We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 19 March 2013

Nhục Quốc Thể : Tổ Chức Bán Đàn Bà VN cho TC Không ưng được đổi lại

Tổ Chức Bán Đàn Bà VN cho TC

Một bài phóng sự trên đài truyền hình Pháp, tối hôm qua, nói về chuyện tổ chức bán đàn bà VN cho người Tầu
"Nếu cùng với việc bán nước, chuyện bán đàn bà cho người Tầu không làm chúng ta nổi giận, chắc chúng ta sẽ chấp nhận bất cứ sự sỉ nhục nào." (Từ Thức)
- ĐÀN BÀ VN : Không ưng được đổi lại
Xin chuyển một bài về phóng sự trên đài truyền hình Pháp, tối hôm qua, nói về chuyện tổ chức bán đàn bà VN cho người Tầu. Thú thực, tôi không dám coi hết ,như không có đủ can đảm nhìn vết thương nhầy nhụa trên thân thể mình.
Phóng sự chiếu trên TV cùng ngày với đám tang ông Stéphane Hessel ( Tổng thống Phap chủ tọa ) , tác giả cuốn Indignez-vous ! ( Hãy Nổi Giận ). Nếu cùng với việc bán nước, chuyện bán đàn bà cho người Tầu không làm chúng ta nổi giận, chắc chúng ta sẽ chấp nhận bất cứ sự sỉ nhục nào.
Hy vọng các đài truyền hình Việt nam hải ngoại có cơ hội trình chiếu thiên phóng sự.
Bạn có thể coi phóng sự trên website của FRANCE TELEVISON, đài FRANCE 2, chương trình ENVOYE SPECIAL, ngày 07032013.
Người Pháp kinh ngạc trước màn ảnh truyền hình vì tưởng rằng chế độ nô lệ đã chấm dứt trên thế giới.
Không ưng được đổi lại
Khán giả ti vi ở Pháp sẽ được coi một chương trình đặc biệt vào tối ngày mai, một phóng sự hình ảnh về đề tài, nạn mua bán đàn bà Việt Nam đưa sang Trung Quốc (Les Branches esseulées: Trafic de femmes vietnamiennes en Chine).
Tựa đề “Les Branches esseulées” dịch nguyên văn hai chữ Hán mà người Tầu phiên âm là “Guang-gun,” đọc lối Hán Việt là “Quang Côn.” Quang là sáng, cũng nghĩa là trống trải, như khi ta nói “phong quang, quang đãng.” Côn là cây gậy, có thể dùng để đánh nhau, “Côn quyền ra sức lược thao gồm tài” (Truyện Kiều). Quang côn là cây gậy trơ trụi, là cành cây không lá không hoa. Trong từ điển Hán Việt ghi nghĩa thông dụng nhất của từ này: Quang côn là đàn ông con trai chưa có vợ, độc thân, thường gọi là ế vợ.
Hai nhà báo công ty truyền thông CAPA, Patricia Wong và Gaël Caron, đã bỏ mấy tháng trời theo dõi một chàng trai người Trung Hoa đi mua vợ ở tận vùng gần Sài Gòn, Việt Nam, cách xa làng anh ta 3,500 cây số. Tên anh ta là Xiao Lu, 30 tuổi, chưa có vợ bao giờ. Anh làm công nhân đồn điền trà, ở một làng tên là Ting Xia. Tìm trong các mạng ở Trung Quốc thấy có làng trồng trà có tiếng tên là Thôn Ðình Hạ. Chương trình Quang Côn này sẽ được chiếu trên đài France 2 vào tối Thứ Năm, ngày 7 Tháng Ba 2013 này. Hai nhà báo đi theo anh Xiao Lu trên con đường thiên lý tầm thê đó. Nhưng bài phóng sự cũng mô tả chung nạn mua bán đàn bà con gái từ các nước Việt Nam, Lào, Miến Ðiện và Indonesia, đưa sang Tàu.
Trước đây đã nhiều nhà báo viết về nạn buôn phụ nữ Việt Nam bán sang Tàu, như trên tờ Wall Street Journal đã kể câu chuyện một cô quê ở Nam Ðịnh bị bán sang Quảng Ðông. Cô phải sống ở một làng miền núi, bị gia đình chồng và cả hàng xóm của họ canh giữ nghiêm ngặt không cho trốn đi. Sau cố lén gửi được thư cho gia đình tại Việt Nam, rồi một người anh trai lặn lội đi tìm được làng cô ở và bày mưu cứu cô về. Năm 2004 hai tác giả Valerie Hudson và Andrea den Boer viết cuốn sách tiếng Anh mang tựa đề “Bare Branches,” Cành Trụi, dịch sát hai chữ Quang Côn, trình bày tình trạng nhiều đàn ông ở nước Tầu ế vợ, do nhà xuất bản Ðại Học MIT in.
Bản tin loan báo chương trình Quang Côn, Les Branches esseulées, cho biết những “cô dâu” được “nhập khẩu” qua Tàu, trên nguyên tắc để làm vợ cho các quang côn, những cành cây trụi lá; nhưng họ được đem bán như bán nô lệ. Sớm muộn họ sẽ chạm mặt với thực tế phũ phàng, khác hẳn những gì được ông chồng tương lai hứa hẹn. Họ sẽ lao động cực nhọc ở các làng quê hẻo lánh, ngoài việc lo sinh đẻ. Nhiều cô dâu đã tìm đường trốn đi, nhiều cô đành chịu đựng số phận.
Hai nhà báo Patricia Wong và Gaël Caron bắt đầu chương trình với cảnh mua vợ của Xiao Lu tại vùng phụ cận Sài Gòn. Các quang côn được tập trung tại một khách sạn; họ bị ngăn cản không cho đi đâu, vì bọn lái buôn đã tịch thâu giấy thông hành, hộ chiếu của họ. Rồi họ được đi xem mặt hàng, là các cô gái Việt Nam tuổi ở 20. Một chuyến đi mua vợ như vậy tốn khoảng 5,000 đồng Euro, vào khoảng 8,000 đô-la Mỹ; những cô còn trinh được trả giá cao hơn. Giống như các siêu thị và cửa hàng bách hóa lớn ở Mỹ, khách tiêu thụ không hài lòng với các “món hàng” này có thể đem đổi lấy món hàng khác tương đương,“échangeable” trong nguyên văn. Bọn buôn người gồm cả người Tàu và người Việt.
Trong gian phòng khách sạn, nhà báo quay cảnh Xiao Lu gặp cô dâu tên là Thu Yến, một cô gái quê sợ sệt, nhút nhát. Hai người không thể nói chuyện gì với nhau cả vì ngôn ngữ bất đồng. Tất nhiên không ai mở miệng nói đến chữ “yêu.” Mấy ngày sau, họ về làng của cô gái ở vùng đồng bằng sông Cửu Long làm lễ cưới, một nghi lễ không có giá trị pháp lý. Sau đám cưới, bà mối người Tàu tên là bà Vương (Wang) đưa cho Thu Yến hộ chiếu với visa nhập cảnh Trung Quốc. Mấy ngày sau, Thu Yến về đến nhà chồng, ở một làng trong một thung lũng hẻo lánh; mọi người chung quanh nói thứ tiếng cô không hiểu được.
Trung Quốc có rất nhiều đàn ông ế vợ, một phần vì chính sách của Mao Trạch Ðông chỉ cho phép mỗi cặp vợ chồng có một đứa con, áp dụng cho phần lớn nhưng không phải tất cả dân Trung Hoa. Vì mong có con trai nối dõi, nhiều người đã giết chết các trẻ sơ sinh con gái, nhiều nhất là ở miền quê; gây ra cảnh trai thừa gái thiếu hiện nay.
Theo báo Nhà Kinh tế (The Economist, March 6, 2010), đầu năm 2010 Viện Khoa Học Xã Hội Trung Quốc (CASS) đã tiên đoán trong mười năm nữa ở nước Tầu cứ năm (5) thanh niên đến tuổi cưới vợ sẽ có một chàng không thể tìm được cô nào để “rước về.” Con số này tính ra dựa trên tỷ lệ số trẻ em trai và gái sinh ra trong khoảng từ 5, 10 năm trước. Vào năm 2020 trong lớp tuổi 19 trở xuống, sẽ có từ 30 đến 40 triệu thanh niên “thặng dư” so với số phụ nữ độc thân cùng tuổi, nghĩa là họ không thể nào có vợ - trừ khi nhập cảng phụ nữ hoặc xuất khẩu đàn ông!
Ðể độc giả thấy rõ con số đó lớn hay nhỏ ra sao, báo Economist đã so sánh: Con số 40 triệu này lớn bằng tất cả số thanh niên cùng tuổi ở nước Mỹ vào năm 2020, có vợ hoặc chưa có vợ. Trong lịch sử loài người, trong thời gian không có chiến tranh, chưa bao giờ một nước nào trên thế giới lại “chứa” một lực lượng đàn ông độc thân và ế vợ cao đến thế. Nếu so sánh với Việt Nam thì con số 40 triệu đó cũng xấp xỉ một nửa dân số nước ta, tức là gần bằng tổng số người đàn ông, con trai người Việt, kể từ trẻ sơ sinh tới các cụ già.
Trong các xã hội bình thường, cứ 100 trẻ em gái sinh ra thì có từ 103 đến 106 trẻ sơ sinh con trai. Vì trẻ em con trai dễ bị chết yểu hơn con gái, cho nên khi chúng lớn lên đến tuổi lập gia đình thì số trai gái cao xấp xỉ bằng nhau. Nhưng tại nhiều nước hiện nay tỷ lệ 100 gái/105 trai không còn nữa. Trong những năm từ 1985 đến 1989, tỷ lệ nam nữ ở Trung Hoa đã chênh lệch thành 100/108, tức là 100 bé gái thì có 108 bé trai. Trong những năm từ 2000 đến 2004, tỷ lệ càng nghiêng lệch thêm, 100 bé gái sinh ra thì sinh 124 bé trai. Tại nhiều tỉnh ở miền Nam và Trung nước Tầu, tỷ lệ này lên tới 100/130 hay 140.
Tỉnh Quảng Ðông, ở sát nước ta, là nơi cứ 100 em gái ra đời thì có 120 em trai. Ðến năm 2025, 2030, cứ 100 cô gái sẽ có 120 cậu trai muốn cưới làm vợ. Nếu trong mươi năm tới ở tỉnh trù phú nhất Trung Quốc này, mà có độ dăm, mười triệu thanh niên ế vợ, thì có ảnh hưởng gì tới xã hội Việt Nam hay không?
Chương trình ti vi trên đài France 2 chắc sẽ làm các khán giả người Pháp kinh ngạc. Nhưng đối với khán giả người Việt Nam thì chắc đó cũng là một mối sỉ nhục. Trong lịch sử nước ta chưa bao giờ có cảnh phụ nữ được đem bày hàng để bán, với điều kiện “không hài lòng thì đổi” để tận tình phục vụ người tiêu thụ. Chỉ dưới chế độ “ưu việt” kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay mới biến các cô gái thành hàng hóa xuất khẩu như vậy. Nhưng sau khi cảm thấy tủi nhục, người Việt Nam còn lo ngại nữa.
Có một quy luật dân số học, trong quá khứ, nhận thấy rằng các nước nhiều thanh niên ế vợ thường hay gây chiến với lân bang. Khi dân số nước đó tăng lên nhanh hơn khả năng sản xuất, số thanh niên trai tráng nhiều hơn, đa số trong tuổi lao động bị thất nghiệp, quá nhiều người không thể nào kiếm được vợ vì thừa trai thiếu gái, thì chiến tranh có thể giúp giải quyết cả ba vấn đề một lúc: thất nghiệp, dân số đông, và đàn ông ế vợ. Chính quyền một quốc gia quá đông “quang côn” thấy đó là một cách giải quyết số đàn ông thặng dư. Nếu không, đám thanh niên “bức xúc” và bất mãn đó sẽ dùng thời giờ không làm việc để gây tội ác, hoặc quay ra làm cách mạng, nổi loạn chống chính quyền. Không phải cuộc chiến tranh nào cũng xẩy ra vì quá nhiều thanh niên ế vợ; nhưng trong một xã hội mà số đàn ông thặng dư đông quá thì, khi kinh tế suy yếu, người cầm quyền thường gây chiến.
Ở Trung Quốc, ông Tập Cận Bình mới nhậm chức đã gia tăng ngân sách quân sự, tỷ số gia tăng lớn quá đến nỗi Bắc Kinh phải lên tiếng giải thích, khi nhiều quốc gia tỏ ý lo ngại. Ông Tập Cận Bình tăng ngân sách quốc phòng chỉ để mua chuộc các tướng lãnh Trung Quốc? Hay ông đang lo trước vấn đề do 35 triệu quang côn sẽ gây ra trong mươi năm sắp tới?
Phóng sự này trên website của FRANCE TELEVISON, đài FRANCE 2, chương trình ENVOYE SPECIAL, ngày 07-03-2013.
Người Pháp kinh ngạc trước màn ảnh truyền hình vì tưởng rằng chế độ nô lệ đã chấm dứt trên thế giới
Hãy vào đây để thấm đau nỗi nhục nhã của phụ nữ Việt trong Xã Hội Chủ Nghĩa của Cộng Sản Việt Nam.
Envoyé spécial Trafic de femmes vietnamiennes en Chine 07 mars 2013 1sur3
Envoyé Spécial -2/3 Trafic de Femmes Vietnamiennes en Chine

Envoyé Spécial -3/3 Trafic de Femmes Vietnamiennes en Chine
Ngô Nhân Dụng

Hồn Việt Qua Quốc Kỳ & Quốc Ca VNCH


Việt Nam Cộng Hòa là chính thể duy nhất trên trái đất không còn tồn tại trên pháp lý suốt gần bốn thập niên qua nhưng linh hồn của chính thể ấy vẫn ấp ủ trong từng trái tim con dân Việt lưu vong, vẫn sinh động trong các sinh hoạt truyền thống hằng năm. Thể chất của chính thể ấy ngày càng hồi sinh trên chính trường quốc tế qua hai tổ chức Hướng Đạo VNCH, Văn Bút VNCH còn tồn tại ở Liên Hiệp Quốc; và nhất là qua những Nghị Quyết của các chính quyền địa phương của các quốc gia sở tại; công nhận Quốc Kỳ và Quốc Ca VNCH như là biểu tượng hợp pháp duy nhất của các cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới. Năm 2004 là một mốc lịch sử đánh dấu sự trường tồn thần thánh ấy qua sự kiện Quốc Kỳ VNCH phất phới bay trên đỉnh ngọn núi cao nhất thế giới Everest thuộc dãy Himalaya hôm 17/5. Năm 2012 cũng là một mốc lịch sử đánh dấu sự trường cửu hùng hồn ấy qua sự kiện Quốc Thiều VNCH được trổi lên bởi dàn nhạc đại hòa tấu phủ Tổng Thống Ukraine hôm 16/8. Hai sự kiện chính này và vô số các sự kiện khác đã được lưu lại trong DVD “Hồn Việt” đã ra mắt khắp nơi và sẽ ra mắt tại địa phương hôm 23/3 tại hội trường Hollywood Center, lúc 3 giờ chiều.
Quốc Kỳ và Quốc Ca của dân tộc Việt có quá trình hình thành hợp pháp không thể chối cãi theo dòng lịch sử; bất chấp tuyên truyền phá hoại và nỗ lực xóa bỏ của chế độ bán nước hiện nay. Từ Long Tinh Kỳ (1802-1885) thời Nhà Nguyễn mở mang bờ cõi đến Đại Nam Quốc Kỳ (1885-1890) thời Đồng Khánh, Cờ Vàng (hai sọc rưỡi màu đỏ) thời kháng Pháp (1890-1920); từ Long Tinh Kỳ II (1920-1945) Cờ Vàng( một sọc đỏ lớn) trở lại Long Tinh Kỳ I (nền vàng hai sọc đỏ rưỡi) thời chiến tranh chống Nhật. Cờ Vàng( ba sọc đỏ) có từ 2/6/1948 là ngày thành lập quốc gia Việt Nam độc lập trong Liên Hiệp Pháp do Quốc Trưởng Bảo Đại, vị vua yêu nước và hiếu sinh bị CSVN ép thoái vị và cướp ấn tín bằng võ lực, vị quốc trưởng đầu tiên của chính thể độc lập, tự do và dân chủ Việt Nam Cộng Hòa đứng đầu.

Lá cờ này từng ngạo nghễ bay khắp nơi trong nước; ở các tòa đại sứ VNCH khắp thế giới trước 1975; trên cổ thành Quảng Trị được chiếm lại từ tay giặc Cộng hôm 16/9/1972 và hôm nay đang tung bay trong gió trước các tòa thị chính tiểu bang và thành phố nơi có người Việt lưu vong cư ngụ. Cờ Vàng vẫn tiếp tục được biểu dương tại các lễ hội do LHQ; do chính phủ của các quốc gia, các tiểu bang và các thành phố tổ chức. Và dĩ nhiên tại các dịp lễ tết truyền thống do các cộng đồng người Việt tổ chức khắp nơi. Sự kiện Cờ Vàng bay trên đỉnh ngọn Everest hôm thứ sáu 17/5/2004 là một ngoại lệ. Đó là nỗ lực cá nhân và kỳ công của kiến trúc sư Hùynh Lương Vinh, thay mặt cho người Việt yêu tự do dân chủ lưu vong khắp thế giới, cho thế hệ một rưỡi của ông như ông tự nhận và cho cả đồng bào ruột thịt trong nước đang đau khổ dưới chế độ độc tài Đảng trị khát máu, bán nước hại dân và tham nhũng thối nát hiện nay. Nỗ lực và kỳ công ấy xuất phát từ tình bằng hữu của ông với nhà thám hiểm chuyên nghiệp Craig Van Hoy 46 tuổi năm ấy, một thể tháo gia Mỹ hiểu rõ tâm tư nguyện vọng của ba triệu nạn nhân cộng sản lưu vong gốc Việt ở hải ngoại. Chúng ta ghi công kiến trúc sư Vinh bao nhiêu thì cũng biết ơn nhà thám hiểm Craig Van Hoy bấy nhiêu. Sự nhục nhã của lá cờ MTGPMN bay trên nóc dinh Độc Lập hôm 30/4/1975, sự cô quạnh của lá cờ máu trên nóc các tòa đại sứ CSVN bị cô lập khắp nơi ở hải ngoại làm sao sánh nổi hào quang của lá Cờ Vàng đang hồi sinh khắp nơi, đang phất phới ngập các nẻo đường phố thị hải ngoại và đang ngạo nghễ trên đỉnh cao 29,035 feet (gần 9km) của ngọn Everest, thượng tầng trái đất!

Cũng như Quốc Kỳ VNCH, Quốc Ca đã có lịch sử hình thành theo vận nước và lịch sử dân tộc. Từ “Đăng Đàn Cung” dùng suốt 300 năm Triều Nguyễn đến “Tiếng Gọi Công Dân” thời kháng Pháp dùng đến nay. “Đăng Đàn Cung” có lời như sau: “Dậy dậy mở mắt xem toàn châu – Đèn khai hóa rạng khắp toàn cầu – Ngọn đường thông thương ngàn dặm... Đất càng ngày càng rộng – Dân giàu nước mạnh – Nước càng ngày càng thịnh”. Một lời ca khác của “Đăng Đàn Cung” dựa theo nội dung “Hiến Pháp” Việt Nam đầu tiên của Lý Thường Kiệt (Nam quốc sơn hà Nam đế cư . . .) là “Đây núi vàng bể bạc – Có sách Trời sách Trời định phần – Một lòng yêu non sông vững chặt – Đã được ngàn mấy trăm năm – Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc . . . Nguyện nhà Việt Nam muôn đời thạnh trị”.

Sau Hiệp Ước Patenôtre 1884 với chế độ bảo hộ Pháp, bài “Đăng Đàn Cung” chỉ còn dùng trong triều đình Huế. Tại các lễ lạc do người Pháp tổ chức chỉ có quốc ca Pháp “La Marseillaise” với lời ca của Charles J. Rouget de Lisle được dùng. Dân Việt bị trị phải đọc trong lớp trước giờ học bài “Nos Ancêtres Sont Les Gaulois” lời lẽ như sau: “Allons- enfants de la patrie – Le jour de gloire est arrivé – Contre nous de la tyrannie – LÉtendard sangglant est levé – Aux armes citoyens – Formez vos bataillons – Marchons, marshons! – Quun sang impure – Abreuve nos sillons”. Pháp bị Hitler chiếm nửa nước; nửa kia dưới sự lãnh đạo của chính phủ Vichy do Thống Chế Pétain cầm đầu, “La Marseillaise” bị thay thế bằng “Maréchal Nous Voilà” với lời lẽ như sau “Maréchal nous voilà – Devant toi le sauveur de la France – Nous jurons nous tes gars – De server et de suivre tes pas – Maréchal nous voilà – Ton nom a redone lespérance – La patrie renaitra – Maréchal, Maréchal nous voilà!”

Không thể chấp nhận hai bài hát trên, giới trí thức quốc gia đã sáng tác các bài hát cho các phong trào yêu nước. Phong trào “Khỏe Vì Nước” có Hùng Lân với lời ca tiểu khúc như sau “Khỏe vì nước kiến thiết quốc gia – Đoàn thanh niên ta góp tài ba – Tạo nguồn dân sinh mới – Hùng mạnh trong năm giới – Hợp lưng xây hưng thịnh chung nước Nam – Khỏe vì nước chí khí cương kiên – Giống Lạc Hồng uy hùng vô biên – Trong khốn nguy can trường – Sống thác ta coi thường – Việt Nam thanh niên anh dũng muôn năm!”; và điệp khúc như sau: “Thanh niên ơi hồn thiêng núi sông đợi chờ - Nơi tay ta toàn dân ngóng trông từng giờ - Mang máu anh hùng ta đừng làm nhơ máu anh hùng – Trai nước Việt phải nêu đèn sáng thế giới soi chung – Dân sinh yếu nhược lôi ta đến đường vong quốc – Dân sinh dũng cường đưa ta đến đà vinh quốc – Mau gây lấy phong trào khỏe khắp nơi xa gần – Cho dân trí quật cường và hưng phấn nghìn đời không mờ ánh duy tân!”. Như thể lịch sử lại tái diễn, câu “Dân sinh yếu nhược lôi ta đến đường vong quốc” chính là thành quả vĩ đại nhất của cái gọi là “cách mạng tháng 8” của đảng CSVN hiện nay!

Song song với phong trào “Khỏe vì Nước” còn có phong trào “Hướng Đạo” của Baden Powell lập nền tảng ở Việt Nam từ năm 1937 với các cuộc cắm trại ngoài trời; tạo tinh thần tập thể và kỷ luật đồng ngũ là các yếu tố căn bản cho quân đội quốc gia sau này. Dễ nhớ nhất là bài ca “Ce nEst quUn Aurevoir” (Tạm Biệt) có lời lẽ như sau: “Faut-il nous quitter sans espoir – Sans espoir de retour – Faut-il nous quitter sans espoir – De nous revoir un jour . . . Car lidéal qui nous rassemble – Vivra dans lavenir – Car lidéal qui nous rassemble – Saura nous réunir!”. Điều này cho thấy người Pháp cai trị về chính trị, quân sự và kinh tế nhưng vẫn giúp phát huy cùng lúc về văn hóa truyền thống dân tộc, văn minh phương Tây và y tế cho dân thuộc địa; không dựng lên một xã hội bần cùng và trụy lạc như hiện nay như người Việt cộng sản “tự (trừng) trị” đồng bào của mình!

Xuất phát từ các phong trào ấy, nhạc sĩ Hùng Lân đã sáng tác bài “Việt Nam Minh Châu Trời Đông” nhạc uy linh như quốc ca Hoa Kỳ, lời sang cả và uy dũng không kém “La Marseillaise” lại không sắt máu như cộng sản; đáng tạm làm quốc ca với lời lẽ như sau: “Việt Nam minh châu trời Đông – Việt Nam cháu Tiên con Rồng – Non sông như gấm hoa uy linh một phương – Xây văn minh sáng soi bên Thái Bình dương – Bóng ai còn vương cỏ hoa – Thề đem tấm thân đền đáp sơn hà – Nay ta cương quyết mang lời thề ước – Mong đem thân thế ra báo đền ơn nước”. Bài “Hùng Vương” của nhạc sĩ Thẩm Oánh xuất hiện hôm 9/3/1945 xứng đáng để dùng trong các lễ Giỗ Tổ hàng năm với lời lẽ như sau: “Bốn nghìn năm văn hiến – Nước nam khang cường – Là nhờ công đức tiền nhân – Nay cháu con một lòng sắt son câu thề - Nguyện khói hương say đời đời nhờ Hùng Vương đã vì cháu con lập non nước này!”.

Trong bối cảnh phe Đồng Minh thắng trận sau đệ nhị thế chiến, người Pháp trở lại toan tái lập chế độ bảo hộ cũ, Văn Cao và Lưu Hữu Phước đã sáng tác các bài ca cổ động lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu và hy sinh vốn đã bị đảng CSVN lợi dụng tối đa; thậm chí còn ép tác giả gia nhập đảng CS sau đó. Người bất khuất không chịu gia nhập như Văn Cao- tác giả bài “Tiến Quân Ca” lời lẽ nồng nặc mùi tử thi và sặc sụa mùi tanh của máu đã bị Đảng LĐVN (CSVN) cướp dùng làm “quốc ca” VNDCCH và CHXHCN hiện nay - bị chế tài kinh tế cho đến chết. Đồng bào miền Bắc bị rợ Hồ cướp vàng để dâng cúng cho hai tướng Lư Hán và Tiêu Văn của Tưởng Giới Thạch vào giải giáp quân Nhật; đã chế diễu đoàn quân ô hợp này; sửa lời bài “quốc ca” này như sau “Đoàn quân Tàu Ô đi sao mà ốm đói – Bước chân phù lang thang cõi trời Việt Nam . . .”. Đặng Tiểu Bình biết chủ nghĩa cộng sản sẽ sụp nên đã bỏ bài “Quốc Tế Ca” từ khi theo Mỹ xây dựng tư bản chủ nghĩa; còn CSVN phải chờ “Ông Liênxô” chết queo mới chịu bỏ bài này; lời lẽ mà các VC Dương Quỳnh Hoa và Trương Như Tảng khi biết bị lừa thì đã muộn màng như sau “. . . toàn dân nô lệ cùng đứng lên – Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa – Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình – Đấu tranh này là trận cuối cùng – International sẽ là xã hội tương lai” (?). Con của VC Hoa đẻ rơi ở Cục R năm 1970 đã chết vì thiếu dinh dưỡng. Con gái VC Tảng nhờ phu nhân TT Thiệu đỡ đầu cho du học Harvard nên mới giúp được bố vượt biên và sống an nhàn để viết hồi ký ở Pháp! Chữ “mình” trong bài phải hiểu là bọn cầm quyền của chế độ thay vì là những công nông dân dại dột hy sinh cả đời cho bọn lường gạt ấy!

Kẻ phục tùng gia nhập như LHP vẫn không thoát nạn bị Đảng ép kiện VNCH về bản quyền bài “Tiếng Gọi Sinh Viên”; còn có tựa là “Sinh Viên Hành Khúc” mà chính phủ Trần Trọng Kim thời Quốc Trưởng Bảo Đại và sau này là TT Ngô Đình Diệm đã chính thức ký sắc lệnh làm Quốc Ca VNCH; chữ “thanh niên” được sửa thành “công dân” như sau: “ Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi – Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống – Vì tương lai quốc dân cùng xông pha khói tên – Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền – Dù cho thây phơi trên gươm giáo – Thù nước lấy máu đào đem báo – Nòi giống lúc biến phải cần giải nguy – Người dân Nam luôn vững bền tâm trí –Hùng tráng quyết chiến đấu làm cho khắp nơi –Vang tiếng người nước Nam cho đến muôn đời – Công dân ơi, mau hiến thân dưới cờ - Công dân ơi, mau làm cho cõi bờ thoát cơn tàn phá vẻ vang nòi giống – Xứng danh nghìn năm nòi giống Tiên Rồng!”

Ngoại trừ bọn cầm quyền sâu dân mọt nước CSVN bên quê nhà, bọn cơ hội chủ nghĩa Việt gian trở cờ và bọn “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” nằm vùng ở hải ngoại, mọi công dân Việt lưu vong tỵ nạn cộng sản có danh dự đều có bổn phận giữ vững lý tưởng Tự Do, Dân Chủ; nắm vững lá Cờ Vàng ba sọc đỏ thấm máu hàng triệu anh hùng tử sĩ và đồng bào nạn nhân chiến cuộc; cất cao bài Quốc Ca VNCH để phục quốc và xây dựng quê hương hậu Cộng sản mai sau. Thế hệ đầu như các cựu quân cán chính VNCH khắp nơi, thế hệ một rưỡi như Kiến Trúc Sư Huỳnh Lương Vinh ở Portland OR cùng thế hệ con cháu thứ hai như sinh viên Nguyễn Vũ Hoàng Anh ở Texas, rồi thứ ba, thứ tư . . . hiện nay ở hải ngoại hẳn phải tiếp tục giương cao ngọn Cờ Vàng chính nghĩa Tự Do Dân Chủ mà nghị viên Frank Baker đã tin tưởng - như trong DVD “Hồn Việt” trưng dẫn - “sẽ có ngày lại bay ở Việt Nam!”.

Chúng ta có vô số bạn hữu bản xứ như Craig Van Hoy, người đã bảo “tôi căm lá cờ này không chỉ cho người Việt hải ngoại trên thế giới mà còn dành danh dự này cho 80 triệu người Việt trong nước nữa”; như Thị Trưởng Boston- MA Thomas Menino, người đã từ chối tiếp bốn tên Việt Cộng đến từ tòa đại sứ của chúng ở thủ đô Mỹ; như nghị viên Maura Hennigan, người đã lịch sự đuổi khéo chúng ra khỏi tòa thị chính Boston cùng ngày; như Thị Trưởng Sundre City Roy Cummings, người đã tuyên bố “ngày nào còn sống ở đây, tôi tiếp tục tranh đấu để lưu giữ lá cờ này tại cột cờ của nó”. Cờ Vàng vẫn lộng gió trên chiến hạm USS Midway, trên chiến trường Iraq năm nào; từ chốn làng quê xa xôi như Sundre (Alberta, Canada) đến chốn đô thành náo nhiệt như Washington DC, Paris, Canberra, Sydney, Brussels, Madrid . . . từ cánh áo dài em bé tiểu học, nữ sinh trung học, sinh viên đại học đến cổ áo ĐGH Benedict XVI tại đại hội giới trẻ ở Úc châu; trao tặng bởi thanh niên Phạm Anh Dũng. Quốc thiều VNCH vẫn réo rắt từ những ban nhạc địa phương các dịp lễ hội trong năm đến ban đại hợp tấu National Presidential Orchestra của quốc gia Ukraine hôm 16/8/2012. Quốc ca VNCH vẫn nồng nàn từ hơi thở của con dân nước Việt hải ngoại ở mọi lứa tuổi; hát cho cộng đồng và cho 80 triệu đồng bào sống dưới cùm gông của đảng CSVN.

Đến tham dự đông đủ buổi ra mắt DVD “Hồn Việt” hôm 23/3/2013 tại Hollywood Center là để động viên ban tổ chức và tinh thần Huỳnh Lương Vinh, người vẫn chưa đủ cảm giác ấm áp được yểm trợ bởi tập thể các ban ngành, các huynh trưởng và bằng hữu trong cộng đồng; ủng hộ hiện kim hay mua DVD “Hồn Việt” làm sử liệu cho bạn bè thân thuộc và thế hệ mai sau là giúp Kiến Trúc Sư Vinh chi trả phí tổn tổ chức; bớt đi phần nào gánh nặng mà vợ con ông phải chia sẻ gánh chịu. Và sau cùng, Hồn Việt là Chân Thiện Mỹ. Lưu lấy Hồn Việt để còn là con dân nước Việt; để khỏi phụ công ơn dựng nước của Hùng Vương, công ơn mở mang bờ cõi của các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn . . ., công ơn giữ nước của các anh hùng VNCH –sống cũng như thác- của đệ I và đệ II Cộng Hòa đã không để mất một tấc đất, tấc biển, một hòn đảo nào của tiền nhân để lại và để khỏi phụ lòng bạn bè bản xứ nêu trên./
 
 
 Hà Bắc

Chủ Đề Người Lính VNCH : Trận Chiến Tại Vùng Cà Ná, Mũi Dinh Ngày 18.4.1975

Trận Chiến Tại Vùng Cà Ná, Mũi Dinh Ngày 18.4.1975
(Lời mở đầu: Được sự góp ý của Niên trưởng HQ Thiếu tá Phạm đình San (K10 SQHQNT) cũng như từ chiến hữu thuộc thuỷ thủ đoàn HQ 11, hồi ký Trận Chiến tại vùng Cà Ná, mũi Dinh Phan Rang được bổ túc thêm dữ kiện. HQ 503 bị bắn vào ngày 18.4.1975 thay vì 19.4.1975. Nhớ lại năm xưa, không những riêng tôi mà thiết nghĩ cả thuỷ thủ đoàn HQ 503 đang còn hiện diện trên cỏi đời nầy rất biết ơn tất cả các Hạm trưởng và toàn thể thuỷ thủ đoàn của các chiến hạm như HQ 11, HQ 231, HQ 3, HQ 17, HQ 07 và tất cả chiến hạm hiện diện tại vùng Cà Ná, mũi Dinh đã tham dự trận chiến ngày 18.4.1975, đã cứu nguy HQ 503 ra khỏi vùng chiến đấu. Nếu không có sự tiếp cứu của các chiến hạm, có thể HQ 503 sẽ bị thiệt hại nặng hơn, số tử vong có thể gia tăng và chiến hạm có thể là mục tiêu sẽ bị bắn chìm vì HQ 503 không có đại pháo 76,2 ly hay 127 ly để chống trả đối phương. Xin một phút nghiêng mình tưởng niệm đến các Chiến Sĩ thuộc Thuỷ Thủ Đoàn HQ 503, HQ11 đã Vị Quốc Vong Thân. Nhân đây tôi cũng xin cảm ơn quý Niên trưởng, quý chiến hữu Hải Quân đã cung cấp cho tôi nhiều dữ kiện hửu ích để cho hồi ký được hoàn hảo hơn.

Kể từ chiều 30 tết Ất Mão tức là ngày 10.02.1975, HQ 503 được lệnh phân tán mỏng, từ Sài Gòn ra thả neo tại Vũng Tàu. Rồi sau đó chiến hạm đi công tác liên tục. Hết ra miền Trung, rồi xuống tận Phú Quốc, Côn sơn. Hết ra Quy Nhơn, rồi đến Nha Trang, Cam Ranh, Hàm Tân, Vũng Tàu. Khi chiến hạm có chuyến công tác di tản quân dân cán chính về Sài Gòn thì còn gì vui hơn cho thuỷ thủ đoàn vì họ có dịp về thăm gia đình, bạn bè, người yêu. Ở ngoài biển, trăng đại dương không đủ ánh sáng để viết thư đêm. Lần nầy tàu về bến, lính biển hẹn người tình đi ăn kem, dạo phố. Thế thì tuyệt vời. Nhưng vào đầu Xuân năm ấy tình hình chiến sự ngày càng gia tăng. Quân dân cán chính ở những nơi bị địch xâm chiếm đang mong chờ sự tiếp ứng, cứu vớt, di tản của chiến hạm. Thế là, trong vài ngày ở bến, chiến hạm tiếp nhận nhiên liệu, mua sắm thực phẩm rồi lên đường công tác tiếp.

Chiến hạm.
Tình hình Phan Rang:

Phan Rang thất thủ ngày 16.4.1975. Lúc bấy giờ chiến hạm tôi đang hoạt động trong khu vực chiến đấu cùng với nhiều tàu chiến khác ở vùng biển thuộc vịnh Cà Ná, Mũi Dinh tỉnh Phan Rang trong nhiều tuần lễ qua để cứu vớt quân cán chính và đồng bào đang đổ xô ra biển bằng ghe chạy tỵ nạn cộng sản. Chiến hạm tôi cùng với những chiến hạm khác trong vùng còn có nhiệm vụ chận đứng hoặc giảm thiểu tối đa áp lực tấn công của cộng quân hướng vào Phan Thiết.

Lúc bấy giờ Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Hải Quân vùng 2 Duyên Hải.

Tuy nhiên, cho tới trước ngày 17.4.1975, khi những chiến hạm HQ 3 và HQ 17.v.v. chưa đến tăng viện chiến trường vùng Cà Ná, Phan Rang, thì Hạm trưởng HQ 503 là Hải quân Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) có cấp bậc thâm niên cao nhất tại vùng nhận quyền chỉ huy chiến thuật OTC trong vùng trách nhiệm.

Vào đêm 16.4.1975 chúng tôi nhìn thấy trên quốc lộ 1 nằm sát bờ biển có rất nhiều ánh sáng di động cách nhau từ khoảng 50m đến 70m từ Phan Rang hướng về Phan Thiết. Trợ chiến hạm HQ 231, Hộ tống hạm HQ 11 cũng như nhiều loại chiến đỉnh khác được lệnh dùng hoả lực chận đứng sự di chuyển của cộng quân bằng các loại quân xa chở bộ đội hướng về Phan Thiết vào ban đêm trên quốc lộ 1 sát biển.

Hai chiến hạm nầy đã dùng hoả lực mạnh, đại bác 76,2 ly và đại bác 40 ly để tấn công đoàn xe cộng quân. HQ Thiếu tá Nguyễn văn Phước (K15 SQHQNT), Hạm trưởng Trợ chiến hạm HQ 231 đã tham dự trận chiến kể lại:

„…Ban đêm, quốc lộ 1 sáng rực lên, kéo thành một vệt dài như con rắn, uốn khúc theo sườn núi. Quân xa của địch, mở đèn sáng trưng, chạy nườm nượp như vào chỗ không người. Tôi thở dài: Phan Thiết chắc chắn rồi sẽ mất. Nhưng là chiến sĩ là phải chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. HQ 11 và HQ 231 tắt đèn tối om, tiến vào bờ và bắn trực xạ vào cái đám lúc nhúc đó. Nghe tiếng đại bác, chúng vội vàng tắt đèn đứng im. Chúng tôi cũng ngừng bắn vì không thấy bọn chúng. Khi chúng mở đèn tiếp tục chạy, chúng tôi lại bắn. Thỉnh thoảng một chiếc xe cháy đỏ rực lên là biết trúng đạn của chiến hạm. Địch hoạt động suốt đêm. Chúng tôi cũng bắn phá suốt đêm không biết mệt vì nghỉ đến sự sống còn của đất nước. Chắc có lẻ địch bị thiệt hại nặng và bị ngăn chận không tiến nhanh được.

Phóng đồ những Trận Chiến tại vùng Cà Ná, Mũi Dinh Phan Rang từ ngày 16 đến 18.4.1975
Sáng tờ mờ đã thấy nhiều chiếc T54 của chúng xuất hiện. Trung Tá San quả thật là một hạm trưởng gan lì và nhiệt huyết. Ông cho tàu tiến gần sát bờ đấu súng với T54. Nhưng chiến hạm bị bất lợi vì mục tiêu lồ lộ, còn bọn chúng núp vào khe núi bắn ra. Chúng tôi còn một bất lợi nữa là muốn tác xạ chính xác, chiến hạm phải luôn luôn di chuyển để giữ đúng huớng. Ngừng tại chỗ, gió và sóng biển sẽ làm chiến hạm xoay, không thể bắn chính xác được. Còn nếu tiếp tục chạy đưa mũi tàu vào bờ, đến một lúc nào đó, phải quay ra, lúc đó là mục tiêu cho địch bắn. Cho tàu chạy song song với bờ thì cũng là mục tiêu tốt cho địch.

Chúng tôi chỉ có hai, còn chúng vô số kể. Tàu HQ 11 bị bắn trúng pháo tháp 40 ly và hầm máy. Một thượng sĩ đứt đầu chết tại chỗ, vài thủy thủ bị thương nặng. Trong khi đó, một trung đoàn của sư đoàn 2 bộ binh, án ngữ mũi Cà Ná, bị VC tràn ngập, các đơn vị của ta rút xuống biển, Dương vận hạm HQ503, Hạm trưởng Trung tá Nguyễn văn Lộc, có nhiệm vụ bốc các chiến sĩ của ta lên. …“

Đúng vậy, sáng sớm hôm sau 17.4.1975, lúc tôi đang đi phiên, hiện diện trên đài chỉ huy thì được biết Hộ Tống Hạm HQ 11, HQ Thiếu tá Phạm Đình San (K10 SQHQNT) là Hạm trưởng, đang tiến vào bờ để quan sát tình hình.

Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ 11

Vì khoảng cách giữa HQ 503 và HQ 11 hơi xa nên tôi không nhận diện rõ vị trí của HQ 11. Qua vô tuyến tôi có nghe các Hạm trưởng liên lạc với nhau. Trong phút chốc chúng tôi nghe đạn pháo từ bờ bắn ra chiến hạm. Theo như nhân viên thuỷ thủ đoàn đã hiện diện trên đài chỉ huy HQ 11 lúc bấy giờ cho biết thì đó là pháo từ những xe tăng T54 của cộng quân trên bờ bắn ra hướng về chiến hạm HQ 11. Cũng qua vô tuyến tôi được nghe từ HQ 11 cho biết rằng chiến hạm HQ 11 đã bị trúng đạn làm cho 1 thượng sĩ tử thương và 2 thuỷ thủ bị thương. Tức thời, tất cả chiến hạm đang hiện diện gần bờ đã nhanh chóng rút ra xa khỏi bờ. Được biết, cộng quân đã dùng cả xe quân sự lẫn xe dân sự để chuyển quân vào Phan Thiết sau khi Phan Rang lọt vào tay cộng quân.

Chiến hạm HQ 503 lúc đó đang thả neo cách xa bờ để cho dễ dàng liên lạc và tiếp nhận quân cán chính từ bờ được chuyển bằng ghe nhỏ ra chiến hạm. HQ 503 cũng vội nhổ neo và di chuyển lên hướng mũi Dinh để tiếp tục cứu vớt quân dân cán chính đang tìm cách di chuyển ra chiến hạm.

Kể từ chiều ngày 17.4.1975, Tuần Dương Hạm HQ 17, HQ 3 đến tăng viện cho chiến trường. Hải quân Trung tá Trương Hửu Quýnh (K11 SQ HQNT) là Hạm trưởng HQ 17 có cấp bậc thâm niên nhất, nhận quyền chỉ huy chiến thuật (OTC) thay thế Hạm trưởng HQ 503.

Cũng theo như HQ 11 cho biết, khi HQ 17 và HQ 3 nhập vào vùng chiến cũng bị cộng quân từ bờ bắn ra, nhưng may mắn các chiến hạm không bị trúng đạn của cộng quân.

HQ 503 khi còn là OTC, từ những ngày trước, chiến hạm tôi nhận lệnh phải cứu Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi đang lẩn tránh trong núi và tìm cách lên tàu. Lúc bấy giờ ông dùng biệt hiệu là Vương Hồng và liên lạc qua hệ thống truyền tin bằng âm thoại (máy PRC 25) với chiến hạm của tôi sau khi Phan Rang thất thủ.

Trong suốt thời gian liên lạc với biệt danh Vương Hồng, chúng tôi thấy trên núi gần bờ biển mũi Dinh có tín hiệu bằng gương phản chiếu ánh sáng mặt trời chiếu ra. Chiến hạm tôi tức thời di chuyển đến gần bờ hơn để nhờ các ghe nhỏ chạy ngang qua vào đón ruớc và sẽ trả tiền hoặc đưa dầu Diesel cho họ.

Lần nầy khi chiến hạm vào gần bờ giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh thì cứu vớt thêm một số quân Biệt Kích từ trong bờ đi ghe nhỏ ra chiến hạm. Số Biệt Kích cho biết trong bờ còn có bạn bè đồng đội nữa. Vì vậy mà chiến hạm tôi di chuyển chậm chạp gần bờ, gần nơi có gương phản chiếu trên bờ, để chờ những ghe chở quân nhân ra chiến hạm tiếp tục. Mặc dù vậy, ở vùng đó HQ 503 không bị pháo của cộng quân.

Ra hải ngoại nhờ xem bản đồ trên google, qua không ảnh của vệ tinh, tôi mới hiểu, sở dĩ cộng quân không thấy chúng tôi là vì đại bác của cộng quân được đặt trụt vào phía trong vịnh Cà Ná. Ngay tại mũi Cà Ná, thì mõm đá gồ ghề, đại pháo của cộng quân không thể kéo ra được và đặt tại đó. Ngoài ra, cộng quân sợ ta dễ dàng phát hiện vị trí đặt đại pháo của chúng và có thể bị phá huỷ bởi hải pháo của ta. Vì thế tầm quan sát của cộng quân từ bờ ra vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh bị giới hạn. Chúng chỉ có thể quan sát ở phía trước vịnh Cà Ná mà thôi. Nhờ vậy, chúng đã không thể phát giác ra HQ 503 khi cứu vớt quân cán chính lên chiến hạm vì tầm nhìn đã bị đồi núi ở mũi Cà Ná che khuất. Nhưng nếu chiến hạm nào chạy đến gần mũi Cà Ná thì cộng quân có thể phát giác được và có thể bị đại pháo của chúng từ bờ bắn ra vì mục tiêu lọt vào tầm quan sát của chúng.

Thật vậy, vào buổi chiều ngày hôm trước, khi HQ 503 còn ở phía Nam mũi Cà Ná, chúng tôi có xem thấy 1 chiếc PCF vừa di chuyển từ mũi Dinh ở phía Bắc xuống phía Nam. Khi chiến đỉnh PCF vừa chạy ngang qua mũi Cà Ná, cách khoảng 3 hải lý, thì bị đại pháo cộng quân bắn ra. Tôi và các sĩ quan HQ 503 có nhìn thấy vài quả đạn của cộng quân bắn rơi gần chiến đỉnh PCF. Tức thời PCF lấy mũi hướng ra khơi và chạy hết tốc lực. Chốc lát đã thấy PCF rời xa mũi Cà Ná. Cũng chính gần chổ biển nầy mà ngày hôm sau HQ 503 bị bắn.

HQ 503 bị pháo của cộng quân:

Vào sáng ngày 18.4.1975, HQ 503 trở lại vùng biển giữa mũi Cà Ná và mũi Dinh để cứu vớt thêm một số quân cán chính được các ghe đánh cá chở ra chiến hạm. HQ 503 di chuyển lên xuống gần đó.

Khoảng 16:50 giờ chúng tôi, tất cả sĩ quan trên chiến hạm gồm có Hạm trưởng, Hạm phó, sĩ quan đệ nhất cho tới sĩ quan kém thâm niên nhất trên chiến hạm ngoại trừ các sĩ quan đương phiên đều đang hiện diện trong Carre sĩ quan để dùng cơm chiều. Thông thường như mọi ngày, sau khi ăn cơm xong, sĩ quan nào có nhiệm vụ đi ca thì rời khỏi phòng để chuẩn bị lên thay thế ca đương nhiệm trên đài chỉ huy. Số sĩ quan còn lại thì ngồi trò chuyện trong phòng ăn sĩ quan hoặc tự do.

Trong lúc vừa ăn vừa trò chuyện thì cơ khí trưởng Đại uý Hà (SQ HHTT) cho biết hệ thống nước ngọt của chiến hạm bị hư đang được sửa chữa. Cơ khí trưởng Hà xin phép Hạm trưởng và đề nghị HQ Trung uý Trần Ngọc Điệp (K1 SQOCS) đang trưởng phiên cho tắt máy trong chốc lát để sửa chữa tiếp tục. Đuợc Hạm trưởng chấp thuận, xong bửa ăn, Đại uý Hà rời Carre sĩ quan đi xuống hầm máy. Sau đó Đại uý Hà liên lạc với Trưởng phiên đương nhiệm là Trung uý Điệp và cho ngưng cả 2 máy tả và hửu của chiến hạm. Cá nhân tôi và vài sĩ quan khác cũng sắp sửa rời phòng ăn để chuẩn bị lên đài chỉ huy đổi phiên lúc 17:30 giờ. Trong lúc chiến hạm đang tắt máy và xuôi theo giòng nước khoảng 17:15 giờ, mũi chiến hạm hướng về phía Nam, gần bờ biển mũi Cà Ná, cách bờ khoảng 5-7 cây số thì pháo của địch từ bờ bắn ra. Thế là nhiệm sở tác chiến được ban hành từ đài chỉ huy khi quả đạn đầu tiên của địch quân rơi gần chiến hạm. Hạm trưởng rời phòng ăn, tức tốc chạy lên đài chỉ huy. Tất cả thuỷ thủ đoàn và sĩ quan trên tàu đều nhanh chóng đến vị trí nhiệm sở tác chiến của mình.

Tôi vội chạy vào phòng ngủ để lấy nón sắt chạy đến nhiệm sở tác chiến. Phòng ngủ của tôi nằm dưới sân thượng và bên phải của chiến hạm. Lúc đó phòng ngủ của tôi nằm hướng bên bờ. Khi tôi vừa rời phòng trong giây lác thì một quả đạn 105 ly rơi trúng ngay phòng tôi nổ tung. Một mảnh đạn bắn xiên lên phòng truyền tin nằm ở chính giữa chiến hạm, phía dưới sân thượng, gần Carre Sĩ quan làm cho HQ Trung uý Nguyễn Anh Kỳ (K21 SQHQNT), trưởng ban Truyền tin, tử thương. Phước lớn cho tôi.

Một quả đạn khác rơi gần khẩu đại bác 40 ly đôi ở phía sau lái của chiến hạm. HQ Trung uý Phạm Nghĩa Vụ (K20 SQHQNT) trưởng khẩu bị thương. May mắn cho Tung uý Vụ thoát khỏi lưởi hái của tử thần.

Loạt đạn pháo kế tiếp của cộng quân được bắn, chiến hạm tôi tiếp tục bị trúng đạn. Một quả pháo 105 ly rơi vào đài chỉ huy, gặp phải ghế ngồi của Hạm trưởng, nổ tung làm cho 3 sĩ quan là HQ Trung uý Trần Ngọc Điệp (K1 SQOCS), HQ Trung uý Độ (tương đương K21 SQHQNT) và HQ Thiếu uý Trần Thanh Nghị (K23 SQHQNT) cùng 2 nhân viên Giám lộ đương phiên bị tử trận. Hạm trưởng HQ Trung tá Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) đang đứng ngay ở ống liên lạc trước đài chỉ huy xuống phòng lái điện ở tầng dưới đài chỉ huy để ra lệnh, thì bị những mảnh kiếng của đài chỉ huy vỡ bể cũng như mảnh đạn nổ văng trúng vào cổ, vào vai, vào đầu người của Hạm trưởng. Hạm trưởng bị thương và máu chảy ra rất nhiều. May mắn cho Hạm trưởng, đã thoát chết.

HQ Trung tá Nguyễn Văn Lộc vừa được thuyên chuyển lên HQ 503 thay thế HQ Trung tá Dương Bá Thế (K10 SQHQNT), nhận quyền chỉ huy và là tân Hạm trưởng HQ 503 đi chuyến công tác đầu tiên.

Đài chỉ huy của chiến hạm bị hư hại nặng. Hệ thống điện bị trở ngại. Tay lái điện bất khiển dụng. Chiến hạm bị lao đao. Hạm phó là HQ Đại uý Hùng (K16 SQHQNT), từ phòng truyền tin, chạy lên phòng lái điện nằm trực tiếp phía dưới đài chỉ huy, thay thế Hạm trưởng để hướng dẫn chiến hạm di chuyển ra khỏi tầm đạn pháo. Lúc bấy giờ chiến hạm phải sử dụng lái tay nằm dưới hầm máy và rất khó khăn khi điều chỉnh mũi chiến hạm hướng ra khơi để xa bờ. Thay vì tàu chạy ra khơi thì mũi tàu lại hướng vào bờ. Mặc dù Hạm trưởng bị thương nặng nhưng vẫn cố gắng cùng Hạm phó để chỉ huy thuỷ thủ đoàn đưa chiến hạm thoát khỏi vùng nguy hiểm.

Ngay những loạt đạn của cộng quân pháo đầu tiên, Tuần dương hạm HQ 17, HQ 3 và các chiến hạm khác trong vùng đã nhanh chóng tiến đến gần HQ 503 để tiếp cứu, đồng thời nả hải pháo 127 ly và 40 ly vào vị trí đặt đại pháo của cộng quân. Hạm Trưởng HQ 17 cùng khoá 11 SQHQNT với HT HQ 503.

Theo như HQ 11 cho biết, lúc đó Hộ tống hạm HQ 11 đang công tác tuần tiểu tại phía Nam mũi Cà Ná, cách đó vài, ba hải lý, vội vàng nhấn còi nhiệm sở tác chiến, hai máy tăng tốc tối đa, vừa chạy đến gần HQ 503 để tiếp ứng, vừa nả hải pháo 76,2 ly vào nơi pháo của cộng quân bắn ra. Đồng thời Hạm trưởng HQ 11 Phạm đình San ra lệnh cho thuỷ thủ đoàn vận chuyển dây thừng cở to từ hầm chứa lên boong để sẵn sàng giòng kéo HQ 503 vì tưởng rằng HQ 503 không thể rời khỏi vùng chiến đấu được.

Tình chiến hữu, tình đồng đội, tình chiến hạm là ở chổ đó! Mà đúng vậy, Hạm trưởng Phạm Đình San là khoá đàn anh (K10 SQHQNT) và cũng là bố của Hạm trưởng Nguyễn văn Lộc (K11 SQHQNT) khi còn trong quân trường theo truyền thống (bố con) của Hải Quân VNCH.

Những quả đại bác của cộng quân nổ chát chúa khắp nơi xung quanh chiến hạm HQ 503 xảy ra liên tục. Chiến hạm HQ 503, loại Dương vận hạm, vừa to lớn cồng kềnh mà hệ thống điện lại vừa bị hư hại nên di chuyển rất khó khăn. Tưởng rằng chiến hạm khó có thể ra khỏi vùng bị pháo. Mỗi khi chiến hạm bị trúng đại pháo của cộng quân thì khắp nơi trên chiến hạm rung chuyển. Những mảnh đạn pháo trúng vào thành tàu, khung tàu, va chạm lẫn nhau phát ra những âm thanh tử thần vang dội và tưởng rằng chiến hạm có thể bị chìm.

Trong khi chiến hạm chúng tôi đang lạng quạng, mũi đang hướng vào bờ thì bị loạt đạn kế tiếp của cộng quân pháo tới. Nhưng có lẽ xạ thủ của cộng quân tính sai nên nguyên loạt đạn quá tầm. Tất cả rơi ra khơi, rớt xa chiến hạm. Rồi sau đó ngừng hẳn. Có lẽ đại pháo của địch bị trúng đạn hải pháo từ các chiến hạm của ta nên chúng bất khiển dụng.

Sau khoảng 1 giờ 30 phút giao tranh thì cộng quân không còn bắn đại pháo vào chiến hạm tôi nữa, mặc dù chiến hạm tôi vẫn còn nằm trong tầm pháo của cộng quân. Chiến hạm đã bị trúng tổng cộng trên 10 quả pháo. Số lượng đạn cộng quân bắn ra chiến hạm HQ 503 khoảng 40 quả hoặc nhiều hơn. Hầu hết đạn pháo của cộng quân rơi xung quanh chiến hạm. Một số trúng phía sau lái của chiến hạm, từ đài chỉ huy trở về sau. Chỉ có một vài quả đạn trúng bên hông giữa chiến hạm. Nhưng rất may là không quả đạn nào trúng lườn chiến hạm ở dưới mặt nước cả. Chiến hạm không bị vô nước.

Trên chiến hạm chở khoảng 350 đồng bào chạy tị nạn gồm các quân dân cán chính đã được cứu vớt trước đó mấy ngày nhưng không ai bị thương vì họ tạm trú ở phía trước của boong chiến hạm.

Sau nầy kiểm soát thì thấy những mảnh đạn 105 và 155 ly. Có thể đó là những khẩu đại pháo 105 và 155 ly của quân lực VNCH bị cộng sản tịch thâu được và chúng di chuyển đến bờ biển vùng Cà Ná mũi Dinh, đặt và nguỵ trang tại đó để bắn thẳng vào chiến hạm chúng tôi - Dương Vận Hạm Vũng Tàu HQ 503.

Tất cả thuỷ thủ đoàn và quân dân cán chính trên chiến hạm rất đau buồn và thương tiếc 4 sĩ quan và 2 nhân viên Giám Lộ của chiến hạm đã hy sinh. Thêm vào đó có 18 thuỷ thủ của chiến hạm bị thương. Máu me lai láng ở phòng ăn sĩ quan, phòng ăn đoàn viên được dùng làm nơi để băng bó vết thương cho thương binh ngay cả ở phòng truyền tin và ở nhiều nơi khác trên chiến hạm.

Mặc dù tình hình chiến hạm như vậy, sau khi ngưng tiếng súng, đến vùng an toàn, Hạm trưởng Nguyễn Văn Lộc đã chỉ thị cho nhà bếp nấu cháo cho các em bé và người già có ăn. Thật là một vị hạm trưởng nhân hậu.

HQ 503 trở lại Sài Gòn:

Chiến hạm HQ 503 dần dần ra khỏi vùng chiến đấu và được lệnh trở về Sài Gòn với sự hộ tống của Hộ tống hạm HQ 11. Qua những ngày dài HQ 503 di chuyển một cách chậm chạp, chiến hạm đã về đến Bộ Tự Lệnh Hạm Đội Sài Gòn an toàn. Sau đó chiến hạm được lệnh sửa chữa khẩn cấp.

Sau khi chiến hạm về tới bến, vào những ngày đầu, tất cả sĩ quan và thuỷ thủ đoàn rất bận bịu nhiều công việc. Ngoài việc đi tham dự những buổi Lễ An Táng của 4 Sĩ quan và 2 nhân viên đã Vị Quốc Vong Thân, trên chiến hạm thiếu sĩ quan, tôi được điều động thay thế và trực nhiều ngày ở chiến hạm để chuẩn bị cho chuyến hải hành viễn dương vô thời hạn. Chỉ trong vòng 3 ngày, ban ẩm thực trên chiến hạm đã mua sắm đầy đủ thực phẩm dùng cho 3 tháng. Thuỷ thủ đoàn được thông báo chuẩn bị đi công tác dài hạn.

Trong 2 ngày phép về thăm gia đình từ 28 đến 29 tháng 4 năm 1975, tôi đã cùng với vợ mới cưới vào ngày 30.01.1975 chuẩn bị hành trang để sẵn sàng theo chiến hạm ra đi. Sáng ngày 30.4.1975, hết phép, tôi xuống lại chiến hạm đang đậu tại Bộ Tư Lệnh Hạm Đội Hải Quân Sài Gòn thì mới biết hầu hết những chiến hạm khác đã ra khơi trong đêm 29.4.1975. Vì chiến hạm tôi bất khiển dụng nên không thể rời quân cảng được. Thế là hầu hết thuỷ thủ đoàn của chiến hạm HQ 503 bị kẹt ở lại. Những sĩ quan bị bắt đi tù với mỹ từ „học tập cải tạo“...


Nguyễn Văn Phảy(Đệ Nhị Song Ngư)

Cựu Trưởng Ban Giám Lộ kiêm Thám Xuất HQ 503
eMail: vgpgermany@...

Bài Xem Nhiều