We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 9 April 2013

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : Tỵ Nạn và Cuộc Đời- Lần vượt biên sau cùng (1)


Tỵ Nạn và Cuộc Đời:
Phần 1
Lần vượt biên sau cùng 23.6.1980
Lời mở đầu: Hôm nay, ngày 23 tháng 6, điện thoại qua New York City, Mỹ quốc để chúc mừng Sinh Nhật của con gái đang làm việc tại Trung Tâm Thương Mại Thế Giới. Và hôm nay cũng là ngày đánh dấu 28 năm (1980-2008) tôi và gia đình bỏ nước ra đi tìm Tự Do. Thật là một sự ngẫu nhiên! Con gái tôi được sinh ra tại Tây Đức (23.06) năm mà tôi làm luận án tốt nghiệp Đại học. Sau những năm cháu theo học Trung học tại Đức và tại Mỹ, bây giờ cháu tốt nghiệp đại học New York University - Stern School of Business, ngành Tài Chánh (Finance) lúc 20 tuổi. Văn bằng tốt nghiệp đại học được ghi hạng tối ưu (cum laude) và cháu cũng nhận được bằng ban khen với tên của Đại học. 9 tháng trước khi tốt nghiệp, cháu được Ngân Hàng "Investment Bank Goldman Sachs" toạ lạc tại West Street in Lower Manhattan, New York City nhận vào làm việc. Đó là niềm vui cho gia đình và là động lực khuyến khích tôi ghi lại đôi giòng về cuộc hành trình vượt biển mà tôi và gia đình đã trải qua trên biển Đông vào mùa hè năm 1980.

Khởi hành:

Mặc dù thời gian trôi qua thật nhanh, nhưng nhiều hình ảnh ra đi vượt biên vẫn còn đọng lại tiềm tàng trong trí ức. Làm sao tôi quên được những sự ra đi quá hải hùng của những đứa con của Mẹ Việt Nam, những đứa con bất hạnh, những người đi tìm tự do, tìm cái sống trong cái chết của mình, mà thế giới gọi là thuyền nhân “Boat People“,.

... Đêm nay đêm tối trời, tôi bỏ quê hương
Ra đi trên chiếc thuyền hy vọng vượt trùng dương
Em đâu đâu có ngờ đêm buồn
Bỏ lại em cay đắng thật thương
Hò ơi, hò ơi, tạm biệt nước non…
(Trích Đêm Chôn Dầu Vượt Biển)

Vào một đêm mùa hè trăng sao, ban ngày trời nóng chan chan, nắng cháy da người. Tôi cùng vợ và 2 con từ Sài Gòn đi xe đò về Tây Đô thân yêu. Tối hôm đó, tôi cùng gia đình vợ và 2 con được hướng dẫn lên một chiếc ghe rất nhỏ. Chiếc ghe nhỏ nầy đã được cất dấu nhiều ngày trong 1 con lạch, được che bởi những khóm cây dừa nước tại vùng Cần Thơ, chuẩn bị di chuyển người ra một chiếc ghe lớn để đưa chúng tôi vượt biên. Chiếc ghe lớn đang đậu núp ở một ven bờ Tiền Giang, hướng ra biển. Ghe lớn có chiều dài khoảng 12,5m và chiều ngang khoảng 2,5m.

Trong lúc chiếc ghe nhỏ luồn lướt qua những con lạch, băng qua những khóm dừa nước, lao nhao đôi chú ếch nhái, ểnh ương đang đi tìm mồi và đùa giỡn réo gọi nhau bỗng dưng yên lặng, trả lại cho màn đêm tịch mịch. Nhưng rồi, xa xa vọng lại những tiếng rên rĩ của côn trùng, tiếng kêu của những lũ ếch nhái khác hoà với làn gió nhè nhẹ thổi vào đêm trăng mùa hè cùng với bóng dáng của cành lá cây, rào rạc ở hai bên bờ rạch, lúc ẩn lúc hiện tạo nên một âm thanh khó hiểu, huyền dịu. Loài côn trùng, động vật có thấu hiểu chuyện gì đang xảy ra bên cuộc sống thanh bình của chúng? Chúng tôi không phải là kẻ săn bắt chúng hay phá rầy sự sống của chúng. Chúng tôi là những người đang tìm đường vượt biển với tâm lý vừa vui buồn lẫn sợ hải. Đôi khi tôi nghĩ ngợi, mình cũng thầm cảm ơn những chú ếch nhái và côn trùng, cây, gió. Nhờ có chúng mà chúng tôi không bị lộ tông tích vì tiếng ồn do chúng tôi có thể tạo ra trong lúc di chuyển.

Sau một thời gian lặng lẽ âm thầm ra đi trong đêm tối, chúng tôi vượt ra khỏi rạch nhỏ thì vào sông Tiền Giang, rồi đến ghe lớn. Lúc đó vào khoảng 1 giờ sáng. Trên ghe lớn cũng đã có một số người từ những ghe nhỏ khác đã được đưa đến. Rồi dần dần có thêm nhiều ghe nhỏ nữa chở thêm người tới.

Ngay từ những ngày đầu chuẩn bị, sau khi người chủ mua ghe và trang bị máy móc ở vùng Hà Tiên, Rạch Giá, tôi đã có nhiều lần xuống vùng đó để kiểm soát lườn ghe cũng như xem xét máy móc được trang bị như thế nào. Khi thử chạy máy và kiểm soát kỷ lườn ghe thì thấy tất cả đều tốt. Chủ ghe cũng cho tôi biết rằng ghe sẽ chở khoảng 80 người mà thôi. Nghe vậy, tôi nghĩ rằng với chiếc ghe nhỏ như thế nầy cũng có thể vượt biển được mặc dù trên đường đi nếu biển động nhẹ. Nhưng khi tôi lên ghe lớn thì thấy quá nhiều người trên ghe rồi. Chiếc ghe quá tải, tưởng chừng sắp bị chìm. Với số lượng người đông như thế này, tôi đoán có khoảng trên 170 người. Chiếc ghe đang còn ở trên sông, nước phẳng lặng mà đã xem như sắp chìm rồi thì làm sao ra biển đi được. Thấy vậy, tôi đã kêu gọi những người đang chuẩn bị lên ghe lớn sau cùng nên hảy ở lại quê hương và trở về nhà thì tốt hơn. Nếu không, khi ra biển, gặp sóng gió lớn, ghe sẽ bị chìm ngay và sẽ chết hết. Sau khi nghe tôi nói như vậy họ đã hiểu, cho nên một số người còn đang ở trên ghe nhỏ họ không bước lên ghe lớn nữa, cũng như một số người đã lên được ghe lớn họ cũng bước xuống ghe nhỏ mà trở về.

Mặc dù vậy, chiếc ghe vẫn còn quá tải. Lườn ghe đã chìm sâu, chỉ còn khoảng 10 cm nổi trên mặt nước mà thôi. Riêng cá nhân tôi, với nhiều năm đi tàu biển, có nhiều kinh nghiệm về sóng gió, biết rằng với chiếc ghe nhỏ như thế nầy mà chở gần 150 người thì rất lo lắng. Nhưng tôi đang ở vào vị thế tiến thoái lưỡng nan. Đây là lần vượt biên thứ ba sau khi tôi bị đi “tù cải tạo“ về. Hai lần vượt biên trước, ghe tôi cũng đã ra tới ngoài biển được rồi nhưng vì bị trở ngại kỹ thuật, ghe không chạy tiếp được, cuối cùng phải bị bắt và vào tù trở lại. Lần nầy nếu tôi và gia đình không đi, khi lên bờ trở lại có thể tôi sẽ bị bắt. Nếu tôi bị bắt mà còn bị lộ ra tông tích rằng mình là một cựu Sĩ Quan Hải Quân của Quân Lực Việt Nam Cọng Hoà và đã nhiều lần vượt biên bị bắt thì có thể lần nầy tôi sẽ bị nhốt vào tù và khó có ngày về đoàn tụ gia đình. Do đó, tôi quyết định ở lại trên ghe để hướng dẫn ghe đi vượt biên. Tôi thừa hiểu rằng trên đường vượt biển có thể có nhiều nguy hiểm xảy ra, nhưng tôi không có con đường lựa chọn nào khác. Tôi chỉ hy vọng rằng vào mùa hè, sóng gió sẽ êm dịu hơn và biển có thể yên lặng.

Ra khơi:

Thế là cuộc hành trình vượt biển đang diễn ra theo kế hoạch. Trên ghe có già trẻ, trai gái và gồm đủ thành phần trong xã hội đều cùng chung ước mơ ra khơi tìm Tự Do.

…Đêm nay trên bản đồ có một thuyền ra đi
Hiên ngang trên sóng gào tự do đón chào
Xin chào tự do với nỗi niềm cay đắng
Nhìn lại bên bờ nước non mình mỗi mặt
Khóc nghẹn ngào
Hò ơi! Hò ơi! tạm biệt nước non… 
(Trích Đêm Chôn Dầu Vượt Biển)


Bản đồ vượt biên, nhìn sao trời lái ghe.
Trong 2 ngày đầu vượt biển dường như tôi thức trắng đêm. Ngày đầu tiên, vào chiều tối, ghe chúng tôi ra khỏi cửa biển và ra khơi khá xa. Tối khuya hôm đó tôi đổi hướng chếch Nam, nhắm bên phải của chòm sao Nam Tào ở phía Nam gần hướng Tây Nam làm chuẩn mà chạy. Vùng biển ngoài khơi Vũng Tàu trải dài đến vùng đảo Côn Sơn tôi cũng đã có 2 tháng đi thực tập trên Hoả Vận Hạm HQ 471 và 7 tháng trên Hộ Tống Hạm HQ10 trước khi được thụ huấn tại Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang vào tháng 9 năm 1971. Trong thời gian nầy chiến hạm HQ10 phải đi tuần liên tục ngoài khơi thuộc vùng 3 duyên hải. Nhờ vậy tôi có phần nào hiểu biết và kinh nghiệm ở vùng biển khơi từ Vũng Tàu đến Côn Sơn.

Để kiểm soát hướng đi, vào ban đêm, nhìn ngược lại hướng Bắc thì có chùm sao Bắc Đẩu nằm chếch ở phía sau ghe vì ghe đã đổi hướng. Ban ngày thì nhìn mặt trời để đoán hướng. Là sĩ quan hải quân QLVNCH, ngành chỉ huy, nhiều năm đi biển phải có kinh nghiệm nhìn các sao, các chùm sao, nhìn sóng nước, nhìn sóng gió, nhìn mặt trời, mặt trăng trên biển để đoán được vị trí tương đối và hướng đi của ghe..

Khi mệt quá tôi giao lại cho vài tài công là những thanh niên và là thân nhân của chủ ghe. Chủ ghe không đi theo. Thật sự mấy bạn tài công nầy chỉ mới tập lái ghe khi ghe được sửa chữa trên sông trước khi đi vượt biên mà thôi. Họ không có nhiều kinh nghiệm về biển cả. Tôi phải chỉ dẫn cho họ. Họ tin tưởng ở tôi.

Trang bị cho chuyến vượt biên, trên ghe chúng tôi chỉ có 1 bản copy của tấm hải đồ biển Đông từ vùng đảo Côn Sơn đến Tân Gia Ba để vẻ tuyến đường đi đến hải cảng Singapore. Tôi đã xác định từng đoạn đường với góc độ. Tôi chọn tuyến đường đi Singapore mặc dù xa hơn đi đến Thái Lan hay Mã Lai Á là vì tôi muốn tránh xa vùng biển mà hải tặc Thái Lan đang hoành hành trên vịnh Thái Lan. Trước khi đi, chúng tôi đã mua 1 la bàn từ với đường kính khoảng 10 cm. Loại la bàn từ mà lớn như vậy chỉ có ở các chiến đỉnh của các Lực Lượng Hải Quân VNCH, làm gì mà có bán ra ngoài như vậy?. Khi mua nó tôi đã nghi ngờ là giả mạo nhưng không tìm được cái la bàn từ nào khác là thật và original nên đành phải mua.

Khi sử dụng la bàn giả mạo trên biển là 1 khuyết điểm lớn vì các tài công trên sông không có kinh nghiệm về sóng gió và phương hướng rõ ràng ngoài đại dương. Khi sóng mạnh ập đến ghe thì la bàn từ giả mạo kia bị lắc và không lay chuyển được nữa, góc độ của hướng đi sai ngay. Nếu tài công không để ý và không biết hướng gió, sóng và các chòm sao thì lái ghe sẽ sai hướng. Vì thế mỗi lần tôi tỉnh giấc và xem lại thì đôi khi thấy ghe đi lạc hướng, tôi phải điều chỉnh ghe để có hướng đi đúng trở lại. Ngoài ra tôi còn nghĩ đến, vào một thời điểm nào đó các tài công cũng mệt nhừ người, thì họ vừa lái ghe và sẽ vừa buồn ngũ là chuyện khó có thể tránh. Tôi nghi ngờ như vậy. Nói chung, lái ghe trên biển cũng khá phức tạp. Những đêm bị mưa gió, trời mù, thì không thấy chòm sao Nam Tào. Do đó tôi phải thường nắm tay lái. Vùng biển Côn Sơn và Phú quốc tôi cũng đã quen thuộc phần nào. Khi đi thực tập trên Hoả Vận Hạm HQ471 đầu năm 1971, cũng như khi tôi phục vụ dưới Dương Vận Hạm HQ503 cũng đã có mấy lần chiến hạm đi công tác đến đảo Phú Quốc và đảo Côn Sơn. Nhờ vậy tôi cũng biết được hướng sóng gió ở vùng Côn Sơn.

Suốt mấy ngày vượt biển tôi không lo lắng được gì cho 2 con tôi. Tất cả đều để cho vợ tôi lo cho 2 cháu. Bà xã tôi hiểu được sự lo lắng lái ghe của tôi nên không có một lời than thở. Thật tội nghiệp!

Có 1 lần vào ban ngày vì biển động, sóng hơi lớn nên 1 thùng dầu Diesel dự trữ đặt phía sau lái khoảng 200 lít rơi xuống biển. Tôi phải ngưng ghe lại và nhờ anh Thọ (hiện đang cư ngụ tại Nam California) nhảy xuống biển để cùng chúng tôi vớt thùng dầu lên. Đến hôm nay tôi vẫn còn thầm phục tinh thần của anh ấy. Lúc đó không mấy ai dám nhảy xuống biển mênh mông như vậy. Tôi quyết định là phải vớt thùng dầu lên cho bằng được. Tôi nói với các bạn thanh niên cùng đi rằng con đường chúng ta đi còn xa lắm. Nếu chúng ta thiếu dầu, chết máy thì khi biển động ghe sẽ bị lật chìm ngay vì chúng ta không thể điều khiển được chiếc ghe để lái chếch sóng. Họ nghe lời tôi và quyết tâm phải vớt thùng dầu. Tôi phải tận dụng những phương pháp cứu người trên biển cũng như những cách thắt mũi dây mà tôi đã học được ở những chiến hạm và khi tôi còn là một Huynh trưởng Đoàn trưởng Gia Đình Phật Tử ngoài miền Trung để ứng dụng lúc nầy. Chúng tôi dùng 1 sợi dây và 2 cây cọc trên ghe để kéo thùng dầu lên. Rất khó khăn vì thùng dầu quá nặng nhưng chúng tôi đã vớt được. Xin cảm ơn Trời Phật!

Sau những ngày đêm ghe vượt trùng dương bát ngát, lướt sóng gió, đi trong mưa, hướng Tân Gia Ba, vào một ngày nọ chúng tôi thấy 3 ghe khá lớn (Thái Lan hoặc Mã Lai Á) đang đánh cá. Chúng tôi quyết định chạy đến gần chúng để hỏi biết vị trí ghe đang ở đâu trên biển. Có lẽ vì bận đánh cá nên chúng cứ thản nhiên chạy đi hướng khác. Họ không màn đến chúng tôi muốn tới gần họ. Chúng tôi dùng hoả châu phóng lên tia hồng ngoại tím thì họ mới dừng lại. Khi đến gần họ, tôi đứng trên mui ghe và hỏi chúng bằng tiếng Anh để biết vị trí ghe đang ở đâu và hướng Singapore. Họ chỉ cần nghe và hiểu chữ Singapore nên họ chỉ tay về hướng Nam như chúng tôi đang đi. Đồng thời, tôi dùng sợi dây nhỏ cột tấm hải đồ chuyển qua ghe họ để nhờ họ xác định trên bản đồ vị trí chiếc ghe của chúng tôi đang đi vì ghe họ có gắn Radar. Ngoài ra chúng tôi còn xin được thêm 2 thùng nước uống, khoảng 50 lít. Tôi cảm ơn lòng tốt của họ. Khi cầm tấm hải đồ với địa điểm ghe đánh cá vừa xác định bằng bút chì, tôi tin rằng có thể những ghe đó không phải là hải tặc Thái Lan vì những ghe đó đang đánh cá ở vùng biển nằm ngoài khơi của bờ biển Mã Lai Á. Tuy vậy, trong lòng tôi vẫn lo ngại.


Hình ảnh vượt biên.
Sau đó ghe chúng tôi tiếp tục nhắm hướng Tân Gia Ba mà chạy. Đi được một ngày thì bổng nhiên tôi nhìn thấy từ xa xa ở hướng Nam hiện ra một đốm đen. Dùng ống dòm  để quan sát, tôi mới rõ đó là chiếc máy bay trực thăng đang bay về hướng chúng tôi. Trực thăng càng lúc càng hiện rõ hơn. Chúng tôi, tất cả mọi người trên ghe rất vui mừng khi thấy máy bay trực thăng. Khi đến gần, một người trên máy bay chỉ tay vào chúng tôi và ra dấu tiếp tục đi về hướng Nam. Nhìn về hướng Nam chúng tôi thấy một con tàu cở lớn từ từ hiện ra. Sau nầy tôi được nghe kể lại rằng khi tàu Cap Anamur được trực thăng cho biết đã phát hiện ghe tỵ nạn chúng tôi thì thuyền trưởng cho 2 máy tiến full (với tốc độ tối đa) hầu kịp thời ngăn chận mọi bất trắc có thể xảy ra cho ghe chúng tôi. Và sau khoảng 2 tiếng đồng hồ thì tàu đã đến gần chúng tôi. Trên tàu, thuỷ thủ đoàn phóng loa kêu gọi chúng tôi đừng sợ hải, hảy bình tỉnh. “Đây là tàu CAP ANAMUR của Tây Đức đang cứu vớt các bạn“. Thế là mọi người trên ghe đều lộ vẻ vui mừng khôn tả nhưng tôi vẫn yêu cầu họ hãy bình tỉnh, giữ trật tự, ở đâu ngồi đó. Nếu di động không trật tự thì ghe có thể bị lật úp hoặc ghe sẽ bị nghiêng, bị vô nước và chìm, nhất là lúc ghe đang cập vào tàu. Lần nữa, mọi người nghe lời yêu cầu của tôi và ở đâu ngồi đó. Họ cũng đã thấy vợ và 2 con của tôi cũng ngồi yên tại chổ. Tôi thầm cảm ơn họ. Bây giờ tôi cảm thấy khả năng hàng hải rất hửu dụng của mình sau 2 năm được đào tạo ở trường Sĩ quan Hải quân Nha trang và gần 9 tháng thực tập trên các chiến hạm HQ471, HQ10 cũng như những năm phục vụ trên Dương Vận Hạm HQ503.

Sau khi ghe tôi đã được cập vào tàu Cap Anamur, những thuỷ thủ của tàu cũng bắt đầu xuống ghe tôi. Họ dùng cần cẩu trên boong tàu để giúp chúng tôi lần lượt đưa tất cả 148 người trên ghe lên tàu của họ. Tôi rời khỏi ghe sau cùng. Sau khi mọi người trên ghe đã được di chuyển lên tàu Cap Anamur thì thuỷ thủ đoàn đã phá huỷ ghe chúng tôi để nhận chìm xuống đáy biển. Chiếc ghe thật mỏng manh đối với biển cả mênh mông, giờ đây từ từ đi vào lòng biển. Tôi hướng mắt nhìn ghe lần cuối, hiện lên một vẻ buồn không tưởng, nhưng với tâm niệm “có sinh thì có diệt“ theo giáo lý nhà Phật, tôi cũng cố quên đi. Tôi thầm cảm ơn chiếc ghe đã cưu mang 148 đồng bào thân yêu bỏ nước ra đi, trong đó có tôi cùng gia đình. Ghe đã đưa chúng tôi đến bờ tự do.

Trên tàu Cap Anamur, chúng tôi được thuyền trưởng cùng thuỷ thủ đoàn chào đón một cách niềm nỡ và họ nấu cháo cho chúng tôi ăn sau nhiều ngày đói khác trên biển. Họ cũng săn sóc thuốc men cho chúng tôi nếu có người bệnh hoạn. Trước những cử chỉ thân thiện của thuỷ thủ đoàn trên tàu, họ đã hỗ trợ tinh thần rất nhiều cho chúng tôi nhằm nhanh chóng phục hồi lại sức khoẻ.

Sau khi họ đã cứu vớt chúng tôi, tàu tiếp tục di chuyển trên biển đông ở gần bờ biển Việt Nam khoảng 10 ngày nữa để tiếp tục cứu vớt thêm 4 chiếc ghe vượt biên khác, tiếp nhận khoảng trên 500 người.

Tại hải cảng Tân Gia Ba:

Sau cùng, con tàu ân nhân Cap Anamur chở chúng tôi đến hải cảng Tân Gia Ba vào những ngày đầu tháng 7 năm 1980. Đó là chuyến thứ 8 của tàu Cap Anamur ra khơi cứu vớt người vượt biển tìm Tự Do trở lại cảng. Gọi tắt là Cap Anamur 8. Tàu không cập bến, chỉ neo trong hải cảng. Ở đó chúng tôi được chích thuốc ngừa. Không một ai được lên bờ.

Cao Uỷ Liên hiệp Quốc tại Tân Gia Ba cũng xuống tàu để phỏng vấn chúng tôi. Người nào có thân nhân ở hải ngoại thì được ưu tiên thiết lập danh sách đi đoàn tụ gia đình nhưng họ cũng phải đến trại tỵ nạn tạm trú một thời gian. Riêng vợ chồng tôi thì bấy giờ có người bác phía vợ đang hành nghề luật sư bên Gia Nã Đại. Nhưng khi tôi trình bày nguyện vọng muốn đi Mỹ thì Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc nói rằng: Bạn và gia đình đã được tàu Tây Đức vớt, vậy bạn và gia đình có thể ưu tiên đi Tây Đức. Nếu bạn đồng ý thì trong mấy ngày nữa bạn sẽ đi ngay và không cần lên trại tỵ nạn chờ đợi. Tuy nhiên bạn cũng có thể đi Gia Nã Đại theo diện bảo lãnh, nhưng bạn và gia đình cũng phải qua tạm trú tại trại tỵ nạn ở Nam Dương một thời gian để chờ bác của bạn bảo lãnh. Người bác vợ của tôi tốt nghiệp Luật sư tại Pháp, làm việc trong Bộ Ngoại Giao VNCH và cũng đã từng tham dự và cố vấn Pháp luật cho phái đoàn VNCH tại Hội Đàm Paris . Tôi hy vọng về sự bảo lãnh của bác tôi. Tuy nhiên khi tôi hỏi về thời gian chờ đợi ở đảo thì cao uỷ LHQ không thể cho biết là bao lâu. Họ chỉ  trả  lời: Điều đó tuỳ thuộc vào sự bảo lãnh cũng như lệ thuộc vào chính quyền Gia Nã Đại.

Sau khi được phỏng vấn, tôi đã thảo luận với vợ về vấn đề đi định cư ở nước thứ ba. Vợ chồng chúng tôi cũng ngại ngùng ở đảo vì có 2 con còn quá nhỏ. Cháu lớn nhất lúc bấy giờ được 3 tuổi và cháu thứ hai chỉ được 18 tháng. Hơn nữa chúng tôi cũng không muốn cậy nhờ ông bác vợ ở Gia Nã Đại bảo lãnh. Thế thì tôi quyết định đưa gia đình qua Tây Đức xin tỵ nạn cọng sản. Tôi tâm niệm: “trời sinh voi, sinh cỏ“. Vợ chồng tôi đồng quan điểm rằng ở đâu có Tự Do Dân Chủ là nơi đó chúng tôi có thể định cư và sẽ cố gắng xây dựng lại cuộc đời mới. Chúng tôi đã trải qua nhiều hiểm nguy, nhiều lần vượt biên trước bị bắn, nhiều cay đắng, nhiều gian truân, nhiều lần vô tù. Vợ con tôi cũng chịu cùng cảnh ngộ, cũng chịu đói khác, bịnh hoạn như mọi người tù khác. Giờ đây chúng tôi đã may mắn gặp được tàu cứu vớt thì dù có đi định cư bất cứ ở xứ nào cũng đều tốt cả, miễn sao xứ đó có Tự Do Dân Chủ là được rồi.

Nhớ lại những năm xưa, mỗi lần vợ tôi sinh con là tôi bị ở trong tù. Con đầu lòng được sinh ra khi tôi ở trong “tù cải tạo” được 8 tháng tại Trảng Lớn, Tây Ninh. Con thứ hai được sinh ra khi tôi ở tù vượt biên tại Côn Đảo. Với tâm niệm: “Chỉ có tinh thần là quan trọng”, một bài học rất quý giá, hàm súc nhiều ý nghĩa thâm sâu mà tôi học được từ Trường Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang của thuở nào đã giúp tôi nhiều nghị lực để vượt qua mọi trở ngại và tiến lên. Suy gẫm cuộc đời, bài học đó đã được chứng minh.


Hình chụp dịp Lễ Kỷ Niệm 35 Năm Tỵ Nạn và Tri Ân Nước Đức.
Ngày đầu tiên đến Tây Đức:

Khi tôi quyết định đưa gia đình đi Tây Đức để định cư, thì Cao Uỷ Liên Hiệp Quốc lo tiếp thủ tục giấy tờ cho gia đình tôi. Thế là sau vài ngày chờ đợi trên tàu Cap Anamur ở hải cảng Tân Gia Ba, gia đình tôi cùng với một số bà con vượt biên khác được chích thuốc ngừa và được phân phối quần áo mới để đi định cư tại Cọng Hoà Liên Bang Đức (Bundes Republik Deutschland) ở Tây Đức (West Germany).

Một buổi sáng tinh sương, chúng tôi được hướng dẫn lên xe buýt đang đậu ngay bến cảng để được chở ra phi trường Tân Gia Ba. Xe buýt chạy xuyên qua thành phố Tân Gia Ba, có cả thuyền trưởng tàu Cap Anamur là ông Werner Urban cùng đi về Tây Đức. Một thành phố rất khang trang và sạch sẻ. Rất tiếc rằng tôi chưa có dịp để thăm phố thị muôn màu của bán đảo nầy.

Khi qua Tây Đức tôi được biết thêm, vào năm 1979 Liên Hiệp Quốc họp tại Geneve, Thụy sĩ, đã kêu gọi những quốc gia Tây Âu cứu nhận nạn nhân đến từ Đông Dương, nhất là đồng bào chạy tỵ nạn từ Việt Nam. Riêng chính quyền Tây Đức đã đồng ý sẽ nhận khoảng 30.000 người tỵ nạn từ Đông nam Á, đặc biệt là từ Việt Nam.

Sau thời gian ngắn xe buýt đã đến phi trường Tân Gia Ba.

Tôi còn nhớ, khi ông thuyền trưởng Werner Urban cùng đi với chúng tôi đến phi trường Tân Gia Ba, ông ta ứa nước mắt trước khi lên máy bay Lufthansa. Có lẽ ông rất xúc động đã cứu được nhiều thuyền nhân và giờ đây họ sẽ lên đường đến một xứ lạ là quê hương của ông, một quê hương đang có Tự Do Dân Chủ và có những hành động nhân đạo.

Vào buổi chiều tối, chiếc phi cơ Lufthansa của Tây Đức chở 145 người vượt biên xin tỵ nạn tại Tây Đức, trong đó có gia đình tôi rời phi trường Tân Gia Ba. Sau khoảng 12 giờ bay vào ban đêm, phi cơ hạ cánh tại phi trường Frankfurt am Main, Tây Đức vào buổi sáng sớm ngày 15.7.1980.

Tại đây, một số người tỵ nạn trong nhóm chúng tôi được đổi máy bay tiếp tục đi lên miền Bắc Đức ở Hamburg, hoặc đến tiểu bang Rheinland-Pfalz, hoặc đi Saarbruecken. Một số người đi lên thành phố Bremen. Một số khác đi qua Tây Bá Linh. Tây Bá Linh nằm trong lòng Đông Đức. Lúc bấy giờ thành phố Bá Linh được chia làm hai phần bởi bức tường ô nhục do chính quyền cọng sản Đông Đức dựng lên vào ngày 13.8.1961 để chia thành phố Bá Linh ra làm hai nhằm ngăn chận dân chúng Đông Đức từ bỏ chế độ cọng sản để chạy sang Tây Bá Linh là phần đất tự do để tỵ nạn. Sau đệ Nhị thế chiến, Đức Quốc Xã thua trận nên một nửa thành phố đông Bá Linh thuộc về quân đội Nga quản chế và một nửa thành phố tây Bá Linh thuộc về quân đội đồng minh Mỹ, Anh, Pháp. Chung quanh thành phố Bá Linh thuộc nước Cọng Hoà Dân Chủ Đức (DDR: Deutsche Demokratische Republik). Đó là quốc gia theo chế độ cộng sản.

May mắn thay, gia đình tôi không đi Bá Linh. Chúng tôi cùng một số người tỵ nạn khác, tổng cọng khoảng 100 người ở lại chờ đợi để đổi máy bay đi đến phi trường Duesseldorf thuộc tiểu bang Nordrhein-Westfalen bên Tây Đức.

Trong lúc chờ máy bay để đi tiếp tục, tôi và 2 con đứng bên cửa sổ của phòng chờ đợi, hướng mắt ra xa. Nhìn qua cửa kiếng, hướng về những cao ốc, tôi đoán rằng đó là trung tâm thành phố Frankfurt. Lòng mình xôn xao làm sao!. Suy nghĩ về quá khứ, nhớ về quê hương rồi nhìn về tương lai, tôi cảm thấy buồn vui lẫn lộn. Nghĩ về cuộc đời binh nghiệp, đã bao nhiêu năm chinh chiến, tôi suy tưởng, ít ra mình cũng đóng góp phần nào cho quê hương, cho Tổ Quốc để bảo vệ tiền đồn Tự Do. Bây giờ có rời xa quê hương mình cũng không ân hận cho lắm.

Rồi tôi thầm nghĩ, nếu không có ngày 30.4.1975 thì hy vọng vào năm 1975 mình cũng sẽ có cơ hội được qua Mỹ du học 153 tuần thuộc chương trình đào tạo Master of Art hoặc Master of Science hoặc cao hơn cho những sĩ quan quân lực VNCH có văn bằng cử nhân nhằm sau nầy góp phần tái thiết đất nước thời hậu chiến sau khi Hiệp định Paris được ký ngày 27.1.1973, chiếu theo Thông Tư của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực VNCH năm 1974. Đến tháng 4 năm 1975 tôi đã học xong chương trình Ban Cử nhân thuộc Đại học Luật Khoa Sài Gòn. Niềm mơ ước ngày ấy không trở thành sự thật. Và giờ đây hiện diện nơi quê người tôi thì thầm:

“Nhớ nước đau lòng con quốc quốc. Thương nhà mỏi miệng cái gia gia“…
Tây Đức mùa nắng hạ 2008

Nguyễn văn Phảy
, vgpgermany@gmx.net
Ghi chú: Một số hình ảnh trên được trích trong cuốn sách “Thế Kỷ Người Tỵ Nạn”(Das Jahrhundert der Fluechtlinge) do Uỷ Ban Bác Sĩ Cấp Cứu Đức (Deutsches Komitee NOT-Aerzte) biên soạn năm 1981.

Xin đội ơn thủ tướng!..: Bác hồ còn sống chắc tệ hơn thế nầy..?

CÁC CHÁU ĂN UỐNG THẾ NÀY ĐÂY, THƯA Quý Vị...

Mời người VN trên toàn thế giới nhìn xem:  59 năm cai trị miền Bắc, 38 năm thống nhất đất nước dưới chế độ  XHCN ƯU VIỆT CỦA CHÚNG TA !!!




- Từ sáng đến tối, thấy các thể loại báo chí rầm rộ đăng tin bài phản ánh, ca ngợi việc Thủ tướng, sau khi đọc một số báo, trong đó nhất là báo Tuổi trẻ TP.HCM, đã chỉ đạo Bộ GD&ĐT chủ trì, phối hợp với các địa phương miền núi - biên giới phía Bắc kiểm tra, làm rõ và báo cáo việc học sinh thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu sách vở... em buồn nẫu.

Vẫn biết Thủ tướng "trăm công nghìn việc", lãnh đạo các Bộ ngành - địa phương "trăm việc nghìn công", các chuyên viên cấp dưới cũng "công công việc việc", nhưng đến giờ mới vỡ ra và cấp tập chỉ đạo, thì buồn quá.





Những chuyện thế này, báo chí - cơ quan phản ánh, tuyên truyền chính sách, thực tế cuộc sống từ Trung ương xuống địa phương và ngược lại (đó là chưa kể tới các thể loại báo tỉnh, huyện ngốn hàng đống tiền Ngân sách nuôi cả bãi biên chế), có biết không, khi các nhà báo dịp nào cũng lũ lượt lên biên giới - miền núi?..
Biết chứ!. Cũng kêu... be bé đấy chứ, nhưng hình như không đúng thời điểm, nên chỉ có chị Thời sự VTV với phóng sự ăn thịt chuột ở Sơn La và anh Tuổi trẻ, dịp đi rải quà khắp các tỉnh, kêu váng lên, nhờ Giời mà Thủ tướng biết.

Thưa Thủ tướng, dặm dài miền núi - biên giới, chẳng phải chỉ riêng Tây Bắc, chúng em gặp mãi thành quen, nói mãi thành nhàm, với những cảnh này rồi ạ!.

Chả dám nói là những đứa học sinh lít nhít Nội trú, Bán trú ở đầy điểm bản, xã huyện không cơm, không áo, không dép mũ, không sách vở, không trường lớp (nói vậy, bị quy... "nói xấu chế độ" ngay), mà chỉ nói là thiếu, rất thiếu và cực thiếu.








Bây giờ, Thủ tướng và mọi người mới được nghe chuyện học sinh Sơn La bẫy chuột để "kiếm tý tươi", chứ năm 2005, khi công tác tại Chiêm Hóa (Tuyên Quang), cánh nhà báo chúng em đã chứng kiến cảnh bọn trẻ bẫy chuột, nướng ăn với cơm vì không còn bất cứ thứ gì, ngoài muối trắng. May mà vẫn còn hình ảnh chụp lại, cho Thủ tướng xem...

Với bọn Bán trú. Chúng nó có cơm ăn đấy chứ (mà hết thảy chúng nó, đến mùa giáp hạt, hết gạo thì còn ngô xay), nhưng cơm ăn bữa trưa được mang đi từ sáng, với thức ăn là muối trắng kèm với hoặc măng ớt, hoặc măng luộc hoặc... ăn không.

Nhà nào "có điều kiện lắm", cũng chỉ vài con cá khô kho mặn chát, to bằng đầu đũa là cùng.
Với bọn trẻ con Nội trú. Nấu 1 nồi cơm, ăn cả ngày, với bất cứ gì chúng có: Muối trắng, cá khô, dưa kho, măng ớt và thậm chí cơm trộn với... nước lã. Cuối tuần nghỉ học sớm về bản với gia đình, đầu tuần lễ mễ xách gạo - thức ăn, vác củi lủi thủi đến Trường học, tự nấu - tự "cân đối" số đồ ăn - chất đốt dùng cho cả tuần.

Đứa nào ăn khỏe, hết gạo sớm, đói là chuyện thường nhật, chả xa xôi...

Thủ tướng hỏi, các Bộ ngành - địa phương sẽ nói ngay "có chế độ Nhà nước".

Nhưng xin thưa, mấy đồng còm cõi hỗ trợ thêm cho con trẻ, có khi hết năm học, trẻ con nghỉ hè ráo rồi, mới lững thững bò về đến xã và thành "khoản" chuyển cho bố mẹ chúng biến thành bia rượu - nhậu nhẹt và năm học sau, bọn trẻ lại mòn mỏi đến Trường với cơm không, muối trắng, nước suối, như chẳng hề có sự quan tâm.










Thủ tướng trách, nhưng đừng trách các thầy cô giáo cắm bản, ngày ngày xót xa nhìn bữa ăn của trẻ con.

Họ cũng còi cọc đồng lương, nơi rẻo cao mua cái gì cũng theo giá thị trường đắt đỏ, nuôi đến thân mình còn khó, nói gì tuổi thanh xuân chôn trong chốn đồng rừng, để mà chia sẻ hết cho học sinh, dẫu con cá khô - bát mì tôm, nhúm muối trắng, cũng san cho trẻ con vì niềm thương đồng loại.

Thôi thì Thủ tướng bận việc nhớn, lãnh đạo Bộ ngành - địa phương bận việc bé, các chuyên viên - cán bộ chuyên trách lo những việc tý xíu, bụng to khó trèo đèo vượt suối, lại tiết kiệm từng đồng công tác phí, nên để bọn lọ mọ chúng em, chuyển cho Thủ tướng vài tấm hình ghi được ở những nơi tụi em kêu goi - huy động đồng bào góp từng con cá, chai mắm, thùng mì tôm, lọ ruốc, bao gạo, manh áo, chiếc nồi... mang đến giúp bọn lít nhít vùng núi cao - biên giới ấy
Vài tấm hình thôi, ở ngay Trạm Tấu, Mù Căng Chải (Yên Bái), Chiêm Hóa (Tuyên Quang), Bắc Mê - Đồng Văn (Hà Giang), Bát Xát (Lào Cai), Bảo Lạc (Cao Bằng), Điện Biên Đông (Điện Biên) mà chúng em đã làm cái việc, bây giờ mọi người hay gọi là "thiện nguyện", để nói với Thủ tướng: "CHÚNG NÓ ĂN THẾ NÀY ĐÂY, THƯA THỦ TƯỚNG!"...
*****

TB: Nếu Thủ tướng quan tâm thật đến những hình ảnh này, xin tìm hiểu hoạt động của những nhóm thiện nguyện, bao lâu nay... "xã hội hóa" việc tiếp tế lương thực - thực phẩm - vật dụng - cơ sở vật chất giúp đỡ học sinh miền núi.

Và nhất là Thủ tướng chỉ đạo các địa phương giúp đỡ các hoạt động này, đừng chối từ - thoái thác, đòi hành chính hóa (làm thiện nguyện phải có công văn - dấu đỏ), như 1 Tỉnh ủy viên ở Hà Giang, với chúng em mới ngay đây...
Xin đội ơn Thủ tướng!..




















Mội Trăm Năm Trồng Người 




Thật xót xa 







Ôi Xã Hội Chủ Nghĩa là Đây!!!

----
 Nếu không tự giải thể chế độ cộng sản VN.
Đợi thêm 3 năm nữa cho đủ 100 năm  trồng người .

Hãy xem: Bữa ăn sáng và trưa của học sinh Nhật Bản.

Tin Đồn : Ăn Sầu Riêng coi chừng ngộ độc & ung thư !!!

Ăn Sầu Riêng coi chừng ngộ độc & ung thư !!! 



Mình là thần dân mê trái cây, trong đó trái Sầu Riêng là mình thích nhất, bởi hương thơm và mùi vị của nó. Trong dịp thằng bạn về quê mình tháp tùng theo nó vì quê nó trồng rất nhiều Sầu riêng, nhất là các giống Sầu riêng hột lép nổi tiếng như : Sáu Ri, Mõm Thon  rất ngon. Mình biết tên các loại sầu riêng nầy là do thằng bạn mình mỗi khi về quê lên hắn ta mang cho bọn mình vài trái loại nầy ăn rất ngon, cơm vàng nghệ, hột lép, ngọt béo rất tuyệt!.

Kỳ nầy mình nghĩ bụng là trong mấy ngày ở quê nó sẽ ăn sầu riêng no bụng,đã thèm luôn vì nhà hắn trồng rất nhiều sầu riêng và lại là vựa mua bán sầu riêng.
Nhưng hổi ơi! Hy vọng đã trở thành thất vọng chẳng những không ăn sầu riêng no bụng mà từ nay trở đi không dám ăn sầu riêng nữa!
Số là như vầy mình tận mắt chứng kiến công đoạn xử lý trái sầu riêng trước khi đem ra thị trường bán. Thương lái, vựa sầu riêng sẽ mua sầu riêng sống họ đem về xử lý tạo ra trái sầu riêng chín vàng,cơm vàng,để lâu không bị thối.
Họ pha các loại thuốc xử lý trái sầu riêng như sau:
-Một loại thuốc làm cho trái sầu riêng từ sống chuyển sang chín vàng (theo lời thằng bạn nói chỉ 2 ngày sau là trái chín ăn được ngay ) thuốc dạng nước có tên là “Trái chín”.
- Một Thuốc làm cho trái sầu riêng không bị thối khi để lâu, dạng thuốc nước có tên là Agrifos.
-Một loại thuốc bột màu vàng không có tên công dụng làm cho cơm trái sầu riêng từ trắng chuyển sang màu vàng, làm trái không bị sượng.
Các loại thuốc trên được pha chung trong một xô nước sau đó người ta đem lần lượt từ trái sầu riêng ngâm vào trong xô nước đó rồi lấy ra đóng thùng đem đi bán ở Sài gòn,hoặc miền bắc...
Mình thấy vậy hỏi thằng bạn Sao không để trái chín tự nhiên lại phải sử dụng các loại thuốc trên? Hắn nói để chín tự nhiên rất lâu,cơm không vàng, trái dể bị hư khó bán.
Mình hỏi các loại thuốc trên xử lý dính trên trái 2-3 ngày sau là bán cho người tiêu dùng như vậy có độc cho người tiêu dùng không, có ai cho phép làm như vậy không?Hắn nói dĩ nhiên là không ai cho phép làm như vậy, còn độc hay không độc thì thấy bấy lâu nay bán cho người ăn đâu thấy ai bị ngộ độc gì đâu mà sợ.Các loại thuốc trên đều co bán đầy ở các cửa hàng thuốc trừ sâu cứ ra nói xử lý trái sầu riêng là người ta bán cho.
Hắn còn cho biết hầu hết sầu riêng bán ra thị trường hiện nay đều được xử lý như vậy cả.
Hắn còn khoe ở đây người trồng sầu riêng có kỹ thuật rất cao người ta làm ra những trái sầu riêng tròn như quả banh bán được giá cao, vì để tự nhiên các giống sầu riêng Sáu ri, mõm thon có dạng dài bán không có giá nên làm cho nó tròn bằng cách phun một loại thuốc có tên là Bắc-lo lên trái làm cho trái sầu riêng từ dài chuyển sang ngắn lại được thương lái ưa chuộng bán giá cao. Mình hỏi phun vào trái sầu riêng làm cho trái ngắn lại vậy người ta ăn trái sầu riêng đó có bị ngắn lại, có bị ngộ độc không? Hắn cười trả lời mầy sao khéo lo.
Hắn nói: hầu hết trái sầu riêng ở đây đều được làm như vậy cả, chẳng những vậy kỹ thuật nầy còn được đem phổ biến lên miền Đông nơi trồng nhiều sầu riêng.
Mình lo lắng hỏi: Như vậy làm sao chọn mua được trái sầu riêng chín tự nhiên không phun thuốc Bắc lo gì đó và không nhúng các loại thuốc trên lên trái?
Mi có nm mơ không vậy, tao đã nói với toàn bộ trái sầu riêng đang bán ngoài thị trường đều được làm như vậy ngay cả ở những hộ gia đình người ta cũng nhúng thuốc trước khi đem bán và cho biếu.
Mình la lên: như vậy trước nay mi cho bọn nầy ăn những trái sầu riêng đều làm như vậy sao?
Hắn cười và gật đầu nói: mầy thấy không đâu có chết thằng tây nào mà mầy lo!
Hắn nói người trong nghề nhìn là biết ngay trái sầu riêng có phun thuốc làm tròn trái và nhúng thuốc xử lý trái ngay.Vì vậy kiếm trái sầu riêng không có làm như trên là rất khó.Nhưng mầy cứ lựa những trái sầu riêng to dài là những trái không phun thuốc làm tròn, nhưng còn không nhúng thuốc thì không thể có vì hiện nay tất cả sầu riêng đều hái sống và đều nhúng thuốc cả.
Từ bửa đó mình cảm thấy không yên tâm khi ăn sầu riêng nên sau khi trở lên Sài gòn mình tìm hiểu các loại thuốc trên vì nghề của mình là ngành hóa, hỏi các bạn bên chuyên ngành thì họ cho biết chất làm chin trái là Ethrel rất độc trong diễn đàn đã có nói đến (Coi chừng trái cây ngậm thuốc thúc chín).


Còn chất làm trái không thối là một loại thuốc trừ nấm gây bệnh trên cây trồng, không ai đem nhúng vào trái như vậy người ăn có thể bị ngộ độc.
Chất màu vàng làm cơm sầu riêng vàng ngon thì không biết là chất gì, nhưng chắc có lẽ là chất nầy cũng không tốt cho người ăn, có thể rất độc cho người ăn, nên không có nhản hiệu.

Còn chất Bắc-lo là loại thuốc trừ cỏ chứa chất Clo rất độc gây ung thư cho người,lưu tồn lâu nên không có nước nào trên thế giới lại làm cho trái sấu riêng tròn đẹp bằng cách nầy.

Các bạn thấy chưa trái sầu riêng hiện nay đang bày bán chứa quá nhiều chất độc hại trên trái gây hại cho người ăn, các bạn có dám ăn không riêng mình thì từ nay không dám rớ tới trái sầu riêng rồi.

Giang Ha & Nam-An


10 Disease Can Be Alleviated By Eating Durian    (If not treated by chemical above)

Durian  http://healthylifecarenews.com/tag/Durian  is a tropical plant that originated from Southeast Asia http://healthylifecarenews.com/tag/Southeast-Asia  , and the name of the fruit can be eaten. The name is taken from a typical hard rind and sharp grooved so as to resemble thorns. His title of the most popular
 ,and durian is a fruit that controversial. Although many who love it, anyone else sick http://healthylifecarenews.com/tag/sick  of the smell.
Hear durian comes to mind is a delicious fruit but evil as a super high fat content. But do not be afraid first, if not excessive durian eating can be just as medicine. Durian’s most lots contain carbohydrates, fats and proteins. Not only that, other substances http://healthylifecarenews.com/tag/substances  such as fiber, calcium, folic acid, magnesium, zinc and iron are also present in it.
Because of the high calorie, hot durian fruit so that patients with diabetes or pregnant women are not encouraged to eat durian. Just imagine that in 100 grams of durian contains 147 kcal. That means if people eat 1 kg of durian, the number of calories she has received 1470 kcal or is comparable to eating for one day.
Durian also contains a lot of sugar, although there are biological manganese that can keep sugar levels stable. For pregnant women, the durian is believed to no good because they contain lots of sugar and a little alcohol.
Although no studies that prove that the Durian triggers contractions and a miscarriage, pregnant women are always advised not to eat too much of this fruit  http://healthylifecarenews.com/tag/fruit . digestive disorders can also occur if the durian is consumed along with alcohol.
Research at the University of Tsukuba, Japan and even proves sulfur content in durian can inhibit the metabolism of alcohol and can cause death. Well, that’s all the dangers that exist on durian if you eat too much or be coupled with high-cholesterol foods such as meat or alcohol.
On the other hand, durian, dubbed as the ‘king of fruits’ is also a lot of benefits that not only obtained from the fruit but the skin and leaves are also useful. Her skin could to repel mosquitoes and treat ringworm while the leaves are widely used as a decoction for fever. But since not many people who eat the leaves, especially durian skin, the benefits of delicious durian flesh is certainly more readily available.
Here are some diseases that can be overcome by eating durian fruit which is not too much.



1. overcome constipation because many contain fiber.

2. Overcoming anemia because it contains folic acid or vitamin B9 is needed to produce red blood cells.

3. Maintaining healthy skin because it contains vitamin C which acts as an antioxidant and antiaging.

4. Contains a lot of potassium or calcium, so good for healthy  http://healthylifecarenews.com/ bones and joints.

5. Origin does not eat too much, the content of manganese in the durian can keep blood sugar levels remain stable.

6. Contain copper compounds that can maintain the health of the thyroid gland.

7. Keeping appetite because many contain thiamine or Vitamin B1.

8. Overcoming migraine because it contains the compound riboflavin or vitamin B2.

9. Relieves stress and depression overcome because it contains vitamin B6 or pyridoxine.

10. Maintain oral health because they contain posphor.

But if you eat durian obtained even unpleasant body, try to check again how much has been eaten durian and eat what triggers duriannya friend not feeling well.


Bộ Đội 30.4 : HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH


Trong kinh Pháp Cú (Damma-pada) có câu: “Dẫu rằng các ngươi chạy lên trời cao, ẩn dưới biển sâu, trốn trong núi thẳm, không có nơi nào mà các ngươi tránh khỏi cái quả ghê gớm về tội ác của các ngươi”...
………………………………………………………
HỐ CHÔN NGƯỜI ÁM ẢNH

Thời gian lặng lẽ trôi, tôi, một chàng lính trẻ măng ngày nào bây giờ đã là một ông già với mái đầu hoa râm đốm bạc. Vậy mà tôi chưa nói được câu chuyện lẽ ra phải nói. Đôi lúc tôi âm thầm kể lại cho một số bạn bè tin cậy. Nghe xong ai cũng khuyên “Nói ra làm gì, nguy hiểm lắm đấy”. Và quả thật, sống trong xã hội chủ nghĩa quái đản này, người ta quen thói bưng bít sự thật. Sự thật không có lợi cho Đảng, cho Nhà nước chớ dại mà nói ra, bị thủ tiêu hoặc vào tù là điều chắc.
Tháng 04/1975, đơn vị chúng tôi (Sư đoàn 341 thường gọi là đoàn Sông Lam A) phối hợp với Sư đoàn khác đánh vào căn cứ phòng ngự Xuân Lộc. Trận chiến quyết liệt kéo dài 12 ngày đêm. Tiểu đoàn 8 chúng tôi do hành quân bị lạc nên được giao nhiệm vụ chốt chặn, nhằm không cho các đơn vị Quân Lực Việt Nam cộng hoà tiếp viện cũng như rút lui. Phải công nhận là sư đoàn 18 của phía đối phương họ đánh trả rất ngoan cường. Tôi tận mắt chứng kiến hai người lính sư đoàn 18 đã trả lời gọi đầu hàng của chúng tôi bằng những loạt súng AR15. Sau đó họ ôm nhau tự sát bằng một quả lựu đạn đặt kẹp giữa hai người. Một tiếng nổ nhoáng lửa, xác họ tung toé giữa vườn cam sau ấp Bàu Cá. Hình ảnh bi hùng ấy đã gây ấn tượng mạnh cho tôi. Tinh thần của người lính đích thực là vậy. Vị tướng nào có những người lính như thế, dù bại trận cũng có quyền tự hào về họ. Họ đã thể hiện khí phách của người trai nơi chiến trận. Giả thiết nếu phía bên kia chiến thắng chắc chắn họ sẽ được truy tôn là những người anh hùng lưu danh muôn thủa. Nhưng vận nước đã đi theo một hướng khác. Họ đành phải chấp nhận tan vào cõi hư vô như hơn 50 thuỷ binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà bỏ mình ngoài biển để bảo vệ Hoàng Sa.
… Nghe tiếng súng nổ ran, tôi cắt rừng chạy đến nơi có tiếng súng. Đấy là ấp Tân Lập thuộc huyện Cao Su tỉnh Đồng Nai bây giờ. ấp nằm giữa cánh rừng cao su cổ thụ. Đạn súng đại liên của các anh bộ đội cụ Hồ vãi ra như mưa. Là phân đội trưởng trinh sát, tôi dễ dàng nhận ra tiếng nổ từng loại vũ khí bằng kỹ năng nghiệp vụ. Chuyện gì thế này? Tôi căng mắt quan sát. Địch đâu chẳng thấy, chỉ thấy những người dân lành bị bắn đổ vật xuống như ngả rạ. Máu trào lai láng, tiếng kêu khóc như ri. Lợi dụng vật che đỡ, tôi ngược làn đạn tiến gần tới ổ súng đang khạc lửa.
- Đừng bắn nữa! Tôi đây! Thạch trinh sát tiểu đoàn 8 đây!

Nghe tiếng tôi, họng súng khạc thêm mấy viên đạn nữa mới chịu ngừng.
Tôi quát:
- Địch đâu mà các ông bắn dữ thế? Tý nữa thì thịt cả mình.
Mâý ông lính trẻ tròn mắt nhìn tôi ngơ ngác. Họ trả lời tôi:
- Anh ơi! đây là lệnh.
- Lệnh gì mà lệnh, các ông mù à? Toàn dân lành đang chết chất đống kia kìa!
- Anh không biết đấy thôi. Cấp trên lệnh cho bọn em “giết lầm hơn bỏ sót”. Bọn em được phổ biến là dân ở đây ác ôn lắm!
- Tôi mới từ đằng kia lại, không có địch đâu. Các ông không được bắn nữa để tôi kiểm tra tình hình thế nào. Có gì tôi chịu trách nhiệm!
Thấy tôi cương quyết, đám lính trẻ nghe theo. Tôi quay lại phía hàng trăm người bị giết và bị thương. Họ chồng đống lên nhau máu me đầm đìa, máu chảy thành suối. Một cụ già bị bắn nát bàn tay đang vật vã kêu lên đau đớn. Tôi vực cụ vào bóng mát rồi dật cuốn băng cá nhân duy nhất bên mình băng tạm cho cụ. Lát sau tôi quay lại thì cụ đã tắt thở vì máu ra quá nhiều. Một chỗ thấy 5 người con gái và 5 người con trai bị bắn chết châu đầu vào nhau. Tôi hỏi người lính trẻ đi theo bên cạnh:
- Ai bắn đấy?
- Đại đội phó Hường đấy anh ạ!
- Lại nữa, tôi ngó vào cửa một gia đình, cả nhà đang ăn cơm, anh bộ đội cụ Hồ nào đó đã thả vào mâm một quả lựu đạn, cả nhà chết rã rượi trong cảnh cơm lộn máu. Tôi bị sóc thực sự. Hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ “Đi dân nhớ ở dân thương” mà thế này ư? Cứ bảo là Mỹ nguỵ ác ôn chứ hành động dã man này của chúng ta nên gọi là gì? Tâm trạng tôi lúc đó như có bão xoáy. Mặc dù vậy, tôi vẫn nhận ra ngay những việc cần làm. Tôi tập trung những người sống sót lại. Bảo chị em Phụ nữ và trẻ con ra rừng tổ chức ăn uống nghỉ tạm. Cốt là không cho mọi người chứng kiến lâu cảnh rùng rợn này. Đàn ông từ 18 đến 45 tuổi có nhiệm vụ ra sau ấp đào cho tôi một cái hố. Trong ấp ai có xe ô tô, xe lam, máy cày phải huy động hết để chở người bị thương đi viện. Mọi người đồng thanh:

- Xe thì có nhưng dọc đường sợ bị bộ đội giải phóng bắn lắm!
- Không lo, có tôi đi cùng!
Tôi giao cho Nghê, một du kích dẫn đường vừa có bố bị bộ đội cụ Hồ sát hại:
- Việc lỡ như thế rồi, chú nén đau thương lại giúp anh thu hồi căn cước tư trang của những người đã chết sau này còn có việc cần đến.
Thế là suốt chiều hôm đó, tôi lấy một miếng vải đỏ cột lên cánh tay trái. Lăm lăm khẩu AK ngồi trên chiếc xe dẫn đầu đoàn lần lượt chở hết người bị thương ra bệnh viện Suối Tre. Tối hôm ấy, tôi cho chuyển hết xác người bị chết ra cái hố đã đào. Không còn cách nào khác là phải chôn chung. Trưa ngày hôm sau người ta mới dám lấp. Đây là ngôi mộ tập thể mà trong hoàn cảnh ấy tôi buộc lòng phải xử lý như vậy. Trời nắng gắt, để bà con phơi thây mãi không được. Một nấm mồ chung hàng trăm người lẫn lộn, không hương khói, không gì hết. Tôi cho dọn vệ sinh sạch sẽ những chỗ mọi người bị tàn sát. Xong, mới dám cho đám phụ nữ và trẻ con ở ngoài rừng về. Tôi vượt mặt cả cấp trên để làm việc theo tiếng gọi lương tâm của mình. Bằng mọi lỗ lực có thể để cứu giúp đồng bào. Tưởng thế là tốt, sau này nghĩ lại mới thấy hành động của mình giống như sự phi tang tội ác cho những anh bộ đội cụ Hồ. Thú thật lúc ấy tôi vẫn còn một phần ngu tín. Cũng muốn bảo vệ danh dự cho đội quân lính cụ Hồ luôn luôn được ca ngợi là tốt đẹp. Tuy vậy tôi bắt đầu nghi ngờ “Tại sao người ta giết người la liệt rồi bỏ mặc. Chẳng lẽ họ mất hết nhân tính rồi sao?”
Công việc xong tôi gặp Nghê để chia buồn. Tôi không tránh khỏi cảm giác tội lỗi. Nghê đã đưa xác bố về chôn tạm ở nhà bếp. Tội nghiệp Nghê quá. Lặn lội đi theo cách mạng, ngày Nghê dẫn bộ đội về giải phóng ấp lại là ngày bộ đội cụ Hồ giết chết bố Nghê. Nghê “mừng chưa kịp no” đã phải chịu thảm cảnh trớ trêu đau đớn. Nghê buồn rầu nói với tôi:
Hôm qua nghe lời anh. Em thu được hai nón đồng hồ, tư trang và căn cước của những người bị giết. Sau đó có một anh bộ đội bảo đưa cho anh ấy quản lý. Em giao lại hết cho anh ấy để lo việc chôn ba.

- Em bị thằng cha nào đó lừa rồi. Thôi quên chuyện đó đi em ạ. Anh thành thật chia buồn với em. Chiến tranh thường mang đến những điều không may tột cùng đau đớn mà chúng ta không thể lường trước được. Anh cũng đang cảm thấy có lỗi trong chuyện này.
* * *
…. Đã mấy chục năm qua, khi hàng năm, khắp nơi tưng bừng kỷ niệm chiến thắng 30/4 thì tôi lại bị ám ảnh nhớ về hàng trăm dân lành bị tàn sát ở ấp Tân Lập. Cái hố chôn người bây giờ ra sao? Người ta sẽ xử lý nó như thế nào hay để nguyên vậy? Tôi muốn được quay lại đó để thắp nén hương nói lời tạ tội. Vô hình chung việc làm tốt đẹp của tôi đã giúp cho người ta bưng bít tội ác. Không! Người dân ấp Tân Lập sẽ khắc vào xương tuỷ câu chuyện này. Nỗi đau đớn oan khiên lúc đấy chưa thể phải nhoà được. Còn những người tham gia cuộc tàn sát ấy nữa, có lẽ họ cũng vô cùng dằn vặt khi nhận những tấm huân chương do Đảng và Nhà nước trao tặng sau ngày chiến thắng. Ý nghĩ ấy giúp tôi dũng cảm kể lại câu chuyện bi thương này.
Sau ngày giải phóng Miền Nam 30/04/1975 tôi có chụp một kiểu ảnh đang cởi áo, lột sao dang dở. Tôi đem tặng cho một thằng bạn đồng hương chí cốt. Hắn run người, mặt tái mét:
- Tao không dám nhận đâu, họ phát hiện ra tấm ảnh này quy cho phản động là chết cả lũ!.
Bạn tôi sợ là đúng. Vì cậu ta là Đảng viên. Nhưng điều bạn ấy không hiểu là tôi làm vậy vì cảm thấy hổ thẹn và nhục nhã cho anh bộ đội cụ hồ khi nghĩ tới vụ thảm sát ở ấp Tân Lập…
Trần Đức Thạch
Cựu phân đội trưởng trinh sát, Tiểu đoàn 8 – Trung đoàn 266,
Sư đoàn 341 – Quân đoàn 4 csvn

Bài Xem Nhiều