We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 21 March 2013

Chủ Chứa Ở Nga: Các Quan Chức Việt Ngậm Miệng Ăn Tiền







Mạch Sống, ngày 20/03/2013

Một nguồn tin kín đáo bắt đầu hé lộ chứng cớ về hệ thống ô dù đã và tiếp tục bao che cho đường dây buôn người của Bà Nguyễn Thuý An, chủ ổ mãi dâm đã hoạt động bình chân như vại ở Nga trên 20 năm nay.

Bà ta là một chủ chứa thuần tuý mà còn là kẻ đứng đầu đường dây buôn người từ Việt Nam sang đến Nga. Bà ta đã lừa néo nhiều chục cô gái trẻ, từ Kiên Giang đến Thủ Đức, từ Sài Gòn ra đến Hà Nội, sang Nga lao động để rồi khống chế họ và dùng bạo lực ép họ phải làm gái mãi dâm.

Tiền bà ta thu được từ sự dày vò thân xác của các cô gái lên đến trên nửa triệu Mỹ kim mỗi năm. Bà ta lại dùng nó để cho các người Việt buôn bán nhỏ vay nặng lãi. Hàng ngày bà ta lái xe Mercedes đến khu "Chợ Liu" của người Việt, ở Trung Tâm Thương Mại Mátxcơva ,để thu tiền lãi. Bà ta dùng "phia" (tiếng lóng của từ mafia) để khủng bố các con nợ. Người gốc Nghệ An, bà ta đã tậu mua nhiều bất động sản ở trong nước, từ bắc vào nam.

Lẽ sống của người đàn bà có một không hai này là sẵn sàng tung tiền để mua ô dù bao che và sẵn sàng trả thù nạn nhân nào dám tỏ thái độ bất hợp tác: "Ơn một trả mười. Thù một trả mười."

Bà ta cho biết là nhờ nắm pháp luật trong tay nên mới dám làm "nghề" này và đã "làm rất lâu rồi, nắm được pháp luật rất rõ."

Bà ta tuyên bố: "Chính vì như vậy làm không bao giờ ảnh hưởng đến mình cả... Đ.M. ảnh hưởng bây giờ tất cả liên quan đến Đ.M. con cháu người ta cả chứ không liên quan gì đến mình."

Cẩn thận: Đoạn ghi âm các lời phát biểu của Bà Nguyễn Thuý An sau đây mang nhiều từ ngữ thô tục. http://youtu.be/tcTpr0I9Ygk

Bà ta ngang nhiên lộng hành vì đã tung tiền mua chuộc các người có “chức vụ rất là to” để che chở cho việc làm ăn của bà ta.
Theo tin của Đài Á Châu Tự Do, người chồng hờ  của bà chủ chứa mà cũng là “quản gia” của ổ mãi dâm là Ông Nguyễn Anh Huy có quen biết lớn ở Toà Đại Sứ Việt Nam ở Nga:  “Ông Tuấn Anh là anh của Ông Huy… còn vợ của Ông Tuấn Anh, làm ở bên đại diện cộng đồng người Việt Nam…, là cháu ruột của Ông Nguyễn Đông Triều.”
Trên thực tế, bà ta chỉ sử dụng người chồng hờ để thắt chặt quan hệ ô dù, chứ thường xuyên mắng nhiếc ông ta không tiếc lời: “Im đi… Mẹ nhà mày… Đ.M. mày, làm sao có loại đàn ông như thế, có trên đời này.”
Ông Nguyễn Đông Triều là Tham Tán Công Sứ Liên Bang Nga ở Toà Đại Sứ. Ông là người mà bốn nạn nhân trốn thoát được hồi đầu tháng 2 đã gọi đến để cầu cứu và chỉ ít lâu sau thì chính Bà An đã đưa Ông
“quản gia” Huy và một thành phần “phia” đến tận nơi ẩn náu mà chỉ có Ông Triều biết để bắt cả bốn cô về. Bà ta đánh đập và tra tấn bốn cô gái khốn khổ này không nương tay.
Điều bà ta không ngờ là trong thời gian ngắn ngủi trốn thoát được, các nạn nhân đã gọi về cho gia đình cầu cứu. Thân nhân của họ ở ngoại quốc lên tiếng mạnh mẽ và truyền thông ở hải ngoại, kể cả báo chí Mỹ, làm lớn chuyện.  Rồi các dân biểu Hoa Kỳ và Canada nhập cuộc và cảnh sát liên bang Nga tiến hành điều tra.
“Thật ra còn cái gì để nói nữa. Chuyện nó bét nhè như thế này rồi,” Bà An than thở với một người thân tín. “…liên quan đến rất là nhiều người… cả một đoàn người luôn… một đống người luôn.”
Bà ta cáo buộc các đài phát thanh, các tờ báo đăng tải tin tức về vụ giải cứu 15 cô gái Việt nạn nhân của bà ta là báo phản động:  “Báo …ở bên Mỹ làm là báo chống lại người Việt Nam… luôn luôn đi moi móc ba cái tin để phóng một thành mười” và “ở Việt Nam không bao giờ có những tờ báo này để mà đọc cả.”
Quả vậy, không một tờ báo nào ở Việt Nam chạy một mẩu tin nào về vụ buôn người có ô dù bao che lộ liễu này.
Bà ta chửi rủa các báo, các mạng này là đã gây xáo trộn trong “nhà” -- tức là nhà chứa – làm cho các nạn nhân xôn xao: “Bọn chó ấy ở trong nhà nó nghe nói chuyện báo báo chí chí mạng mạng là nó cứ loạn [lên] xin về.”
Nhưng rồi bà ta khoe là có ng ười bạn “rất là thân”, “chức vụ rất là to” trước đây công cán ở Nga, rồi về nước và bây giờ đã được cử sang Hoa Kỳ. Bà ta đang nhờ người này giải độc ở Hoa Kỳ và Canada.
Bà ta mô tả cách hoạt động ô dù này: “Phong bì cho người ta, phong bì theo kiểu kín đáo” và muốn “người ta ngậm miệng thì người ta phải ăn tiền.”
Cuối tuần đầu của tháng 3, chính phủ Việt Nam cử phái đoàn 20 công an Interpol từ Hà Nội gởi sang Nga để điều tra, do sự lên tiếng của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ -- và Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thì phải trả lời ngày càng nhiều các vị dân cử liên bang đã lên tiếng.
Toà Đại Sứ Việt Nam ở Nga thết đãi phái đoàn công an Interpol hậu hĩ. Chưa kịp tiếp xúc và phỏng vấn một nạn nhân nào, họ đã nhanh chóng quay về nước với kết luận là không có gì để phải can thiệp.
 Bà An than thở là đã phải tốn 50 nghìn Mỹ kim cho việc khoản đãi phái đoàn này.
“Người ta nhận những cái khoản tiền quà cáp của mình lớn thì người ta có trách nhiệm. Nôm na là vậy”, bà ta kể lể. “Tiền nong bao nhiêu cũng phải giải quyết hết, để làm sao cho câu chuyện nó nhẹ đi đã.”
Đứng trước mối nguy cận kề sẽ bị bắt bởi cảnh sát liên bang Nga, kế hoạch của bà ta là mua chuộc giới chức ở Nga, ở Mỹ, ở Canada và ở Việt Nam: “Năm ba triệu không vấn đề gì cả… 5 triệu, 50 triệu không giá trị gì luôn… 500 triệu không giá trị gì luôn…”
Theo nguồn tin đáng tin cậy từ Nga, đầu tháng 3 cảnh sát liên bang Nga đã phá cửa sổ xông vào căn chung cư ở trên tầng lầu 16, nơi giam giữ các nạn nhân, nhưng chỉ thấy căn phòng trống rỗng với nhiều vali ngổn ngang. Trước đó mấy tiếng đồng hồ, Bà An đã được một cú điện thoại từ Toà Đại Sứ Việt Nam báo động nên kịp thời đưa tất cả các cô gái đi dấu ở một nơi khác.
Cũng theo nguồn tin này, lượng thông tin thu thập được về hoạt động chân rết của ổ buôn người của Bà An khá nhiều và đang được đãi lọc để tuần tự phổ biến để sao không ảnh hưởng đến cuộc giải cứu 10 nạn nhân mà tính mạng vẫn nằm trong tay của ổ buôn người và ô dù của chúng.
Nắm sẵn trong mình nhiều hộ chiếu giả của nhiều quốc gia, Bà An cho biết là đã sẵn kế hoạch cao chạy xa bay để làm ăn ở một thành phố khác, nước khác: “Tao không thiếu gì cách. Hết.”
Posted on Thursday, March 21 @ 00:47:16 EDT by ngochuynh

 
Associated Topics

Chống Buôn NgườiTin Cập Nhật

Chủ Đề Mùa Quốc Hận : Thêm một 30 tháng 4...Thêm một lần nhớ lại....




Con Giòi…






 


Lại sắp cộng thêm một Tháng Tư Đen! Tôi lại thấy trong lòng như có điều gì không ổn. Lúc nào tôi cũng thấy bứt rứt và cảm thấy trống trải vô cùng. Tôi thường đứng ngồi không yên, làm việc gì cũng hay bỏ giở nửa chừng. Quả thật là tâm tôi không tịnh…



Có lẽ Tháng Tư Đen lại nhắc tôi nhớ đến một quá khứ buồn nhiều hơn vui của tôi. Quá khứ ấy giống như khí hậu theo mùa trở về mỗi năm và gắn liền với hai chữ “TỰ DO” trong tôi. Hai chữ này đã khắc sâu vào tâm khảm ngay từ khi tôi còn rất nhỏ. Nó mang theo nhiều điều không bình thường nhưng tôi cứ giữ mãi trong lòng cho đến hôm nay… Sau ba mươi bẩy năm xảy ra biến cố lịch sử đau buồn của một ngày 30-4-1975 đen tối, tôi quyết định viết lại những gì đã ám ảnh tôi hơn nửa đời người…




Năm đó, 1954, tôi còn bé lắm, chỉ vừa 5 tuổi...




Một sáng tinh mơ, tôi bị kéo ra khỏi giường lúc 2 giờ khuya để theo Bố và người chị kế trốn xuống Hải Phòng, một thành phố cạnh bờ biển, cách Hà Nội khoảng 100 cây số. Vài ngày sau, Mẹ tôi xuống theo cùng với Bà Nội, chị lớn và hai em nhỏ còn bế trên tay. Bố Mẹ tôi đã bỏ lại tất cả tài sản gồm một nhà in, những chiếc xe cho đám cưới thuê, những chiếc xe hàng chở khách và hàng hóa từ Hà Nội đi các tỉnh. Họ đã phải bỏ lại mười bảy người làm việc trong nhà in và trong dịch vụ chuyên chở thương mại. Bố Mẹ tôi đã phải bỏ Hà Nội ở lại, xuống tàu "Há Mồm" ở Hải Phòng để ra khơi và được chuyển qua tàu lớn của Mỹ. Họ đã chọn mất tất cả tài sản và sự nghiệp gầy dựng cùng thân bằng quyến thuộc để di cư vào miền Nam nước Việt. Họ đã chọn vùng đất TỰ DO cho tương lai của đàn con nhỏ…



Tàu cặp bến Bạch Đằng ở Sài Gòn. Trời nắng như đổ lửa. Người Sài Gòn thật tốt bụng vì dọc theo bờ sông có những lu nước trà để cho người di cư tha hồ mà uống.



Sau một thời gian ngắn tạm trú ở nhà họ hàng nội ngoại vùng Bàn Cờ và Tân Định, Bố Mẹ tôi sang được một căn nhà nhỏ. Nhà của chúng tôi ở xóm lao động phía sau Đình Hát Bội trên đường Trần Quang Khải,Tân Định. Đặc điểm của khu tôi ở là con ngõ mở đầu khá rộng rồi tự nhiên tóp lại chỉ còn độ một thước rộng. Sau đoạn ngõ hẹp như cái cổ chai dài khoảng ba thước, con ngõ lại phình ra để lộ những căn nhà gạch lụp xụp, trong đó có căn nhà màu xanh nhỏ nhắn của Bố Mẹ tôi.



Ngày đó, Bố Mẹ tôi nghèo lắm vì đã bỏ trốn Hà Nội với một chút tiền dấu được. Mẹ tôi bán vải ở chợ Tân Định. Bố tôi lái xe taxi. Hai chị lớn được đi học. Còn tôi thì được ở nhà chơi với hai đứa em gái, một đứa 2 tuổi, và đứa út chưa đầy một năm.



Tuổi thơ của tôi thật êm đềm vì không phải đi học nên có nhiều giờ rảnh lắm. Tôi thích chơi bán hàng. Hàng hóa để bày bán của tôi là những cái lá me non xanh mướt, những cái hoa dại đủ màu hái bên bờ rào trong xóm, hay mấy quả ô môi nâu sậm rụng bên ngoài bức tường cao, cồng sau của một biệt thự ở cuối ngõ. Công việc của tôi thật đơn giản: chỉ phải pha sữa cho hai em tôi bú vào buổi trưa khi hai chị đã đi học, rồi ru cho em ngủ. Khi em ngủ rồi là tôi có quyền chơi. Tôi tự bán rồi tự mua hàng một mình bằng những tờ giấy xin được từ quyển vở cũ của hai chị, cắt đều đặn dùng làm tiền. Cho đến một ngày trời không đẹp lắm...



Hôm ấy, trời mưa rả rích mãi. Buổi sáng, tôi không đi hái hoa, hái lá để dành chơi vào buổi trưa được. Buồn quá, tôi xếp mấy cái thuyền nhỏ bằng những mảnh giấy tiền của tôi. Tôi thả mấy con thuyển nhỏ xuống rãnh nước chảy trước hiên nhà và chơi cả giờ như vậy mà không biết chán. Tôi vừa chơi vừa hát ngêu ngao. Trong lúc tôi đang say sưa lấy cây tăm khẩy nhẹ vào rãnh nước để dẫn lối cho con thuyền nhỏ trôi theo dòng, tôi bất chợt thấy trên bờ đất ẩm mấy hột cơm trắng nằm gần đó. Có một điều lạ lùng lắm mà tôi chưa bao giờ trông thấy là những hột cơm này biết bò...



Thế là tôi cứ chăm chú nhìn theo “hột cơm biết bò”. Được một lúc, khi thấy một “hột cơm biết bò” sắp rơi xuống vũng nước, tôi vội vàng thò hai ngón tay, nhẹ nhàng nhặt “hột cơm biết bò” để vào lòng bàn tay trái của mình và thủ thỉ: "Tội nghiệp hột cơm quá".



Tôi chơi với “hột cơm biết bò” ấy cho đến khi nghe tiếng em tôi khóc. Tôi sợ em lật qua sẽ bị rơi xuống võng và ngã xuống đi-văng nên vội vàng thả “hột cơm biết bò” xuống một chỗ khô ráo hơn bên hiên nhà. Tôi nhanh nhẹn chùi lòng bàn tay trái hơi ươn ướt vào bên hông quần rồi tất tả chạy vào đưa võng và hát bài ru em quen thuộc...



“Trèo lên cây bưởi hái hoa,

  Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân

  Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

  Em có chồng anh tiếc lắm thay…”



Tôi vừa hát líu lo, vừa đưa võng cho em ngủ, và tôi ngủ quên đi lúc nào không biết…



Chiều hôm ấy, Mẹ tôi bán hàng ở chợ về sớm hơn một chút. Nhờ đắt hàng hơn thường lệ nên Mẹ tôi có mua thêm chuối cho các con. Mẹ cho tôi một quả chuối thật to. Tôi nhanh tay đưa quả chuối vàng ươm lên mũi hít hà rồi bấu móng tay vào cuống chuối để bóc vỏ. Tôi chưa kịp kéo vỏ chuối xuống thì đã bị Mẹ tôi nắm lấy cổ tay và giữ chặt lại. Mẹ nhìn thẳng vào mắt tôi rồi dõng dạc hỏi:




-     Con có nhớ mẹ dặn gì không ?



Tôi không đáp mà chỉ lắc đầu và định bóc tiếp thì Mẹ tôi giằng lấy quả chuối. Mẹ tôi bấm móng tay vào giữa, bẻ quả chuối ra làm hai, và tiếp tục nói:




-     Mẹ đã dặn, là con gái, con phải bẻ quả chuối ra làm hai rồi mới được ăn, nhớ chưa?



Tôi gật đầu và nhận lấy hai nửa của quả chuối, ăn ngấu nghiến trong khi Mẹ tôi vào bếp để chuẩn bị bữa cơm tối. Tôi đi theo Mẹ xuống nhà dưới và líu lo kể chuyện...



Tôi kể cho Mẹ tôi nghe chuyện “hột cơm biết bò”. Khi nghe tôi nói đến bốn chữ "hột cơm biết bò", Mẹ tôi đã đặt nhanh con dao đang thái thịt xuống thớt. Mẹ nắm lấy cánh tay của tôi, kéo nhanh về phía lu nước và hỏi tới tấp:


-     Bàn tay nào? Bàn tay nào?



Tôi mếu máo, chẳng hiểu gì cả khi thấy nét hốt hoảng trên gương mặt của Mẹ. Tôi xòe bàn tay trái đưa về trước mặt Mẹ.



Mẹ tôi im lặng múc nước dội lên bàn tay nhỏ bé của tôi. Mẹ lấy miếng xà phòng xanh hiệu "Cây Đàn" thơm mùi chanh xiết mạnh vào lòng bàn tay đỏ ửng của tôi rồi rửa đi rửa lại nhiều lần.  Tôi vừa khóc vừa la oai oái "Đau quá mẹ ơi". Mẹ tôi không trả lời, tiếp tục rửa như vậy thêm hai lần nữa. Xong xuôi, Mẹ dẫn tôi lên nhà trên, gian phòng duy nhất trong căn nhà này, vừa là phòng khách, phòng ăn, và phòng ngủ. Mẹ tôi mệt mỏi ngồi xuống đi-văng và ôm mặt khóc. Tôi sợ quá, khóc thút thít và đến bên ôm tay Mẹ mếu máo:




-     Mẹ ơi, con không dám nữa.



Bấy giờ Mẹ tôi mới ngửng mặt lên, vuốt mái tóc đẫm mồ hôi của tôi và nức nở:




-     Con có biết "hột cơm biết bò" ấy là gì không?



Tôi sợ lắm khi thấy Mẹ tôi khóc nhưng vẫn nũng nịu trả lời:



-     Mẹ ơi, con không biết, thưa Mẹ.



Mẹ tôi nước mắt đầm đìa, nhìn thẳng vào đôi mắt ngơ ngác của tôi và nói chậm từng chữ một:




-     Là con giòi từ những bãi phân người ta đi bậy bên ngoài cái nhà cầu công cộng ở phía sau nhà mình đó. Con giòi bẩn lắm. Con giòi bò từ đống phân qua đây mà con đã cầm trên tay chơi suốt cả buổi trưa đó. Con cầm con giòi để chơi rồi đi pha sữa cho em bú, rồi nhúng cả bàn tay vào lu nước để ngâm cho sữa nguội. Bây giờ Mẹ phải làm sao đây?



Nhìn thấy Mẹ khóc, tôi cũng khóc theo nhưng không hiểu gì lắm về con giòi mà mẹ tôi nói cả… Cả buổi tối hôm ấy, thỉnh thoảng Mẹ lại vuốt tóc tôi như hối hận là đã chà sát bàn tay tôi mạnh quá. Tôi còn nhớ Mẹ tôi đã thủ thỉ bên tai cho đến khi tôi ngủ thiếp đi:




-     Thật là tội nghiệp cho con tôi, đang sống sung sướng, yên ổn ở Hà Nội, có vú em chăm sóc, bây giờ mới năm tuổi đã phải ở nhà trông em, pha sữa cho em để Bố Mẹ đi làm kiếm cơm…



Sáng sớm hôm sau, Mẹ tôi cầm cái bô bằng nhôm mà hai em đi cầu lúc tối và bảo tôi đi theo Mẹ qua dãy cầu tiêu công cộng. Chưa đến nơi thì Mẹ đã chỉ cho tôi thấy những “hột cơm biết bò” lúc nhúc chung quanh những đống phân dọc hai bên lối đi… Tôi phải bịt mũi vì mùi phân thối bốc lên nồng nặc. Tôi lắc đầu lia lịa vì đám ruồi nhặng to tướng cứ vo ve bay tứ tung chạm vào môi, vào mắt, vào tai tôi. Tôi rùng mình, thấy xương sống ớn lạnh như có những “hột cơm biết bò” đang bò dưới lưng áo. Chung quanh tôi, nhìn đâu cũng thấy “hột cơm biết bò” trắng, vàng, nâu... bò lổm ngổm. Tôi sợ quá, khóc ré lên và nhất định đòi Mẹ dẫn trở về nhà… Chân tay tôi co rúm lại vì sợ, ghê tởm và khủng khiếp quá…



Từ sau ngày hôm đó, mỗi lần trời mưa, tôi leo lên đi-văng ngồi chứ không dám lần ra hàng hiên để thả thuyền chơi như trước nữa. Tôi bắt đầu biết sợ “hột cơm biết bò” vì chính mắt tôi đã trông thấy chúng chui ra từ những đống phân trên đường đi tới dãy nhà cầu công cộng ở mé sông rạch sau lưng nhà tôi một quãng đường trong ngõ.



Sau vài năm ở xóm nhỏ Đình Hát Bội, gia đình tôi dọn lên Phú Nhuận. Ở đây, căn nhà lá nền đất có cái sân chơi lớn hơn và dẫy cầu tiêu công cộng được xây bằng xi-măng sạch sẽ hơn nhiều. Tuy vậy, tôi vẫn bị hình ảnh của “hột cơm biết bò” ám ảnh nên tôi vẫn không dám chơi thả thuyền trước hiên nhà vào những lúc trời mưa.



Và cũng từ ngày đó, tôi không bao giờ ăn mắm tôm vì đã có một lần tôi trông thấy những “hột cơm biết bò” leo lên từ cái bát mắm tôm Mẹ tôi mua ở chợ về. Mỗi khi ở nhà ăn mắm tôm chưng với thịt ba chỉ và dưa leo, cho dù mùi mắm tôm thơm đến nghẹt mũi, cho dù tất cả nhà cố thuyết phục nhiều lần, tôi vẫn không chịu ăn mắm tôm. Vì thết chị tôi bảo:




-     Con bé này không phải là người Việt Nam. Ăn bún riêu với đậu rán mà không có mắm tôm sống vắt chanh tươi vào thì không còn là bún riêu nữa.



Tôi không đôi co mà chỉ rùng mình vì lại nghĩ đến “hột cơm biết bò”. Tôi sợ “hột cơm biết bò” đến độ mỗi lần nhà ăn mắm tôm thì Mẹ tôi cho tôi ăn cơm với ruốc tức là thịt chà bông và tôi lấy tô cơm, đi ra khỏi bàn ăn, ngồi ăn một mình ở góc nhà.



Khi tôi lớn hơn, khoảng 13 tuổi… Gia đình tôi lại dọn nhà một lần nữa. Lần này tôi ở ngoài phố vì Bố Mẹ tôi thuê được một cửa hàng tạp hóa nhỏ. Có một ngày kia, giữa bữa cơm Mẹ tôi gọi ra phụ gói hàng vì đông khách quá. Tôi đặt tô cơm xuống bậc thang lên lầu rồi chạy ra phụ Mẹ. Khi xong việc, tôi quay vào, cầm tô cơm lên, lùa nhanh phần cơm còn lại vào miệng, nhưng khi tôi chỉ mới vừa bắt đầu nhai, thì tôi tung cả tô cơm lên trời, miệng thổi phì phì, nước mắt ưá ra. Tôi hét lên như cháy nhà và mồ hôi vã ra như tắm. Cả nhà chồm đứng dậy, ra khỏi bàn ăn dưới bếp, tuôn về phía thang lầu. Bố tôi hốt hoảng hỏi to:




-     Chuyện gì vậy? Chuyện gì vậy?



 Tôi sợ đến độ không nói được một lời nào thì cả nhà nhìn thấy mấy miếng mắm tôm văng ra ngoài cùng với cái tô bị vỡ, mảnh vụn văng tứ tung. Bố tôi quay về phía các chị em tôi quát to:



-     Đứa nào chơi nhét mắm tôm vào bát cơm này?



Đồng loạt có nhiều tiếng trả lời:




-     Không phải con, không phải con…



Riêng đứa em trai thứ sáu của tôi đứng yên. Bố tôi quay qua tát nó một cái thật mạnh rồi chỉ ngón tay vào mặt nó và nói to với sự tức giận cùng cực:




-     Chị mày có thể chết được vì sợ, có biết không?



Thế là hôm đó tôi bỏ cả bữa cơm trưa và bữa cơm chiều vì sợ quá. Tôi đánh răng, súc miệng bao nhiêu lần cũng vẫn thấy “hột cơm biết bò” lởn vởn trước mắt và có cảm giác còn dính ở trong miệng của tôi… Tôi sợ đến độ không còn làm được gì cả. Và cũng từ đó, mọi người trong nhà ý thức được thêm là không phải tôi sợ mắm tôm mà là tôi sợ con giòi trong mắm tôm sống mà tôi đã có lần nhìn thấy.



Hai mươi lăm năm sau, 1979, tôi đã trưởng thành, ở 30 tuổi…



Đúng ngày 30 tháng 4, tôi đi vượt biên… Sau những ngày lênh đênh trên biển và gặp nhiều tàu cướp, đám cướp cuối cùng đã húc lũng tàu của chúng tôi. Chúng tôi được tàu Đức cứu và đưa đến trạm dừng chân đầu tiên, Mersing. Đây là khu tạm trú của những người vượt biên trước khi được cứu xét và đưa qua đảo tị nạn ở Mã Lai.



Ngay buổi chiều đầu tiên đến đây, tôi đã bị trúng độc thức ăn. Có lẽ sau hơn cả tuần bị đói khát khi tàu bị cướp và bị bão, bữa cơm đầu tiên từ ngày rời bỏ gia đình, chung với mười người trong nhóm, tôi được chia với mọi người những hạt cơm trắng nấu chung với cá trong một cái hộp thiếc đựng bánh ngọt. Vừa ăn xong mấy miếng cơm thì tôi bị đau bụng. Tôi phải chạy vào nhà vệ sinh công cộng, lộ thiên, và không xa bãi cỏ mọi người sẽ nghỉ ngơi là mấy. Khi vừa bước gần đến nơi, tôi vội chùn chân lại. Tôi không có dép vì sau nhiều lần bị cướp biển Thái Lan, tôi chỉ còn đúng một bộ quần áo mặc trên người, và trước mắt tôi, không phải là những “hột cơm biết bò” nhỏ nhắn trắng phau mà là những con vật không xương sống, to bằng đầu đũa đang lúc nhúc chung quanh nhiều đống phân dẫn vào nhà vệ sinh. Tôi sợ quá nhưng không dám đi ra ngoài khu vực ấy vì sợ mọi người nhìn thấy và sợ bị lính Mã Lai đánh như đã được cảnh cáo từ lúc bước chân lên mảnh đất này.



Cuối cùng, tôi nhắm mắt nhưng vẫn còn mở hi hí để thấy đường đi. Tôi cố đặt bàn chân không dép, men theo chỗ nào có ít con giòi để vào nhà cầu. Nước mắt tôi dàn dụa. Chân tay tôi run lên cầm cập, răng tôi đánh vào nhau. Một phần vì đau bụng, vì lạnh, một phần vì sợ. Khi vào đến nơi, may quá, tôi nhìn thấy hai thanh gỗ bắc ngang để ngồi không có giòi bò. Sau khi ngồi xuống, tôi nhắm chặt mắt lại, cố đi cho  nhanh, nhưng tôi đau bụng quá. Cuối cùng, khi ra khỏi cái nhà cầu ấy, mồ hôi trên trán, trên tóc, trên đầu vã ra như tắm. Tôi thấy cả người lạnh run lên. Tôi vội vàng đi nhanh về phía cuối bãi trong khu đất này. Tôi di chân nhiều lần xuống đám cỏ khô cằn như để gạt đi, chùi sạch tất cả những gì bám vào chân vì ở đây không có nước để rửa. Tôi có cảm tưởng như chân tôi rướm máu, nhưng tôi không dám nhìn chính hai bàn chân của mình vì nếu lỡ tôi trông thấy con giòi bám vào chân thì chắc là tôi sẽ đứng tim mà chết mất. Từ đó cho đến ba ngày sau, những người đi cùng tàu xin được người chung quanh cho tôi mấy miếng gừng, tôi chỉ nhai gừng và  nhấp nước nóng chứ không dám ăn uống gì cả.



Ở Mersing được gần một tuần, thì nửa đêm của một ngày oi bức, khi tôi đang ngủ say, bỗng nghe có tiếng hét thất thanh, thật to, đánh thức mọi người trong gian phòng tạm trú dậy. Tôi ngồi bật dậy như cái lò so, đưa mắt hướng về chỗ có tiếng hét. Đèn trong phòng được bật sáng, tôi nhìn thấy một người đàn ông ở cuối gian nhà này đang nhẩy lên thụp xuống như điên loạn. Hai tay ông không ngừng móc vào hai lỗ tai và miệng thì hét liên tục không ngừng nghỉ:



-     Con giòi, con giòi, con giòi chui vào lỗ tai tui.



Vừa nghe xong hai chữ “con giòi” thoát ra từ tiếng thét hãi hùng ấy, tôi đưa tay bịt chặt mắt lại. Tôi mất bình tĩnh ngay lập tức và sợ đến độ không còn biết phải làm gì hơn ngoài bịt chặt mắt lại. Nước mắt tôi lại ứa ra. Tôi sợ đến độ không dám nằm xuống ngủ tiếp vì biết đâu chẳng có những con giòi đang bò lổm ngổm quanh gian phòng tôi được lính Mã Lai cho phép ở vì bị trúng độc tuần trước...




Năm nay, 2012, tôi đã già rồi, ở tuổi sắp về hưu trí...

Tôi viết lại truyện “hột cơm biết bò” khi tôi còn bé xíu và “con giòi” khi tôi đã trường thành gắn bó như thế nào với cuộc đời tôi... Hình như định mệnh đã sắp đặt sẵn cho tôi với cùng một nguyên nhân, có cùng những diễn biến tương tự, những địa điểm tôi tìm đến, và hậu quả để lại cứ ám ảnh tôi mãi...



Năm 1954, tôi vừa 5 tuổi: Năm 1979, tôi đúng 30 tuổi:
· trốn từ Hà Nội xuống Hải Phòng bằng xe vận tải,

· xuống tàu “Há Mồm” của Mỹ để được chở ra khơi an toàn,

· chuyển qua tàu lớn của Mỹ ,

· chở đến bến Bạch Đằng - di cư vào SàiGòn, miền Nam VN

· đi tìm TỰ DO,

· thấy “hột cơm biết bò” và sợ cho đến bây giờ...
· trốn từ Sài Gòn xuống Rạch Giá bằng xe đò,

· xuống tàu VNKG 0602 ra khơi, bị tàu cướp húc lũng lỗ, sắp chìm,

· được cứu vớt bởi tàu của Đức,

· chở đến Mersing - chuyển qua trại tị nạn Pulau Tanga, Mã Lai,

· đi tìm TỰ DO,

· thấy “con giòi” và sợ cho đến bây giờ...





Hai lần trong đời ngồi trên tàu không phải của người bản xứ (Mỹ-1954 và Đức-1979) để tìm đến vùng đất TỰ DO (Sài Gòn-1954 và Mã Lai-1979). Trên hai vùng đất TỰ DO này, tôi đã thấy “hột cơm biết bò” hay “con giòi”. Hình ảnh ấy đã ăn sâu vào tâm khảm và đã làm tôi sợ đến có thể chết đi được nhưng tôi vẫn ở lại nơi đó vì chỉ có ở đó mới có nhân quyền hay nói rõ hơn là tôi mới có được TỰ DO để sống như một con người...



Như thế thì lý do để cho tôi phải rời bỏ nơi tôi được sinh ra là Hà Nội-1954 và nơi tôi đã trưởng thành là Sài Gòn-1979... để trốn chạy, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng, chắc chắn phải ghê sợ, phải khủng khiếp, và phải kinh tởm hơn cả “hột cơm biết bò” tôi gặp khi vừa năm tuổi hay “con giòi” tôi phải dẫm bàn chân trần không guốc dép lên nó lúc đã trưởng thành ở tuổi ba mươi!



Và cho đến hôm nay, lại sắp đến ngày 30 tháng 4 lịch sử, Tháng Tư Đen trở về, hình ảnh “hột cơm biết bò” hay “con giòi” lại hiện lên thật rõ ràng trong trí nhớ của tôi... và lý do tại sao tôi có mặt trên quê hương xứ người xa lạ này... sau hai lần chạy trốn để tìm đến một nơi cho tôi quyền sống của một con người đúng nghĩa...



Tôi rùng mình... Tôi không thể nào tưởng tượng được trên đời này lại có “một thứ” khác... đáng sợ, và kinh tởm hơn “hột cơm biết bò” hay “con giòi”. “Một thứ” đã khiến tôi khiếp sợ phải bỏ chạy và tìm đường trốn đi vì không muốn trở thành người mang trái tim không thật... Ra đi là đồng nghĩa với chọn con đường mất tất cả... mất tuổi thơ ngây, mất tuổi thanh xuân, mất niềm tin, mất ngôn ngữ, mất khả năng chuyên môn, mất tình yêu, mất tình thân ruột thịt, và mất cả cơ hội đóng góp cho mảnh đất tôi thương yêu nhất trong đời là quê hương tôi, nói chung, để đổi lấy quyền TỰ DO được sống đúng đắn theo Chân, Thiện, Mỹ... như một con người đúng nghĩa, nói riêng...!


Cho đến bao giờ thì tôi quên được “hột cơm biết bò” hay “con giòi” trong ký ức của tôi?!

Cho đến bao giờ thì tôi quên được “cái” đã làm tôi ghê sợ hơn cả “hột cơm biết bò” hay “con giòi” đến độ phải bỏ quê hương trốn đi và chấp nhận mất tất cả để đổi lấy hai chữ TỰ DO - quyền làm người?!  
 




Thiên-Thu


Canada, 30-4-2012

 http://tdhctct.com/index.php?option=com_content&view=article&id=1896:them-mt-30-thang-4them-mt-ln-nh-li&catid=72:bn-c-vit&Itemid=144

Bình Luận : Trình độ Việt Ngữ của BBC và VOA tiếng Việt






Khoảng hơn 20 năm nay tôi hầu như không bao giờ mở nghe đài VOA hoặc BBC bởi vì nếu là tin tức thế giới thì đã được các hãng thông tấn AP, UPI, Reuters… rồi các hãng truyền hình lớn như CNN, Fox News, các báo như New York Times, Washington Post tranh nhau loan tin sớm nhất. Rồi thì báo chợ, báo biếu Việt ngữ lan tràn ở cộng đồng cho nên chẳng cần nghe BBC hay VOA làm gì. Nhưng mấy lúc gần đây vì cần theo dõi tin tức ở trong nước cũng như những diễn biến dồn dập ở Biển Đông cho nên tôi mới “mò” vào xem các trang Việt ngữ của BBC và VOA bởi vì các hãng này loan tin khá nhanh song nhiều khi cũng “cóp” lại bản tin trong nước. Nhưng tôi thật kinh hoàng khi phải đọc một thứ Việt ngữ xa lạ, không còn là thứ Việt ngữ mẫu mực mà tôi đã được học, được nghe, rồi viết rồi học hỏi gần như suốt đời. Đó là một thứ Việt ngữ cẩu thả, kém cỏi của những người không biết học tiếng Việt ở đâu. Văn phạm thì sai, chữ dùng thì làm dáng hoặc “đao to búa lớn”, câu văn tối nghĩa, què hoặc văn không phải là văn Việt mà là văn dịch theo kiểu “mot à mot”. (*).

Việt Nam đã bước vào Thế Kỷ 21 với một gia tài học thuật, văn chương phong phú, trác tuyệt do bao thế hệ cha ông để lại từ Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Ngô Gia Văn Phái, La Sơn Phu Tử, Nguyễn Du, Đặng Trần Côn, Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Gia Thiều…rồi cận đại có Hoàng Xuân Hãn, Tự Lực Văn Đoàn, Đặng Thái Mai, Ngô Tất Tố, Đào Trinh Nhất, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Trần Trọng Kim, Tản Đà, Vũ Hoàng Chương. Về kinh tế, luật học, chính trị học có Vũ Văn Mẫu, Đoàn Thêm, Nguyễn Cao Hách…và bao nhiêu nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo lỗi lạc của Miền Nam…mà lại sản sinh ra một thứ Việt ngữ “đương thời” như thế. Thật chua xót!

Càng đọc các trang Việt ngữ của BBC và VOA ngày nay tôi lại càng tiếc thương những khuôn mặt cũ của BBC và VOA - hoặc đã qua đời hoặc đã về hưu vì tuổi già bóng xế như: VOA với Lê Văn, Nguyễn Sơn, Bùi Bảo Trúc, Phạm Trần v.v.. BBC với Đỗ Văn, Thành Xuân Hồng, các xướng ngôn viên như Xuân Kỳ, Hữu Đại, Hồng Liên, Vĩnh Phúc v.v.. Văn sao chải chuốt, khuôn mẫu, đứng đắn, chừng mực và giọng đọc thu hút người nghe như những xướng ngôn viên thượng thặng của đài truyền hình Mỹ. Tôi cảm phục tài lựa chọn người đọc và biên tập viên Việt ngữ của các vị giám đốc VOA & BBC ngày xưa… có lẽ các vị này cũng đã già nua quá hoặc đã qua đời.

Làm văn hóa mà sai thì di hại đến ngàn đời sau. Viết loại văn “ba trợn ” mà đăng trên các báo chợ thì tác hại không bao nhiêu, nhưng nếu nó được đăng trên trang điện tử lớn như BBC hoặc VOA với cả triệu người đọc thì tác hại khôn lường. Loại “tiếng Việt kinh hoàng” này lâu dần sẽ trở thành tiếng Việt chính thống. Và khi đó thì thì ôi thôi… 4000 năm văn hiến: “Quốc Tổ có về cũng khóc thôi”!

Nói có sách, mách có chứng. Dưới đây tôi sẽ trích dẫn một số tiêu đề hoặc một số đoạn văn để quý vị thấy trình độ Việt ngữ của các biên tập viên người Việt của BBC và VOA như thế nào:

1) BBC tiếng Việt ngày 27/1/2013: “Nhạc sỹ Phạm Duy có tiền sử bệnh tim và từng qua hai lần giải phẫu tim.” Đây là câu văn quái dị. Danh từ “tiền sử” (Pre-history) có nghĩa là thời kỳ ăn lông ở lỗ. Không ai dùng hai chữ “tiền sử” để nói trong quá khứ đã từng mắc một bệnh gì đó. Câu văn gọn nhẹ là, “Nhạc sĩ Phạm Duy đã từng bị bệnh tim và đã qua hai lần giải phẫu.”

2) VOA tiếng Việt ngày 7/2/2013: “Các phần tử cực đoan đang đe dọa sẽ làm trật đường rầy tiến trình chuyển đổi sang dân chủ của Tunisia.” Động từ “derail“ nghĩa đen là làm trật bánh, nhưng nghĩa bóng là “làm lệch hướng” hoặc “làm chệch hướng”. Do đó câu văn chỉnh sẽ là, “Các phần tử cực đoan đang đe dọa làm lệch tiến trình dân chủ của Tunusia.”

3) BBC tiếng Việt ngày 8/2/2013: “Giáo sư Mỹ bị đòi đuổi việc vì chê VN”. Đây là câu văn tối nghĩa, giống như một ông Tây, ông Mỹ không rành tiếng Việt mà nói tiếng Việt. Đọc kỹ nội dung thì ông giáo sư này xúc phạm tới người Việt Nam chứ không phải “chê”. Chê và xúc phạm- mức độ nghiêm trọng khác nhau. Do đó câu văn chỉnh sẽ là, “Kêu gọi sa thải giáo sư Mỹ đã xúc phạm người Việt Nam.”

4) VOA ngày 7/2/2013; “Chuyện làm tình nguyện ở Mỹ”. Câu văn không sai nhưng thiếu trình độ. Câu văn khá hơn là, “Chuyện phục vụ thiện nguyện ở Mỹ”.

5) BBC ngày 10/2/2013: “Hà Nội cũng có kế hoạch đóng mới một tàu biển đa năng có khả năng chịu sóng lớn để làm tàu bệnh viện.”. Chữ “mới” ở đây thừa vì đóng tàu là đóng tàu mới rồi. Không ai đóng tàu cũ cả.

6) VOA tiếng Việt ngày 10/2/2013: “Hơn một tỉ người châu Á trên khắp thế giới đã bước vào năm con Rắn bằng những màn pháo bông, ăn nhậu và đi thăm người thân.” Tết Nguyên Đán đối với người Việt Nam ngoài việc đón mừng năm mới còn là cả một truyền thống văn hóa bao trùm lên các lãnh vực gia đình, làng nước, xã hội, tâm linh chứ không phải là chuyện “ăn nhậu” bình thường. Người viết bài này có thể không phải là người Việt Nam hoặc dịch từ một bài viết bằng Anh Ngữ của một ký giả người Anh không am hiểu văn hóa Á Đông. Tiêu đề gọn, chỉnh về ý và lời có thể như sau,” Hơn một tỉ người Châu Á khắp thế giới bước vào năm con Rắn bằng những màn đốt pháo bông, tiệc tùng và thăm viếng người thân.”

7) VOA tiếng Việt ngày 10/2/2013: “Vùng đông bắc nước Mỹ bắt đầu dọn dẹp sau cơn bão tuyết hung bạo.” Hai chữ “hung bạo” dùng cho người. Còn đối với loài động vật hoặc thiên nhiên thì người ta thường dùng các chữ “dữ dội”, “ác liệt” v.v… Do đó câu văn chỉnh sẽ là “Vùng Đông Bắc nước Mỹ bắt đầu dọn dẹp sau trận bão tuyết dữ dội.”

8) BBC tiếng Việt ngày 16/2/2013: “Xuất hiện ảnh hậu phẫu của Hugo Chavez”. Đây là loại tiếng Việt kém mà lại làm dáng. Tại sao không viết cho gọn nhẹ và trong sáng hơn: “Ảnh Ô. Hugo Chavez sau cuộc giải phẫu” hoặc ngắn gọn hơn, “Ô. Hugo Chavez sau cuộc giải phẫu”.

9) BBC tiếng Việt ngày 16/2/2013: “Malaysia bắt giữ thượng nghị sỹ Úc”. Đọc tiêu đề người ta ng tưởng rằng ông thượng nghị sĩ Úc bị chính quyền Mã Lai bắt vì phạm tội gì đó. Nhưng khi đọc nội dung thì không phải vậy. Ông thượng nghị sĩ này chỉ bị giữ tại phi trường, không cho nhập cảnh vì lý do an ninh. Vậy tiêu đề đúng và phản ảnh nội dung là “Malyasia chặn giữ thượng nghị sĩ Úc tại phi trường.”

10) BBC tiếng Việt ngày 17/2/2013: “Bắc Hàn kỷ niệm ngày mất Kim Jong-il”. Đáng lý ra phải viết “Bắc Hàn kỷ niệm ngày Kim Jong-il qua đời”. Đây là loại tiếng Việt kém cỏi, xem thường người đọc quá đỗi.

11) BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: “Báo TQ phê Mỹ về Bắc Triều Tiên”. Hiện nay trong nước và hải ngoại, hai chữ “phê bình”, “phê điểm” được tóm gọn thành một chữ là “phê”. Thậm chí chích xì ke ma túy khiến ngây ngất cũng gọi là “phê” (effet của tiếng Pháp). Thật là loại tiếng Việt hỗn loạn không thấy có trong bất kỳ cuốn từ điển Việt Ngữ nào.

12) BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: “Phim giá rẻ Trung Quốc gây sốt”. Đọc kỹ nội dung bài viết chúng ta thấy đây là một cuốn phim sản xuất không tốn kém chứ không phải giá rẻ, nhưng thu lợi nhiều (thành công) chứ chẳng “gây sốt” gì cả nhưng lại được tác giả viết bừa bằng lối văn “giá rẻ hay rẻ tiền”. Câu văn chỉnh hơn là “Trung Quốc: Phim không tốn kém nhưng thành công bất ngờ”. Xin tác giả nhớ cho “giá rẻ”“ít tốn kém” ý nghĩa khác nhau. Nếu không rõ nghĩa thì nhớ tra từ điển.

13) BBC tiếng Việt ngày 18/2/2013: “Phóng viên BBC đình công vì giảm việc làm”. Câu văn này bị lỗi về văn phạm. Phải phải thêm chữ “bị” nữa thì câu văn mới hoàn chỉnh. Câu văn chỉnh phải viết “Phóng viên BBC đình công vì bị cắt giảm việc làm” hoặc “Phóng viên BBC đình công vì việc làm bị cắt giảm”.

14) BBC tiếng Việt ngày 7/12/2012: “Cấm quan chức Nga 'vi phạm nhân quyền’“. Câu văn này gây hiểu lầm là Nga ngăn cấm các viên chức của mình không được phép vi phạm nhân quyền. Nhưng thực ra đây là biện pháp Hoa Kỳ trừng phạt các giới chức Nga đã vi phạm nhân quyền. Do đó câu văn chỉnh phải là, “Trừng phạt các quan chức Nga vi phạm nhân quyền”.

15) VOA tiếng Việt ngày 28/2/2013: “Tàu không gian này sẽ kết nối với một môđun không gian thử nghiệm gọi là Thiên Cung 1.” Môdun= Module= Bộ phận rời, bộ phận phụ. Ngoài ra đoạn văn “sẽ kết nối với một môđun không gian thử nghiệm gọi là Thiên Cung 1” rất tối nghĩa, phải dịch là, “sẽ ráp nối với một bộ phận thí nghiệm ngoài không gian gọi là Thiên Cung 1

16) VOA tiếng Việt ngày 28/2/2013: “Công dân cao niên Mỹ quan ngại về việc cắt giảm ngân sách”. Tác giả tiêu đề này dùng chữ khó và cầu kỳ quá. Tại sao không viết một câu văn đơn giản hơn? “Người già ở Mỹ lo sợ việc cắt giảm ngân sách”. Đây chỉ là một tin tức bình thường của đời sống mà tác giả lại dùng lối văn “đao to búa lớn” thuộc lãnh vực chính trị của thế giới chẳng hạn như “Thế giới quan ngại về việc gia tăng ngân sách quốc phòng bất thường của Trung Quốc.” Điều đó chứng tỏ tác giả bài viết kém hiểu biết về ngôn ngữ.

17) BBC tiếng Việt ngày 18/3/2013: “Nhật Bản sẽ giúp phát hiện ra bất kỳ cú phóng tên lửa nào từ Bắc Hàn.” Lời văn đang chững chạc, bỗng dưng tác giả “phang” câu cú phóng rất “bình dân” giống như của mấy chú bé cửi trần đánh đinh đánh đáo nói chuyện với nhau ở vỉa hè. Ngoài ra người ta chỉ nói “cú đấm”, “cú đá” chứ chẳng ai nói “cú phóng tên lửa” cả!

18) VOA tiếng Việt ngày 19/3/2013: “Tội danh giết người có khung hình phạt từ 12 năm đến 20 năm tù giam, tù chung thân hoặc tử hình.” Không ai nói “khung hình phạt” cả, mà là “mức hình phạt từ”, hoặc “hình phạt quy định từ 12 năm tới 20 năm.” Người viết bản tin này không có kiến thức về luật pháp.

19) BBC tiếng Việt ngày 18/3/2013: “Mỹ và Nga vẫn nắm giữ hai vị trí đầu tiên trong danh sách (xuất cảng vũ khí) này.”. Tác giả không phân biệt được thế nào là “đầu tiên” và thế nào là “hàng đầu”. Đầu tiên là trước tiên, nói về thời gian trước sau. Còn hàng đầu/đứng đầu nói về vị trí cao thấp. Câu văn chỉnh phải là “Mỹ và Nga vẫn nắm giữ vị trí hàng đầu trong danh sách xuất cảng vũ khí.”

20) BBC tiếng Việt ngày 19/3/2013: “Ông (Tony Blair) còn được tin là đã cố vấn cho một số tập đoàn tài chính như JP Morgan và Zurich International.” Đây là bản dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt nhưng lại không phải là tiếng Việt! Nếu đúng là tiếng Việt thì phải dịch như sau, “Còn có tin Ô. Tony Blair đã cố vấn cho một số tập đoàn tài chính như JP Morgan và Zurich International.”

Tôi sẽ còn tiếp tục theo dõi các trang BBC và VOA tiếng Việt để quý vị biết thêm về trình độ Việt Ngữ của các đài này. Dĩ nhiên họ đều là người Việt Nam và được đài tuyển chọn, nhưng không hiểu sao họ lại có một thứ Việt ngữ kém cỏi và lạ lùng đến như vậy? Nếu ngày xưa chúng tôi ở Lớp Nhất (Lớp 5 bây giờ) mà viết những đoạn văn què và tối nghĩa như thế, chắc chắn thầy/cô sẽ sổ toẹt (gạch chéo) từ trên xuống dưới và đề nghị hiệu trưởng cho xuống Lớp Nhì (Lớp 4 bây giờ) để học thêm Việt văn. Nhưng nói thế thì cũng tội nghiệp cho những học sinh Lớp Nhì thuở xưa. Ở trình độ Lớp Nhì, Lớp Nhất ngày xưa ở Hải Phòng, chúng tôi đã thuộc lòng như “cháo chảy” Quốc Văn Giáo Khoa Thư, rồi đọc các tiểu thuyết trinh thám của Phạm Cao Củng, dã sử như Tiêu Sơn Tráng Sĩ, các đoạn văn của Thanh Tịnh, các tiểu thuyết ủy mị như Đồi Thông Hai Mộ, Hồng và Cúc, Phạm Công Cúc Hoa, các truyện Tàu như Tây Du Ký, Hán Sở Tranh Hùng và đủ loại kiếm hiệp nhảm nhí như Kim Hồ Điệp, Long Hình Quái Khách v.v… Rồi khi lên Trung Học Đệ Nhất Cấp là cuốn Việt Nam Thi Văn Hợp Tuyển dày cộm của Dương Quảng Hàm ..xương sống của nền văn chương Việt Nam. Rồi khi lên lớp Đệ Nhị (Lớp 11) thì học Tiểu Thuyết Luận Đề của các tác giả thuộc Tự Lực Văn Đoàn. Còn khi lên Lớp Đệ Nhất (Lớp 12) thì phải “nhá” cuốn Luận Lý Học của Trần Văn Hiến Minh… nhức cả đầu. Riêng bản thân tôi tiếp tục với 4 năm ở Đại Học Luật Khoa Sài Gòn, hai năm ở Ban Cao Học thuộc Học Viện Quốc Gia Hành Chánh - cộng với hơn 20 năm viết văn ở hải ngoại…mà mỗi khi đặt bút viết cũng phải hết sức đắn đo suy nghĩ xem mình dùng chữ có đúng không, văn có chỉnh, gẫy gọn không, có lai căng và dễ hiểu không? Tôi còn nhớ văn hào Victor Hugo của Pháp mỗi khi viết xong một đoạn văn ông đều đọc cho chị quét dọn trong nhà nghe xem có hiểu không. Khi mình viết một đoạn văn mà người đọc lúng túng, ngỡ ngàng tức mình đã viết một câu văn tối nghĩa. Khi người đọc nhăn mặt tức mình viết một câu văn sai hoàn toàn- người xưa gọi là “văn bất thành cú”.

Là người cầm bút ai cũng phải thận trọng với văn chương và ngôn ngữ vì nó là bộ phận văn hóa tiêu biểu của dân tộc. Do đó tôi mong mỏi các bạn đang phụ trách các trang Việt Ngữ của Đài VOA và BBC nếu có đọc bài này nên coi lại vốn liếng Việt Ngữ của mình. Nếu thấy còn thiếu sót nên học thêm các lớp văn chương Việt Nam, đọc thêm các sách về chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, tôn giáo, triết học, quân sự, ngoại giao… để cống hiến cho độc giả những bản tin, những bản dịch có trình độ trí thức và là khuôn mẫu cho các thế hệ mai sau, nhất là cho ngành báo chí. Ngoài ra cũng nên nhớ cho “Ngoài trời còn có trời” tức là còn rất nhiều người giỏi hơn mình. Do đó mình cần tiếp nhận những lời phê bình để thành công và tiến xa hơn. Mong lắm thay./
.

Đào Văn Bình
(California ngày 20/3/2013)

(*) Mot à mot là lối dịch theo dòng, từng chữ một mà không tìm hiểu ý của cả đoạn văn. Dịch theo kiểu “mot à mot” thì văn ngây ngô giống như ông Tây hay ông Mỹ nói tiếng Việt không rành.

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: THÁNG BA TRÊN TỈNH LỘ 7B.

THÁNG BA TRÊN TỈNH LỘ 7B.
( Cảm tác theo hình ảnh và bài viết của Phi Loan- Hoàng Thị Cỏ May).

Tháng Ba trên tỉnh lộ 7B,
Đoàn người chạy loạn dài lê thê,
Người mẹ tất tả đôi quang gánh,
Gia tài là những đứa con kia.
                  Thằng anh túm áo mẹ bước theo,
                  Thằng em ngồi trong thúng thơ ngây,
                  Chắc nó tưởng trò chơi chốc lát,
                  Mẹ gánh về nhà như mọi ngày.
Theo dòng người mẹ nó bước mau,
Cha nó còn cố thủ dãi dầu?
Người lính tan hàng không đơn vị,
Những ngày cuối cùng anh ở đâu ?
                   Có người di tản từ Pleiku,
                   Phố núi cao, phố núi sương mù,
                   Hoa Dã Quỳ vẫn vàng đâu đó,
                   Nước vẫn trong xanh nước Biển Hồ.
Có người di tản từ Kontum,
Đạn bom xé nát rừng cao nguyên,
Người dân ngơ ngác rời thành phố,
Nỗi buồn cao như đỉnh Ngọc Linh.             
                Người ta gọi nhau trong hãi hùng,               
                Kẻ ngược người xuôi, đường mịt mùng ,
                Về Tuy Hòa hay đi Phú Bổn ?
                Có nơi nào bình yên hơn không?       
                       
Tiếng khóc, tiếng súng, tiếng còi xe,
Rợn người như từ ác mộng về,
Bên đường đồ đạc nằm vương vãi,
Người bên người mà vẫn phân ly.
                      Bao quân, dân, cán, chính miền Nam,
                      Trên tỉnh lộ này đã hi sinh,
                      Quân đoàn 2 rút quân, triệt thoái,
                      16 tháng Ba năm 75.
Đường liên tỉnh lộ 7B ơi,
Bao tháng Ba qua, bao ngậm ngùi,
Bốn phương tám hướng đời dâu bể,
Ai có thể quên kỷ niệm này.
  Nguyễn Thị Thanh Dương.

      ( March 20, 2013)
                       ******************************

38 năm qua, Phi Loan xin được mời các anh chị đọc để nhớ về thăng trầm và  khổ đau cuả dân tộc mình trên chặng đường di tản trong biến động 1975 trên con đường tỉnh lộ 7B
Phi Loan

Picture2

(Viết cho những khốn khổ, những điêu linh của đất nước tôi và dân tộc tôi)      

Tôi gấp quyển sách đang đọc dở dang, đưa tay chùi vội những giọt nước mắt vừa lăn dài xuống má. Quyển sách đó có tựa đề thật đơn giản “Những người tù cuối cùng” của tác giả PGĐ   và chính anh cũng là một trong hai mươi người tù cuối cùng được thả ra sau hơn mười bảy năm bị giam cầm, tù đày trong lao tù Cộng sản. Anh và các bạn đã là nhân chứng sống của lịch sử. Những giòng chữ đó có hấp lực thật lạ lùng, càng đọc càng như bị kéo ngược về dĩ vãng - một dĩ vãng đau buồn và uất hận mà tôi đã cố chôn vùi thật sâu trong tận cùng của ký ức...

Sau biến cố tang thương của tháng 3 năm 1975 khi  Ban Mê Thuột bị thất thủ - là kéo theo những đổ vỡ-những mất mát-những chia lìa-những đọa đày-những uất hận của tập thể Quân Dân Cán Chính VIỆT NAM CỘNG HÒA của một quân đội hùng mạnh của những người con đã sống chết cho lý tưởng Tự Do và sự phồn vinh của dân tộc. Ba mươi sáu năm qua biết bao thăng trầm - nhưng mỗi lần nhớ về, lại là những lần nhói buốt, nó như vết thương lòng không thể nào lành. Tôi thầm cám ơn tác giả của quyển sách đó đã là động lực để tôi ngồi xuống ghi lại những hình ảnh mà tôi đã chứng kiến của buổi chiều hôm ấy...
Trong cái lũ lượt của đoàn người di tản từ PLEIKU và KONTUM qua con đường liên tỉnh lộ 7B. Con đường này bỗng nhiên ồn ào, náo nhiệt trong hỗn loạn, rồi tiếng gọi nhau vang dội cả một góc rừng. Tiếng khóc than, tiếng xe, tiếng súng nổ rền vang, hệt như đàn ong vỡ tổ, người chạy ngược kẻ chạy xuôi, tìm kiếm người thân bị thất lạc, đồ đạc vất bừa bãi, những chiếc xe hư bỏ lại trên đường ngỗn ngang. Tôi và HÙNG người em trai nhỏ, cũng tất bật trong đoàn người gian truân đó, bây giờ chỉ còn hai chị em, ba mẹ và các em còn kẹt lại Ban Mê Thuột, mấy bữa nay tôi đã chạy đôn chạy đáo để dò la tin tức gia đình, nhưng biết hỏi ai bây giờ, bởi chẳng ai biết rõ điều gì đã xảy ra.
Trong tâm trạng rối bời đó, tôi chỉ còn nhớ một điều là khi đến lớp, điều làm tôi ngạc nhiên là sĩ số các em học sinh đến trường chỉ còn một nữa, tôi đang tìm câu trả lời thì có một em học sinh đến gần bên tôi nhỏ nhẹ lên tiếng hỏi: 
- Thưa cô, ba mẹ em muốn biết là cô có muốn chạy loạn cùng xe với gia đinh em không?
      Chạy loạn!!! Tôi nghe tiếng chạy loạn mà tim nhói đau, có nghĩa là tôi phãi rời bỏ nơi chốn này, xa trường, xa học trò thân yêu của tôi, mà đi đâu kia chứ? Nhìn đứa học trò ngoan mà tôi thương nhất lớp chưa biết phải trả lời ra sao?
Tôi mới ra trường được vài tháng, nhận nhiệm sở ở đây, ngôi trường nằm trên ngọn đồi thoai thoải trông thật dễ thương, tuy mới về nhưng tôi được học sinh, phụ huynh học sinh và các đồng nghiệp thương mến chắc tại cái nhỏ nhoi, yếu đuối của tôi trong làn sương mù và cái se lạnh của PLEIKU chăng? Tôi nghĩ thế.
- Thưa cô, cô quyết định như thế nào ạ?
      Tiếng nhỏ nhẹ của người học trò lại cất lên, cắt ngang giòng suy tư của tôi, tôi lặng lẽ gật đầu. Thế là mọi chuyện cứ tuần tự đi qua như đã đuợc sắp xếp tự bao giờ để giờ này đây tôi cũng có mặt trong đoàn người di tản. Khi chiếc xe bị kẹt cứng, không thể nhích thêm một chút xíu nào, tôi nhảy xuống xe để được thoải mái một lát và đi lần về phía trước, bỗng nghe một giọng ru con lanh lảnh vừa ru, vừa khóc nghe thật não lòng!!...
- “Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre lắc lẻo, gập ghềnh khó đi. Khó đi mẹ dắt con đi, con đi trường học, mẹ đi trường đời”.
Tôi lần theo tiếng ru hời đó, đến dưới gốc cây to thấy  một người đàn bà, đầu tóc rối bù, quần áo xốc xếch, ôm chặt đứa con trong lòng mà ru, tôi tò mò bước đến gần để hỏi thăm, chỉ vừa kịp nhìn thấy đứa bé có nước da xám sậm, tôi như muốn ngã qụy xuống, không biết đứa bé đã chết tự bao giờ, vậy mà người mẹ vẫn cất tiếng ru nảo ruột để ôm ấp, để vỗ về con mình. Tôi kêu thất thanh
- Xin giúp chị ấy, con chị đã chết rồi!
Thấy tôi la lớn tiếng, có mấy người đang ở gần đấy bèn chạy lại, nhưng không thể nào lấy được đứa bé ra khỏi vòng tay của chị, chị cứ ghì chặt đứa con của chị vào lòng, đứa bé như một bảo vật, một gia tài cuối cùng của chị, chị vừa khóc vừa ru “Con đi trường học, mẹ đi trường đời".
“Chị đã thi đậu trường đời rồi đó chị”, tôi thầm nhủ như thế, định mệnh oan nghiệt đã cướp đi người con yêu dấu của chị, chị cứ thế mà than van, “Con ơi! con bú đi con...” Tôi đưa tay bịt tai lại để không còn nghe giọng ru hời thống thiết của một người mẹ vừa mất đi đứa con nhỏ thân yêu.
Không thể chịu đựng thêm nữa, tôi vội quỳ xuống truớc khoảng đất trống gần đó mà lạy mười phương tám hướng vừa khóc, vừa van vái. Xin tha cho dân tộc con, cho đất nước con... Tôi úp mặt vào đôi bàn tay nhỏ bé kêu lên "Chúa ơi!"...
Bỗng một bàn tay, đặt lên vai tôi
-         Chị ơi, chạy mau đi, không kip nữa đâu.
Tiếng người em trai hối thúc. Tôi vội vàng đứng lên như người vừa hoàn hồn, tôi chạy như bay để lại sau lưng người đàn bà đang ôm ghì xác đứa con đã chết với tiếng ru hời bi thảm...
Ba mươi sáu năm trôi qua, chẳng biết người đàn bà với tiếng hát ru hời ấy về đâu???  
Phi Loan Hoàng thị Cỏ May

Bài Xem Nhiều