We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 10 April 2013

Chủ Đề Người Lính VNCH : Người Lính Thủy Quân Lục Chiến bên bờ Bến Hải



Kính dâng hương hồn người Chiến Sĩ vô danh


Trời trên đầu vẫn nắng chang chang. Dưới chân là sỏi đá khô cằn. Đất ở đây như không đủ sức mời mọc cho cây đâm rễ nên quang cảnh mang một vẻ trơ trụi, hoang sơ thế nào.

Đoàn tù vẫn lầm lũi bước. Cách từng quãng một là cán binh CS miền Bắc, vai mang khẩu AK-47, đầu đội mũ tai bèo, chân dép râu cũng tiếp nối từng bước như đoàn tù nhưng chắc chắn là mang trong họ một trạng thái tinh thần hoàn toàn khác. Họ là những kẻ chiến thắng, đang giải đoàn tù binh, sản phẩm của chiến bại, về Bắc. Trước là họ có dịp phô trương cái “anh hùng” của họ ở trong B, sau là biết đâu họ có thể có dịp tạt qua thăm nhà một lần sau bao nhiêu năm gia nhập bộ đội để đi “giải phóng miền Nam ruột thịt, đang oằn oại dưới ách thống trị bạo tàn của Mỹ Thiệu” và quan trọng và chắc chắn hơn hết là họ được tránh xa vùng lửa đạn có thể làm họ “đi gặp HCM” bất cứ lúc nào...

Trước đó không lâu mà tưởng chừng như ở vào thế kỷ khác, quân CS đã bất ngờ vượt vùng phi quân sự để tràn xuống tấn công miền Nam. Trở tay không kịp, các căn cứ hoả lực ở vùng phía Nam Phi Quân Sự bị đánh tan vỡ, quân đội VNCH đã lập tức gởi ngay quân ở trong miền Nam ra cứu viện và các đơn vị Biệt động quân gồm 3 Liên Đoàn Tổng Trừ Bị được đưa ra và trong đó, Liên Đoàn 5 BĐQ là đơn vị ra tới đầu tiên mà trong đó có tôi với tư cách Y sĩ điều trị của Liên Đoàn.

Tôi là một bác sĩ, tính tới hôm ra tới Quảng Trị là ngày 5/4/72 thì tôi mới ra trường chưa được 5 tháng, do đó tôi còn ở dưới quyền một đàn anh là Y Sĩ Trưởng của đơn vị, hiện anh đang trở về làm việc ở hậu cứ khi có tôi ra thay ở mặt trận (hai anh em chúng tôi thay phiên nhau đi hành quân mỗi người nửa tháng).

Tuy tôi không được dự các cuộc họp hành quân nhưng theo tin tức tôi thu nhặt được từ các sĩ quan trẻ trong BCH Liên Đoàn thì tôi biết, Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, Tư Lệnh SĐ3BB là sĩ quan cao cấp nhất được trên chỉ định làm Tư Lệnh mặt trận và ông đã điều quân như sau: LĐ5 chịu tuyến cực Bắc của mặt trận là thị trấn Đông Hà chạy dài về phía Nam ở hướng Tây của quốc lộ 1. Kế tiếp là LĐ4 BĐQ rồi tới LĐ7 BĐQ tiếp tục phòng thủ và chiến đấu để giữ gìn phía Tây QL 1. Còn về hướng Đông là phía biển thì mặt trận chắc chắn sẽ nhẹ hơn sẽ do SĐ 3 BB, sau trận đánh mấy ngày trước đã mỏi mòn trấn giữ.

Nhưng tới trận phục kích chót của quân CS vào BCH/LĐ trong đêm 30/4/72, trên đường rút quân của đơn vị tôi sau khi thành phố Quảng Trị đã thất thủ thì đơn vị tôi chính thức cũng đã bị xoá tên trong trận chiến. Hỏi làm sao không xóa tên tại chỗ được khi một Liên đoàn BĐQ như đơn vị tôi mà có những 18 sĩ quan bị bắt làm tù binh trong đó phải kể đến: Tiểu Đoàn Trưởng và TĐ phó TĐ 38 BĐQ, sĩ quan trưởng ban 3 LĐ, sĩ quan trưởng ban Truyền Tin LĐ, bác sĩ (tôi), Đại Đội Trưởng Trinh Sát của LĐ và bao nhiêu sĩ quan cấp thấp khác ở các ban ngành của cả BCH LĐ cũng như của TĐ 38 là TĐ đi bọc hậu cho LĐ trên đường rút quân. Dĩ nhiên tôi được biết sau nầy là sau khi tập trung lại ở Huế, LĐ được đưa về để “làm máy lại,” tái tạo. bổ sung các cấp từ sĩ quan đến binh sĩ và tung vào hành quân 2 tháng sau đó. Còn chúng tôi, 18 sĩ quan xấu số, trên con đường định mệnh không biết sẽ đi về đâu, đang bị xỏ xâu vào nhau và lầm lũi bước đi về hướng Bắc.

Tôi viết hồi nãy là LĐ tôi có 18 sĩ quan bị bắt là do về tới chỗ tạm giam gặp nhau chớ còn lúc giải đi trên đường thì làm sao tôi biết được? Cá nhân tôi thì trừ một số ít sĩ quan trong đơn vị là tôi biết mặt, hầu như tất cả anh em tù binh ở Quảng trị tôi mới gặp đều như gặp lần đầu, tôi mới biết mặt họ mà họ cũng mới biết mặt tôi. “À, anh là bác sĩ mới về đó hả ? Tui có nghe mà chưa gặp, không dè mình gặp trong hoàn cảnh nầy, thiệt xui !!”

Nãy giờ tôi mãi nói về đơn vị tôi, thực sự ra, đoàn tù binh bị giải đi về hướng bắc nầy hàng mấy trăm người là ít gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ của mọi binh chủng có mặt trong trận Quảng Trị hồi tháng 4/72: TQLC, BĐQ, Thiết Giáp, Bộ Binh, Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và cả dân sự là mấy anh ở các ngành gọi là “ác ôn” dưới con mắt của CS như Chiêu Hồi, Xây Dựng Nông Thôn ...

Tôi biết mình đi về hướng Bắc là vì dễ thôi, mặt trời bao giờ cũng mọc và ở suốt ngày bên tay phải tôi, có điều đi tới đâu thì mình không biết được, chỉ biết đôi chân quen mang giày dép, nay phải để trần dẩm lên sỏi đá, mỗi bước chân là hai hàng nước mắt chảy ra. Tôi không khóc đâu, nước mắt chảy là do cái đau đớn buốt lên từ lòng bàn chân bắn thẳng lên óc làm nước mắt tự động chảy thôi chớ phải nói, lòng căm giận đầy ngập trong tim thì dễ gì tôi khóc được?

Cái bụng thì cồn cào, từ hồi bị bắt tới giờ cũng đã 5, 6 ngày rồi còn gì mà tôi chỉ được có mấy nắm cơm vắt nhỏ xíu bằng bàn tay (mỗi bửa ăn là nửa vắt!), còn khát thì còn nói gì! Nắng, nóng, hoạt động (đi bộ ròng rã) mà không hề có nước uống, nhìn chung quanh mình, tôi thấy ai cũng ở vào tình trạng gọi là khát rã họng là đúng chữ nhất !

Đã vậy mà thôi đâu, trong khi hạ sĩ quan hay binh sĩ thì cứ chậm rãi đi thành hàng một, còn chúng tôi, sĩ quan đâu được như vậy. Chúng dùng sợi dây dài cột tay trái người đi trước vào tay trái người đi sau thành từng hàng dài cho tới khi nào sợi dây hết thì chúng dùng sợi dây khác nên không có con số nhất định mỗi xâu là bao nhiêu người mà chỉ do độ dài ngắn của sợi dây...

Tôi thì đi lọt vào áp chót của một sợi dây, vừa bước đi khập khiểng do đau hai lòng bàn chân tột cùng, vừa đau đớn cho số phận của riêng mình kể gì nói cho hết.

Tuy lúc đầu lệnh của bọn cán binh là tù binh phải đi thành hàng một nhưng phải nói, do bị xâu chùm lại với nhau (với không biết có phải do lòng hai bàn chân của các sĩ quan thì “tiểu thơ” hơn anh em hạ sĩ quan và binh sĩ hay không?) mà đám tù sĩ quan đi chậm hơn đám tù đa số kia nhiều nên việc chúng tôi đi hàng xâu bên nầy song song với những anh lính của chúng tôi cách đó vài mét là thường. Có khi tên bộ đội đi gần đó mở miệng quát tháo, có khi chúng cũng mặc kệ mấy thằng tù, đi kiểu nào thì đi, miễn cứ đi là được rồi...

Từ lúc bị bắt đưa về cái nhà lá làm nơi tập trung đám tù binh mới bắt ngoài mặt trận cho tới ngày hôm nay, tôi đã bị đưa đi qua không biết bao nhiêu là cảnh vật thay đổi đủ kiểu. Chỗ gần nơi tôi bị bắt (sau nầy tôi mới biết là quận Hải Lăng) thì có ruộng lúa, lúa cao ngang ngực như lúa sạ ở Đồng Tháp Mười, còn giải đi thì lúc qua xóm Cửa Việt, chúng tôi đi dọc dài theo bờ biển cát êm mịn xinh đẹp với tiếng sóng vỗ rì rào. Nhưng cảnh vật khi họ dẫn chúng tôi từ phía đông QL 1 băng dần về phía núi rừng phía tây thì thay đổi hẳn, những đám rừng lúc trước giờ chỉ là những cây với những cành trơ trụi vì bom đạn làm tôi nhớ tới bài hát "Sương Trắng Miền Quê Ngoại" có 2 câu thơ :

Gio Linh ơi, đất thiêng chừ run rẩy
Tội lũ chim rừng không chỗ đậu vì bom...

Con đường càng đi về hướng Tây Bắc càng trơ trụi, sỏi đá khô cằn. Chỉ vài ngày đi bộ là tôi đã thấy thấm mùi đời lắm rồi nhưng ở trong tư thế không biết làm sao nên tôi cứ nhắm mắt mà bước theo những bước chân của những người bạn xấu số đồng cảnh của mình.
Tới buổi trưa hôm đó thì đoàn tù (hay đúng ra là cái xâu của tôi) đang bước chân qua một dòng nước nhỏ bề ngang chừng 1 mét. Ai cũng cố dừng lại để cúi người xuống hầu ké một ngụm nước và vì chúng tôi bị xâu lại với nhau nên sự bò xuống uống nước không thể làm cùng lúc bao nhiêu người được. Vì thế mới có sự trùng trình ở chỗ lạch nước nầy. Lúc tôi vừa uống nước xong thì có tên bộ đội nhóc đứng gần đâu đó cất tiếng:

- Chúng mầy có biết dòng nước nầy có tên gì không?

Khi không nghe ai trả lời cả (hoặc bận uống nước hoặc không bận cũng chẳng buồn trả lời làm gì) hắn ta nói tiếp, giọng oang oang đầy vẽ tự hào:

- Sông Bến Hải đấy chúng mầy ạ! Hễ chúng mầy bước qua nó là chúng mầy đã chính thức đặt chân lên miền Bắc xã hội chủ nghĩa của chúng tao rồi đấy!

Trong lúc tôi còn bàng hoàng vì đây chỉ là một lạch nước nhỏ xíu mà người ta có thể bước ngang được dễ dàng mà lại là thượng nguồn của một con sông lịch sử, con sông chia cắt hai miền Nam Bắc của nước mình từ mấy mươi năm qua bổng, hết sức bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi hay bất kỳ ai, một anh lính TQLC, chúng tôi biết anh là TQLC do tù binh vẫn còn bộ đồ lính trên người tuy lon lá đều đã bị tháo gở, anh ở trong đám binh sĩ đi gần chúng tôi, nhào lên bóp cổ tên bộ đội nhóc, vừa bóp cổ vừa gặc gặc cho cái siết cổ thêm mạnh trong khi miệng anh bật lên bao nhiêu là tiếng Đức, tiếng Đan Mạch, và đối tượng để anh chửi rủa là HCM, là “cha già kính yêu” của bọn bộ đội. Anh chửi rủa rất to tiếng trong khi nắm tay siết chung quanh cổ tên bộ đội như hai gọng kềm căm thù đã nung nấu từ hồi nào đến giờ, giờ mới có dịp phát huy.

Tên bộ đội cố hết sức dãy dụa, tuy tay còn cầm khẩu AK nhưng mọi thứ đều thành vô dụng trong lúc nầy. Rồi một tên bộ đội khác nhanh chân chạy đến, bắn ngay một phát súng vào chân anh lính TQLC, anh đau đớn nên lỏng vòng tay và tên bộ đội vùng thoát ra được, hắn không ngần ngại đá một phát vào anh lính lúc nầy đã nằm xuống đất...

Sự việc viết lại tưởng như dông dài nhưng thực ra đã diễn ra trong chớp mắt trước sự ngỡ ngàng của đám tù binh chúng tôi. Rồi đám bộ đội đã tụ tập đến chung quanh anh lính miền Nam, một tên có vẻ là cao cấp nhất trong bọn đã nói gì không rõ với lũ thuộc cấp, sau đó hắn quay sang chúng tôi, ra lệnh mở trói xâu cho 2 sĩ quan tù binh ở cuối xâu và... tôi là một trong hai sĩ quan tù binh đó. Hắn ra lệnh cho đám bộ đội kia rồi không biết lấy ở đâu ra mà ngay sau đó vài phút là một tên đã đưa đến cho chúng tôi một cây đòn dài, một tên khác thì đưa chúng tôi một cái võng rồi tên chỉ huy ra lệnh cho hai anh em chúng tôi “cáng” anh lính đi tiếp.

Tôi thì vì phản xạ nghề nghiệp nên khi vừa được “mở xâu” là đã chạy ngay đến anh lính TQLC đang nằm dưới đất để xem xét vết thương của anh nhưng ngay lập tức, một tên bộ đội đã xua tôi đứng dậy để làm nhiệm vụ cáng anh TQLC. Tuy nhiên trong một tích tắc đó, tôi cũng đã thấy được anh lính thần sắc đã tả tơi sau mấy ngày làm tù binh cho bọn chết đói, bộ quân phục sọc ngang cố hữu của binh chủng oai hùng ngày nào giờ cũng xác xơ giống như chủ nó, và viên đạn đi vào đùi anh lính, tôi đã không nhìn kịp coi có lỗ đạn ra hay không cũng như không thử mạch nên không biết có trúng động mạch đùi không và hơn hết, không biết cái chân có còn nhúc nhích được không nữa. Tuy nhiên, tôi cũng đã xé được từ cái áo thun của chính tôi được một miếng vải để cột ngay phía trên vết thương trong khi miệng thì nói với mấy thằng bộ đội:

- Mấy anh muốn cáng anh nầy thì ít ra cũng phải để cho tôi băng bó sơ anh ấy cái chớ......

Một tên bộ đội thì nói:

- Thường ngày chúng mầy là sĩ quan quen nạt nộ lính, hôm nay cho chúng mầy cáng lính của chúng mầy để đền tội......

Trong khi tôi băng bó cho anh lính TQLC thì anh bạn tù sĩ quan của tôi (anh thuộc SĐ3BB, rất tiếc tôi không còn nhớ tên anh) đã nhanh nhẹn cột hai đầu cái võng vào cái đòn dài để hoàn thành cái cáng tức là có sau đó, chúng tôi sẽ gánh anh thương binh nằm trên đó. Nhưng khi chúng tôi mở cái võng ra cho ngay ngắn và sửa soạn để khiêng anh thương binh đặt lên thì anh đã nói:

- Tui cám ơn mấy ông lo cho tui nhưng tui làm là tui chịu, tui hổng có làm phiền tới mấy ông đâu. Mấy ông cứ đi đi, tui hổng để mấy ông khiêng tui đâu......

- Anh nói gì lạ vậy, tôi nói. Anh để chúng tôi khiêng anh đi, ít ra tới chỗ nào đó mình mới có thể có phương tiện chữa cho anh được chớ.

Nói qua nói lại gì thì nói, hai lần chúng tôi đặt anh thương binh lên võng, hai lần anh đều lăn ra khỏi cái võng. Bọn bộ đội quay quần chung quanh nóng ruột, chúng hối thúc chúng tôi liền miệng nhưng - tôi nhớ đời câu nói nầy - anh thương binh nói:

- Mấy thằng VC nầy nói cái gì sinh Bắc tử Nam, tui thì dốt thiệt nhưng quyết sinh Nam tử Nam, tui không phải như mấy ông để tụi nó dẩn ra ngoài Bắc để hành hạ rồi chết ngoài đó đâu. Đây nè, tay tui còn xâm 2 chữ “Sát Cộng”, mấy ông tưởng tui sợ chết mà chịu sống chung với tụi chó đẻ nầy hả?

Tới đó thì bọn bộ đội chịu hết nổi, tên chỉ huy bèn quát:

- Thôi hai thằng nầy về hàng trở lại đi để thằng nầy lại cho chúng tao!

Bọn bộ đội đưa 2 người tù sĩ quan trở về xâu trở lại rồi ra lệnh tiếp tục lên đường. Tôi còn cố nhìn lại anh thương binh TQLC đang nằm dưới đất, cổ còn cố ngểnh lên để nhìn theo chúng tôi như tiển, như đưa... Bọn cán binh CS thì bàn soạn xì xào...

Được một khoảng xa vài trăm thước, tôi nghe một tiếng súng nổ ở phía sau. Chỉ một tiếng súng nổ phá tan cái yên tỉnh của buổi trưa hè mà như đã phá nát cái định kiến cố hữu vẫn có trong lòng tôi, anh lính TQLC, tuy vì lý do thiếu văn hoá một chút nên dùng toàn những từ ngữ máy nước để chửi bọn CS nhưng đã đánh thức dậy trong tôi, đã nói vào tri thức tôi rằng, những tự hào tôi đã và đang có là một người ngang tàng không biết sợ, với cái học vấn hơn người thường một chút để tự cho mình là một người trí thức. Hay nhìn xuống những người không được may mắn có cái học vấn của tôi hay các sĩ quan khác, phải đi hạ sĩ quan hay binh sĩ và cho họ là những người không đáng được kính trọng, họ chỉ là để phục vụ cho chúng tôi, các sĩ quan ăn trên ngồi trước, tất cả những suy nghĩ đó đều sai hết.

Chỉ có một kết luận duy nhất, tôi là một thằng hèn, tôi đã vì sự sống của chính tôi, vì gia đình và vì... tiếc của đời, tôi đâu có dám làm như một anh lính thường ở đơn vị TQLC, không chấp nhận sinh Nam tử Bắc, thẳng tay chửi bới già Hồ để ung dung đi vào cõi chết!

Cái chết của anh là một bài học lớn cho tôi mà suổt đời, tôi đã không bao giờ dám quên. Từ đó, tôi đã không bao giờ coi lon lá nhà binh, bằng cấp bỏ trong túi hay tiền tài vật chất có trong cuộc sống là thực sự giá trị con người (có ở hoàn cảnh khốn cùng mới thấy lon lá hay ông lớn chừng nào lại dễ thành thằng hèn, thằng ăng-ten chừng nấy).

Chỉ có Danh Dự, xin dùng chữ hoa ở đây, mới xác định giá trị con người. Xin cám ơn anh, một người tôi đã không được hân hạnh biết tên biết tuổi, đã dạy cho tôi một bài học vô cùng thắm thía mà suốt đời tôi sẽ ghi nhớ trong lòng.

Nước mắt chảy dài trên má tôi, lần nầy không phải vì cái buốt đưa lên từ hai bàn chân đi đất mà là từ trái tim, khối óc chợt nhận ra cái hèn không dám chết của mình.

Nguyễn Ngọc Ẩn

Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa : “Ăn để chết”



“Ăn để chết” là tựa đề của một bài báo trong nước về điều thường được gọi là “văn hóa ẩm thực” tại Việt Nam thời xã hội chủ nghĩa. Ngoài tựa đề ra, bài viết chẳng có gì mới mẻ. Chuyện ăn uống của người Việt nam trong nước hiện nay là một đề tài không bao giờ cạn. Thoạt đọc qua tựa đề, tôi không thể không liên tưởng đến bữa ăn cuối cùng của các tử tội trước khi bị đem đi hành quyết. Mà suy cho cùng, dường như cái lối ăn uống của nhiều người Việt Nam trong nước hiện nay chẳng khác bao nhiêu với bữa ăn cuối cùng của các tử tội.
Bài viết nói đến trường hợp của một bệnh nhân tại quận Đống Đa, Hà nội: “Bệnh nhân 54 tuổi này đã rời xa các bàn nhậu từ khoảng gần một năm nay vì bệnh tiểu đường. Trước đây, trong các cuộc nhậu của bạn bè, gần như ông không bao giờ vắng mặt. Bác sĩ trưởng khoa Tim mạch tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội cho biết ông đã gặp nhiều người (nói không ngoa) chết vì ăn, chết vì uống. Ông bác sĩ này kể lại: “Một bệnh nhân mới 45 tuổi, khi còn nghèo khó thì làm việc cật lực, chí thú kiếm tiền và tiết kiệm. Đến khi có nhiều tiền, anh quay ra ăn uống nhậu nhẹt vô biên, ngày nào cũng nhậu, có ngày nhậu mấy cuộc. Ở tuổi 45, anh chết vì xơ gan sau một thời gian dài phải “đeo ba lô ngược” (bụng quá phệ).
Cũng theo bài viết, có nhiều bệnh nhân ăn uống vô độ, chỉ cao khoảng 1m63, nhưng nặng đến gần một tạ. Gia đình bệnh nhân này lại có tiền sử mấy đời cao huyết áp. Khi được bác sĩ khuyên cần phải giảm cân bằng cách giảm ăn, tăng vận động, bệnh nhân từ chối hợp tác vì nhịn ăn là chuyện không thể.
Bác sĩ trưởng khoa Tim mạch, bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội nhận định: “Nếu cứ như vậy thì anh ta không phải ăn để sống, mà là ăn để chết. Tôi thấy xã hội chúng ta giờ trọng chuyện ăn uống quá. Làm việc gì cũng phải có tiệc chiêu đãi toàn món ngon, bổ béo”.
Bác sĩ này cũng cho biết: đa số những người “ăn để chết” đều là những người giàu có và các bệnh phổ biến hơn cả vẫn là tim mạch, huyết áp, gan, thận, tiểu đường.
Dĩ nhiên, nếu có những người giàu “ăn để chết” thì cũng không thiếu người nghèo bị buộc phải ăn thực phẩm rẻ tiền, không hợp vệ sinh, không an toàn do đó cũng bị mang bản án “ăn để chết”. Tựu trung, người giàu chết vì béo phì, còn người nghèo chết vì thiếu vệ sinh.
Phải nói chẳng có nơi nào trên thế giới, người ta ăn nhậu tưng bừng như ở Việt nam. Sáng sớm, mới mở mắt đã thấy có người gánh hàng đi ngang trước nhà. Tối đến, khuya lơ khuya lắc, không chỉ các nhà hàng sang trọng, mà các hàng quán rẻ tiền cửa vẫn mở. Tiệc vui, người ta ăn nhậu đã đành, mà ma chay, người ta cũng nâng ly “dzô” tới bến.
Không biết có phải vì điếc mà người ta không sợ súng chăng? Người Pháp thường nói “bụng đói không có tai”. Đây là kinh nghiệm của cá nhân tôi. Sau năm 1975, cái bụng đói của tôi hầu như không còn tai nữa. Cà phê được pha chế cỡ nào, tôi cũng nốc. Thuốc lá có tẩm thuốc độc cỡ nào tôi cũng rít. Rượu thì khỏi nói. Biết người ta bỏ thêm thuốc rầy Mitox vào để tăng nồng độ rượu, tôi cũng chẳng chê. Còn thịt mỡ có thèm “nhỏ rãi” cũng chẳng có mà ăn, hơi đâu mà quan tâm đến “Cholesterol”, tức mỡ trong máu. Cũng nhờ “được” sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà hầu như thịt gì tôi cũng nếm. Đúng là hễ con gì cựa quậy, nhúc nhích là xơi được ráo! Người Việt Nam nào đã từng sống dưới chế độ cộng sản có lẽ cũng đều đã trải qua những cảnh phải tranh đấu với thiên nhiên để sống còn chẳng khác gì Bear Gryllss trong chương trình truyền hình “Man vs Wild” (người chống chọi với thiên nhiên).
Ngày nay, sau gần nửa đời người sống ở xứ người, ý thức hơn về những đòi hỏi của phép vệ sinh, nhứt là vệ sinh trong ẩm thực, học được đôi chút về nếp sống văn minh, tôi không thể hiểu được tại sao mình đã có thời ăn uống bừa bãi như thế trong 5 năm sống dưới chế độ cộng sản.
Tôi hiểu được phần nào phản ứng, cách suy nghĩ và ngay cả phán đoán gay gắt của ông Joel Brinkley, giáo sư chuyên ngành báo chí thuộc trường đại học Stanford, Hoa kỳ, về cách ăn uống hiện nay của người Việt Nam trong nước. Theo ông giáo sư đã từng đoạt giải Pulitzer này, sở dĩ người Việt Nam “hung hăng, hiếu chiến” là vì ăn nhiều thịt.
Giáo sư Brinkley đã đưa ra nhận xét trên đây sau một chuyến du lịch 10 ngày xuyên qua nhiều nơi tại Việt Nam. Viết trên báo The Chicago Tribune, ông Brinkley cho rằng du khách đến Việt Nam hầu như chẳng còn thấy bóng dáng thú nuôi hay động vật hoang dã nữa bởi vì đa số đều đã bị người Việt Nam hiện nay săn tìm để xơi tái.
Ông viện dẫn những cuộc chiến của Việt Nam Cộng Sản với Trung Quốc và Campuchia để kết luận rằng vì thường xuyên ăn thịt cho nên người Việt Nam hung hăng hơn nhiều so với người dân các nước lâng bang.
Dĩ nhiên, bài viết của ông giáo sư của trường đại học danh tiếng Stanford trên đây đã tạo ra một làn sóng phản đối mạnh mẽ từ người Việt khắp nơi trên thế giới, khiến báo The Chicago Tribune phải chính thức lên tiếng xin lỗi.
Không phải quơ đũa cá nắm, nhưng bất cứ người Việt hải ngoại nào về thăm Việt Nam một lần cũng đều nhận thấy người Việt Nam sống dưới chế độ cộng sản hiện nay “khác” với người Việt Nam trước năm 1975. Khác nhiều thứ lắm. Khác nhứt là cách ăn uống. Như ông bác sĩ ở Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội trên đây đã nói, nhiều người Việt Nam trong nước hiện nay “ăn để chết”. Nghe như một nghịch lý. Nhưng thực tế là như vậy. Không chết dần chết mòn trong thân xác, thì cũng chết từ từ trong nhân cách. Người Tây Phương có lý để nói rằng “we are what we eat” (tạm dịch: ăn cái gì thì người như vậy). Tính khí của người ăn chay trường chắc chắn khác với kẻ nhậu nhẹt quanh năm ngày tháng. Người ăn uống điều độ hẳn cũng có tư cách khác với kẻ ăn uống bừa bãi, vô độ.
Người Việt Nam chúng ta thường nói: “miếng ăn là miếng tồi tàn”. Kỳ thực, tự nó, miếng ăn là điều tốt. Miếng ăn nuôi thân xác, tạo sự gặp gỡ, giúp thể hiện tình liên đới và chia sẻ. Có tồi tàn chăng là trong tư cách của con người mà thôi. Chỉ biết tới cái bụng của mình, chỉ biết ăn cho sướng cái lỗ miệng mà chẳng màng đến sức khỏe, bệnh tật và những hệ lụy đối với người thân và xã hội, ăn như thế đúng là ăn để chết và chết tồi tàn.
Trong một bài viết về cái ăn, tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc cho rằng dân tộc Việt Nam bị “ám ảnh” bởi cái ăn. Chuyện gì cũng quy về cái ăn. Từ nào cũng có thể được ghép với chữ ăn.Thật ra, ông bà ta không hẳn theo triết lý hiện sinh, nhưng đã có lý để xem cái ăn như chuyện quan trọng nhứt trong đời người, cho nên mới xếp việc “học ăn” lên đầu của mọi thứ học. Cứ như “học ăn” được thì chuyện gì cũng học được hết!
Chúa Nhựt vừa qua, trong giờ Thánh lễ, tôi đã bị “thu hút” bởi cái miệng của một bé gái khoảng một tuổi, ngồi với cha mẹ ở băng ghế phía trước. Trong các nhà thờ Úc, người ta thường thiết kế một chỗ đặc biệt ở phía cuối dành riêng cho thơ nhi đi cùng cha mẹ. Ngồi trong một “lồng kiếng” như thế, trẻ con tha hồ la hét. Nhưng cũng có nhiều bậc cha mẹ phá lệ, mang trẻ thơ đến ngồi hòa đồng trong đám đông. Gặp lúc muốn nghe bài giảng của vị linh mục thì trẻ thơ, dù có dễ thương cách mấy, cũng làm cho mình khó chịu. Nhưng khi vị linh mục giảng mà mình có chăm chú cách mấy cũng chẳng hiểu gì thì trẻ thơ, dù có quậy phá cỡ nào, cũng vẫn là “thiên thần” cứu nguy khỏi cơn…ngủ gục. Vị thiên thần ở trước mặt tôi quả đã mang lại cho tôi nhiều giây phút “thoải mái” trong giờ lễ. Cô bé có cái miệng thật xinh. Có lúc cô nói bi bô. Có lúc cô quay xuống cười với vợ chồng tôi. Nhưng động tác chính của cô vẫn là cầm bất cứ món gì cũng cho vào miệng, không riêng miệng mình mà còn nhét vô miệng cha mẹ nữa một cách thật dễ thương.
Tan lễ, khi bàn đến cái miệng của cô bé thiên thần trong nhà thờ, nhà tôi nhắc lại hai điểm nổi bật trong tư tưởng của cha đẻ phân tâm học Sigmund Freud (1856-1939). Theo ông, đời người có hai giai đoạn: giai đoạn tuổi thơ tập trung vào cái miệng; cái gì cũng đưa vào miệng. Giai đoạn trưởng thành lại xoay quanh tính dục; bản năng tính dục chi phối mọi sinh hoạt của con người; động lực đàng sau mọi hoạt động của con người luôn là tính dục.
Vai trò của tính dục trong cuộc sống con người, theo quan niệm của Freud, có thể còn trong vòng tranh cãi. Nhưng về vai trò của cái miệng ở tuổi thơ và ngay cả trong tuổi trưởng thành, thì quả thật tôi thấy khó chối cãi được. Trong thân thể con người, miệng không phải là cơ phận quan trọng nhứt sao? Và trong các chức năng của miệng, ăn không phải là sinh hoạt chính sao?
Đâu phải chỉ có người Việt Nam mới xem “chuyện ăn” là điều quan trọng nhứt trong cuộc sống con người. Tôi nghĩ đến câu chuyện ông bà nguyên tổ loài người Adam và Eva bị cám dỗ trong vườn địa đàng. Cơn cám dỗ đầu tiên của hai ông bà này, dù có giải thích như thế nào đi nữa, vẫn xoay quanh chuyện ăn. Điều này cho thấy cám dỗ lớn nhứt trong đời người có lẽ vẫn là chuyện ăn uống.
Cũng trong Kinh Thánh, tôi đọc được rằng cơn cám dỗ đầu tiên mà Chúa Giêsu phải trải qua sau 40 đêm ngày chay tịnh cũng chính là về cái ăn. Ma quỉ dụ dỗ Ngài: hãy biến những hòn đá trước mặt thành bánh mà ăn!
Tôi không biết Chúa Giêsu có phải là một người thích ăn uống nhậu nhẹt không. Nhưng rất nhiều những sinh hoạt chính của Ngài được ghi lại trong Kinh Thánh lại liên quan đến chuyện ăn uống. Hẳn Ngài cũng đã nhiều lần ngồi vào bàn nhậu để chén thù chén tạc với phường thu thuế cho nên những kẻ chống đối Ngài rêu rao rằng Ngài là một tên “bợm nhậu”. Chắc chắn Chúa Giêsu phải xem chuyện ăn uống là điều quan trọng trong cuộc sống con người cho nên trong rất nhiều bài giảng, Ngài thường xử dụng hình ảnh của bữa tiệc hay tiệc cưới. Rõ ràng nhứt là trước khi chết, nghi thức mà Ngài muốn trối lại cho các môn đệ để cử hành và tưởng nhớ đến Ngài cũng chính là một bữa tiệc (thường gọi là Tiệc Ly).
Ngày nay, mỗi lần gặp nhau trong các thánh lễ Chúa Nhựt, các tín hữu Kitô cũng lập lại nghi thức “ăn uống” ấy. Đỉnh điểm của đời sống tôn giáo của họ là một bữa ăn. Họ lập lại bữa ăn ấy không chỉ để tưởng niệm Đấng Cứu Độ, mà còn để tự nhắc nhở rằng cuộc sống tự nó phải là một bàn ăn trong đó mọi người đều được mời gọi ngồi bên nhau và chia sẻ cho nhau. Cuộc sống vẫn mãi mãi là một trường dạy “học ăn”.
Trong lúc trà dư tửu hậu, khi chia sẻ với bạn bè thân quen, tôi thường nói rằng, với tôi, trong các thứ học thì học làm người là điều khó nhứt. Người, theo một định nghĩa mà tôi vẫn cho là xác đáng nhứt, là “một con vật có lý trí”. Xét dưới nhiều phương diện, con người chẳng khác con thú bao nhiêu. Có khác chăng là bởi con người có lý trí và luôn phải hành động theo lý trí. Vứt cái lý trí đi thì con người sẽ hành động chẳng khác gì thú vật. Cụ thể là chuyện ăn uống. Hãy thử tưởng tượng: khi ta tạm nghỉ chơi với lý trí để được tự do ăn uống như súc vật, chuyện gì xảy ra nếu không phải là: con người chỉ còn biết “ăn để chết”.
Có lẽ vì học làm người là chuyện khó nhứt trong cuộc sống và trong học làm người thì ăn lại là chuyện phải học suốt cả một đời, cho nên trong tôn giáo nào cũng có chuyện ăn chay. “Ăn chay” chính là “học ăn”. Ăn như thế nào để “ăn không phải để chết” mà là để sống và sống sung mãn trong nhân cách vậy.

 Chu Thập

Vương Quốc Anh :Đồng Hương Việt Nam Tỵ Nạn CS Tổ chức Cầu Nguyện và Tưởng Niệm QUỐC HẬN 27.4.2013


       THƯ MỜI THAM DỰ  THÁNH LỄ TƯỞNG NIỆM
NGÀY QUỐC HẬN 30.4



30-4-75 : TƯỞNG NIỆM


Kính gởi:quý Đồng hương Việt Nam Tỵ Nạn tại Vương Quốc Anh, 

 Kính thưa quý vị, 

Trong niềm tưởng nhớ và tri ân sâu xa đến tất cả Quân, Dân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để bảo vệ nền độc lập, tự chủ cùng sự an nguy của người dân miền Nam Việt Nam trước làn sóng xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt; Ủy Ban Tổ chức Biểu tình Quốc Hận 30.4 năm nay, đã xin Linh Mục Phêrô Nguyễn Tiến Đắc, Tuyên Úy Cộng Đoàn Công Giáo Việt tại Birmingham dâng thánh lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận 30.4, tại Trung Tâm Mục Vụ Công Giáo Birmingham vào : Ngày Thứ Bảy 27.4.2013 lúc 14 giờ 00. 

Với các ý lễ sau đây : 

- Cầu cho các linh hồn Quân, Dân, Cán, Chính đã hy sinh trong công cuộc bảo vệ Miền Nam Việt Nam chống lại cộng sản Bắc Việt xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. 
- Cầu cho các linh hồn Quân, Dân, Cán, Chính đã hy sinh để bảo vệ VNCH trong ngày Quốc Hận 30.4.1975. 


- Cầu cho những linh hồn Đồng bào đã bỏ mình trên đường tìm tự
do sau ngày cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam. 



- Cầu cho Đất Nước và Đồng bào Việt Nam mau chóng thoát khỏi ngục tụ kềm kẹp của cộng sản. 


- Cầu cho Đất nước Việt Nam thoát cảnh xâm lăng của Tàu cộng. 



 Ủy Ban Tổ Chức Biểu Tình Ngày Quốc Hận kính mong quý Đồng hương, không phân biệt lương giáo, bỏ chút thì giờ quý báu đến tham dự thánh lễ Tưởng Niệm Ngày Quốc Hận năm nay và cầu cho
các Chiến Sĩ và Đồng bào đã hy sinh trong côn
g cuộc bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam. 



Sự hiện diện của quý Đồng hương là một niềm khích lệ cho Ban Tổ Chức. 

 Kính mời, 


Ban Tổ Chức Biểu Tình Ngày Quốc Hận




GHI CHÚ:
  • Vì không biết hết đa ch cũng như e-mail ca tt c quý đng hương. Kính mong quý v nhn đưc thư mi này xin vui lòng ph biến rng rãi. Chân thành cám ơn.
---- 

Đọc thêm:

THƯ MỜI  THAM GIA CUỘC BIỂU TÌNH NGÀY QUỐC HẬN 3O THÁNG 4



----
UẤT HẬN NGÀN ĐỜI


Gởi các bạn trẻ trong nước.


  
image



Bạn còn nhớ hay quên ngày quốc hận, (1)

Nhục đầu hàng được xác nhận trên đài


Do tên Minh, một hèn tướng bất tài

Làm tổng thống chỉ ba ngày bán nước.

Dinh Độc Lập, giặc tràn vào cổng trước


Hạ cờ vàng rước cờ máu lên thay.


Nhục vô cùng dân tộc Việt đổi đời


Mất tất cả, mất khí trời để sống ,


Trong tuyệt vọng, chạy đi tìm hy vọng


Giữa đại dương lọt vào họng tử thần.


Hàng triệu người liều bỏ xác chết oan


Chất thành đống , xây mồ chôn đáy biển.

Người kẹt lại, sau Bảy Lăm (2) ôm hận


Đếm từng ngày sống tủi nhục ngàn đời,

Là con người nhưng không được làm người


Làm trâu ngựa thua cả loài chó má.


Nửa thế kỷ, một thời gian đắt giá ,


Chưa tởm sao ? hởi những kẻ ngu đần,


Làm Việt gian, theo Việt Cộng giết dân,


Vì danh hảo bán linh hồn cho giặc .


Các bạn trẻ, thanh sinh viên yêu nước


Thấy hay không ? muôn tội ác tày trời

Của công an, lũ giặc Cộng đười ươi


Đang tra tấn trả thù người lính nguỵ


Cha anh bạn là quân nhân Mủ Đỏ


Bị trói tay đói lã giữa sân chùa


Nắng như thiêu, đốt cháy nám làn da


Cho đến chết chúng vẫn chưa hả dạ.


Chế độ cũ bị tru di , đày đọa


Cả ba đời tróc truy nả cháu con,


Là thành phần thuộc thứ yếu công dân
Bị kỳ thị ,cướp mất quyền dân chủ

Các bạn trẻ là tương lai thế hệ,


Là anh hùng Nguyễn Huệ giữ non sông ,

Đi tiền phong thay chổ đứng cha ông


Cùng tất cả hãy xuống đường cứu nước.


Tổ Quốc gọi, không thể ngồi khiếp nhược,

Quyết tiến lên, dành cho được thời cơ


Diệt Cộng thù ta dựng lại cơ đồ


Chiếm lại nước toàn bản đồ trọn vẹn.

NGUYỄN ĐÌNH HOÀI VIỆT

21/7/2012




(1) Tháng tư đen 30/4/75




(2) 1975 VC chiếm VNCH





Bài Xem Nhiều