We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 23 March 2013

Hội Phóng Viên Không Nhà: Lượm được tên Vc năm xưa.

ÔNG HUỲNH NGỌC CHÊNH VỚI GIẢI THƯỞNG
CỦA HỘI PHÓNG VIÊN KHÔNG BIÊN GIỚI

Trưa 30/4/1975 tại đài phát thanh Sài Gòn, tác giả cầm tập giấy trắng


Sau khi Bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền đưa bài Huỳnh Ngọc Chênh Là Ai’ lên nét, tôi đã có vài dòng góp ý về cá nhân cũng như giải thưởng. Tuởng chuyện đến đây rồi cũng đi vào quên lãng, nhưng ngày hôm qua, anh Nguyễn Kim Khánh có post vài dòng trách nhẹ chúng tôi không chịu đọc kỷ bài…Với một ý kiến nhẹ nhàng và trí thức của anh Nguyễn Kim Khánh nhắc nhở, tôi xin phép được lên diễn đàn một lần nữa với một bài viết ngắn.



Tôi thường đọc rất kỷ những bài do anh Nguyễn Kim Khánh chuyển tiếp. Anh Khánh thì không lạ lùng gì với tôi cũng như thành phần chống cộng tại Paris. Chúng tôi thường gặp nhau trong những lần hội họp, biểu tình tranh đấu, tưởng niệm 30.4, tưởng niệm biến cố Mậu Thân, lễ giỗ Tổng Thống Ngô Đinh Diệm cũng như các lần tổ chức ghi ơn anh hùng tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi biết anh là một nghệ sĩ, một trí thức có lòng với Quốc Gia, thường trăn trở cho vận mrệnh đất nước cũng như sự ấm no hạnh phúc cho người dân thấp cổ bé mệng tại Việt Nam. Cá nhân tôi rất ngưỡng mộ anh Nguyễn Kim Khanh, nhất là những commentaires của anh trên net, và vì lý do nầy, tôi xin trở lại vấn đề Ông Hguỳnh Ngọc Chênh để làm sáng tỏ thêm một lần nữa.



Tôi là người trong cuộc. Điểm thứ nhất, tôi đứng trong hàng ngũ sinh viên Quốc Gia để chống lại các tổ chức của cộng sản núp dưới bóng sinh viên Đại Học Saigòn bắt đầu từ nền Cộng Hòa thứ nhất của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thời tranh đấu của tôi ở đại học là chống lại Mặt Trận Cứu Quốc do các tên Mẫm, tên Nuôi….cầm đầu. Từ thời điểm mà ông Vũ Văn Mẫu cạo đầu xuống đường với sinh viên cho đến cuối 1967 (là năm tôi thi hành nghĩa vụ động viên) thì Ông Huỳnh Ngọc Chênh bắt đầu chập chững bước chân vào bậc trung học (nếu ông sinh năm 1952). Nói vậy để cho Ông Chênh biết rằng, tôi còn đây, và đã ‘một thời đấm đá từ Sài Gòn ra tới Huế’ với các tên Việt cộng nằm vùng là đồng chí cao cấp và cũng là bậc thầy của Ông. Dù thời gian nầy ông còn nhỏ, chưa phải là lãnh tụ trụ cột trong các phong trào, mặt trận chống đối phá hoại Việt Nam Cộng Hòa nhưng Ông là thành viên nòng cốt Mặt Trận Cứu Quốc, đã vào bưng học tập chính trị với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Kể từ biến cố Mậu Thân thì ông chính thức trong thành phần lãnh đạo ra mặt đánh phá Việt Nam Cộng Hòa với các tên Mẫm, Nuôi, Hoạt, Thái…Cho đến ngày 30.4.1975, chính Ông đứng lên kêu gọi đón tiếp cộng sản Hà Nội và truy lùng bắt bớ những người đã phục vụ dưới Chính Phủ Việt Nam Cộng Hoà. Đây là ký lịch của ông Huỳnh Ngọc Chênh !



Một điểm quan trọng tiếp, Ông viết thành sách thành báo rằng, Pháp Binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đêm đêm bắn vào nhà thường dân ! Đây là một điều LÁO KHOÉT ! Đến giờ nầy, 2012 (sau 40 năm)  ông vẫn còn dùng giọng điệu nặc mùi cộng sản để tuyên

truyền, thì tôi, người trong cuộc, MỘT NGƯỜI LÍNH VIỆT NAM CỘNG HÒA nói cho ông biết rằng Không có một người lính hay cấp chỉ huy Pháo Binh nào ra lệnh bắn vào

nhà dân. Chỉ có bọn côn đồ cộng sản của ông mới vô nhân đạo pháo vào nhà dân trong suốt chiều dài chiến tranh xâm nhập Miền Nam. Tôi là một người lính TiếpVận trực tiếp yểm trợ chiến trường, Từ năm 1970 đến 30.4.1975, tôi tham dự hành quân yểm trợ trực tiếp và liên tục các chiến trường cấp Quân Đoàn, Sư Đoàn xuống tới Trung Đoàn từ Cao Nguyện BanMêThuột đến KonTum. Tôi đã sống bên cạnh với các đơn vị Pháo Binh từ cấp Tiểu Đoàn, Đại Đội tham chiến cũng như Trung Đội Pháo Binh Diện Địa (tại các Quận) và chưa bao giờ nghe nói đến việc bắn lầm vào nhà dân chứ đừng nói bắn ngay vào nhà dân. Chính vì chỗ nầy mà tôi lên tiếng phản đối cái giải thưởng của ông cũng như sự hiện diện của ông tại Paris.



Sau đây, một câu hỏi riêng Ông Huỳnh Ngọc Chênh, từ trước đến nay đã có nhiều giải thưởng dành cho người tranh đấu trong nước, tôi đều hoan nghênh và ủng hộ hết mình.

Nhưng những người nầy từ trước đến nay không ai được trực tiếp đi lãnh giai mà phải nhờ gia đình, anh em dòng họ bạn bè lãnh thế. Ông có đường dây nào mà cộng sản để cho ông ra ngoài một cách dễ dàng như vậy ? Hình như Ông cho biết việc xin xuất cảnh của ông chỉ có 72 tiếng đồng hồ ? Nếu đúng thì đây là một phép lạ ! Chính điều nầy tạo cho tôi một dấu hỏi. Ông nghĩ sao ?



Cuối cùng, tôi rất kính phục chủ trương và tinh thần làm việc của các phóng viên trong Hội Phóng Viên Không Biên Giới, nhưng qua câu chuyện nầy, cũng xin Hội Phóng Viên Không Biên Giới cho biết khi người lãnh giải là một kẻ nói dối thì Quý Vị tính sao ?



Đinh Lâm Thanh

Paris, 23.3.2013

 * Nguồn Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do – http://www.hvhnvtd.com

Chủ Đề Người Lính VNCH : Phi Vụ Hành Quân Cuối Cùng.

Phi Vụ Hành Quân Cuối Cùng.


http://vnafmamn.com/aircraft/VNAF_AD6x.jpg

Lời người viết: Để ghi lại cuộc thư hùng giữa đội phòng không CS và phi tuần Khu trục A-1(Skyraider) của tôi vào ngày 27-04- 1975. Để chia xẻ với thân nhân những người đã bị CS giết sau ngày 30-04-1975 mà bọn CS cho họ là những người mang “nợ máu”.

Trong cuộc đời bay bổng, mỗi người phi công có một chuyến bay cuối cùng. Chuyến bay đó có thể là một chuyến bay bình thường, nhưng đôi khi lại là một chuyến bay mà người phi công không bao giờ quên hay là một chuyến bay vĩnh viễn ra đi để lại bao thương tiếc!

Cuộc chiến tự vệ của người miền Nam mang đầy chính nghĩa, trong khi bọn Cộng sản Bắc Việt đã trắng trợn xâm lǎng dưới chiêu bài giải phóng miền Nam!?

Miền Nam trù phú, tự do, và phát triển theo đà vǎn minh thế giới, đáng lẽ được cơ hội giải phóng miền Bắc mới phải?. Hàng lớp thanh niên tha thiết với lời kêu gọi của Tổ Quốc, yêu chuộng tự do và quyết tâm bảo vệ đất nước đã gia nhập các binh chủng, các cơ quan công quyền, các đoàn thể … để góp phần bảo vệ quê hưong, xứ sở.

Tôi là một trong những người đã rời bỏ mái trường thân yêu, xa gia đình và để lại phía sau một cuộc sống phồn hoa, để thi hành nhiệm vụ người trai trong thời chiến.

Không quân là quân chủng mà tôi xếp vào hàng đầu cho sự chọn lựa, mặc dầu tôi chưa biết gì về KQ hay các ngành nghề khác. Cái vốn liếng của tôi chỉ là một mớ vǎn hóa từ nhà trường. Tôi gia nhập KQ vào tháng mười nǎm 1964, sau một cuộc khám sức khỏe hết sức gay go. Tôi cùng hai người nữa được chọn vào ngành phi hành trong số hơn hai mươi người không được may mắn. Ðây là giai đoạn thử thách đầu tiên mà người phi công phải hội đủ trên tiêu chuẩn về sức khỏe.

Nha Trang là căn cứ huấn luyện quân sự và Anh ngữ. Tôi được sang Mỹ để thụ huấn thêm Anh ngữ trước khi sang trường bay. Người phi công đã trải qua nhiều giai đoạn thử thách về khả nǎng và sức khỏe trong thời gian huấn luyện. Tôi tốt nghiệp với chỉ số khu trục cánh quạt trên chiếc Skyraider và được chuyển đến PÐ-524 ở Nha Trang trong khi phi đoàn này sắp sửa đi Mỹ học chuyển tiếp phản lực cơ A-37 và sau cùng tôi được chuyển đến PÐ-114 để bay L-19.

Tôi thất vọng vì phải bay loại Quan sát. Một số Sĩ quan thâm niên trong ngành Quan sát sang Mỹ thụ huấn Khu trục khi về VN lại bay Quan sát, chuyện này cũng không có gì thắc mắc, nhưng tôi là một phi công trẻ với nhiều nhiệt huyết đáng lẽ phải được bay phi cơ khu trục. Tôi nhiều lần nghĩ đến chuyện làm đơn xin BTLKQ để trở về ngành Khu trục, nhưng nghĩ cho cùng, mình là một tân sĩ quan thì ai mà quan tâm đến?!. Thời gian trôi qua, mộng ước được bay phi cơ khu trục đã tàn phai như một khối bǎng tan dần trong mùa hè.


Tôi bắt đầu quen với cô Loan 19 (L- 19), thân cô mảnh khảnh và tha thướt theo mây gió và lời cô êm diệu như tiếng ru. Sau mấy lần cùng cô với vũ điệu dưới trǎng sao, tôi trở thành người bạn đồng hành trên khắp vùng Cao nguyên. Chiếc L-19 nhẹ nhàng với đôi cánh rộng và lững lơ trên không như con diều hâu đang sǎn mồi, mà lũ chuột (VC) đang tìm nơi ẩn núp. Sau một thời gian ngắn, tôi được gởi sang Phi đoàn Quan sát của Mỹ trong cùng cǎn cứ để thụ huấn cách hướng dẫn phi cơ khu trục Mỹ. Sau đó tôi được dẫn các phi tuần Mỹ oanh kích trong các chiến trường lớn. Người phi công quan sát giữ một vai trò quan trọng trên không, phối hợp với KQ và Lục Quân cùng với các cánh quân trên chiến trường một cách chặt chẽ và chính xác. Họ là người quyết định cho việc thả bom của phi cơ khu trục trong sự an toàn cho phi công và đơn vị bạn, và mang lại kết quả tối đa cho quân bạn.

Phi công Quan sát rất hiếm bị đạn phòng không, nhưng lại bị mất tích do thời tiết xấu, nhất là ở vùng Cao nguyên. Sự việc này thường xảy ra khi thi hành một phi vụ hành quân ở xa và nhiên liệu còn lại đủ để trở về, trong khi gặp thời tiết xấu hoặc bay một lộ trình quá xa và gặp thời tiết xấu ở điểm đến, người phi công khó mà chấp nhận một sự quay trở về vì thời gian và sự giới hạn của nhiên liệu.

Sau hơn hai nǎm với Phi đoàn Quan sát, tôi được BTLKQ gọi về Phi đoàn Khu trục cánh quạt 518 ở Biên Hòa vào hè nǎm 70. Cái cảm giác vui sướng là được gần gia đình, nhưng hồi hộp là không biết mình còn đủ khả nǎng để điều khiển con “Bò Ðiên”(Skyraider, ám chỉ loại phi cơ rất khó bay) này hay không?.
Chiếc Skyraider có một sức nặng 25.000 lbs gồm xǎng, 8 trái bom 500lbs hay 12trái 250 lbs và 800 viên đại bác 20 ly. PÐ-518 với một tòa nhà cao rộng bằng gạch trông đồ sộ. Tôi có cơ hội gặp lại bạn bè du học ngày xưa và thích cái phù hiệu Phi Long của Phi đoàn, nó được diễn tả

như một con rồng nằm trên bàn đồ VN, cái đuôi quấn lẩy miền Bắc, cái đầu nhả tên lửa vào đó. Sau bốn phi vụ bay quen tay và một phi vụ thả bom ở vùng giải tỏa, tôi bắt đầu bay hành quân. PÐ-518 đã tạo được nhiều chiến công, đặc biệt là chiến trường bên biên giới Kampuchia, Tử thủ của Ch/t L.V.Hưng ở An Lộc, Mùa hè Ðỏ lửa ở Quảng Tri…Ðể vinh danh những anh hùng đã hy sinh cho Tổ Quốc từ ngày tôi đến phi đoàn và kính cẩn nghiêng mình trước anh linh của cố Th/tá Nguyễn vǎn Ninh (Ninh de Gaulle), Th/tá Trương Phùng (rạng sáng 29-4-75 bị bắn trên không phận Saigon) Ð/úy Nguyễn Duy Vinh (ở Kampuchia), Ð/úy Trần Thế Vinh, Ð/úy Phan Quang Tuấn(Vinh và Tuấn hy sinh trong trận Mùa Hè Ðỏ Lửa ở Quảng Trị) và Th/úy Nguyễn Vǎn Thành.

Biệt đội Khu trục gồm sáu phi công được biệt phái cho Tân Sơn Nhất (TSN) trong nhiều nǎm qua để bảo vệ Biên Hòa khi hũu sự. Phòng không của Việt Cộng ngày càng gia tăng trên các chiến trường, nhất là hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7. Các phi vụ hành quân cũng bị giảm dần trong đầu nǎm 1975 qua sự giới hạn tiếp liệu của Mỹ. Mỗi phi vụ chỉ được trang bị phân nửa bom đạn.


Vào giữa tháng 04-75 tôi đang biệt phái cho TSN. Một tuần sau, hai Phi đoàn Khu trục cánh quạt 514 và 518 di tản về TSN. Một sự bận rộn chưa từng thấy đã diễn ra hàng ngày. Phi đoàn không có phần sở chính thức đễ làm việc vì vậy nhân viên phi đoàn không còn gặp nhau thường xuyên. Tất cả gặp nhau trong buổi sáng để nhận phi vụ hành quân trong ngày vì mỗi người còn phải lo cho gia đình trong lúc tạm sống ở một nơi vừa đến. Buổi sáng ngày 27 tháng 4 nǎm 75, tôi nhận một phi vụ hành quân với phi tuần hai chiếc AD-6. Tôi dẫn phi tuần, Tr/úy B bay chiếc so hai. Chúng tôi thường bay với nhau vì cùng chung phi đội. Trên đường ra bãi đậu phi cơ, Tr/úy B ghi tầnsố, điểm hẹn và danh hiệu của phi cơ quan sát trên vùng. B lúc nào cũng tươi cười vui vẻ và đựợc bạn bè quý mến, bay bổng một cách an phi và kỷ luật, anh cũng sắp ra phi tuần Phó (pilot dẫn phi tuần hai phi cơ).

Tôi không biết trước đặc tính của phi vụ, chuyện này cũng thường tình, nhưng điểm hẹn là Biên Hòa. Thời tiết rất tốt cho buổi sáng ngày hôm đó. Hai phi cơ được trang bị mỗi chiếc 12 trái bom 250 lbs. Sau khi cất cánh, hai phi cơ lấy hướng đến Biên Hòa với cao độ nǎm ngàn bộ và đang trên tần số riêng của phi tuần.

- Hai, kiểm soát và báo cáo tình trạng phi cơ.

- Một, phi cơ ở tình trạng tốt

- Biên Hòa ở hướng mười hai giờ.

- Hai thấy.

- Làm gì mà xe cộ trên xa lộ BH- Saigon nhiều như vậy?

- Có lẽ dân chúng di tản về Saigon.

Bỗng dưng trong tôi gợi lại hình ảnh của cǎn cứ Biên Hòa, nơi mà chúng tôi quây quần trong cuộc sống hàng ngày. BH là một trong những cǎn cứ đồ sộ của KQ, nhưng nay không còn là nơi xuất phát các phi vụ hành quân yểm trợ cho vùng III. Tiếc thay cho sự mất mát và thay đổi quá nhanh!

- Hai, qua tần số hành quân —

- Hai rõ.

- Thanh Xà (TX) đây Phi Long (PL) gọi.

- TX nghe PL 5 trên 5. Xin cho biết vị trí và vũ khí được trang bị.

- PL đang ở phia Nam Biên Hòa, 5 dặm, cao độ 5000 bộ, hai A-1 với 24 trái 250 lbs

-TX nhận rõ, mục tiêu của PL là một vị trí phòng không ở phía Bắc phi trường BH khoảng 4 dặm, không có quân bạn, khi nào đến mục tiêu cho biết.

- PL nhận rõ.

- Hai có nghe FAC (Air Forward Control) không?

Hai nghe rõ.

- TX nhận ra bạn đang trên không phận phi trường BH, khi nào sẵn sàng cho biết để TX đánh dấu mục tiêu, TX sẽ giữ hướng Nam mục tiêu, với cao độ 2000 bộ.

- PL nhận rõ.

Phi tuần đang ở trên mục tiêu, tôi chọn hướng tấn công từ Ðông sang Tây để đặt đối thủ trong sự khó khǎn qua ánh mặt trời của buổi sáng.

- Hai ra đội hình thả bom và cơ chế 26, 46 (2600 vòng phút, 46/56 hay 82% của động cơ), đánh từ Ðông sang Tây, quẹo trái, mỗi Pass(một lần thả) hai trái và kiểm soát phi cơ lần cuối.

- Hai rõ.

Tiếng động cơ vang vội, thân phi cơ rung chuyển, tốc độ tǎng nhanh trong cơ chế tác chiến như mãnh hổ đang lao mình tấn công con mồi. Tôi trong tư thế dè dặt như thường lệ.

- TX, bạn có thể cho trái khói.

- TX vào đánh dấu mục tiêu.

Trái khói trắng bốc lên gần con sông và trên một vùng rộng không cây cối, tôi quẹo gắt để điều chỉnh vòng đánh.

- Yêu cầu PL đánh ngay trái khói.

- Một vào.

Tôi vừa lắc cánh vào thì thấy một vòng tròn lửa với đường kính khoảng 100 thước, nhiều dây đạn lửa nối đuôi theo lên và bao quanh phi cơ, có dây chỉ cách phi cơ mươi thước, trong khi phi cơ chưa kịp thǎng bằng đôi cánh, tôi tiếp tục vào cho đến khi mục tiêu hiện trên máy nhắm, rồi thả hai trái, tôi biết là hơi sớm hơn hai giây đồng hồ vì bị bắn quá rát. Tôi kéo phi cơ lên 5G ( Gravity force) mắt mờ mặc dầu đã làm phượng pháp chống G.

- Hai vào và kéo lên an toàn.

http://vnafmamn.com/aircraft/VNAF_AD6d.jpg
Phi công lead (Một) có nhiệm vụ bảo vệ sự an toàn cho phi tuần trong mọi trường hợp! Tôi quyết định lấy cao độ 8000 bộ để tạo khó khǎn cho xạ thủ phòng không, vì vậy mà độ chính xác cùa quả bom cũng bị giảm đi. Phi tuần không thể là mục tiêu ngon lành cho hơn 20 khẩu phòng không vì phi cơ sẽ bị trúng đạn trước khi thả bom.

- Hai theo tôi lấy cao độ 8000.

- Hai rõ.

Hai vẫn bình tĩnh thi hành nhiệm vụ và đặt tin tưởng vào sự quyết định của tôi trước sự sống chết trong đường tơ sợi tóc. Cộng sản đã quy tụ hết phòng không trong vùng và chọn một kỹ thuật phòng không mà tôi chưa bao giờ thấy, có thể là một chiến thuật phòng không ở miền Bắc?. Tôi tin là định mệnh sẽ dành cho bọn xâm lǎng . Sau hai phút lấy cao độ và điều chỉnh vòng đánh, tôi bắt đầu thả. Giống như lần trước, nhưng các dây đạn có phần chậm hơn và cách xa phi cơ đôi chút, do đó mà tôi có đủ thời gian đặt máy nhắm vào mục tiêu và thả hai trái bom đúng thời điểm. Hai vào thả và ra cũng được an toàn.

Tôi bắt đầu cho Pass thứ 3 và khám phá ra là chỉ còn một phần tư vòng tròn bên trái bắn lên, tính ra là sáu dây đạn. Như vậy ba phần tư kia đang làm gì? Cường độ cǎng thẳng đã giảm bớt, chúng tôi tiếp tục thả Pass thứ 4 và 5. Pass cuối cùng, thứ 6, vẫn còn phần tư bắn lên. Hy vọng bọn Công sản sẽ toại nguyện với câu “Sinh Bắc Tử Nam” qua bốn trái cuối cùng! Những tên nầy đã từng bắn hạ phi cơ khu trục trong nhiều năm qua là nhờ tài ngụy trang của chúng, nhưng hôm nay chúng không dùng kỹ thuật đó cho nên đã đi gặp “tên cáo già gieo máu lửa” (HCM) trước khi cạn ly rượu mừng chiến thắng!

Hai thả xong và vào hợp đoàn, phi tuần lấy hướng về TSN trong khi TX báo cáo kết quả là toàn diện mục tiêu đã trúng bom.

Người lính KQ làm việc ngày đêm, bảo trì và trang bị vũ khí cho phi cơ để cuối cùng các quả bom rơi chích xác vào mục tiêu qua bàn tay người thả, họ đã thật sự đóng góp vào cuộc chiến và hy sinh cho Tổ Quốc!

Rồi ngày 30 tháng 04 năm 1975 đến Miền Nam sụp đổ trong sự uất ức, ngỡ ngàng và đau xót của Quân và Dân miền Nam nước Việt.

Chính thể Việt Nam Cộng Hòa cáo chung…Tôi không còn có dịp được lái máy bay nữa, hóa ra câu chuyện kể trên chính là Phi vụ hành quân cuối cùng về cuộc đời bay bổng của tôi…

Phi Long 31

Chủ Đề Mùa Quốc Hận : Ngày 30 Tháng Tư - Nỗi Đau Không Tan

Ngày 30 Tháng Tư - Nỗi Đau Không Tan


Tối ngày 28.4.1975 khi việt cộng bắn những trái pháo vào phía sau rạp hát Quốc Thanh trên đường Võ Tánh - Sài Gòn 2, lúc ấy gia đình tôi đang sống trong khu cư xá bên trong BTL/CSQG gần đó, cạnh Sở Căn Cước và Sở Truyền Tin… phía sau sân cờ. Bố tôi lúc ấy là Đại tá Giám đốc Trung tâm Hành quân Cảnh lực trung ương và kiêm nhiệm một công việc mới theo Quyết định của Thủ tướng CP là ông Vũ văn Mẫu ngày 30/04/1975 là Chỉ huy trưởng CSQG Thủ đô Sài Gòn, Ông liên lạc với một người em kết nghĩa là chú Phạm Như Hoành (con trai của cụ Phạm như Phiên là TNS Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa) chú Hoành khi ấy đang làm Giám Đốc khách sạn Majestic gần bờ sông Bạch Đằng, thế là gia đình tôi di chuyển tới ở tại lầu 5 của khách sạn này, khi Mẹ tôi dắt đàn con 7 đứa ra xe , Bố tôi khi ấy bận công vụ không có nhà ,các sĩ quan và cảnh sát viên ở Nha Trang di tản về ở tạm quanh sân cờ BTL thấy vậy, họ nghĩ là gia đình tôi cũng bỏ chạy, có người hỏi chú Ba tài xế:

- Bộ gia đình Đại tá Chánh đi hả ?

- Không, chỉ ra ngoài ở sợ việt cộng pháo trúng mấy đứa nhỏ thôi.

Hình như họ không tin tưởng lắm qua những ánh mắt nhìn theo chúng tôi. Mẹ tôi có dừng lại và bà có nói gì đó với họ, tôi không nghe rõ . Tình thế lúc bấy giờ ở bên ngoài rất hỗn loạn, người ta đổ xô ra đường rất đông, các lực lượng phòng thủ ở thủ đô Sài gòn lúc bấy giờ có lẽ đông nhất là các chiến sĩ Nhảy Dù cùng với rất nhiều các binh chủng tập trung về Thủ đô, mặc dù vậy, thủ đô vẫn an ninh, không có việc cướp bóc như có một số người đã nói, những chiến binh của quân đội VNCH vẫn rất có kỷ luật, cầm súng trên các ngã đường trong thủ đô, đồng bào đổ xô và tranh nhau lên các chiếc tàu biển đậu trên bờ sông Bạch Đằng để hy vọng được thoát khỏi Sài Gòn giờ phút cuối cùng, tôi nhìn thấy các chiến sĩ Nhảy Dù đang cố giữ trật tự cho đồng bào lên tàu...

Nhưng những chiếc tàu vẫn không rời bến. 10 giờ sáng sớm hoặc trễ hơn một chút, ông Dương văn Minh ra lệnh đầu hàng, tôi thấy Mẹ tôi khóc, chúng tôi chờ Bố tôi tại khách sạn, những tên việt cộng đầu tiên xuất hịện trên đường phố cùng những chiếc xe thiết giáp gầm rú để trấn áp tinh thần dân chúng Sài Gòn. Mẹ tôi ôm chúng tôi vào lòng, Bố tôi trở về cùng với người tài xế, cả hai đều không mặc cảnh phục, Bố tôi ôm Mẹ tôi và hôn từng đứa con, chú tài xế lái xe đi đem theo khẩu M-16, trở lên phòng Bố tôi lại nói chuyện riêng với Mẹ tôi, không cho chúng tôi nghe, sau đó tôi nghe chị Thu là người giúp việc cho gia đình tôi òa lên khóc, chị quỳ dưới chân Mẹ tôi van xin được ở lại cùng gia đình tôi, chị không muốn về quê ở Gò Công, lúc ấy tôi mới biết Bố tôi định dùng súng bắn hết anh em chúng tôi rồi cùng Mẹ tôi tự sát. Mẹ tôi khi ấy không còn khóc nữa, Mẹ cũng chọn sự lựa chọn của Bố tôi, tôi khóc và ôm lấy Mẹ, có lẽ lúc ấy là lần đầu tiên trong cuộc đời tôi biết khóc, tôi không ý thức được sống chết là gì, nhưng tôi rất sợ khi mọi người nói tới hai tiếng “việt cộng” !

Bố tôi rút khẩu súng ra và ôm lấy chúng tôi... Có lẽ có điều gì đó không nỡ, Bố tôi không đành lòng nổ súng vào đàn con thơ dại đang đứng chờ đợi... Những người phóng viên ngoại quốc họ đến tận phòng ở gia đình tôi và hỏi: “ Chuyến đi cuối cùng rồi ông có ra đi không ?. Bố tôi trả lời : “ Không “ . Tại sao vậy ? Bố tôi nhìn Mẹ tôi một hồi lâu, Bố nói ông không nỡ bỏ các anh em đang cầm súng ở lại ngoài kia, có lẽ ở BTL CSQG cũng không còn ai ngoài Bố tôi và ông Tướng Nhu, với cấp bậc của Bố tôi, ông có thể tìm được một chỗ cho ông và gia đình một cách dễ dàng để bay thoát ra ngoài hạm đội Mỹ đang đợi ngoài khơi, nhưng ông đã không làm như một định mệnh với quá nhiều đau khổ cho ông và gia đình về sau, khi ở lại dưới chế độ cộng sản, tôi xuống thang máy khách sạn và gặp một toán việt cộng cầm cờ đang tìm cách lên sân thượng của khách sạn, chúng quát người phục vụ khách sạn khi anh ta đưa họ vào thang máy, chúng bảo: “ Chúng tôi muốn lên trên ấy chứ không phải vào cái buồng nhỏ này “.

Chúng dí súng vào đầu người dẫn đường, sợ quá và không thể giải thích với chúng, anh ta đành dắt họ đi cầu thang... Thấy chúng lên lầu, tôi và chị Thu giúp việc sợ quá, vội dùng thang máy chạy vội lên phòng, và tôi đã ném chiếc kính cận của Bố tôi xuống cửa sổ, tôi khóc nói với Bố tôi: “ Con sợ tụi nó biết Bố ở đây nên con ném xuống dưới rồi ..... Sau đó gia đình tôi trở về cư xá Thanh Đa, nơi Bố Mẹ tôi có một căn nhà mua trả góp trước đây, căn nhà nhỏ này vốn dùng để cho các gia đình của các chú trước đây làm việc với Bố tôi ở Sư Đoàn 23 di tản về ở tạm, gia đình chú Thọ cũng đã đi đâu rồi nên gia đình tôi dọn vào, tất cả mọi người đều chỉ có một bộ đồ mặc trên người, Mẹ tôi phải đưa chúng tôi ra chợ mua thêm để mặc. Tất cả mọi người phải nằm chiếu, nhà không có bàn ghế hay giường tủ gì cả... Khởi sự cho một cuộc sống hoàn toàn trắng tay đúng nghĩa ! Lúc ấy đứa em út của tôi chưa biết đi. Ngày Bố tôi đi tù có hai chú ngày xưa làm việc cùng ở Sư Đoàn 23 trước khi Bố tôi được biệt phái về Cảnh sát là chú Phạm Ninh và chú Nghiêm xuân Đông đến đưa Bố tôi đi, ông đi ngay trong ngày sinh nhật thứ 41 của mình, tôi chạy theo đến tận chân cầu thang cư xá và đứng nhìn Bố tôi lên chiếc xe lam...

Từ ngày 30/4 năm ấy, một tay Mẹ nuôi dạy chúng tôi, sau này còn phải nuôi Bố tôi ở trong tù cộng sản, có những lúc Mẹ quá sức và tuyệt vọng vì không biết ngày về của Bố tôi, Mẹ có lần bạo gan hỏi việt cộng: “ Sao nói đi một tháng mà bây giờ đã hơn một năm chồng tôi vẫn chưa về ? Gia đình cũng không biết đang ở đâu, sống hay chết ?” Chúng trả lời : “ Nói một tháng là một tháng đi đường (?) chứ ai nói là đi cải tạo một tháng rồi về đâu...

Chừng vài năm sau, trong cuốc sống quá khổ sở, Mẹ tôi phải lặn lội sớm hôm kiếm tiền nuôi con, trong một lần quá tuyệt vọng Mẹ tôi đã viết một lá thư để lại cho Bố tôi và nấu một nồi chè đậu xanh trong đó Mẹ đã bỏ thuốc diệt chuột mà Tổ Dân phố cấp cho, Mẹ múc ra chén cho từng đứa con... Có lẽ tôi cũng không nhớ lầm thì lúc ấy bên ngoài mọi người đang tưng bừng mừng 2 năm “giải phóng” thì phải, có lẽ Mẹ tôi cũng mượn dịp này để Mẹ và đàn con 7 đứa cũng được giải thoát chăng ? Lúc ấy các em tôi cũng đã lớn, các em gái như Tuyết, Trinh, Hằng... đã khóc và quỳ xuống xin Mẹ cho chúng con được sống, chỉ sống để chờ Bố về, có đứa còn khóc gọi “ Bố ơi !” ...

Mẹ tôi dường như đã cạn khô hết nước mắt rồi, thương con cực khổ quá thì chỉ muốn cho chúng chết đi để hy vọng một kiếp sống mới tốt đẹp hơn ? Sống với đời sống “con của ngụy” thì cũng chẳng ra gì ? Cuối cùng tình yêu thương của Mẹ vẫn chiến thắng, Mẹ đã hắt đổ nồi chè gần như trở thành định mệnh - như ngày nào Bố tôi đã bỏ khẩu súng lục xuống để đàn con tiếp tục được sống như sự an bài của Trời Phật vậy !

Sau đó Mẹ càng cố bương chải kiếm sống ngoài đường, có lúc bị kẻ gian đập đầu bất tỉnh ngoài bến xe khi Mẹ mua đồ xuống Cần Thơ cho dì bán nhà hàng, mong kiếm chút tiền mua cơm về cho con, lúc ấy việt cộng cấm mang gạo, ai có gạo sẽ bị tịch thu, nhưng nếu nấu thành cơm mang về Sài Gòn thì được... Chúng con biết Mẹ rất cực khổ - từ một bà mệnh phụ, Mẹ từng là Tổng thư ký Hội Bảo Trợ gia đình binh sĩ SĐ 23 BB, rồi Hội Trưởng Hội BTGĐBS của Trung Đoàn 44 BB ở Sông Mao khi Bố tôi làm Trung Đoàn Trưởng... Thế mà vì vận nước suy vong, Mẹ sẵn sàng lam lũ như những kiếp đời vốn dĩ bần hàn.

Những ngày 30 tháng Tư đi qua, tuy Mẹ không nói, nhưng trong đôi mắt của Mẹ - Chúng con biết Mẹ buồn tủi lắm !Thấy Mẹ tôi vất vả quá, cậu Khánh tôi ở Ban mê thuột có ý nhận nuôi phụ vài đứa, nhưng Mẹ không chịu, có một chú lính ngày trước của Bố tôi từ Nha Trang vào, thấy cảnh đời gia đình tôi khổ sở quá, bèn móc ví ra đưa cho thằng em tôi vài trăm, nó nhất định không lấy, chú lính phải năn nỉ mãi nó mới cầm và thằng bé chưa đầy 10 tuổi đã phải bật khóc vì tủi thân, có bao giờ nó phải nhận sự giúp đỡ thương hại như thế?

Thời gian sau này, có các chú may mắn ra đi được, có người ở Mỹ, có người ở Na Uy như các chú Nguyễn xuân Thọ, Phạm Ninh, Hồ Đắc Tùng, các bác bạn của Bố tôi Bác Thăng... gởi tiền và quà về giúp Mẹ tôi khi Mẹ đã quá sức cùng kiệt - nhờ vậy mà chúng tôi được sống !

Ngày 30/4 sắp đến - cũng dịp này, tôi xin mượn những giòng chữ này để một lần được nói lên lời tri ân những ân nhân của gia đình tôi, cũng như xin được thưa với Mẹ của chúng tôi rằng “Chúng con hiểu và suốt đời yêu thương Mẹ, đó là điều có thật đang diễn ra trong tâm hồn chúng con ! “ Và với Bố , một người Cha đã suốt đời sống thanh liêm, yêu thương đồng đội, trung thành với Tổ Quốc, kiên định trong gông cùm biệt giam của cộng sản, cho dù có lúc Bố đã từng nói trong cuốn sách lưu niệm của các sinh viên Sĩ Quan Khóa 8 Hoàng Thúy Đồng trường VBQG Việt Nam rằng: “Điều mà tôi ân hận nhất là để cho Vợ và các con của tôi phải sống những ngày tháng đau khổ đói khát dưới chế độ cộng sản... “Thưa Bố , chúng con hiểu được, chúng con bây giờ đã lớn khôn, trưởng thành, chúng con không trách cứ gì số phận của minh cả, mà bù lại có lẽ chúng con càng hãnh diện và tự hào hơn vì chúng con có một người Mẹ tuyệt vời, biết hy sinh và biết đau xót cho Quốc Gia, không như những người Mẹ bình thường, có một người Cha sống ngay thẳng, tận tụy cùng Tổ Quốc, Chức nghiệp, không hèn hạ và vô trách nhiệm... Nước mất nhà tan nên gia đình mình cùng hàng trăm ngàn gia đình sĩ quan binh sĩ Việt Nam Cộng Hòa phải đau khổ, chia sẽ và thăng trầm cùng vận nước - Điều đó đâu có gì nhục nhã đâu !

Như Bố vẫn thường kể cho chúng con nghe về những trận đánh của Bố ngày xưa, kể về các sĩ quan của đơn vị Bố một cách hãnh diện và tự hào như các chú Xuân, chú Tài, chú Đức, chú Lâm, chú Ninh... trong số ấy có những người đã ra đi không bao giờ trở về...

Sau mười mấy năm tù đày - Bố tôi đã trở về với gia đình và được ra đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện RD-7 - Và mười mấy năm sau trên mảnh đất Utah, Mẹ tôi đã thực hiện một điều mà Bố tôi mơ ước, đó là một bộ quân phục khaki vàng với phù hiệu Quân Đoàn II, Sư Đoàn 23 BB cùng các loại huy chương Việt - Mỹ của Bố tôi trước đây... Trong bộ quân phục oai phong ấy, Bố ơi ! Người sĩ quan của ngày nào vẫn còn đấy, chúng con thấy Mẹ cười thật tươi, hạnh phúc, có phải chăng lý tưởng Quốc Gia vẫn âm ỉ trong tâm hồn của Bố Mẹ, dù thời gian có đi qua bao xa? Chúng con thấy bàn tay Bố vân vê Bảo Quốc Huân Chương lV và trong ánh mắt của người lính già gãy súng vẫn âm vang nỗi bi tráng của một thời binh lửa...

Ngày mất nước lần thứ 34 lại về, chúng con hiểu sự đau khổ trong tâm hồn của Bố Mẹ - âm thầm , chịu đựng, u uẩn, lực bất tòng tâm... Bố vẫn thường nhắc cùng với Mẹ về những người đã hy sinh ngoài mặt trận để bảo vệ miền Nam Việt Nam, những bạn bè của Bố đã ngã xuống trong ngục tù CS.... Con xin được tạm kết ở đây cho những dòng tâm tư này bằng hai chữ “Định Mệnh “ !

Vâng, Định Mệnh của cả một nền Cộng Hòa, của hàng trăm ngàn tử sỉ, của hàng trăm ngàn người không yên dưới biển sâu trên hành trình đi tìm tự do, và của ai nữa ? ... Của những người Quôc Gia đang còn sống đây cho dù ở trên xứ sở Tự Do hay còn trong nước, vành khăn trắng này sẽ được cột lên đến bao giờ?

James Dieu

Giải thưởng cho một NGƯỜI NÓI LÁO : Bài 3

Huỳnh Ngọc Chênh là ai?
-Bài 3-

Trở lại với căn nhà “của Năm Thông” ở số 29 đường Nguyễn Trãi, Đà Nẵng. “Năm Thông” là “bí danh” của Nguyễn Hữu Nỳ (Nì), quê quán ở Thanh Quýt, Điện Bàn, Quảng Nam. Đây là một căn nhà hai tầng, là do đảng Cộng sản Hà Nội đã cấp tiền cho Nguyễn Hữu Nỳ đứng tên mua và làm chủ, để làm nơi ở bí mật cho những “Sĩ quan quân báo - cán bộ cao cấp” của đảng Cộng sản, và cũng là nơi hội họp, bàn thảo những hoạt động của “đặc công nội thành” Đà Nẵng.
Vợ của Nguyễn Hữu Nỳ, là Hà Thị Nì, đã được đảng Cộng sản Hà Nội tuyên dương là “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” vì có chồng và cả bốn con trai theo “cách mạng”. Trong đó, có Nguyễn Hữu Bì, con trai của vợ chồng bà, Bì đã từng theo Việt cộng để “chống Mỹ-Ngụy”. Mùa hè, 1966, trong cuộc bạo loạn Bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, Nguyễn Hữu Bì bị bắt quả tang làm Cộng sản, nên phải bị giam, sau đó, ra nhà tù Côn Đảo.
Sau Hiệp Paris 1973, về Việt Nam, Nguyễn Hữu Bì được trao trả về địa phương. Sau năm 1975, Nguyễn Hữu Bì là “Bí thư - Chủ tịch xã Điện Thắng - thường vụ đảng ủy- Bí thư Huyện ủy Huyện Điện Bàn, Quảng Nam”.
Căn nhà của đảng Cộng sản Hà Nội, dưới “chủ quyền” của Nguyễn Hữu Nỳ, tức “Năm Thông” đã từng là nơi hội họp của “đặc công nội thành, gồm đứng đầu là người con trong gia đình: Nguyễn Hữu Bì và những tên “đặc công” như Tào Tựu, Lê Ngọc Nuôi, Hồ Văn Tiên, Lê Văn Danh… cùng với những sinh viên “phản chiến” như Nguyễn Hữu Thái (là cháu của nhà Nguyễn Hữu), Huỳnh Thúy, Trương Công Lanh, Huỳnh Ngọc Chênh…
Riêng những “Sĩ quan quân báo - cán bộ cao cấp” của đảng Cộng sản sau một thời gian ẩn trú bí mật tại căn nhà của “Năm Thông” vì có nguy cơ bại lộ, nên đã phải di chuyển đi nhiều nơi khác, những “tên tuổi” nổi tiếng tại Đà Nẵng như: “Đại tá Võ Bá Huân, Đại tá Nguyễn Văn Cam, Trung tá Hoàng Quốc Dân…” đã bị các Chiến sĩ Biệt Động Quân bắt trong lúc chuẩn bị tấn công thành phố Đà Nẵng vào dịp Tết Mậu Thân, 1968. Sau đó, đã được thả ra bưng… Nhưng trong một lần tập kích của quân đội Mỹ, một trực thăng của Mỹ đã chụp lưới xuống đất để “xúc” Nguyễn Văn Lợi. Loại lưới chụp này, chỉ những người đã từng biết đến, mới hiểu được hình dáng và cách chụp bắt người như thế nào, ngoài ra rất ít người biết, nên khó có thể tả được. Và sau khi bị mắc vào chiếc lưới, Nguyễn Văn Lợi là một “cán bộ” của Việt cộng được kéo lên chiếc trực thăng, trong lúc đang mang theo một số tài liệu bí mật, để đưa về Trung tâm thẩm vấn. Từ đó, mọi sự đã bị đổ vỡ, một số người đã bị đưa ra Tòa Án Quân Sự Mặt Trận Vùng I, và đã bị đưa ra Côn Đảo…
Chính vì thế, cộng thêm với những tên như Nguyễn Hiếu, Lê Thanh Bình, Nguyễn Thị Thùy Trang, Lê Thị Dưa… đã bị bắt, và một số vũ khí ở dưới hầm trong các chùa đã bị phát giác và tịch thu, nên cuộc tấn công của Cộng quân vào thành phố Đà Nẵng vào Tết Mậu Thân, 1968, hoàn toàn thất bại, Cộng quân đã không chiếm nổi Đà Nẵng, dù chỉ một giờ. Mặc dù như thế, nhưng những tên Cộng sản ấy, đã bị bắt ở các nơi khác, để chuẩn bị cuộc tấn công. Còn căn nhà của “Năm Thông” tức Nguyễn Hữu Nỳ, là nơi đảng Cộng sản phải bảo vệ tuyệt đối, nên sau khi các “sĩ quan quân báo - cán bộ cao cấp” VC đã rời khỏi, thì căn nhà này chỉ dành cho những kẻ đã và đang hoạt động hợp pháp, để chính quyền không có lý do bắt giữ, bởi chúng đã được ngụy trang qua các nhãn hiệu là “hội đoàn” và Sinh viên “phản chiến” như Nguyễn Hữu Thái, Huỳnh Ngọc Chênh…
Ngày 19/5/2005. BBC: Tiếng Việt đã đăng tải, và phỏng vấn Nguyễn Hữu Thái trong một “Trích đoạn cuốn: Những điều chưa nói hết về 30-4-1975”. Nguyễn Hữu Thái đã viết:
“Thấy trong đám đông ùa đến đài có nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, sinh viên Huỳnh Ngọc Chênh đưa anh vào và tất cả cùng anh hát vang bài “Nối vòng tay lớn”.
Ngày 30/3/2008, Nguyễn Hữu Thái viết bài: “Dương Văn Minh và tôi” (có kèm theo tấm hình chụp chung Thái và Dương Văn Minh). Nguyễn Hữu Thái đã viết:
Yểm trợ Nguyễn Hữu Thái ra tranh cử Quốc hội Sài Gòn, 1971
“Phải tìm hậu thuẫn nơi khối đông đảo quần chúng đô thị, lúc này không ai khác hơn là lực lượng Phật giáo, nhất là ở miền Trung. Tôi bàn bạc với người Mặt trận Giải phóng sẽ về Đà Nẵng quê tôi để tranh cử. Bấy giờ tôi có thuận lợi là vừa được sự ủng hộ của nhóm tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống với chiêu bài hòa bình lẫn sự hỗ trợ của Thượng tọa Thích Trí Quang. Nhà lãnh đạo Phật giáo uy tín nhất miền Nam lúc đó đang bị Thiệu-Kỳ cô lập ở Sài Gòn đã đích thân gửi thư yêu cầu vị sư đại diện tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng là Thích Minh Chiếu sắp tên tôi vào danh sách những người được Phật giáo ủng hộ công khai”.
Nguyễn Hữu Thái và Huỳnh Ngọc Chênh, lúc ấy, đều cư trú và có mặt tại Đà Nẵng, đã từng đứng trong hàng ngũ “Đoàn sinh Viên - Thanh niên Phật tử quyết tử” trong cuộc bạo loạn Bàn thờ Phật xuống đường tại Đà Nẵng, mùa hè, 1966, dưới sự chỉ đạo của Thích Trí Quang, còn tại miền Trung, thì do Thích Minh Chiếu, vì đã do sự thiếu trí khôn hay cố tình của chính phủ Đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, nên đã ban cho Thích Minh Chiếu cái chức: “Thiếu tá trưởng phòng Tuyên úy Phật giáo vùng I Chiến thuật”, và cũng là “Tư Lệnh Quân Đoàn Vạn Hạnh”. Và, “Tổng Hành Dinh quân Đoàn Vạn Hạnh” đã được đặt tại chùa Phổ Đà, tức Phật Học Viện Trung Phần, ở số 340, đường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng (trước kia là “Quân đoàn cách mạng Trần Hưng Đạo”) nhưng sau đó, đã bị đổi tên thành “Vạn Hạnh”, bởi vì có một số người đã không chấp nhận xúc phạm đến phương danh của Đức Thánh Trần Hưng Đạo, khi đem tên của Ngài vào cuộc thảm sát đầy máu và nước mắt của những lương dân vô tội tại Đà Nẵng!
Sau ngày 30/4/1975, cả Huỳnh Ngọc Chênh và Nguyễn Hữu Thái đều được chế độ Hà Nội trọng dụng trong “công tác truyền thông”. Huỳnh Ngọc Chênh được hoàn toàn tự do dùng hệ thống Internet để viết tất cả những gì muốn viết (theo sự chỉ đạo của đảng CSVN).
Ngày 11/3/2013, đảng Cộng sản Hà Nội đã cho Huỳnh Ngọc Chênh lên phi cơ từ Phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn sang Paris, để Huỳnh Ngọc Chênh được tự do gặp tổ chức “Phật Tử Hướng Việt”, là hậu thân của tổ chức “Hướng về Đất Việt” đã do Nguyễn Đan Quế, cũng là một sinh viên “phản chiến” giống như Huỳnh Ngọc Chênh thành lập từ năm 1968, trong lúc “du học” tại Pháp, Quế đã đi khắp Âu Châu, để hô hào phản chiến, đòi “Mỹ phải rút quân, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa phải từ chức, và phải thả hết những tù binh, tù chính trị Cộng sản. Nhưng, không đòi Hà Nội phải trả các Chiến sĩ Biệt kích cũng như những tù binh, tù chính trị của Việt Nam Cộng Hòa đã bị Việt cộng bắt đưa ra Bắc!
Ngày 12/3/2013, “Đài Chân trời Mới” là “cơ quan ngôn luận” của Mặt trận Hoàng Cơ Minh, đã đưa tin về cuộc “phỏng vấn” như sau:
“Công dân mạng Huỳnh Ngọc Chênh trao đổi với đài Chân Trời Mới tại buổi lễ trao giải thưởng Netizen của tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới (RSF) ở Paris ngày 12/3/2013”
Xin quý đồng bào tại quốc nội cũng như hải ngoại hãy hết sức sáng suốt trước những “diễn biến” của Huỳnh Ngọc Chênh:
Mặt trận Hoàng Cơ Minh, tiền thân của “đảng Việt Tân” đã “bị” đảng cộng sản Hà Nội gọi là “bọn khủng bố”. Thế nhưng, tất cả những “nhà tranh đấu” ở ngay trong nước, lại được tự do tiếp xúc, trả lời phỏng vấn của “bọn khủng bố Việt Tân”. Như vậy, trên thế giới này, chỉ có chế độ Hà Nội là luôn luôn công khai mở rộng vòng tay để đón chào “khủng bố”. Và sau khi trả lời “phỏng vấn” với đài Á Châu Tự do, với “khủng bố Việt Tân” thì Huỳnh Ngọc Chênh lại trở về Việt Nam, để tiếp tục... “khủng bố”!
Và, hôm nay, là trung tuần của tháng Ba. Một lần nữa ngày Quốc Hận: 30/4, lại sắp trở về với những niềm đau, nỗi thống hận khôn nguôi. Máu và nước mắt của Dân - Quân - Cán - Chính Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn vương vấn trên những nấm mộ ở những vùng đồi núi hoang vu, ở các trại tù “cải tạo”, trên những “vùng kinh tế mới”, trên những con đường vượt biên, vượt biển!
Những dòng huyết lệ ấy, vẫn chưa, và có lẽ sẽ không bao giờ khô phai thực sự, khi trên Quê Hương ta vẫn chưa có thanh bình, đồng bào ta vẫn chưa được tự do, vẫn còn những cảnh đời lầm than, đói khổ, vẫn còn vô số những bất công. Trong khi đó, thì Huỳnh Ngọc Chênh; một kẻ đã từng vào tận Đài Phát Thanh Sài Gòn vào ngày 30/4/1975, để cùng với Trịnh Công Sơn, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Hữu Thái... để đồng ca bài “Nối Vòng Tay Lớn”:
Ba mươi tám năm sau, đảng Cộng sản Hà Nội lại đưa Huỳnh Ngọc Chênh sang Paris, để qua hệ thống thông tin toàn cầu, với mục đích cần phải đạt tới, là chiêu dụ đồng bào tại hải ngoại, để một lần nữa, hoàn thành cái trách vụ: “Nối Vòng Tay Lớn”!
Paris, 22/3/2013
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Chủ Đề Mùa Quốc Hận : Con chó vện và người tù cải tạo




Trên bước đường lưu đày của những người tù chính trị Miền Nam đầy máu và mồ hôi trên chính quê hương của mình, đã có bao nhiêu người “sinh Nam, tử Bắc” và trong số nầy có anh Lê Xuân Đèo là cánh chim lìa đàn rất sớm.

Giữa tháng 10 năm 1976. Một nhóm tù chính trị Miền Nam khoảng 100 người, từ nhà tù Sơn La lâu đời, nằm trên vùng núi cao đèo heo hút gió của tỉnh Sơn La, phía bắc giáp Yên Bái - Lào Cai, phía tây giáp Lai Châu, phía đông giáp Phú Thọ - Hòa Bình, phía Nam giáp Lào, chúng tôi được di chuyển về Hoàng Liên Sơn (Nghĩa Lộ) và tôi gặp anh bạn tù Lê Xuân Đèo tại Trại 6, Liên trại 2, một vùng núi non hiểm trở có cái tên thật mộng mơ: “Khe Thắm” thuộc huyện Văn Chấn.

Khe Thắm là một thung lũng nhỏ hẹp, nằm giữa hai dãy núi trùng điệp. Trại 6 gồm có bốn lán, dựa lưng vào dãy núi bên nầy, bên kia thung lũng là một bản Thái Trắng gồm mươi căn nhà sàn, dưới gầm nhà sàn là chuồng nhốt trâu bò. Chỉ có một con đường độc đạo vào Trại 6. Về sau, khi chúng tôi chuyển sang trại khác, trại nầy được sát nhập vào nông trường Bản Hẻo. Dạo chúng tôi vừa chuyển đến, dân làng đã cấy xong vụ lúa Đông - Xuân. Trong thung lũng Khe Thắm, mạ non lên xanh phơi phới. Ngay khi vừa mới đến trại, chúng tôi được phát ngay mỗi người hai bộ đồ rằn ri của binh chủng Biệt Động Quân, thế nầy là hết hy vọng trốn trại! Riêng tôi vớ phải cái quần rộng thùng thình. Công tác đầu tiên là đào thủy lợi để dẫn nước từ một con suối gần đó vào ruộng lúa. Tôi và Lê Xuân Đèo ở chung lán 3, còn Trương Đăng Sỹ ở lán 4.

Mùa đông năm 1976 là một mùa đông với cái lạnh khắc nghiệt, lạnh thê thảm chưa từng xảy ra ở miền Bắc Việt Nam. Có nhiều đêm, hàn thử biểu rơi xuống chỉ còn một độ bách phân, mặt nước ao hồ đóng váng, cá chết hằng loạt vì lạnh. Tuy củi rừng nhiều vô số kể, nhưng bọn cán bộ cấm tù cải tạo đốt lò sưởi vì sợ cháy lán trại? Nửa đêm về sáng, chúng tôi phải thức dậy ngồi đâu lưng hoặc nằm sát vào nhau cho ấm. Bản Thái bên kia thung lũng, dân làng phải đốt rơm hoặc củi để sưởi ấm gia súc. Làm thân trâu bò còn sướng hơn tù cải tạo là cái chắc! Có bao nhiêu quần áo, chúng tôi cũng lôi hết ra mặc, nhưng không sao đủ ấm vì cái lạnh cắt ruột từ trong xương lạnh ra.

Đi tắm vào mùa đông đối với tù cải tạo là một hình thức tra tấn. Mỗi tuần, tôi chỉ ra bờ suối tắm giặt một lần vào xế trưa chúa nhật, sau khi ngồi trước sân phơi nắng hàng giờ cho ấm. Ngồi bên cạnh tôi là Nguyễn Minh Thanh vừa phơi nắng vừa ngâm thơ “Tao Đàn” đói thấy mẹ mà hắn còn làm thơ được thế mới tài. Nếu như chiều chúa nhật nào rơi vào ngày mưa là xin hẹn lại tuần sau...mới đi tắm. Như vậy là đạt tiêu chuẩn nếp sống “văn minh, văn hóa mới” lắm rồi!

Hầu như lề lối sinh hoạt của tất cả trại tù cải tạo thuộc đoàn 776 do bộ đội CSBV quản lý đều giống như nhau. Sau một ngày ăn đói, thực phẩm chính là khoai, sắn, bo bo, bắp hột mà mỗi khẩu phần của người tù đếm được khoảng 700 hôït và lao động khổ sai 10 tiếng một ngày kể cả lúc trời mưa bão. Và mỗi tuần chỉ được nghỉ nửa ngày chúa nhật để tắm giặt. Tối đến là giờ sinh hoạt chính trị, “ngồi đồng” hằng giờ ngay trên chỗ ngủ để nghe đọc báo “Nhân Dân” hoặc “Quân Đội Nhân Dân”, những loại tin tức dùng để tuyên truyền chủ nghĩa Cộng Sản và chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa.

Sau khi nghe đọc báo là phần bắt thăm nhận công tác lên rừng đốn đủ loại gỗ: gỗ làm cột nhà, gỗ làm đòn tay, gỗ làm kèo nhà...và một toán chặt nứa dùng để lợp mái nhà. Gỗ và nứa từ trên rừng kéo về tập trung trên một bãi đất trống bên cạnh con suối dưới chân núi, cán bộ quản giáo của đội đến kiểm nhận vào mỗi buổi chiều. Sáng hôm sau, toán thợ mộc vác về xưởng mộc cưa, đục, đẽo... để dựng nhà. Lê Xuân Đèo thường đổi công tác với những anh em khác để cùng đi rừng với tôi, vì cải thiện linh tinh để mưu sinh là nghề của chàng. Hắn rất chịu những phi vụ táo bạo của tôi. Hắn là dân Nha Trang, lúc bình thường thì giọng nói dễ nghe, nhưng lúc khẩn trương, nghe lời hắn là một tai họa khó lường...

Bên kia thung lũng, đối diện với trại 6 là dãy nhà sàn của dân tộc thiểu số Thái Trắng. Tụi cán bộ quản giáo hoặc quản chế thường hù dọa là đồng chí “Bí thư xã” có vũ trang súng trường AK47. Phía sau dãy nhà là ruộng mía và hằng ngày nó trở thành mục tiêu đầy sức hấp dẫn và cám dỗ nhưng cũng rất nguy hiểm. Những lần chúng tôi qua dãy núi bên kia đốn nứa, chỉ tiêu một ngày là 100 cây với tiêu chuẩn: phải là nứa già, thẳng đốt, chiều dài từ 3 thước trở lên, sau khi vạt bỏ ngọn. Thường thì buổi sáng đốn xong, bó lại từng bó 20 cây, dấu đâu đó ở trên rừng. Giờ lao động buổi chiều, chỉ lo việc chuyển về trại. Những cây nứa được mấy anh bạn tù cao niên, chặt khúc và đập giập ra để lợp mái nhà.

*


Một ngày trên đường vác mấy bó nứa chuyển về trại. Chúng tôi ngồi nghỉ mệt bên dòng suối vắng. Đèo nhìn qua đám ruộng mía, sau dãy nhà sàn bên kia dòng suối, hắn thèm đến nhỏ dãi, trông thật tội nghiệp. Hắn nói:
- “Ê, mầy! Không biết lúc nầy, bỗng dưng tao thèm ngọt quá trời! Từ ngày di chuyển ra miền Bắc đến giờ, gần cả năm trời tao chưa hề thấy cục đường tán nó tròn, nó méo ra làm sao! Tao chịu hết nổi rồi nghe mậy,” Đèo tiếp. “Thôi, mầy ngồi ở đây chờ tao!”
Tôi hỏi:
- “Vậy chớ, mầy định đi đâu?”
Hắn vừa trả lời, vừa nuốt nước bọt ừng ực:

- “Qua bên kia ruộng mía, chặt vài cây, chia nhau ăn đở thèm! Mầy còn phải hỏi lôi thôi!”

Nghe hắn nói, tôi cười ngất, nói:
- “Thôi đi cha nội ơi! Coi bộ tướng của mầy kìa! Ốm nhom, ốm nhách như con còng gió, rủi ro bị họ bắt gặp, mầy làm sao chạy cho thoát? Nếu họ có súng hoặc nỏ là mầy chết chắc!”

Đèo quả quyết nói:

- “Tao đã nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình rồi! Trong nhà không có đàn ông mà chỉ có một người đàn bà. Tao còn biết chắc, giờ nầy bà ta trên đường đến trường, đón con đi học về nhà.”

Tôi nghi ngờ, hỏi:
- “Sao mầy biết chắc chắn như vậy chớ?”

- “Mầy nhớ không? Xế trưa hôm qua, lúc tụi mình trở qua đây, vác mấy bó nứa về trại. Tao thấy bà ta dẫn con đi học vừa về tới nhà!”

- “Phi vụ nầy mầy lo hay để tao?” tôi hỏi.

Đèo nói, giọng quả quyết:
- “Mầy nhát bỏ mẹ! Phi vụ nầy mầy để tao lo! Mầy ngồi đó chờ tao!”

Tôi cười, nói:
- “Thôi được rồi, cha nội! Vụ chôm chỉa nầy mầy để tao lo! Cứ ngồi đó canh chừng. Hễ nghe động tỉnh gì thì la báo động cho tao biết để tao chuồn!”

Nói xong, tôi đứng lên, đi một mạch ra bờ suối, xăn ống quần lên khỏi gối, tay cầm con dao dùng để chặt nứa, lội băng qua dòng suối. Tôi hành quân theo đúng bài bản, lính bộ binh mà. Trước hết, tôi bám lấy bờ suối, ngẩng đầu lên quan sát trận địa, thấy bên trong ruộng mía hoàn toàn yên tỉnh, tôi trườn sâu vào trong, giữa hai giồng mía. Tôi chọn một thật thẳng, tròn mập, vỏ màu vàng hực thật hấp dẫn, lia một nhát, cây mía đổ xuống. Tôi đứng lom khom, vừa vạt ngọn mía xong. Bỗng tôi nghe hắn la bài hãi bên kia dòng suối:

- “Chờ tớ! Chờ tớ! Chờ tớ...”


Tưởng hắn đòi lội qua suối, tôi bèn đứng thẳng người lên, lấy cây mía vẹt lá rồi nhìn qua bên kia bờ suối. Tôi thấy hắn nhảy dựng lên như khỉ mắc phong, tay chỉ chỏ về phía tôi thật khẩn trương. Hắn tiếp tục gào lên:

- “Chờ tớ! Chờ tớ...”

Tôi thiệt bực mình, cầm cây mía đưa lên khỏi đầu, nói lớn:
- “Xong rồi! Qua làm gì chớ! Thôi, ngồi đó chờ tao!”

Nhưng, hắn vẫn tiếp tục gào to hơn nữa. Và lần nầy, tôi nghe cái giọng Nha Trang của nó thật rõ ràng:

- “Chó tới! Chó tới...”

Thôi bỏ mẹ rồi! Bây giờ tôi mới hiểu ra là“Chó tới!” chớ không phải “Chờ tớ!” thì đã muộn. Một con chó vện to lớn dùng để đi săn, xồng xộc lao tới và chỉ còn cách tôi vài mươi thước. Tôi thật sự hồn vía lên mây, quăng dao, quăng luôn cây mía, bỏ của chạy lấy thân, phóng như bay về phía bờ suối...Nhưng, con chó vện nhanh hơn tôi một bước, nó nhảy chồm lên, phập trúng cái đáy quần, ghì lại làm tôi té nằm xấp xuống đất. Hai cái răng nanh bén nhọn của nó đã xuyên thủng đáy quần. Con vện gầm gừ, mõm của nó ghì chặc lại, giằng xé như muốn lôi tuột cái quần của tôi ra thế mới khiếp! Cũng may, nhờ trời thương mấy thằng tù cải tạo ốm đói. Chúng tôi phải chôm chỉa để mưu sinh. Nếu hai cái răng nanh của con vện nhích lên vài phân định mệnh nữa thì bây giờ tôi đã trở thành quan “thái giám” là cái chắc!

Tôi thét lên, cầu cứu:
- “Tao bị con chó vện táp trúng rồi Đèo ơi! Cứu tao với...”

Đến giờ phút nầy mà hắn còn hỏi đùa được:

- “Trúng chỗ nào vậy cha?”

Tôi bực quá thét:
- “Nó táp lủng đáy quần rồi, tao bị nó ghì lại, không chạy được!”
- “Chỉ táp trúng đáy quần thôi hả?” hắn mách nước. “Tụt quần ra, vọt cho lẹ, thằng mắc dịch!”

Thôi thì cùng tất biến, biến tất thông! Tôi lòn tay xuống hàng nút quần, cởi thật nhanh hàng nút. Nhờ cái quần rộng thung thình, con vện tụt cái quần thật dễ dàng, một chân nó chận cái ống quần, đầu giằng mấy cái thật mạnh để cái quần vuột ra khỏi cái răng nanh. Tôi chỉ chờ có thế, vừa rút chân ra khỏi cái quần rằn ri là tôi phóng như bay về phía hàng cây bên bờ suối, chỉ cách đó mươi thước. Tôi trèo lên cây nhanh như con sóc, chưa bao giờ tôi leo trèo nhanh như vậy. Thế là thoát nạn!

Con vện phóng mình lên cây mấy lần, nhưng lần nào nó cũng bị té đau. Vì thế nó tức tối, ngồi bệt xuống đất, nghểnh mõm nhìn lên một cách hậm hực; thỉnh thoảng, nó le cái lưỡi dài thượt liếm mép. Tôi phải lấy vạt áo che phần dưới lại, sợ nó nhìn thấy “thịt tươi” thèm nhỏ dãi tội nghiệp!

Đứng trên cây nhìn xuống mới thấy rõ hình thù con vện, màu lông hơi vàng và có vằn như da cọp, trên lưng có xoáy như giống chó hoang dã ở Phú Quốc. Hèn chi nó dữ dằn quá là phải! Thú thật, trong suốt 13 năm quân ngũ, vui buồn đời lính bộ binh, đôi giày saut của tôi đã từng chà xát lên các mật khu lừng danh của Việt Cộng ở Miền Tây từ Thất Sơn, Mỹ An, Sầm Giang, Năm Căn, Cái Nước...nhưng chưa có lần nào tôi phải bỏ chạy “té khói” như lần nầy. Kể ra thì cũng nhục thật đó!

Tôi đứng trên cây, trợn mắt nhìn nó, rủa thầm trong bụng: “May cho mầy, nghe đồ chó vện! Nếu mầy gặp tao ba năm về trước là tao vặn họng mầy, làm thịt chó bảy món nhậu chơi!” Thế mới biết, chỉ sau một thời gian ngắn, cái gọi là “lao động cải tạo”, con chó vện đối với tôi bây giờ nó đã trở thành “con cọp”. Nhưng mà thôi, tránh cọp chẳng xấu mặt nào!

Nhìn thấy con chó vện đang nhe nanh vuốt, hầm hừ dưới gốc cây, Đèo đứng bên kia bờ suối, nói lớn:
- “Mầy cứ đứng ở trên cây chờ tao qua! Đừng có tuột xuống!”
Vừa nói, hắn vừa xăn quần lên khỏi gối. Thấy hai ống quyển khẳng khiu của hắn, tôi nản lòng hết sức. Hắn có vẽ muốn lội qua suối cứu bồ thật, tôi lật đật can:
- “Thôi đi cha nội! Cứ ở yên bên đó đi! Tao nhảy xuống suối, lội qua bển được rồi mà!”
Hắn đáp có vẻ rất tự tin:
“Mầy yên chí đi! Tao có cách trị con vện nầy cho mầy coi!”

Tôi miễn cưỡng nói:
- “Thôi được, mầy có tài gì thi thố cho tao coi!”
Con vện thấy hắn đang lội bì bõm, băng ngang qua dòng suối. Nó rời gốc cây, đứng chực trên bờ suối, sẵn sàng vồ hắn. Đèo đứng dưới suối, hai tay chống nạnh, vẻ mặt tỉnh bơ. Còn con vện nhìn hắn lườm lườm, chân sau quào dưới đất cát rào rào trong tư thế chuẩn bị vồ mồi. Tôi thấy còn phát ớn xương sống. Nhưng, Đèo chẳng nao núng chút nào cả thế mới là lạ. Bất ngờ, hắn huýt sáo miệng bản nhạc “Bác cùng chúng cháu hành quân” một cách ung dung. Con chó vện vừa nghe âm điệu phần mở đầu của bài hát: Đêm nay trên đường hành quân ra mặt trận... nó lầm tưởng hắn là phe ta nên bỏ hẳn thái độ thù nghịch, ngoe nguẩy cái đuôi, chờ welcome “đồng chí Đèo”. Mẹ kiếp! Sống ở Miền Bắc XHCN nầy, đến con chó còn bị tuyên truyền mê hoặc đừng nói chi là con người.

Đèo leo lên bờ, hắn vỗ đầu con vện, vuốt đầu nó mấy cái. Đồng chí vện chồm lên, vật ngã hắn xuống rồi liếm cùng mặt. Thế rồi, người tù cải tạo và “đồng chí vện”ù kết thành đôi bạn sống chết có nhau từ dạo đó! Hắn ôm chặc con vện cho tôi leo xuống. Tôi vội vã lủi vô ruộng mía, lấy quần mặc vào rồi đi kiếm con dao và cây mía. Hai đứa tôi lội trở qua bên kia bờ suối, con chó vện cũng lội suối qua theo. Ngồi dưới bóng cây chia nhau từng lóng mía. Tôi chỉ ăn 2 lóng, phần còn lại của hắn vì Đèo thèm ngọt. Còn tôi, tôi thèm thứ khác hấp dẫn hơn nhiều: “Thịt! Thịt! Thịt!”... Tôi nhìn con vện, tưởng tượng đến dĩa “rựa mận” đang bốc khói, làm tôi thèm đến nhểu nước miếng. Bất chợt, con vện ngước lên nhìn tôi. Bốn mắt âu yếm nhìn nhau...tóe khói; hình như, cái giác quan thứ sáu của nó, nhìn thấy ý đồ bất chánh của tôi và báo cho nó biết rằng: “Coi chừng thằng cha tù ốm đói nầy, hắn sẽ thịt mình đấy!” Vì vậy, con chó vện chỉ quấn quít bên cạnh anh Đèo và lúc nào cũng đề cao cảnh giác với tôi. Cứ mỗi lần tôi xáp lại gần, định làm quen là nó đứng dậy đi chỗ khác chơi và nhìn tôi với tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Cách đây ba hoặc bốn tháng gì đó. Tên thiếu tá Khoát – trại trưởng – có tuyên bố một câu làm cả trại hồ hởi, phấn khởi: “Trại ta có kế hoạch nuôi lợn, cung cấp thịt tươi, cải tổ bữa ăn để các anh có đủ sức thâm canh, tăng năng xuất, chuẩn bị trồng sắn đại trà.” Thế là cả trại thi đua vào rừng đốn gỗ dựng trại chăn nuôi. Và chỉ trong vòng hai tuần lễ, ba cái chuồng nuôi lợn được cất xong bên cạnh bờ suối, đối diện với nhà bếp của ban chỉ huy trại. Nhưng, tên Quang chỉ mang về một cặp heo mọi, bụng ỏng, đít teo, mỗi con cân nặng khoảng 5 kí là cùng. Thế là, một anh bạn tù cao niên ở lán 2 được giao cho nhiệm vụ “chăn lợn”. Mỗi ngày, anh có nhiệm vụ mang một cái sô vào nhà bếp cán bộ trại, gặp tên trung sĩ Kây để nhận cơm thừa, canh cặn mang về chuồng nuôi lợn. Không biết nuôi heo bằng cách nào mà cặp heo mọi càng ngày càng gầy nhom. Ngược lại, trông anh càng ngày tròn trịa ra.

Đêm hôm kia, chuồng nuôi lợn xảy ra chuyện rùng rợn, khó tin nhưng có thật là hai con heo mọi bị bầy chuột rừng moi ruột cho đến chết. Nhờ vậy, trưa hôm sau, cả trại được ăn cơm trắng với thịt heo kho với nước muối. Gần 2 tháng nay, chúng tôi mới được ăn một chén cơm trắng và một miếng thịt heo to bằng hai lóng tay út, cho đến bây giờ miệng tôi vẫn còn tóm tèm thịt tươi. Và tôi đang nghĩ kế hoạch thịt con vện...

Chúng tôi lần lượt chuyển hết mớ nứa về trại, con vện đưa hai đứa tôi đến tận cổng trại. Và từ đó, nó trở nên người bạn trung thành với anh Đèo. Sáng nào nó cũng nằm chờ trong buị cây gần cổng, rồi lẽo đẽo theo chúng tôi vào tận rừng sâu đốn gỗ. Có mấy lần tôi định thịt nó, hưng Đèo cương quyết ngăn cản.
Hắn nói:
- “Mầy muốn thịt con vện nầy thì phải bước qua xác chết của tao!”

*

Nửa năm sau đó, những dãy nhà khang trang bằng gỗ được dựng lên chung quanh ban chỉ huy trại 6 đều do công sức của những người tù cải tạo. Nhưng, gỗ và nứa càng ngày càng khan hiếm, chúng tôi càng phải đi xa hơn, có khi phải đi băng qua thung lũng phía sau trại, lội vào khu rừng già dưới chân núi bên kia, gần nông trường Bản Hẻo để kiếm gỗ.

Thế rồi một hôm. Lần đầu tiên chúng tôi đi theo con đường mòn băng qua thung lũng vào lúc hừng đông sáng để kiếm gỗ làm đòn tay. Khi những tia nắng ban mai mỏng manh, màu vàng nhạt, như cố xuyên thủng làn sương mai trắng đục bao phủ cả khu rừng, nắng tạo thành những chùm ánh sáng lung linh, huyền ảo. Hai đứa tôi lặng lẽ tiến khá sâu trong khu rừng rậm rạp, cây cối hoang vu, còn con vện biến đi đàng nào không biết. Tiếng suối chảy róc rách khi len lỏi qua những gềnh đá rong rêu, hòa cùng muôn ngàn tiếng hót líu lo của bầy chim rừng, trổi lên bản hợp tấu đầy sức quyến rũ của núi rừng Tây Bắc, thoang thoảng đâu đây mùi hương nhẹ nhàng tỏa ra từ những đóa phong lan, nép kín sau những thân cây cổ thụ, pha lẫn mùi hăng hắc của lá rừng ẩm mốc.

Tiếng gió lướt trên những tán cây rừng xào xạc, mang theo cái lạnh tái tê từ dãy núi đá chập chùng của rặng Hoàng Liên Sơn thổi về. Gió lay những giọt sương mai đọng trên lá cây rừng, sương rơi nhẹ nhàng trên mái tóc, trên vai áo làm tôi thấm lạnh. Đang mơ màng trong cái không gian liêu trai và cái tĩnh lặng mong lung ấy...Bỗng một tiếng thét chói tai của Đèo đang đi phía trước, làm bầy chim rừng cũng phải giựt mình, bay tán loạn: “Con mẹ nó! Coi chừng vắt nái! Chạy khỏi khu rừng nầy ngay!”

Vắt nái là một loại vắt màu xanh lá cây, nhỏ hơn đầu đũa một chút và chiều dài chỉ hơn một phân rưởi, khiếp nhất là khi nó có chửa nên đặt cho nó cái tên là “vắt nái”. Khi đánh được hơi người là nó giương lên như cây “anten”, rồi bún mình lên như cái lò xo, bám vào đầu vào cổ người, thú vật hút máu một cách êm thắm, chén no rồi tự động rớt ra, máu từ vết cắn đó chảy ra không ngừng, chỉ có nhai cỏ mực đấp vào vết cắn là tạm cầm máu được. Có nhiều anh bạn bị nhiểm trùng, vết cắn bị ngứa ngái, lở lói tròn bằng đồng tiền, nhức nhối tàn bạo. Hai đứa tôi vội vàng lội băng qua con suối cạn, tìm khoảng đất trống trải để kiểm soát lại đầu cổ, lôi ra cũng được bốn, năm con vắt xanh.

Bỗng có tiếng khèn réo rắt, trầm bổng, văng vẳng từ đâu đưa tới, âm thanh ai oán, não nùng như khóc như than. Tiếng khèn trôi bồng bềnh trong làn sương mai trắng đục. Tôi tò mò rũ Đèo đi ngược lên thượng nguồn con suối để tìm người thổi khèn. Đó là cụ già thuộc bộ tộc Thái đen với mái tóc trắng phau, chòm râu bạc thả lỏng phất phơ trong gió. Ông vận bộ quần áo cộc màu chàm đang ngồi dưới một gốc đại thụ, chừng đã mọc rễ cả trăm năm, cành lá sum sê, vỏ cây sần sùi phủ rêu xanh, những rễ phụ và dây leo bện nhau bám chằng chịt vào thân cây. Cách đó mươi thước là hai thanh niên để lưng trần đang cuốc một hố đất. Thấy có người đến, ông lão ngưng thổi khèn, ngước mắt nhìn chúng tôi, hỏi:

- “Mấy ông đi đốn gỗ cho trại cải tạo đấy à?” ông cảnh báo. “Khu rừng nầy có rất nhiều rắn độc, mấy ông phải cẩn thận! Cách đây mấy hôm, một người trong bản bị một con cạp nia mổ chết rồi đấy!”
Tôi nói:
- “Cám ơn cụ đã chỉ bảo! Chúng tôi sẽ hết sức đề phòng!”
Đèo phì cười khi nghe cụ gọi mình bằng ông, hắn nói:
- “Tôi là Lê Xuân Đèo, gọi tôi là Đèo được rồi! Thế còn cụ?”
- “Tôi tên Phạm công Trừng,” ông lão buồn rầu, than thở. “Nhà tôi bị ốm nặng sắp chết đến nơi rồi, các anh ạ!” ông chỉ hai thanh niên, tiếp. “Chúng nó đang đào huyệt, chuẩn bị chôn mẹ chúng đấy!”
- “Thưa cụ, bà cụ bị mắc chứng bệnh gì vậy?” Đèo hỏi.
Ông cụ thở dài, nói:
- “Nhà tôi bị bệnh kiết lỵ đã hơn hai tuần nay! Uống đủ loại cây cỏ, nhưng không thuyên giảm, đang nằm thoi thóp trên giường chờ chết đấy, các anh ạ!”

Đèo nghe ông cụ nói xong. Hắn suy nghĩ trong giây lát rồi nắm tay tôi, kéo ra bờ suối, hỏi:
- “Tao muốn cứu bà cụ! Mầy nghĩ sao?”
Tôi trợn mắt nhìn hắn, hỏi:
- “Mấy lấy cái gì cứu bà cụ chớ?”
- “Nói cho mầy biết, tao còn cất giấu được 10 viên “Reostop”, chôn dưới sạp nứa chỗ tao ngủ,” Đèo lấy ý kiến tôi lần chót. “Mầy thấy tao có nên giúp họ không?”
- “Việc nầy có liên quan đến sinh mạng của mầy! Tự quyết định đi, đừng hỏi tao lôi thôi!” Tôi nói.
- “Tao quyết định cứu họ!” Đèo trả lời một cách dứt khoát. “Thấy người sắp chết mà không cứu là đắc tội với Trời Phật rồi! Hơn nữa, tao muốn làm sáng tỏ cái bản chất và truyền thống tốt đẹp của người lính Việt Nam Cộng Hòa cho đồng bào miền Bắc thấy rõ điều nầy!”

Nghĩ sao làm vậy, Đèo trở lại chỗ ông cụ, nói:
- “Ngày mai cũng vào giờ nầy, cụ đón chúng tôi tại đây để nhận 10 viên thuốc “con nhọng” chuyên trị kiết lỵ, đem về cho bà cụ uống!”

Ông cụ nghe đến thuốc “con nhọng”, mắt cụ ngời sáng tia hy vọng và cảm động đến rớt nước mắt. Cụ bảo hai người con trai vào rừng đốn gỗ đòn tay cho chúng tôi, rồi mời chúng tôi về bản làng gần đó sơi nước trà xanh. Căn nhà sàn của gia đình cụ gồm ba gian, nằm trong bản Thái, cách cây bờ suối đó khoảng 200 thước. Căn nhà sàn khá cao để tránh thú dữ nhất là đàn chó sói thường hay kéo vào bản, bắt gia súc. Đặc điểm những căn nhà sàn của dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông...cùng có một lối kiến trúc như nhau là không dùng đinh, tất cả đều được liên kết với nhau bằng những con sò gỗ và lạt buộc, sàn nhà được nối kết với nhau bằng những cây nứa già được đập giập ra để lót sàn. Leo lên mấy bật thang gỗ ọp ẹp, thấy ngay bà cụ đang nằm trên cái chõng tre đặt ở một gốc nhà, trùm chăn đến cổ. Bà cụ gầy lắm, tôi chỉ thấy cái mềm bông màu đỏ phập phồng theo nhịp thở thoi thóp, mỏng manh như sợi chỉ mành treo chuông.

Sau khi uống xong chung trà xanh, thì hai người con cũng về tới nơi. Thấy mặt trời lên thấp thoáng ngọn cây, chúng tôi xin từ giả ra về. Cụ đi trước dẫn đường, dùng dao vạt vào thân cây rừng để đánh dấu, cho chúng tôi biết đường trở lại. Tới bìa rừng, họ chuyển 6 cây gỗ làm kèo lên vai hai đứa tôi và chúng tôi từ giã nhau ở đấy. Con vện đi sục sạo ở đâu đó trong khu rừng cũng vừa chạy trờ tới, mõm ngoạm một con chuột lông màu xam xám khá to, làm quà tặng anh bạn Đèo. Trước khi trở về trại, Đèo ra bờ suối làm thịt chuột một cách thành thạo, rồi dùng lá chuối rừng gói lại cẩn thận, bỏ vào trong túi quần mang về trại. Buổi trưa, Đèo lén ra khu nhà bếp nướng một cách vội vã, khi nào có chiến lợi phẩm, hắn cũng chia phần cho tôi một nửa.

Đêm hôm đó, đợi mọi người ngủ say sau một ngày lao động cật lực. Đèo đào một lớp đất mỏng dưới ngay chỗ nằm lấy, ra một chai thuốc “Reostop” còn đủ 10 viên rồi dấu dưới gối.

Sáng hôm sau, chúng tôi trở lại vùng nầy, tiếp tục đốn gỗ làm kèo nhà. Lần theo vết dao đánh dấu trên thân cây, hai đứa tôi trở lại chỗ cũ rất dễ dàng. Đến chỗ hẹn, chúng tôi thấy cụ đang ngồi dưới bóng cây đại thụ, chờ chúng tôi tự bao giờ. Đèo thân mật đặt cái lọ thuốc “Reostop” vào tay ông cu,ï rồi chỉ cách dùng. Ông cụ vừa mừng, vừa cảm động đến độ nói không nên lời. Trước khi chia tay nhau, ông cụ dặn dò:
- “Tụi bộ đội của đoàn 776, thằng nào cũng ác ôn hết! Các anh phải cảnh giác chúng nó đấy!”

Khoảng một tuần sau đó. Chúng tôi trở lại vùng nầy kiếm gỗ, nhìn thấy cái huyệt đã được lấp đất lại bằng phẳng, cỏ dại đã bắt đầu bén rễ và chúng tôi biết chắc là bà cụ đã được cứu thoát khỏi bệnh kiết lỵ. Người tù cải tạo Lê Xuân Đèo đã hoàn thành công tác “dân vận” một cách xuất sắc bằng chính mạng sống của chính mình. Vì ba tháng sau đó, anh từ giã cuộc đời vì bịnh kiết lỵ vì không thuốc chữa cho chính bản thân mình.
Bịnh kiết lỵ, tiêu chảy và sốt rét rừng là ba căn bệnh rất phổ biến trong các trại tù cải tạo ở Miền Bắc XHCN. Một người bạn cùng đơn vị là cựu thiếu tá Trần Sỹ cũng gởi nắm xương tàn tại một trại tù khác vào năm 1978 vì bệnh kiết lỵ và rồi còn biết bao nhiêu người khác nữa? Trước khi chuyển trại từ trong Nam ra ngoài Bắc, chúng tôi dự trữ khá nhiều thuốc chuyên trị về các chứng bệnh nguy hiểm nầy và nhất là trụ sinh để phòng thân. Nhưng, sau khi chuyển đến trại 6 Khe Thắm, một người tù cải tạo tên Phạm Thành K. đã đâm sau lưng chiến sĩ, anh ta bàn kế hoạch “chuyển trại giả” với tên thiếu tá Khoát để lấy điểm.

Vào một buổi sáng tinh sương. Trong lúc mọi người chuẩn bị xuất trại lên rừng đốn gỗ, bỗng có tiếng kẻng dồn dập khác thường, đích thân cán bộ quản giáo đến từng lán, đôn đốc mọi người khẩn trương đến tập trung trước sân cờ ban chỉ huy trại để nghe thiếu tá Khoát - trưởng trại - ban hành lệnh hành quân (chuyển trại) và mọi người được thông báo, chỉ còn có một tiếng đồng để chuẩn bị hành lý cần thiết mang theo người. Vì quá vội vã, nên Đèo không kịp đào lấy 10 viên thuốc “reostop” chôn dưới sạp nứa, ngay chỗ anh nằm.

Tại sân đá bóng của xã, trong khi ngồi chờ đợi xe vận tải đến chở đi một trại tù cải tạo khác, bọn cán bộ quản giáo và quản chế yêu cầu tất cả tù cải tạo “bày hành lý bán chợ trời” - tiếng lóng - một hình thức kiểm soát hành trang của tù cải tạo để hôi của. Sau đó, chúng phân tán chúng tôi đứng riêng rẽ từng nhóm nhỏ vài ba người, tù cải tạo còn phải trải qua một màn “thoát y vũ” bất đắc dĩ để chúng lục soát quần áo tù. Thế là, sau khi tịch thu toàn bộ số dược phẩm của anh em mang từ trong Nam ra, chỉ còn sót lại 10 viên “Reostop” của Lê xuân Đèo. Sau đó, bọn tù cải tạo chúng tôi mặt mày tiu nghỉu trở về lán trại, tiếp tục lên rừng đốn gỗ. Tên thiếu tá Khoát và tên tù phản bội P. T. K. mặt mày hớn hở vì chuyến nầy thắng lớn...

Bọn cán bộ trại đem số thuốc tây nầy ra Hà Nội và tỉnh Hoàng Liên Sơn bán lại cho các con buôn, rồi thay vào đấy một loại thuốc dõm trị bá chứng tên “Xuyên Tâm Liên” để trị bịnh cho bọn tù. Đến năm 1982, nhà nước cộng sản khám phá loại thuốc nầy có độc tố phá vở các tế bào não, tim và thận và ngưng sản xuất thì đã muộn. Không biết có bao nhiêu tù cải tạo sống dở, chết dở vì uống phải loại thuốc nầy?
*

Vào mùa thu năm 1977. Bạn Lê Xuân Đèo không may vướng phải căn bệnh kiết lỵ hiểm nghèo. Sang đến tuần lễ thứ hai, người anh cứ khô héo dần như cây khô thiếu nước, gầy đến nổi chỉ còn da bọc xương, rồi nằm liệt giường, tiểu và đại tiện một chỗ. Mỗi ngày tên y công tên Lương phát cho vài viên “Xuyên Tâm Liên” và một bát cháo loãng như nước cơm chắt, tiêu chuẩn trừng phạt những người tù cải tạo bị ghép vào tội “chây lười lao động”. Qua đến đầu tuần lễ thứ ba, người anh tóp xọp như bộ xương cách trí, được bọc lại bằng một lớp da nhăn nheo màu xám xịt, đôi chân gầy guộc như hai thanh nứa, sờ vào lạnh ngắt như đồng. Anh chỉ còn thở thoi thóp, máu hình như bắt đầu đông lại trong các động mạch, đôi mắt thất thần, mở trao tráo trong hai cái hốc mắt lõm sâu. Đến buổi chiều, anh lên cơn mê sảng gọi tên vợ, tên con, rồi khóc rưng rức bằng những hạt lệ khô.Tối hôm đó, tôi ngồi bên cạnh anh cho tới giờ kẻng đổ, tôi bỏ mùng xuống cho anh, trước khi trở lại chỗ nằm.

Kỳ lạ quá! Nửa đêm về sáng, tiếng cú rúc liên hồi trong một lùm cây nào đó, ngay phía sau lán 3 như tiếng gọi của thần chết lởn vởn đâu đây, làm tôi rùng mình. Gió từ dãy Hoàng Liên Sơn thổi về ào ào làm rung chuyển cây rừng, làm tốc mái tranh nứa, gió thổi bật cánh mấy cái phên cửa...

Trong cái không gian lạnh lẽo ấy, vang lên những tiếng ngáy khò khò khi trầm, khi bổng, có tiếng ngáy cao vút như giọng nam “tenor”, những tiếng nghiến răng trèo trẹo, tiếng trở mình của bạn nào đó trên cái sạp tre ọp ẹp vang lên kẽo kẹt, tiếng mớ ngủ lẫn tiếng thở dài não nuột; đôi khi, có anh đang nằm mơ thấy mình đang đánh nhau với Việt Cộng, tiếng hét của anh đánh thức cả lán dậy: “Diều hâu! Diều hâu! Đại Bàng ghe rõ không trả lời! Việt Cộng tràn ngập căn cứ hỏa lực rồi! Rót pháo xã láng! Nổ chụp trên đầu chúng tôi! Lẹ lên đi mấy cha...” và tất cả âm thanh đó quyện vào nhau hợp thành một “bi trường khúc” đầy ấn tượng sâu sắc trong lòng người tù cải tạo.

Bỗng tôi nghe tiếng con vện tru từng chập bên bờ suối, tiếng tru buồn thê thảm, kéo dài lê thê trong đêm trường tĩnh mịch. Tôi mệt mõi, ngủ thiếp đi từ lúc nào cũng không hay, cho tới khi tiếng kẻng báo thức vang lên, đánh thức mọi người dậy để chuẩn bị một ngày lao động khổ sai. Tôi nghe cả láng hoảng hốt, thét lên: “Đèo chết rồi! Đèo chết rồi!...”.

Tôi ngồi bật dậy như cái lò xo, nhìn sang chỗ Đèo nằm, hai cái chân như hai thanh nứa già cỗi, khô khốc, buông thòng xuống đất, bị gió thổi luồn dưới sạp nứa đánh đong đưa, còn thân người của anh nằm vất vưởng trong mùng. Tôi vội vàng chạy đến, vén cái mùng lên. Tôi thấy đôi mắt đôi mắt của anh mở trợn trừng, hai giọt lệ khổ đau chắt chiu từ một kiếp người bị đày đọa trong tận cùng đáy địa ngục, ứa ra từ trong hai hốc mắt sâu hoắm, còn đọng lại chưa khô; hình như, anh mới từ giã cuộc đời cách đây không lâu. Tôi lấy tay vuốt mắt người bạn tù...

*
Một cái chòi lá đơn sơ được vội vã dựng lên, chỉ có mỗi mái nứa gần khu rừng sắn, bên cạnh con suối cạn, phía sau ban chỉ huy trại. Bốn cái cộc gỗ đóng xuống đất chính giữa căn chòi, hai khúc gỗ gác song song với nhau bên trên, vừa đủ kê một tấm ván mỏng. Thi hài của Đèo trong bộ quân phục Biệt Động Quân đã bạc màu, rách tơi tả, loang lỗ những vết máu khô vì tai nạn lao động. Tôi phủ kín hình hài của anh bằng cái mềm màu đỏ. Toán mộc lo đóng quan tài, tôi trong bộ phận đào huyệt còn có Trương Đăng Sỹ và Nguyễn Minh Thanh... Chỗ anh nằm an nghỉ dưới bóng cây cổ thụ dưới chân đồi bên cạnh dòng suối, cách trại khoảng 2 cây số. Đến xế chiều, mọi việc đã hoàn tất. Sau khi tẩn liệm cho bạn Đèo xong, chúng tôi trở về trại, không ai được ở lại qua đêm để canh giữ xác của anh.

Đêm đó, có lẽ là đêm dài nhất trong 8 năm tù cải tạo của tôi. Vừa chợp mắt là tôi thấy đôi mắt của anh còn mở trợn trừng...Quá nửa đêm về sáng. Bỗng nghe có tiếng chó sủa, tiếng gầm gừ cấu xé lẫn nhau thật dữ dội, tiếng tru tréo từ phía bìa rừng văng vẳng đưa về; hình như, chúng đang tranh ăn thì phải. Điều nầy đã khiến tôi phập phòng lo sợ, không biết chuyện gì bất hạnh sẽ xảy ra cho anh Đèo. Tôi thầm cầu nguyện với ơn trên, đừng để bầy chó rừng tha xác của anh đi!

Trời vừa tờ mờ sáng. Sau tiếng kẻng báo thức vào lúc 6:45, tôi đã thức dậy, cuốn mùng mền, rồi vội vã đi về phía cỏng trại. Tên lính canh cho phép tôi xuất trại, ra bìa rừng thăm xác bạn. Tôi lật đật bước vào cái chòi lá, cái quan tài của Đèo được ghép vội vã bằng sáu tấm ván mỏng manh bị đẩy xô lệch trên hai cái thanh ngang, suýt chút nữa thì đổ xuống đất, cái nấp áo quan sẽ bung ra ngay. Sau khi đẩy cái áo quan lại cho ngay ngắn, tôi bước ra bên ngoài quan sát hiện trường. Cả một vùng cỏ dại chung quanh cái chòi bị ngã rạp xuống, loang lổ vết máu và lông thú. Tôi đoán không sai, tại ngay chỗ nầy, đêm qua đã xảy ra trận ác đấu thật quyết liệt giữa bầy chó rừng, tranh xác anh Đèo để tha vào rừng.
Có lẽ đánh được hơi người quen thuộc, con chó vện đang nằm bất động gần đó, nó ngước đầu lên nhìn tôi, cố gắng chống hai cái chân trước xuống đất, gượng lết về phía tôi, nhưng được vài bước rồi ngã quỵ xuống, mồm rên ư ...ử vì đau đớn. Tôi vội vàng chạy đến ôm chấm lấy nó vào lòng. Con vệt liếm vào mặt tôi một cách trìu mến, rồi mệt lả, nghẻo đầu lên vai tôi. Đặt nó nằm xuống đất để quan sát: con mắt bên phải bị lột một mảnh da, còn bê bết máu, cái chân trước bị táp gẫy xương và cái đùi sau bị ngoạm mất một mãng thịt to, vết thương còn rỉ máu âm ỉ. Tôi vô cùng xúc động nhìn nó một cách cảm phục và thương mến.

Thật vậy, không một ai có thể ngờ rằng, con chó vện đã liều mạng sống của nó, tả xung, hữu đột, quyết đấu một mất một còn với cả một bầy chó rừng hoang dại để bảo vệ cái xác thân của Lê Xuân Đèo, người bạn của nó, đang nằm trơ trọi giữa bầy dã thú. Đối với tôi, con chó vện là hiện thân của một dũng sĩ, tuy mang hình hài của loài thú bốn chân, nhưng có một trái tim rất “người” dám vì nghĩa quên mình, chiến đấu đơn độc, không lùi bước trước kẻ thù. Tinh thần quyết đấu của con chó vện, như một lời nhắn nhủ đầy khí phách với đồng loại của nó: “Tụi bây muốn làm thịt Lê Xuân Đèo, phải bước qua xác chết của tao!”.

Tôi bế con vện ra bờ suối, khuất sau đám sắn non, rửa vết thương còn đẫm máu của nó mà ứa nước mắt. Con vện liếm bàn tay tôi một cách thân ái. Tôi thì thầm bên tai nó: “Nằm đây chờ tao; lát nữa, tao trở lại tìm cách đưa mầy về nhà chủ của mầy!” Tôi đứng dậy lui gót, nhìn trong ánh mắt lưu luyến của nó và khi nó đưa cái chân trước quào quào một cách yếu ớt trong không khí như những cái vẫy tay chào vĩnh biệt, khiến tôi có cảm tưởng; hình như, nó muốn trối trăn điều gì đó với tôi chăng?

Tôi từ giã nó, trở vào trại để cùng với anh em lo việc mai táng Lê Xuân Đèo. Toán chung sự có bốn người: Minh Thanh, tôi và hai bạn tù nữa. Đúng 8 giờ sáng, chúng tôi đẩy cái xe cải tiến cũ kỹ đi ngang qua ban chỉ huy trại, gặp tên trung úy Quang lùn tịt, ngoắc chúng tôi dừng lại, nói: “Này, nhớ đấy nhé! Giữ cái áo quan lại, dành cho những người kế tiếp! Các anh phải biết bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa đấy! Sẽ không có cái áo quan thứ hai đâu!”

Sau khi đặt quan tài của Lê Xuân Đèo lên xe cải tiến. Hai anh cầm càng, tôi và Minh Thanh phụ đẩy. Chiếc xe từ từ lăn bánh trên con đường đất gồ ghề còn đẵm hơi sương. Hai cái bánh xe khô nhớt, một cái nghiêng bên nầy, một cái ngã bên kia, phát ra những tiếng kót két rên rỉ một cách mệt nhọc, đau khổ. Hai anh bạn phía trước gồng mình, ấn cái càng xe xuống, còn tôi và Minh Thanh vừa đẩy, vừa nâng phần sau xe lên, vì sợ hai cái bánh xe bung vành, văng ra khỏi cái xe cải tiến bất cứ lúc nào. Chúng tôi phải đẩy cái xe tang lăn qua ba cái dốc cao mới đến bờ suối.

Sau vài phút nghỉ giải lao, chúng tôi cùng nhau kê vai, khiêng quan tài lên lưng chừng đồi, chỗ an giấc ngàn thu của anh, rồi chia nhau vô rừng kiếm dây rừng bện lại như hai sợi dây thừng. Đặt quan tài lên trên hai sợi dây đó, rồi mỗi người nắm một đầu dây, thả từ từ xuống đáy huyệt. Xong rồi, chúng tôi lấp đất lại, vun thành một nấm mộ đơn sơ. Bốn anh em đứng trước mộ, cúi đầu mặc niệm mà trong thổn thức, bồi hồi. Tôi hái một ít hoa rừng đặt lên nấm mồ của bạn.

Bạn Nguyễn Minh Thanh cảm khái làm một bài thơ với tựa đề “NẤM MỒ HOANG” để tưởng nhớ bạn Lê Xuân Đèo, người bỏ cuộc giữa đường.
Một nấm mồ hoang cảnh lạnh lùng
Lơ thơ cỏ úa lá chiều rung
Quạnh hiu vằng vặc vây quanh mộ
Rên rỉ bầy ve tiếng não nùng

Gởi xác ốm nhom tận chốn nầy
Bao la rừng núi, suối trời mây
Người đi vĩnh viễn đã yên phận
Ngàn dặm người thương đâu có hay!

Sương khói hoàng hôn dọc mỗi đời
Công danh phú quí lá vàng rơi
Than ôi! Thành bại đều chung cuộc
Tuần tự rồi ai cũng thế thôi!


Trên đường trở về trại, khi đi đến gần ban chỉ huy, tôi tách rời anh em, lẻn vào khu rừng sắn, ra bờ suối kiếm con vện. Tôi vô cùng sững sờ nhìn thấy con vện bị ai đó treo ngược đầu xuống đất, bốn chân bị căng ra, buộc chặt vào hai cái cộc gỗ, cổ bị cắt tiết, máu đỏ nhỏ từng giọt xuống cái cái chậu bằng thau đặt dưới đất. Tôi quỳ xuống nâng đầu của nó lên, cả thân mình con vện khẻ run lên lần cuối cùng, rồi duỗi thẳng ra bất động. Cái chết đau đớn của nó làm tôi rớt nước mắt. Tên trung sĩ Kây đứng sau lưng tôi từ lúc nào cũng không hay. Hắn lên tiếng làm tôi giật mình:

- “Trong giờ lao động, anh ra đứng đây làm gì thế?”

Tôi nhanh trí, đáp:
- “Vừa mới mai táng anh Lê Xuân Đèo xong, ra suối rửa tay chân.”

Hắn nói:
- “Tôi nhờ anh giúp hộ một tay.”

- “Được, việc gì thế?” tôi hỏi.

Hắn nói như ra lệnh:
“Anh tháo dây, mang con cầy vào nhà bếp cho tôi!”
Nói xong, hắn mang cái thau tiết đi trước. Tôi tháo sợi dây rừng, ôm con vện vào lòng như ôm thi thể một chiến hữu vừa nằm xuống sau một trận đấu...tôi thất thểu ôm xác con vện vào khu nhà bếp mà lòng quặn đau.

Hôm sau, được phân công làm vệ sinh khu nhà bếp, tôi nhặt những mảnh xương vụn của con vện, đặt lên vào những tấm lá chuối, gói lại cẩn thận. Nhân lúc đi rừng đốn gỗ, tôi ghé thăm mộ bạn Đèo, rồi dùng dao đào một cái hố nhỏ, chôn bộ hài cốt của con chó vện, nằm bên cạnh bạn Lê Xuân Đèo cho có bạn.

*

Bắt đầu từ cuối tháng chạp kéo dài đến tháng giêng năm sau. Núi rừng Hoàng Liên Sơn, bầu trời ảm đạm và rét mướt, mưa bụi giăng giăng khắp nơi gần như bất tận. Mỗi buổi chiều, người tù trùm chăn kín mít, ngồi co ro trong lán, nhìn những cơn mưa bụi bay bay trong hoàng hôn, ai nấy đều chạnh lòng nhớ quê hương, nhớ cha, nhớ mẹ, nhớ con, nhớ vợ da diết. Gọi là mưa bụi vì lượng nước mưa quá yếu không thể rơi thẳng xuống mặt đất, bị gió thổi bay đi, tỏa ra thành những cơn mưa bụi.

Bước sang tháng giêng. Hạt nước mưa kết tinh lớn hơn một chút có thể rơi thẳng xuống mặt đất, nhưng bị gió tạt nghiêng nghiêng, tạo thành những cơn mưa phùn báo hiệu đất trời sắp giao mùa. Sợi mưa phùn mong manh như sợi tóc rối, đan nhau thành những màn nước trắng đục, giăng kín núi rừng, đồng ruộng, thung lũng, sông hồ ... Trời đất nhạt nhòa trong những cơn mua phùn dai dẳng, kéo dài lê thê trên vùng đất khó. Trong bầu khí hậu ẩm thấp ấy, cây cỏ đang âm thầm nẩy lộc, đâm chồi, chờ trỗi dậy tưng bừng khi mùa xuân đến. Chỉ tội cho bọn tù cải tạo phải lao động khổ sai trong rừng sâu, tay chân tê cóng vì đói và lạnh đến rét run.

Thượng tuần tháng 2 năm 1978. Trại chuẩn bị ăn mừng Tết Nguyên Đán Mậu Ngọ vài ngày sau đó. Tôi được phân công vào đội cắt lá dong dùng để gói bánh chưng. Lá dong thường mọc hoang ở những vùng đất ẩm ướt. Tôi đi vào rừng, lang thang trong thung lũng một mình để tìm lá dong. Tôi nhớ quá anh bạn Đèo và con chó vện thân thư