We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 7 March 2013

TỔ QUỐC VN : Muốn Các Cháu PHẢI KIÊN CƯỜNG

TỔ QUỐC MUỐN TA PHẢI KIÊN CƯỜNG


Hoa Kỳ ngày 5-3-2013
Chào hai cháu Nguyễn đắc Kiên và Đỗ cao Cường,
 
danchuVới tư cách là một học sinh năm 1945, hơn chục tuổi, đã xung phong đi bộ đội "cụ Hồ" nhưng chưa đủ tuổi, phải đi Văn Công 2 năm bằng cách thoát ly gia đình, mang cơm gạo đi mà ăn (đoàn thể khg nuôi), bác muốn nói với hai cháu vài lời sau đây:
 
1- Cả dân tộc VN ta đã bị HCM và đảng CS lừa gạt từ 1945 đến nay. Cả nước nay phải hiểu ra điều đó và vùng dậy đòi quyền sống (Dân chủ, tự do, nhân quyền) mà đảng CS dã man tàn độc đã tước bỏ gần 70 năm qua.
viet2- Gần 10 triệu dân VN đã chết cho chủ nghĩa CS quốc tế do HCM đem vào VN. Lẽ ra HCM khg cần gây chiến tranh thì nước VN vẫn có Độc lập toàn vẹn lãnh thổ vì năm 1949, TT Pháp Vincent Auriole ký Sắc Lệnh trả Độc lập cho ba nước Việt-Miên-Lào. Đây là xu hướng chính trị toàn cầu, nước nào cũng được hưởng bởi chế độ thực dân đã lỗi thời do sự đồng thuận của quốc tế, nhất là các nước cai trị tại các Hội nghị Postdam và Bangdung. Chính Hoa Kỳ đã lên án chủ nghĩa thực dân và thôi thúc việc trả chủ quyền cho các nước xưa bị đô hộ như Ấn độ, Nam dương, Bangladesk, Phi luật Tân, Pakistan v.v...
3- Nhưng HCM gấp rút gây chiến tranh ngày 26-12-1946 với Pháp để nhờ chiến tranh, như Lenin nói, mới đẻ ra cách mạng, cách mạng mới có đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp mới vô sản hóa và ngu hóa toàn dân, đem chủ nghĩa CS vào đầu độc dân VN để biến thanh niên VN thành lính Lê dương đánh cho Nga và Tàu. Điều đó nay đã thấy quá rõ: Tàu ở khắp nước rồi. Lê Duẩn nói: "Chúng tôi đánh đây là đánh cho Nga-Tàu."
4- HCM và đảng CSVN đã dâng nước cho Tàu từ 3-2-1930, ngày y vâng lệnh Quốc tế CS thành lập đảng CS Đông Dương (sau này sợ quá lộ liễu, phải đổi là đảng Lao động để ngụy trá).
 
Cuộc chiến 1946-1954, chiến thắng Điện biên phủ phần lớn cuộc chỉ huy đó là từ tướng Trần Canh (Cheng Ghai) và các Cố vấn Tàu với súng đạn đa số của Tàu cung cấp cho VC để đánh bật Pháp ra khỏi Đông Dương, sau đó thay thế Pháp làm kẻ thống trị.
 
Điều này đã quá rõ ràng khi dân VN trong nước ngày nay thấy Tàu ở khắp nước, chóp bu Hà Nội năm ngoái đón chào Tập cận Bình (người sẽ thay thế Hồ cẩm Đào) bằng lá cờ 6 sao của Trung cộng ý muốn sáp nhập nước VN vào làm một tỉnh lẻ của Tàu. Hàng hóa Tàu giết chết hàng hóa VN, thực phẩm Tàu giết dân VN từ từ. Tàu cho hàng trăm ngàn thanh niên Tàu giả dạng công nhân sang lấy gái Việt, mua đất, mua nhà, sinh con đẻ cháu, chẳng bao lâu từ vài ba triệu hiện nay sẽ thành 30, 40 triệu. Tàu là đa số, Việt thiểu số, dù có bầu cử công bằng Việt cũng thua. Chúng Hán hóa theo kiểu tằm ăn dâu, khg tốn một giọt máu, một viên đạn nhưng chúng nắm linh hồn và sinh mạng bọn chóp bu Hà Nội. Chúng lái Văn hóa Việt thành Văn hóa Tàu. Trẻ em nay đã phải học chữ Hán, nói tiếng Tàu, sẽ thi chữ Tàu, mặc quần áo Tàu, phong tục Tàu, sách Tàu còn sách Việt dần dần bỏ xó.
5- Ngày 17-2-2013, nhân sĩ và tướng QĐ cùng nhân dân đem vòng hoa vào đài tưởng niệm Liệt sĩ và dân chúng đã hi sinh trong trận 34 năm trước (2-1979) đánh nhau với quân Tàu khi chúng bỗng dưng gây hấn, “dạy cho VN một bài học” xua hơn nửa triệu quân sang càn quét 6 tỉnh miền Bắc của VN làm hàng trăm ngàn lính VC và dân chúng thảm tử. Lãnh đạo Hà Nội cấm cản không cho tưởng niệm, báo chí cũng được lệnh lờ tít biến cố trọng đại đau xót đó. Bởi thế, chúng ta đã nhìn rõ thấy tim đen bán nước cho giặc Tàu của chúng. Chúng ta cứ ngồi yên cho chúng bán nước sao?
6- Hải ngoại chỉ có thể yểm trợ còn quốc nội phải vùng lên phá sập chế độ 

 bán nước dã man để xây dựng một nước VN mới, phi CS, Dân chủ, Nhân quyền và Tự Do. Không trông mong gì chúng sửa sai như lời anh N.Đ. Kiên. Người VN không thù hận nhưng còn các nạn nhân của Việt gian Cộng Sản (VGCS) như trong Tết Mậu Thân, như Quỳnh lưu, Thái bình, Nam định thì sao? VGCS đã gây ra muôn vàn tội ác, ngày nay C/T QH Nguyễn sinh Hùng còn đe dọa những ai muốn sửa sai Hiến Pháp, đe dọa 72 trí thức đòi sửa sai HP. Chỉ nói lên tấm lòng của người dân tha thiết với công lý, với đất nước một cách hòa bình nhưng anh Nguyễn đắc Kiên đã bị Nguyễn phú Trọng trả thù một cách bần tiện là cho anh thôi việc, du anh và gia đình vợ con anh vào bí lối cơm áo. Lãnh đạo ti tiện như thế thực không xứng là một lãnh đạo và nhân dân trông mong gì!
7- Ai cũng có trách nhiệm cứu nước và giải thể chế độ CS tàn độc gây cả tỉ đau thương tang tóc trên quê hương chúng ta, làm nước VN lạc hậu vài, ba trăm năm so với láng giềng, nhưng tuổi trẻ còn nhiều năng lực phải tiên phong trong nhiệm vụ. Khi xưa còn trẻ, chúng tôi cũng đã đánh Pháp cướp súng đạn để giành Độc lập. Ngày nay giới trẻ phải nắm lấy cơ may làm nên Lịch sử.
8- Nếu ươn hèn, cái gương Tây Tạng còn sờ sờ ra đó.
Chệt sẽ xóa bỏ cờ máu, cho ngôi sao vào cờ Tàu thành 6 sao, đổi tên vùng này là tên Tàu, xóa bỏ nước VN, coi Hoàng, Trường Sa và tỉnh Tam Sa chúng lập là rõ. Bọn Bộ CT và những tên đầu sỏ đã nhẫn tâm bán nước, tướng tá bất động bởi chúng cho tiền, cho chức, cho hưởng thụ...
 
Nước VN ta đến hồi mạt rồi chăng?
Các cháu hãy suy nghĩ và cố gắng làm một cái gì kẻo để xú danh trong lịch sử 90 triệu người sao? Và khi đã vào vòng nô lệ của Tàu thì muốn thoát ra, xương máu phải tốn hơn nhiều lần. Đừng bao giờ quên Tàu thực dân đã cai trị nước ta 1055 năm ở những thế kỷ trước và cái ách đô hộ này dữ dằn gấp trăm lần ách đô hộ của thực dân Pháp từ 1864-1945!!!
 
Chúc các cháu và Thanh Niên Việt Nam chân cứng đá mềm, hoàn thành công cuộc cứu nước!
Bác là Cựu Dân Biểu Quốc Hội VNCH (1971-1975)
GS Bút Xuân Trần Đình Ngọc

Chủ Đề Mùa Quốc Hận:“Cô Em Gái Bắc 75 ” thương người Lính VNCH

“Việt cộng con”

Viết theo lời kể của một cô gái người Bắc.
 
Đương nhiên, tên của tôi không phải là “Việt Cộng Con” rồi.
Và tôi cũng không phải là Việt Cộng, xin bảo đảm một trăm phần trăm.
Tên tôi là Trinh, Trần Thị Ngọc Trinh. Tôi lấy chồng là một người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Con trai tôi tên là Nam, cháu nay đã được năm tuổi rồi. Mỗi lần về thăm nhà, cháu luôn luôn hãnh diện khoe với ông bà ngoại:
“Ông ơi, bà ơi, cháu là con của Lính Cộng Hòa đấy.”
Tức là, tôi không có dính dáng gì đến Việt Cộng cả. Vậy thì tại sao tôi lại có cái tên... “Việt Cộng Con”?
Theo lời bố tôi kể lại, bố mẹ tôi quê quán ở Phú Thọ, sau chuyển về Hà Giang. Đến năm 1979 thì mới về Hà Nội ở. Lúc đầu, gia đình tôi không có "hộ khẩu", phải sống tạm bợ ở gầm cầu. Hàng ngày, ba mẹ tôi đi ra chợ, bến xe hàng hay là bến xe lửa xuyên Việt đứng chờ công việc làm, ai nhờ việc gì thì làm việc nấy, thông thường là khuân vác, đẩy xe, cưa cây... Kiếm được việc làm không phải dễ, vì ba mẹ tôi là dân mới tới, thường bị đám người sống lâu năm ở chợ tranh dành đuổi đi đừng ở nơi xa chứ không cho đứng ở gần chợ.
Một hôm, có một đoàn người gồm đa số là đàn bà từ miền Nam vào, nhờ đẩy hàng đi Hà Giang. Hà Giang cách Hà Nội cả trăm cây số, đám đầu nậu không biết địa thế, hơn nữa, vì Hà Giang gần núi, có nhiều sơn lam chướng khí, nên không ai dám nhận đi hàng, bọn chúng mới gọi bố mẹ tôi đến mà bố thí cho việc làm. Tưởng đi đâu chứ Hà Giang thì bố mẹ tôi sống ở đó từ nhỏ, biết từng góc rừng, từng con đường mòn xuyên qua núi. Thì ra đó là những người vợ, con của Lính Cộng Hòa bị đi tù cải tạo. Từ Hà Nội đến Hà Giang thì có xe hàng, nhưng từ Hà Giang tới các trại tù thì phải gánh hàng đi bộ nhiều ngày mới tới.
Bố mẹ tôi chịu cực khổ đưa những người khách hàng đến tận nơi, chờ họ gặp người thân xong xuôi rồi lại đưa họ trở về ga Hàng Cỏ Hà Nội. Những người này cám ơn bố mẹ tôi và tặng tiền nhiều lắm. Sau chuyến đi đó, bọn đầu nậu đứng bến có vẻ nể nang bố mẹ tôi, không dám dành mối như trước nữa. Thực ra, cũng vì không có đứa nào biết đường đi nước bước ở Hà Giang và những vùng xa xôi có trại tù cải tạo, nên bố mẹ tôi hầu như được độc quyền đưa đón thân nhân những người tù cải tạo. Những người này vừa tử tế lịch sự, vừa cho tiền thưởng khá, vì thế, cuộc sống của gia đình tôi mới đỡ vất vả. Nhờ có ít tiền, bố mẹ tôi mới... mua được hộ khẩu ở Hà Nội và cho anh em chúng tôi đi học. Trong thời gian đưa đón những người Miền Nam này, bố mẹ tôi đã được họ tin tưởng, vui vẻ nói chuyện và còn chỉ dẫn cách nấu những món ăn ở Miền Nam, như là bánh xèo, bánh phồng tôm, chả giò... Đã có một lần, một nhóm người vì phải mang theo nhiều hàng, lại già yếu bệnh tật, nên đã nhờ bố mẹ tôi vào Nam để mang hàng từ đó ra ngoài Bắc cho họ. Nhân dịp này, họ đã đưa bố mẹ tôi đi chợ mua những món hàng cần thiết và đãi bố mẹ tôi ăn một bữa no say.
Đến khi những người đi thăm thân nhân tù cải tạo vơi đi dần, bố mẹ tôi liền giải nghệ mà mở một quán ăn nhỏ, chuyên bán những “Món Ngon Miền Nam”. Thời gian đó, bất cứ món hàng nào có xuất xứ "Miền Nam" đều được dân miền Bắc thèm muốn, mua bằng hết, từ cây kim sợi chỉ, nói chi tới những Món Ngon Miền Nam. Cửa hàng của bố mẹ tôi vì thế mà lúc nào cũng đông khách.
Học xong đại học, tôi xin đi làm cho chính phủ, thời gian rảnh thì phụ bố mẹ tôi trông coi công việc. Cửa hàng bán những món ăn Miền Nam của bố mẹ tôi càng ngày càng phát triển, không những chỉ bán hàng ăn, bố mẹ tôi còn mở công ty, mua nhiều loại hàng ở Miền Nam đem ra Bắc bán nữa.
Trong thời gian làm việc, tôi đã được tiếp xúc với một số bạn bè đi du học trở về, đa số đều nói ngoại ngữ rất khá, và đều vào Sàigòn làm việc, chứ không chịu ở lại ngoài Bắc, dù rằng Hà Nội mới là thủ đô. Tôi bắt chước bạn bè, xin bố mẹ tôi cho vào Nam làm việc, nhân tiện làm đầu cầu mua hàng trong Nam đem ra Bắc.
Vào tới Sàigòn rồi, đi làm một thời gian rồi, tôi mới thấy là giữa những người giữ chức vụ cao, được gọi là "lãnh đạo cơ quan" mặc dù là học thức kém, tầm mức hiểu biết về việc làm rất là hạn chế, nhưng lại là những người ngồi mát ăn bát vàng, hống hách với dân chúng nhiều nhất. Càng tỏ ra khó khăn, họ càng được hối lộ và lấy đuợc nhiều tiền trong công quỹ. Những người có bằng cấp, biết làm việc và phải tiếp xúc với dân chúng nhiều như chúng tôi thì lại bị đẩy cho làm việc thật là nhiều. Và cũng vì sự hống hách quan liêu của cấp trên, mà chúng tôi bị vạ lây, bị dân chúng miền Nam ghét bỏ. Thậm chí, chỉ nhìn thấy chúng tôi, hoặc chỉ cần nghe giọng nói của chúng tôi thôi, họ đã bỏ đi, không quên nói nhỏ với nhau: "Cái đồ Bắc Kỳ... thấy ghét"
Mặc dù những điều kiện mà chúng tôi giải thích, là do cấp trên đòi hỏi, chứ chúng tôi không hề muốn làm như vậy.
Một vài lần, tôi được dịp may tiếp xúc với những người ngoại quốc tới làm việc chung với chúng tôi, họ có kiến thức rất cao, nói chuyện rất lịch sự. Cũng có những lần tôi được tiếp xúc với vài du khách đến nhờ làm thủ tục, tôi thấy họ nói chuyện cũng hòa nhã và rất hiểu biết. Tầm mắt và kiến thức của tôi được mở rộng, tôi muốn được đi du học để mở mang trí tuệ, và cũng để có thể giúp cho công việc làm ăn của gia đình tôi được phát triển hơn. Tôi đem việc này ra bàn với bố mẹ tôi, cả hai đều đồng ý, nhất là ông bà nội của tôi. Chọn nơi học mới là điều khó khăn hơn cả. Đa số các bạn bè của tôi chọn đi học ở Mỹ (nhất là những đứa có cha mẹ có quốc tịch đảng), tôi lại thấy Úc là xứ sở hiền hòa có nhiền nét về văn hóa nghệ thuật, nên tôi đã chọn môn học về Tài chánh ở trường Đại Học RMIT (Royal Melbourne Institute of Technology), Melbourne, nước Úc.
Dù là đã có một ít vốn liếng tiếng Anh đã học ở trường học cũng như trường đời, nhưng ngày đầu tiên đến giảng đưởng nghe giảng bài, thú thực là tôi như con vịt nghe sấm, chẳng hiểu ông Giảng viên tóc vàng nói cái gì cả, vì giọng của ông hoàn toàn là giọng Úc, khác xa với những phát âm theo tiếng Mỹ mà tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Môn học kế tiếp thì tôi lại còn thua nặng hơn nữa, vì Giảng viên này gốc ngưởi Ấn Độ, tiếng Anh của ông còn pha nhiều âm thanh R R R thật là khó nghe.
Hai năm trời trôi đi thật nhanh, ngoài giờ học, tôi xin đi làm thêm ở những nhà hàng ăn ở đường Victoria, khu vực Richmond. Những nhà hàng này tuy bán món ăn Việt Nam nhưng đa số khách hàng lại là người da trắng, nên nhờ đó mà tiếng Anh của tôi đã khá hơn trước và cách phát âm cũng vì thế mà đổi hoàn toàn theo giọng Úc.
Cuối cùng, tôi đã học xong cái bằng Master và sửa soạn khăn gói về nước. Bạn bè của tôi đa số xin ở lại Úc làm việc và sinh sống, tôi không có ý định ở lại, chỉ muốn về phụ giúp gia đình mà thôi.
Tôi mua vé máy bay về Sàigòn trước, nghỉ ở đó một ngày gặp bạn bè rồi mới về Hà Nội ở luôn. Ngồi bên cạnh tôi là một người đàn ông trung niên, ông không bắt chuyện với tôi mà chỉ ngồi im lặng, lâu lâu lại nhìn vào cái hộp sắt gắn kín đang cầm trên tay. Mãi khi xuống phi trường Changi để nghỉ hai tiếng, ông mới mở miệng nhờ tôi cầm dùm cái hộp sắt để đứng lên lấy hành lý để trên khoang xuống. Cái hộp tưởng là bằng sắt nhưng lại là hộp bằng nhôm rất nhẹ.
Ngồi trên ghế chờ đợi, ông mới cho tôi biết đó là cái hộp đựng tro của vợ ông. Vợ ông mới qua đời tuần trước, đã được hỏa táng và ông đem về Việt Nam để ở nhà mẹ vợ, theo lời trăn trối của vợ ông trước khi chết.
Tới phi trường Tân Sơn Nhất, ông chào và cám ơn tôi một lần nữa rồi ai về nhà nấy. Tôi không biết tên ông là gì và ông cũng chẳng bĩết tôi là ai?
Một năm sau, tôi quay trở lại Úc để dự lễ phát bằng cấp cho đứa em tôi. Đang đi trên đường Victoria, thật là ngạc nhiên, tôi đã gặp lại ông khách đi chung máy bay hồi nào. Ông cho tôi biết đã đem tro tàn của người vợ về xong xuôi rồi, đã đi làm trở lại. Tôi cũng cho ông hay là tôi đã xin được việc làm và đang làm việc ở Sàigòn, nhân dịp dự lễ phát bằng cấp cho đứa em, tôi xin nghỉ một tháng để đi thăm những thắng cảnh Úc mà trong suốt hai năm đi học tôi không có thì giờ đi đâu cả. Lần này ông cho tôi số điện thoại và nói nếu tôi muốn đi chơi thăm phong cảnh, ông sẽ xin nghỉ đưa tôi đi cho vui.
Thế là chúng tôi quen nhau. Ông tên Thanh, là Lính Cộng Hòa, ngày cuối cùng của cuộc chiến, ông là một Chuẩn Úy 18 tuổi mới ra trường, đánh trận đầu tiên và cũng là trận cuối cùng của đời lính. Ông có hai đứa con nhưng chúng nó đi làm ở Tiểu bang khác, lâu lâu mới về thăm nhà, còn tôi, tôi ba mươi lăm tuổi rồi, và chưa có ý định gì về tương lai cả.
Về lại Sàigòn, chúng tôi vẫn tiếp tục emails qua lại với nhau. Có một lần ông về Việt Nam thăm tro tàn của vợ và nhân dịp đó đi chơi uống cà phê với tôi. Qua năm sau, tôi muốn trở lại Úc một lần nữa để đi thăm Đảo San Hô ở Queensland, Thanh cũng xin nghỉ để đi chơi cùng với tôi.
Thanh đã ngỏ lời muốn cưới tôi làm vợ. Suy đi nghĩ lại, tôi tuy còn độc thân nhưng đã lớn tuổi rồi (so với Thanh thì tôi còn nhỏ lắm), nên đồng ý làm vợ Thanh.
Thanh làm bữa tiệc gia đình để ra mắt tôi với hai đứa con và bạn bè. Hai đứa con của Thanh nói toàn tiếng Anh, tụi nó không có ý kiến gì, miễn thấy ba nó vui là được rồi. Lần đầu tiên gặp những người bạn của Thanh, tôi vui miệng kể lại cuộc đi chơi ở Đảo San Hô:
“Thật là... Hoành Tráng chưa từng thấy. Đi xem đảo xong, chúng em đi phố mua hàng, chỗ nào cũng bán Khuyến mãi, thích ghê..”
Cả nhà đang ồn ào, tôi chợt thấy không khí có vẻ im lặng sau khi tôi nói chuyện, những người bạn của Thanh nhìn tôi có vẻ e dè lắm, họ vẫn nói chuyện, nhưng hình như không có nói chuyện với tôi. Một bà vợ của người bạn thân của Thanh đã hỏi thẳng tôi:
“Cô là... du học sinh hả? Lấy chồng già để... được ở lại Úc hả?”
Khi vào trong bếp lấy thêm đồ ăn, tôi thoáng nghe một người nào đó nói nhỏ với Thanh:
“Mày lấy... Việt Cộng Con đấy à?”
Tôi nghe Thanh trả lời:
“Đâu phải ai nói giọng Bắc cũng đều là Việt Cộng hết đâu!”
Tiệc cưới của chúng tôi mới là phiền phức, mặc dù chúng tôi chỉ tổ chức đơn giản thôi, nhưng bạn bè của Thanh nhận thiệp mời, họ đều có vẻ ngại ngùng, không muốn tham dự. Thanh nói với tôi:
“Ông Hội trưởng của anh họp cả hội lại để lấy quyết định... có dự tiệc cưới của anh hay không? Họ quyết định... đi với tư cách cá nhân mà thôi, vì dù sao cũng là bạn bè.”
Tôi ngần ngừ nói với Thanh:
“Anh ơi... nếu thấy khó khăn quá, hay là... mình đừng có lấy nhau nữa... Sao họ lại... kỳ thị với em như vậy? Em nói tiếng Bắc, vì em sinh đẻ ở ngoài Bắc, chứ em đâu có tội tình gì đâu?”
Thanh an ủi tôi:
“Em cũng phải hiểu cho họ, họ cũng như anh, đều là những người bị bọn Cộng sản Bắc Việt xâm chiếm đất nước, bắt tù bắt tội sống chết đủ điều. Suốt ngày họ nghe cái giọng Bắc kỳ mạt sát họ, nó thấm vào đầu, nên không thể có cảm tình với cái giọng Bắc được. Anh hiểu em, nhưng họ chưa hiểu và chưa thông cảm cho em. Cứ để một thời gian, họ sẽ hiểu em đó mà.”
Tôi sinh đứa con trai đầu lòng, đặt tên cháu là Nam. Ngày thôi nôi, anh chị nó đến dự, vui vẻ thay phiên ẵm em, đứa con gái út của Thanh ẵm em vừa cười vừa nói:
“My... baby brother”
Những người bạn chúc mừng Thanh... “Đáo Mã Thành Công”.
Khi tôi tháo chiếc dây chuyền hộ mạng của tôi đeo vào cổ cho Nam, một bà ngạc nhiên nhìn sợi giây mà hỏi tôi:
“Cái gì vậy?”
“Dây chuyền hộ mạng của em đấy.”
“Đẹp quá nhỉ! Ai khắc mà đẹp quá, hình như là hai cái mặt chữ khắc trên gỗ đen thì phải.”
Chồng tôi biết tôi có sợi dây chuyền này, nhưng coi đó là đồ nữ trang của tôi thôi, nên chẳng để ý đến. Khi thấy ai cũng nhìn vào nó, tôi vui miệng kể lại lai lịch của sợi giây chuyền cho tất cả cùng nghe:
Tôi sinh ra ở Hà Giang. Nói là Hà Giang chỉ để cho có nơi có chốn trên bản đồ mà thôi, chứ thực ra, nơi tôi sinh ra không có tên trên bản đồ miền Bắc. Đó là một nơi ở giữa rừng núi âm u không có vết chân người.
Theo bố tôi kể lại, vào thời năm 1954, khi mọi người dân đều muốn di cư vào Nam, gia đình tôi gồm có ông bà nội, ba mẹ tôi và gia đình của các bác các chú đã gồng gánh từ quê lên Hải Phòng, để xuống tầu di cư vào Nam. Khi đang ở trên đường thì gặp một đám người khác cũng nhận là đi di cư và biết có một con đường tắt đi Hải Phòng rất gần, thế là cả bọn theo chân đám người này. Đến chiều tối thì có xe hàng tới chở tất cả, nói rằng đi xe cho chóng đến nơi. Xe chở đi tới một vùng rất xa, tài xế cho mọi người xuống mà nói rằng, nghỉ đỡ đêm nay, sáng mai sẽ có xe khác tới chở thẳng đến Hải Phòng. Ai cũng vui mừng trải chiếu ra ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, có xe tới đón thật, nhiều xe lắm, xe nào cũng chở đầy người. Mọi người vui mừng kéo nhau lên xe đi Hải Phòng. Xe đi cả ngày trời vẫn không tới vùng biển như mọi người mong đợi, trái lại, xe chở mọi người tới một nơi đầy lính canh có súng. Những người lính này chĩa súng bắt tất cả ngồi im không được hỏi han gì cả, họ khiêng từng miếng vải nhà binh tới phủ kín xe rồi bắt đầu chạy suốt đêm. Đến sáng mới tói nơi, cả bọn được đẩy xuống xe để bị chỉa súng bắt đi bộ vào trong rừng. Tới nơi, cán bộ tập họp mọi người lại, kết tội cả nhóm là đã phạm tội phản lại nhân dân, bỏ trốn vào miền Nam, bị đầy vào đây đến bao giờ được cách mạng và nhân dân khoan hồng, sẽ được về với nhân dân.
Đến lúc đó, mọi người mới biết rằng đã bị bọn Cộng sản đưa người ra dụ dỗ đi theo chúng để rồi bị đi đầy vào vùng rừng núi âm u không biết ngày về. Lâu lâu lại có từng đoàn người khác hoặc được xe chở, hoặc bị xiềng xích đi bộ ngang qua để tới những nơi xa xôi hoang vắng khác được gọi là “Cổng Trời”.
Vào khoảng năm 1960, có thêm một nhóm tù nữa được đưa tới Cổng Trời, đám người này thỉnh thoảng được ra ngoài làm rừng, họ tự xưng là “Biệt Kích Miền Nam” được thả ra Bắc để hoạt động, chẳng may bị bắt.
Tôi sinh ra vào năm 1973 ở cái vùng rừng núi âm u, trại tù của những người muốn di cư vào Nam năm 1954 và trải qua thời thơ ấu ở giữa nơi núi rừng trùng điệp không bóng người này. Khi tôi được năm tuổi, một hôm đi theo cha chặt mây, đã bị ngã xuống hố sâu. Bố tôi bất lực nhìn thân xác của tôi mà không có cách nào để cứu. May thay, một nhóm Biệt kích đi ngang, thấy vậy đã thòng dây đu xuống tận vực xâu mà cứu tôi lên và đưa cả hai bố con tôi về tận nhà. Từ đó, lâu lâu những người Biệt Kích này lại đi ngang vào thăm gia đình tôi. Người Biệt kích cứu tôi nhận tôi làm con nuôi và đã gỡ sợi dây chuyền ông đang đeo để đeo vào cổ tôi mà nói:
“Tặng cho cháu cái bùa hộ mạng đó.”
Ông giải thích cho bố tôi biết, sợi dây chuyền này do ông đẽo gỗ trong rừng mà khắc thành hai chữ BK tức là Biệt Kích. Các chú này đã khuyên bố mẹ tôi nên tìm cách về thành phố mà sống, chứ đừng ở mãi nơi rừng hoang cô quạnh này mà bỏ phí cuộc đời của những dám con cháu.
Năm 1979, khi Trung cộng bắt đầu đánh Miền Bắc, những Biệt Kích đã bị đem đi nơi khác, bố mẹ tôi nhớ lời các Biệt Kích mà tìm đường trốn về Hà Nội, vì thế, tôi mới được đi học và sống cho đến ngày hôm nay.
Khi tôi kể xong câu chuyện, mọi người đều thay nhau cầm lấy sợi dây chuyền của con tôi một cách trân trọng và quý mến. Người bạn mà trước đây gọi tôi là “Việt Cộng Con” là người đầu tiên hỏi tôi:
“Gia đình của chị bị đưa đi... vùng kinh tế mới Cổng Trời đấy à? Chỉ vì muốn di cư mà bị đầy ải suốt hơn hai mươi năm trời đấy sao? Bọn Việt cộng chúng mày sao mà tàn ác thế! Cám ơn Trời Phật đã phù hộ cho gia đình chị, những người Việt Nam yêu Tự Do, còn sống được cho đến ngày hôm nay.”
Tôi mỉm cười nói thêm vào:
“Tôi cảm ơn Trời Phật và cảm ơn Chúa nữa. Ông bà chúng tôi không đi tìm Tự Do vào năm 1954 được, thì đến đời cháu tức là đời của chúng tôi, chúng tôi đã tìm được Tự Do rồi đấy. Nhờ các anh Biệt Kích Miền Nam mà tôi được cứu sống, nhờ lời khuyên của các anh mà bố mẹ tôi mới dám trốn vùng cải tạo để về được tới Hà Nội. Cũng nhờ những bà mẹ, bà vợ của những người Lính Miền Nam bị tù cải tạo mà bố mẹ tôi mói có cuộc sống đáng sống. Các anh chị thấy không, nhờ tình người, nhờ những người Miền Nam mà chúng tôi mới sống đến ngày hôm nay, chứ đâu có bác nào đảng nào cứu giúp chúng tôi đâu? Cũng vì thế mà dù có ai nói gì thì nói, tôi cũng cứ lấy người Lính Cộng Hòa mà tôi quý mến.”
Từ hôm đó, tôi thấy tất cả bạn bè của Thanh đã thay đổi thái độ với tôi. Các anh đã gọi tôi là “Chị Thanh” và các bà đã gọi tôi bằng “Trinh” hoặc là “Cô Em Gái Bắc Kỳ”.
Con tôi đã được năm tuổi rồi, cháu đã đi học mẫu giáo, tôi có thì giờ đi tìm một công việc tạm thời. Tôi tìm đến một văn phòng Luật Sư của người Việt để xin làm Điện Thoại Viên. Ông Luật Sư phỏng vấn tôi xong, nói với tôi:
“Để chú sắp xếp cho cháu làm hồ sơ nhé, còn công việc nghe điện thoại, chú sẽ tìm người khác”
Tôi thông cảm với ông Luật sư, mọi người vẫn còn... ác cảm, còn... kỳ thị với giọng nói Bắc Kỳ của tôi.
Tôi xin lỗi đã nói như vậy, nhưng thật sự tôi không biết dùng chữ gì để nói về hoàn cảnh của tôi.
Chồng tôi đã thông cảm với tôi, anh Thanh đã nói với tôi:
“Người ta nói “Cái áo không làm nên ông thầy tu” Nhưng thực sự cái áo đã làm cho người ta nhìn lầm nguời mặc nó là thầy tu. Em không những nói giọng Bắc, em còn dùng những từ ngữ mà cái đám Việt cộng thường dùng, ngay cả những người Miền Nam hay những người Lính Cộng Hòa mà nói cái giọng đó, cũng bị ghét, nói chi là Bắc Kỳ rặt như em.
Em cứ giữ cái giọng Bắc Kỳ của em, nhưng em đừng... Hoành Tráng, đừng... Bức Xúc nữa, có được không?”
Tôi suy nghĩ... Đúng! Chồng tôi nói đúng.
Nhập Gia Tùy Tục – Nhập Giang Tùy Khúc.
Tôi đã lấy chồng Lính Cộng Hòa rồi, mà tôi lúc nào cũng có cái giọng Bắc Kỳ Hai Nút (75, Bắc kỳ chín nút tức là Bắc kỳ 54) thì ai mà chịu nổi.
Bây giờ, tôi không còn... “Xử Lý” nữa, mà tôi phân tích, tôi tìm hiểu từng trường hợp mà giải quyết cho thỏa đáng. Mỗi khi đi ra ngoài đường, nghe tôi nói chuyện, không còn ai quay lại nhìn tôi rồi bỏ đi chỗ khác nữa.
Đôi khi, những ông bà bạn của anh Thanh vẫn gọi tôi là “Việt Cộng Con”
Nhưng họ nói chỉ để mà đùa dỡn mà thôi, chứ không còn châm chọc như trước nữa.
Riêng phần con tôi, cháu Nam, lúc nào cháu cũng khoe:
“Con là con của “Lính Cộng Hòa” mà!”


NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY.


NGUYỄN KHẮP NƠI

-----

Chuyến đò vĩ tuyến


Chủ Đề Mùa Quốc Hận: Chỉ có hậu duệ mới cứu đuợc đất nuớc VN

Trong nhà nhất mẹ nhì con
Ra đuờng lắm kẻ còn dòn hơn ta.

Trên đây là câu ca dao nếu tôi nhớ không lầm thì tôi đã học ngày vào học lớp Đệ Thất (lớp 6) thì phải. Đồng ý là câu ca dao của Cha Ông để lại. Nhưng trong bậc tiểu học thì làm sao đã có đủ trí thức hiểu đuợc sự thấm thía của câu ca dao này. Có học lên Trung học, nhờ sự dẫn giải của thày cô và sự hiểu biết có phần rộng lớn hơn qua sự ghi nhớ trong đầu của tuổi học trò để rồi ra ngoài đời lăn lộn, đua chen với xã hội lúc đó hồi tuởng lại bấy giờ mới thấy hai câu ca dao này thật thâm thúy.
Đa số những bậc Cha Ông của chúng ta (với tuổi đời hôm nay đã ngoại ngũ tuần hết rồi) đều còn mang nặng đầu óc phong kiến của thực dân Pháp, nên với số vận hên trời ban cho qua sự chạy chọt về tiền bạc (đa số) mới có đuợc chút danh vọng ngoài đời nên đã tự vỗ ngực xung tên TA LÀ GIỎI, TA LÀ NHẤT. NGOÀI TA RA KHÔNG MỘT AI HƠN TA CẢ.
Chữ TA ở đây nó biểu tuợng cho chữ TÔI, và chính vì vậy, chữ TÔI qúa lớn nên đã coi thuờng mọi nguời để rồi đẻ ra ngu xuẩn đến nỗi không biết là chính mình đã sai lầm lớn lao gây ra thù oán, đả phá, công kích lẫn nhau ngoài xã hội. Chữ TÔI này nó đã làm lu mờ lý trí con nguời từ đó nó đưa đẩy dân tộc VN vào bao thế kỷ chiến tranh tang tóc, làm nô lệ cho ngoại bang cũng vẫn cho mình là nhất.
Sau ngày 30-4-1975. Hàng chục triệu nguời đã bỏ nuớc ra đi vì không chấp nhận chế độ phi nhân bản của csVN, nhưng chỉ có trên duới 4 triệu nguời đến đuợc bến bờ tự do của 1 đệ tam quốc gia nào đó nương tựa. Con số còn lại đã làm mồi cho cá biển hoặc làm thức ăn cho những sinh vật sống nơi rừng hoang vu hẻo lánh.  Bài học đắng cay này vẫn chưa thấm nhuần cho những đầu óc phong kiến lạc hậu, ngu xuẩn nên vẫn tiếp tực đưa chữ TÔI ra để trấn áp nguời khác qua hình thức này hay hình thức khác.
Tục ngữ VN cũng có câu: ĐI NUỚC LÀO PHẢI ĂN MẮM NGÓE hay ĐÁO GIANG TÙY KHÚC, NHẬP GIA TÙY TỤC mà Cha Ông đã truyền dạy cho con cháu. Bọn nguời phong kiến này vì qúa ngu, vì lú mề nên đâu có hiểu những câu tục ngữ này, nên vẫn luôn đưa chữ TÔI của mình ra truớc bàn dân thiên hạ.
Hôm nay đây, với trên duới 4 triệu nguời chúng ta đã học gì của nền văn minh thế giới? Chúng ta đã thấy gì bên bến bờ tự do? Chúng ta đã hiểu đuợc 2 câu ca dao của Cha Ông: Ở NHÀ NHẤT MẸ NHÌ CON. RA ĐUỜNG LẮM KẺ CÒN DÒN HƠN TA chưa? Nếu đã hiểu, thì đừng nên mang bằng cấp ngày xưa ra để chỉ huy những bằng cấp đương thời. Đừng nên mang cấp bậc ngày xưa ra để chỉ huy những hậu duệ hiện tại.
Trong môi truờng xã hội hiện tại, hãy coi lại xem vai trò của mình và vai trò của hậu duệ. Hãy tự đặt câu hỏi: Hôm nay hậu duệ đóng vai trò gì và bản thân ta đang đóng vai trò trong xã hội này? Ai đang là Lữ Đoàn Truởng Lục Quân Hoa Kỳ? Ai đang là Hạm Đội Truởng Hải Quân Hoa Kỳ? Ai đang là Khoa Học Gia cho bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ? Ai đang là Dân Biểu, là Thuợng Nghị Si, là Thị Truởng? Ai đang là Luật sư, là Bác Si hiện hành? Nếu câu trả lời là chúng ta thì chữ TÔI thật xứng đáng. Còn nếu câu trả lời là hậu duệ thì chúng ta nên nhuờng lại cho hậu duệ chứ đừng nên vỗ ngực xưng tên thêm nữa cho thêm nhục.
Chúng ta, với cương vị là cha ông, hãy nên khuyến khích, hãy nên giải thích, hãy nên cô vấn cho hậu duệ biết rằng dầu sao họ cũng là con cháu Việt Nam. Vì vậy, UỐNG NUỚC PHẢI NHỚ NGUỒN để níu kéo họ vào con đuờng phục hưng cho xứ sở. Chúng ta ra đi là vì chúng ta thua cuộc, và vì tuổi đời, chúng ta chẳng còn thì giờ để phục hung xứ sở. Chúng ta cũng không còn thì giờ để rửa mối hận thù đã và đang chồng chất trong đầu nữa. Giờ này, chúng ta chỉ biết trông chờ vào hậu duệ, vào con cái chúng ta.  Chính ở điểm này, chúng ta nên quăng ngay chữ TÔI vào thùng rác cho hợp vệ sinh. Đừng nên khua môi múa mõ chỉ thêm nhục vào thân.
Nhìn nguợc dòng thời gian, tôi còn nhớ rất rõ về cuộc vuợt biên của cá nhân tôi như sau:
Đúng 1:30 trưa ngày 1 tháng 5 năm 1975. Tôi đuợc con thuyền đánh cá khởi hành từ Vũng Tàu ra ngoài khơi để tìm Đệ Thất Hạm Đội nhưng không thấy. Con thuyền đã phải cho lênh đênh ngủ qua một đêm trên hải phận quốc tế. 9:00 giờ sáng ngày 2-5-75, tôi nhìn thấy 1 bóng đen rất xa, tôi liền nói với anh chủ thuyền cho thuyền chạy đến. Mỗi lúc 1 gần thấy đó là tàu Hải Quân tưởng rằng của HK. Càng tiến lại gần hơn mới thấy đó là tàu HQVN chứ không phải là của Thất Hạm Đội HK. Con thuyền cặp sát vào tàu HQVN. Vị Trung Úy Hạm Truởng HQVN liền bảo còn bao nhiêu dầu thì chuyển qua và cho buông trôi con thuyền chúng ta đi Mã Lai. Nguời chủ thuyền tiếc con thuyền đánh cá không chịu liền đòi tách rời tàu HQVN. Tôi liền nói với vị Hạm Truởng là trên con thuyền này tôi là Đại Úy SĐ25BB và có 1 nguời nữa là Trung Si nhất SĐ5BB. Trung Úy có thể cho hai nguời chúng tôi lên đuợc không? Vị Hạm Truởng này liền bảo tôi: Vâng mời Đại Úy và anh TSI lên tàu. Trên tàu có chiếc trực thăng nằm trên đó, hỏi ra mới biết là chiếc trực thăng của Tuớng Kỳ. Đó là chiếc vận tải 505 của HQVN.
Chúng tôi đếm Mã lai, tôi vào làm thông dịch viên cho Cao Ủy giúp đồng bào. Cha mẹ ơi! Tôi có phải là y tá hay là Bác Si sản khoa đâu. Ấy thề mà tôi phải vào bên trong dịch cho 1 bà sanh đẻ. Phương tiện y khoa của Mã Lai đâu có đuợc tối tân, hơn thế nữa ngoài hòn đảo thì đâu có bệnh viện, mà chỉ là trạm xá y tế thôi đã làm cho tôi ói mửa ngay sau đó.
Ở trại tỵ nạn này hơn 1 tháng. Cá nhân tôi thì đuợc cao ủy cho biết là Mỹ đã nhận còn một số khá đồng thì phải chờ. Thấy nóng lòng qúa, một chủ tàu thứ hai nguời Phuớc Tỉnh anh ta đến nói với tôi là muốn tôi cùng đi với con thuyền đánh cá của anh đến Subic Bay để có cơ hội đuợc đi Mỹ. Thấy vậy tôi liền đồng ý. Tôi liên lạc để xin dầu, nuớc và thức ăn và chúng tôi đi.
Khởi hành từ Mã lai trên con thuyền là 38 nguời trong đó có 1 LS tên là Nguyễn Văn Thành. Ông này chỉ biết tiếng Pháp chứ 1 chữ tiếng Anh cũng không biết. Hai thày Tu là Nguyễn Văn Bình và nguời em của Thày tu này cũng chỉ biết tiếng Pháp chứ không biết tiếng Anh. Còn ngoài ra chỉ là dân đánh cá. Và tôi lãnh đủ mỗi khi đến Nam Dương, Tân Gia Ba, đến hòn đảo cuching Mã Lai và đến Phi Luật Tân.
Tiến vào vịnh Subic Bay, một chiếc bo bo HQHK trên đó có 2 nguời 1 là tài xế, hai là vị TTHQHK tiến đến con thuyền của chúng tôi. Câu đầu tiên Ông TT này hỏi: Có ai trong các nguời nói tiếng Anh không? Tôi liền trả lời: có tôi đây.
Ông ta liền hỏi: Có ai bệnh tật gì không?
Tôi đáp: Không có ai bệnh. Tuy nhiên khi con thuyền khởi hành từ Mã Lai thì chỉ có 38 nguời. Nhưng bây giờ là 41 nguời vì có 3 bà đã sanh trên biển. Xin Thiếu Tá cho gởi BS ra xem các em bé có sao không?
TT này nói: Tôi gọi vào căn cứ sẽ gởi BS ra ngay, và ông hỏi tiếp: Có ai trong các nguời là quân nhân không?
Tôi liền moi giấy tờ ra là SQQLVNCH đưa cho Ông thấy sau đó tôi nói: còn 1 TSI Của SĐ5BB nữa và tôi đã chỉ tay vào nguời TSI này cho Ông.
TTHQHK hỏi: Có ai trong các nguời có nguời bảo lành ở bên Mỹ chưa? Và có ai đã có thân nhân đi Mỹ rồi?
Tôi nói: Tôi có Đại Úy John Jack Joyce khi Ông này sang VN là cố vấn cho tôi lúc tôi còn là Trung Úy. Còn tất cả họ đều không có kể cả những thân nhân cũng không biết là có ai đã đến Mỹ chưa.
TTHQHK: Ông hãy làm cho tôi một danh sách tất cả những nguời trên con thuyền này để tôi báo cho tòa Đại Sứ HK biết. Riêng phần Ông, ngay sau khi vào căn cứ, tôi sẽ liên lạc ngay với Đại Úy John này để hỏi Ông ta. Ông cho tôi muợn giấy tờ tùy thân này của Ông đuợc không? Sáng mai tôi ra, tôi sẽ hoàn lại cho Ông.
Tôi gật đầu và Ông giã từ chúng tôi. Khi chiếc bo bo của Ông đang tháo dây thì có chiếc bo bo khác đến và trên bo bo thấy có nguời đàn bà mặc áo trắng tôi biết ngay là BS. Thế là tôi lại phải dịch cho BS này. Vừa xong BS này lại có chiếc bo bo khác nữa tiến ra. Tất cả chúng tôi đều biết chiếc này là chiếc thực phẩm và nuớc uống. Những nguời lính HQHK họ đã chuyển sang chúng tôi rất nhiều thức ăn và họ khuyên chúng tôi nên bỏ những thức ăn cũ còn lại đi vì không có máy lạnh nên ăn vào không tốt. Viên Trung Úy cũng cho hay là mỗi ngày họ mang thức ăn nóng ra nên đồ ăn còn lại thì dục đi.
Buổi chiều hôm đó, có chiếc thuyền nguời bản xứ đi ra họ nói muốn mua con thuyền cũng như họ muốn mua những đồ ăn hộp chúng tôi ăn không hết. Tôi liền nói cho anh chủ thuyền và mọi nguời biết. Nhưng tất cả bảo tôi để từ từ coi lại ngày hôm sau sẽ trả lời chứ đừng đồng ý ngay kẻo HQHK họ không cho mình đi nữa thì bỏ xừ. Tôi liền nói cho mấy nguời phi này như thế và họ vào bờ. Cứ như vậy mỗi buổi chiều nhá nhem tối họ ra mua đồ ăn rồi vào nhưng chúng tôi chưa trả lời cho họ về việc bán con thuyền cho họ.
Trở lại Ông TTHQHK. Đúng sáng hôm sau, Ông này ra và kêu có một mình tôi vào căn cứ. Hỏi ra thì Ông cho hay là Ông đa gặp Thiếu Tá John Jack Joyce và ông John này xin đuợc nói chuyện với tôi để xác định xem có đúng là tôi không đã. Tôi xuống bo bo đi vào căn cứ với ông TT này. Vào đến VP Ông liền quay điện thoại và như có hẹn với nhau, đã gặp ngay TT John trên đầu máy. Ông ta liền trao ống nghe cho tôi và tôi đã nói chuyện trực tiếp với TT Joyce. Đuợc biết ông ta lên Thiếu Tá khi trở lại VN lần thứ 2 và đi làm cố vấn cho MACV ngoài Đà Nẵng chứ không có trở lại Vùng 3. Nói chuyện với nhau khoảng 10 phút thì Ông ta bảo tôi trao máy lại cho ông Thiếu Tá HQHK. Sau khi cúp máy, TTHQHK liền bảo tôi là như vậy chắc chắn là mày đi mỹ. Chỉ có một điều tao nói cho mày biết là trong danh sách SQ/QLVNCH chưa có tên mày là Đại Úy, mày vẫn còn là Trung Úy. Tôi liền nói: Gắn lon cho tôi thì gắn thăng cấp mặt trận chứ không phải gắn lon lên tự nhiên. Nghị định thực sự chưa về thì đã mất miền Nam. Ông ta gật đầu và đồng ý.
Khoảng 1 tuần sau đó Ông ta ra cho tôi biết là ba ngày sau, tòa Đại Ssứ HK sẽ cho 1 xe bus xuống chở tất cả về Manila. Vì vậy nếu có thể bán đuợc con thuyền thì bán đi nhưng chỉ giao thuyền khi có bo bo của HQ đến đây đưa chúng mày vào bờ và lên xe chứ không đuợc giao thuyền sớm.
Tôi cho chủ thuyền và mọi nguời hay, tất cả đều nhảy reo vui mừng. Buổi chiều hôm đó nguời Phi lại ra. Tôi với chủ thuyền đã nói chuyện và đồng ý với gía cả đôi bên. Nguời Phi bảo tôi là chiều mai cũng vào giờ này tôi ra trả tiền và mời 4 nguời trong đó có tôi, chủ thuyền, anh TSI Và nguời phụ với chủ thuyền vào bờ chơi cho biết và họ tài trợ tất cả. Đúng như lời nói, ngày hôm sau nguời phi ra trao tiền và bảo chủ thuyền đưa tiền cho vợ giữ chứ đừng đem vào bờ. Thế là 4 anh em chúng tôi vào bờ với nhất dạ đế vương mãi gần sáng mới trở lại thuyền.
Đúng y lời, 4 chiếc bo bo HQHK tiến ra cặp hai bên thuyền và chúng tôi tuần tự sang bo bo để vào bờ. Nguời mua thuyền cũng đã đến gần để nhận thuyền và chúng tôi từ gĩa con thuyền vuợt sóng này. HQHK họ giao cho chúng tôi một số đồ ăn hộp và một số nuớc uống bằng loong và nói là phải mất 8 tiếng mới tới Manila và đây là đồ ăn thức uống trên đuờng đi. Chúng tôi cám ơn và từ biệt.
Đến 9:00 tối chúng tôi mới vào Building tỵ nạn tên là Madaluyong. Nơi đây đưa đồ ăn nóng và phát cho chúng tôi mùng mền và nệm. Nơi đây đã có đâu cả trên ngàn nguời đến truớc chúng tôi.
Cách ngày hôm sao, cao ủy cũng như lãnh sự quán HK đến gặp tôi. Theo lời cao ủy và Lãnh Sự HK, qua cuộc nói chuyện với TT John. Họ đồng ý trả cho tôi mỗi tuần $100.00 và cấp thẻ cho tôi ra vào cao ủy cũng như các tòa đại sứ khác khi họ cần. Úi chu cha, lúc này cuộc đời của tôi lên hương, cả ngàn cặp mắt huớng về tôi để trông chờ sự giúp đỡ. LS Thành và hai anh em thày tu muốn đi Pháp, tôi đã liên lạc với tòa ĐS Pháp giúp họ đi. Số còn lại trong con thuyền của tôi đi mỹ hết mặc dù không đủ điều kiện của chính phủ HK nhưng vì thương tôi và cảm tình với tôi nên lãnh sự HK đồng ý hết. Tất cả những nguời khác tôi cũng đã giúp họ ý nguyện muốn đi nuớc nào theo sở thích của họ đều đi hết và nguời gần chót là tôi đi, chỉ còn lại một số rất ít đến sau.
Đến HK, tôi đuợc vợ chồng ông bà Joyce và 2 nguời con của ông bà đón tôi tại phi truờng rồi sau đó chở tôi đi ăn. Trên đuờng đi, ông Joyce có dặn tôi 3 điều cần phải nhớ:
1./- American nothing free. Có nghia là hôm nay tao mời mày ăn tao trả tiền. Ngày mai tao mời mày ăn thì mày phải rờ túi xem có tiền không đã. Nếu không có tiền thì khuớc từ chứ mày ỷ y theo phong tục của mày tao mời thì tao trả tiền là không có đâu.
2./- Lady First. Khi mày đi đến đâu mà thấy đàn bà thì mày ưu tiên cho bà đó đi truớc chứ mày không đuợc coi rẻ đàn bà như quê hương của mày.
3./- Không đuợc giết mèo giết chó ăn thịt như quê hương của mày gọi là món ăn quốc hồn quốc túy đuợc. Mày mà giết mèo hay chó mà cs đến là họ phạt mày $500.00 và tịch thu con vật đó đem chôn chứ không phải mày đóng phạt mà đuợc ăn nó đâu.
Trong bữa ăn, ông còn dặn dò tôi khá nhiều nhưng làm sao nhớ hết đuợc đến ngày hôm nay. Khi đưa tôi về đến Aparment Ông ta dặn tôi là sáng mai Ông ta đến đưa tôi đi xin thẻ an sinh xã hội. Sau đó 2 ngày Ông ta dẫn đến bà Giám Đốc USCC và bà này đồng ý muớn tôi để lo phụ giúp 20 gia đinh sẵn có nơi thành phố này. Tôi bắt đầu làm cho USCC ngày đó và tiếp tục bảo lãnh sang mỹ tới trên duới 40 gia đinh nữa.
Ngày hôm sau, Ông Joyce lại đưa tôi đến hãng làm xe đạp con nít. Nơi đây tôi đuợc muớn liền làm thợ máy. Thấy vậy, ông Joyce liền chở tôi đi thi bằng lái xe ngay vì theo lời ông ta nói thì với tiếng Anh sẵn có của tôi chắc chắn đậu. Đúng y rằng tôi đậu và xin thi lái luôn. Tôi có hơi trở ngại về Parallel Parking nhưng ông Joyce đã nói với nguời cs cho tôi đậu luôn. Thế là tôi có bằng lái sau 5 ngày đặt chân nơi đất Mỹ. Thứ Hai tới là tôi phải đi làm và khoảng cách từ chỗ ở đến hãng cũng phải hơn 5 dặm tôi hỏi Ông Joyce về phương tiện thì Ông ta chở tôi ngay đến hãng xe Chevrolet bảo tôi mua xe và hỏi tôi thích xe nào? Tôi liền nói là làm sao tôi có tiền? Ông ta chỉ hỏi tôi là mày thích xe nào thôi chứ ông ta không hỏi tôi là mày có tiền không? Sau khi xem xong, tôi chọn chiếc Montecalo và ông ta nói với nguời bán cho tờ chiết tính cái xe là bao nhiêu đưa cho ông ta.  Sau khi nguời bán đưa tờ chiết tính đó cho Ông, Ông liền bảo tôi lên xe chở tôi đến ngân hàng làm thủ tục muợn tiền. Ngân hàng nói phải có tiền down là $1,500.00 thì ngân hàng mới chịu. Ông ta liền bảo ngân hàng là tao cho nó muợn tiền của tao. Thế là lập thủ tục và lấy check đi trả cho hãng xe kèm theo cái check $1,500.00 của ông ta cho tôi muợn không tiền lời và phải trả lại 5 thắng, mỗi tháng $300.00.
Nhờ vào 2 job, tôi đã paid Off cả hai món nợ trong vòng 1 năm ruỡi thay vì 3 năm. Tôi liền đến Đại Học ghi danh học ngành Computer và Accounting. Nơi đây họ bắt tôi phải thi lấy bằng trung học phổ thông (GED) nếu đậu, họ mới cho tôi học. Bằng này phải thi 5 môn và mỗi môn đóng $15.00. Tôi đóng $75.00 thi đậu đuợc 3 môn. Sau đó vào thư viện tìm kiếm cuốn lịch sử HK và cuốn Gov. trở lại đóng $30.00 để thi lại 2 môn. Lần này đậu thêm 1 môn nữa. Họ khuyên tôi đi học ESL. Tôi đồng ý và ghi tên đóng tiền học ESL. Sau khi học xong ESL, trở lại đóng $15.00 nữa để thi lại GED và lần này thì tôi đậu. Thế là cầm ngay bằng GED trở lại đại học để học.
Với hơn năm năm trời mài đũng quần nơi đại học và cái gì phải đến đã đến tôi ra truờng và Houston trực chỉ đó là ngày 12-3-1982 cũng là ngày sinh nhật của tôi.
Với hơn ba thập niên nơi thành phố này, biết bao thăng trầm đã đưa đến. Nguyễn Vân Tùng năm xưa vẫn là Nguyễn Vân Tùng năm nay chữ TÔI đã không còn trong tâm hồn mà chỉ là thành phần thu dọn vệ sinh cho sạch sẽ. Chúng tôi viết lại chuyện này để kính mong những ai còn chữ TÔI trong đầu còn qúa lớn. Xin hãy cùng tôi quăng ngay nó vào xọt rác như tôi đã ném nó vào gần 4 thập niên qua.


Hãy vì quốc gia dân tộc, hãy vì tiền đồ tổ quốc VN. Những ngày còn lại trên trái đất này hãy huớng dẫn, nâng đỡ và cổ võ cho hậu duệ. Chỉ có hậu duệ mới cứu đuợc đất nuớc VN. Chúng ta, tất cả đã về chiều, đừng vì tự ty mặc cảm, đừng vì ích kỷ tiểu nhân mà hãy nhìn nhận chúng ta không còn thì gìơ để làm nữa. Tục ngữ có câu: MUA DANH BA VẠN, BÁN DANH CHẢNG CÓ 1 XU. Nếu chúng cứ đưa chữ TÔI của mình lên, chúng ta sẽ bị ngoài đời xỉ vả mắng nhiếc. Hãy để sự thương tiếc của mọi nguời đến với chúng ta ngày sau cùng.
Mong lắm.
Nguyễn Vân Tùng.
Houston, ngày 6 tháng 3 năm 2013     

 

Bài Xem Nhiều