nam). Người con duy nhất đi học xa, ông bà vẫn làm việc thiện nguyện ở một Nhà thờ Tin lành vào cuối tuần. Khi thấy tên Hanh, một em nhỏ tỵ nạn Việt Nam mới mười một tuổi, không có thân nhân ở Mỹ, được nhà thờ tìm người bảo trợ, họ xin nhận Hanh làm con nuôi. Vẻ chín chắn cùng sự khôn ngoan trước tuổi của Hanh đã chinh phục được lòng thương yêu của bố mẹ nuôi người Mỹ từ lúc đầu. Vì cả hai ông bà đều là nhà giáo, Hanh lại có căn bản về cả tiếng Anh lẫn học lực, lại chăm chỉ học hành nền em được vào thẳng lớp bảy như các học sinh bản xứ mà không gặp trở ngại nào.
Lên Trung học, Hanh tốt nghiệp thủ khoa Trung học. Với sự hướng dẫn quý báu của cha mẹ nuôi, với thành tích học tập xuất sắc trong bốn nâm Trung học, cậu bé Hanh tỵ nạn nâm xưa nhận được học bỗng toàn phần của MIT, trong niềm hãnh diện của cha mẹ nuôi ở Mỹ lẫn cha mẹ ruột ở Việt Nam.
Giữa thập niên 90s của thế kỷ hai mươi, ba mẹ sinh thành cùng hai em của Hanh được qua Mỹ theo chương trình nhân đạo HO. Vậy là Hanh có đến hai ông bố, hai bà mẹ, và hai gia đình cùng ở tiểu bang Massachusetts, trong hai thành phố kế cận nhau
Không muốn làm mất lòng gia đình nào, và để được tập trung học tập, Hanh vào nội trú trong MIT. Mổi thứ bảy về với cha mẹ ruột, ăn món ăn Việt Nam do mẹ nấu, nghe ba kể về những đọa đày ông phải gánh chịu trong các trại "cải tạo". Và mỗi chủ nhật, về lại căn phòng thân thuộc mà cha mẹ nuôi đã dành cho Hanh từ ngày cậu bé Việt Nam, da còn đậm màu nắng gió của trại tỵ nạn, chân ướt, chân ráo đến Mỹ. Căn phòng dù không còn được dùng hường xuyên, nhưng trong closet vẫn còn treo hai bộ áo quần kỷ niệm của Hanh, một bộ Hanh mặc khi mới đến Mỹ được người bảo trợ ra đón, và bộ kia là bộ áo quần đầu tiên Hanh được bố mẹ nuôi mua cho. Ở một góc bàn học, vẫn còn cái lọ thủy tinh có cắm hai lá cờ nhỏ, một sọc trắng đỏ với năm mươi ngôi sao của Mỹ, một màu vàng với ba sọc đỏ của Việt Nam. Trên tường vẫn còn hình Hanh năm mười tám tuổi, chững chạc trong áo mũ và dây choàng thủ khoa (valedictorian) ngày tốt nghiệp Trung học.
Một chi tiết rất cảm động trong câu chuyện của cậu bé tỵ nạn ở Pulau Bidong năm xưa là hồi mới đến Mỹ mỗi lần được cho kẹo chocolate, Hanh chỉ ăn một phần nhỏ và để dành hầu hết kẹo để gởi về Việt Nam cho hai em và cho các bạn Điều "bí mật" đó bị phát hiện khi hai ông bà Mỹ thấy cậu con nuôi ăn uống rất chừng mực từ tốn nhưng luôn luôn xin được mua thêm chocolate. Kẹo "để dành" thường được Hanh gói cẩn thận trong những túi nylon dán kín để trong một góc tủ áo quần. Halloween đầu tiên ở Mỹ, đi học về, làm xong bài vở, trời vừa sụp tối, Hanh xin phép ba mẹ nuôi cho đi xin kẹo. Cậu bé miệt mài đi bộ một mình trong thời tiết se lạnh đầu mùa thu ở miền Đông Bắc trên bốn năm con đường, gõ cửa từng nhà xin kẹo. Kêt quả rất khả quan, sáng hôm sau Hanh gởi được một thủng kẹo mười hai lbs (khoảng 5kg) về Việt Nam mà cước phí còn cao hơn cả tiền mua kẹo. Có nguồn gốc là người Tiệp Khắc, một thời đã phải sống dưới chế độ Cộng sản, bố mẹ nuôi của Hanh hiểu ngay mọi chuyện. Và ông bà càng quý Hanh, cậu bé Việt Nam tuổi còn nhỏ nhưng tấm lòng đã rất lớn.
Đến phiên tôi, tôi cũng kể cho Hanh nghe giòng đời đã đẩy đưa tôi từ trại tỵ nạn năm xưa đến California như thế nảo. Có nằm mơ, tôi cũng không tưởng tượng nổi mình gặp lại được cậu học trò đen nhẻm vì vị mặn của gió biển ở Mã Lai, có đôi mắt sáng nhưng lúc nào cũng buồn ở trường Trung học trên đảo Bidong ngày nào.
Ước gì tôi cũng gặp được Huyên và Việt, cũng như đã hội ngộ rất bất ngờ với Hanh ở một góc trường MIT ở miền Đông Bắc nước Mỹ. Nhưng dù chưa hay không có dịp tái ngộ với Huyên và Việt, tôi vẫn tin hai em đã rất thành công như Hanh, chứng minh mình có thể làm được nhiều điều, chẳng hạn như chuyện học hành, mà có một thời ở trong nước , sau tháng 4/75, chình quyền không cho phép mình làm.
Tất cả chúng tôi dều giống nhau ở chỗ phải xa nhà, bỏ đất nước ra đi một mình, dù lúc nào trong tâm tưởng của chúng tôi cũng có một vị trí trang trọng cho quê hương chôn nhau cắt rốn đã phải bỏ lại sau lưng. Chúng tôi đã phải mang cả sinh mạng của mình ra đánh cuộc với định mệnh, với đại dương; một cái giá không một khoán tiền nào, dù lớn đến đâu có thể mua được. Những được mất với cuộc đời hãy còn ở trước mặt, nhưng chắc chắn chúng tôi sẽ cố gắng không ngừng để xứng đáng với cái giá mình phải đánh đổi.
Chia tay Hanh hôm đó, tôi mang theo câu nói của Hanh với khuôn mặt rất nghiêm trang, già trước tuổi, và vẫn với đôi mắt buồn xa vắng như lần đầu tiên tôi gặp em ở trường Trung học trên đảo tỵ nạn:
- Điều em vui nhất là đã đền đáp được phần nào ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ ruột và ân tình cưu mang của bố mẹ nuôi. Em vẫn cố gắng hết mình, cố gắng đến hết cuộc đời để luôn làm cho cả Ba Mẹ lẫn Mommy, Daddy của em vui Điều duy nhất không chắc em có làm được hay không, là "gánh sơn hà" mà đôi lúc Ba em và các bác, các chú cùng thời vẫn nửa đùa nửa thật là đã trao lại cho thế hệ của mình
Hanh dừng một chút rồi hỏi một câu mà đến bây giờ tôi vẫn chưa biết cách trả lời:
- Gánh sơn hà nặng lắm một mình em hay cả hai chị em mình không thể nào gánh nổi! Chị ơi, làm thế nào để cả thế hệ của mình đủ sức gánh nổi sơn hà hả chị?
Câu hỏi đó cứ quanh quẩn trong tôi và chắc là phải còn lâu, lâu lắm, tôi mới biết được câu trả lời chính xác Nhưng tôi tin là chỉ cần một phần mười của một thế hệ Việt Nam (cả ở hải ngọai lẫn trong nước) biết đoàn kết, có nhiệt tâm gánh vác non sông với chí khí của Trần Quốc Toản, với lòng yêu nước của Nguyễn Thái Hoc. và với đầu óc của Lê Quý Đôn thì gánh sơn hà sẽ nhẹ nhàng như cái cặp đi học rất thân thuộc của một thời đèn sách.
Nguyễn Trần Diệu Hương
(Viết cho Lan Hương, Tiến, Tuấn và những thuyền nhân "đi biển" một mình)  

Áo dài Việt Nam



Trên lòng chiếc cầu trắng sáu vài mười hai nhịp rực sáng ánh đèn, như vẫn còn đó hình ảnh một đêm nao – hằng trăm thiếu nữ của xứ sông trăng, xúng xính trong từng chiếc áo được gọi là áo dài… cách điệu và biến tấu.

Áo dài là quốc phục của Việt Nam
Không hiểu do chợt dưng được chọn – hay bởi thứ trang phục, tuy „không xa nhưng chưa thật gần“ được mang ra trình diễn – mà những người mẫu nghiệp dư(1)lại nối bước nhau trong vẻ ủ dột và sừng sững ?

Nếu hiểu thời trang là một loại hình văn hóa, thì chiếc áo dài – liệu có thực sự cần tiếp tục kinh qua một quá trình biến tấu hoặc cách điệu triền miên như thời gian gần đây, mới đủ để vinh danh là „chiếc áo dài truyền thống“ ?

Áo dài Việt Nam qua từng thời kỳ.
Non một thế kỷ định hình và qua nhiều thế hệ những bàn tay hoa, chiếc áo dài mới đạt đến một chuẩn mực tối ưu như ngày nay trong nghệ thuật tạo dáng(2). Không chỉ giúp tăng sức quyến rũ cho từng đường nét, chiếc áo còn khéo làm phai nhạt đi ít nhiều nhược điểm, nếu có – về mặt thể hình của người phụ nữ, do tạo hóa lắm lúc cũng không tránh khỏi xao xuyến nên trót lơ đãng trong khâu tạo nắn.
Ai đó chẳng đã từng than phiền – phụ nữ là một „sản phẩm lầm lỗi“ của thượng đế. Vậy ngẫu nhiên chăng, chiếc áo với hai tà mỏng manh ra đời là để biến một lỗi lầm trở nên đáng yêu, bởi đã khéo hài hòa cái chất trữ tình Eva nguyên thủy, nẩy sinh từ yêu cầu hiện thực song „bất khả“ của cuộc sống. Từ đấy, luôn đi kèm với loại quần hai ống – dài và rộng, giập chéo vào nhau(3)cũng bằng chất liệu vải mềm – chiếc áo tự bao giờ đã thoát rời cái kén thời trang xa xỉ để trở thành một sản phẩm quốc hồn quốc túy.
Một làn gió thoang thoảng, một chút nắng phai phai – bấy nhiêu đủ khiến hai tà bay lượn, vừa phong kín ấp-e vừa khơi gợi khép mở. Chiếc áo chẳng đã thừa sức xô giạt trời mây, lùa nghìn tâm sự len vào ký ức làm ngơ ngẩn lòng mỗi chúng ta trong những chiều xưa ấy ?
Chiếc áo còn khá kén chọn đối tượng trao gởi nên với dáng vóc thon thả, phụ nữ Việt Nam chừng như là khách hàng tối thượng, chủ nhân độc quyền của thứ trang phục rất riêng của dân tộc mình. Sự độc quyền vô hình chung đã nhân hóa chiếc áo truyền thống thành một thứ biểu tượng gọi hồn, đánh thức bao nỗi khát khao hướng về ở những ai hơn một lần mãi ngắm. Chiếc áo tự thân luôn ủ ấp một nỗi niềm : gợi nhắc vô vàn kỷ niệm, hoài cảm một hình bóng cũng như lưu luyến một quê nhà…
Đã thế màu sắc và chất liệu vải áo còn có tính năng định vị nhân cách, phản ánh tiết trời cùng lúc gởi trao nhiều sứ mệnh. Vâng, một thỏa ước không trói buộc – nhưng nếu thiếu sự cân nhắc, trong chọn lựa chất liệu và màu áo hay chọn lựa bất tuân yếu tố dung hợp với quan hệ tiếp xúc, nơi đến nơi đi… ắt sẽ nẩy sinh từng mối nghi hoặc qua ánh mắt của mọi người. Liệu có thể khoác chiếc áo dài hoa rực rỡ trên đường đến viếng cố nhân ở chốn thâm sơn cùng cốc hoặc thổn thức tiễn đưa …người đi, ừ nhỉ người đi thật… trong thứ gấm vóc bội phần lộng lẫy giữa mùa đông buốt giá ?
Và có gì đến phải ngạc nhiên, giữa lòng một thành phố hồng nắng phương Nam „người“ đi mà chợt mát… nếu không vì áo lụa của ai kia ?
Nói cách khác, chiếc áo mỗi khi được lồng vào một „không-gian THƠ“ hay „khung cảnh LỄ“ sẽ có dịp phát huy hết được tác dụng tiềm ẩn của nó. Một sự đồng hóa hiển nhiên giữa màu áo với khung cảnh, với thời gian và sự rung động đầy tình :
Có phải em về, mang theo… tà áo trắng
Để khỏi phai màu như em nói chăng em ! (4)
Giá trị của chiếc áo vì thế, đâu chỉ giới hạn trong sự thăng hoa vẻ đẹp ngoại hình ?
Ngoài tác dụng hoàn thiện một dáng dấp, tái tạo niềm tin cho những mảnh đời trót nhỡ, chiếc áo còn có mảnh lực trấn an từng thân phận hồng nhan mà bến bờ yêu đương ngỡ đã vưột xa tầm với. Thướt tha khoác chiếc áo vào, thì dẫu – „ngãi đắng, gừng cay hay muối mặn gầy hao, da diết…“ vẫn là em ! Chiếc áo dễ mang đến cho người mặc thứ cảm giác như đã „hư vô hóa“ mọi nỗi truân chiên có thực, nhằm bắt nhịp ung dung để tồn tại cùng với cuộc sống quanh mình.
Đấy có là yếu tố hướng thượng đã lặng lẽ nâng chiếc áo lên tầm „một thứ xiêm y mầu nhiệm“ có một không hai trên cõi đời này ?
Tuổi mới lớn nào không cảm nhận có sự chuyển hóa bất ngờ, khi ướm thử lần đầu chiếc áo : nói năng từ tốn, đi đứng khoan thai, vui đùa chừng mực… Riêng với những ai đã qua rồi cái ngưỡng của tuổi đôi mươi hay duyên phận trót thắm ở phương trời đâu đó – nếu vẫn mơ, hẳn mơ một ngày về cố xứ ngập ngừng khoác lại chiếc áo ngày xưa. Chỉ bấy nhiêu thôi, bằng như tự mình đánh thức tận cuối trời Quên cả một quãng đời thanh xuân tươi đẹp !
Song giờ đây với những nhát kéo ngẫu hứng cùng năm bảy sự chắp „giàu sự đầu tư chạy theo thị hiếu“ hơn là giữ lại bản sắc và tôn trọng tính mực thước của phong tục tập quán. Chiếc áo chợt dưng biến dạng – lúc bất cập khi thái quá – không nặng về hình thức phẩm phục cung đình thì cũng hở hang dung tục(5). Vô tình, chúng ta đã đánh đồng tính truyền thống với xu hướng thời thượng : liệu chiếc áo dài truyền thống Việt Nam sẽ còn giữ được sức thu hút, đắm chìm và chiêm ngưỡng ?
Phá vỡ những gì vốn thuộc về truyền thống là điều không dễ ai muốn hay muốn mà được. Cách điệu một sản phẩm cũng thế, đâu chỉ đơn thuần thay đổi hay lai hóa mẫu mã mà phải thay đổi thế nào, có bảo lưu truyền thống, nhắm tới sự thiện mỹ hay ích dụng. Bằng không, giá trị của sự cách điệu sẽ chẳng hơn kém gì một chuỗi thao tác vô hồn, đánh mất tính trang trọng và thuyết phục.
Đành rằng, không thể phủ nhận tính tích cực của các nghệ nhân trong quá trình đa dạng hóa kiểu dáng cho chiếc áo. Tuy nhiên, cần phải rạch ròi giữa hành vi tiếp thị mẫu mã từng thứ thời trang của riêng mình (những nhà thiết kế) với việc sử dụng „chiếc áo dài truyền thống“ như một thương hiệu cầu chứng. Hạ thấp giá trị quốc hồn của một biểu tượng văn hóa vốn là sở hữu chung của cả dân tộc, liệu có được sự chấp nhận dễ dàng về phía đại chúng ?
Muộn màng quá chăng, tham vọng đáng yêu… „muốn nói cho thế giới biết“ của nhà tạo mẫu ?
Không, không những được nói đến – chiếc áo, tự lâu lắm rồi đã cầm chân và hóa đá biết bao du khách. Nay, mọi sự đánh giá đầy mỹ ý liệu có được nhân rộng – mỗi khi, hương đồng gió nội của thứ trang phục „giữ ngọc gìn vàng khép kín mi nhau“ của bao thời vang bóng – sau một chuỗi thử nghiệm biến tấu và cách điệu, đã… ít nhiều bay đi ?


Chú thích:
(1) những nữ sinh Huế .
(2) tiền thân chiếc áo dài bắt nguồn từ chiếc áo dài lãnh tương tự áo tứ thân, áo dài Le Mur (mẫu của họa sĩ Cát Tường,1930) nối vai ráp tay ôm sát thân, rồi áo dài tay raglan ráp xéo vai để tránh nếp nhăn khi mặc (đầu thập niên 60)
(3) giúp „khéo giấu“ khoảng cách giữa đôi chân (đặc biệt với phụ nữ đã làm mẹ) làm tăng phần đài các, trang trọng cho dáng đi.
(4) thơ Vương đưc Lệ
(5) tà áo cắt hoặc quá ngắn quá hẹp, vai áo phồng hoặc hở sát nách, cổ áo khoét sâu, hở toàn ngực và lưng trông khó bắt mắt gần như kiểu áo Trần thị Lệ Xuân, vốn đi ngược truyền thống và đã bị đào thải (khoảng thập niên 50).

NGUYỄN VĂN SA
--
 Mời nghe:

Áo Lụa Hà Đông


NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN

"...Tuổi trẻ chúng tôi bị che mắt bằng khăn quàng đỏ đã bao nhiêu năm rồi, chúng tôi bị tẩy não bằng một chủ nghĩa ngoại lai đã và đang bị cả nhân loại ném vào sọt rác. Chúng tôi bị bắt phải ca ngợi một xác chết, vâng nếu đêm qua em mơ gặp bác Hồ thì sáng nay, ngày mùng một Tết 2012 xin cho chúng tôi được đồng ca bài hát ân tình “Làm sao giết được người trong mộng”. Đừng ảo tưởng mà bắt 90 triệu người sống phải tôn thờ một xác chết..." T20


Lời yêu cầu của tác giả :
"Nếu bạn ở nước ngoài, không cần giấy phép tác quyền hãy phiên dịch bài viết này, người viết chỉ xin bạn đừng sửa hoặc thêm bớt và gửi cho Chính phủ, Thủ tướng, Tổng thống, Thượng nghị sĩ, Dân biểu, Chính quyền địa phương nơi bạn đang sống. Hãy cất lên tiếng nói của tuổi trẻ Việt Nam. Một tiếng nói không ai nghe, nhưng hằng ngàn, trăm ngàn, và hằng triệu người cùng nói, nhân loại sẽ nghe".

Bao năm rồi không còn nhớ, nhưng quê hương tôi cứ mỗi độ xuân về thì cụ đồ râu tóc bạc phơ ngồi viết câu đối đỏ bên đường nay đã vắng bóng, thay vào đó người ta trơ trẽn, đem ra treo đầy đường, vẽ đầy phố những khẩu hiệu tuyên truyền mà chẳng ai thèm để ý: “Mừng Xuân, mừng đảng quang vinh.” 

Những năm trước họ còn kệch cỡm vô học đến độ dám để cả đảng đứng trên mùa xuân của đất trời, dân tộc. Năm nay, những đỉnh cao sở thú học làm người đôi chút đã biết đưa xuân lên hàng đầu, nhưng cũng chỉ đến đó thôi, trình độ văn hoá bổ túc công nông cả mà. Chẳng may phải sống trong môi trường ô nhiễm cực kỳ của cái gọi là cnxh. Chẳng may mỗi khi ra đường phải nhìn thấy khắp nơi cờ đỏ búa liềm và một ngôi sao vàng chìm ngập trong biển máu của mầu cờ đỏ. Chẳng may cứ mỗi khi mở TV lại thấy xuất hiện những khuôn mặt no căng béo mỡ, húp híp mắt mở không ra của các Uỷ viên Bộ chính trị, của ngài Thủ tướng “Vinashin”. Ôi tuổi trẻ Việt Nam, chúng tôi bị đầu độc, nhồi nhét trong gần 70 năm nay nơi ao tù xhcn, biết bao giờ chúng tôi mới bơi được ra biển khơi đây?

Trong đêm giao thừa 2012, khai bút đầu năm, trước tiên tôi xin cám ơn nhân loại, và đặc biệt cám ơn những người đã sáng tạo ra hệ thống Internet nhờ đó mà thế hệ trẻ Việt Nam không còn bị giam giữ trong ngục tù ngu dốt của đảng csVN nữa. Cám ơn Bill Gates, Steve Jobs nhờ quý vị mà ngày hôm nay chúng tôi thênh thang lướt mạng ngay trước mũi bọn công an. Những bức màn tre, màn sắt trước đây giam giữ cha anh chúng tôi bây giờ chỉ là trò cười cho thế hệ @. Khi những hàng rào ngăn cấm tư tưởng con người bị phá bỏ bằng công nghệ thông tin, khi những bức tường lửa (firewall) trở thành bất lực trước khát vọng tự do, đấy là lúc dân chủ khai sinh. Tuổi trẻ Việt Nam sẽ đồng khởi vùng lên để trả lại tên đường TỰ DO, chúng tôi sẽ nam kỳ khởi nghĩa để đem lại CÔNG LÝ, cái gì của Cesar hãy trả lại cho Cesar. Chúng con xin cám ơn cha mẹ đã cho con khối óc chắp cánh bay lên những vì sao cao nhất, và nhận thức được sự giẫy chết của cnxh thay vì chủ nghĩa tư bản như người ta nói. Cha mẹ đã dậy chúng con biết thế nào là dân chủ thực sự khi cho phép chúng con nói lên những điều khiến cha mẹ lo nhiều, sợ hãi nhiều, cha mẹ không bịt miệng chúng con và bắt chúng con phải suy nghĩ một chiều như đảng vẫn làm. Chúng con biết tóc cha mẹ đang bạc đi vì sợ hãi để cho tuổi xanh chúng con vươn lên dưới ánh mặt trời. Xin cha mẹ yên tâm, nếu một mai con phải vào tù thì chế độ hôm nay cũng sẽ chẳng còn bao nhiêu thời gian nữa để giam giữ con, bạn bè, và anh chị em chúng con sẽ hàng hàng lớp lớp như thác đổ triều dâng phá đi khung cửa ngục tù, và ngày đó cũng không xa.

Tại Việt Nam hôm nay làm gì có tự do, chỉ có nhà tù lớn hay nhà tù nhỏ mà thôi. Sợ hãi chính là tên cai tù nguy hiểm nhất cho mỗi người chúng ta, nhưng khi vượt qua được nỗi sợ hãi thì chính là lúc kẻ thù của chúng ta lo sợ. Con không còn sợ nữa, bạn bè con không còn sợ nữa, chúng con đang tỉnh thức sau đêm dài u mê. Bây giờ là lúc đảng csVN sợ hãi, chính vì sợ hãi nên chúng ra tay bắt bớ giam cầm bất cứ ai, như con chó điên cắn càn trước khi nhận viên đạn thi ân và bị vất xuống cống.

Các đỉnh cao Bắc bộ phủ cứ bắt hết đi, nhớ mà giữ Bùi Thị Minh Hằng thêm vài chục năm nữa, cho cái gan dũng khí của cô ta phải héo hon trong lao tù – Hãy giam Cù Huy Hà Vũ cho đến ngày mọt gông – Hãy bịt miệng Linh mục Nguyễn Văn Lý cho đến khi không còn hơi thở để cả thế giới thêm ghê tởm cái chế độ – Hãy cô lập Hoà thượng Thích Quảng Độ để cho nhân loại biết thế nào là tự do tôn giáo tại Việt Nam – Trí thức như Trần Huỳnh Duy Thức là cái gai đâm vào mắt đảng hãy nhổ tận gốc, diệt tận ngọn – Và hằng ngàn tiếng nói bất khuất khác đang bị đảng cô lập! Nhà báo Hoàng Khương là kẻ bôi bác cách mạng chưa kể tội cả gan gài bẫy công an đảng, cần phải biệt giam.

Đêm giao thừa năm nay, hoà cùng niềm vui xuân của dân tộc, qua mạng Internet, qua Dân Làm Báo tôi đã thấy ngọn lửa sấm sét từ nòng súng của anh hùng Đoàn Văn Vươn, những phát súng, những viên đạn, những quả mìn tự chế bằng uất hận đã làm rung chuyển thành trì xhcn. Tôi đã thấy từ đầu que diêm uất hận của mỗi người dân Việt bay lên màn đêm góp lại cùng nhau thành đám cháy rừng quét sạch cái đảng bán nước, hại dân. Hãy nhóm lên hằng triệu que diêm khác, súng hãy nổ khắp nơi, một cánh chim không thể nào bay xa được, cả triệu cánh chim chúng ta sẽ đủ sức quét đảng cộng sản “Hèn với giặc, ác với dân” này ra biển Đông. Trong quá khứ, đảng đã đẻ ra một anh hùng Lê Văn Tám giả tạo lịch sử sẽ phán xét, nhưng trong hiện tại đảng đang tạo ra những Thánh tử đạo cho đất nước oai hùng, bắt thêm nữa đi, nhốt cho chật nhà tù, tuổi trẻ chúng tôi cần thần tượng để tôn thờ.

Hỡi bạn bè yêu thương của tôi, hỡi tuổi trẻ kiêu hùng Việt Nam, hỡi những ai không còn sợ hãi nữa, tôi cảm phục vô cùng khi hằng tuần thấy các bạn rủ nhau với laptop bên cạnh và đọc Dân Làm Báo trước mũi bọn công an nguỵ quyền cộng sản. Tôi ngưỡng mộ vô cùng khi các bạn dõng dạc đọc tuyên ngôn Hoàng Sa, Trường Sa ngay giữa thủ đô Hà Nội, xin cho tôi được ngả mũ kính phục tất cả. Các bạn là Việt Nam và Việt Nam là các bạn. Tôi xin cúi đầu trước lòng dũng cảm của chị Trần Thị Nga và cháu bé còn trên tay mẹ đi biểu tình chống Trung Quốc, chị oai hùng gấp vạn lần Nguyễn Chí Vịnh, Phùng Quang Thanh.

Hỡi đám công an ngu dốt, mặt mày vênh váo ngồi thành từng nhóm với điện đàm quấn trong những tờ báo, có gì đâu sợ hãi mà phải dấu diếm, chỉ cần nhìn cái khuôn mặt lấm la lấm lét như chó ăn vụng bột các ông đã tự giới thiệu mình là ai rồi. Không cần phải đem máy phá sóng đến để ngăn ngừa chúng tôi dùng điện thoại liên lạc rủ nhau đi biểu tình, qua Internet chúng tôi đang gửi thông điệp cho cả nước, cho cả thế giới là tuổi trẻ Việt Nam đang đứng lên và chúng tôi sẽ là sóng thần quét sạch chế độ cộng sản Việt Nam. Chúng tôi hiên ngang làm việc đó ngay trước mũi các ông đấy, mở mắt ra, thông minh một chút cho vợ con đỡ tủi thân. Các ông dùng bộ đàm tầm sóng không quá vài cây số để liên lạc, xin chỉ thị, chúng tôi xử dụng iPhone, iPad gửi thông điệp đi toàn cầu qua vệ tinh. Chúng tôi đọc báo phản động ngay trước mũi các ông, nhiều khi còn dễ hơn đọc ở nhà vì sợ cha mẹ không cho. Các ông lù lù ngoài ánh sáng, khệnh khạng coi trời bằng vung, chúng tôi âm thầm làm giòng nước ngầm xoáy đổ chế độ, đố các ông giữ được nước trong lòng bàn tay. Các ông mù quáng bảo vệ một chế độ giẫy chết, chúng tôi nhìn xa trông rộng hướng về một ngày mai đất nước không còn cộng sản. Các ông ăn lương của dân chúng nhưng quay lại cắn chủ, chúng tôi được cha mẹ nuôi và dậy cho đâu là bạn đâu là thù. Các ông là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, chúng tôi là Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, Hai Bà Trưng. Các ông quỳ lạy trước bá quyền Đại hãn, chúng tôi chuẩn bị ống đồng cho con cháu Tôn Sĩ Nghị. Các ông cắn cỏ ngậm rơm xin gắn thêm một sao vào cờ Trung Quốc, chúng tôi sẽ quét sạch những sao trên mầu cờ đỏ. Các ông ức hiếp dân, tịch thu nhà cửa đất đai, đào mồ mả gia tiên, chúng tôi nổ súng ở Tiên Lãng, đặt bom nhà Đại tá công an tại Thái Nguyên. Các ông ở nhà cao cửa rộng, con cái đi xe hơi vênh váo cập kè chân dài cổ cao, chúng tôi là hằng triệu triệu xe gắn máy, đi bộ có, chen chúc trên xe buýt có và chúng tôi đông như ong như kiến… tất cả đang hướng về các ông cho ngày phán xét. Các ông ngu đần tin là đảng muôn năm, chúng tôi sáng suốt tin là DÂN VẠN ĐẠI. Các ông là thuyền, là Vinashin, Vinalines, chúng tôi là sóng và sóng đã đánh chìm thuyền. Các ông tình nguyện làm khuyển mã cho 14 con khỉ đột, chúng tôi là con cái của 90 triệu dân. Các ông nhìn trước mắt “còn đảng, còn mình” hoặc trung với đảng trước cả hiếu với dân, chúng tôi nhìn lâu dài, đất nước quê hương là muôn năm muôn đời và đảng là một bọn thảo khấu cướp ngày không hơn không kém. Các ông là những con lừa bị che mắt chỉ thấy một hướng, chúng tôi là cánh hạc bay trên trời cao nhìn thấy năm châu bốn bể.

Hãy tỉnh thức trước khi chúng tôi phải hành động, hãy đứng về chính nghĩa thay vì bạo quyền, hãy trả thẻ đảng và về với nhân dân. Khi sóng nổi, khi bão đến chớ có dại dột mà chống lại ý trời và lòng dân. Hãy dẹp ngay đám dân phòng vô học, thất nghiệp, đeo băng đỏ ngang tay. Bọn cỏ đuôi chó đó chỉ khiến chúng tôi khinh bỉ chế độ và nuôi căm hờn dâng cao mà thôi. Một cú đấm vào mặt người dân, một điếu thuốc ngậm miệng, ngạo mạn của tên dân phòng già sắp chết hùng hổ trên cung Thánh nhà thờ Thái Hà sẽ được trả lời bằng trăm bài viết trên Dân Làm Báo với hằng triệu người khắp thế giới xem và họ sẽ chuyển tin đến hằng triệu người khác. Chúng tôi liệu có thông minh hơn các ông không, hỡi những đỉnh cao trí tuệ. Các ông theo ý đảng, chúng tôi vâng ý trời toại lòng dân. Các ông là thiểu số, chúng tôi là toàn dân.

Tuổi trẻ chúng tôi bị che mắt bằng khăn quàng đỏ đã bao nhiêu năm rồi, chúng tôi bị tẩy não bằng một chủ nghĩa ngoại lai đã và đang bị cả nhân loại ném vào sọt rác. Chúng tôi bị bắt phải ca ngợi một xác chết, vâng nếu đêm qua em mơ gặp bác Hồ thì sáng nay, ngày mùng một Tết 2012 xin cho chúng tôi được đồng ca bài hát ân tình “Làm sao giết được người trong mộng”. Đừng ảo tưởng mà bắt 90 triệu người sống phải tôn thờ một xác chết! Một nhạc sĩ gia nô nào đó viết: “Đảng đã cho ta một mùa xuân…” và nhiều bạn trẻ chúng tôi phải công nhận là bài hát này đã trở thành một liều thuốc sổ công hiệu nhất cho những ai bị táo bón, cứ nghe đến thì trong cơ thể chỗ nào có đường thoát là mọi thứ trong người đều tuôn ra như ba giòng thác cách mạng không cách nào kềm hãm được. Gía mà đảng đừng mộng mơ cao làm chính trị, thay vào đó đi bán thuốc sơn đông, cao hổ cốt, thuốc trị táo bón thì lời to.

Năm mới, nói chuyện xuân, cho phép tôi được chia xẻ cùng các bạn những mùa xuân tù ngục “Gulag” mà đảng đã cho chúng ta và mỗi người hãy tự suy nghĩ xem liệu có còn ai muốn những mùa xuân kinh hoàng đó không?

Mùa xuân CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT. Chế độ csVN có thể che dấu những tội ác tầy trời của họ qua sự kiểm soát chặt chẽ báo chí, thông tin và tuyên truyền. Nhưng họ không thể nào che nổi ánh sáng mặt trời mang tên lịch sử. Xin mời các bạn trẻ hãy vào Google và đánh hàng chữ cải cách ruộng đất các bạn sẽ thấy đảng quang vinh như thế nào trong việc chôn sống đồng loại. Hitler, nhà độc tài Đức Quốc Xã đi vào lịch sử là tên đồ tể của nhân loại, nhưng Hitler chỉ giết người Do thái chứ hắn không giết người cùng chủng tộc. Bác Hồ noi gương bác Mao quay về giết ngay chính đồng loại, dậy con đấu tố cha mẹ, bắt người làm công đem chủ ra chôn sống, thậm chí giết chính những người đã giúp đỡ, nuôi nấng, che dấu mình khi còn hoạt động trong bí mật như câu chuyện bà Nguyễn Thị Năm. Cho đến nay, vẫn chưa có con số chính thức nào cho biết có bao nhiêu nạn nhân bị đấu tố và chôn sống trong cuộc cách mạng cải cách ruộng đất ô nhục này, nhưng ước lượng không dưới 250,000 người, khi mà dân số miền bắc vào thời điểm đó chỉ 16 triệu người. Ông Hồ quả là vĩ đại hơn Hitler trong thành tích giết người đồng chủng! Ngày hôm nay, chính quyền Cambodia và Toà án quốc tế đem ra xử bè lũ Pol Pot với tội danh diệt chủng. Trong khi đó, đảng csVN vẫn tiếp tục cưỡng bức cả nước phải thờ cái xác chết Hồ Chí Minh. Vâng, lịch sử cũng ghi là ông Hồ đã khóc và xin lỗi toàn dân về sai lầm của một số cán bộ trong khi thi hành chính sách ccrđ. Có thế thôi sao, trên dưới ¼ triệu người chết đưa đến hằng triệu gia đình tan nát và chỉ một lời xin lỗi của lãnh tụ là xoá đi tất cả! Ôi mùa xuân tuyệt vời đảng đã cho ta! Ôi sinh mạng người Việt dưới chế độ xhcn rẻ hơn cả bèo, hơn một phần tư triệu xác chết đổi lấy vài giọt nước mắt cá sấu của tên già đồ tể.

Mùa xuân TRĂM HOA ĐUA NỞ. Không la hét đấu tố ồn ào như ccrđ, lần này bác và đảng thâm hiểm, mưu mô và quỷ quyệt hơn rất nhiều. Hãy khuyến khích cho trăm hoa đua nở cho trăm nhà lên tiếng. Từ đó, một Trần Dần xuất hiện, “Tôi đi không thấy phố không thấy nhà, chỉ thấy mưa sa trên mầu cờ đỏ”, cứ thế hằng trăm văn nghệ sĩ ưu tú của miền bắc lần lượt xếp hàng vào trại cải tạo, để học tâp để thấm được thế nào là “mưa sa trên mầu cờ đỏ”. Đảng đã bước đầu thành công trong chiến dịch triệt hạ tư tưởng con người. Những cha ông chúng tôi ở miền bắc vào thăm gia đình sau năm 1975 kể lại cuộc sống sau mức màn sắt là mọi người sợ hãi, nghi kỵ lẫn nhau, gia đình có làm thịt một con gà cũng phải đóng kín cửa và chôn dấu lông gà nếu không muốn bị hàng xóm tố cáo. Ngồi tròn mắt nghe các cụ kể chuyện mà người tôi nổi cả da gà và từ đó tôi mới nhận thức được không phải chỉ có riêng miền nam khổ cực trong 37 năm qua đâu, mà người dân miền bắc đã phải cắn răng chịu đựng gần 70 năm nay rồi. Thành quả lớn nhất mà đảng đã đạt được trong chiến dịch trăm hoa đua nở này là tạo ra một sự phân hoá, nghi kỵ, bất tín giữa người dân với nhau. Khi dân chúng không còn ai tin ai thì họ sẽ không còn sức kháng cự nữa và họ sẽ bị đảng “thuần thục”, xin lỗi khi phải dùng từ “thuần thục” là ngôn ngữ chỉ dùng cho loài vật được người huấn luyện, tôi chỉ mượn hai chữ này từ cửa miệng ông Đại tá, Đỗ Hữu Ca, Giám đốc công an Hải phòng vừa phát biểu về vụ anh Đoàn Văn Vươn ở Tiên Lãng đã dùng súng bắn vào công an, bộ đội khi đám thảo khấu bu đến cưỡng đoạt đất đai mà mồ hôi và nước mắt của anh Vươn và gia đình đã đổ ra trong hằng chục năm qua để chiến đấu với biển với sóng. Viên Đại tá công an nói: “Khi chúng tôi cưỡng chế, người dân nơi đây rất đồng tình. Tuy nhiên vụ việc có cái dở đó là tổ công tác khá chủ quan, không lường hết được các tình huống. Từ sau hòa bình đến nay, người dân Tiên Lãng khá thuần nên huyện nghĩ rằng không có việc chống đối như thế”. 70 năm tư duy người cộng sản có khác gì đâu, họ vẫn xem dân không phải là người mà chỉ cần thuần hoá như những đàn súc vật không hơn không kém.

Đảng đã cho ta gần 70 mùa xuân “khá thuần” cho nên khi những anh chị em ngư dân của chúng ta bị Trung Quốc đem tầu hải giám xâm phạm lãnh hải, bắt cóc đòi tiền chuộc và giết hại, đa số chỉ biết lặng câm khi đọc trên báo hoặc nghe những người phát ngôn của chính phủ gọi là “tầu lạ”. Đảng đã thuần hoá chúng ta giống như những con đà điểu chỉ biết vùi đầu trong cát khi gập giông bão. Đảng hèn hạ không dám đối đầu với bọn bá quyền Trung Quốc thì cũng hiểu đươc, nhưng cả 90 triệu người trong nước đều im lặng trước lối giải thích “lạ” về “tầu lạ” thì không thể nào không khen cuộc cách mạng xhcnVN đã thành công trong mức độ thuần hoá con người như thế nào?

Đảng đã thuần hoá người dân để mọi người chấp nhận những sự “phi lý” từ nay trở thành “có lý”, đảng thành lập Dân quân biển để cùng nhau bảo vệ khi bị tầu lạ quấy rối, thế thì lực lượng hải quân, không quân với tầu ngầm Kilo và máy bay hiện đại để làm gì? Đảng dùng ống đu đủ thổi vào hậu môn của những Hiệp sĩ đường phố ở Bình Dương và lợi dụng nhiệt huyết của họ để chống tội phạm, trong khi đó thì sử dụng công an đi hiếp dân, bắt chẹn, ăn hối lộ. Quân đội nhân dân thì lo xây sân golf trong phi trường, đi làm kinh tế thậm chí mở nhà nghỉ, khách sạn, phòng massage nuôi béo bọn tướng tá. Công an thì nay bẻ cổ dân, mai giải toả nhà, đi đến đâu ngửa tay xin tiền đến đó. Công chức phường khóm thì hậm hoẹ khó dễ cho đến khi lòi ra phong bì. Ôi những mùa xuân vắng bóng công lý đảng đã cho ta! Mùa xuân nào cũng chỉ ở cùng chúng ta vài ba tháng, nhưng mùa xuân của trăm hoa đua nở, trăm nhà lên tiếng đã bắt chúng ta phải ngậm miệng đến gần 70 năm qua. Độc lập ở đâu khi mà mảnh đất quê hương đang bị người nước lạ hằng ngày đào phá bauxite, độc lập chỗ nào khi lòng dân sôi sục vì biển đảo bị chiếm đoạt bởi một lũ lạ người lạ ngợm, nói thẳng ra là bè lũ Đại hán Trung Quốc, ấy thế mà viên chức cao cấp của Bộ Ngoại Giao Việt Nam lại nói rằng “Yêu cho roi, cho vọt”, yêu kiểu đó thì tại sao quân đội nhân dân Việt Nam lại không dám “yêu lại” nhỉ? Hải quân Việt Nam Cộng Hoà họ có sợ đâu? Hay chính sách của đảng cs bây giờ là độc lập bằng miệng còn đất đai thì cứ từ từ bán, chẳng ma nào biết. Bọn Trung Quốc đã ở khắp đất nước rồi đó, chúng có mặt ở cao nguyên, chúng nằm ngay Lâm Đồng, chúng ngồi chồm hổm trong Bộ Chính Trị. Hàng hoá made in China ngự trị từ Mống Cái đến Cà Mâu, phim Tầu chiếu hết bộ này qua bộ khác trên TV do nhà nước kiểm soát. Có độc lập không khi đảng bắt những em bé gái mặc quần áo tầu đứng dưới trời giá lạnh cầm cờ sáu sao đón quan Thái Thú Tập Cẩn Bình? Tự do theo nghĩa nào mà người dân chỉ mới nói đến hai tiếng thân yêu Hoàng Sa và Trường Sa là đủ để công an đạp vào mặt, bắt bỏ tù, lôi kéo trên đường phố như súc vật. Tự do đâu mà Điếu Cày, người đã từng phục vụ chế độ trong hàng ngũ quân đội nhân dân bị giam quá hạn tù và cho đến nay vợ con vẫn không biết sống hay chết! Ấy thế mà bà Giáo sư, Phó Chủ tịch nước người có nhan sắc làm nhục tất cả phụ nữ Việt Nam lại còn nhe hàm răng vẩu cho rằng đất nước ta dân chủ gấp vạn lần bọn tư bản giẫy chết. Liêm sỉ là điều không bao giờ có ở bọn đứng đầu nguỵ quyền cộng sản Việt Nam.

Tự do ở chỗ nào mà cả nước có 700 nhật báo, tuần báo, đài phát thanh, đài truyền hình và tất cả đều nằm trong tay đảng? Cái thứ tự do trong tù ngục, tự do giữa bốn bức tường giam, tự do được kiểm soát bởi bọn cai ngục. Hạnh phúc, có thật là chúng ta được hạnh phúc không? Còn tùy theo cái nhìn của mỗi người, nhưng tại sao chúng ta không hỏi Trịnh Kim Tiến về mảnh khăn tang chị quàng trên đầu bên di ảnh người cha ông Trịnh Xuân Tùng đã bị tên Trung tá công an Nguyễn Văn Ninh đánh chết, chxhcnVN quả là ưu việt, công an đánh chết người chỉ bị tuyên án 4 năm (tôi dùng chữ chỉ ở đây có nghĩa là tên Ninh rất có nhiều cơ hội được giảm án sau một hai tháng tù, và được tha sau một năm vì có hành vi tốt) chưa biết chừng hắn sẽ được âm thầm chuyển công tác về một địa phương khác với chức vụ cao hơn, những tên đao phủ như Nguyễn Văn Ninh là vốn quý của đảng! Muốn biết rõ hơn nữa, hãy hỏi chị Thanh Tuyền và câu chuyện đau thương về người chồng bị giết chết ngay trong đồn công an Bình Dương.

Hạnh phúc hay không cứ nhìn vào gia đình nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn và nữ anh thư đất Việt Huỳnh Thục Vy, họ chỉ có một tội là dám viết lên sự thật và đảng thì chỉ thích nói dối quanh co. Tôi không thể nào quên được hình ảnh chị Trần Thị Nga tay bồng con nhỏ đi biểu tình chống Trung Quốc và cái đảng hèn hạ này đã nhanh chóng xù lông nhe nanh vuốt, đưa công an đến khoá trái cửa nhà chị Nga, chúng nhốt người ngay tại nhà như nhốt con vật trong sở thú.

Hạnh phúc như thế nào khi người vợ anh Đoàn Văn Vươn ở huyện Tiên Lãng, Hải Phòng nghẹn ngào trong nước mắt “Gia đình tôi năm nay không có Tết” vì nhà cửa đã bị chính quyền địa phương giật sập. Hạnh phúc trên vành khăn tang đảng đã đem lại mùa xuân cho Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền, một mùa xuân uất nghẹn vắng cha mất chồng. Hạnh phúc được sống cảnh màn trời chiếu đất, đảng đã mang lại mùa xuân cho gia đình người kỹ sư Đoàn Văn Vươn. Hạnh phúc trong bốn bức tường lao lý là quà của đảng gửi cho Trần Huỳnh Duy Thức, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Lý. Hạnh phúc được tự nhiên vào trại phục hồi nhân phẩm hai năm không cần ra toà đảng đã tặng cho Bùi Thị Minh Hằng.
Những hạnh phúc đắng như thuốc bắc và cay gấp vạn lần ớt hiểm. Ôi dân tộc tôi và những uất hận của 70 mùa xuân đảng đã đem về!

Mùa xuân MẬU THÂN 1968. Lịch sử Việt Nam sẽ không thể nào quên mùa xuân tang tóc 1968. Chúng tôi được nhồi nhét tại học đường về nhà thơ vĩ đại Hồ Chí Minh, khi nghe thầy cô chính trị khen thơ đầy mùi nước mắm con thuyền Nghệ An của ông cả bọn chúng tôi chỉ biết nhìn nhau với ánh mắt cười đểu. Nhưng khi nghe thế hệ cha anh và đặc biệt là mấy bác người Huế bạn của ba mẹ tôi kể về biến cố Tết Mậu Thân 1968 tại Huế và các tỉnh thành miền nam. Kể về hình ảnh những sinh viên dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà như Nguyễn Đắc Xuân, anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan đi theo cách mạng và quay về đeo súng chạy trên đường phố Huế giết người không gớm tay (theo tôi, những tên này cần phải đem ra Toà án Quốc tế Nuremberg để xử như bè lũ Pol Pot). Nhưng có lẽ tên tội phạm lớn nhất của đất nước Việt Nam sẽ không ai khác hơn là nhà thơ và đồng thời là cái xác chết ở Ba Đình hôm nay. Hy vọng lịch sử sẽ công minh và chắc chắn sẽ phải là như thế thôi. Năm 1968, ông Hồ đã gửi đi mệnh lệnh giết người qua đài phát thanh Hà Nội với bốn câu thơ: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua, Thắng trận tin vui khắp nước nhà, Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”Lịch sử văn chương thế giới chưa có bài thơ nào mà lại giết nhiều người như thơ ông Hồ. Đảng đã cho ta một mùa xuân đầy uất nghẹn, đó là mùa xuân 1968 khăn tang phủ trùm trên một nửa đất nước. Hãy tạm cất trái tim vào ngăn kéo vài giây và thử đếm xem số nạn nhân bị quân Mỹ thảm sát ở Mỹ Lai so với thành quả đảng csVN giết người năm Mậu Thân 1968, Mỹ Lai sẽ chẳng thể nào so sánh bằng và đó là sự thật.

Hơn 5,000 người dân Huế đã bị vùi dập trong những ngôi mộ tập thể, tiếng khóc vang tận trời xanh. Năm 1968 đã mở màn cho cả thế giới thấy một hình ảnh thật của bộ đội cụ Hồ chân đi dép râu, đầu đội nón tai bèo điên cuồng lùng diệt những người họ đi giải phóng, và giải phóng thật sự cho họ về thế giới bên kia. Nói cho công bằng thì bộ đội miền bắc vào đánh miền nam năm Mậu Thân 1968 cũng tử trận với một con số cực kỳ cao, chiến thắng đã không đứng về phía kẻ xâm lăng nhưng vết thương hằn mãi trong lòng dân tộc.

Đêm 28 Tết mới đây, tôi cùng bạn bè đi chợ hoa trên đường Nguyễn Huệ, Sàigòn và tôi không khỏi uất hận khi thấy xuất hiện trên đường phố những bảng tuyên truyền về chiến thắng Mậu Xuân 44 năm trước. Cho đến nay, 2012 đảng vẫn còn say men trong tiệc máu đồng loại, tại sao đảng lại không kỷ niệm cuộc đại cách mạng cải cách ruộng đất nhỉ? Trưng bầy những biểu ngữ ca ngợi chiến thắng Mậu Thân cho chúng ta thấy rất rõ ràng là đảng chưa bao giờ đứng về phía nhân dân cả. Bất cứ người Việt có tâm hồn nào ở hai miền bắc và nam nếu còn lương tâm chắc sẽ phải hổ thẹn về thành tích Mậu Thân, anh em cùng cha cùng mẹ, cùng máu đỏ da vàng giết nhau.

Tôi được biết qua tìm hiểu, tại Hoa Kỳ sau trận nội chiến Bắc Nam người Mỹ đã chôn chiến sĩ hai miền chung một nghĩa trang Arlington xoá đi hận thù, quên đi quá khứ. Tại Việt Nam cái đảng cầm thú 44 năm sau Tết Mậu Thân vẫn còn hô hào chiến thắng người miền bắc giết người miền nam và nghĩa trang Quân đội Biên Hoà của chế độ Việt Nam Công Hoà vẫn còn trong hoang phế, với hình ảnh trên bia mộ người đã khuất bị đục mắt, đục tên. Cầm thú cũng chưa bao giờ thù xác chết và việt cộng còn cao hơn cả cầm thú trên ý nghĩa này. Máu anh em hai miền đã thấm vào đất Mẹ, xương đã khô trên đồi quê hương. Nhưng cho đến ngày hôm nay giải khăn tang vẫn còn trắng xoá trên đầu Trịnh Kim Tiến & Thanh Tuyền và nước mắt vẫn còn tuôn trong hằng ngàn trại tù cải tạo khắp nơi trên cả nước cùng thân nhân và gia đình họ. Tội ác diệt chủng.

Mùa xuân GIAN DỐI 1976. Ngày 30/4/1975 khi những chiếc xe tăng Nga và các anh bộ đội chân dép râu dẫm nát đời son trẻ, nón tai bèo che khuất nẻo tương lai tiến vào thành phố Sàigòn niềm vui đâu chưa thấy, chỉ nửa tháng sau một thông báo ngắn gọn của Uỷ ban Quân quản được ký bởi tên Đại tá công an Cao Đăng Chiếm kêu gọi các sĩ quan, binh sĩ, nhân viên chế độ VNCH đi trình diện học tập cải tạo 3 ngày, 10 ngày, hoặc một tháng tuỳ theo cấp bậc và chức vụ. Người miền nam chưa bao giờ sống và hiểu cộng sản cả, gần một triệu thành viên quân cán chính VNCH đã ra trình diện và cái 10 ngày đã trở thành 10 năm hoặc hơn thế nữa, chưa kể nhiều người đã chết trong tù. Đây là vết nhơ lịch sử, là sự gian dối vĩ đại nhất mà không một chính quyền có lương tâm và đạo đức nào làm. Nhưng đây cũng là đạo đức thật của Hồ Chí Minh. Đất nước Việt Nam sau 37 năm đến nay vẫn còn anh em bắc nam hận thù nhau cũng chỉ vì vậy. Mẹ tôi kể, một người bà con bên ngoại gia đình ở bắc vào nam thăm và được biết bố tôi phải đi học cải tạo, người dì ngoài bắc đã khóc thật to giữa nhà và nói: – “Sao bố mày dại thế, tin được chúng nó à. Tao ở ngoài đó năm 1972 khi Mỹ đánh bom 12 ngày đã tưởng quân Sàigòn ra giải phóng rồi, khổ thân, sao lại để chúng nó vào đây?” Bây giờ dân miền nam chúng tôi nói riêng và cả nước nói chung đã hiểu các ông rồi! Tôi viết những hàng này trong đêm giao thừa thiêng liêng của dân tộc. Không dám thay mặt ai, nhưng tôi một công dân tên “Tuổi 20” xin dõng dạc trả lại đảng những mùa xuân tang tóc, đầy uất hận.

Và cho tôi gửi đến đảng csvn thông điệp đêm Giao thừa 2012, đó là: NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

1) Tuổi trẻ Việt Nam ngày hôm nay đã quen với thế giới @, iPhone và iPad, sẽ không dễ bị che mắt, bịt mặt và lừa đảo như thế hệ cha anh chúng tôi. Nếu 14 ông bà bộ chính trị, những đỉnh cao của sở thú còn tin vào quyền năng vô hạn của hơn 700 tờ báo, đài phát thanh, và truyền hình các vị có thể định hướng, dẫn dắt chúng tôi. Hãy tỉnh thức, Việt Nam hôm nay có hằng triệu triệu người trẻ không buồn đọc báo, không thèm nghe đài và đang âm thầm cùng nhau xây thêm ống cống đủ cỡ cho các vị, và các quan tham. Chúng tôi sẽ thi đua mừng (đảng quang vinh) bằng cách làm vượt chỉ tiêu những ống cống thật to và thật chắc, bảo đảm (muôn năm). Hatka đã thay mặt chúng tôi gửi quà Tết đến 14 con khỉ đột Bộ Chính Trị, nếu những ống cống đó còn quá nhỏ với xác thân mỡ màng của 13 con đực và 1 con cái, xin vui lòng cho biết chúng tôi sẽ thay thế bằng ống cống to hơn. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

2) Tuổi trẻ chúng tôi hôm nay không sinh ra trong rừng, cũng không tốt nghiệp bổ túc hay chuyên tu, cho nên đảng csVN chớ có dại dột lầm tưởng chúng tôi là bầy cừu non dễ bảo, dễ nghe. Chính cái hệ thống xã hội và giáo dục thấp kém của cnxh do quý vị lập ra đã khiến chúng tôi trở thành nhiều loại người nổi loạn mang đặc thù khác nhau.
Loại tuổi trẻ thứ nhất nổi loạn, ăn chơi đàn điếm, lái xe sang trọng hằng tỷ đồng, uống rượu ngập đầu trong các nhà hàng sang đó chính là con cháu quý vị được xã hội gọi là “bọn 5 C” (con cháu các cụ cả), loại này là thứ dòi bọ lớn lên trong đám phân và họ không thể đại diện cho chúng tôi.
Thành phần tuổi trẻ thứ hai, bị gia đình và xã hội bỏ rơi và từ đó cuốn lốc vào tội phạm cướp của giết người như tên Lê Văn Luyện, đây là thành phần cháu ngoan bác Hồ, chúng tôi cũng xin phép đứng xa với tất cả sự tiếc nuối vì chẳng qua họ chỉ là những hạt giống ngây thơ bị gieo trồng trong mảnh đất xhcn vô cảm, nơi công an giết người vô luật vô pháp, nơi cảnh sát giao thông ngày đêm cướp cạn của dân, nơi Phó Giám đốc Sáu lèo tỉnh Sóc Trăng đánh bạc thua hằng tỷ. Trưởng thành trên mảnh đất tồi tệ đó thì tuổi trẻ Việt Nam có thêm một Lê Văn Luyện thì cũng không phải là điều ngạc nhiên, họ là những sản phẩm đặc trưng của cnxh, những quái thai của thiên niên kỷ.
Chúng tôi không thuộc hai loại tuổi trẻ trên, xin đừng lầm. Chúng tôi là tuổi trẻ mặc áo NO U, chúng tôi là Hoa hậu biểu tình Trịnh Kim Tiến, chúng tôi là binh nhì Nguyễn Tiến Nam, chúng tôi là anh thư Phạm Thanh Nghiên, chúng tôi là Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Thị Thanh Bình, chúng tôi là anh hùng Đoàn Văn Vươn, khi chúng tôi dám ngăn biển đắp đê thì phát súng của chúng tôi chắc chắn sẽ không thua gì sóng biển vang âm toàn thế giới. Súng đã nổ và cuộc chiến đã khởi đầu trên cả nước.
Tuổi trẻ chúng tôi không súng không đạn, không máy bay Sukhoi, không tầu ngầm Kilo nhưng khác với hải quân của quý vị chúng tôi không sợ Tầu cộng. Chúng tôi không đeo quân hàm tướng tá, nhưng sẽ không bao giờ hèn như các ông tướng phường tuồng Phùng Quang Thanh hay Nguyễn Chí Vịnh hèn hạ khép nép trước quan Thái thú Tầu.
Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay chiếm hơn 2/3 dân số và chúng tôi đang mỗi ngày góp lửa để đốt sạch cái chủ nghĩa cs hết thời trên quê hương Việt Nam. Hôm nay chúng tôi chỉ là những ngọn nến nhỏ, khi góp lại chúng tôi thành sức mạnh Thái Hà, thành đêm tỉnh thức nơi nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế. Hôm nay, tiếng nói của chúng tôi có vài triệu người xem trên Dân Làm Báo, ngày mai tiếng nói đó sẽ thành sóng biển Đông cuốn trôi chế độ bạo tàn.   NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

3) Tuổi trẻ chúng tôi không thích những kẻ loạn ngôn, chúng tôi lợm giọng và buồn nôn khi thấy quý vị ngu dốt, trơ trẽn và vô liêm sỉ đến tột cùng khi tiếp tục lải nhải “Đảng csVN quang vinh muôn năm” Có ai lại tôn vinh cái đảng mà bàn tay thấm máu dân mình, cái đảng xây nhà tù nhiều hơn trường học, cái đảng dựng phòng massage nhiều hơn nhà thương. Cái đảng đem con gái ra trần truồng phơi bầy trước người Đài Loan, Hàn Quốc để họ sờ nắn như đi mua gà vịt với một hy vọng mong manh là sớm được thoát ra khỏi thiên đàng xhcn.
Muôn năm thế nào được khi những ông bà quan tham, lúc chưa có quyền hành thì năm anh việt cộng đu cành đu đủ cũng không gẫy, khi có chức quyền chỉ một hai năm sau béo no, béo tròn, mắt mũi húp híp mở không ra, không tin, cứ nhìn các quan phường xã trở lên thì sẽ rõ. Xin đừng lộng ngôn mang cái đảng 4 triệu người hèn với giặc, ác với dân ra và bắt gần 90 triệu còn lại phải tung hô “muôn năm”, chúng tôi không phải dân Bắc Triều Tiên! Đừng ru ngủ chúng tôi bằng những hội hè, đình đám. Đừng mang những ca sĩ, người mẫu chân tay như bộ xương khô và bao nhiêu thịt (kể cả silicon đổ dồn vào ngực) và bảo đó là tuổi trẻ Việt Nam.
Đảng csVN dưới sự chỉ đạo của 14 bộ óc “siêu nhỏ bé” vừa qua đã làm nhục cả dân tộc qua hình thức vận động ĂN GIAN bình bầu cho Vịnh Hạ Long trở thành kỳ quan của thế giới, ăn gian vì bất cứ một cuộc bầu cử chân chính nào mỗi người chỉ được phép xử dụng một phiếu, nhưng với Việt Nam thì khác, ăn gian ăn quỵt công khai không biết ngượng, cả một hệ thống tuyên truyền hùng hổ của nhà nước cổ động mỗi người bầu hằng trăm hay thậm chí ngàn lần! Bảo khối óc của quý vị là “siêu nhỏ bé” thật không ngoa, cứ xem hình ảnh cháu của ông Bộ trưởng Thông tin và Du lịch, ngồi chưa vững mấy tháng tuổi mà đã biết cầm điện thoại bình bầu cho vịnh Hạ Long thì đủ thấy cái khôi hài, kệch cỡm như thế nào? Còn gì nữa về những khối óc “siêu nhỏ bé” của 14 đỉnh cao trí tuệ, cái tổ chức bình bầu kỳ quan thế giới đó là tổ chức tư nhân NOW, không được Liên Hiệp Quốc công nhận. Làm sao mà một đảng ưu tú với hơn ba triệu đảng viên mà lại ăn phải quả lừa lớn như thế?
Ngôn ngữ Việt rất phong phú, nếu mang chữ CON NGƯỜI tách ra làm hai thì mọi người sẽ thấy thành quả của đảng quang vinh đã huấn luyện cho chúng ta thành CON nhiều gấp vạn lần thành NGƯỜI. Sau gần 70 năm trong tăm tối, chúng tôi đã tỉnh thức hãy chờ và xem. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi trẻ Việt Nam, bạn bè quen và chưa quen của tôi ĐỪNG SỢ HÃI! Chúng ta không cần lãnh tụ, vì mỗi người trong chúng ta đã là người điều hành chính bản thân mình. Việc làm đơn giản nhất các bạn có thể làm là hãy phổ biến Dân Làm Báo và bài viết này đến bạn bè, người thân của mình. Nếu bạn ở nước ngoài, không cần giấy phép tác quyền hãy phiên dịch bài viết này, người viết chỉ xin bạn đừng sửa hoặc thêm bớt và gửi cho chính phủ, Thủ tướng, Tổng thống, Thượng nghị sĩ, Dân biểu, chính quyền địa phương nơi bạn đang sống. Hãy cất lên tiếng nói của tuổi trẻ Việt Nam. Một tiếng nói không ai nghe, nhưng hằng ngàn, trăm ngàn, và hằng triệu người cùng nói, nhân loại sẽ nghe. Sống trong nước, tuổi trẻ Việt Nam khôn ngoan hơn chúng ta sẽ cất lên tiếng nói khác, âm thầm nhưng vũ bão. Chỉ cần các bạn tự mình và thuyết phục gia đình cùng nhau RÚT TIỀN ra khỏi tất cả các ngân hàng trong nước và thay vào đó mua vàng để phòng thân. Chỉ cần 24 tiếng đồng hồ thôi, chiến dịch XIẾT HẦU BAO nay sẽ đánh ngay vào tử huyệt nền kinh tế của chế độ. Tết sẽ qua, chi tiêu sẽ bị thâm thủng vì quà cáp, lì xì, hội hè đình đám, đây là thời điểm tuyệt vời để RÚT TIỀN. Việt kiều ở nước ngoài hãy gọi điện thoại về quê nhà khuyến khích thân nhân rút tiền vì không phải ai cũng có điều kiện đọc bài viết này.

Tôi đã góp ý cùng ba mẹ và các cụ sẽ làm ngay sau Tết, các cụ cũng sẽ rỉ tai bạn bè. Chúng ta không đánh chế độ bằng súng đạn, máu Việt Nam đã đổ ra trong hằng bao năm qua. Chúng ta hãy đánh bọn động vật hoang dã bằng khối óc của tuổi trẻ. Tại sao chúng ta phải cứ nai lưng nộp tiền nuôi những người cướp nhà, cướp đất của chúng ta? Tuổi trẻ Việt Nam cùng các thế hệ cha anh cả nước ĐỨNG LÊN, chúng ta đã quỳ gối bao năm rồi. Chúng ta cần ĐÓNG CỬA các ngân hàng trong nước, nên nhớ bọn tham quan của chế độ cùng vây cánh đang dùng tiền chúng ta gửi ngân hàng để quay về giết chúng ta, câu chuyện người anh hùng Đoàn Văn Vươn là một điển hình. Nhân danh nhà nước (có ai biết nhà nước là ai đâu?) chúng thu hồi đất đai để bán cho tư bản đỏ, và tư bản đỏ vay tiền ngân hàng nơi chúng ta ký gởi. Đừng suy nghĩ sai trái là tôi gửi ngân hàng có vài trăm ngàn, rút ra sẽ chẳng nghĩa lý gì. Bạn đang lầm to ngân hàng trong nước hiện nay đang sống bằng những đồng tiền nhỏ bé của bạn đấy, lấy thí dụ: Bạn gửi khoảng 200,000 trong ngân hàng và có 100 người như bạn ngân hàng sẽ thu vào 20,000,000, cứ thế mà nhân ra và tiền của bạn sẽ được chuyển thẳng vào tay tư bản đỏ dưới hình thức cho vay. Các đại gia “tư bản đỏ” sẽ dùng số tiền của bạn gửi ngân hàng để quay lại mua ruộng vườn, nhà cửa đất đai của bạn với giá rẻ hơn bèo sau khi đã hối lộ bọn quan tham địa phương. Chúng nó mượn đầu heo nấu cháo, chúng nó uống rượu, chơi gái bằng đồng tiền mồ hôi nước mắt của chúng ta, hãy tỉnh thức.

Kế tiếp, tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay cao nhất Châu Á và đứng hàng thứ hai trên thế giới, đây là lời tuyên bố của ông Phạm Quang Nghị, Bí thư Thành uỷ Hà Nội, Uỷ viên Bộ chính trị, có nghĩa là đồng tiền Việt Nam sẽ càng ngày càng mất giá. Để kiểm nghiệm điều này, bạn hãy so sánh giá một bó rau muống, một cân thịt hoặc một tô phở của năm trước với năm nay bạn sẽ thấy ngay. Vật chất là tô phở, bó rau muống, ký thịt thì vẫn không thay đổi, chỉ có giá tiền là tăng lên thôi, đó là chứng minh hùng hồn của đồng tiền Việt Nam ngày càng mất giá. Tiền bạn gửi ngân hàng hôm nay có thể mua được 10 tô phở và năm sau lấy ra cộng cả tiền lời do ngân hàng trả lúc đó đừng nghĩ đến 10 tô phở nữa kẻo sẽ thất vọng to. Chính vì thế, ngân hàng và tư bản đỏ cấu kết với nhau dùng tiền của chúng ta ngay từ bây giờ để làm giầu, hãy tỉnh thức. RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG.Chúng ta đã câm lặng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị bóp cổ bóp miệng trong 70 năm qua. Chúng ta đã bị lợi dụng trong 70 năm qua. Xương máu hai miền đã đổ ra chỉ để nuôi bầy thú dữ! RÚT TIỀN RA KHỎI NGÂN HÀNG chúng ta sẽ khai tử chế độ cộng sản Việt Nam trong vòng một tuần lễ. NGÀY PHÁN XÉT SẼ ĐẾN.

Tuổi 20

Bài Xem Nhiều