We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 15 April 2013

Chuyện Con Két : Biết Chửi VC

Nói như Vẹt



Truyện tranh: Vẹt thời công nghệ, Cười 24H, truyen tranh, tranh vui, truyen tranh hai, bao, hai huoc, thu gian, cuoi
Từ nhỏ tôi từng nghe người ta nói, nuôi con nhồng hay sáo cho ăn thịt mỡ, ăn ớt, lấy lá tre cắt một chút lưỡi, dạy nó sẽ nói được tiếng người. Tôi chỉ nghe tiếng chim ca hót ngoài trời, nhưng chưa được nghe các loại chim nói tiếng người. Tết vừa qua gia đình tôi tới thăm anh chị ở Houston, các con của anh chị trưởng thành ra trường đi làm xa nên nhà rộng và trở nên vắng lặng. Lúc trước chúng tôi đến thăm có hai con chó rất đẹp, hiền dễ thương ngồi dưới chân tôi giờ nầy không còn nữa, anh chị cho biết đi làm cả ngày ngoài tiệm Furniture, 2 con chó ở sân sau bị bọn ăn trộm bỏ thuốc độc chết, cạy cửa nhà ăn trộm nên bây giờ nuôi chim cho vui.
Ở Việt Nam đời sống còn nghèo nên có người ăn trộm, sang xứ văn minh nầy cũng không thiếu người lười biếng, không muốn đi làm mà thích đi ăn trộm mới là chuyện lạ…thỉnh thoảng cũng có những trường hợp cướp của giết người bị ngồi tù rục xương hay tử hình trên ghế điện. Đời sống tập hợp xã hội là vậy, sống đàng hoàng ở đâu cũng phải đổ mồ hôi để trả nợ áo cơm, tiền không rơi từ trên trời xuống. Người Việt tỵ nạn đến Mỹ với 2 bàn tay trắng làm nên sự nghiệp sau 38 năm thật thành công, nơi nào có người Việt sinh sống nơi đó trở nên phồn thịnh, nhà cửa vườn tược đều to lớn, có thể xứ Mỹ đất rộng nên đời sống phát triển và hội nhập dễ hơn các quốc gia Âu Châu? Ngoài vườn những cây hoa đào, cây táo đang nở rộ màu hồng mơn mởn bên hồ nước xanh dưới đáy còn rong rêu và những chiếc lá khô…Chủ nhà không có thời giờ dọn dẹp, thay nước vì sáng từ 9 gìờ đi cho đến 21 giờ về nhà, làm sổ sách cho tới nửa đêm, tuần lễ 7 ngày không nghỉ.
Nhà rộng hơn 300 m², trong khi ở Đức hai người chỉ cần khoảng 70-80 m² là đủ. Nhà của anh chị không có trẻ em, bỗng nhiên tôi nghe tiếng nói thánh thót cuối phòng khách “ba mẹ về“, con Papagei màu xanh xinh đẹp anh chị nuôi từ lúc nó còn nhỏ, dạy nó nói được mấy câu thông thường, phải nhốt nó trong cái lồng lớn nếu nó bay ra ngoài cắn phá tùm lum. Con vẹt lấy mỏ kéo trên song sắt chuồng làm tiếng chuông điện thoại reo và nó nói tiếp “VC xấu“ nghiã là Việt cộng xấu. Cả nhà đều cười, chính quyền CSVN thường kết tội những người đối lập là phản động…Còn con vẹt nầy gọi họ Việt cộng xấu, chắc chắn họ đập đầu nó từ lâu.
Hàng ngày chị chăm sóc cho nó ăn và dạy nó nói, chị ghét bọn CS sau 30.4.1975 cướp tài sản đuổi gia đình chị đi vùng kinh tế mới, mẹ chị phải xuống Vĩnh Long làm nhà lá nhỏ bên một dòng sông sống tạm. Đứa em gái út không quen tắm sông bị nước cuốn chết. Người em khác vượt biên bị mất tích trên biển Đông…Gia đình chị và các em trai còn nhỏ, không có ai tham gia chính quyền VNCH, ba mất sớm mẹ mở tiệm bán vải và áo quần để nuôi các em ăn học, “giải phóng miền Nam“ gia đình chị là nạn nhân của chế độ, bị kết tội “tư sản mại bản“…May mắn sau khi chị thành hôn với anh cùng vượt biển tới Thái lan, định cư Hoa Kỳ từ năm 1978, lúc nào chị cũng bị ám ảnh với buổi sáng thuở nào đám thanh niên nam nữ là đoàn viên thanh niên CS tới ở trong nhà, kiểm soát sợ tẩu tán tài sản, sau đó tịch thu nhà đuổi đi kinh tế mới. Dù 38 năm trôi qua, hơn 34 năm sống ở đất nước tự do nầy, nhưng vẫn còn ghét CS vừa ăn cướp vừa la làng. Sau khi thống nhất đất nước, đảng CS cai tri sai lầm trầm trọng như: cải cách công thương nghiệp, đánh tư sản, đổi tiền, bế môn toả cảng, làm tàn lụi nền kinh tế miền Nam đi ngược lại với lợi ích dân tộc VN, nên chị dạy con vẹt chửi VC cho đỡ buồn…“
Đổi đời mỗi gia đình miền Nam không ít thì nhiều đều phải gánh chịu cảnh bi đát, khốn cùng trong những hoàn cảnh khác nhau như Sĩ quan, công chức của VNCH bị kết tội “ngụy quân, ngụy quyền“ tập trung đi cải tạo, khốn nạn thay có nhiều nơi tịch thu tài sản đuổi vợ con họ đi kinh tế mới…ngày nay nếu về thăm Việt Nam, trở lại căn nhà cũ không khỏi ngậm ngùi rơi nước mắt, tài sản của mình trước đây bị sang đoạt cho cán bộ CS. Dù nay có tin đồn có thể lấy lại được nhà nhưng nếu có lấy được thì cũng phải tốn tiền hối lộ, đút lót, đắt hơn mua một căn nhà mới!
Cây gạo đại thụ bị dịch sai nghĩa Cây gạo đại thụ bị dịch sai nghĩa
Những câu chuyện nói như vẹt trong đời sống tại miền Nam sau 1975, có lẽ chúng ta khó quên. Cán bộ CS tuyên truyền nói như một cái máy, người nào cũng một luận điệu như nhau, “xã hội chủ nghiã ưu việt“, “đỉnh cao trí tuệ…“. Trong các trại tập trung cải tạo thì cán bộ quản giáo, chính trị viên cũng nhai đi nhai lại những đề tài giống nhau, đảng bảo sao nói vậy. Không khí sinh hoạt miền Nam bị chùng xuống, thảm thương bởi đàn vẹt bay từ phương Bắc vào Nam. Thời trước người quốc gia không thích CS thì gọi “nói như vẹm“, ngày nay phải nói là „cộng sản nói như vẹt“
Người làm việc cho cơ quan nhà nước các ngành như: Bưu điện viễn thông, du lịch… muốn tiến thân phải vào đảng, trường đảng đào tạo phải nói như đảng, đảng biến con người trở thành một công cụ, tư tưởng và suy nghĩ phải một chiều theo đảng dạy… Hiện nay chúng ta thấy nhà nước tổ chức bầu cử Quốc Hội, đó chỉ là trò giả dối và lừa bịp. Với hình thức bầu cử Quốc Hội, những dân biểu đều do đảng đưa ra “Khi Đảng đồng ý, chấp nhận thì mới thực hiện quyền tự ứng cử, đảng cử dân bầu.” cử tri không biết mặt người được ứng cử là ai, họ đã và đang làm được gì cho dân, cho nước. Cử tri không có quyền lựa chọn nào hơn là bỏ cho người đã ghi sẵn trong danh sách, thật là trò hề thời đại. Tại sao nhà cầm quyền Việt Nam không dám cho phép thế hệ trẻ tài giỏi có đạo đức ra ứng cử, tranh cử độc lập để cử tri chọn lựa lãnh đạo đất nước? Nhìn bề ngoài Việt Nam cũng có Quốc Hội, dân biểu đại diện cho dân nhưng đại đa số là nghị gật, dân biểu bù nhìn, như con vẹt nói theo đảng, làm theo đảng, chỉ một vài dân biểu dám nói lên một số nguyện vọng chính đáng của nhân dân như Dương Trung Quốc, Nguyễn Minh Thuyết? Nhưng có lẽ họ chỉ là “ một con Én không làm nổi mùa xuân“
Những con vẹt đã quen với cái lồng của mình đâu biết bên ngoài là bầu trời bao la tươi đẹp, như con ngựa bị bịt mắt chỉ nhìn thấy một quãng đường…Việt Nam của thế kỷ 21 vẫn còn những con vẹt làm người của XHCN. Thế giới văn minh, các quyền tự do căn bản của con người về dân sự và chính trị được tôn trọng và bảo đảm được ghi trong Công ước Quốc tế. Dù Việt Nam chính thức tham gia Công ước này vào năm 1982 nhưng những quyền tự do đó bị gạt bỏ ra ngoài và chủ trương cai trị giáo điều của đảng CSVN. Việt Nam không có tự do báo chí, không có những cơ quan truyền thông độc lập, hầu hết là báo quốc doanh, đều do nhà cầm quyền và đảng kiểm soát. Báo chí các đài truyền hinh, tuyền thanh là phương tiện tuyên truyền cho đảng mà thôi. Thế hệ trưởng thành sau 30.4.1975 bị nhồi sọ bởi tư tưởng CS, thành phần trẻ trí thức yêu nước chỉ đếm trên đầu ngón tay! Xã hội CS tạo ra con người sợ hải, vô cảm, chỉ biết đua đòi vật chất làm sao có được nhiều tiền dù đồng tiền dơ bẩn, bất lương …dẫn dắt con người đến môi trường ăn chơi, hưởng thụ để nhà cầm quyền dễ bề cai trị. Lịch sử bị bóp méo, như cờ Trung cộng in trên sách tham khảo, sách tập đọc và gần đây là sách giáo khoa, sách đọc tiếng Việt của Nhà xuất bản Giáo dục, lại quên Hoàng Sa, Trường Sa, việc đài truyền hình VTV1 đưa hình cờ Trung cộng có thêm một ngôi sao, Người Việt xem phim Tàu, đọc sách Tàu, xài hàng Tàu, việc đó là nguy cơ sẽ bị nô dịch văn hóa Tàu. Hệ thống giáo dục chỉ trọng bằng cấp, nạn mua bán bằng dỏm, bằng ma…Làm giá trị những sinh viên tài giỏi chăm học có bằng thật bị lu mờ bởi vàng thau lẫn lộn …vì vậy bằng Đại học Việt Nam cũng như giấy bạc lưu hành trong nước không có giá trị ở nước ngoài.
Nho Big C dán cờ Trung Quốc khiến dư luận gần đây bất bình Nho Big C dán cờ Trung Quốc khiến dư luận gần đây bất bình
Sau 38 năm thống nhất đất nước, người Việt trong nước có miệng ăn không có miệng nói. Nói ra thì bị bịt miệng, bằng chứng linh mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa tại Huế, bị công an bịt miệng kéo ra khỏi phòng xử trước các giới truyền thông thế giới. Đó là một hình ảnh chứng minh chế độ độc tài của CS Việt Nam không để cho bất kỳ ai khác nói lên tiếng nói đối lập. Hình ảnh nầy ở trong nước là chuyện bình thường, vì nó xảy ra khắp nơi trên đất nước, Nhưng bức hình bịt miệng nầy đối với người Việt sống ở các quốc gia tự do trên thế giới là một sự sỉ nhục đối với dân tộc Việt Nam.
Cán bộ tham nhũng hối lộ có hệ thống từ trên xuống dưới, cái dù che cái cán. Chúng bao che lẫn nhau, cướp đất, cướp nhà làm giàu trên xương máu của nhân dân. Thử xem lương tháng của cán bộ đảng CSVN bao nhiêu mà họ đưa con, cháu du học tại các đại học Mỹ đắt tiền, không dưới 30 ngàn dollar một năm, mua nhà, mua xe, sống vương giả xài tiền như nước. Trong lúc người dân đời sống không đủ ăn, bệnh không tiền mua thuốc, con cái thất học đi bán vé số, đánh giày, kiếm tiền sống lây lất qua ngày!
Đất nước phát triển về du lịch, những khu giải trí ăn chơi, nhà hàng khách sạn mọc lên như nấm, Sài Gòn ngày nay „đủ các món ăn chơi từ Thiên đường đến Hạ giới“. Ngược lại thiếu bệnh viện chăm lo sức khỏe cho dân nghèo, bệnh nhân phải nằm một giường 2 người, phải tự mua thuốc, phải lót tay tiền cho bác sĩ để được chửa bệnh! xã hội đầy dẫy bất công đời sống đạo đức bị băng hoại, nhìn lại Việt Nam phát triển còn chậm so với các nước láng giềng. Nhà cầm quyền Việt Nam được các quốc gia Tây phương và LHQ cứu đói giảm nghèo mỗi năm hàng tỷ USD, chưa tính người Việt hải ngoại gửi về trên 8 tỷ USD. Mở cửa để hưởng tiền viện trợ nhưng cửa tự do dân chủ thì khép kín! Đời sống của người dân ở cao nguyên các vùng nông thôn còn nghèo đói, học sinh phải đu dây qua sông đi học…
Đảng CSVN luôn đánh bóng chế độ có tự do, nhưng thực tế đảng chủ trương đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, tiếp tục thi hành chính sách độc tài, bắt bỏ tù hàng ngàn người điển hình là những vụ án phi công lý „bản án đã định trước khi ra tòa“ bị kết tội theo điều 79 âm mưu lật đổ chính quyền và điều 88 tuyên truyền chống lại nhà nước. Những người tù lương tâm như: Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Thị Minh Hạnh, Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), Tạ Thị Phong Tần, Huỳnh Duy Thức, nhạc sĩ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình, 14 Thanh Niên Công Giáo yêu nước… Đau đớn thay nhiều người bị án tù gần 30 năm như ông Nguyễn Hữu Cầu bị bỏ quên trong nhà tù không được ân xá. Công an cũng như côn đồ dùng vũ lực đàn áp, đánh đập người tham gia biểu tình chống Trung cộng và thường xảy những vụ đánh chết người, bắt đàn bà, con gái cỡi truồng để khám xét…những hành động thiếu đạo đức, thiếu văn hóa chỉ có ở Việt Nam.
Ngày 11.4.13, một cuộc điều trần về tình hình nhân quyền Việt Nam diễn ra ở văn phòng quốc hội Hoa Kỳ. Qua cuộc điều trần này cho thấy tình trạng nhân quyền ở Việt Nam ngày càng bị vị phạm một cách trầm trọng. Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp 1992 http://danchua.org/3336.0.html, cũng như góp ý của 72 trí thức (gọi tắt là Kiến nghị 72) ký thỉnh nguyện thư đòi hỏi thay đổi điều 4 để đưa đất nước đến tự do dân chủ. Nhà cầm quyền CSVN sợ mất đảng, mất quyền lợi để vinh thân phì gia, nên ra lệnh cho tổ dân phố, công an khu vực đến từng nhà là hình thức ép người dân phải đồng ý với Hiến pháp 1992. Nhiều người cho biết họ lo sợ nếu góp ý trái với ý đảng CS, thì sẽ bị trù dập, gây khó dễ và bị mất việc. Cái sợ đã đưa không ít người đến thờ ơ, vô cảm. Họ thờ ơ đến nổi không biết tại sao nhạc sĩ Việt Khang, Điếu Cày… bị tù.
Dân tộc VN đã chịu quá nhiều khổ đau, đến bao giờ thoát được chế độ độc tài, đảng trị để có đời sống đủ các quyền tự do căn bản của con người … Hơn hai thập niên qua kinh nghiệm ở các quốc gia Đông âu như: Đông Đức, Balan, Tiệp, Hung Gia lợi…các dân tộc nầy đã đoàn kết một lòng đồng loạt đứng lên đấu tranh lật đổ bạo quyền, đem lại tự do, độc lập mà không cần đến súng đạn. Đối với Việt Nam, chỉ có giới trẻ trong nước cùng toàn dân không phân biệt tôn giáo đoàn kết tranh đấu bất bạo động và với sự tiếp tay của toàn thể người Việt hải ngoại để có thể đưa đất nước sớm đến tự do và dân chủ…
 Nguyễn Qúy Đại

---
 
Nghe đồn chợ chim - chó ở đường Hàm Nghi đang bày bán ba con vẹt lạ vừa mang từ Hà Nội vào, dân Sài Gòn kéo nhau đi xem đông nghẹt. Nhưng mọi người chỉ xem thôi chứ chẳng ai mua nổi vì người bán “quát” giá quá đắt: con vẹt trắng giá 1.000 đồng [10] , con vẹt xanh giá 5.000 đồng, con vẹt đỏ giá tới 25.000 đồng. Theo lời quảng cáo của người bán, con vẹt trắng biết hô khẩu hiệu, con vẹt xanh biết đọc diễn văn chúc mừng... Một người tò mò hỏi:
“Vậy con vẹt đỏ biết làm gì mà giá mắc gấp mấy mươi lần hai con kia?”
“Nó không biết làm gì cả” - người bán lạnh lùng đáp.
“Ủa, không biết làm gì mà dám kêu giá vậy?”
Người bán vẹt thủng thỉnh đáp:
“Nó không biết làm gì thực, nhưng nó là thủ trưởng của hai con vẹt kia.”

Tiến Hơn XHCN Việt Gian:Chuyện hai bác nông dân đổi vợ

Chuyện hai bác nông dân đổi    vợ

 
Một chòi lá trong khu du lịch ở Tây Ninh là nơi gặp nhau của nhóm swing.
Chuyện về những nghị định, quyết định ở VN không giống ai đã công bố hay còn là dự thảo đang gây nhiều tranh cãi dẫn đến bất bình của người dân còn khá nhiều. Nào là làm lại Chứng minh nhân dân 12 số, chuyện ông Ngân hàng nhà nước “ngồi nhầm chỗ” nhảy ra làm “ông buôn bán vàng chuyên nghiệp”, đề nghị cho bắn người chống cán bộ thi hành công vụ và những quy định lẩm cẩm khác như bàn tay sáu ngón không được lái xe, việc Giám đốc Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng mang 11 sổ đỏ của Vườn đi thế chấp hoặc cầm cố…
Nhưng bàn mãi về những chuyện đó khiến quý bạn đọc đau đầu, nên kỳ này xin bàn đến một chuyện vui buồn lẫn lộn trong lãnh vực tình cảm, thứ chuyện muôn đời nói hoài không bao giờ hết. VN mới có Dự thảo Nghị định xử phạt những người ngoại tình và quấy rối tình dục tại nơi làm việc có thể bị phạt tiền từ 50 đến 75 triệu đồng. Kỳ sau xin bàn với bạn về lợi hai của cái nghị định đó.

Nhân bàn về chuyện này, kỳ này xin mời bạn đọc thưởng thức một chuyện tưởng như không bao giờ có thật ở VN. Tôi cứ băn khoăn mãi, không biết chuyện này có làm cho đời sống nông thôn VN vốn hiền hòa chất phác có bị “nhiễm độc” vì những thứ văn hóa đồi trụy từ ngày “mở cửa” không? Bạn cứ đọc đi rồi cười cũng được, khóc cũng được

Chuyện không thể tin, vẫn có thật
Thưa bạn, chuyện này khi nghe một anh bạn nói lại, tôi cũng không tin. Buổi sáng ngày 9-4 vừa qua, ngồi ở cà phê sân vườn dưới Phú Nhuận, một anh bạn trẻ là phóng viên một tờ báo, phây phây hỏi tôi:

- Bác có biết tin mấy ông nông dân thứ thiệt nhà ta “chịu chơi” hơn bọn trẻ chưa. Họ dám đổi vợ cho nhau đấy.

Tôi không tin nên chỉ lắc đầu cười dài:

- Cậu chơi trò cá tháng tư với đấy hả?

Anh ta bèn lên giọng đứng đắn nói đó là chuyện hoàn toàn có thật, có tên tuổi đàng hoàng, có cả viên chức chính quyền địa phương làm chứng. Chuyện xảy ra từ lâu nhưng đến nay mới được “khui” ra. Anh kể lại sơ lược câu chuyên ly kỳ này. Anh ta cũng lấy tin trong một tờ báo khác nhưng không nhớ là báo nào. Sau khi về nhà, anh PV “meo” cho tôi luôn tin đó. Tôi đọc và tìm hiểu thêm, xin tóm tắt:

Thật ra chuyện đổi vợ đã từng xảy ra ở một vài nơi trên thế giới. Năm 1960, tại Anh, kể từ khi thuốc tránh thai được phát minh, phong trào buông thả tình dục trong giới trẻ bùng phát mạnh. Các nhà sử học gọi giai đoạn này là "Cuộc cách mạng tình dục ở châu Âu". Hình thức sinh hoạt câu lạc bộ phi công của Mỹ lan sang Anh gặp môi trường "cách mạng tình dục" đã biến nhanh thành phong trào swing. Hội viên hội swing gọi là swinger. Được một thời gian, phong trào swing dần thoái hóa vì sự kỳ thị của xã hội. Một số tín đồ swing vẫn ngấm ngầm hoạt động trong vòng bí mật để tránh ánh mắt dè bỉu, kỳ thị của xã hội. Giống như các loại hình giải trí khác, swing cũng len lỏi vào xã hội Việt một cách ngấm ngầm ở vài nơi.

Cụ thể như ở TP Sài Gòn, mới năm 2012, một cái hội cũng được gọi là Swing ở khu Bàu Cát - TP Sài Gòn. Có nhiều cặp mang vợ đến đổi cho nhau, có khi lên đến 8 cặp, thay đổi bất cứ khi nào cho có “người mới”. Nhưng đó là dân thành phố, gồm mấy anh chị hầu hết là vợ hờ chồng tạm, thích tập tành làm “dân văn minh quốc tế”. Ấy thế mà cũng có luật lệ đàng hoàng. Phải có giấy “đăng ký kết hôn” và giấy xét nghiệm máu mới được cho vào hội để tránh bị AIDS. Nhưng thật ra những giấy tờ đó đều là giả, chỉ cần bỏ ra hai trăm ngàn là có ngay giấy khống chỉ, có mộc đỏ đàng hoàng, chỉ việc điền tên vào là xong ngay. Ở VN cái gì cũng làm giả được hết từ bằng tiến sĩ đến cái giấy chứng nhận vớ vẩn nào bạn cần. Một chị chơi lâu năm chán chường rồi tiết lộ: “chị và ông chồng kỹ sư của chị chẳng phải vợ chồng gì cả. Chỉ là rổ rá cáp lại. Chị và lão kỹ sư cũng không phải cử nhân, trí thức. Anh ta chạy xe ôm, còn chị bán hột vịt lộn vỉa hè tại một khu công nghiệp ở Bình Dương!” Nay cái hội “Swing văn minh ngã tư quốc tế” đó có lẽ đã tan rã từ lâu không nghe nhắc tới nữa.


Một swinger vừa đi từ phòng ngủ ra.
Hai bác nông dân chân đất đổi vợ cho nhau

Còn đây là chuyện khác hẳn. Chuyện của hai cặp vợ chồng “quê một cục, trăm phần trăm”. Có lẽ cả hai cặp chưa từng lên internet bao giờ và hồi đó ở tỉnh cũng chưa có internet, các bác này cũng chẳng đọc báo chí lam nham để biết đến những hoạt động tình ái ba lăng nhăng của thiên hạ. Tất cả “kịch bản” này được chính các vị nông dân chân đất này trong một lúc cao hứng đã “sáng tạo” ra.

Chuyện xảy ra tại xã Sơn Phú, huyện Hương Sơn (Hà Tĩnh). Hai cặp vợ chồng ấy một thời đã từng là bốn người bạn thân thiết. Thế rồi, chỉ sau chuyện trên bàn rượu, họ đã quyết định chẳng thể ai ngờ tới: tráo đổi vợ chồng cho nhau!

Theo một số người dân ở xã Sơn Phú thì sự việc "đổi vợ đổi chồng" diễn ra đã khá lâu nhưng một trong số những nhân vật chính hiện vẫn sống tại địa phương và được một giới chức tại xã này xác nhận. Ông Nguyễn Như Tùng, nguyên xóm trưởng thôn Công Đẳng, xã Sơn Phú - người đã biết rõ nhất vì đã từng phải đứng ra giải quyết chuyện trần gian có một này. Ông kể rành rọt:

“Đó là sự việc khiến tôi phải nhớ mãi trong thời gian làm trưởng xóm ở ngôi làng này. Nó bắt đầu xảy ra từ năm 1995 nhưng giờ đến xã này, hỏi bà Trinh, hiện còn ở trong xã, một mình nuôi đàn con ai mà chả biết việc đổi chồng năm xưa của bà".

Từ vợ bạn thành vợ mình, vợ anh thành vợ tôi
Ông Nguyễn Đình Tình (SN 1959) và bà Nguyễn Thị Trinh (SN 1966) là vợ chồng cùng trú tại xã Sơn Phú. Đến khi xảy ra sự việc (vào năm 1995), ông bà đã có với nhau bốn đứa con, đứa lớn 11 tuổi và đứa nhỏ nhất mới 5 tuổi. Tại ngôi làng nhỏ bé này, vợ chồng ông Tình chơi rất thân với gia đình ông Nguyễn Hồng Gia (SN 1962) và bà Nguyễn Thị Lắm (SN 1960). Nếu như vợ chồng ông bà Tình-Trinh có bốn đứa con ngoan ngoãn, thì vợ chồng ông bà Gia-Lắm cũng đã có với nhau hai cô con gái nết na, xinh đẹp.

Vì là hàng xóm thân tình, “tối lửa tắt đèn” có nhau, nên hai cặp vợ chồng này như người một nhà. Hễ gia đình nào gặp chuyện khó khăn thì gia đình kia không ngần ngại đến giúp đỡ. Họ thân thiết đến mức từng bát cơm, con cá, bó rau cũng sẻ nửa, san đôi. Không những thế, do cùng hùn hạp vốn làm ăn chung, họ càng trở nên thân thiết hơn. Cứ mỗi dịp đi làm chung về, hai cặp vợ chồng thường tụ tập ở nhà của ai đó để nghỉ ngơi, ăn uống. Gia đình này thậm chí có thể ăn ở cùng gia đình kia cả tháng trời mà ai cũng cảm thấy vui vẻ.

Nhưng chính trong cái không khí đầm ấm bề ngoài ấy, người ta chẳng thể ngờ "cơn sóng ngầm" đã âm ỉ bộc phát từ lâu, khi bà Trinh và ông bạn láng giềng Gia đã nảy sinh tình cảm "khác thường" trên quan hệ hàng xóm, bạn bè. Tuy vậy ông bà này đã khéo giữ nên chỉ hai người biết với nhau.

Chồng gật, vợ cũng gật theo mới là chuyện lạ
Có lẽ đây là một trong những lý do chính dẫn đến “bi hài kịch” không ai ngờ tới. Buổi chiều cuối năm 1995, sau một ngày làm việc mệt nhọc, bốn người bạn đã làm một bữa tiệc, vừa để nghỉ ngơi, vừa để vun đắp tình cảm của hai gia đình. Khi rượu đã ngà ngà, hai gã đàn ông bỗng dưng nghĩ ra trò quái đản. Khi ông Tình đề nghị: “Mi đổi gái (vợ - PV) cho tao, tao sẽ đổi gái cho mi”. Không hiểu sao ông Gia cũng gật đầu đồng ý.

Và điều đáng nói hơn là khi nghe hai ông chồng bày tỏ ý tưởng điên rồ đó, không hiểu vì lẽ gì lại được cả hai người đàn bà quê mùa kia chấp thuận.

Thế là ngay trong đêm đó, hai cặp vợ chồng từng là bạn nối khố của nhau quyết định thực hiện chuyện tráo đổi vợ chồng một cách điên rồ. Rồi chẳng hiểu vì uống phải bùa mê thuốc lú hay vì “cái lạ bằng tạ cái quen” mà những ngày sau, cả bốn con người đó vẫn tiếp tục trò chơi ký quái này.


Vợ người này ngồi trong tay người khác.
Đổi luôn cho tiện việc… đốt nhà
Nhưng được một thời gian, rồi cũng có người tỉnh trí nhận biết mình đang chơi trò chơi nguy hiểm, trái luân thường đạo lý. Đầu tiên, bà Lắm vợ ông Nguyễn Hồng Gia, nhất quyết không chịu ăn ở nhà ông Tình, bạn của chồng nữa mà đòi về nhà mình. Tiếp theo, ông Tình cũng tỉnh ngộ, sang nhà ông bạn để đòi vợ là bà Trinh về. Tuy nhiên, vì đã có tình cảm với nhau từ trước nên ông Gia và bà Trinh… không đồng ý và muốn đổi vợ đổi chồng luôn… cho đỡ lôi thôi và đã “quen hơi bén tiếng, hòa hợp” rồi nên cứ để thế cho yên.

Đòi vợ không được, ông Tình nổi cơn điên, châm lửa đốt nhà của ông bạn "vàng" đã cuỗm mất vợ mình, không chịu trả. Rất may, dân làng phát hiện kịp thời nên ngọn lửa nhanh chóng được dập tắt. Tuy nhiên, “đám cháy đổi tình” của hai cặp vợ chồng này thì không thể dập được nữa. Hai bên nhất định không bên nào chịu nhượng bộ bên nào. Vợ mình vẫn cứ ở nhà bạn.

Hai gia đình cùng tan nát
Sau hành động ngang nhiên đốt nhà của người khác, ông Nguyễn Đình Tình bị bắt và bị xử án tù gần một năm. Ngày mãn hạn tù về nhà, ông Tình đành cắn răng chấp nhận sự thật vợ mình đã thuộc về kẻ khác. Ông Gia và bà Tình vẫn tiếp tục sống với nhau.

Còn về phần chị Lắm vợ ông Gia, khi thấy chồng đưa người phụ nữ khác về nhà ở, phần vì quá đau lòng, phần vì không chịu nổi miệng lưỡi đàm tiếu của người đời, đã nuốt nước mắt ôm hai con gái vào miền Nam sinh sống. Từ đó đến nay, những người dân ở đây cũng không biết ba mẹ con trôi dạt đến phương nào, bây giờ ra sao. Còn đối với ông Tình, sau khi ra mãn hạn tù một thời gian, được người quen mai mối đã đi bước nữa. Ông Tình và người vợ mới có thêm một cậu con trai hiện đang học lớp 10. Còn ông Gia và bà Trinh sau khi về ở với nhau đã có thêm ba người con nữa.

Gần hai mươi năm đã trôi qua, nhưng câu chuyện “tráo đổi vợ chồng” đầy oan nghiệt ấy vẫn chưa thể quên trong ký ức những người dân xã Sơn Phú.

Hậu quả vô cùng bi thảm

Hành động "đổi chồng, đổi vợ" khiến con trẻ phải gánh kết cục quá oan nghiệt chẳng ai ngờ tới.

Ông Trinh và bà Tình có hai cô con gái tên là N và L. Sau khi mẹ chúng sang ở với ông hàng xóm, bố thì bị đi tù về đói rách, hai đứa quá buồn rầu nên rơi vào cuộc sống đầy oán hận và buồn tủi. Đến trường thì bị bạn bè trêu trọc, về nhà lại bị người ta xét nét, chúng càng tỏ ra bất mãn với cuộc sống. Ví quá xấu hổ nên học đến lớp 9, N đã bỏ học, bỏ nhà đi “bụi đời”, sau đó lôi kéo em gái mình cùng đi theo.

Sau một thời gian bỏ nhà, sống buông thả vất vưởng ở Sài Gòn, hai em đã bị dính căn bệnh thế kỷ AIDS. Năm 2003, dù vào Sài Gòn sau chị gái, nhưng L. lại nhiễm bệnh và mất trước chị gái khi đang ở tuổi 17 trăng tròn, phải chôn thân nơi đất khách quê người. Không lâu sau khi em gái mất, N. cũng trở về quê rồi nhắm mắt xuôi tay trong lặng lẽ cũng vì căn bệnh thế kỷ này!

Những nhân vật chính hiện nay ra sao?
Còn đối với những nhân vật chính trong câu chuyện này cũng có cuộc sống không như mong đợi. Ông Tình chung sống với vợ ông Gia được 6 năm thì mất. Ông ra đi để lại vợ con thơ dại và bố mẹ già yếu. Còn bà Trinh, qua hai đời chồng đã sinh được 7 đứa con (nhưng nuôi 5 đứa) nên cuộc sống không thể khá giả lên được, hiện bà đang ở xóm cũ.

Còn ông Gia, sau khi quyết chí sống với vợ của bạn sau màn "tráo đổi vợ chồng" vô tiền khoáng hậu chỉ được một thời gian cũng không may gặp tai nạn qua đời, để lại cho bà Trinh 5 đứa con nheo nhóc. Chính vì vậy, những người dân nơi đây cho biết, gia đình của cả hai người phụ nữ này hiện được liệt vào danh sách gia đình nghèo của xã Sơn Phú. Ông trưởng xóm Hồ Văn Đông cho biết:

“Chúng tôi đều biết rất rõ và chán ghét vì câu chuyện năm xưa liên quan đến bà Trinh. Nhưng giờ chứng kiến cuộc sống mẹ con bà ấy quá khó khăn, nhiều người cũng chạnh lòng. Với cương vị là trưởng xóm, tôi cũng chỉ biết an ủi, thăm hỏi tặng quà mỗi khi có dịp thôi”.


Ông Hồ Văn Đông xác nhận câu chuyện với PV.
Hai cặp vợ chồng đã li dị rồi mới tái hôn

Kể về câu chuyện hy hữu có một không hai này, ông Nguyễn Anh Huân, viên chức tư pháp - hộ tịch xã Sơn Phú cho biết: “Thực tế về mặt pháp luật, hai cặp vợ chồng đã được tòa án giải quyết cho ly hôn và sau đó tái hôn nên không có gì sai. Tuy nhiên, trong thời gian trước đó thì đúng là có chuyện “đổi vợ” nên mới nảy sinh mâu thuẫn. Sau khi sự việc đó diễn ra thì hai cặp vợ chồng đó mới chính thức ra tòa ly dị”.

Như thế là nếu cái nghị định “ngoại tình” kia được áp dụng, hai cặp đổi vợ này có sống lại cũng không thể bị phạt.

Đây là chuyện từ cổ chí kim tôi mới nghe một lần. Chẳng biết hai bác nông dân có bị tiêm nhiễm ảnh hưởng “thác loạn” của xã hội thời đó không. Nếu sống ở thành phố, bây giờ học theo lối sống của các “showbiz” và những cô cậu chỉ thích xài sang, ăn trắng mặc trơn không muốn làm việc, không biết hai bác nông dân này sẽ còn thác loạn tới đâu nữa? Tôi nghĩ ở miền quê nghèo mà “chơi tới bến” như thế cũng là cùng cực của sư suy thoái đạo đức rồi, không thể hơn được nữa. Nếu chúng ta tin vào thuyết nhân quả, “ở hiền gặp lành, ở ác gặp ác” thì đây là một minh chứng rõ ràng nhất. Mong rằng xã hội VN không còn những bi kịch như thế này nữa.

Một lời “nhắc” chân thành các đấng mày râu
Xin nhắc các vị độc giả, căn bệnh thế kỷ ở VN bây giờ nhiều như ruồi, không ai có thể kiểm kê hết được và nhìn bề ngoài cũng không thể nào đoán biết được. Có người còn nói rằng càng là “hàng nhà quê” hoặc hàng được gọi là “rau sạch” càng dễ “chết”. Càng tóc xanh môi đỏ, chân dài… càng nhiều nguy cơ tiềm ẩn sau những bộ “vó” choáng lộn. May mắn lắm mới gặp được “hàng thật”. Còn phần nhiều những cô gái trẻ đóng vai sinh viên, nghệ sĩ đều chỉ là để lừa khách bởi lẽ cái mác "sinh viên" “nghệ sĩ” khiến nhiều đàn ông mê đắm, như thể họ là dân chơi “có đẳng cấp” quen toàn “hàng sạch”.

Hoặc có ông khoe lấy toàn vợ còn trinh, không còn “din” ông không lấy. Nhưng ông quên khuấy đi một điều là ở VN bây giờ, vá cái “din” dễ dàng như đi… siêu thị.

Bạn không tin ư? Mời bạn vào net xem trang thông tin của Bệnh Viện Chuyên Khoa Giải Phẩu Thẩm Mỹ Sài Gòn (97B Nguyễn Du, Phường Bến Thành, Quận 1, TP Sài Gòn, Việt Nam). BV này cho biết hàng ngày không có biết bao nhiêu cô gái đến hỏi vá màng trinh qua điện thoại, qua email… tại Bệnh viện thẩm mỹ Sài Gòn. BV này còn có thể “sửa chữa” nhiều thứ “nhạy cảm” nữa, tôi không tiện kể ở đây. Đây cũng là cái điểm tựa vững chắc để các cô gái VN cứ “văng mạng” rồi tính sau, xã hội đã loạn càng loạn!

Tôi chỉ muốn lưu ý để các bạn không bị “quả lừa” to tướng khi phải về VN vì một lý do nào đó thôi.

Văn Quang – Viết từ Sài Gòn

Chuyện Trồng Cây -Trồng Người


Trồng Cây, Trồng Người


Người ta thường nói: tuổi đẹp nhứt của đời người là tuổi học trò. Điều đó cũng đúng thôi, vì đó là tuổi ăn chưa no lo chưa tới và nhứt là chưa biết sợ là gì. Thế nhưng, trong cái nhìn của tôi, dưới năm năm sống với Việt cộng sau ngày miền Nam thất thủ, tôi thấy câu nói đó thật là mỉa mai. Mỉa mai hơn khi chỗ nào cũng nhan nhản những tấm băng-rôn với “tư tưởng” Hồ chí Minh: “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Không cần phải là một người có óc quan sát, ai cũng phải nhận thấy là người cộng sản có một cái tính chung là thích làm khổ người khác, bất luận già trẻ lớn bé. Nhìn cảnh những em học sinh ốm yếu, xác xơ với nét ngây thơ còn nguyên trên mặt mà phải bớt giờ chơi, giờ học hành để đi làm “lao động xã hội chủ nghĩa”, tôi thấy thật tội nghiệp. Bắt học trò đi trồng cây mà toàn lựa những chỗ xương rồng chưa chắc đã mọc nổi. Tôi còn nhớ cảnh các em phải trồng khoai lang khoai mì ở những đồi cát cạnh…bờ biển. Mỗi em na được vài lít nước tưới xuống cát dưới cái nóng và cái gió của bờ biển nhiệt đới. Khoai không đâm rễ lần này thì lại phải gầy lại lần khác. Cứ thế cho đủ số buổi đi lao động. Kết quả lợi ích trồng cây không bao giờ thấy được. “Chân lý” nông nghiệp của mấy ông Việt cộng, “với sức người sỏi đá cũng thành cơm” chẳng bao giờ được chứng minh. Còn lợi ích trồng người thì hầu hết những em học trò đó, ai có cơ hội, đều tự bứng gốc và đem trồng nơi hải ngoại.
 
Từ những gì đã nhìn thấy, tôi thấy chuyện trồng cây và trồng người chẳng có gì ăn nhập với nhau dưới chế độ cộng sản.
Thuở người Việt mới định cư ở nước ngoài, trồng trọt rau cải và cây nhiệt đới trở thành một nhu cầu. Trồng để có đủ các loại rau ăn như những ngày ở quê nhà. Nhìn cây cối để đỡ nhớ hay để nhớ quê hương nhiều hơn. Đi qua một ngôi nhà với cái vườn rau nhiệt đới nho nhỏ và những giống cây đặc thù trong món ăn Việt Nam thường cho tôi một cảm giác vui như gặp một người thân. Và cũng nhờ cái “tín hiệu” vườn rau đó mà kết quả là người Việt gặp lại bạn bè, đồng đội, hàng xóm, thân nhân và “nối vòng tay lớn”. Như vậy, chuyện trồng cây có thêm công dụng của những chiếc cầu. 

Gần đây nhu cầu trồng rau và cây nhiệt đới giảm nhiều. Người ta “làm nông” chỉ còn như một thú vui. Rau cải tươi xanh và rẻ đầy các tiệm thực phẩm Việt Nam. Trái cây thì không còn thiếu một thứ gì. Miền Bắc Úc sản xuất trái cây nhiệt đới còn ngon hơn trái cây nhập cảng. Người trồng rau trái quanh nhà bây giờ có một cái khổ là gặp lúc “trúng mùa” phải năn nỉ nhờ người bà con cô bác ăn dùm. Cái “tín hiệu” vườn rau cũng không còn nhiều nữa. Thay vào đó là những sân xi măng xịt màu xanh, đỏ. So với những ngôi nhà người Việt cách đây vài thập niên, nhà cửa giờ đây đa số khang trang hơn, đẹp hơn, lớn hơn với những cấu trúc tân thời hơn, nhưng cũng bớt vẻ đặc thù hơn. Người ta không còn xác định vị trí một căn nhà theo kiểu nói “hễ thấy có bụi chuối, bụi mía hay cây ổi cây nhãn gì đó là thì đúng nhà của tui”. 

Chọn về ở một nơi xa “đô hội”, xa đồng hương, tôi trở về sống cạnh vườn rau trái như ngày xưa nơi quê nhà. Mỗi ngày khi cuốc đất, nhổ cỏ chăm sóc cái “quê hương bỏ túi” của tôi, tôi thường ngẫm nghĩ đến chuyện trồng cây và trồng người mà tôi tin là có một sự liên hệ và tương tác mật thiết với nhau. Thực ra tư tưởng này không phải của cái ông “Bác Hồ” như ổng tự nhận mà là của ông Quản Trọng (Quản Di Ngô), một tướng tài của Tề Hoàn Công, thời Đông Chu Liệt Quốc, mất năm 645 trước Công nguyên. Nguyên văn câu nói của ông Quản Trọng như sau: “Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc. Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc. Chung thân (hay bách niên) chi kế, mạc như thụ nhân”. Câu nói này nổi tiếng đến độ có dốt Hán văn cách mấy ai cũng hiểu được: “Kế hoạch một năm thì trồng ngũ cốc. Kế hoạch mười năm thì trồng cây. Kế hoạch cả đời hay trăm năm thì trồng người”.

Theo tôi, câu này chẳng có chứa đựng triết lý sâu xa nào cả. Nó chỉ nói lên cái óc thực dụng của người Tàu, dù ở đâu và thời đại nào. Có lẽ tin ở lời khuyên trên đây mà sau này, cũng thời Đông Chu Liệt Quốc, tên lái buôn người nước Triệu tên là Lã Bất Vi mới thuyết phục vua Triệu chuẩn bị cho một người nước Tề đang bị bắt làm con tin là Dị Nhân lên làm vua. Vua Triệu không biết rằng Lã Bất Vi đã “trồng” hạt giống của mình nơi nàng hầu Triệu Cơ. Sau khi Triệu Cơ có mang, Lã Bất Vi mới tìm cách gán cho Dị Nhân. Ông vua này bị cắm sừng mà không biết. Về sau nàng Triệu Cơ sinh ra một người con trai đặt tên là Triệu Chính. Triệu Chính chính là Tần Thủy Hoàng, một trong những hoàng đế đã có công thống nhứt đế quốc Trung Hoa, nhưng đồng thời cũng nổi tiếng là một trong những bạo chúa độc ác nhứt trong lịch sử Trung Hoa.
Rất nhiều người Việt Nam đã đọc truyện Đông Châu Liệt Quốc và biết tên của tể tướng Quản Trọng cũng như câu nói bất hủ trên đây của ông. Vậy mà chứng nào tật ấy, lúc còn bên Pháp thì Hồ Chí Minh đã ngang nhiên cướp tên “Nguyễn Ái Quốc” của một nhóm nhà cách mạng làm của riêng mình, về nước, ông lại cướp tập thơ “Ngục trung thư” của một tù nhân Trung Hoa làm của riêng mình. Cho nên cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi ông “cướp” câu nói của Quản Trọng làm của riêng mình.

Vấn đề cần nêu lên là: con người suốt đời dối trá như Hồ Chí Minh đã gieo trồng được gì trên mảnh đất quê hương? Trong nhiều giai đoạn lịch sử, người Việt Nam đã từng trải qua đói kém. Cái đói ở Miền Bắc năm Ất Dậu 1945 do người Nhựt Bổn gây ra quả là kinh hoàng. Nhưng sau năm 1975 thì trên toàn cõi Việt Nam, ai ai cũng cảm nghiệm được thế nào là đói. Một năm, năm năm hay mười năm, kế hoạch trồng bất cứ ngũ cốc hay cây trái nào của chế độ cộng sản cũng đều mang lại đói khổ cho người dân. Kể từ khi cộng sản lên cướp chính quyền tại Miền Bắc và thôn tính Miền Nam đến nay cũng đã gần 70 năm, kế hoạch trồng người của Hồ Chí Minh đã mang lại kết quả như thế nào thì đã rõ: chưa bao giờ con người Việt Nam sa sút về nhân cách và đạo đức cho bằng ngày nay! Cái nguyên mẫu dối trá “Hồ Chí Minh” đã được nhân lên và tràn lan trong xã hội. Người thì hóa ngợm, còn đất đai, tài nguyên, thiên nhiên để gieo trồng thì lại bị hủy diệt. Rừng bị phá hủy, nguồn nước bị ô nhiễm đến mức độ không thể dung thứ được: đây chính là kết quả của không phải mười năm mà là bảy chục năm trồng cây của kẻ đạo văn và đạo tặc Hồ Chí Minh.
Không có nơi nào người ta thấy rõ sự liên kết giữa sự tàn phá thiên nhiên và hủy hoại con người cho bằng tại Việt Nam. Thiên nhiên bị tàn phá, môi trường sống bị hủy hoại thì đương nhiên nhân tính cũng bị thui chột. 

Chuyện ấy không chỉ xảy ra ở Việt Nam. Hãy thử nhìn sang Bắc Hàn, quốc gia cộng sản nghèo đói đang gây hoang mang lo sợ cho toàn thế giới hiện nay. Sau 70 năm làm nông nghiệp theo các kế hoạch ngũ niên của mô hình kinh tế tập trung, những hình ảnh hiếm hoi được lọt ra khỏi Bắc Hàn chỉ cho người ta thấy cảnh đồng hoang cỏ cháy, kho lẫm trống trơn, trẻ con ốm đến độ chỉ còn da bọc xương. Bên cạnh một môi trường thiên nhiên ngày càng bị hủy hoại là một rừng người đằng đằng sát khí, xem vũ khí nguyên tử như “lẽ sống” và sẵn sàng chết mà cũng chẳng hiểu chết để làm gì. Trước khi hung hăng muốn ăn tươi nuốt sống người đồng loại, con người đã tác hại chính môi trường thiên nhiên.

Điều đó cũng đúng với một nước cộng sản khổng lồ sắp lên ngôi đệ nhứt cường quốc kinh tế của thế giới là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Để trở thành một cường quốc kinh tế, Trung Quốc phải trả một giá đắt. Chỉ cần nhìn lên bầu trời lúc nào cũng mịt mù hay xám xịt khói bụi ở Bắc Kinh hay những thành phố lớn của Trung Quốc cũng đủ để thấy không khí ở đất nước này bị ô nhiễm như thế nào. Chỉ cần đi dọc theo những dòng sông lớn ở Trung Quốc cũng đủ để thấy nguồn nước ở đây đã bị hoen ố như thế nào.
Dĩ nhiên, người Trung Quốc vẫn tiếp tục gieo trồng. Nhưng tại sao những sản phẩm nông nghiệp mà họ xuất cảng đi khắp thế giới đều bị thế giới tẩy chay? Thưa là bởi vì cũng như các hàng hóa của kỹ nghệ chế xuất, nông sản của họ được sản xuất không theo bất cứ một chuẩn mực luân lý và đạo đức nào. Những con người dối trá, vô đạo được chế độ cộng sản “trồng” từ hơn 70 năm qua chỉ biết làm giàu và làm giàu bằng mọi phương tiện vô đạo.

Ngày nay, kể từ khi Trung Quốc ló cái đuôi bá quyền muốn xâm chiếm toàn bộ Biển Đông, người ta không chỉ thấy một anh khổng lồ muốn lấy thịt đè người. Tôi cho rằng cũng như trường hợp Việt Nam và Bắc Hàn, sở dĩ những người cộng sản Trung Quốc luôn có thái độ hung hăng, hiếu chiến là bởi họ chỉ còn nhìn thấy tham vọng của mình và để đạt cho bằng được thì họ bất kể tất cả. Một chính quyền coi mạng dân như cỏ rác thì đếm xỉa gì đến phúc lợi của thế hệ tương lai để biết quý trọng thiên nhiên hay môi trường sống.
Tôi vẫn luôn xác tín điều đó. Khi con người không “sống chung hòa bình” được với thiên nhiên và môi trường sống là những thứ hiền hòa nhứt và luôn bao bọc họ, họ cũng không muốn và cũng không thể xây dựng hòa bình. Tôi vẫn còn nhớ nội dung Sứ điệp Hòa bình 2009 của Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI, người vừa từ nhiệm dạo cuối tháng Hai vừa qua. Trong sứ điệp, vị giáo hoàng này viết rằng hủy hoại môi sinh là đe dọa hòa bình và chính sự sống con người.

Nghe có vẻ trừu tượng và viễn vông. Nói đến hòa bình là nói đến chuyện buông khí giới để bắt tay làm hòa với kẻ thù chứ sao lại phải tôn trọng, bảo vệ và yêu thương thiên nhiên. Kỳ thực, nếu trước kia và hiện nay vẫn còn có những người tỵ nạn chính trị, phải rời bỏ đất nước để chạy trốn khỏi một chế độ độc tài, thì ngày nay chúng ta lại phải chứng kiến hiện tượng những người “tỵ nạn môi sinh”. Họ là những người phải rời bỏ đất đai, ruộng vườn, nhà cửa để đi lánh nạn vì đói kém, vì thiên tai do việc khai thác tài nguyên bừa bãi, hủy hoại môi trường sống gây nên. Thế giới luôn bất ổn và bất an mỗi khi có một làn sóng những người phải rời bỏ quê hương của mình để đi lánh nạn. Do đó, khi môi sinh bị hủy hoại thì hòa bình cũng đương nhiên bị đe dọa.

Hòa bình thế giới là chuyện đại sự mà những suy nghĩ hạn hẹp và nông cạn của tôi chẳng giúp giải quyết được gì. Nhưng trong cuộc sống âm thầm xa chốn phồn hoa đô hội này, tôi “ngộ” ra một điều: càng sống gần thiên nhiên, tôi càng thấy bớt cô đơn, bớt bạo động; càng yêu mến thiên nhiên, tôi càng thấy tâm hồn thanh thản; càng sống giữa thiên nhiên, tôi càng thấy dễ gần gũi với người đồng loại; càng tôn trọng và chăm sóc thiên nhiên, tôi càng thấy mình lớn lên thêm trong nhân cách.

Tôi “trồng cây” không chỉ để có được niềm vui thấy và hưởng hoa trái từ công lao mồ hôi của mình hay để bớt nhớ quê hương. Tôi “trồng cây” là để tự “trồng” chính mình. Cây cối mỗi ngày một lớn lên. Tôi cũng tự nhủ phải lớn lên: lớn lên trong bình an, trong hiếu hòa, trong tình người, trong những gì làm cho tôi “nên người” hơn!

Chu Thập

Chủ Đề Người Lính VNCH :Tưởng nhớ Cố Trung Tá NGUYỄN VĂN NINH- Ninh Đờ Gôn (De Gaulle)Pilot Skyraider


Tưởng nhớ Cố Trung Tá
NGUYỄN VĂN NINH
- Ninh Đờ Gôn (De Gaulle)
Pilot Skyraider, Phi Đoàn 518, SĐ3KQ Biên Hòa





KQ Nguyễn Văn Chuyên
PĐ518 / SĐ3KQ / BH
(Trích Nguyệt San Không Quân
Hội AH KQVNCH miền Trung Cali
                                            số 16, Ngày Quốc Hận 30-4-1984)


Cái biệt danh “Đờ Gôn” (De Gaulle) mà bạn bè đặt cho anh thật là đúng với vóc dáng của một người Việt Nam to lớn ngoại khổ. Anh cao khoảng 1m75 với đôi vai rộng thật rộng làm cho bộ đồ bay mầu xám, dù là cỡ lớn nhất, trông cũng ngắn cũn cỡn. Cặp vai rộng làm cho người đứng sau lưng nhìn anh tưởng như là anh mặc áo bay mà quên chưa lấy cái móc áo ra vậy.

Tôi không dám gọi anh là Ninh Đờ Gôn vì khi tôi là Thiếu Úy mới về nước, anh đã mang lon Đại Úy được 3, 4 năm rồi. Anh là Sĩ Quan An Phi của Phi Đoàn, một nhiệm vụ xem ra hiền hòa nhất trong một cuộc chiến đang trong thời kỳ gay go. Anh rất hiền, thật là hiền làm đôi khi tôi thầm nghi ngờ về tài đánh giặc của anh. Anh ít đùa dỡn, không bài bạc, rượu chè, ăn chơi như những bạn bè đồng trang lứa. Những lần đi bay các phi vụ hành quân chung với anh, tôi mới thấy mình đã nhận xét lầm; vì trong cái bề ngoài hiền hòa ấy, anh xông pha, vùng vẫy một cách rất dũng cảm và chính xác mỗi khi tấn công mục tiêu.

Tôi làm quen với anh rất mau, có thể vì cùng giọng nói ...Bắc Kỳ với nhau, hoặc là vì tôi thường được sắp xếp đi bay chung phi tuần với anh trong nhiều phi vụ yểm trợ quân bạn, đặc biệt là trong vùng Tây Bắc hoặc phía Bắc của phi trường Biên Hòa: tôi bay phi cơ số hai và anh là người bay phi cơ số một.

Những lúc chúng tôi “sánh vai” ra đi từ phòng trực Phi Đoàn, đến phòng nai nịt áo lưới, đai dù và những dụng cụ cứu nạn, rồi phòng Hành Quân Chiến Cuộc nhận tọa độ mục tiêu, rồi ra bãi đậu phi cơ, ai nhìn anh và tôi đi bên nhau chắc cũng phải nực cười, vì anh và tôi trông cứ như một đôi đũa lệch: anh cao hơn tôi đến một cái đầu.

Tôi bay theo anh Ninh đến những mục tiêu nóng bỏng nhất, nơi quân bạn dưới đất cần yểm trợ: Lộc Ninh, An Lộc, Kà Tum, Tống Lê Chân, Chơn Thành, Lai Khê, Xa Cam, Minh Thạnh, Bến Cát, Tân Khai, Đức Hòa, Đức Huệ, v.v... Sau mỗi phi vụ, anh đều vội vã lái chiếc xe du lịch cũ kỹ trực chỉ về Khu Cư Xá Sĩ Quan với vợ con. Anh có hai cháu gái, chị Ninh đang mang thai và anh chị thì hy vọng làm thế nào có được một đứa con trai.

Không biết từ thời nào mà hình như những người mang nghiệp bay rất hay tin dị đoan. Dù theo đạo Công Giáo, anh Ninh cũng có vẻ ăn ở không yên khi thấy việc mang thai của vợ mình là một trong những điềm xui truyền khẩu, ngoài việc săn bắn chim, đi bay thế chỗ cho nhau và ...vợ có bầu, v.v... Rồi một tai nạn xẩy đến làm anh Ninh càng thêm lo nghĩ và có vẻ tin vào những điều xui truyền khẩu của nhân gian.

Hôm ấy, anh Ninh và tôi đi yểm trợ quân bạn mở đường tại Rừng Lá, Phan Thiết đang bị Cộng Quân đắp mô, chặn đường quấy phá. Đến mục tiêu chúng tôi bay xuống thấp và nhìn rõ hai đoàn xe bị kẹt hai bên mục tiêu và đồng bào tràn xuống đầy hai bên đường lộ chờ đợi. Ninh gọi tôi trên tần số:

- Phi Long 42, đây 41 gọi.
- Hai nghe!
- Cẩn thận nghe hai. Đồng bào và xe cộ rất sát mục tiêu. Đừng để tai nạn nào xẩy ra nghe không, hai!
- Hai nghe! Tôi đi skip Napalm sát đọt cây nghe!
- Ok! Nhưng đừng xuống thấp quá kẻo vướng xe đò, cột đèn thì phiền nghe!
- Hai nghe rõ!

Mục tiêu chỉ cách Quốc Lộ 1 chừng 100 mét và quân bạn đang dàn hàng ngang đẩy Cộng quân ra xa khỏi Quốc Lộ. Chúng tôi bay thật thấp trên đoàn người và nhìn thấy họ nhảy lên vẫy tay chào. Tôi lắc đôi cánh nẵng trĩu 6 trái bom Napalm cồng kềnh đáp lễ. Ninh mang 10 trái bom nổ 500 pounds nên anh đánh từ 3 ngàn bộ xuống, từng trái một theo sự chỉ dẫn của phi cơ quan sát L-19 trên mục tiêu. Còn tôi đánh từng trái Napalm sát ngọn cây, tạo ra một hàng rào lửa phân cách giữa bạn và thù. Mỗi lần đến sát mục tiêu, tôi đều nhìn thấy những vệt đạn lửa của địch quân bắng những vũ khí cá nhân hạng nhẹ nhắm bắn vào phi cơ của mình. Xong việc, Ninh gọi tôi:

- Hai, đây Một gọi!
- Hai nghe!
- Tôi còn kẹt hai trái bom không chịu rơi. Tôi sẽ vào mục tiêu một lần nữa. Anh bắn cà-nông bảo vệ cho tôi nhé!
- Hai nghe rõ!

Ninh nhào xuống mục tiêu một lần nữa, vẫy vùng, nhả từng loạt đạn cà-nông, nhưng hai trái bom bị kẹt vẫn không chịu rơi xuống. Tôi bay sau Ninh và khi anh bắt đầu kéo lên khỏi mục tiêu, tôi xả hết 800 viên cà-nông 20 ly dọc theo hàng rào lửa do bom Napalm đang cháy ở bên phía địch quân. Nhìn về phía đám đông và đoàn xe bị kẹt trên Quốc Lộ, tôi thấy dân chúng vỗ tay nhảy mừng. Tôi lắc đôi cánh vẫy chào và phóng theo sau phi cơ của Ninh. Ninh gọi tôi:

- Hai, đây Một gọi!
- Hai nghe!
- Theo tôi về khu oanh kính tự do để mình giải tỏa mấy trái bom này!
- Hai nghe rõ. Tôi đang bay sau lưng bạn!

Trước khi tới khu giải tỏa, Ninh thông báo và xin phép đài kiểm báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt. Sau khi được phép, Ninh nhào 5, 6 lần xuống mục tiêu tự do, vận dụng hết mọi phương pháp, vùng vẫy, giằng co, cố làm cho 2 trái bom lìa ra khỏi cánh phi cơ, nhưng mãi mà chỉ có một trái chịu rơi, còn một trái vẫn đeo chặt vào cánh phải của máy bay. Mệt qúa, Ninh gọi đài kiểm soát phi trường Biên Hòa để xin về đáp.

- Biên Hòa đài, Phi Long 41 gọi!
- Biên Hòa đài nghe bạn!
- Phi tuần 2 phi cơ A-1 xin đáp. Phi cơ số 1 kẹt một trái bom 500 pounds.
- Ok. Thuận cho bạn về đáp “straight in” (bay thẳng từ xa vào) phi đạo 09, gió từ hướng 120 độ, mạnh 10 knotts. Sẽ có xe cứu hỏa và xe cứu thương túc trực sẵn cho bạn.

Rồi Ninh ra lệnh cho tôi:

- Phi Long 42, tactical formation (Bay xa tôi ra!). Trông chừng trái bom và phi cơ của tôi nghe!
- Phi Long 42 nhận 5!

Đài Kiểm Soát Biên Hòa lại gọi Ninh:

- Phi Long 41, Biên Hòa đài gọi!
- Biên Hòa nghe bạn!
- Bạn phải bay tuyến downwind (hướng gió xuôi) ở phía Bắc của phi trường, trước khi vào final approach, không được bay vào khu dân cư phía Nam là thành phố Biên Hòa. Nghe rõ trả lời!
- Phi Long 41 nhận rõ!

Theo lệnh của Đài Kiểm Soát, Ninh và tôi cẩn thận nhẹ nhàng đem hai chiếc máy bay men dọc theo hướng Bắc của phi trường, song song với phi đạo. Tôi bay xa xa phía sau Ninh vừa để ý nhìn phía trước, vừa để ý nhìn trái bom còn kẹt bên cánh phải của Ninh. Bất thình lình, tôi thấy trái bom rớt ra khỏi cánh máy của Ninh, dù phi cơ Ninh vẫn bình phi nhẹ nhàng ở 1,500 bộ. Tôi bấm máy la lên:

- Phi Long 41, trái bom của anh rớt rồi!
- Ok, hai! Tách xa tôi ra! Theo dõi kỹ trái bom xem sao!

Tôi dõi mắt nhìn theo trái bom, nhưng mầu olive của nó mau mắn mất hút hòa lẫn theo mầu cỏ cây dưới đất . Phía Bắc phi trường là những đồng ruộng bao la bát ngát, ở trên nhìn xuống chỉ thấy lác đác vài căn nhà nằm giữa những lùm dừa, lùm cau nho nhỏ. Thế mà đúng là “họa vô đơn chí”, trái bom rớt trúng vào một trong những lùm cau nhỏ ấy. Trong chớp mắt, tôi thấy một nhoáng lửa, một cái rùng mình thật mạnh của phi cơ, rồi bụi mù và khói lửa bùng lên từ xóm nhà nhỏ bé ấy.

- Phi Long 41, đây Hai gọi!
- Nghe Hai!
- Chết rồi! Bom rớt trúng nhà dân rồi Một ơi!
- Tôi thấy rồi! Trời ơi! Sao xui quá! Biên Hòa Đài, Phi Long 41 gọi!
- Biên Hòa Đài nhận rõ vấn đề! Xin bạn cho biết vị trí!
- Tôi đang ở 1,500 bộ, khoảng 5 miles hướng Bắc của phi trường. Xin bạn cho phi cơ tản thương gấp!
- Biên Hòa Đài nhận rõ! Sẽ điều động các phương tiện Emergency liền cho bạn!

Ninh và tôi cùng bay vòng lại phía mấy căn nhà nhỏ. Lửa và khói bay ngút trời. Người ta chạy túa ra những con đường đất, tay cầm vải trắng phất qua phất lại như ra hiệu đầu hàng xin chúng tôi đừng thả bom nữa. Ruột tôi thắt lại. Tim tôi đập liên hồi. Đau xót đến tận cùng! Chừng 5 phút sau, một phi cơ trực thăng cấp cứu của Mỹ, danh hiệu Pedro, vẫn túc trực thường xuyên trong phi trường Biên Hòa bay tới và đáp xuống cạnh đám cháy. Ninh gọi tôi trên tần số và bảo tôi về đáp.

Suốt đoạn đường từ bãi đậu phi cơ vào tới Phi Đoàn, Ninh không nói với tôi một lời. Anh đăm chiêu, mắt nhìn xa xăm. Tôi nghĩ anh đang vô cùng khổ tâm nên cũng không muốn bắt chuyện với anh làm gì. Sau khi trút bỏ đai dù và các thiết bị an toàn xong, tôi lấy Honda phóng thẳng đến Bệnh Xá, vừa đúng lúc chiếc trực thăng Pedro đáp xuống thả những nạn nhân vào phòng cấp cứu: hai người đàn bà, ba đứa trẻ con và một em bé mình mẩy băng bó, máu me đỏ thắm. Tôi rùng mình chạy Honda vội về Phi Đoàn. Trong phòng trực hành quân, Ninh đang ngồi viết Tờ Tự Khai. Tôi nói cho Ninh những điều tôi nhìn thấy ở Bệnh Xá. Ninh gục đầu xuống bàn viết, khóc nức nở.
* * *



Ít tháng sau, vào một buổi chiều tháng Tư năm 1973, trong một phi vụ yểm trợ cho Sư Đoàn 7 Bộ Binh tại Cai Lậy, hai chiếc phi cơ thuộc Phi Đoàn 514 và hai chiếc thuộc Phi Đoàn 518 là hai phi tuần Skyraider được điều động từ phi trường Biên Hòa xuống trợ lực. Ninh và Thiếu Úy Toàn (Toàn Cu-Li) với danh hiệu Phi Long 61, cất cánh sau hai phi cơ của Phi Đoàn 514. Như thường lệ, Ninh đeo 10 trái bom nổ 500 pounds và Toàn mang 6 trái napalm nặng nề, cồng kềnh.

Bầu trời Miền Tây hôm đó khá nhiều mây, cộng thêm những màn khói mịt mù do nông dân đốt cỏ cây bên dưới bay lên làm cho tầm nhìn xa của phi công cũng bị giới hạn phần nào. Trần mây lơ lửng cao chừng 4 ngàn bộ và những cụm mây cumulus đầy hơi nước với độ dầy cả ngàn bộ. Dù tầng mây có những lỗ hổng lác đác, nhưng cũng đủ bắt buộc phi công phải bay dưới 4 ngàn bộ để quan sát cho rõ mục tiêu.

Theo lời Toàn kể thì lúc hai phi cơ còn ở xa xa là đã nhìn thấy hỏa lực phòng không của địch “dàn chào” rất kỹ hai chiếc Skyraider của Phi Đoàn 514 Phượng Hoàng đến trước đang quần thảo trên mục tiêu. Nào là đạn 23 ly, nào là đạn 37 ly phòng không nổ tung tóe xung quanh hai chiếc Skyraider lì lợm. Ninh lên tiếng cảnh giác Toàn:

- Phi Long 62, Một gọi!
- Hai nghe!
- Bọn nó bắn rát lắm. Cẩn thận nghe Hai! Đi ra xa mục tiêu một chút chờ Phượng Hoàng làm việc xong thì mình sẽ vào.
- Hai nghe rõ!
- Vùng này có rất nhiều (hỏa tiễn tầm nhiệt) SA-7. Anh bay xa tôi ra. Trông chừng cho nhau. Có gì la lên liền nghe Hai!
- Hai nhận 5!

Ninh và Toàn làm vòng chờ xa xa theo sự hướng dẫn của phi cơ quan sát tại hiện trường. Bỗng Toàn thấy một vệt lửa mầu cam từ dưới đất bay lên nhắm thẳng về hướng phi cơ của Ninh, lúc đầu chậm rãi rồi vụt nhanh như chớp nổ tung vào ống khói ở vùng đầu máy bay của Ninh. Toàn vừa há miệng định la lên thì đã thấy Ninh bay vụt ra khỏi phi cơ và chiếc dù hai mầu trắng đỏ bung ra với Ninh lơ lửng bên dưới. Chiếc Skyraider đầy bom đạn bốc lửa, quay tròn như con vụ được hai vòng rồi đâm xuống đất nổ tung. Mặc dù đeo trên thân tầu 6 trái napalm nặng nề, Toàn vẫn lì lợm và cố gắng lượn theo sát chiếc dù để xác định là Ninh còn sống và đã thoát ra khỏi chiếc phi cơ lâm nạn.

Rồi Toàn đưa chiếc máy bay vút lên trên tầng mây để che khuất tầm nhìn của địch quân. Toàn đổi tần số và báo cho Trung Tâm Kiểm Báo Paris tại phi trường Tân Sơn Nhứt:

- Paris đây Phi Long 62!
- Paris nghe bạn.
- Thông báo cho bạn: phi cơ số 1 của tôi bị trúng SA-7 và rớt ở Cai Lậy.
- Xin bạn cho biết tọa độ!
- Phòng không bắn nhiều quá, và trời rất nhiều mây nên tôi không thể xác nhận được tọa độ ngay bây giờ bạn!
- Tình trạng phi công ra sao?
- Phi công đã bung dù ra. Bạn liên lạc với phi cơ quan sát L-19 tại mục tiêu, có thể sẽ có tọa độ chính xác cho bạn. Tôi về đáp tại phi trường Biên Hòa nghe bạn.
- Nhận 5, Phi Long 62 về đáp Biên Hòa! Bạn yên chí! Chúng tôi sẽ liên lạc và chuyển lệnh điều động cấp cứu Phi Long 61!

Cho đến tối, vẫn không có tin tức gì của Ninh, mặc dù Toàn thề độc là nó đã bay vòng quanh dù của Ninh trước khi chui lên mây né đạn phòng không. Tôi được Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng (PĐT) Nguyễn Quan Vĩnh giao nhiệm vụ đi đến nhà báo tin cho chị Ninh. Tôi gõ cửa và bước vào căn nhà lính thô sơ. Chị Ninh đang ngồi ẵm đứa con gái nhỏ. Trên bàn ăn, mâm cơm đạm bạc đã dọn sẵn và chừng như đã nguội. Thấy tôi, chị uể oải, nặng nề đứng dậy. Bụng chị đã lớn lắm. Chị mỉm cười hỏi:

- Có chuyện gì đấy chú?
- Dạ, Thiếu Tá PĐT sai em đến báo tin cho chị hay là tối nay anh Ninh không về được.
- Sao thế hả chú?
- Dạ, anh ấy bị hư máy bay, phải đáp khẩn cấp ở dưới Cần Thơ. Phi trường mình đã gởi chuyên viên xuống để sửa chữa, hy vọng một hai bữa nữa thì anh ấy sẽ về đến.

Nét mặt chị Ninh lộ vẻ lo lắng. Vài giọt lệ tủi thân trào lăn trên má. Chị ôm chặt lấy đứa con gái nhỏ vào lòng, trong khi đứa gái lớn e thẹn bám lấy chân chị. Chị thở dài lẩm bẩm với các con, lớn vừa đủ để tôi nghe thấy:

- Thôi, đi ăn cơm các con. Bố không về được thì ba mẹ con mình ăn vậy!

Tôi chào chị Ninh từ giã, bước vội ra khỏi cửa. Một mặc cảm tội lỗi tràn ngập tâm tư tôi vì tôi biết tôi đã nói dối chị Ninh. Tôi chỉ biết là Ninh không về, nhưng tôi biết rõ không phải vì máy bay của Ninh hư và càng không phải là Ninh đáp xuống phi trường Cần Thơ!

Ngày hôm sau, cả phi đoàn vẫn chờ đợi tin tức của Ninh. Bặt vô âm tín từ các phi vụ quan sát và trực thăng tìm kiếm chung quanh khu vực mục tiêu. Vì quá nóng lòng, Thiếu Tá PĐT đã lấy xe pick up của Phi Đoàn, đích thân chở Thiếu Úy Toàn xuống tận Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 7 Bộ Binh để yêu cầu đơn vị này phụ một tay trong công tác đi tìm kiếm Ninh. Theo Toàn cho biết, hai người đã được một sĩ quan trung cấp tiếp đón, dùng xe Jeep của đơn vị chở hai người đi loanh quanh đến một vài địa danh gần mục tiêu thăm hỏi, nhưng cuối cùng không được kết quả gì và hai người đã thất vọng trở về Biên Hòa.

Cuối cùng Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài trong Phi Đòan đã nẩy ra một ý kiến. Sau khi hội ý với Phi Đoàn Trưởng, Đại Úy Hoài lấy điện thoại xin tổng đài nối liên lạc với văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Khi tướng Nguyễn Khoa Nam lên tiếng bên kia đầu máy, Đại Úy Hoài nói:

- Chào chú, cháu là Hoài đây.

Chẳng hiểu hai chú cháu tướng Nguyễn Khoa Nam nói chuyện gì, chỉ thấy Đại Úy Nguyễn Khoa Hoài vâng dạ lia lịa bằng giọng Huế của anh. Cả Phi Đoàn quây quần xung quanh Đại Úy Hoài, hồi hộp chờ đợi. Sau cùng, Đại Úy Hoài nói:

- Cháu cần nhờ chú một việc. Cần lắm!
- ???
- Cháu có người bạn rất thân, hôm qua bay yểm trợ cho quân bạn trong vùng trách nhiệm của chú, bị bắn rớt, có nhảy dù ra mà mấy toán cấp cứu của Không Quân kiếm mãi không thấy. Chú ra lệnh cho thuộc cấp đi hành quân tìm nó dùm cháu được không?
- ???
- Dạ đúng rồi! Tại mặt trận Cai Lậy ngày hôm qua đó chú! Khi có tin gì chú báo ngay cho cháu ở Phi Đoàn nghe. Cảm ơn chú!

Đại Úy Hoài gác điện thoại xuống. Mọi người đều mừng vì may mắn có cháu ruột của Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh bay chung trong Phi Đoàn. Hai ngày qua, rồi ba ngày, vẫn không có tin tức gì của Ninh. Và mỗi ngày, tôi đều được phái đến Khu Cư Xá Sĩ Quan để ...nói dối chị Ninh. Không ai có can đảm nói sự thật cho chị. Sau ngày thứ ba, chị nói với tôi:

- Mong sao anh ấy về kịp. Chỉ còn có vài ngày nữa là tôi sanh rồi chú ạ!

Đến ngày thứ tư thì tin dữ về đến Phi Đoàn: Ninh đã chết! Cả Phi Đoàn bàng hoàng khi hung tín được Bộ Tư Lệnh Không Quân điện thoại lên. Cùng lúc ấy, Tướng Nguyễn Khoa Nam gọi điện thoại cho Đại Úy Hoài than phiền rằng vì đi vào tìm và lấy được xác của Ninh, ông đã mất một vài quân nhân dưới quyền. Nhưng ông cũng thông cảm vì sự yểm trợ của Không Quân mấy hôm trước và vì Ninh bị bắn rơi trong phi vụ yểm trợ cho đơn vị Bộ Binh trong vùng trách nhiệm của ông.

Thiếu Tá PĐT lái xe đưa tôi và Đại Úy Trương Phùng là Ủy Viên Xã Hội của Phi Đoàn xuống Bộ Tư Lệnh KQ nhận xác Ninh. Con đường từ Biên Hòa về đến Sài Gòn dài thật dài, dù chiếc xe pick up của Phi Đoàn Trưởng đã chạy hết tốc lực. Chúng tôi đi thẳng đến Nhà Vĩnh Biệt trong phi trường Tân Sơn Nhứt. Hệ thống máy lạnh có lẽ không làm việc tốt lắm, nên vừa mở cửa ra là cả ba chúng tôi bị dội ngược lại vì mùi hôi thối của Ninh xông ra. Xác Ninh với khổ người cao lớn trong bộ đồ bay lấm bùn chương lên thật to nằm trên bàn.

Tôi không thể ngờ rằng đời sống con người lại có thể qua mau được như vậy. Một người mà mọi người quen biết đang yêu mến, đang trông chờ có thể đến nỗi như thế này sao?! Bất chợt, tôi lại nhớ đến thân phận mình, đến thân phận những bạn bè, chiến hữu khác đang bay vào lửa đạn khắp bốn Vùng Chiến Thuật, đang đùa dỡn với tử thần, đang vì Tổ Quốc, Danh Dự, Trách Nhiệm mà quên đi sự an lành cho chính mình. Tôi nhìn xác anh Ninh, lại nhớ đến chị Ninh và hai cháu gái nhỏ ở nhà và bật khóc.

Phải khó lòng lắm, Thiếu Tá PĐT, Đại Úy Trương Phùng và tôi mới moi được cái bóp trong túi áo bay trên ngực của Ninh ra. Đúng là Ninh rồi! Thẻ bài, giấy tờ tùy thân, hình vợ con và Thẻ Chủ Quyền của chiếc xe cũ kỹ anh vẫn lái hằng ngày. Tôi để ý không thấy sợi dây chuyền vàng với cây thánh giá Ninh đeo trước ngực và chiếc cà rá pilot anh vẫn đeo trên tay cũng không còn.

Chúng tôi phải xem xét kỹ như vậy vì khuôn mặt của Ninh không giống như lúc Ninh còn sống nữa. Da mặt Ninh đen như than vì nằm phơi nắng ba bốn ngày ngoài ruộng. Những con trùng sống dưới nước vẫn còn bò lổm ngổm bên xác Ninh. Theo lệnh của Thiếu Tá PĐT, tôi lấy tờ báo cuộn cái bóp của Ninh lại và bỏ vào túi áo bay dưới ống quần phải để mang về trao lại cho chị Ninh.

Dùng hết sức lực, cả ba chúng tôi vần nghiêng được xác Ninh, cố tìm xem nguyên nhân nào đã gây ra cái chết cho anh. Chẳng mấy khó khăn, chúng tôi thấy một vết đạn xuyên từ sau gáy trổ thẳng lên phía sau đầu của Ninh. Lúc đó, chúng tôi đoán biết là Ninh đã bị bắn chết khi đang treo lơ lửng trên trời. Chiếc dù hai mầu đỏ trắng của phi công khi rơi xuống ruộng nước đã bị hòa lẫn với mầu bùn đất làm cho nỗ lực tìm kiếm Ninh của các máy bay quan sát và trực thăng trong những ngày đầu đã không đưa đến kết quả nào.

Chúng tôi trở về Biên Hòa sau khi liên lạc và trao cái bóp của Ninh cho gia đình vợ anh ở Sài Gòn. Thiếu Tá PĐT bảo chúng tôi ra ngồi phía sau, để dành cabin chiếc xe pick up cho thân nhân của chị Ninh cùng đi lên Khu Cư Xá Sĩ Quan để đưa chị Ninh về Sài Gòn chăm sóc. Khi tôi thúc giục mau ra xe, chị Ninh tỏ vẻ nghi ngờ và phân vân, hỏi tôi:

- Tại sao tôi phải về Sài Gòn hả chú Chuyên?
- Dạ, vì phi cơ anh Ninh vẫn còn hư ở dưới Cần Thơ, mà chị thì sắp sanh, nên cần có người nhà phụ giúp chị và các cháu.

Rồi chị Ninh và các cháu lên chiếc xe du lịch cũ kỹ đi về Sài Gòn trước. Khi thấy chúng tôi đến sau bằng những chiếc xe pick up chở đồ đạc lỉnh kỉnh của nhà chị dọn từ Biên Hòa về, chị đoán già đoán non sự thể và òa lên khóc. Tôi nhìn thân hình nhỏ và cái bụng to của chị, miệng chị lẩm bẩm gì đó tôi nghe không rõ, rồi tự nhiên nước mắt tôi cũng dâng trào và tôi bật khóc thành tiếng. Cả nhà chị cùng những người hàng xóm hiếu kỳ đang vây quanh cũng không cầm được nước mắt và khóc theo. Chị hỏi tôi:

- Anh Ninh chết rồi hả chú Chuyên?
- ???
- Trời ơi! Sao chú lại nói dối tôi? Dẫn tôi đến thăm chồng tôi đi chú! Trời ơi! Anh ơi! Nỡ lòng nào anh bỏ em và các con thế này?!

Chị khóc lóc rên rỉ. Cái bụng quá lớn làm chị khó xoay xở. Chị không thể vật vã như những góa phụ khác. Chị ngồi bệt xuống chiếc phản gỗ, gương mặt bỗng tái nhợt đi, rồi bất tỉnh. Người thì lo bôi dầu gió, người thì quạt cho chị tỉnh lại. Không ai đồng ý chi chị đi thăm anh Ninh cả vì hai lý do: Ninh đã chương lên to và nặng mùi lắm rồi. Chị lại sắp sanh tới nơi có thể bất lợi cho thai nhi.

Sau một hồi được người thân “phù phép” bằng dầu gió, chị Ninh tỉnh lại. Chỉ chỉ ngồi yên mà không khóc nữa, tuy hai hàng nước mắt vẫn tuôn trào. Trước khi ngất xỉu đi lần thứ hai, chị mơ màng nói với theo:

- Chú Chuyên à, nếu chú không cho tôi đến nhìn mặt anh Ninh lần chót, ...”tôi sẽ không đẻ cho mà coi”!

Hai ngày sau, tôi và một vài chiến hữu trong Phi Đoàn được đưa xuống Nhà Vĩnh Biệt để đứng gác quan tài của Ninh, trước khi anh được an táng tại nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Buổi tối trước ngày tiễn biệt Ninh, người ta mới đưa chị Ninh và hai cháu bé đến. Chị Ninh và hai cháu đều mặc bộ đồ tang vải màn thưa trắng, riêng chị còn có thêm một cái khăn trào mào trùm kín đầu và mặt. Ba mẹ con bước vào phòng để quan tài, đang khóc lóc ồn ào nhưng bỗng nín bặt. Chị lẩm bẩm lớn đủ cho mọi người nghe thấy:

- Tôi đã hứa rồi, tôi đã hứa rồi! Tôi sẽ không khóc. Tôi sẽ không khóc lóc, không vật vã đâu! Ninh ơi, em đến thăm anh lần cuối, rồi em sẽ về đi sanh đây anh! Sao anh lừa dối em? Sao anh lừa dối các con hả anh? Anh hứa anh sẽ về nhà ngay với em và các con sau phi vụ mà sao đã cả tuần lễ rồi mà anh vẫn còn nằm đây? Sao anh chẳng nói một lời, Ninh ơi! Em khổ quá Ninh ơi, anh có biết không, Ninh ơi?!

Chị Ninh cứ lẩm bẩm như thế và cả hai cháu gái nhỏ cùng bám lấy chân mẹ đi vòng quanh ve vuốt cỗ quan tài. Những người có mặt không ai cầm được nước mắt và tất cả cùng khóc theo chị Ninh.

Lúc ấy, một sĩ quan cao cấp thuộc Bộ Tư Lệnh Không Quân đến cử hành nghi thức gắn lên chiếc gối nhỏ bằng nhung đỏ trên quan tài của Ninh một Bảo Quốc Huân Chương, một Phi Dũng Bội Tinh và truy thăng Đại Úy Nguyễn Văn Ninh lên ...Cố Trung Tá. Lý do là vì Ninh đã có Nghị Định lên Thiếu Tá, nhưng khi Ninh tử trận, Nghị Định thăng cấp của Ninh chưa kịp về đến Phi Đoàn. Người ta trao cho chị Ninh chiếc gối nhỏ mầu máu đỏ tươi ấy với những huy chương được cài cẩn thận cạnh hai bông mai bạc. Chị ôm lấy nó, nức nở và khuỵu gối xuống bất tỉnh trong vòng tay thân nhân.

Đêm hôm ấy, chị Ninh hạ sanh một cháu trai, đúng như nguyện ước của chị và anh Ninh Đờ Gôn.

* * *

Lời người viết:

Đã 40 năm qua kể từ ngày Ninh anh dũng hy sinh, không biết chị Ninh, hai cháu gái và cháu trai bây giờ ra sao, sau sự mất mát đớn đau tuyệt đỉnh ấy?! Trong những tháng năm khói lửa của cuộc chiến sau khi anh hy sinh và rồi qua những thăng trầm dâu bể của đất nước, cầu mong chị và các cháu vẫn được Ơn Trên và anh linh của Ninh phù trợ, để có can đảm và hy vọng trong đời sống. Dù đớn đau, dù cay đắng, dù bạc bẽo, mong rằng chị và các cháu lúc nào cũng có thể tự nhủ được trong lòng mình rằng, sự chiến đấu anh dũng và hy sinh cao cả của anh Ninh cho quê hương dân tộc Việt Nam sẽ vẫn mãi mãi được quê hương và dân tộc tri ân. Kính.

Nguyễn Văn Chuyên

Bài Xem Nhiều