We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 5 March 2013

Việt Kiều nhớ..... về nước câm mồm Không thì bỏ mạng

image

38 năm nguyên nhân suy đồi đạo đức xã hội CS


1. Vuốt tóc vì chờ mua hủ tiếu ==> bị đâm chết

2. Ăn xong không chịu rửa bát ==> bị đâm chết

3. Ăn nhậu xong giành trả tiền ==> Bị đâm chết

4. Ăn nhậu xong không trả tiền ==> Bị đâm chết

5. Tiểu bậy trước nhà dân ==> Bị đánh chết

6. Nhắc nhở tiểu bậy ==> Bị đánh chấn thương sọ não

7. Dọn cơm ra không ăn ==> Bị đâm chết

8. Không dọn cơm ra ăn ==> Bị đâm chết

9. Chê xấu trai ==> Bị chém chết

10. Khen đẹp trai ==> Bị đâm chết

11. Để xe chiếm lối ra vào hẻm ==> Bị đánh hội đồng đến chết

12. Mượn hột quẹt mồi thuốc ==> Bị đâm chết

13. Trời lạnh, mời nước uống cho ấm ==> Bị đánh chấn thương sọ não

14. Đi hát karaoke, vào nhầm phòng ==> Bị đâm chết

15. Phát hiện trộm, tri hô ==> Bị đánh chấn thương sọ não

16. Giành chỗ uống nước mía ==> Bị đâm chết

17. Dừng xe không tắt máy ==> Bị đánh chết

18. Chê nhạc dở ==> Bị đâm chết bằng kéo

19. Khạc nhổ khi người khác ăn cơm ==> Bị đâm trọng thương

20. Nhìn người khác chơi bi da ==> Bị đâm thủng phổi

21. Khuyên đi ngủ không nghe ==> Bị đâm chết (New)

22. Bán phở bò giá 60/k tô -> Bị đánh trọng thương, quán bị phá nát.
-----

23. Làm Báo - Biểu Tình - Đấu Tranh Dân Chủ ==> Là Tù Rục Xương 

.....quá sợ hãi với THIÊN ĐƯỜNG MỚI(XHCNVN)  không tin tự đi tìm mà đọc cho biết .????

việtlyhương.net sưu Tầm

----
 Giấc mơ bình dị của một cô gái Việt Nam... Tội quá  

Viết theo tâm sự của một cô dâu Việt Nam nhân một chuyến Đài Bắc.

        
        Có lúc trăng soi dạng lưỡi liềm, nhọn như dao, không khắc vào tim mà lòng vẫn nhói đau. Cũng có lúc trăng chênh chếch như giọt nước mắt khổng lồ thổn thức giữa bầu trời hiu quạnh đen tuyền màu u uẩn. Bao tiếng gió miên man rầm rì giữa hàng cây lá vẫn không làm trăng tươi. Trăng ủ rũ, trăng tư lự, trăng ngẩn ngơ buồn, trăng soi rọi tâm tư lũ con gái chúng tôi.

        Tôi nằm bên chồng, nghe tiếng ngáy đều của anh mà thấy lẻ loi, cô độc vô cùng. Chợt thấy thương má, thương mình. Má đã bao nhiêu năm nằm một mình, hẳn má thấy lạnh lẽo, cô đơn trong đêm về tịch mịch. Nhưng còn tôi, hơi thở của chồng xoắn xít quanh đây mà sao sương đêm vẫn hoang lạnh?

        Tôi phải tập yêu chồng tôi, vị cứu tinh cho đời sống chật vật của gia đình tôi. Điều này trên lý thuyết cũng không khó lắm. Nhưng trong trái tim ngoan cố của tôi, cho đến bây giờ sự biết ơn vẫn còn rõ nét hơn nỗi rạo rực yêu thương.

        Tôi như hàng vạn người con gái Việt Nam về quê hương chồng Đài Bắc này để tìm một lối thoát cho cuộc sống vô vọng đã đeo đuổi chúng tôi ngay từ thuở lọt lòng. Quê mẹ nghèo quá, bàn tay mẹ gầy guộc quá, vì thế dù lòng mẹ có thật bao la cũng không giữ được lũ con gái chúng tôi ở lại vùng đất quê hương.

        Tôi ra đời sau thời chinh chiến. Nhưng má luôn đăm chiêu thở dài, hòa bình đã về nhưng sao đất nước lại đìu hiu tiêu điều hơn lúc nào hết. Ánh mắt má ngày càng da diết nỗi sầu muộn. Sau ngày thống nhất là ngày hận thù được thăng hoa, ba phải đi vào tù cải tạo. Má là cô giáo một trường tiểu học. Đất nước thanh bình, ai cũng nghèo, người ta cần gạo cơm chứ đâu cần chữ nghĩa nữa. Má như một kẻ thua trận, gồng gánh đưa lũ con về quê ngoại. Má giã từ Sài Gòn nhốn nháo, giã từ dĩ vãng, giã từ cuộc sống an bình ngày xưa. Má tảo tần nuôi con, nuôi chồng. Rồi ba cũng về sau những tháng ngày lao tù học làm người của xã hội chủ nghĩa. Rồi tôi ra đời. Và rồi ba lại ra đi kiếm tìm tự do trên những con tàu chơi vơi. Ba đi tìm tương lai cho cả gia đình, nhưng ba đã không bao giờ trở lại. Ba đã yên nghỉ trong lòng đại dương. Đã không còn phiền não, không còn trầm tư trong đôi mắt ôn nhu ngày nào. Chỉ thương cho Ba, ra đi trước khi được về thăm quê nội ở bên kia bờ Bến Hải. (Tôi đã được nghe chuyện kể về một dòng sông nhỏ nhưng đã có một thời là lằn ranh ngăn cách lãnh thổ độc tài phía Bắc và vùng đất tự do phương Nam). Ba ghé nhân gian ngắn ngủi nhưng để lại nỗi đau dài cho người cô phụ. Nụ cười hiếm hoi trên môi má đã tắt lịm từ ngày ba vĩnh viễn ra đi. Má vượt qua nỗi chết của tâm hồn, gắng gượng sống cho đàn con.

        Má tôi vẫn mặc cảm, sợ lũ con thất học, cho nên vẫn cố gắng dạy chúng tôi học. Tựa như trong thời buổi gạo châu, củi quế, má bất lực không tìm được thức ăn đưa vào miệng mồm nên để bù lại má ra sức nhồi chữ nghĩa vào đầu chị em tôi. Bây giờ đôi khi nghĩ lại tôi vẫn thầm trách má làm những việc tào lao. Chút vốn liếng sách vở đã không đem được sự no ấm cho gia đình chúng tôi, có chăng chỉ rọi sáng tâm tư khắc khoải, nỗi hoài nghi trong một xứ sở đã thống nhất thanh bình. Nỗi bâng khuâng ngày càng lan tỏa, và cái nghèo túng như những mạng lưới chằng chịt, dù đã vùng vẫy chúng tôi vẫn không tài nào thoát khỏi sự bủa vây của túng quẫn, nhọc nhằn. Chị em tôi bó gối nhìn nhau, nhìn má ngày càng võ vàng vì những cơn bệnh trầm kha không phương tiện chữa trị. Để rồi một ngày, tôi vùng mình đứng dậy, đốt hết những giấc mơ vốn dĩ rất đơn giản đến tội nghiệp của mình, nhắm mắt, khép lòng đi tìm tương lai trong những nơi chốn lạ lùng. Ở đó chúng tôi đã hết là người, đơn thuần là những món hàng, quên hết kiêu hãnh ngượng ngùng, tôi đứng trơ khoe bày tấm thân thể ngà ngọc, danh từ má gọi yêu thương ngày nhỏ. Tại nơi chốn bát nháo đó, nơi mà ranh giới người và vật đã thật mờ nhạt, tôi gặp chồng tôi.

        Chồng tôi thoát chết sau một cơn cháy lúc còn bé. Tai nạn này đã để lại những vết tích không xoá được trên gương mặt nhăn nhúm của anh làm cho anh có vẻ dữ dằn, hung tợn.

        Cũng may là còn đôi mắt lấp lánh tình người, đôi mắt thật đôn hậu tương phản với nét cau có gây nên bởi những vết sẹo phỏng năm xưa. Cũng may là ngày đầu gặp gỡ, giữa chốn chợ người, anh đã không sờ soạng, nắn bóp tôi cho tôi quên đi cái mặc cảm mình là món hàng biết khóc, biết nói, biết đau, biết tủi.

        Mãi sau này tôi mới biết tại sao chồng tôi đã chọn ngay tôi gìữa bao nhiêu cô gái khác. Tôi đã biết tại sao anh đã chọn tôi mà không cần vạch mắt, căng miệng tôi ra khám xét như những người đàn ông khác. Tôi không đẹp nhưng tôi có cái may mắn nhang nhác giống cô láng giềng mà anh thầm yêu trộm nhớ ngày xưa. Sau này anh tâm sự, ngay khi chạm mặt tôi lần đầu anh đã giật mình tưởng được tao ngộ cùng cố nhân. Tất nhiên cố nhân đã thật xa ngoài tầm tay với của anh. Tất nhiên, người con gái ngày xưa đã chẳng bao giờ đoái hoài đến cậu thanh niên tật nguyền, dị dạng. Và bây giờ chồng tôi tìm niềm an ủi bên tôi. Đã bao nhiêu lần, tôi vẫn cám ơn thượng đế về sự trùng hợp huyền diệu này. Nó đã cho tôi cơm ăn, áo mặc, tiền thuốc men cho má và một mái gia đình với một người chồng dù dị hình, xấu xí, dù không đồng ngôn ngữ, không đồng quá khứ, dù gia đình chồng nhìn tôi bằng những ánh mắt lãnh đạm, đôi khi rõ nét miệt khinh. Mà có sao đâu những cuộc hôn nhân lệch lạc, má vẫn nói nghĩa vợ chồng bền chặt hơn tình yêu lãng mạn, mong rằng tôi và chồng tôi vẫn sóng bước đồng hành để trong đời sống của tôi không phải chỉ có những mất mát. Tôi nhớ ơn chồng nhưng chưa yêu anh được. Cho đến bây giờ mỗi lần ân ái, tôi vẫn phải nhắm nghiền mắt để che dấu nỗi e dè, ngại ngùng khi khuôn mặt nứt nẻ những vết thẹo dọc ngang của anh thật cận kề. Có lẻ vì chưa yêu nên tôi chẳng hề ghen tuông với người trong mộng của chồng. Hay khi người ta đã quá nghèo khổ, quá cơ cực, quá tuyệt vọng thì điều chúng ta băn khoăn nhất không phải là những yêu ghét giận hờn. Vả lại, ở xứ sở này, trong hoàn cảnh chúng tôi, cứ hãy ngu ngơ như cỏ cây, và phẳng lì như phiến đá để tâm hồn được an tịnh hơn là để những suy tư chao động cho lòng thêm chất ngất những niềm đau.

        Tuy nhiên cái nghèo đói quá độ cũng có những khuyết điểm của nó. Cái nghèo đã như màn đêm dày dặc chôn kín giấc mơ tươi đẹp thời con gái. Những cánh đóm lập loè trên cánh đồng chết không có đủ sức để thắp sáng những giấc mơ đầu đời. Và những ngọn gió èo uột đã không chở nổi những suy tư của chúng tôi ra khỏi tầm hạn cơm gạo đói no. Hình như vì thế tôi đã đánh mất thói quen mơ mộng, có lẽ như thế lại hay.

        Có những buổi chiều ra chợ, tôi thoáng gặp những đồng hương. Những cô gái thất thểu, mỏi mệt lạc lõng giữa rừng người. Tim tôi luôn nao nao nỗi xúc cảm, không phải vì đôi khi phát giác ra những vết tím bầm trên mí mắt vành môi của một hai chị bạn mà là nét đặc thù của nhân dáng Việt Nam trên thành phố Đài Bắc này; những chiếc bóng xiêu xiêu chịu đựng, những ánh mắt thảng thốt, hoang mang và buồn vô tận. Tôi tưởng tượng trong vô vàn cảnh vật, tôi khó mà lẫn lộn được những hình hài tang thương và lẻ loi đó. Các chị nhìn tôi ước ao thèm muốn: chị may mắn, một chồng một vợ. Còn tụi tui không hơn một món hàng hết qua tay người này lại đến tay người khác. Riết rồi không còn biết ai mới thật là chồng…Hay là: kiếp trước tui ở ác, nên bây giờ phải chịu nghiệp quả. Mà thật, tôi đã quá may mắn, tôi không bị đánh đập, không bị chuyền tay từ người đàn ông này qua người đàn ông khác. Nhưng tim tôi vẫn khắc khoải, hồn tôi vẫn cô đơn, tâm tư tôi vẫn chia sẻ niềm tủi nhục của những chị bạn. Có nơi nào trên trái đất tuổi đôi mươi đồng nghĩa với những đường cùng ngõ hẹp như ở quê hương tôi? Tất cả chúng tôi đều ôm ấp một niềm đau, chúng tôi đã không bao giờ có tuổi thanh xuân. Hạnh phúc là một từ trừu tượng, tương lai đồng nghĩa với bấp bênh, vực bẫy. Có ai hiểu những khuấy động trong tâm hồn đã chịu nhiều thương tổn của lũ con gái chúng tôi mà xót xa tội nghiệp?? Chúng tôi thường đọc thấy những nét rẻ khinh trong mắt người bản xứ, tôi thường phân vân tự hỏi mình đã làm gì nên tội ngoài cái tội dám mơ ước thoát cảnh khốn cùng. Chỉ mong sao những người cùng tiếng nói đừng khinh miệt những cánh chim phiêu bạt đáng thương của lũ chúng tôi.

        Có những chiều nhìn từng đàn chim bay về cuối trời, đôi khi nghe tiếng cánh vỗ chấp chới hai tiếng “về đâu”, “về đâu”; tim tôi rưng rưng khóc. Ở quê nhà tôi cũng nghe tiếng chim kêu trong nắng chiều chập choạng nhưng không thê lương như ở quê chồng. Về đâu, biết đâu mà về. Chúng tôi đã nhận nơi này làm quê hương nhưng tại nơi này biết bao nhiêu thân phận đàn bà Việt Nam đã bị vùi dập. Còn quê nhà tuy không xa tít mịt mờ nhưng như đã khép lối. Tôi nhớ hoài những ngày tuổi nhỏ, bên thân cầu, nhìn đám lục bình lênh đênh giữa dòng sông, lòng cứ thầm hỏi những cánh hoa tim tím này sẽ trôi về đâu. Bây giờ, bâng khuâng nhớ lại những cánh lục bình ngày xưa, tôi chợt ngậm ngùi, số phận mình đã như đám lục bình nổi trôi. Ôi những mảnh đời trôi giạt giữa dòng đời vô tình, biết sẽ ra sao ngày mai.

        Thật ra tôi vẫn còn quyến luyến quê hương mình. Một quê hương đã không biết nuôi dưỡng, bảo vệ những người con gái yếu đuối, đa cảm. Để trong đêm về trên thành phố Đài Bắc, có bao tiếng khóc Việt Nam, tỉ tê nức nở, khóc cho mình, cho những giấc mơ sớm bị tàn lụi. Lỗi về ai, trách nhiệm về ai? Trên đất nước với ngọn cờ máu, không ai có can đảm nhận. Và từng đàn thiếu nữ tựa những thiêu thân vẫn cứ ào ạt ra đi như nước tràn thác lũ. Có bao nhiêu thiêu thân đã cháy rụi trong ngọn lửa hững hờ, và có bao nhiêu người được sự may mắn tình cờ như tôi.

        Dẫu nhiều cay đắng, dẫu lắm oan khiên, quê hương ta đó, làm sao quên được.

        Đến một ngày, tôi không có tháng, người uể oải, chếnh choáng với những cơn nôn mửa bất chợt. Rồi giật mình, mình sắp có con. Tôi nhớ mãi cái cảm giác ngất ngây trước những diệu kỳ của đời sống. Lần đầu tiên trong đời, lạc lõng nơi thành phố này, trong tôi có sự kết tạo, có nỗi chờ mong và một tình cảm tuy đang manh nha nhưng đã thật dạt dào, mãnh liệt. Đêm đã thôi âm u trầm mặc, ngày đã bớt lê thê muộn phiền. Tiếng khóc chào đời của con chưa rơi xuống trần, nhưng ước mơ hạnh phúc đã vội vã vươn cao. Ôi cái sinh linh nhỏ bé đang nhỏ từng giọt hồi sinh nhiệm mầu trên tâm hồn héo úa của tôi. Ngọn lửa đã được khơi dậy từ những tàn tro. Tôi đã sống dậy từ bao nỗi chết. Trong tôi bao phác họa muôn màu về một ngày mai khi đứa con bé nhỏ của tôi bước những bước thơ ngây vào đời. Tôi lại bắt đầu nuôi dưỡng những giấc mơ. Rồi từng ngày tháng trôi đi trong háo hức lẫn băn khoăn tư lự. Con chưa mở mắt, nhưng tim đã ấp ủ bao lời tâm sự của má. Quê hương Việt Nam ngàn trùng xa mà những điệu hò ru con đã rất nồng nàn quanh đây. Con sẽ được nuôi dưỡng bằng dòng sữa mẹ, bằng trái tim tha thiết tình hoài hương. Ước ao sao con sẽ yêu thương quê ngoại như má luôn trân trọng nơi chốn má chào đời.

        Nếu một ngày nào, theo bước của ba, con về quê ngoại tìm người bạn đời. Con hãy nhìn bằng mắt và bằng tim. Đừng sử dụng đôi tay mà gây vỡ vụn những trái tim mảnh khảnh, nhỏ nhít, đáng thương. Tội lắm cho người con gái. Con có biết sau những nụ cười gần như vô cảm là những tiếng nỉ non, thút thít đến não nề, ai oán. Con có hay sau những thân thể toàn vẹn là những tâm hồn tơi tả với những đắn đo, sợ hãi, tủi hờn bởi quá nhiều giông bão chung quanh.

        Má ao ước, một ngày con lớn khôn, má để dành được tiền, ta về quê thăm ngoại. Về quê má, con sẽ hỏi tại sao quê ngoại nghèo quá, sao quê ngoại tiêu điều, buồn bã quá. Sao những người quê ngoại mang đôi mắt xa xăm, u hoài, như mắt của má. Má cũng như con đã không bao giờ biết đến một thời trên quê ngoại, mùa giáp hạt cũng là mùa nụ cười nở trên môi mọi người. Tiếng sáo diều dập dìu trên khắp nẻo quê hương, tiếng cười đùa trẻ thơ đã gảy nên những tấu khúc tuyệt vời của làng quê năm cũ, những năm quê ta chưa có ngọn cờ đỏ. Ta có sẽ bao giờ nghe được giọng hò trong thanh trên những cánh đồng thênh thang trĩu nặng bông lúa vàng của những ngày đất nước thật sự thanh bình. Ngày ấy có những thanh niên thiếu nữ sẽ để giấc mơ đầu đời, giấc mộng tình yêu bay bổng vươn cao qua gió ngàn, mênh mang trải trên những cánh đồng bát ngát để thấy tình mình cũng đơm hoa như những cánh đồng ngập lúa. Ôi những giấc mơ no ấm, an hòa bao giờ ta sẽ có…

        Lời ngoại kể về quê hương êm đềm của ngày xưa cũ như một chuyện cổ tích. Nhưng má vẫn nuôi niềm mơ ước về một ngày mai quê ta hết nghèo đói cho những người đàn bà Việt Nam không phải thân cò lặn lội đường xa, làm dâu xứ lạ với những ê chề như những người trong thế hệ sinh sau ngày chiến thắng của phương Bắc.

        Má sẽ đặt tên con là Sinh, sự Hồi Sinh của niềm hy vọng tưởng đã lụn tắt sau bao gió bão. Má sẽ dạy cho con làm người Việt Nam thật sự, những người sanh ra từ bên này biển Thái Bình với tâm tư chất chứa hồn Quốc Toản, Bắc, Giang. Qua bao đói no thăng trầm, qua bao hệ lụy thử thách, xa quê hương, hướng về quê mẹ, má chợt thấy mình chín chắn trưởng thành, lòng yêu mến quê cha đất tổ trỗi dậy thắm thiết. Hơn bao giờ hết má thấy mình thật gắn bó với quê nhà lận đận.

        Việt Nam, Việt Nam, quê hương xa xôi quá, còn có bao giờ nhớ đến chúng tôi ? Xin một ngày quê tôi thật sự an bình để những người con Việt Nam có thể trở về nơi đất mẹ. Ngày ấy những giấc mơ sẽ thật sự được trổi mầm, cho trái tim Việt Nam được xanh một màu hy vọng, cho con người Việt Nam được kết sáng những giấc mơ kiêu hãnh. Ngày ấy đêm Đài Bắc sẽ thôi không còn tiếng khóc của những thiếu nữ lạc loài. Ngày ấy chúng tôi thôi hết kiếp luân lưu nhục nhằn.

        Xin một ngày, giấc mơ trở thành hiện thực!


        Cấn Thị Bích Ngọc

 -----
Những tên Việt kiều nào còn thích về VN du hí, du dâm trên thân xác những cô gái đau khổ thì không phải là con người.

PHỎNG VẤN ĐỨC GIÁM MỤC VINCENT NGUYỄN VĂN LONG Về bức thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam góp ý sửa đổi Hiến Pháp


Đức Giám mục Vincent Nguyễn Văn Long: Về bức thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam góp ý sửa đổi Hiến Pháp 


Đức Giám mục Vincent Nguyễn Văn Long: Về bức thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam góp ý sửa đổi Hiến PhápCá nhân tôi cho đây là một bức thư đầy qủa cảm, nhậy bén và xác thực với hiện trạng đất nước và thao thức của người con dân Việt khắp nơi. Bức thư đã nói lên tiếng nói ngôn sứ cùa Giáo Hội, tức là nói lên sự thật, nói lên hiện trạng đích thực của đất nước, nói lên thay cho triệu con tim đang thao thức một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh. Tôi cho rằng đây là một sự đồng hành can trường và bước đi có tính cách quyết định trong cuộc hành trình gian khổ của dân tộc tiến về một tương lai tươi sáng. Lịch sử khi nhìn lại tiến trình dân chủ hóa của đất nước sẽ ghi nhận bức thư này của HĐGMVN như một mốc điểm quan trọng. Nó là tiếng chuông thức tỉnh lòng người và khích lệ triệu con tim Việt khắp nơi cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử và phục hồi một đất nước phì nhiêu của văn minh và tình người.
Radio Australia: Quan điểm của Giám mục về Thư Góp ý của Hội đồng Giám mục Việt Nam?

GM Vincent Nguyễn văn Long: Thưa anh và qúy thính gỉa của đài Radio Australia. Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi xin được vắn tắt nói qua về bối cảnh và nội dung bức thư góp ý của Ban Thường Vụ trực thuộc HĐGMVN, Giáo Hội CG. Nhà nước CSVN đã kêu gọi người dân và các tổ chức trong nước đóng góp ý kiến cho dự thảo sửa đổi Hiến Pháp năm 1992. Với tư cách lãnh đạo và đại diện chính thức của Giáo Hội Công Giáo (GHCG) tại Việt Nam, HĐGM qua Ban Thường Vụ đã gửi thư góp ý cho Ủy Ban Dự Thảo của Nhà nước CSVN với một nội dung đầy sâu sắc và thuyết phục. Bức thư phân tích rõ những khó khăn và bế tắc của tình hình đất nước do chế độ độc tài đảng trị gây ra và đề nghị xóa bỏ đặc quyền của bất cứ đảng phái chính trị nào ngay từ trong cấu trúc Hiến Pháp. Tóm lại, phải xóa bỏ xiềng xích của ý thức hệ CS đã trói buộc và kìm hãm sự phát triền của đất nước; và phải trả lại cho người dân quyền quyết định và chọn lựa một chính phủ pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

Cá nhân tôi cho đây là một bức thư đầy qủa cảm, nhậy bén và xác thực với hiện trạng đất nước và thao thức của người con dân Việt khắp nơi. Bức thư đã nói lên tiếng nói ngôn sứ cùa Giáo Hội, tức là nói lên sự thật, nói lên hiện trạng đích thực của đất nước, nói lên thay cho triệu con tim đang thao thức một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh. Tôi cho rằng đây là một sự đồng hành can trường và bước đi có tính cách quyết định trong cuộc hành trình gian khổ của dân tộc tiến về một tương lai tươi sáng.


Người Công giáo Việt Nam ở Úc nói riêng và ở nước ngoài nói chung nghĩ gì về Thư Góp ý này?

GM Vincent Nguyễn văn Long: Thưa anh và thính gỉa của đài. Theo sự thẩm định của tôi, bức thư của HĐGMVN đã mang lại cho tất cả đồng bào Công Giáo hải ngoại một niềm hy vọng mới và một sự động viên về vai trò làm muối men cho đời, nhất là cho quê hương đất nước. Người Việt Công Giáo tại Úc nói riêng rất vui mừng về bức thư thề hiện lập trường của GHCG trong hiện tình đất nước và dưới ánh sánh Tin Mừng. Có lẽ vì hoàn cảnh địa lý và truyền thống nối kết hài hòa, người Việt Công Giáo tại Úc luôn tiên phong trong các vấn đề liên qua tới Giáo Hội và quê hương. Do đó, tôi thiển nghĩ là bức thư có tác dụng như một luồng gío mới, làm tác động sâu xa vào lòng người Việt Công Giáo tha hương. Như mọi người đều biết, người Công Giáo chúng tôi đang mong chờ vị lãnh đạo Giáo Hội hòan vũ mới thay cho vị tiền nhiệm Bênêdictô 16 đã từ chức. Chúng tôi đang chờ luồng gió mới của Chúa Thánh Thần thổi vào lòng Giáo Hội. May thay, chính luồng gió mới của Chúa Thánh Thần đang thổi vào làm canh tân Giáo Hội tại quê nhà và qua đó, cũng sẽ làm đổi mới quê hương đang nghiệt ngả trong sa mạc của chủ nghĩa Cộng Sàn.


Theo Giám mục, trong những điểm đề nghị được Hội đồng Giám mục Việt Nam nêu ra, điểm nào quan trọng nhất và cần được ưu tiên thực hiện?

GM Vincent Nguyễn văn Long: Đọc bức thư, tôi thật tâm đắc với những phân tích sắc bén và những đề nghị thuyết phục của HĐGMVN. Nếu nói là điểm nào quan trọng nhất thì theo tôi, đó là điểm nói về việc thi hành quyền chính trị của người dân. Ở đây tôi xin mở ngoặc nói là vai trò của Giáo Hội không chỉ giới hạn vào những vấn đề thuần túy tôn giáo. Chúng tôi còn có bổn phận đưa đạo vào đời và đóng góp vào những vấn đề xã hội dưới ánh sáng Tin Mừng. Chúng tôi không thể vô cảm và nhất là càng không thể làm công cụ cho bất cứ chế độ nào. Do đó, việc gióng lên tiếng nói ngôn sứ ngay cả trong những bế tắc có tính chính trị không đi ra ngoài vai trò cùa Giáo Hội.

Với quan niệm đó, thưa anh và qúy thính gỉa, việc đưa ra một đề nghị cho vấn đề chính trị nóng bỏng của đất nước là một bổn phận và trách nhiệm thiêng liêng của chúng tôi, những người lãnh đạo tôn giáo. Tôi cho rằng đề nghị cuối cùng trong bức thư của HĐGMVN là điểm quan trọng nhất. Tôi xin trích nguyên văn: “Phải vượt qua sự bất hợp lý từ trong cấu trúc Hiến pháp, bằng cách xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng phái chính trị nào, đồng thời nhấn mạnh vai trò của Quốc Hội là “cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất”, do dân bầu ra và là đại diện đích thực của nhân dân, chứ không phải là công cụ của một đảng cầm quyền nào.”

Nói một cách khác, nguyên nhân của mọi bế tắc mà đất nước đang phải đương đầu hiện nay chính là một hệ thống chính trị không phải của dân, do dân và vì dân. Chỉ khi nào chúng ta tháo bỏ xiềng xích của một hệ thống độc tài đảng trị, một ý thức hệ ngoại lai và đã bị khai trừ tại đại đa số các quốc gia tiên tiến, chúng ta mới có hy vọng kiến tạo một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh.


Hôm thứ Hai 25/2 Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng cho rằng các “luồng ý kiến” đòi hỏi xóa bỏ điều 4 Hiến pháp, đòi đa nguyên, đa đảng, đòi tam quyền phân lập… là “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức”.

GM Vincent Nguyễn văn Long: Những lời của ông Tổng Bí Thư có đáng để chúng ta bình luận không thì tôi để cho qúy vị thính gỉa tự trả lời. Tôi cho rằng những lời này phát xuất từ một tư tưởng đóng khung trong qúa khứ và trong một ý thức hệ cũng thuộc về qúa khứ. Tới thế kỷ của cách mạng thông tin mà còn có những nhà lãnh đạo sống trong ảo tưởng của một hệ thống chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng CS của thập niên 50.  Thật đáng buồn cho đất nước.

Nhưng chỉ sau đó vài ngày, vào ngày 1/3, qua Thư Góp ý, HĐGM VN cũng đã gần như hoàn toàn đòi hỏi xóa bỏ những điều trên, như xóa bỏ điều 4, đòi tam quyền phân lập, đòi xóa bỏ sự áp đặt thống trị của một ý thức hệ và tư tưởng duy nhất hiện hành ở Việt Nam …Như vậy liệu có thể xem như HĐGM VN cũng đã “suy thoái chính trị, tư tưởng, đạo đức” hay sao? Giám mục nhận định thế nào về sự kiện này?

GM Vincent Nguyễn Văn Long: Một lần nữa, tôi tôn trọng sự suy nghĩ của qúy thính gỉa. Ai thể hiện sự “suy thoái”? Đất nước ta, dân tộc ta vì sao bị “suy thoái” thì chúng ta có thể dễ dàng kết luận. Không cần phải phân bua trước những lời phát biểu không đáng để chúng ta bình luận.

Các chương trình hành động cụ thể của cộng đồng CG người Việt ở hải ngoại nói chung và ở Úc nói riêng sẽ ra sao để hỗ trợ v.v… cho bản kiến nghị trên. Các Giám muc VN ở Hải ngoại có lên tiếng hiệp thông/đồng tình chung với HDGMVN trong nước không ?

GM Vincent Nguyễn văn Long: Thưa anh và thưa qúy thính giả. Ngay khi bức thư được phổ biến, chúng tôi các giám mục, linh mục Việt Nam và các tổ chức truyền thông Công Giáo tại hải ngọai đã tìm cách để hiệp thông và hậu thuẫn HĐGMVN trước một hành động  đầy sự can đảm và tính tiên tri. Trong những ngày xắp tới, chúng tôi sẽ tổ chức những buổi cầu nguyện và ký thỉnh nguyện thư, ủng hộ bức thư của HĐGMVN và đồng hành với Giáo Hội và quê hương. Đất nước Việt Nam có thể nói đang đi đến một bước ngoạch lịch sử: hoặc là chúng ta tiếp tục con đường tiến lên Xã Hội Chú Nghĩa mà thực chất là một con đường dẫn tới sự băng hoại  và bế tắc toàn diện như đang diễn ra hiện nay. Đó là chưa nói đến hiểm họa về chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ –một thử thách mà các nhà lãnh đạo CSVN hoàn toàn bất lực và thông đồng. Chúng ta có chọ lựa thứ hai là chấm dứt chế độ độc đảng, là phục hồi “quyền làm chủ của người dân”, là “lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng và điều hành xã hội”, là thực hiện một tiến trình dân chủ dẫn đến một “nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân”.

Tất cả những điều này không phải là do những thế lực thù địch, hay những kẻ phản động theo diễn tiến hòa bình phát động. Nó càng không phải là do “suy thoái chính trị, đạo đức và tư tưởng” mà ngài Tổng Bí Thư đã cảnh cáo. Tôi cho rằng, những đề nghị của HĐGMVN là tiếng nói từ lòng dân tộc, tiếng nói của lương tâm xã hội, tiếng nói của sự thật, tiếng nói của những khao khát chân chính. Tôi cho rằng, tiếng nói này không chỉ cho người Công Giáo. Nó là tiếng chuông hiệu triệu cho toàn dân tộc, không phân biệt tôn giáo, giai cấp hay khuynh hướng chính trị. Chúng ta chỉ có một tương lai tươi sáng cho đất nước nếu chúng ta tháo ra khỏi mình xiềng xích của một hệ thống chính trị lỗi thời, “một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam.”

Lịch sử khi nhìn lại tiến trình dân chủ hóa của đất nước sẽ ghi nhận bức thư này của HĐGMVN như một mốc điểm quan trọng. Nó là tiếng chuông thức tỉnh lòng người và khích lệ triệu con tim Việt khắp nơi cùng nhau khai thông dòng sông lịch sử và phục hồi một đất nước phì nhiêu của văn minh và tình người.

Xin cám ơn anh và qúy thính gỉa của Đài Radio Australia.

Thực hiện Radio Australia

-------------

Giáo hội Công giáo phê phán Điều 4

image 
  Hội đồng Giám mục Việt Nam nói phải 'xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng phái chính trị nào'

Giáo hội Công giáo Việt Nam tuyên bố Hiến pháp không nên khẳng định sự lãnh đạo 'của bất kỳ đảng phái chính trị nào' trong tuyên bố đưa ra hôm 1/3.

Văn bản được Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tổng Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, ký và được chuyển cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp tại Hà Nội.
Lá thư vạch ra một loạt các điểm mà theo Giáo hội là “cần làm sáng tỏ”.
Tư tưởng ‘đóng khung’

Đáng chú ý, lá thư bày tỏ bất đồng với Điều 4, mà theo dự thảo, được sửa một phần thành Đảng Cộng sản “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”.

Hội đồng Giám mục nói: “Phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học, nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi?”
“Phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác-Lênin tự thân là chủ nghĩa vô thần?”

image

Giáo hội đòi hỏi: “Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân.”
Nói về quyền tự do tôn giáo, lá thư yêu cầu: “Không tôn giáo nào hoặc chủ thuyết nào được coi là bó buộc đối với người dân Việt Nam.”
“Nhà nước không tuyên truyền tiêu cực về tôn giáo, không can thiệp vào công việc nội bộ của tôn giáo như: đào tạo, truyền chức, thuyên chuyển, chia tách sát nhập...”
‘Tự do ứng cử’

image

Đi sâu vào quyền chính trị, lá thư nói “việc tự do ứng cử của mỗi công dân là đòi hỏi tất yếu trong một xã hội dân chủ, văn minh và lành mạnh”.

Hội đồng Giám mục nói thẳng “quyền làm chủ của nhân dân chỉ có trên giấy tờ và lý thuyết”.
Trong ngụ ý đòi bỏ Điều 4, lá thư viết “trong Hiến pháp không nên và không thể khẳng định cách tiên thiên sự lãnh đạo của bất kỳ đảng phái chính trị nào (X. điều 4), vì chủ thể của quyền bính chính trị là chính nhân dân”.

image

Lá thư viết thêm: “Hiến pháp phải tôn trọng quyền tham gia hệ thống công quyền ở mọi cấp, của mọi công dân, không phân biệt thành phần xã hội, sắc tộc, tôn giáo...”

Với giọng chỉ trích mạnh mẽ, lá thư nói phải “xóa bỏ đặc quyền của bất kỳ đảng phái chính trị nào”.
Những ngày gần đây, Đảng Cộng sản cho tổ chức hàng loạt các buổi thảo luận, nói chuyện ở các bộ, ngành về dự thảo Hiến pháp.

Tường thuật trên truyền thông nhà nước cũng nhắc đến Điều 4 Hiến pháp, nói rằng đây là “không thể thay thế”.

Cộng Đồng Úc Châu : Chúc mừng và cám ơn TNS Ron Boswell

 Kính mời quý vị cùng chúc mừng và cám ơn TNS Úc Ron Boswell

Kính thưa quý vị,
=====

Hôm nay, 5/3/2013, đánh dấu đúng 30 năm ngày TNS Ron Boswell của tiểu bang Queensland bước chân vào nghị trường nước Úc. Ông đã tuyên bố sẽ không ra tái ứng cử trong kỳ bầu cử Liên bang sắp tới dự trù vào tháng 9 năm nay. Do đó, ông sẽ rút lui khỏi chính trường khi nhiệm kỳ của ông chấm dứt vào tháng 6 năm tới 2014.
TNS Ron Boswell được các chính trị gia của cả 2 bên (Liên Đảng và Lao Động) nể trọng vì đúc tính liêm chính và lòng tận tâm phục vụ cho cử tri của ông.

Inline image 1

Riêng đối với cộng đồng người Việt ở Queensland nói riêng và ở Úc nói chung, ông đã lên tiếng bênh vực cho quyền lợi của chúng ta trong nhiều dịp, đáng nhớ nhất là:

(1) Trong kỳ bầu cử năm 2001, chống lại chính sách kỳ thị chủng tộc của "kiều nữ tóc đỏ" Pauline Hanson;

(2) Gần đây hơn, tháng Sáu năm ngoái 2012, ông đã bảo trợ cho Thỉnh Nguyện Thư của CĐNVTD Úc Châu nộp lên Thượng viện Úc bày tỏ quan ngại về các cuộc đối thoại về nhân quyền giữa 2 chính phủ Úc - Việt;

(3) Sau đó, ông cùng TNS Mark Furner đệ trình lên Thượng viện một quyết nghị về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam. Quyết nghị lưỡng đảng này đã được toàn thể các TNS biểu quyết chấp thuận.

Để như một lời cám ơn TNS Ron Boswell đã liên tục đấu tranh cho người Việt tự do chúng ta, chúng tôi mạo muội đề nghị quý vị - dù ở bất cứ nơi đâu - gởi đến ông một email:

(1) Chúc mừng 30 năm ngày ông bước chân vào chính trường Úc;
(2) Cám ơn ông đã hổ trợ cho cộng đồng chúng ta trong thời gian qua; và
(3) Chúc ông mọi sự tốt đẹp khi về hưu.

Email có thể gởi về địa chỉ "Senator Ron Boswell" <senator.boswell@aph.gov.au>, vắn tắt như sau: 

"Dear Senator Boswell,

Congratulations on your 30th anniversary of being elected to Federal Parliament. Thank you for your support of Vietnamese Community in Australia. Wishing you a very happy retirement.   abc (Brisbane or Sydney or Houston or Paris etc...)
"

Thành thật cảm ơn quý vị đã theo dõi.

TH Việt (Brisbane)

Phụ đính: Một vài bài đọc về TNS Ron Boswell trên blogsite của chúng tôi:

(1) T/Cáo Báo Chí của TNS Ron Boswell về 2 bản án cho Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình:

http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2012/10/31/tcao-bao-chi-cua-tns-ron-boswell-ve-2-ban-an-cho-viet-khang-va-tran-vu-anh-binh/

(2) P/Vấn: TNS RON BOSWELL VỀ VIỆC GIÃ TỪ CHÍNH TRƯỜNG CỦA ÔNG :

http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2012/10/18/pvan-tns-ron-boswell-ve-viec-gia-tu-chinh-truong-cua-ong/

(3) TNS Ron Boswell lên án việc CSVN bỏ tù 3 bloggers đối kháng:
http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2012/09/26/2876/

(4)
Thông cáo Báo chí của TNS Ron Boswell về Nhân Quyền ở Việt Nam:
http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2012/07/13/thong-cao-bao-chi-cua-tns-ron-boswell-ve-nhan-quyen-o-viet-nam/

(5) BÀI PHÁT BIỂU CỦA TNS ÚC RON BOSWELL VỀ VIỆT KHANG VÀ NHÂN QUYỂN Ở VIỆT NAM:

http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2012/03/01/bai-phat-bi%E1%BB%83u-c%E1%BB%A7a-tns-uc-ron-boswell-liberal-national-party-v%E1%BB%81-vi%E1%BB%87t-khang-va-nhan-quy%E1%BB%83n-%E1%BB%9F-vi%E1%BB%87t-nam/

Ngọn Sóng Chiều




Và một bức ảnh cảm động về tình yêu thương

Ngọn Sóng Chiều

(Cảm tác sau khi đọc nhiều truyện rất thương tâm của những người dân hiền...)


Tôi không phải một con người vô học
Không biết buồn trước vận nước điêu linh
Không đứng lên đòi công lý, hòa bình
Không tranh đấu cho nhân quyền, ý thức hệ

Việc tôi làm tôi không bao giờ kể
Không trống kèn khua động vỗ muôn nơi
Không than van dẫu nghìn khổ ngất trời
Không oán hận, vạch tìm sâu kẽ lá

Gió mây lạnh thấm nỗi buồn tơi tả
Nhận chua cay đắp số phận bọt bèo
Đời khó nghèo đầy sóng gió, gieo neo
Đành ôm mối thiên thu sầu bạc nhược

Tóc sương phủ theo vận tàn non nước
Lòng đau nhừ dõi đêm vắng bên song
Trải tâm tình, nguyện Thượng Đế hoài trông
Ban muôn phúc cho quê hương, dân tộc

Biết bao người trong đói nghèo cùng khốc
Bởi lũ chằng hung ác độc gian manh
Chúng khắt khe luôn hà hiếp dân lành
Cướp giang sơn hiến dâng cho tàu cộng

Sàigòn thất thủ - triệu người tàn mộng
Mất gia đình...bạn hữu biệt muôn phương
Đời khói sương tan nát đắng đoạn trường
Xin Trời hãy ra uy, đừng phạt nữa

Để dân tôi, những bé thơ no sữa
Những mẹ hiền ánh mắt rạng bình minh
Những người cha ngút lửa đạn chiến chinh  
Được vui sống trong mái nhà hạnh phúc

Tôi xin Trời ! đời tôi nghèo côi cút
Ngày qua ngày lam lũ ít đủ ăn
Dù trí tâm đâu thua kém người trần
Xin Trời giúp tôi muôn đời ghi nhớ.    


chúc anh


Bên mâm cơm cúng 9 người con đã hi sinh !!!

 

Người mẹ Việt Nam
 
 
http://dongten.net/wp-content/uploads/2012/07/caunguyen.jpg

Bài Xem Nhiều