We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 13 March 2013

Trung Quốc đuổi tàu cá Việt Nam :Biển Nước Ta , Vì Sao Ta Bỏ Chay..?

Trung Quốc đuổi tàu cá Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa
Tàu hải tuần 31 của Trung Quốc.
Tàu hải tuần 31 của Trung Quốc.
Reuters

Anh Vũ
Bản tin của Đài phát thanh Quốc tế Trung Quốc (CRI) hôm nay 13/03/2013 dẫn nguồn tin của Tân Hoa Xã cho biết các tàu hải giám của nước này đã đuổi hai tàu đánh cá của Việt Nam đang hoạt động trong vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa vì bị cho là xâm phạm lãnh hải của Trung Quốc.

Theo bản tin nói trên thì hai tàu cá Việt Nam mang số hiệu QNg 96417TS và QNg 96382TS bị phát hiện sáng nay khi đang hoạt động trong khu vực gần quần đảo mà họ gọi là « Tây Sa », tức quần đảo Hoàng Sa. Tân Hoa Xã nói rằng hai tàu này đã hoạt động « đánh bắt cá trái phép trong vùng lãnh hải Trung Quốc và đã bị các tàu hải giám của Trung Quốc tiến hành theo dõi và trục xuất ».
Thời gian gần đây Trung Quốc đã cho tăng cường các hoạt động tuần tra trong khu vực xung quanh quần đảo Hoàng Sa mà họ đã chiếm giữ của Việt Nam từ năm 1974 và hiện đặt dưới sự quản lý hành chính của thành phố « Tam Sa » mới thành lập. Việc làm này của Bắc Kinh đã bị Hà Nội phản đối, coi đó là hành động vi phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.
CRI cũng cho biết thêm là đội tàu hải giám Trung Quốc gồm ba tàu và một trực thăng vẫn thường xuyên tuần tra trong khu vực quần đảo « Tây Sa ».
Trong khi đó Tân Hoa Xã đưa tin về các hoạt động của đội tàu hải giám Trung Quốc bắt đầu từ hôm qua tại 9 hòn đảo trong quần đảo Hoàng Sa. Theo đó, các nhân viên của Trung Quốc đã tiến hành « kiểm tra, khảo sát tỉ mỉ cột mốc, môi trường sinh thái v.v… trên các hòn đảo trên và máy bay trực thăng hải giám đã tiến hành quay phim và kiểm tra trên không trong vòng ba tiếng đồng hồ đối với các đảo và bãi đá ».
Báo chí Trung Quốc cho biết đây là hoạt động đầu tiên có quy mô lớn của lực lượng hải giám xung quanh khu vực « Tây Sa » kể từ khi thành phố « Tam Sa » được thành lập hồi tháng Bảy năm ngoái. Động thái này của Bắc Kinh diễn ra trùng vào thời điểm kỷ niệm ngày 14/03/1988 diễn ra trận chiến giữ đảo Gạc Ma của Hải quân Việt Nam trước sự tấn công của Trung Quốc định chiếm hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa này.
------------


THAM GIA CÁCH MẠNG HIẾN PHÁP
==================================================================

BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ CÓ TỰ DO DÂN CHỦ
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ NHÂN QUYỀN ĐƯỢC TÔN TRỌNG
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ CÓ CÔNG LÝ & HÒA BÌNH XÃ HỘI
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ CÓ TƯ HỮU & TỰ DO KINH DOANH
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ KHÔNG BỊ CƯỠNG CHIẾM NHÀ ĐẤT
BỎ ĐIỀU 4  ĐỂ CÔNG NHÂN CÓ NGHIỆP ĐOÀN ĐỘC LẬP
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ DO DÂN & CHO DÂN
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ CHÍNH DÂN DIỆT THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ TOÀN DÂN BẢO TOÀN LÃNH THỔ & LÃNH HẢI
BỎ ĐIỀU 4 ĐỂ DÂN CHỐNG XÂM LĂNG KINH TẾ TỪ TRUNG QUỐC
 
 
CÁCH MẠNG HIẾN PHÁP BẤT BẠO ĐỘNG
CẦN QUẦN CHÚNG SẴN SÀNG BẠO ĐỘNG

"Habemus Papam" : Tân Giáo Hoàng Phan Xi Cô Đệ Nhất ( François I)

Thánh Lễ Khai Mạc Cơ Mật Viện bầu Giáo Hoàng

-
Một tân Giáo Hoàng đã được bầu
image

18giờ07, giờ GMT: Điều các giáo dân chờ đợi đã đến! Các chuông của thánh đường Saint Pierre đã được gióng lên để xác nhận việc một Giáo Hoàng đã được bầu ra. Trước đó,lúc 18giờ05 giờ quốc tế,một làn khói trắng đã thoát đi từ ống khói nhà nguyện Sixtine ở Vatican để báo tin các Hồng Y đã bầu ra một tân Giáo Hoàng. Đây là vị Giáo Hoàng thứ 266 của Giáo Hội La Mã.


Ngay sau khi tín hiệu đã có được một tân Giáo Hoàng, các nhà thờ ở La Mã cũng đã kéo chuông để báo tin mừng.Các thông tín viên truyền thanh,truyền hình đã hướng máy quay phim về để chờ đợi sự xuất hiện của vị tân Giáo Hoàng. Dân chúng tụ tập càng lúc càng đông hơn tại công trường Saint Pierre.Đội quân nhạc của hiến binh Vatican cũng đến công trường Saint Pierre trong đại lễ. Mặc dù danh tính và quốc tịch của tân Giáo Hoàng chưa được cho biết, nhiều cờ quốc gia đã được phất trong đám đông với tin tưởng là Giáo Hoàng là người của nước mình.Trong khi chờ đợi việc loan báo chánh thức " Habemus papam" của Hồng Y Jean-Louis Tauran,phải chờ đợi vị Giáo Hoàng được bầu chấp nhận sứ mạng và lựa chọn danh hiệu. Sau đó tân Giáo Hoàng sẽ xuất hiện ở bao lơn thánh đường Saint Pierre.




Hồng Y Pháp Jean-Louis Tauran loan báo "Habemus Papam
Tân Giáo Hoàng Phan Xi Cô Đệ Nhất ( François I)

Đến 20giờ13 , Hồng Y Pháp Jean-Louis Tauran loan báo "Habemus Papam". Danh tánh của tân Giáo Hoàng được tuyên bố: đó là Jorge Mario Bergoglio, tổng giám mục Buenos Aires từ 1998. Ngài lấy danh hiệu là François đệ Nhất.Việc Ngài được bầu khiến nhiều người ngỡ ngàng vỉ cho đến trước khi có Mật Nghị của các Hồng Y, tên Ngài chưa được nhắc đến.Vào lúc 29giờ 23,Giáo Hoàng François đệ Nhất xuất hiện ở bao lơn thánh đường Saint Pierre. Đám đông đã nồng nhiệt hoan hô Ngài. Ngài đã có một phát biểu bằng tiếng Ý, với sự xúc động, để cám ơn đám đông tụ họp ở công trường Saint Pierre, cho biết điều trước tiên là có một cầu nguyện cho vị Giám Mục danh dự Benoit XVI.

Giáo Hoàng François đệ Nhất,thế danh Jorge Mario Bergoglio,sinh ngày 17 tháng 12 1936 tại Buenos Aires tại Á Căn Đình,thuộc dòng Jésuite ( dòng Tên) và là Hồng Y,Tổng Giám Mục Buenos Aires từ 1998.Ngài trở thành Giáo Hoàng thứ 266 của giáo hội Thiên Chuá vào ngày 13 tháng Ba 2013.Đây là vị Giáo Hoàng đầu tiên thuộc dòng Jésuite,là Giáo Hoàng đầu tiên không phải gốc Âu Châu kể từ thời Grégoire Ì và là vị Giáo Hoàng đầu tiên ở Châu Mỹ và nếu muốn nhấn mạnh hơn,ở châu Mỹ lâtinh (Nam Mỹ).


Nhữ Đình Hùng/13.03.2013/tổng hợp.
Nguồn: tin báo chí Pháp,Wikipédia.




Tân Giáo Hoàng François I ban phép lành Urbi & Orbi



Hàng chục nghìn người chờ đợi tân Giáo Hoàng đêm 13.03.2013
- Rome - công trường St Pierre

Nhữ đình Hùng 

-------
  image
ĐỨC GIÁO HOÀNG FRANCIS I
 
 
 
    HABEMUS PAPAM (1)
 
Khói màu trắng (1 ) bay khắp trời thế giới
Báo tin mừng triều đại mới lên ngôi  ,
Tân Giáo Hoàng , vị đại diện nước Trời,
Thế kỷ mới phải  “ ra khơi không sợ “.
Ngài nhìn xuống từ lan can cửa sổ,
Ban phép lành và khích lệ giáo dân .
Nhờ Thánh Linh Ngài xác quyết lòng tin
Và đức cậy vào vương quyền Thánh Mậu.
Là quốc trưởng Vatican nhược tiểu
Không kiêu binh vũ khí kiểu siêu cường
Nhưng quyền uy đầy thế lực Thiên Đường
Cả hoàn vũ đang nóng lòng trông đợi…
Cờ vàng trắng bay tung trời phất phới
Khắp năm Châu , trên cữa đại thánh đường.
Dân hiền lương , Kito hữu reo mừng
Tạ  ơn  Chúa, Có Giáo Hoàng (1) tân nhiệm.
 
 
NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT.
(1)            Chúng tôi đã có Giáo Hoàng.
(2)            Ngày 13/3/2012 khói trắng đã toả bay trên vòm trời Vatican, báo hiệu đã bàu chọn Đức Hồng Y  Francis I  Argentina là tân Giáo Hoàng hoàn vũ.

Habemus Papam. Jorge Mario Bergoglio

           Tiểu sử Đức Tân Giáo Hoàng Phanxicô Đệ Nhất

(Francis I)


Đức Tân Giáo Hoàng Phanxicô Đệ Nhất (Francis I), năm nay 76 tuổi và sẽ mừng sinh nhật thứ 77 vào thánng 12 tới đây. Ngài nguyên là Đức Hồng Y Jorge Mario Bergoglio, sinh ngày 17 tháng 12 1936. Ngài là vị Giáo Hoàng thứ 266 của Giáo Hội Công Giáo, được bầu trong lần bỏ phiếu thứ 5. Ngài là Đức Giáo Hoàng đầu tiên được sinh ra ở châu Mỹ.

Ngài đã từng là Tổng giám mục của Buenos Aires từ năm 1998 và đã được Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng lên hàng Hồng Y vào ngày 21 tháng Hai năm 2001 cùng trong một nghi lễ tấn phong Hồng Y với Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận của Việt Nam.

Đức Tân Giáo Hoàng Jorge Bergoglio được sinh ra tại Buenos Aires, trong một gia đình có năm người con của một công nhân đường sắt người Ý. Sau khi học tại chủng viện Villa Devoto, ngài gia nhập Tu Hội Chúa Giêsu vào ngày 11 tháng Ba năm 1958. Ngài hoàn thành cử nhân triết học tại Đại Học Maximo San José ở San Miguel, và sau đó giảng dạy văn học và tâm lý học tại hai trường Inmaculada ở Santa Fe, và Salvador ở Buenos Aires. Ngài được Đức Tổng Giám Mục José Ramón Castellano phong chức linh mục vào ngày 13 tháng 12 năm 1969. Ngài tiếp tục khoa triết học và thần học tại San Miguel và trở thành giáo sư thần học.

Nổi tiếng có tài lãnh đạo, Tu Hội Chúa Giêsu đã bầu ngài làm Giám Tỉnh Argentina từ năm 1973 đến 1979. Năm 1980, ngài trở thành giám đốc chủng viện San Miguel, nơi ngài đã được đào tạo. Ngài phục vụ trong cương vị đó cho đến năm 1986 trước khi sang Đức hoàn thành luận án tiến sĩ và trở về quê hương của mình để phục vụ như là cha giải tội và linh hướng tại Córdoba.

Ngài thay Đức Hồng Y Quarracino vào ngày 28 tháng 2 năm 1998 trong chức vụ Tổng Giám Mục thủ đô Buenos Aires. Ngài cũng đồng thời được bổ nhiệm là Đấng Bản Quyền cho người Công Giáo Đông Phương ở Argentina.
Ngày 21 tháng Hai năm 2001, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tấn phong Hồng Y cho ngài với Hiệu Tòa là nhà thờ Thánh Robert Bellarmino.

Ngài đã được bổ nhiệm vào một số vị trí trong Giáo Triều Rôma như Thánh Bộ Giáo sĩ, Thánh Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích, Thánh Bộ Đời Sống Tận Hiến và các Tu Hội Tông Đồ. Ngài cũng là một thành viên của Ủy ban châu Mỹ La tinh và Hội đồng gia đình.

Đức Hồng Y Bergoglio nổi tiếng với sự khiêm tốn cá nhân, mạnh mẽ bảo vệ các học thuyết Giáo Hội và dấn thân cho công bằng xã hội. Ngài sống trong một căn nhà nhỏ, chứ không phải tại nơi cư trú nguy nga của giám mục.
Dù là Hồng Y, ngài thường sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, và tự mình nấu ăn cho mình.

Sau cái chết của Giáo hoàng John Paul II, Đức Hồng Y Bergoglio, đã được nhiều người coi là một ứng viên sáng giá vào ngôi Giáo Hoàng vào năm 2005.
Nguồn tin: VietCatholic
------------

Sarah Brightman

 Don't Cry For Me Argentina

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mù

Chuyến xe buýt và khúc hát người lính mù


Sài gòn, năm 1980. Lúc đó, cuộc “cách“ cái ”mạng” ngày 30 tháng tư đã năm năm. Nhưng xem ra không khí chiến tranh vẫn còn bao phủ. Đời sống càng ngày càng đi vào bế tắc. Hè đường đầy những người đi kinh tề mới trở về hoặc vượt biên mất nhà sinh sống. Họ trở thành những người không nhà không hộ khẩu sống lây lất trong một thành phố đầy đe dọa. Những trại giam đầy áp người tù, tù chính trị và tù hình sự. Đêm đêm là thời gian của kiểm tra hộ khẩu, của bắt người, của đe dọa chập chờn ngoài cánh cửa. Với người dân thường còn như vậy. Huống chi những người tù bị gọi là “cải tạo” trở về. Đời sống lại càng bị đe dọa hơn biết bao nhiều. Tôi cũng bị ảnh hưởng trong thời thế ấy. Sống bất hợp pháp trong nhà của mình và trong đầu óc lúc nào cũng chờ đợi một chuyến vượt biển ra đi. Cột đèn mà cũng muốn xuất ngoại, huống chi…

Lúc ấy, phương tiện giao thông đi lại hầu như chỉ có xe buýt ở trong thành phố và xe đò đi xa ngoài thành phố. Ở bến xe, sinh hoạt thật nhộn nhịp. Như ở Xa Cảng Miền Tây lúc nào cũng đầy người mà số đông là những người chờ đợi một chuyến xe. Có người phải ngủ đêm chầu chực nhiều ngày. Nhưng nếu có tiền mua vé chợ đen, thì được đi ngay. Bao nhiêu con buôn đi hàng ngày mà còn chở theo hàng hóa cồng kềnh mà đâu có chờ đợi gì đâu. Còn xe buýt, thì là chỗ hỗn tạp. Đi xe luôn phải coi chừng, ăn cắp móc túi như ranh. Chỉ một loáng thôi, dù đã giữ gìn nhưng bị mất mát ngay một cách nhãn tiền. Thời mạt pháp, ai có thân thì giữ...

Trên một chuyến xe, có hai người lính cũ, một mù một què, dắt díu nhau đi hát để kiếm miếng ăn độ nhật. Người què thì dẫn đường cho người mù không có mắt để đi lần theo từng hàng ghế. Họ mặc bộ quần áo trận đã rách te tua bạc phếch nhưng vẫn còn phảng phất đâu đó hình ảnh của người lính thời xưa. Trên tay người lính mù là chiếc dàn mandoline cũ kỹ và anh hát những bản nhạc lính của cuộc chiến ngày cũ đã tàn nhưng còn nhiều hậu quả nhức nhối. Những bản nhạc đã vinh danh những anh hùng như “Huyền Sử Ca Một Người Mang Tên Quốc“ hoặc ”Người Ở Lại Charlie”. Khi hát tôi thấy dường như trong đôi mắt đen đục của người lính mù có chút nước mắt. Đi lần qua những hàng ghế, cũng có những người cho tiền, mặc dù họ không phải là những người khá giả trong xã hội này. Và nếu có một vài chú bộ đội phê bình nào là nhạc phản động, nào là nhạc vàng bị cấm thì họ lại bào chữa bảo vệ ”Người ta tàn tật đi kiếm ăn mà còn làm khó!”...

Trong không khí đe dọa, họ vẫn cất tiếng hát. Hình như, họ đang chiến đấu với tiếng hát của mình. Cờ bay, cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu…Hay : Anh không chết đâu anh người anh hùng mũ đỏ tên Đương… Hay Anh Quốc ơi từ nay trong gió ra khơi từ nay trên cánh mây trôi có hồn anh trong cõi lòng tôi. Ơi những tiếng hát nhắc lại một thời binh lửa mà những người bây giờ đang hát đã hiến dâng cho đất nước những phần thân thể của mình. Tự nhiên, tôi cảm thấy mình xúc động quá. Những người lính thời trước chịu bao nhiêu điều thua thiệt mà bây giờ vẫn còn cất tiếng hát bất chấp đe dọa bất chấp công an để vẳng lên tâm sự của mình. Và qua từng chuyến xe này qua chuyến xe khác, họ vẫn hát dù có khi bị bò vàng bắt hoặc đánh chửi. Những lời hát vẫn cất lên, mặc kệ bạo lực mặc kệ ngục tù.

Có một bài thơ, đã được viết từ cảm xúc đó. Bài thơ ”Chuyến xe bus và khúc hát người lính mù”

Trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
Ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Đắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời ca nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa lúc xa xưa
Khói mịt mù đường chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thưở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giầy buồn còn vết giữa sình lầy
Ôi tiếng hát nhớ những người gục ngã
Ngồi chuyến xe sao vang vọng nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn tim gỗ đá
Thúc hồn người theo nhịp thở chưa quên
Ôi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói trong mắt đời cầu nguyện
Để lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây tàn hơi còn sót lại một đời
Đây ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Vẳng không gian chợt héo một nụ cười
Ta nghe rực cuối hồn trăm bó đuốc
Một đời hoài tìm kiếm ánh đèn soi...”


Bài thơ đó tôi viết ở Sài Gòn năm 1980. Bây giờ năm 2010, như vậy đã ba chục năm. Tôi đã rời thành phố thân yêu và cũng đã định cư ở Hoa Kỳ 30 năm. Hôm nay ngồi đọc tin về Đại Nhạc Hội tổ chức ở ngoài trời “Cám Ơn Anh” để gây quỹ cứu giúp thương phế binh của QLVNCH còn kẹt lại ở quê nhà bỗng dưngsinh ra nhiều hồi tưởng. Bài thơ dắt tôi trở về những ngày tháng năm năm 1975, khi Cộng sản đã chiếm được đất nước đã thẳng tay dã man đuổi tất cả thương bệnh binh trong quân y viện ra ngoài bất kể tình trạng nguy hiểm hay không. Nạn nhân nặng nề nhất ngay lập tức chịu ảnh hưởng thua trận chính là những người thương binh. Biết bao nhiêu là thảm cảnh xảy ra. Không hiểu họ đã xoay sở thế nào để sống còn trong hoàn cảnh cực kỳ bi đát ấy.

Chính Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân Đoàn 4, trước khi quyết định tự sát đã đến thăm thương binh ở quân y viện Cần Thơ lần cuối vì ông biết số phận đáng thương của những người lính này. Trước khi tử tiết, ông đã đến từng giường bệnh để an ủi những người lính đang điều trị tại đây. Ông đã não lòng khi trả lời một câu nói của người lính đang nằm viện : ”Thiếu Tướng đừng bỏ chúng em !”. “Không, Thiếu Tướng không bỏ đâu”. Phải, mặc dù đã đến lúc cờ tàn, ông không còn giúp đỡ gì được những anh hùng nhưng là nạn nhân của cuộc chiến nhưng tấm lòng nhân hậu của ông đã là gương sáng cho đời sau.

Gần đây tôi có đọc một lá thư của một người lính bị tàn phế gửi cho một người bạn từ Việt Nam. Bức thư có nhiều đoạn làm tôi suy nghĩ:

“… Các anh ạ! Bây giờ thì buồn quá! Các anh - những sĩ quan QLVNCH, những người anh của chúng tôi, những Đại Bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của ngày nào một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường... các anh đã có một thời quang vinh và một thời nhục nhã, giờ đây sau 30 năm vẫn lặng lẽ, các anh cũng nhòa đi hình ảnh của ngày xưa?

Các anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc quyền của các anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất mẹ thiêng liêng quên những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ. Xin cảm ơn các anh về những đồng đô la mà các anh gửi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên nỗi nhục nhã mất nước! Chúng tôi cần ở các anh những chuyện khác, các anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không? Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân lệnh những Đại Bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc. Họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gửi vào tận chốn tù đày thăm các anh. Họ đã từng uống với các anh chung rượu ân tình ngày đưa các anh lên phi cơ về vùng đất mới. Họ từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng ngày về vinh quang của QLVNCH.

Nhưng chính các anh đã làm họ oán ghét đến độ khinh bỉ khi các anh áo gấm về làng, chễnh chệ ngồi giữa nhà hàng khách sạn năm sao tung tiền ra để tỏ rõ một Việt Kiều yêu nước. Các anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính VNCH đang lê lết ở ngoài cửa nhà hàng mà các anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các anh với ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội! Không biết khi tôi kết tội các anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các anh hãy tự suy nghĩ một chút sẽ thấy rõ hơn chúng tôi. Tôi không tin là tất cả các anh đã biến thái thành những tên Việt gian nhưng sự trở về như các anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ Quốc và rõ ràng nhất các anh đã phản bội lại chúng tôi…”

Đọc lá thư ấy, lòng tôi như chùng xuống. Mỗi một người đếu có hoàn cảnh cũng như cách chọn lựa riêng nhưng tôi không ngờ rằng trong sâu thẳm của những người lính cũ còn có những nỗi niềm như thế. Sự phân cách quá sâu đậm, những con sông chia cách vẫn chưa thể lấp bằng được. Ngẫm suy lại, từ một khía cạnh nhìn ngắm khác nhau, đã có những khác biệt cho từng hành động…

Tới bây giờ, với những người ở hải ngoại đã không quên các anh, những thương phế binh VNCH. Dù có một số ít vô ý thức trở về nước vui chơi trên nỗi nhọc nhằn của dân tộc nhưng phần đông đều hiểu và tri ân những người lính đã mang xương máu và thân thễ hiến dâng cho đất nước. Ở đại nhạc hôi “Cám Ơn Anh”, hàng chục ngàn khán gỉa đi xem không phải chỉ là đơn thuần mua vui mà là biểu lộ tinh thần biết ơn đối với người lính VNCH. Dù số tiền thu được lên tới cả triệu đô-la nhưng cũng không đủ cho nhu cầu của hàng chục ngàn người lính tàn phế cần giúp đỡ. Nhưng của ít tình nhiều, điều đó mới là đáng quý. Cũng như, với sự tham dự của cả hơn một trăm ca nhạc nghệ sỹ, cùng với cả trăm người thiện nguyện bỏ công sức và cả tiền của cá nhân, thì đó phải hiểu là một thành quả to lớn ở hải ngoại của những người dân luôn luôn tương trợ giúp đỡ nhau. Cám ơn anh! Những thương phế binh đã hiến dâng đời mình cho đất nước…

 Nguyễn Mạnh Trinh




Nguyễn Mạnh Trinh

Bài Xem Nhiều