We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 11 March 2013

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: BÊN TRỜI LƯU VONG

LTS* Xin góp bài thơ “Lục Bát Lưu Vong” với Nhà thơ Cao Mỵ Nhân, cũng nửa đời lưu vong, không phải chỉ người đau, mà thơ cũng cùng đau nổi đau mất nước…
Lục Bát Lưu Vong
Theo ta qua đến chốn nầy
Hồn thơ chưa hết tháng ngày tả tơi
Nổi sầu viễn xứ chưa nguôi
Thương ta có xót những lời đau không?
Cùng ta, lục bát lưu vong
Nửa đau vận nước, nửa mong ngày về
Bao năm hồn thức não nề
Bao đêm không ngủ, mơ về quê hương
Em còn réo rắt tơ vương?
Thanh âm vọng nhạc thiên đường, mê cung?
Vì ta, em đã vẫy vùng
Vào sanh ra tử, đã cùng cuộc chơi
Thương ta chinh chiến một thời
Những năm tù ngục, cuối đời, tha hương
Mờ nhân ảnh, vẫn khói sương
Quê hương còn đó nổi buồn canh thâu
Vì em, ta mang nổi sầu
Bao lâu chồng chất bấy lâu bạc đầu. 
(Nguyễn Văn Lập)
http://www.tredeponline.com/post/
 ----------
BÊN TRỜI LƯU VONG


Mùa xuân đã thực sự trở về ở quê hương, cũng như ở hải ngoại. Tôi nghĩ người dân Việt chung chung, phải vượt lên đâu thật cao, nhìn về trái đất, mới thông cảm và chia xẻ được với nhau về một mùa Xuân dân tộc, thủa vài trăm năm trước, chứ bây giờ, ngay đến tôi là một kẻ... ba phải nhất, vẫn tồn tại trong tâm tư tình cảm cái tính chất Xuân riêng lẻ cho mỗi người trước mỗi không gian được hạn chế bởi xã hội chung quanh nơi ta đang sống khi đón Xuân, cũng như khi ăn Tết Việt Nam.
Hôm nay, trước một mâm cỗ đầu năm Quý Tỵ ở quê người, tôi chợt nhớ rất xa rất xa vô Nam năm di cư 1954, đoạn rất xa mới đây, khi tôi rời Saigon qua Hoa Kỳ gọi là tái định cư.
Tái định cư có nghĩa là một lần nữa sống ổn định ở nơi nào khác, không phải nơi ta đã sống đầu tiên.
Và cũng có nghĩa là ta sống kiểu không cần, không nên, không giống kiểu cũ nữa.
Thế nhưng có một điều, lại cứ khắc khoải, mơ màng muốn nơi ở mới phải có chút gì giống ở quê hương xa vời, phức tạp và buồn thương của ta xưa, hình như đó là ngôn ngữ, là văn chương, là tất cả gọi gọn thành văn hóa dân tộc.
Do thế, mùa Xuân còn hớn hở, lạc quan bên cửa sổ, tôi đi tìm trong ký ức, và ngoài thực tế, những gì rất dân tộc thân quen của quí vị xưa cũng như nay, ôi chao, to chuyện quá, chỉ là những câu đối, những bài hành, mà người viết hầu như muốn gởi gấm vào, không khí trong sáng long lanh, lơ lửng nhưng dạt dào tình ý mà nửa muốn bày tỏ, nửa lại ẩn ức khép lại cái tư duy của mỗi người trước đám đông nửa quen, nửa lạ, nửa mất, nửa còn.
Nhà thơ Cung Diễm, còn có bút hiệu Tú Lắc dành cho những điệu vần dí dỏm, đã phóng 1 vế đối:
Tránh ra coi, để tớ coi cá Koi thử coi.
(Tú Lắc)
Tức là ông ấy bảo ai đó tránh ra coi nào, để ông ấy coi con cá Koi, thử coi nó làm sao.
Vì muốn dùng cái chữ để đối với cái chữ, nên nhà thơ Nguyễn Kinh Bắc ở miền đông Hoa Kỳ đối lại:
Ưa lý lắc, nên cô lắc anh Lắc lâu lắc.
(Nguyễn Kinh Bắc)
Thực ra một câu đối hoàn chỉnh, phải ôm sát văn phạm luật lệ, danh từ với danh từ (riêng, chung) động từ với động từ (trực tiếp, gián tiếp) tĩnh từ với tĩnh từ vân vân và vân vân, thành đôi khi vế đối cứ vĩnh viên chẳng sao đối, đành chờ.
Thí dụ câu: Da Trắng Vỗ Bì Bạch của cụ cố nữ sĩ Đoàn Thị Điểm xưa, vẫn chưa có vế... trả lời sát phạt, dù có vị đối lại là Trời Xanh Màu Thiên Thanh, nhưng "màu" không phải động từ như "vỗ".
Những câu đối có xuất xứ, tên tuổi tác giả thường hạn chế ý tưởng và ngôn từ, còn những câu đối cứ để khuyết danh của dân gian, thì chao ôi, tuyệt tác:
Nam Kỳ khởi nghĩa quên Công Lý
Đồng Khởi lên đường mất Tự Do
là muốn diễn tả những đổi thay tên đường, tên phố ở Saigon sau 30-4-1975.
Đường Công Lý xưa, kéo dài từ bờ sông Bạch Đằng lên tận sân bay Tân Sơn Nhất, bạo quyền cộng sản đổi là Nam Kỳ Khởi Nghĩa, còn đường Tự Do trở thành Đồng Khởi như vậy chữ "lên đường" để đối với "khởi nghĩa", thực sự Nam Kỳ Khởi Nghĩa đã là danh từ riêng, có một tên đường 4 chữ như Nam Kỳ Khởi Nghĩa là Cách Mạng Tháng Tám thì lại hoàn toàn không xài được để đối.
Trong giai đoạn này, dân gian ở Saigon thủa tôi chưa qua Mỹ, đã quen và thích thú với một vế đối, mà cũng chưa thấy câu đối lại:
Chiến đấu bao năm
Võ tướng không còn Nguyên Giáp
(Cộng Sản) mà tướng Võ Nguyên Giáp không còn nguyên áo bào (áo giáp).
Tuy nhiên, không phải câu đối chỉ dành cho những sự việc: hóm hỉnh, dí dỏm, bài xích, đấu tranh, ta thán, vân vân và vv... câu đối còn giá trị ở sự việc trân trọng như quan, hôn, tang, tế. Trong giới văn chương thâm thúy, thi sĩ lão thành Giản Chi đã khắc một câu đối trước cửa mộ thi sĩ Hán học Đông Hồ ở nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, sau rời về Chiêu Anh Các ở Hà Tiên, khi nhà nước cộng sản Việt Nam bắt thân nhân các mộ chí phải giải tỏa, di dời sau 1975, nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội dời luôn câu đối để treo nơi mộ phần cải táng của cụ Đông Hồ dịp đổi thay đó:
Trần ai chớp mắt trăm năm mộng
Châu ngọc nghiêng lòng một ý thơ
(Giản Chi)
Quý vị cứ đọc từng chữ, từng nghĩa vế đối nêu trên, mới cảm thấy tình yêu văn chương, văn hóa Việt Nam thật sâu sa thâm thúy vô cùng, mà cũng là một chân lý sống thực tiễn để suy ngẫm, chỉ một chớp mắt thôi, đã trở thành trăm năm mộng rồi, còn gì mà đua chen, mâu thuẫn, thôi thì, hãy mở lòng ra đón nhận một ý thơ, chính là châu ngọc đấy.
Với những câu đối thì như vậy, tới những bài hành thì chao ôi, còn quý hiếm thế nào. Câu đối, nếu không đông đảo, thì cũng ít nhất một người hưởng ứng đối thoại.
Cái bài hành, hình như tác giả muốn khu trú vào cái nghĩa độc thoại riêng tư, song trái lại, các bài hành lại đáp ứng nhu cầu tinh thần độc giả nhiều hơn câu đối, vì các bài hành là sự độc diễn, không phải họa lại.
Nào là Tỳ Bà Hành của Bạch Cư Dị, Hành phương nam của Nguyễn Bính, Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác, và tuyệt phẩm Tống Biệt Hành của Thâm Tâm.
Người đi, ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say...
(Thâm Tâm)
Sau 30-4-1975, có khoảng chục bài hành xen kẽ vào các giai đoạn thắng bại, chê khen, đi, ở, chết sống vv... và vv. Một bài hành của một thi sĩ, một chí sĩ HO khi rời quê hương qua Mỹ tái định cư, năm 2003 đã "tức khí" viết ra tuyệt phẩm:
Lưu Vong Hành
(Nguyễn Kinh Bắc)
Bài hành gồm 20 khổ thơ thất ngôn tứ tuyệt, tổng cộng 80 câu thơ tuyệt tác, tôi thiết nghĩ phải có dịp giới thiệu riêng Lưu Vong Hành mới đầy đủ ý nghĩa, hôm nay, xin đan cử một đoạn giữa lúc nắng Xuân còn chứa chan ngoài cửa, hứa hẹn một tương lai rực rỡ hơn cho tất cả những khách "kỷ nhân hồi"
... Một lũ túi cơm, phường giá áo
Như bầy ngan, ngỗng khoác lông công
Học làm con rối lăng xăng múa
Đã nát càng thêm nát cộng đồng...
(Nguyễn Kinh Bắc)
Ngàn xưa, mùa Xuân đến, là lúc các đấng mày râu đi lập công danh, nay khách lưu vong có còn chi danh lợi, chỉ mong sao phẩm cách, nghĩa tình được gìn giữ sáng trong như câu thơ yên ngựa một thời.
Hawthorne 26-2-2013
Cao Mỵ Nhân
 

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: CẢNH ĐỜI HƯ ẢO

                                                                                                           
Chiều trên sông Seine nắng vàng ngả long lanh mặt nước tựa ánh trăng đêm, bờ xa mấy con sóng bạc nhấp nhô rẽ theo chiếc du thuyền trắng như đám mây nổi chở đầy khách du ngoạn. Vừa chớm thu trời se se lạnh, gío hiu hiu không đủ làm dòng sông gợn sóng nhưng hàng cây ven bờ vẫn lao xao, thỉnh thoảng có chiếc lá vàng nhẹ rơi. Cứ mỗi độ thu, vào những ngày cuối tuần Ðăng thường ra sông Seine một mình ngồi nghe tiếng sóng vỗ để nhớ về những dòng sông quê. Cơn gió lùa thoáng qua hơi lạnh làm sảng khoái tâm hồn, Đăng hít mạnh nhưng vẫn dõi mắt nhìn chiếc lá lững lờ trôi. Chàng thầm nghĩ : «Nếu cuộc đời êm như dòng sông thì tâm hồn chàng sẽ chẳng dâng bão tố ! Như thế những danh từ chiến tranh, thù hận và tình yêu cũng trở thành vô nghĩa. » Ðăng đang thả hồn theo chiếc lá, bỗng những giọng Việt Nam chen lẫn tiếng cười làm chàng sực tỉnh, lòng cảm rộn rã vì nơi mảnh trời xa xôi này thoáng được nghe ngôn ngữ, làn điệu quê hương rất ấm áp phát ra quanh đây. Chàng ngoái lại ngắm nhóm khách du lịch người Việt đang đi dọc theo bờ sông, trông cách ăn mặc của họ chàng biết đây là đám nhà giàu mới từ Việt Nam sang Paris. Quần áo và nữ trang của họ rất đắt tiền, loại dành cho những buổi dự dạ tiệc, có lẽ đây là những thành phần có quyền thế nên trưng diện như thế ? Nhìn họ bảnh bao mà chàng chạnh lòng nhớ đến quê mẹ, mảnh đất còn nghèo đói. Ký ức một thời trước và sau chiến tranh, khúc phim dĩ vãng chợt quay về. 
     
Ông bà ngoại Ðăng ngày trước không giàu, ngoài một số ít ruộng đất ở quê và một hiệu buôn nhỏ ở Hà Nội, nhờ biết cần kiệm và chịu khó làm việc nên gia đình ngoại cũng dư gỉa; dù có tính cần kiệm nhưng ông bà lại rất hảo tâm, hay làm phước bố thí cho kẻ nghèo. Do công việc buôn bán ông bà phải giao tiếp với những khách hàng thuộc nhiều thành phần mà chẳng quan tâm đến các đảng phái, nhưng ông bà lại rất nhiệt tình ủng hộ những phong trào yêu nước nên chẳng bỏ xót lần đóng góp nào, nhất là những tuần lễ vàng do Việt Minh phát động. Ngoại có tám người con mà một nửa đã theo tiếng gọi Việt Minh lên đường, trong số đó có mấy người đã mất tích và chết trên chiến khu Việt Bắc, chỉ còn sống xót mỗi cậu giáo út ! Những người con còn lại theo những chí hướng Quốc Gia, hai người bác của Đăng đều gia nhập quân đội Cộng Hòa, và  đều bị tử trận hồi tết Mậu Thân, và chiến trường Quảng Trị ! Bà dì ruột chị của mẹ chàng cho đến ngày nhắm mắt vẫn chưa một lần quay về đất bắc. Bên nội Ðăng là ngoại kiều, bố chàng là người lai sinh và lớn lên ở Paris làm y sĩ, có một thời gian phục vụ tại bệnh viện De Lanessan (Ðồn Thủy) ở Hà Nội. Sự mâu thuẫn âm ỉ trong gia đình ngoại dã ăn vào xương tủy lâu ngày nên gia đình thiếu vắng hẳn tiếng cười! Mẹ Ðăng ngậm ngùi khóc, kể : -«  Bà ngoại con buồn vì sự chia rẽ, anh em trong nhà thù lẫn nhau nên ngoại gìa trước tuổi ! » Trong số các anh chị em cậu giáo Tú là em út, người mẹ Ðăng thương nhất. Cậu ở chung với ông bà và thường ghé thăm chị và cho quà các cháu. Nhưng bỗng dưng cậu biệt tích ! Mãi sau này di cư vào Nam nghe mẹ kể cậu đã theo Việt Minh lên chiến khu chống Pháp, và chính cậu đã lẻn về Hà Nội khuyên gia đình nên sang Pháp để tránh hiểm họa sau này, nhưng mẹ Ðăng vì thương những người thân nên nấn ná chưa kịp đi thì hiệp định Genève chia đôi đất nước xảy ra!
       Vào Sài Gòn mẹ Ðăng là một nhà buôn, bà đang làm ăn phát đạt thì gia đình chàng có giấy hồi hương về Pháp, mẹ Ðăng thương anh chị nên không muốn rời quê hươngvì bà đã từng sống bên ấy. Chàng vì thương mẹ nên ở lại. Sau này khi chiến tranh trở nên khốc liệt, một số người bạn Pháp của mẹ là nhân viên sứ quán khuyên Ðăng nên về Pháp, nhưng chàng cứ dùng dằng. Tự ái không cho phép chàng trốn tránh chiến tranh, dù rằng không thích, vì nó đã hủy diệt bao mầm sống, cướp đi bao người thân của chàng. Nhưng chàng cũng không thể làm ngơ khi cácbạn xa gần của chàng nhiều người đã hy sinh vì lý tưởng, nằm xuống cho ước vọng tự do quê hương để giữ an lành cho bao kẻ khác, trong đó có gia đình chàng. Do đó chàng theo tiếng gọi lên đường dấn thân vào chốn hiểm nguy không phải để tìm vinh quang hay làm người hùng, mà chỉ mong giữ sự bình yên xóm làng, và cũng để trả nợ núi sông nơi đã sinh ra chàng.                                         
***Biến cố tháng tư năm 75, chàng cùng chung số phận với bao chiến hữu khác bị đi tù nhiều năm, và được thả về vì lý do bệnh tật. Chàng được gia đình đưa vào bệnh viện Bình Dân tiếp tục điều trị, nhờ đầy đủ phương tiện chữa trị nên sức khỏe chàng dần dần khá nhiều, mắt đã hồi phục được một phần ánh sáng. Một hôm người thân đến thăm cho biết cậu Tú đã hưu trí và hiện đang ở nhà mẹ chàng tại Sài Gòn, nghe tên cậu lòng chàng vẫn lạnh băng, không cảm xúc! Hình ảnh của cậu Tú khi xưa đã nhạt nhòa trong ký ức!
 Ngày chàng xuất viện thay vì về thẳng kinh tế mới, mẹ Đăng đã chạy cho chàng về tạm trú nhà mẹ, ở đây hai cậu cháu bất đắc dĩ phải chạm mặt nhau. Cậu Tú khuôn mặt lạnh như đá, chẳng chút tình cảm. Đã thế cậu thường hay khiêu khích, mỉa móc trong mỗi câu chuyện nói với các bà chị cố ý cho Đăng nghe. Cậu oang oang tuyên truyền khoe thành tích chống Pháp, chống Mỹ, chống Tàu. Lúc đầu chàng còn nể tình cậu cháu nên im lặng, sau thấy cậu làm quá nên đã đốp chát lại. Chàng đem sự nghèo đói của VN ra so sánh với các nước Âu Mỹ, cứ mối lần như thế cậu Tú lại giả đò ngủ gà ngủ gật để tránh rơi vào ngó bí, đúng là thủ thuật CS !
 Tình trạng xung đột ấy cứ âm ỉ kéo dài cho đến một hôm mấy người bạn cũ đến thăm Ðăng. Trông mặt cậu có vẻ hớn hở, bớt hậm hực khi biết cả đám ấy đang phục vụ cho nhà nước. Họ có vẻ rất nể trọng cậu, và còn có nhã ý mời cậu cùng đi ăn. Trong lòng cậu hả hê, nhưng vẫn làm mặt nghiêm, giả bộ từ chối. Mẹ Ðăng thấy thế nói thêm vô, và cậu nhận lời, Cả nhóm cùng kéo nhau lên phố Tự Do vào một nhà hàng sang trọng, nơi dành riêng cho người nước ngoài và cán bộ. Ðây là lần đầu kể từ ngày Sài Gòn đổi tên chàng trở lại chốn quen thuộc này nên bỗng xúc động. Con đường xưa vẫn thế dù đã thay tên nhưng dấu tích kỷ niệm vẫn còn. Vỉa hè vẫn tấp nập người qua lại nhưng người hôm nay trong những bộ quần áo xốc xếch thiếu lượt là. Màu sắc lộng lẫy của con đường năm xưa đã tắt ngỏm vì hồn thành phố đã chắp cánh bay xa!
 Bước vào trong nhà hàng cảnh sắc trang trí  bàn ghế vẫn thế, chàng thấy rạo rực tâm hồn như vừa tìm lại một kỷ vật lâu ngày đánh mất. Nhưng niềm hân hoan vội chùng xuống, có cái gì nghèn nghẹn chặn nơi cổ họng; thì ra quanh đây lố nhố những chiếc nón cối ngả nghiêng trên bàn. 
    Mọi người ngồi xuống bàn, Dũng gọi những món ăn, rượu ngoại và bia xuất khẩu. Ðăng không biết uống rượu nên chỉ thích ăn, nhìn những món hảo vị bày ra chàng chợt nhớ những năm đói lạnh trong tù, chàng đã thèm từ mẩu đường, hạt muối hay nhánh tóp mỡ. Nhớ đến những bạn tù còn đang khốn khó trong các trại giam lòng cảm chua xót và ngồi thừ ra! Mùi cá hấp và chim bồ câu quay hương bay lên thơm phức, nhưng chàng chẳng còn thiết tha ăn.
    Cậu Tú ăn uống rất tự nhiên như một nhà sành điệu, không biểu hiệu ngỡ ngàng gì. Rượu đã  mềm môi cậu vẫn uống, cậu có vẻ rất háo rượu! Từ lúc rời nhà đến giờ mới thấy nét mặt cậu tươi, môi nhỏe nụ cười. Cậu gật gù mở miệng khen rượu ngon. Cả bọn đồng ồ lên!
-“ Rượu Mỹ đấy cậu ! “
Cậu Tú chẳng nói gì, nét mặt phẳng lì, vươn vai thò tay cầm chai rượu tự động rót cho mình rồi nâng ly nốc cạn.
Ánh đèn vàng vọt của nhà hàng tỏa ra ấm cúng, những chiếc bàn đầy khách thường xa nhau như giữ một khoảng cách, chắc họ sợ người khác nghe chuyện của mình. Người mặc chiếc áo xanh đã cũ ngồi cạnh cậu Tú là Dũng trắng, gốc“rau giá,“ nó tốt nghiẹp cử nhân Văn Khoa làm báo chí được vài năm, đổi nghề khi miền Nam đứt phim. Bố nó ngày trước là một trí thức theo Mặt Trận Giải Phóng bị chết trên Trường Sơn, bạn bè ai cũng biết nhưng tình cảm đối với nó vẫn đậm đà thắm thiết, chẳng có gì ảnh hưởng với chung quanh. Nó được hoãn dịch vì lý do gia cảnh mẹ già con một, nay đang làm công nhân sở vật tư nên rất dư giả. Bỗng cao hứng nói:
-“ Bao mùa Noel rồi chúng mình không có dịp đón réveillon chung. Noel này mình gặp nhau chung vui đi?
Phong râu, gốc “Hố Nai“ ngồi đối diện với cậu Tú, học ở Luật, tốt nghiệp cùng năm với Dũng. Ngày trước nó đưọc hoãn dịch vì lý do sức khỏe diện “con ông cháu cha“ bố và ông nó đều chết trong tù CS, nay đang làm ở sở thương nghiệp cũng khấm khá. Nó toe toét cười nói:
-“Chúng ta sẽ cùng nâng cốc rượu đón mừng Chúa giáng  sinh. Hồng ân Thiên Chúa sẽ mang hạnh phúc đến với gia đình chúng ta. “
Cậu Tú bỗng dằn ly rượu xuống phán một câu chóe lửa :
-“ Chẳng có Chúa Phật gì cả ! Chỉ có Bác thôi...Bác mới có khả năng đem hạnh phúc no ấm đến toàn dân.“
Dũng trắng đốp liền :
-“ Chẳng có Bác biếc gì cả ! Chỉ có đô la Mỹ là no ấm thôi. »
Cậu Tú đùng đùng nổi giận đứng phắc dậy, khoa chân múa tay trợn mắt nói :
-« Chúng mày tưởng các ông chiến thắng tạm bợ hả ? Ðừng có hòng... liệu cái hồn đấy ! »
Ðám bạn Ðăng biến sắc về sự cố bất thường này chưa biết phải phản ứng ra sao ! Cậu định nói nữa thì thằng bạn ngồi cạnh Ðăng là giáo viên cấp ba ngày trước, thuộc loại thày giỏi, nay bị hạ xuống cấp hai. Nó gốc xứ Quảng, được mệnh danh là kẻ ít nói ! Lê Khang đứng phắc dậy kề tai cậu nói nhỏ. Chẳng biêt nó nói gì mà cậu Tú xìu như trái bóng và ttừ từ ngồi xuống. Một đứa vội tiến ra quầy tính tiền,  những đứa còn lại điệu cậu ra xe.
Thật hú hồn ! May mà chẳng ai nghe được những điều cậu nói, nếu không thì cả đám tù mút mùa !
Lên xe cậu Tú nhũn người ra, ngoẹo đầu vào thành xe ngủ một giấc đến nhà. Bước chân xuống xe cậu lại tỉnh queo ! Tiễn bạn về, ra xe Ðăng hỏi thằng bạn xứ Quảng:
-«  Lê Khang ! Mày nói gì mà ông cậu tao xò thế ? …Xuýt tí nữa là chúng mình đi  tù cả đám ! »
Lê Khang cười khoái trá nói :
-«  Tao nói phét cậu mày sợ  ! »
Cả đám trố mắt nhìn nó. Nó vỗ vai Ðăng cười nói tiếp :
-« Tao cũng sợ toát mồ hôi…nhưng bỗng dưng tao phọt được một câu mà tao mang máng đọc được ở đâu nên nói bừa : « Tôi là người của sở bảo vệ chính trị được lệnh theo dõi cậu trong thời gian ở trong Nam…thế là ông xò xuống. »
Cả bọn cười rũ lên khoái trá , một cán bộ gộc mà sợ một câu hù vu vơ của thằng công nhân viên quèn, thế mới biết chế độ CS kiểm soát lẫn nhau quả khiếp thật ! Khi đám bạn đi khuất rồi, Ðăng quay vào nhà kể cho mẹ nghe, bà tức giận mắng cậu như tát nước ! Cậu Tú mếu  máo khóc và phân trần, hai chị em cùng khóc! Riêng Ðăng chưa hả giận, chàng nghi là cậu muốn hại mình. Vốn sãn bất đồng vì chứng kiến, nay sự vìệc càng trầm trọng hơn khiến chàng quên hẳn tình cậu cháu, một ý nghĩ cực ác lóe trong đầu, Ðăng hành xử như kẻ mộng du, xồng xộc vào phòng xách mấy chai rượu mạnh mà mẹ chàng dùng để điếu đóm đám công an phường. Bà thấy Ðăng mang nhiều rượu ra định cản vì không sợ cậu Tú uống nhiều hại đến sức khỏe, nhưng bà lại muốn hai cậu cháu có dịp ngồi với nhau để xả bớt sự căng thẳng bấy lâu và nhất là chyện mới đây. Bà dặn :
-«Cậu con già rồi, cho cậu uống ít chứ …Ðể cậu ngủ, sáng mai lại sức tha hồ uống. »
Ðăng vâng dạ cho qua và tiếp tục làm theo kế hoặch. Chàng khui chai Whisky, khui thêm chai Martel Rémi, mùi rượu thơm phức ! Chàng thường nghe bạn bè nói rượu pha hai ba thứ rất dễ say. Ðưa hai chai rượu lên xoay xoay soi trong ánh điện, như tìm cái chất tinh khiết trong rượu, chàng muốn khêu gợi con sâu rượu trong cậu. Mắt cậuTú sáng quắt…Thế là Ðăng đã chài được cậu ! Những thỏi đá trong ly rượu lóng lánh như kim cương đang mời gọi, màu rượu làm tăng độ óng ả thơm như hương môi thiếu nữ tuổi giậy thì. Cậu cạn ly này sang ly khác. Mặt cậu Tú không giống những tấm bia hình tượng trong những bãi tập bắn ở quân trường, khuôn mặt sáng sủa cuả cậu bắt đầu chảy ra, môi tái, run lên bần bật. Ly rượu trên tay cậu sóng sánh, chao đi chao lại làm đổ, chàng được dịp rót thêm cho đầy. Cậu Tú bắt đầu nhũn ra, người rút lại, cậu bỗng thều thào lè nhè kể lại chuyện gia đình năm xưa, những đìều Ðăng không hề biết. Giọng cậu buồn như tiếng võng giữa trưa hè, lòng Ðăng chợt bùi ngùi xót xa như lọt vào một câu chuyện buồn cổ tích ! Chàng thấy hối hận về những ý nghĩ điên rồ của mình và bừng tỉnh, mồ hôi toát ra như tắm. Chàng cầm ly rượu của cậu uống cạn, rượu xông lên tận óc, cháy rụi cả lồng ngực. Ðây là lần đầu tiên trong đời chàng uống rượu, uống mừng vì vừa thoát một tội ác. Nếu sự việc xảy ra cậu Tú chết vì uống quá nhiều rượu do trúng gío, thì lương tâm chàng cũng sẽ không bao giờ đưọc yên ổn, suốt đời bị dằn vặt! Ðăng bàng hoàng thầm nghĩ :« Chàng ghê tởm chủ thuyết CS chứ đâu thù ghét con người. Cậu Tú  chỉ là nạn nhân, kẻ mê sảng chủ nghĩa… Xuýt nữa chàng đánh mất mình ! »
Ðăng thu vội mấy chai rượu cất xuống gầm bàn, cậu Tú định giựt lại nhưng không được. Cậu ngoe nguẩy trong tiếng nấc cục và thều thào :
-«Rượu ngon lắm, cậu còn uống được mà… để cho cậu uống. »
Chàng vói tay tắt chiếc quạt đứng cạnh đó đang xoay hết tốc độ, sợ cậu bị nhìễm lạnh, dù trời đang oi bức. Cậu Tú lại khều khào định nói với Ðăng điều gì nhưng chẳng nghe rõ, rồi cậu rũ ra ghế ngủ.Trong men rượu chợp chờn hình như cậu có hai con người : « Con người hiện tại là con người CS đầy rẫy những ham muốn nhưng biết che nấp dưới nhãn hiệu « yêu nước ». Cái não trạng của cậu đã chứa đầy tính đảng nên chỉ biết vâng lời và sẵn sàng hy sinh dấn thân vào tội ác dù biết bị lừa dối ! Còn con người thứ hai là con người mang thuần tính người, biết lý lẽ của con tim nhưng phải nhẫn nhục để tồn tại. Hai thực thể ấy mâu thuẫn nhưng luôn hiện hữu và dằn vặt nhau. »
 Ðăng sát lại gần cậu, lúc này chàng mới có dịp nhìn thật kỹ cậu và cảm thấy tthương xót : Một thân hình tiều tụy còm cõi nào có khác gì tù nhân ?! « Ôi bao nhiêu năm tận tụy với đảng nào cậu có được gì ngoài danh từ hão ! Những nghiệt ngã đớn đau đã giáng ngay lên đầu cậu đến bố mẹ bị đảng đấu tố cũng không dám mở miệng can ngăn hay than phiền. Chủ thuyết phi nhân đến thế mà vẫn trung thành, thật uổng phí một đời ! »
Ðăng bế cậu vào giường, người cậu mềm như bún. Chàng ra tủ lấy hộp dầu con hổ vào cạo gío khắp toàn thân cho cậu, chàng còn thức suốt đêm canh chừng cậu. Chưa hừng sáng đường phố Sài Gòn đã tấp nập, tiếng ồn ào của xe cộ lẫn tiếng người buôn bán nghe huyên náo. Dù bị công an rượt đưổi cấm chợ ngăn đường nhưng không cản được dân, cấm chỗ này họ bày chỗ khác, vì miếng cơm manh áo họ đã bớt sợ họng súng. Cậu Tú thức dậy nhìn thấy Ðăng ngồi bên cạnh giường và đang quạt cho cậu. Bằng một giọng đầy xúc động :
-«Con thức cả đêm không đi ngủ hả ? »
Ðây là lần đầu tiên từ hôm gặp mặt cậu buông lời trìu mến như lời cha với con. Ðăng mỉm cười thấy như vừa trút đi một gánh nặng.
Kể từ sáng hôm ấy những móng vuốt chủ nghĩa, những cùm gông cách mạng, những hão huyền lý tưởng đều vụt bay. Nơi ấy chỉ còn lại tình gia đình sau bao năm nẫu nát. Cậu Tú trở lại nguyên hình với con người bằng xương thịt, máu mủ huyết thống. Gương mặt rười rượi của cậu sáng hẳn lên, ánh mắt thoáng nét vui. Môi run run cậu hé mở cõi lòng : -“Hai chị ạ ! Ðã từ lâu em đợi giây phút này để được bày tỏ nỗi lòng cùng các chị : Trong giai đoạn « cải cách ruộng đất » ông bà về thăm quê bị đội cải cách bắt ghép tội là điạ chủ cuờng hào, có con theo thực dân, phản động nên bị đem đấu tố. Mẹ buồn mà chết vì sự bạc bẽo, phản phúc của những người trong đội đấu tố, họ đã từng được gia đình ta giúp trong lúc nghèo đói túng thiếu! Bố thì bị đày lên Thái Nguyên và bỏ xác trên đó! Những người thân còn lại ở Bắc chẳng ai dám hé môi can thiệp, hay một lời van xin giúp, có người còn cải tên đổi họ để tránh liên lụy!
Bá vừa khóc, hỏi:
«Thế lúc đó cậu ở đâu ? »
Cậu Tú mếu máo:
«  Hai chị ạ !Trong giai đoạn chỉnh lý, thanh trừng xảy ra khắp nơi ấy em bị đưa đi công tác xa, mãi Thanh Hóa !»
 Giọng cậu Tú ngập ngừng, đứt khúc buồn bã:
« Em vì đã quá sợ cấp lãnh đạo đảng ghép tội liên hệ với gia đình phản động, nên đã hèn yếu khi hay tin bố mẹ bị bắt mà không cấp tốc trở về quê bảo lãnh…Thật đáng tội ! lúc đó em vẫn ngây thơ tin vào Đảng, cứ ngỡ nhà ta có nhiều người hy sinh ở chiến khu Việt Bắc thì họ không dám đấu tố bố mẹ, nhưng đâu ngờ họ lại phủi công khiến bố mẹ ra nông nỗi ấy! Cũng vì chuyện đó em xin phục viên không những không được mà còn bị hạ tầng công tác! Xin hai chị cứ mắng nhiếc và lượng thứ cho em ! »
Mấy chị em nức nở chan hòa nước mắt.
Bá ngừng khóc nói :
-« Thôi em ạ, đằng nào bố mẹ cũng mất lâu rồi…nhắc lại chuyện cũ chỉ thêm buồn. Nhưng nếu chẳng làm sáng tỏ thì lòng các chị đây không yên. Hôm nay chị mới hiểu rõ nội tình, biết em cũng đau khổ thì sao các chị còn trách em được na. »
Cậu Tú đứng lên tiến lại bàn thờ tổ cô có cả hình thờ ông bà ngoại mồm lâm râm khấn và thắp nén nhang.
Ðăng trố mắt nhìn cậu, thì ra chủ thuyết CS không diệt được lòng tín ngưỡng ẩn trong cậu, bỗng chàng cảm thấy đời vui lên. Gia đình chàng đa tôn giáo: Mẹ Đăng đạo Phật, bà dì lấy chồng Công giáo nên theo đạo, Đăng theo bên nội nên đạo Chúa, giờ Cậu Tú sau nhiều năm theo CS nhưng gốc vẫn đạo ông bà.
 Sau khi thắp nhang cậu Tú quay về chỗ cũ tiếp tục nhắm rượu, cậu cũng mong Ðăng thông cảm cho những thái độ quá quắt về định kiến đã trở thành một thói quen của người CS. Còn chàng lòng cũng đầy ăn năn của đứa cháu vẫn xem cậu là kẻ thù !
 Bữa cơm trưa hôm đó thật ấm cúng như cơn mưa đã tạnh. Cậu  ngâm nga trong cốc rượu, bùi ngùi kể cho gia đình nghe những đắng cay cơ cực mà cậu đã trải qua trên đất bắc. Ba chị em cùng khóc. Mẹ Ðăng nói :
-« Gia đình nghèo như thế sao cậu không viết thơ xin ? » .
Bá khóc, bùi ngùi hỏi :
-« Em là cán bộ mà khổ như thế sao không bỏ quách vào Nam từ năm bảy lăm thì có đỡ hơn không ?».
Cậu nghẹn ngào :
-« Rõ tội ! Nếu biết sự tình như thế em đã theo các anh chị vào Nam hồi năm mươi tư thì còn gì nói….Khốn thay…em lại ngỡ trong Nam bị kìm kẹp chắc phải khổ hơn ngoài Bắc nhiều! Chẳng thế hôm vào thăm hai chị và các cháu em có mua mấy cân đường, định mang vào biếu hai chị…nhưng vào đây, thấy nhà hai chị em xấu hổ quá…Do đó em  đã nói láo cho đỡ thẹn ! »
Bá vẫn khóc, thổn thức nói:
-« Chị em mà xấu hổ cái gi ! Còn gặp được nhau là qúy rồi ! »
Cậu Tú quay sang Ðăng gọng trầm buồn:
-«Bằng mọi gía con phải đi nước ngoài con ạ ! Quê hương này sinh ra con nhưng không dưỡng được đâu !….Người ta chỉ tạm gác thù hận qua một bên, khi cần họ lại mang ra bêu xấu hoặc đổi chác! Những người như con khó sống chung được với họ !…Cũng chính vì các anh chị của cậu người theo Pháp kẻ theo Mỹ mà bao năm cậu chỉ là chiếc bóng trong đảng CS, họ dùng nhưng không tin ! Họ cho cậu sống là may đấy con ! Trong đảng mà trù ếm nhau thì còn ác hơn loài thú dữ ! »
Bá nổi giận :
-« Chúng nó ác như như thế mà trời lại không tru diệt nó ! Thà chị chết trong Nam chứ không trở về Bắc !»
***
 Paris, một hôm Ðăng nhận đưọc thư gia đình báo tin cậu Tú mất lòng chàng buồn rười rượi ! Trong thư có hình tấm ảnh chụp một căn nhà tranh xơ xác nằm bên bờ sông nơi vùng quê hẻo lánh. Nếu không có khung hình cậu trên cỗ quan tài thì chẳng bao giờ Ðăng dám nghĩ cậu Tú lại sống cơ cực như thế! Ôi cả đời cậu hy sinh cho một lý tưởng huyền hoặc những tưởng mang đến sự công bằng phúc lợi cho mọi người, nào ngờ ngay chính bản thân cậu sống trong cơ cực nghèo đói, bị chèn ép, đố kỵ bởi chính tình « đồng chí » ! Từ ngày rời quê Ðăng chưa lần trở lại, mẹ chàng vẫn ở lại vì muốn được chết trên quê hương, bà viết thư sang muốn chàng đừng về dù cho mai này bà có nhắm mắt cũng an tâm. Bà dặn dù ở bất cứ nơi đâu hãy nhớ mãi hình ảnh đất mẹ trong tim vì sông nào cũng đều chảy ra biển cả. Chàng thầm nghĩ : « Nếu chẳng có những lời ru tha thiết ngọt ngào đầy man trá của chủ thuyết CS làm mê hoặc những kẻ mộng du, cùng với bao tham vọng của những kẻ hám quyền lực tạo cơ hội cho ngoại cường giành xé, thì quê mẹ đâu phải lầm than đổ nát, rạn vỡ tình người, và gia đình ngoại đâu phải ly tán ! »   Bóng chiều tắt, dòng sông Seine rực rỡ muôn ánh điện với những chiếc du thuyền lộng lẫy ngược xuôi. Ngồi trên tàu đìện ngầm trở về nhà mà đầu chàng vẫn miên man hình ảnh đám du khách VN quần áo sang trọng hồi chiều, họ là những nhà «tư bản đỏ» trông thật béo tốt tươi tắn, chẳng bù cho những bà mẹ già còm cỏi da bọc xương, một thời được vinh danh xếp vào loại gia đình liệt sĩ vì có con có chồng bỏ xác ở Trường Sơn. Những mái đầu bạc đó hiện đang sống trong cô đơn hiu quạnh nơi quê nhà, phải tất tả chạy gạo từng bữa để tự nuôi thân thì lấy tiền đâu du lịch ? Huống chi những người dân đen thấp cổ bé miệng chắc còn khổ biết chừng nào ?! Chàng nghe tin đất nước ngày nay đã thay đổi, phải thay đổi để có thể theo kịp các cường quốc Ðông Nam Á và Á Châu thì đó là điều đáng mừng. Nhưng rất tiếc sự thay đổi đó chỉ là sự chuyển từ « cái xấu này sang cái xấu khác » khiến xã hội hôm nay càng tha hóa hơn! Ðăng thẫn thờ về một mảng đời chợt đến của dĩ vãng.                                                                                            
 ***
Sáng nay trước hàng hiên nhà có chùm hoa vàng mới nở, cánh hoa mong manh trong nắng gợi khơi niềm nhớ. Chàng bỗng thương quê mẹ, mảnh đất còn nhiều dấu tàn phá chiến tranh, những vết hận thù mà thời gian chưa đủ xóa!  Ở đó chàng đã mất quá nhiều, chỉ còn lại kỷ niệm. Tiếng chuông nhà thờ bên khu phố cổ vọng lại lâng lâng tâm hồn, xa xa những vần mây trắng nối đuôi nhau không biết về  đâu cuối trời ? Ðăng chạnh nhớ đến những người thân và bằng hữu một thời lòng bỗng bùi ngùi. Một thoáng yên lặng cho những người thân, những người đã nằm xuống vì ý nghĩa tự do..và những linh hồn ly hương phiêu bạt.  ./.

 Đỗ Bình

Mậu Thân : cái chết của bốn công dân Đức



Thưa quí vị,
Uwe Siemon-Netto
sinh năm 1936 tại Leipzig. Hành nghề chủ yếu trong ngành truyền thông quốc tế. Từng hoạt động ở London, Paris, New York, Việt Nam, Trung Đông và Hồng Kông trong giai đoạn 1962-1969. Viết cho các tạp chí uy tín của Đức như Die Welt Stern.

A reporter's love for a wounded people
là thiên phóng sự viết về những năm tháng Siemon-Netto hành nghề phóng viên chiến trường ở Việt Nam, Căm Bốt.

Bản dịch Việt văn do một vài anh em cựu sinh viên quân y VNCH phụ trách.
Xin kính mời quí Anh Chị dành chút thì giờ đọc những gì Uwe Siemon-Netto viết về cái chết của ba bác sĩ Tây Đức và vị phu nhân, vợ một trong ba bác sĩ Đức ,
do Việt Cộng thảm sát vào dịp Tết Mậu Thân 1968.

Xin vui lòng lưu ý những chi tiết sau đây : thế giới ngoại giao đã cố gắng can thiệp với Hà nội hòng cứu mạng bốn người Đức nhưng cộng sản không thèm để ý.
Luận cứ này phủ nhận những lời chạy tội của các tên sát thủ theo cộng ở Huế cũng như của ông Bùi Tín theo đó Việt cộng hạ sát các tù binh Đức vì muốn tự bảo
vệ an ninh, vì không đủ phương tiện che chở cho họ, vì họ là một gánh nặng cho chúng v.v..

Cũng xin chú ý đến vai trò của Giáo sư Bác sĩ Erich Wulff. Ông này thiên cộng một trăm phần trăm, từng giữ chức Phó Chủ tịch Phong trào Hoà Bình Thế giới Á Phi. Ông ta phụ trách bộ môn Sozialpsychiatrie ở Trường Đại học Y Hannover, Bắc Đức. Khi tôi sang Tây Đức đầu năm 1984, anh Nguyễn Văn Trung nhờ tôi liên lạc với ông ta để giúp đỡ cho anh Trung xuất ngoại (hai người quen nhau từ trước 75) nhưng ông ta từ chối, bảo chẳng làm được gì vì ông ta đã trực tiếp xin Phạm Văn Đồng tha cho Khoa trưởng Văn Khoa Sàigòn (Bùi Tường Huân? Bùi Xuân Bào?, lâu ngày tôi quên tên họ chính xác) nhưng chẳng đi đến đâu.
Tôi và ông Wulff trao đổi khá nhiều thư từ nhưng tất nhiên lập trường hai bên  như trắng với đen. Chi tiết ông ta ra làm chứng trước toà án Russell, tôi đọc Uwe Siemon-Netto mới biết. Khoảng năm 2005, Wulff sang thăm Việt Nam và tất nhiên đã được đón tiếp như một anh hùng xã hội chủ nghĩa. Wullf chết cách đây vài ba năm.Tôi cũng biết thêm tại sao Willy Brandt đã nhận chìm vụ thảm sát công dân Tây Đức : chủ trương cầu hoà với Nga Xô Viết, quì trước một đài kỷ niệm ở BaLan, lãnh Nobel Hoà Bình v.v..



Trần Văn Tích
-----------
 Bây giờ xin mời đọc tác giả Đức.  
Thảm Sát Bốn Công Dân Tây Đức
Tuy nhiên trước khi lên máy bay đi Phnom Penh, tôi đến thăm xã giao Wilhelm Kopf, Đại sứ Tây Đức tại Sài Gòn.
Thật bất ngờ, Hasso Rüdt von Collenberg bước vào, xin lỗi vì làm gián đoạn cuộc nói chuyện của chúng tôi. Khuôn mặt vị Nam tước trẻ tuổi trông tái hơn bình thường. Nam tước thì thầm điều gì đó nghe giống như mật mã. Mặt của Kopf dài ra trông thấy. Theo linh tính, tôi mạo hiểm đoán:
"Họ đã tìm ra thi thể của các Bác sĩ Đức tại Huế rồi phải không?" Tôi nói.
Hasso von Collenberg với vẻ bối rối nhìn tôi trả lời, "Đúng vậy, nhưng chưa chính thức. Chúng tôi phải báo cho Bonn trước."
"Tôi hiểu. Cho tôi biết không chính thức vậy: chuyện gì đã xẩy ra?"
"Người ta đã tìm thấy thi thể của Giáo sư và bà Krainick, của Bác sĩ Discher và Bác sĩ Alteköster trong một cái mồ tập thể khoảng 20 dặm về hướng Tây của Huế. Họ đã bị bịt mắt và tay bị trói quặt ra sau bằng dây kẽm. Họ đã bị buộc phải quỳ gối trước khi bị bắn vào sau gáy rồi bị đẩy xuống mương."
Khi ông Đại sứ và tôi chăm chú nghe anh kể, chúng tôi không thể nào biết rằng lời diễn tả đó lại đúng là số phận của von Collenberg một vài tuần lễ sau, khi bọn Việt Cộng sát hại anh trên một con đường nhỏ vùng Chợ Lớn, trong khu phố Tầu của Sài Gòn không xa tòa Đại sứ bao nhiêu.

Viên ngoại giao trẻ kể cho chúng tôi là Viện trưởng Viện Đại Học Huế đã nhận diện được thi hài của các đồng nghiệp người Đức và tình trạng của họ cho phép một kết luận sơ khởi quan trọng: Họ phải còn sống ít nhất sáu tuần lễ sau khi bị bắt cóc. Với cơ cấu chỉ huy sắt máu của Hà Nội, vụ hành quyết bốn người Tây Đức này không thể là một sự nhầm lẫn trong lúc cuộc chiến hỗn loạn được; họ không phải là nạn nhân vô tình của chiến tranh. Bất chấp những lời cầu xin từ khắp nơi trên thế giới, Hà Nội đã không hề hành động điều gì để cứu những người vô tội này mặc dù họ có thừa thời gian để làm chuyện đó. Do đó, chúng ta có thể giả định rằng những vụ hành quyết như thế này và hàng ngàn những người vô tội khác có chủ đích và từ đó, được xếp hạng là những hành vi tội ác chiến tranh gây ra bởi một chế độ hay có sự đồng lõa của chế độ đó.

Một năm sau tại hội nghị hòa bình Paris, nơi cuối cùng đã dẫn tới sự triệt thoái của Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam, tôi chạm trán với một phóng viên Giải Phóng, cơ quan thông tấn của Việt Cộng. Anh ta nói với tôi là anh có tường thuật cuộc công kích Tết Mậu Thân tại Huế. So sánh các ghi chép với nhau, chúng tôi nhận thấy là có một lúc chúng tôi chỉ cách nhau không đầy 100 thước. Tôi rất muốn hỏi anh ta: "Tại sao các anh lại tàn sát hàng ngàn phụ nữ và trẻ em? Tại sao họ lại giết hại các bạn người Đức của tôi mà 'tội ác' của họ chỉ là chữa trị cho người dân Việt Nam, bất kể chính kiến của họ?" Buồn thay tôi đã không làm điều đó. Thật là vô ích hỏi anh ta những câu hỏi như vậy vì anh ta không bao giờ đi một mình. Luôn luôn có những tay công an quanh quẩn trong tầm tai nghe. Vả lại bọn Việt Cộng đã cho các ký giả Tây Âu trong những buổi tiếp tân tại các tiệm ăn sang trọng ở Paris cái luận điệu vô lý của họ về những gì đã xẩy ra tại Huế rồi. Họ nói đó là tội ác của CIA.

Cho đến ngày hôm nay, tôi vẫn không rõ nguồn gốc của cái sự láo khoét phi lý đó. Có phải đó là sản phẩm từ bộ óc ngu xuẩn của một số đảng viên cực đoan ở Hà Nội? Hay lại là phát minh của một Bác sĩ Tây Đức khác, tay bác sĩ tâm thần Erich Wulff điên rồ? Hắn đã đóng một vai trò khó chịu trong thời gian dạy học tại Huế. Vào năm 1963 hắn đã xách động chống lại chính phủ Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ, cũng như lén lút chuyển thuốc men và dụng cụ y khoa cho Việt Cộng. Sau này khi bị buộc phải rời xứ, hắn đã ra làm chứng trước tòa án quốc tế Bertrand Russell về tội phạm chiến tranh tại Việt Nam. Khi tôi gặp hắn vào năm 1965, hắn đã tố cáo ông hàng xóm của hắn là Horst-Günter Krainick đã nuôi dưỡng một sự kỳ thị chủng tộc đối với người Việt. Hắn còn bày tỏ sự phẫn nộ đối với bà vợ của Krainick hằng ngày đi bơi tại Câu Lạc Bộ Thể Thao và làm thân với người Mỹ. Bản thân tôi cũng như bất cứ những người quen nào của gia đình Krainick đều không thấy điều gì khác lạ ngoài tình thương tuyệt vời dành cho cái dân tộc mà họ đến để giúp đỡ.

Năm 1968 Wulff viết dưới bút hiệu Georg W. Alsheimer một lập luận kinh tởm dưới tiêu đề Vietnamesische Wanderjahre - Những Năm Tháng Chu Du tại Việt Nam (Frankfurt: Suhrkamp, 1968). Trong cuốn sách này, hắn cho là một nhân viên tình báo hàng đầu của CIA với cái tên Bob Kelly đã kể cho hắn nghe về chương trình khủng bố của CIA gọi là Những Chiến Thuật Đen. Theo Wulff, chương trình này gồm những thanh niên mặc quần áo như Việt Cộng đi sát hại người già, phụ nữ và trẻ em để kích động lòng hận thù đối với Cộng sản.
Lời giải thích của Bắc Việt và Việt Cộng về cuộc tàn sát tại Huế phù hợp với luận điệu của Wulff. Nói một cách công bằng cho hầu hết các phóng viên Tây Âu, họ thấy chuyện này không có sức thuyết phục. Trong khi đó, Erich Wulff đưa ra một lý luận điên khùng khác trong những buổi hội họp của cánh tả tại Tây Đức: hắn cho là Bác sĩ Discher, Bác sĩ Alteköster và hai vợ chồng Krainick có thể đã bị giết bởi chính các sinh viên của họ để trả thù bị điểm kém, hoặc bởi chính các đồng nghiệp Việt Nam vì lòng ganh ghét.

Một lần nữa, tôi lại đi quá xa câu chuyện của tôi rồi. Vào thời điểm chuyện này tôi đang ở trong văn phòng Đại sứ tại Sài Gòn. Nét mặt biểu hiện đầy nỗi buồn của Hasso von Collenberg không lời nào tả xiết. Tôi còn nhớ đã suy nghĩ trong đầu: "Thật là một tâm hồn cao quý! Thật là một người đàng hoàng và dũng cảm! Từ lúc khởi đầu cuộc công kích Tết Mậu Thân, anh đã lái xe khắp Sài Gòn ngày đêm để bảo đảm cho các công dân Đức được an toàn. Anh không bao giờ về nhà mà ngủ trên một chiếc chiếu trong văn phòng. Anh đã cầu nguyện bọn Cộng sản sẽ tha cho những người bạn ở Huế, đó là tất cả những gì anh có thể làm được, và nay thì họ đã chết cả rồi. Chính phủ chúng ta phải tự hào về anh!" Trái lại đằng khác. Tất cả những gì còn lại để tưởng nhớ anh chỉ là một câu chú thích ngắn gọn trên tờ báo cáo của Văn phòng Ngoại Giao Đức. Bộ trưởng Ngoại Giao Tây Đức thời bấy giờ là Willy Brandt, thuộc đảng dân chủ xã hội mà chính sách ưu tiên cao nhất của ông là nhằm xoa dịu, hoặc làm tan băng đá trong quan hệ với khối Sô Viết. Người ta chỉ có thể phỏng đoán là ông nghĩ rằng sẽ khó khăn cho mục tiêu này nếu làm lớn chuyện vụ sát hại một trong những phái viên của ông.

 Trần Văn Tích

Tú Bà Thời CS: Các cô gái Việt Nam bị gạt sang Nga

Chân dung bà chủ nhà chứa ở Nga

Thanh Trúc, phóng viên RFA


033_ria04-012136_3000-305.jpg
Gái mại dâm ở Nga đang bị cảnh sát kiểm tra giấy tờ. Ảnh mang tính minh họa.

Trong số mười lăm cô gái Việt Nam bị gạt sang Nga vào động mãi dâm của bà Thúy An ở Moscow, mà bốn cô trốn đi rồi bị bắt lại, thì đã có hai cô về đến Việt Nam.
Trong một tháng qua đài Á Châu Tự Do đã cập nhật vụ việc trên nguyên tắc không đưa tiếng nói của nạn nhân lên đài. Hôm nay, đã an toàn ở Việt Nam, cô Bé Hương cho biết cô phải lên tiếng, trước hết cho mười ba người bạn còn lại trong nhà chứa của bà Thúy An, thứ hai là đính chính về lá thư mà cô bị buộc phải viết và ký tại đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga như một điều kiện trước khi về nước.
Bé Hương: Mười lăm đứa, trốn đi bốn đứa thì còn mười một. Bắt về thì giờ bà đã thả em với lại Nguyễn Phạm Thái Hà thì còn mười ba là hai chị em ruột ở Cà Mau, rồi ở Long Xuyên, Tây Ninh, Sóc Trăng. Ở Sài Gòn cũng có và có một cô quê ở Hà Nội.
Mục đích của bà là bà biết chị em bên Mỹ có nhờ đến phóng viên nhà báo đài Á Châu Tự Do, bả muốn em đính chính lại là mọi việc không có sự thật như vậy, bả muốn em viết thư có lời cảm ơn bà và yêu cầu nhà báo đài Á Châu Tự Do phải đính chính lại mọi việc, bắt em phải ký. Em đã ký và đã cam kết sẽ đính chính lại mọi việc.
Bây giờ em đã về Việt Nam rồi thì em cũng xin nói những lời đó, những thư đơn ký đó đối với em không còn giá trị nữa, bằng mọi giá em phải đính chính sự thật của bà là đúng người đúng tội, lúc đó em bị bà bắt giữ và khống chế, bắt buộc em phải làm điều đó.

Xa xích chưởng

Thanh Trúc: Bây giờ em có thể tả về bà An được không?
Bé Hương: Bà là người Nghệ An, khoảng bốn ba bốn mươi bốn tuổi. Bà sắc sảo lắm, cứng cỏi lắm. Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì "bố mày" lúc thì "mẹ mày". Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.

Lúc nóng giận lên thì bà xưng lúc thì "bố mày" lúc thì "mẹ mày". Không có lời văng tục nào mà bà không nói được hết.
Cô Bé Hương
Khi mà đưa sang bà đón em ở sân bay về đến nhà thì em mới biết sự thật em đã bị bán vào động mãi dâm rồi, không cách nào thoát hết. Một năm mấy qua thật sự em cũng có chờ đợi nhiều lắm nhưng không có cơ hội. Lúc nào bà cũng có người giám sát bọn em hết, những người mới sang bà không thả ra ngoài đâu, ai cũng phải làm việc cả. Bên đó chỉ có công việc là làm gái mãi dâm thôi, chỉ là một cái "cờ va" ba buồng, khách vào thì cứ trải chỗ liên tiếp liên tiếp theo đó mà làm, không có gì khác ngoài gái mại mãi dâm hết.
Phần lớn là khách Việt Nam, tuần này họ đến tuần sau họ lại đến thì trở thành khách quen của bà. Thỉnh thoảng em có nghe là khách Việt Nam đón ra ngoài để tiếp Tây, người Nga đó chị, Tây rồi Tàu... Em không có được ra ngoài.
Tiếp khách là tính điểm, cộng vào sổ, cuối tháng chia đôi bà phân nửa tụi em phân nửa. Nếu không ngoan làm việc bà sẽ phạt, phạt cho đến khi nào không ngóc đầu lên nỗi, không có tiền gởi về nhà luôn giống như em đây. Một năm hai tháng hơn em vẫn không có đồng nào mà vẫn phải tiếp khách, coi như công cốc, không có đồng nào, tay trắng luôn.
Tất cả các cô kia có người làm được việc, tiếp khách giỏi hơn em, làm một tháng mấy nghìn đô. Có chia nhưng mà bà giữ lại hết, muốn gởi về nhà thì bà sẽ gởi, năm trăm, một nghìn, hai nghìn đô bà sẽ gởi, còn nhiều hơn nữa bà sẽ không gởi.

thai-ha-250.jpg
Cô Thái Hà. Hình do gia đình cung cấp.
Thanh Trúc: Ngoài bị chửi mắng thì các cô còn bị đánh phải không, nhất là cả ba cô cùng trốn với em trong đó có một cô còn nhỏ. Bé Hương: Bà đánh thì tụi em hay gọi là "xa xích chưởng", tụi em bị đánh quá thì cũng có nói ở trong tù thì nghe nói một đám đánh một đứa, còn ở đây tại sao có một đứa mà lại đánh tới một đám lận.
Lúc mới qua thì con bé chưa được mười bảy tuổi, nó nói thực với em là chị ơi em mới có mười sáu, trong giấy của em là người ta làm cho em đủ tuổi đi làm, nói qua đây làm nhà hàng. Bả cứ bắt em kêu ba mẹ em gởi tiền qua để chuộc về nếu mà không làm việc được. Mà con nhỏ đó cũng xấu, nhìn không dễ coi lắm, cho nên không có khách chọn. Bả cũng đánh bà nói "Mày qua đây làm gì, tại sao người đưa qua cũng khốn nạn lắm, như vầy mà cho đi làm gái là sao, tiếp ai bây giờ, người ta ngồi người ta còn không nhìn nữa thì làm sao mà làm". Những ngày tháng con bé đó bị hành hạ đánh đập em cũng nóng ruột lắm.
Linh thì bà bảo là "Con Linh có cặp mắt đĩ thỏa đâm giai", bà cho Linh mở cửa đón khách. Bữa đó chồng bà, là ông Huy, về đến thì Linh ra mở cửa. Ông Huy lấy tay quẹt cái mũi nó làm bà ghen bà đánh nó xém mù hai mắt.
Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi. Em thì đã chịu quá nhiều bây giờ kể ra em không biết kể bao nhiêu cho hết. Bên đó luật của bà là không ai được thân với ai hết, bệnh hoạn tự lo.

Bà lấy dây nịt bà quất con Linh bò lết bầm khắp người luôn mà đôi mắt là nặng nhất. Còn cái Duyên thì có thời gian nó bị đánh bầm sống mũi.
Cô Bé Hương
Thanh Trúc: Em có biết gì về ông Huy chồng bà An này không?
Bé Hương: Ông Huy đó tên Nguyễn Anh Huy. Khi qua thì em có nghe kể lại là hồi trước, cái tốp đi trước đó, ông đã đánh một người tới nỗi xém mất mạng. Từ đó đến bây giờ bà không cho ông Huy đánh nữa, chỉ có bà đánh thôi.
Thanh Trúc: Xin kể tiếp lúc em cùng ba cô kia trốn đi và bị bắt lại ?
Bé Hương: Trốn ra được thì em có nhờ công an Việt Nam liên lạc đại sứ quán Việt Nam ở Liên Bang Nga, được số điện thoại của ông Nguyễn Đông Triều làm bên an ninh của đại sứ quán. Em có gọi mà ông từ chối thẳng không giúp. Em cũng nhờ có người chị ở Mỹ là Danh Hui, cũng bên đó nhờ được chú Thắng.
Sau khi gọi cho ông Nguyễn Đông Triều khoảng hai ngày thì chính bà An, ông Huy và một người đàn ông, đến nơi thì tụi em chỉ biết về thôi. Hơn một năm bị bà đánh đập em cũng biết bà ghê gớm cỡ nào, tụi em lúc đó bó tay, kháng cự cũng bằng không. Bà có nói "Mày biết tao canh mày bao nhiêu ngày tao mới bắt được mày không, mày làm cho bố mày mất ăn mất ngủ cả mười ngày nay, mày to gan lắm mày dám hại bố mày hả...".
Cô bé Thái Hà lúc sang chưa đủ tuổi đó, rồi Thu Linh, Ngân Giang, đều bị đánh sưng mặt, bầm mắt. Bả không đánh em, chỉ đập đầu em vô tường thôi. Bà nghĩ đánh em bầm mắt thì nếu như đại sứ quán gọi em lên người ta sẽ thấy. Còn đánh lên đầu em thì người ta không thấy mà em cũng không dám nói.

Quen biết lớn

Thanh Trúc: Khi bà Thúy An đưa em lên đại sứ quán để về Việt Nam thì chuyện gì xảy ra?
Bé Hương: Bà làm giấy cho em về Việt Nam, bảo là "Mày làm không được thì tao cho mày về chứ không phải chị mày bên Mỹ làm ầm ỉ mà tao cho mày về đâu". Bả tính là thứ Hai cho em bay, nhưng tối thứ Bảy thì bả nói em chuẩn bị đồ rồi bà đưa em lên đại sứ quán.
Lên sứ quán thì trên đó có một ông tên là Kiên, cũng ở trong đại sứ quán mà em không biết rõ ông làm cái gì.. Ông Kiên đó hỏi ai đây thì bà mới nói "Đây, nhân vật chính đây anh". Ông Kiên mới bắt em viết một cái đơn"Cảm ơn chị An đã giúp đỡ và đại sứ quán ở Liên Bang Nga đã can thiệp, giúp đỡ, tạo điều kiện cho em được về Việt Nam. Và xin có lời nói với nhà báo RFA ở Mỹ đã nói về bà An là không phải sự thật thì em xin đính chính lại là những lời đó đã nói sai về chị An, và em hoàn toàn chịu trách nhiệm."

Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày.
Bà Thúy An
Lúc đó em chỉ biết làm để bà thả em về thôi, về tới Việt Nam là bằng mọi giá em phải đính chính lại sự thật, tại vì lúc đó em bị bà không chế mà, nếu không làm như vậy em đâu biết bà đưa em đi đâu.
Thanh Trúc: Theo em kể thì có vẻ bà An khá quen biết với người trong đại sứ quán Việt Nam ở Nga?
Bé Hương: Em viết xong thì ông Kiên mới đi về. Em ngủ lại đó vì sáng mai ra sân bay. Đêm đó thì có một người đàn ông nữa xuất hiện là tên Tuấn Anh. Bà nói với em "Ông Tuấn Anh đó là anh của anh Huy mày, còn vợ của ông Tuấn Anh, làm ở bên đại diện cộng đồng người Việt Nam mình ở Liên Bang Nga, vợ ông Tuấn Anh là cháu ruột của ông Nguyễn Đông Triều." Thì có lúc bà An kêu ông Nguyễn Đông Triều bằng chú, có lúc kêu bằng anh.
Trước đó khi bắt em về, khi em chưa biết sự thật, bà bắt em lên đại sứ quán, bả nói "Lên đó lúc này mày biết mày nên làm thế nào, gây bất lợi cho tao thì mười mạng mày cũng không còn, ba đời mày tao cũng đào lên tao chôn sống chứ đừng nói một mình mày".
Thanh Trúc: Đến lúc này, khi nói với đài Á Châu Tự Do, em còn sợ điều gì không?
Bé Hương: Một phần là em có sợ, nhưng mà tâm nguyện của em là muốn giải cứu những người còn lại ở bên đó cho nên tất cả em đều có thể làm. Những lời nói của em đều là sự thật và em tin tưởng pháp luật sẽ trừng trị bà, trả lại tự do cho những bạn gái của em còn lại bên đó.
Thanh Trúc: Cảm ơn cô Bé Hương, chúc cô một cuộc sống tốt đẹp.
--------
 
Ô Nhục Thay!

Ô nhục thay! cộng đảng Việt Nam
Dùng gái tơ trinh như món hàng
Cho đem xuất khẩu ra ngoại quốc
Như lũ ma cô quá phũ phàng

Quốc thể đâu rồi, quốc thể ơi!
Chúng là loài vượn hay loài người?
Lương tri của chúng đi đâu hết,
Hay chúng chính là bọn đười ươi

Bọn chúng mong đem ngoại tệ về
Tha hồ bồi dưỡng đến phủ phê
Đất nước tan hoang đâu cần biết
Đạo lý suy vong đến não nề!

Ngày tàn của chúng sắp đến rồi
Ba Đình xác ướp thối ình thôi
Hãy mau khăn gói ra ngoại quốc
Chạy đâu cũng khó thoát lưới trời.

Lê Trọng  Nghĩa

Bài Xem Nhiều