We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 8 April 2013

Chia rẽ là... chết?


 
Chưa có một dân tộc nào mà sự chia rẽ, phân hóa đã nằm ngay trong khởi thủy, từ lúc mới tạo lập, thành hình. Ðó phải chăng là chuyện trăm trứng của Lạc Long Quân và bà Âu Cơ ngày xửa ngày xưa! Trăm trứng ấy nở thành trăm người con trai. Ðang ăn yên ở yên, hòa thuận một nhà thì một ngày kia, bỗng Lạc Long Quân “trở chứng” nói với Âu Cơ rằng: “Ta là giống Rồng, mình là giống Tiên, thủy hỏa khắc nhau, không ở cùng nhau được.”

Thế là hai người bèn chia con, kéo nhau đi mỗi người mỗi ngã, năm chục người theo mẹ về núi, năm chục người theo cha xuống biển. Truyền thuyết này không giải thích anh em khắc nhau như thế nào đến nỗi không ở với nhau được mà phải ruột thịt cắt đứt, thân ái chia lìa?
Quốc mẫu Âu Cơ được nhà nước ta đề nghị đưa vào danh sách “Các nữ thần trên thế giới”
Từ đó, cùng là dòng dõi Rồng Tiên, nhưng họ khinh ghét nhau, xem nhau như thù địch.
Mảnh đất miền Trung chật hẹp lại hiểm trở, núi non lại gần biển cả, được cắt ra nhiều mảnh bằng những con sông, người Việt trong lịch sự đã nhiều lần dùng những con sông này, để cắt đất, dựng lên biên giới cho sự thù nghịch, không đội Trời chung.
Con sông chia cắt Nam-Bắc đầu tiên trong lịch sử là sông Gianh, còn được gọi là Linh Giang, nằm về phía Bắc tỉnh Quảng Bình là ranh giới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh (1570-1786) với xung đột vũ trang gần nửa thế kỷ (1627-1672). Ðất nước chia cắt, bên kia sông là Bắc Hà, bên này sông là Nam Hà, bên ấy là Ðàng Ngoài, bên này là Ðàng Trong.
Trong thời Pháp thuộc, Việt Nam bị chia ra làm ba kỳ: Nam Kỳ (Cochinchine) đặt dưới quyền cai trị của Pháp, Trung Kỳ (Annam) và Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc chế độ bảo hộ. Hầu hết người bình dân Việt Nam vẫn nghĩ đây là ba nước riêng biệt. Người Nam vẫn coi mình là người Việt (Diệt), còn Huế và Hà Nội là nước Huế, nước Bắc. Nhiều người cho đây là chính sách “chia để trị” của Ðế Quốc Pháp, nhưng người Việt Nam, khi không ai “chia để trị” cũng tự mình chia năm, xẻ bảy.
Sau hơn mười năm, cuộc chiến tranh Quốc-Cộng dằng dai, làm tan nát đất nước, ngày 20 Tháng Bảy 1954, kết thúc bằng Hội Nghị Geneve, Thụy Sĩ, đã chia cắt Việt Nam ra hai miền Nam-Bắc, lấy con sông Bến Hải thuộc tỉnh Quảng Trị, gần với vĩ tuyến 17 làm đường ranh giới. Sau gần 21 năm, đất Việt Nam “gọi là thống nhất” nhưng thực sự lại càng chia rẽ sâu xa về nhân tâm, chính kiến khó hàn gắn được.
Cái chế độ quái đản phát xuất từ Liên Xô đã làm nhiều quốc gia tan nát, chia rẽ trầm trọng. Nước Ðức đã sớm thức tỉnh vì dân trí cao, thống nhất trở thành một đất nước không cộng sản, nhưng Bắc Hàn còn mê ngủ với chế độ bưng bít, phong kiến, so với Nam Hàn còn cách biệt quá xa về kinh tế, văn hóa, khó lòng cho người dân được mở mắt mở lòng, tự do đến với loài người văn minh.
Cuộc đấu tranh giai cấp của chế độ cộng sản đã xô đẩy đất nước và con người Việt Nam vào chỗ chia rẽ hết sức khốn nạn. Dù trong thời Pháp thuộc, ở Việt Nam, nông nghiệp là chủ yếu, dù là có phú nông, trung nông nhưng không hề có chế độ nông nô, người có của, kẻ có công, đã tạo nên sự no ấm và thái bình cho xóm làng. Sau khi chiếm được miền Bắc, dưới chỉ đạo của đàn anh Trung Cộng, Bắc Việt đã cho phát động chiến dịch cải cách ruộng đất. Ðội Cải Cách Ruộng đất ra mắt làng xã, chiến dịch này chủ trương tất cả các gia đình trong xã làng phải được phân loại thành 5 thành phần: địa chủ, phú nông, bần nông, cố nông. Gia đình có hai con lợn đã có thể gọi là phú nông.
Thành phần địa chủ còn được đội cải cách phân loại thêm một lần nữa thành: địa chủ gian ác, địa chủ thường, địa chủ có ủng hộ kháng chiến.
Chia rẽ nông dân, để giảm sức chống đối, đó là đường lối của chiến dịch. Khẩu hiệu của chiến thuật là: “Dựa vào bần cố nông, tranh thủ trung nông, cô lập phú nông, tập trung mũi nhọn vào địa chủ.” Ðó là chiến thuật “bẻ đũa thì bẻ từng chiếc.” Ai gây chia rẽ thâm độc bằng bọn cộng sản. Theo con số của nhiều nhà nghiên cứu, 15,000 người đã bị xử tử công khai hay bị bỏ đói cho đến chết. Theo báo Nhân Dân thì chiến dịch sửa sai cũng gây thêm chết chóc khi những người được phục hồi trả thù những người đã đấu tố họ oan ức, hoặc chưa kịp trả thù thì đã bị thủ tiêu trước.
Cộng sản luôn luôn hô to khẩu hiệu “Ðoàn Kết, Ðoàn Kết, Ðại Ðoàn Kết,” nhưng thực tế cộng sản là chế độ tìm cách phân loại nhân dân trầm trọng, chia rẽ dân tộc. Sau khi chiếm miền Nam, chế độ phân chia thành phần nhân dân thực hiện gay gắt, ai là “có công với cách mạng,” ai là “có nợ máu với nhân dân” rạch ròi, minh bạch. Chế độ tuyển sinh vào đại học cũng phân chia ra 13 thành phần, trong đó con cái “Ngụy” được xếp “ưu tiên” vào hạng chót. Chúng kêu gọi đoàn kết “để xây dựng đất nước,”nhưng dùng “hồng” thay “chuyên” nên bao nhiêu trí thức đã phải bỏ nước ra đi, chết sông chết biển, nay chúng lại nhọc công mở chiến dịch kêu gọi nhân tài về “phục vụ đất nước!”
Ðối với ngay trong hàng ngũ cán bộ, ăn ở cũng chia thành phần “đại táo” “tiểu táo,” chết cũng phân biệt chỗ chôn, như nghĩa trang Mai Dịch là một nghĩa trang liệt sĩ ở Hà Nội, chỉ dành cho những nhân vật có “đóng góp” cho đảng như các thứ trưởng, bộ trưởng, các ủy viên trung ương đảng trở lên; các nhà khoa học, nhà văn hóa, nhà văn, nhà thơ được giải thưởng Hồ Chí Minh; các tướng lĩnh xuất sắc; anh hùng lực lượng vũ trang v.v... trong khi ở miền Nam, tại nghĩa trang Mạc Ðĩnh Chi, Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng có thể nằm gần một người dân thường.
Không có một chế độ nào chia cách phân biệt bằng chế độ cộng sản. Hà Nội đã có câu ca dao sau đây để chỉ nơi tiêu thụ, mua bán hàng hóa:

“Hàng Bài là chợ Vua Quan, (Bộ Chính Trị)
Nhà thờ là chợ trung gian nịnh thần (bộ trưởng và đảng viên cao cấp)
Ðồng Xuân là chợ thương nhân,
Vỉa hè là chợ nhân dân, anh hùng!”

Dưới mắt người miền Nam thì sau năm 1975, người miền Bắc được chia làm ba loại: Bắc Kỳ Cũ (mộ phu vào những năm 41-42 hay di dân vào Nam sinh sống,) Bắc Kỳ 54 và Bắc Kỳ 75.
Có lẽ trong các loại chia rẽ, kỳ thị, đối với người Việt Nam Nam Bắc có lẽ là vấn đề nhậy cảm nhất. Vì miền Nam khí hậu tốt, đất đai màu mỡ, nên sau năm 1975, cộng sản đã chủ trương đưa hàng triệu người Bắc vào Nam, chiếm cứ đất đai, nhất là vùng cao nguyên, vừa là để đồng hóa miền Nam vừa để giãn dân miền Bắc. Tuy vậy, miền Nam ngày nay vẫn mang mặc cảm Bắc thuộc.
Trở lại với bản tính dân tộc, người Việt được xem là một dân tộc thông minh, cần cù, chăm chỉ nhưng đại... chia rẽ. Một người Việt Nam là tuyệt hảo, nhưng ba người Việt ngồi lại là... sinh chuyện, vì không ai phục ai, không ai nhường ai. Cổ nhân nói “tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư- trong ba người cùng đi, tất phải có một người là thầy ta!” nhưng chúng ta phải nói lại: “Trong ba người Việt cùng đi, ai cũng cho mình là thầy cả, chẳng ai nhận là học trò của ai.”
Trong hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, dựa vào sự chết để tìm sự sống, đáng lẽ người Việt hải ngoại phải đoàn kết hết lòng để tìm ra sinh lộ, nhưng ở đâu chúng ta cũng thấy phơi bày sự chia rẽ, bất phục lẫn nhau. Tình trạng các hội đoàn, cộng đồng ở hải ngoại, không nói riêng gì nước Mỹ, đã có nhiều nơi chia rẽ, phân hóa trầm trọng, dùng mọi cách để bêu xấu, công kích nhau. Nhiều hội đoàn tuy cùng một màu áo, cùng một mục đích đấu tranh, nhưng lại không thể ngồi chung với nhau, mà chia thành hai ba hội đoàn, làm mất đi sức mạnh đoàn kết.
Ngay trong một địa phương, một cộng đồng đại diện người Việt đã được tổ chức bầu bán, nhưng cũng còn một cộng đồng khác, khi ẩn khi hiện, nay ra tuyên cáo này, mai có thông cáo khác, để chứng tỏ sự có mặt của mình, cũng như để cho những ý kiến cộng đồng kia đưa ra là sai. Tình trạng tôn giáo ở nhiều địa phương cũng vậy!
Trên Internet mỗi ngày, người đọc gặp phải những bài viết chửi bới, với loại văn phong hạ cấp, không phải dành cho kẻ thù đã khiến cho anh phải bỏ nước ra đi, mà chính cho bạn bè, đồng hương, đồng ngũ của anh hay là những người chỉ vì không... đồng ý với anh. Vậy mà chúng ta luôn luôn cho mình là người yêu nước, kêu gào, đòi hỏi “giải thể” chế độ, đòi hỏi những chuyện long trời lở đất, trong khi chính cá nhân nhỏ bé, ích kỷ của mình chưa bước qua nổi cái tôi, cái danh, cái ích kỷ đang đè nặng trong lòng, thì mong gì chúng ta làm nổi được chuyện lớn.
Bản chất của cộng sản là chia rẽ, nhưng cũng dùng chính sách “chia để trị” nhất là trong chính sách đối với người Việt hải ngoại. Nhưng bản chất chia rẽ trong máu huyết của những con người gọi là “con Rồng, cháu Tiên,” đã có từ nguồn gốc, từ thời khai thiên, lập địa, chắc ngày một ngày hai, khó lòng mà gột rửa.

“Gió mưa là bệnh của Trời
Chia rẽ là tật của người Việt Nam!”

“Bệnh” hy vọng chữa lành, còn “tật” phải còn xem lại.

 Tạp ghi Huy Phương

Một nỗi niềm: Quê Hương đó! Ngày 30 tháng 4

 Xin chia xẻ với quý vị một nỗi niềm,  
Thư gởi một người bạn thân còn kẹt lại ở VN.
 Bức thư không bao giờ gởi vì thất lạc địa chỉ!  

       
Mai thân mến,  
   
  Bây giờ là 9 giờ 30 sáng, tháng 10 năm 1975. Mình ngồi đây, nơi phi trường vào một mùa thu giá lạnh ở nước Mỹ để chờ cất cánh bay về một chân trời mới, nơi gia đình mình sẽ được định cư với sự giúp đỡ của nhà thờ bảo trợ, nhưng không biết chân trời mới ấy có hứa hẹn cho mình một cái gì tốt đẹp không hay cũng chỉ sẽ mang lại cho mình những giá lạnh của mùa thu nơi đây?   

  Mai ơi, biết nói gì đây khi mình chỉ là một kẻ cô đơn, bơ vơ lạc lõng nơi phố chợ đông người và xa lạ, một kẻ mất Quê Hương và không bao giờ tìm lại được Quê Hương đó! Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày ghi đậm nét lịch sử đau buồn của chúng ta và cũng là ngày ghi khắc những gì mất mát trong Minh Tâm. Mai biết không, khi đài phát thanh loan tin Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng, những giòng lệ từ đâu tuôn ra xối xả như giòng sông ngập lụt trên khuôn mặt đầy tang tóc của mình. Mình đã khóc và khóc thật nhiều, khóc tả tơi, khóc điên loạn, khóc như chưa bao giờ được khóc!  Mình khóc cho quê hương, cho dân tộc và cho chính thân phận mình, khóc như đã đánh mất đi một bảo vật quí báu nhất đời mà không bao giờ có thể tìm lại được!

        Mai ơi, bên kia khung cửa sổ là mùa thu với những chiếc lá vàng rơi lác đác, rơi phủ ngập trời. Ôi, một thế giới ánh vàng! Mùa thu trước kia đối với mình thật đẹp, thật tuyệt diệu! Nếu mùa thu nầy là mùa thu trên đất mẹ thanh bình cũ thì những nguồn thơ lại trào ra lai láng trong hồn mình, nhưng Mai ơi, mùa thu nơi đây chỉ đem lại tang thương áo não cho tâm hồn, chỉ là những tiếc nuối xót thương và chỉ làm cho mình liên tưởng đến quê hương, tổ quốc và thân phận con người! Quê hương mình đó, đã mong manh và hấp hối như chiếc lá sắp lìa cành và đã chết đi như chiếc lá vàng rơi, rồi chính thân phận mình cũng đã chết đi theo chiếc lá vàng rơi ấy khi mình cất bước ra đi!

       Mai ơi, Mai có trách mình tại sao lại bỏ nước ra đi không? Mai có biết rằng mình đã khóc trắng đêm khi quyết định cất bước ra đi vì biết rằng một lần ra đi là không bao giờ trở lại được và sẽ bị mệnh danh là một kẻ vô Quê Hương, vô Tổ Quốc, lạc loài như những dân Do Thái bị lưu đày khắp nơi trên thế giới! Nhưng Mai ơi, Mai phải hiểu cho rằng dù mình có ở lại chăng nữa, cũng chỉ là một kẻ cô đơn, vô Tổ Quốc, bởi vì quốc gia mình đã bị xoá tên trên bản đồ thế giới để thay vào đó một địa ngục trần gian, và mình có ở lại cũng chẳng giúp gì được cho ai khi thân phận mình cũng chỉ như bọt bèo trên giòng sông, cho nên mình phải ra đi. Ra đi không phải để tìm giàu sang phú quí nhưng ra đi để tìm lẽ sống, tìm sự sinh tồn và hy vọng sẽ giúp ích được gì cho gia đình, bà con, bạn bè và để tìm cách góp phần xây dựng lại Quê Hương, dù biết rằng ngày ấy sẽ là một ngày xa xôi lắm, nhưng cứ hy vọng đi Mai. Mình còn sống là vẫn còn hy vọng phải không Mai? Như những người dân Do Thái, đã một lần chết đi và đã một lần sống lại, và đã trở về xây dựng lại được quốc gia. Ngoài ra, bên cạnh mình vẫn còn có tình thương của Thượng Đế, Thượng Đế sẽ không bao giờ bỏ rơi những kẻ khổ đau và cô đơn phải không Mai?   Một lần nữa, mình nhắn nhủ Mai và cả chính mình rằng: sống là phải hy vọng và phải vương lên dù trong hoàn cảnh nào, để mong đem lại hạnh phúc cho người thân và để đạt đến mục đích của cuộc đời. Xin Thượng Đế ban phước lành cho Mai, cho Quê Hương và dân tộc của chúng mình.
       Thương nhớ

      Ngàn Thu 

(Minh Tâm Nguyễn)               
 Mùa thu 1975

----
 
Tưởng Niệm Quốc Hận 30-4
Vô Cùng Thương
Tiếc Các Anh

Bút Xuân TRN ĐÌNH NGC

Vô cùng thương tiếc các Anh,
Những Anh hùng, Dũng sĩ
Đã vì miền Nam, dâng nốt tấm thân
Bao gian lao, nguy hiểm, chí không sờn
Quyết trương cao ngọn cờ Vàng yêu dấu!


Những tháng ngày
trong Quân trường nắng cháy
Rồi tung hoành nơi đơn vị mịt mù xa
Đem Tình thương gieo rắc khắp muôn nhà
Bảo vệ dân khỏi kẻ địch cuồng khấu…


Chúng biểu tượng
cho những gì tồi xấu
Là dối dân, gieo rắc những tai ương
Pháo trại gia binh,
chợ búa, những ngôi trường
Thủ tiêu, bắt cóc làm những việc tàn ác…


Đã ra trận
Cầm bằng là banh xác
Nhưng phần nhiều ta chiến thắng vẻ vang
Đồng minh kia chưa đ ánh đã vội hàng
Chiến sĩ ta thản nhiên không bối rối!


Nhưng “Lệnh buông súng”
Như một lời thú tội!
Chiến sĩ ta nòng súng vẫn ghìm ngay
Rã binh đoàn, trời đất, khá thương thay!
Hăm mốt năm chưa bao giờ đau thế!


Thương tiếc các Anh
vì cờ Vàng Chính nghĩa
Đã hi sinh cả mạng sống đời người
Chúng tôi thề theo gương sáng các Anh soi
Cứu Tổ quốc, giữ Danh thơm và Trách nhiệm!


30-4! Hôm nay tưởng niệm
Những Anh Hùng đã vị quốc vong thân
Những chàng trai quả cảm chết vì Dân
Vì Chính Nghĩa muôn đời còn sáng tỏ!


Nén hương thơm
Thắp lên lòng kính nhớ
Để muôn thu ghi lịch sử các Anh
Trước hồn thiêng sông núi
Với lòng thành…
Hồn chiến sĩ mau mau về
Thượng hưởng!!!

Kính cẩn thay mặt Quốc Hội
và toàn dân Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa
GS/ Nhà Văn Bút Xuân Trần Đình Ngọc
Cựu Dân Biểu Quốc Hội /Cựu Sĩ Quan QLVNCH
Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Nông Thôn/Hạ Nghị Viện


Chủ Đề Mùa Quốc Hận :Những Ngày Tháng Tù Đày Không Thể Quên



Những Ngày Tháng Tù Đày Không Thể Quên


Tôi bị bắt ngày 5 tháng 4 năm 1976, trong cái trò bắt người mà cộng sản gọi là “chiến dịch X2 đánh Văn Nghệ Sĩ phản động”. Chiến dịch X1 trước đó “đánh”tư sản mại bản (tức những nhà tỷ phú người Việt và người Việt gốc Hoa, đa số ở Chợ Lớn). Có 3 nhà tỷ phú người Việt bị bắt là cụ Hoàng Kim Quy (cựu Thượng Nghị Sĩ đệ nhị VNCH), hai anh em vua tầu thủy Phạm Quang Khai và Phạm Quang Hoa. Trước và sau tôi bị bắt vài ngày có hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi). Đa số giam ở T20 (số 4 Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định) vài người đi khám Chí Hòa. Khoảng mười tháng sau một số lớn được tha về, chỉ còn mươi người bị quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa bọn tôi lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai. Tưởng cũng nên kể ra đây tôi là người trong giới Văn nghệ đầu tiên, mới nhập trại đã bị tống ngay vào “biệt giam” (cachot) khu B1, phòng 11 trại Phan Đăng Lưu. Có lẽ họ tưởng tôi là nhân vật quan trọng, là tay sai của CIA được dựng lên làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam hoạt động trong báo giới. Vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng đưa ra và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng. Trong cùng dẫy biệt giam khu B1 có những nhân vật tên tuổi như Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thượng Tọa Thích Quảng Độ, Linh mục Đỗ Bác Ái, Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), Luật sư Nguyễn Hữu Doãn, Luật sư Nguyễn Khắc Chính, Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà Văn Nhà báo (nguyên dân biểu) Hồ Hữu Tường. Những người này lần lượt vào biệt giam sau tôi 1, 2 tuần. Đầu dẫy khu biệt giam buồng số 1 là “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”. Tôi rất tiếc khi đó không biết nhiều về nhân vật này. Ông là người đầu tiên cầm đầu một số dăm bẩy người trấn trong nhà thờ Vinh Sơn (đường Trần Quốc Toản) đánh CS với vài vũ khí thô sơ, khi CS vào Saigon mấy tháng. Sau đó ông bị CS xử bắn. Vụ “vùng lên”khởi đầu chống đối CS này đã gây tiếng vang rộng lớn làm trấn động dư luận khắp nước khi đó. CS phải điều động bộ đội công an cảnh sát vây hãm quanh khu vực Nhà Thờ mấy ngày liền mới trấn áp được. Tôi nghĩ chúng ta thật vô tình khi ở ngoài này, trải qua mấy chục năm, không thấy một ai nhắc nhở tới ông (người được gọi là tướng Nguyễn Việt Hưng mà dư luận khi đó đồn đãi là biệt danh của Tướng NCK hoặc Tướng cảnh sát NNL ở trong mật khu lãnh đạo cuộc chiến đấu với rất nhiều “hồ hởi phấn khởi”). Theo tôi đây là người chiến sĩ quốc gia can trường bất khuất, dám đứng ra chống CS ngay từ ngày đầu, chúng ta nên tỏ bầy lòng ngưỡng mộ và khâm phục.

Phía sau dẫy biệt giam B1 là dẫy biệt giam B2 có giáo sư Vũ Quốc Thông, ông chủ nhiệm nhật báo Lẽ Sống Mới Ngô Công Minh (vào đầu năm 1975 làm phụ tá Tổng Trưởng Thông Tin), ông Tống Đình Bắc,Trưởng ty Công an nổi tiếng sát cộng Miền Tây, ông chủ Nhà sách Khai Trí và một vài người nữa từng giữ chức vụ cao chế độ cũ. Riêng ông Ngô Công Minh sau khi lên trại tù lao động Gia Trung với chúng tôi hơn tháng thì CS đưa ông đi nơi khác. Từ đó không ai biết tin tức về ông. Có dư luận nói ông bị đem thủ tiêu vì mấy tay tổ văn nghệ, báo chí CS (từng quen biết ông trước kia) muốn cướp không ngôi nhà lớn của ông ở Saigon và vàng bạc của cải. Theo tôi, ông không phải nhà hoạt động chánh trị, chỉ là nhà báo thuần tuý nên không thể bị sát hại vì lý do chánh trị. Khi tù về tôi có dò hỏi tin tức ông nhưng không ai biết một cách chính xác.
Trong thời gian “nằm” biệt giam tôi cũng có vài việc để nhớ xin kể ra đây. Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên: “Đó là chính sách Nhà nước!”. Việc thứ hai là vì biệt giam mới làm chưa lắp ống dẫn nước nên mỗi ngày chúng tôi chỉ được từ hai tới ba phút vòi nước ở ngoài thọc vào để làm vệ sinh. Tôi không biết nên thản nhiên chà xà bông gội đầu (bằng xà bông giặt). Đang làm nửa chừng vòi nước rút ra mặc cho tôi nài nỉ. Báo hại đêm đó đầu tôi bị xà bông làm ngứa ngáy khó chịu không tài nào nhắm mắt ngủ yên được. Cũng vì “nước” tôi phải tự “tranh đấu” với mình mãi mới nuốt xong phần cơm tù. Tôi chỉ có 2 cái tô nhựa: một dùng đựng cơm, một dùng đựng canh. Vì phải chứa nước làm vệ sinh (khi đi cầu) tôi nhịn tắm lấy nước chứa vào cái tô lớn mầu xanh. Trong khi đi “làm việc” (hỏi cung) tôi viết mấy chữ bằng bút chì dặn anh tù hành sự để cơm vào nửa tờ giấy báo cũ, còn canh để vào tô nhựa mầu đỏ. Nhưng anh ta đổ hết nước trữ đi, để cơm canh vào 2 cái tô và đặt ngay trên bệ cầu tiêu chưa được dội nước còn nồng nặc mùi phân của mình. Tôi ngồi hơn nửa tiếng đồng hồ nhìn hai tô cơm canh muốn ứa nước mắt tự “tranh đấu” với mình. Ăn hay nhịn? Nếu ăn, khó nuốt trôi miếng cơm vì tởm lợm. Nhưng nếu không ăn sẽ bị đói tới trưa hôm sau. Tôi lại mắc chứng đau dạ dầy từ ngày CS chiếm Saigon nên sẽ khốn khổ lắm. Cuối cùng tôi đành nhắm mắt nuốt vội chút cơm canh lạnh ngắt với hai hàng nước mắt.
Tôi bị nhốt biệt giam hơn 10 tháng, vào một buổi sáng trời âm u, được gọi tên mang đồ ra khỏi buồng giam. Phía chéo buồng giam, tôi liếc nhìn thấy nhà văn Duyên Anh để mặt sát ô vuông cánh cửa sắt phòng giam tập thể hướng về phía tôi nói khá lớn: “Nhớ ghé nhà tao nói với vợ tao…”. Tôi chỉ nghe được tới đây thì bị viên cai tù nạt nộ cấm nói. Thì ra Duyên Anh tưởng tôi được tha về nhờ tôi tới nhà nhắn tin vợ.
Khi đi đến trước sân “nhà khách” trại giam tôi thấy vài người quen ngồi đó với đồ đạc cá nhân lỉnh kỉnh. Chúng tôi chỉ đưa mắt chào nhau. Mấy phút sau họ điểm danh từng người xong còng tay lại đưa lên chiếc xe hơi bít bùng chuyển về cơ quan An ninh nội chính (Nha Công an thành phố Saigon cũ đường Trần Hưng Đạo). Cùng trên chuyến xe có tiến sĩ Mai Văn Lễ, thạc sĩ Vũ Quốc Thông, ông Tống Đình Bắc và một vài người nữa (giờ tôi quên mất tên). Trong lúc ngồi ngoài sân cơ quan chờ làm thủ tục gì đó, các bạn tù của tôi bàn cãi sôi nổi về dự đoán chúng tôi được đưa lên đây làm giấy tờ tha. Có vị còn “cá” một chầu ăn uống linh đình ở Chợ Lớn. Rồi lần lượt từng người được gọi tên đem hành lý đi vào phòng…biệt giam! Tôi được gọi tên sau chót (may mắn cho tôi vì biệt giam hết chỗ(?) – viên công an tiếp nhận tù nói vậy) nên được nhốt vào khu tập thể A (làm từ thời Pháp). Gần 100 người đủ thành phần già trẻ lớn bé, tư sản, chính trị gia, Linh mục, Mục sư, Thượng tọa, Đại đức, trộm cắp, buôn lậu, nhốt chung trong một phòng dài trên 10 mét, bề ngang nhỏ hẹp, u tối, ẩm ướt, thiếu ánh sáng và khí trời. Phòng có 2 “sàn”, sàn trên cao khoảng một mét. Mỗi người được cấp manh chiếu rách cáu bẩn, nồng nặc mùi chua mồ hôi người tích tụ lâu năm đã kết thành “cao”. Ở trên tôi nói may mắn không phải vào lại biệt giam vì mấy tháng sau anh Mai Văn Lễ được thả khỏi biệt giam vào phòng tôi kể cho nghe thảm cảnh trong buồng biệt giam anh đã “chết trong cõi sống” mấy tháng qua. Buồng biệt giam Sở An ninh nội chính được xây từ thời Pháp thuộc có tuổi đời trên mấy chục năm.Tường bẩn thỉu lam nham dầy cáu bẩn đen đúa, sàn xi măng ẩm ướt quanh năm. Mùi mồ hôi, mùi phân nước tiểu người tích tụ bao năm tạo thành một thứ mùi hôi hám khó tả, ngửi phải muốn nôn ọe ngay. Khủng khiếp nhất là cái cầu tiêu đã nứt nẻ và vỡ nhiều mảnh, mỗi khi trời mưa nước từ trong lỗ cầu dâng lên tràn lan khắp buồng với những cục phân chưa tiêu hủy. Nếu mưa lâu khoảng một giờ nước cầu tiêu dâng ngập buồng giam hơn gang tay, tù chỉ còn biết đứng dựa vào tường chờ cho nước rút hoặc ngủ đứng. Và khi nước vừa rút hết, sàn si măng còn ẩm ướt, tù mới ngả lưng nằm thì một hai chú chuột cống khá to, lông lởm chởm ghẻ lở khắp mình trông dơ dáy khủng khiếp chui lên từ miệng cầu, thản nhiên gặm bàn chân tù, đạp đuổi nó cũng cứ gan lỳ không chạy! Có lẽ từ lâu nó sống bằng xương thịt tù bị chết chưa kịp mang đi. Anh Mai Văn Lễ kết luận: “Đúng là tầng chót địa ngục trần gian, có một không hai trên thế giới!”. Tôi được biết Linh mục Hoàng Quỳnh, người lãnh đạo giáo dân khu Bùi Chu Phát Diệm nổi tiếng chống CS bằng vũ lực hồi còn ngoài miền Bắc. Linh mục bị bắt từ ngày đầu tháng 5. 1975, bị giam và chết trong “tầng chót địa ngục trần gian” này. Khi họ đem xác Linh mục đi trên cái băng ca, thân thể teo tóp gầy đét bé nhỏ như đưá trẻ lên 10.
Sau hai ngày đêm 15 chiếc xe vận tải lớn, trước đây dùng chở heo, chở mấy trăm tù ngồi bó gối trên sàn xe chật cứng nhúch nhích cánh tay cũng không được. Với bao gian khổ đói khát trên con đường dài mệt lả người, chập choạng tối chúng tôi tới trại tù lao động cải tạo Gia Trung (thuộc tỉnh Pleiku) nằm trong khu rừng núi hoang vu. Nghe nói nơi này khi trước là mật khu của CS. Trại Gia Trung lúc bọn tôi tới đã có 3 trại giam, mỗi trại cách nhau khoảng cây số. Trại nào cũng đầy nhóc người: từ 700 tới 1000. Tù đa số là các viên chức cấp nhỏ, địa phương quân, nhân dân tự vệ và đông nhất vẫn là tù hành sự từ các nơi đưa tới, có án hoặc chưa có án. Có cả tù chưa đến 10 tuổi, đói quá liều ăn tô bún riêu ở chợ không tiền trả bỏ chạy bị bắt.
Những nỗi đói khổ nhục nhã, sống cuộc đời trung cổ, sách báo đã nói nhiều từ hơn 30 năm, tôi xin miễn kể ra đây. Sự khổ sở nhục nhã chúng tôi còn có thể chịu đựng được. Nhưng cái khủng khiếp nhất đối với chúng tôi là sự vô vọng ngày trở về đoàn tụ với gia đình, với đời sống ngoài xã hội. Bọn cai tù bắt chúng tôi “học tập” chính sách Nhà nước là đem vợ con lên vùng đất tù đầy này cuốc đất trồng khoai sinh sống (như ngoài Bắc đã thực hiện). Tất nhiên chúng tôi không thể làm theo họ. Chúng tôi sẵn sàng hy sinh đời mình chứ không thể để vợ con đã khốn khổ ngoài đời lại phải gánh thêm cảnh tù đầy.
Trong những năm tháng không tên dài dằng dặc như bao thế kỷ sống như cây cỏ như súc vật, chúng tôi hết cả hy vọng hết cả chờ mong thì có những tin tức như những làn gió mát mang theo hơi sống tới: tin đồn về chương trình HO, người Mỹ sẽ cứu chúng tôi đem sang Mỹ. Trong thời gian này các con tôi gửi thư cho tôi nói bóng nói gió là hai hội Văn Bút Quốc Tế và Việt Nam đang ráo riết can thiệp vận động cho anh em cầm bút chúng tôi. Và các con tôi cũng báo tin có nhận được “quà” của hai hội gửi. Thời gian này bọn tù chúng tôi “hồ hởi phấn khởi” lắm. Chỗ nào cũng bàn tán về chương trình HO (mỗi người tán một kiểu toàn có lợi cho mình) với bao hy vọng tốt đẹp. Và chúng tôi cũng hết lời ca ngợi Tổng Thống Carter – vị ân nhân vĩ đại – sẽ lập cầu Không vận đưa chúng tôi từ VN qua Mỹ sống một đời ấm no tự do tươi sáng. Tôi cũng nghe nói tới tên một bà lúc ấy còn rất xa lạ với chúng tôi: bà Khúc Minh Thơ. Biết bao giai thoại đồn đại thêu dệt về bà được dựng lên. Qua câu chuyện và lời bình luận của anh em tù, tôi có cảm tưởng bà Khúc Minh Thơ như một bà tiên đang cầm cây đũa thần giúp chúng tôi từ vực thẳm lên. Rồi ngày tháng tiếp tục lặng lẽ trôi qua, tất cả mọi việc vẫn như cũ không có biến chuyển gì xẩy ra, chúng tôi lại tiếp tục buồn nản thất vọng lê cái thân tù đầy mòn mỏi héo hắt trong quốc nạn khổ sai. “Mong nhưng không đợi không chờ” như câu thơ của Giáo sư Vũ Quốc Thông làm và đọc cho tôi nghe.
Sau gần 10 năm thân thể rã rời hư hao chỉ cỏn bộ da bọc xương, tinh thần suy sụp chán nản chẳng còn gì để mong để chờ và cũng hết cả “cú” tha bất ngờ thì anh Doãn Quốc Sỹ được gọi tên tha, năm sau anh Hồ Văn Đồng rồi thời gian sau nữa là giáo sư Vũ Quốc Thông. Những người này được tha về làm sự hy vọng tưởng tắt ngấm trong chúng tôi lại lóe lên, dù là ở cuối đường hầm mù mịt.
Có lẽ do nguồn từ gia đình ký giả Cao Sơn lên thăm nuôi nói đài VOA vừa loan tin tôi và họa sĩ CHÓE (Nguyễn Hải Chí) hiện bị giam tù ở trại Gia Trung, Pleiku. Thế là ầm cả trại đến nỗi viên quản giáo đội tôi cũng tò mò hỏi anh tù nấu nước có biết tôi không và hiện ở đội nào (vì đài VOA chỉ loan bút hiệu của tôi nên anh ta không biết). Báo hại tôi từ khi có tin này không được tự động đi gánh phân người từ trại ra ngoài đồng nữa. phải về đội cuốc đất chặt cây đào mương như mọi anh em tù khác. Gánh phân tuy có vất vả bẩn thỉu hôi hám mất vệ sinh thật nhưng chỉ nửa buổi là “thanh toán” xong các hố xí. Thời gian còn lại thoải mái xuống suối tắm giặt và đi “va tạt linh tinh” kiếm củ khoai mì hay vài cọng rau lang “cải thiện”cho “ấm” cái bụng thường trực rỗng. Nếu tôi nói đã hơn một lần “tự động” ăn…phân người, có lẽ nhiều người không tin cho là tôi nói quá để kể khổ thân phận tù đầy dưới chế độ cộng sản. Lần thứ nhất quãng hơn 10 giờ, tôi vừa đói vừa khát ghé vào chỗ chòi đun nước uống của đội để uống nước. Anh bạn được phân công đun nước, nguyên đại úy cảnh sát quốc gia, vốn quý mến tôi, thấy tôi đến, anh mắt nhìn chỗ khác nhưng miệng nói nhỏ: “bác đi tới phía bụi cây bên trái”. Tôi biết là “có gì” rồi. Tới nơi nhìn vào trong bụi cây tôi thấy nửa trái dưa chuột nhỏ. Tôi cầm lên bỏ vào miệng nhai liền. Có lẽ trong đời tôi chưa bao giờ ăn miếng dưa chuột ngon đến thế (tôi vốn không thích ăn dưa chuột). Vừa nuốt xong nửa phần dưa chuột tôi chợt nhớ ra, ngừng nhai, tiến lại chỗ anh bạn đun nước, nói: “Này ông ơi, có phải trái dưa này “tẩm” phân người?”. Anh bạn gắt nhẹ: “Đã bảo, bác cứ ăn đi, không chết đâu mà sợ!”. Nghe anh bạn nói, tôi biết mình đã lỡ ăn rồi (hơn nữa cũng tại đói) nên tiếp tục cố nhai và nuốt nốt phần dưa chuột còn lại. Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người. Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké. Tôi được “ấm bụng” ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài Voa loan?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.
Còn một chuyện nhỏ nữa mà tôi cũng khó quên. Tôi vốn bị quy kết “học tập cải tạo” xấu, tư tưởng không ổn định và trây lười lao động nên thường xuyên bị ăn 13 ký một tháng (5 ký gạo, 8 ký khoai mì – nhưng bọn cai tù và bọn nhà bếp đồng lõa ăn chặn mất 2 ký gạo nên chỉ còn 3 ký). Trong 7 năm sống ở trại Gia Trung tôi được gia đình “thăm nuôi” có 3 lần. Đáng nhớ nhất là lần 2 con tôi (còn vị thành niên: một trai 15 tuổi và một gái 13 tuổi) đi xe đò hơn ngàn cây số lên thăm Bố với gói quà khoảng 10 ký. Khi đến cây số 25 (quốc lộ 18) thì xuống xe, lúc đó là 2 giờ đêm. Trời rất lạnh lại ở chốn rừng thưa hoang vắng không biết đường vào trại, hai anh em phải ngồi dựa lưng vào nhau chờ sáng trong lòng vừa sợ vừa lo mọi thứ, nhất là với thú dữ và kẻ cướp.
Sáng hôm sau tôi được gọi thăm nuôi. Tôi cố làm nét mặt lạnh lùng vô cảm để tránh trận nước mắt của hai con tôi khi nhìn thấy thân thể tiều tụy mòn mỏi hết sinh lực của bố chúng. Như đã viết ở trên vì tôi học tập cải tạo xấu lao động kém nên chỉ được nhận 2 ký đồ thăm nuôi. Tôi nhìn thấy một gói bột trắng khoảng 1 ký, tôi tưởng là bột gạo hoặc bột sữa nên lấy gói này và 1 gói xả xào mắm ruốc vừa đủ 2 ký. Hai con tôi đứng trước cửa nhà thăm nuôi nhìn theo, tôi biết chúng đang khóc nhưng không đủ can đảm quay lại nhìn: tôi sợ không cầm được nước mắt và òa khóc. Tôi nghe tiếng con gái tôi nói trong nước mắt: “Bố ráng giừ gìn sức khỏe để còn sống trở về với các con”. Vào tới buồng tôi mở ngay gói bột ra pha nước vào cái tô nhựa và ngoắng cho tan bột. Bột bị ngoắng sủi bọt lên trắng xoá. Đang đói đang khát tôi đưa lên miệng uống liền một ngụm lớn. Nhưng chất bột vừa trôi vào cổ họng, thấm vào lưỡi đắng chát và nóng rát, không có mùi vị gì có thể gọi là sữa cả, dù là sữa quá “đát”, tôi muốn nôn ọe vội nhổ ra ngay. Thì ra đó là sà bông bột (mà tôi cứ đinh ninh là bột gạo hay bột sữa). Kể lại cho anh em trong trại nghe ai cũng ôm bụng cười. Hai con tôi thật ngây thơ đem sà bông bột cho tù giặt quần áo! Sau này tù về tôi mới biết hai con tôi cũng vô cùng khốn khổ trong chuyến về này. Vì xe đò hết chỗ chật cứng, chủ xe bảo hai con tôi muốn đi thì lên mui xe mà “nằm”. Bát đắc dĩ chúng phải làm theo. Mấy lần suýt chết khi xe chạy qua nhưng cái “cầu” thấp nhỏ bắc ngang đường, chỉ sơ sẩy một chút là bị vướng gạt ngã xuống đường chỉ có chết, nếu không thì cũng vỡ đầu gẫy chân tay.
Đầu năm 1985 tôi bất thần được gọi tên tha về cùng một số anh em quân nhân. Ngoài tôi không có thêm tên anh bạn văn nghệ sĩ nào. Các anh mừng cho tôi thì ít, lo lắng chán nản thất vọng cho mình thì nhiều. Viên quản giáo trở nên tử tế với tôi, gã chạy vào phòng nói: “Mừng cho anh nhé. Có thuốc men gì cho tớ xin”. Tôi cho gã mấy viên thuốc cảm, gã đòi lấy hết nhưng tôi không cho để cho anh em tù nghèo không thăm nuôi.
Trại tù phát cho chúng tôi 50 đồng tiền đi xe, trong khi giá xe về Saigon 150 đồng. Đi bộ từ trại tù ra tới quốc lộ 25 gần 5 cây số. Chúng tôi phải nài nỉ mãi bà chủ xe đò mới “thông cảm” lấy 50 đồng. Xe đày nhóc người ì ạch chạy như rùa bò trên con đường vòng vèo dốc núi cheo leo đầy bất trắc, nguy hiểm. Tôi và ba anh tù đi cùng chuyến xe không một đồng bạc dính túi, phải nhịn đói nhịn khát hai ngày đêm liền cho tới khi về tới nhà ở Saigon. Một anh có “sáng kiến” đem bộ quần áo tù mới tinh được trại tù phát khi tha, gạ bán cho mấy người trên xe để lấy tiền ăn, nhưng đều bị từ chối vì ai cũng sợ xui khi mặc đồ tù.
Rời nhà tù nhỏ ra nhà tù lớn sống mấy năm thì “phong trào HO” nở rộ và tên tuổi bà Khúc Minh Thơ được anh em tù về hết lời ca ngợi công đức. Bà là ân nhân của tù cải tạo. Tôi vì nghèo, tiền ăn không có lấy đâu ra vàng đút lót hối lộ để được đi HO. Nhưng nghe theo lời các bạn đồng nghiệp cũ may mắn thoát sang Mỹ trước, viết thư về khuyên tôi cứ đến đường Nguyễn Du nộp đơn kèm theo những giấy tờ can thiệp (từ trước tới nay) của các tổ chức như Hội Văn Bút Quốc Tế, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, Liên Đoàn Ký Giả Quốc Tế, Hội Nhân Quyền…v…v…Nhưng tất cả đều vô vọng. Lần nào cũng vậy, hai lần, tôi “ôm” hồ sơ xin xuất cảnh tới Sở Ngoại Vụ đường Nguyễn Du đều được các viên chức hữu quyền (công an CS) trả lời dứt khoát: “Nhà Nước không có chính sách cho anh xuất cảnh. Bọn lính cũ không có súng ống đâu còn đánh được chúng tôi nhưng với bọn anh chỉ một cây viết vẫn có thể chống phá chúng tôi như các anh đã làm trước đây. Anh nên biết bên đó bọn báo chí phản động nhiều như nấm”. Thế là con đường sống bị triệt. Hết hy vọng, hết chờ mong. Tôi đành sống kiếp mạt rệp – một thứ công dân hạng bét – ngay trên quê hương đất nước mình. Nhưng tới cuối năm 1998 tôi được anh bạn nhà văn Hoàng Hải Thủy từ Mỹ gửi thư về báo cho biết tôi và Nhà văn Uyên Thao được bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch Hội Bảo Vệ Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam đã tận tình can thiệp với Bộ Ngoại Giao Mỹ để chúng tôi được sang Mỹ định cư. Chính Hoàng Hải Thủy sốt sắng giới thiệu hai chúng tôi với bà Khúc Minh Thơ và cộng tác mật thiết với bà trong công việc vận động. Con đường hy vọng, con đường sống, lại mở rộng trước mắt tôi.
Buổi tối ngày 18 tháng 5 năm 1999 tôi lên máy bay giã biệt quê hương tăm tối sang Mỹ định cư. Tôi lại được sống lại dưới bầu trời tự do dân chủ như tại Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Tuy nhiên nhiều đêm vẫn giật mình thức giấc vì những ám ảnh não nề thê thảm khốn cùng của những năm tháng tù đầy. 

THANH THƯƠNG HOÀNG


 

Bài Xem Nhiều