We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 26 April 2013

VÌ SAO GỌI NGÀY 30-4 LÀ NGÀY QUỐC HẬN VÀ THÁNG 4 LÀ THÁNG TƯ ĐEN?



        Đúng ngày này của 37 năm về trước, ngày 30-4-1975, đánh dấu cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam đã chấm dứt nhanh gọn, phi lý và bất ngờ cho cả hai bên nội thù tham chiến, sau 21 năm diễn ra khốc liệt(1954-1975). Thế nhưng đây chỉ là sự kết thúc một giai đoạn của cuộc nội chiến ý thức hệ Quốc –Cộng tại Việt Nam. Cuộc nội chiến ấy vẫn tiếp diễn từ sau ngày 30-4-1975 đến nay đã 37 năm và vẫn đang tiếp tục. Vì cuộc chiến ấy vẫn chưa phân thắng bại. Và vì vậy hàng năm cứ đến ngày 30-4, Việt cộng thì ăn mừng như một chiến thắng, còn Việt quốc thì tưởng niệm như một “ngày quốc hận” và coi cả Tháng 4-1975 là “Tháng Tư Đen”.Vì sao Việt quốc lại gọi ngày 30-4-1975 là “ngày quốc hận” và tháng 4 -1975 là “Tháng Tư Đen”?
         Để trả lời câu hỏi này, nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
-       Ý nghĩa từ ngữ “Ngày Quốc hận” và “Tháng Tư Đen”.
-       Chúng ta hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

I/- Ý NGHĨA TỪ NGỮ “NGÀY QUỐC HẬN” VÀ “THÁNG TƯ ĐEN”.
     Chúng tôi không biết cá nhân hay đoàn thể Việt quốc nào ở hải ngoại lần đầu tiên đã dùng từ ngữ “Quốc hận” để gọi ngày 30-4-1975 và “Tháng Tư Đen” để chỉ tháng 4-1975 . Nhưng điều đó không quan trọng bằng ý nghĩa của từ ngữ này đã nói lên được điều gì?
    Theo suy luận của chúng tôi,thì cụm từ “Ngày Quốc hận 30-4” diễn tả nỗi đau uất hận của những người Việt quốc gia từng sống ở Miền Nam Việt Nam trước 30-4-1975, dưới chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa.Vì ngày ấy đánh dấu chế độ tự do dân chủ non trẻ ở Miền Nam Việt Nam bị cưỡng tử, khiến cho gần 20 triệu dân quân Miền Nam Việt Nam lúc đó mất hẳn vùng đất tự do, rơi vào ách thống trị chế độ độc tài toàn trị Việt cộng.
         Chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử, có nghĩa là đã bị bắt buộc phải “chết bất đắc kỳ tử”, khi mà chế độ ấy cơ thể còn khỏe mạnh, không thể chết được hay ít ra chưa thể chết được, còn có thể cứu vãn được tình hình để hồi phục và tồn tại.Bị cưỡng tử vì chính quyền, quân, dân của chế độ có chính nghĩa ấy vẫn còn thừa khả năng chiến đấu để tự tồn, trước một đối phương Việt cộng phi chính nghĩa lúc đó đang ở thế cùng lực kiệt, thực sự không có khả năng để chiến thắng như vậy.
         Vậy mà, đối phương ấy đã được các thế lực khuynh đảo quốc tế sắp xếp cho đóng vai kẻ thắng trận, trong một cuộc chiến tranh Quốc- Cộng kéo dài 21 năm (1954-1975), chỉ vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực.Thật là điều bất công, phi lý khi họ đã cho phe “Tà cộng” thắng “Chính quốc”; quốc tế và đồng minh Hoa Kỳ đã làm ngơ bỏ mặc Việt Nam Cộng Hòa, trước hành động xâm lăng của Việt cộng, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình choViệt Nam ngày 27-1-1973 dù có những cam kết đa phương và bảo đảm quốc tế.
        Như thế bảo sao người Việt quốc gia ở Miền Nam Việt Nam không uất hận. Chính vì vậy ngày 30-4-1975 đã là “Ngày Quốc Hận” và Tháng Tứ năm 1975 đã là “Tháng Tư Đen” đối với người Việt quốc gia ở hải ngoại cũng như trong nước. Bởi vì ngày ấy, tháng ấy đã diễn ra những sự kiện đen tối cho Việt quốc (bao gồm chính quyền quốc gia, người Việt quốc gia trong chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa) và là ngày tháng khởi điểm đưa Việt Nam vào một giai đoạn “Đen tối nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam thời cận đại”.
       Đến đây , vấn đề đặt ra là: Chúng ta, những người Việt quốc gia hận ai, hận cái gì và hận để làm gì?

II/- CHÚNG TA HẬN AI, HẬN CÁI GÌ VÀ HẬN ĐỂ LÀM GÌ?
     1.-Trước hết chúng ta hận ai và hận cái gì?
     Về mặt khách quan, Việt quốc hận đối phương Việt cộng và hận cả người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại đang là đối tác làm ăn với cựu thù Việt cộng.
    Về mặt chủ quan, người Việt quốc gia hận những người lãnh đạo hàng đầu về chính trị cũng như quân sự có trách nhiệm trước sự sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa và có thể hận với chính mình nữa.
       Thật vậy, người Việt quốc gia ở hải ngoại 37 năm qua và có thể cho đến lúc chết vẫn mang trong lòng mối hận người, hận mình, với tính chất và cường độ hận khác nhau.
       Mối hận hàng đầu là đối với đối phương Việt cộng. Với đối tượng này, tính chất và cường độ mối hận phải được diễn đạt bằng ngôn từ căm hận hay thù hận. Căm hận hay thù hận Việt cộng là điều tất nhiên, vì là đối phương, kẻ thù chính trong một cuộc chiến phi nghĩa do họ phát động, tiến hành đã gây nhiều hận thù trong chiến tranh. Và sau cuộc chiến tiếp tục gây nhiều thù hận vì đã xích hóa nhân dân cả nước dưới chế độ độc tài cộng sản hà khắc, tàn bạo, phi nhân.Trong chế độ này, Việt cộng đã xử dụng “Chuyên chính vô sản” cướp đoạt mọi tài sản của nhân dân Miền Nam (bị miệt thị là “Dân ngụy”), đầy ải, lăng nhục hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tù “Tập trung cải tạo”. Trong khi cha, mẹ, vợ con họ ở nhà bị Việt cộng phân biệt đối xử như những công dân hạng hai, bị bạc đãi, xua đuổi khỏi các thành thị hay các vùng đất mầu mỡ, đẩy đến các vùng kinh tế mới nơi đèo heo hút gió, đồi núi khô cằn hay bùn lầy nước đọng; phải bỏ lại tất cả nhà cửa, đất đai tài sản và các tiện nghi khác nơi các thành thị hay nông thôn, nhường lại tất cả cho giai cấp mới, giai cấp cán bộ đảng viên cộng sản thụ hưởng.
         Không căm hận và thù hận sao được, khi khởi đi từ Tháng Tư Đen 1975, Việt cộng đã đưa cả đất nước và dân tộc  vào một thời kỳ bi thảm và đen tối nhất trong lịch sử cận đại Việt Nam.Bởi vì từ đó, Việt cộng đã phá nát tài sản quốc gia, của nổi cũng như của chìm, nhượng đất, nhượng biển cho ngoại bang, làm băng hoại toàn diện đất nước về vật chất cũng như tinh thần. Những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và nền đạo đức luân lý xã hội cổ truyền đã bị đảo lộn, phá hủy, thay vào đó cái gọi là “Nền đạo đức cộng sản chủ nghĩa hay xã hội chủ nghĩa” vô luân, vô thần. Mọi tôn giáo, tín ngưỡng của người dân đều bị bài bác và tìm cách tiêu diệt qua các hành động chống phá các giáo hội và đàn áp, khủng bố các tín đồ dưới nhiều hình thức tinh vi, thâm độc.Mọi tầng lớp nhân dân bị bác đoạt các dân quyền và nhân quyền cơ bản. Đời sống của quảng đại quần chúng nhân dân bị đói khổ lầm than và sự cách biệt giầu nghèo giữa thiểu số giai cấp thống trị cán bộ đảng viên cộng sản với tuyệt đại đa số nhân dân ngày một sâu sắc. Hệ quả là sau 37 năm cầm quyền, Việt cộng đã làm tan hoang đất nước,lòng người ly tán, hận thù và đói nghèo, di hại toàn diện và lâu dài cho nhiều thế hệ Việt Nam tương lai phải gánh chịu.
      Hận kẻ nội thù Việt cộng là như thế, còn đối với người bạn Hoa Kỳ đồng minh năm xưa thì sao, chúng ta hận gì?
        Tất nhiên là có hận, nhưng mối hận có khác về tính chất và cường độ được diễn đạt bằng ngôn từ “Oán hận” hay “Uất hận”. Nó tương tự như mối hận của một người tình bị phụ bạc sau những năm chăn gối mặn nồng tưởng như chung thủy. Vì sao hận và hận cái gì?
       - Câu trả lời chi tiết thì đã được nhiều người đưa ra,còn câu trả lời tổng quát thì đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu, vị Tổng Thống dân cử cuối cùng nền Đệ nhị chế độ Việt Nam Cộng Hòa đưa ra trong bài diễn văn từ nhiệm ngày 21-4-1975 trước khi kịp “lưu vong”, rằng “Họ đã bỏ rơi chúng tôi.Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Thật vậy, họ đã phản bội chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với một nước đồng minh nhỏ…”. Đây là những lời tố cáo muộn màng của người lãnh đạo cao nhất chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sau 9 năm cầm quyền, chẳng thay đổi được gì, chỉ bầy tỏ nỗi uất hận của cá nhân và cũng là mối uất hận chung của quân, dân, cán chính Việt Nam Cộng Hòa trước sự phản bội của Hoa Kỳ.
       Sự bầy tỏ uất hận trên đây của cố Tổng Thống Thiệu có tính đổ lỗi cho Hoa Kỳ,song vẫn không tránh khỏi mối hận thứ ba của người Việt quốc gia đối với cá nhân Ông Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. Vì chính họ đã là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ chế độ Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30-4-1975, đã tạo tiền đề cho ngoại bang để cho Việt cộng đóng vai kẻ chiến thắng trong cuộc chiến, dù chỉ là chiến thắng giả tạo (Chiến thắng biểu kiến như chúng tôi phân tích trình bầy trong “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”) song thực tế đã để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng, toàn diện và lâu dài cho nhân dân, dân tộc và đất nước Việt Nam như mọi người đã biết.
      Oán hận và uất hận vì với trách nhiệm lãnh đạo, họ đã để mất Miền Nam Việt Nam vào tay Việt  cộng một cách dễ dàng, chóng vánh và hầu hết trong số họ đã kịp cao bay xa chậy di tản ra hải ngoại trước khi chế đô Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử,để lại sau lưng hàng trăm ngàn quân, dân, cán chính cho đối phương Việt cộng hành hạ, xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” nhiều năm sau đó. Nhất là đã đẩy gần 20 triệu nhân dân Miền Nam Tự Do rơi vào ách thống trị cộng sản độc tài và độc ác, cùng chia khổ và bị xích hóa với nhân dân Miền Bắc trong gông cùm của cái gọi là “Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam” kéo dài cho đến hôm nay đã 37 năm qua.
     Trên đây là những mối “Hận người”, còn với “chính mình” thì sao?
     Có lẽ chúng ta cũng phải xét mình để tự “hận mình”, song với tính chất và cường độ có khác, được diễn tả bằng từ “Ân hận”. Tùy vị trí trong xã hội Miền Nam, trong tương quan với cuộc chiến để có “mối ân hận khác nhau”. Ân hận rằng nếu như ngày ấy, ở vị trí ấy mình nên làm thế này, không nên làm thế kia thì có thể đã góp phần xây dựng và củng cố chế độ, chính quyền, quân đội, xã hội ở Miền Nam ngày một vững mạnh, để không thể xẩy ra “Ngày Quốc Hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của một “Tháng Tư Đen”.
    Chặng hạn là người chỉ huy lãnh đạo các cấp chính quyền, quân đội “ân hận” vì đã không quan tâm đúng mức và dồn hết tâm lực cho cuộc chiến chống cộng bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và phần đất Miền Nam tự do. “Ân hận” vì đã lợi dụng vị trí lãnh đạo, chức quyền mua quan bán chức, nuôi dưỡng linh ma lính kiểng để thủ lợi, tham nhũng, đục khoét của công để làm giầu bất chính,tập trung vào các hoạt động hưởng thụ, ăn chơi trong lối sống tương phản với cuộc chiến đấu gian nguy của những người lính tham chiến trực tiếp với Việt cộng và đời sống thiếu thốn của gia đình họ; Ân hận vì đã cấu kết bè phái để tranh danh đoạt lợi, ám hại những người công chính, coi lợi ích cá nhân và phe nhóm cao hơn lợi ích chống cộng,khoán trắng việc chống cộng cho Hoa Kỳ và coi việc chống cộng thắng bại là trách nhiệm của Hoa Kỳ,do Hoa Kỳ hoạch định, tài trợ mọi mặt.
   Chẳng hạn là những thương gia ân hận vì đã chậy theo lợi nhuận, móc ngoặc, mua chuộc hủ hóa các viên chức chính quyền quân sự cũng như dân sự, môi giới buôn bán vũ khí và cung cấp lương thực cho Việt cộng….
   Chẳng hạn, là bậc cha mẹ đã ân hận vì đã tìm cách chậy chọt cho con làm lính ma, lính kiển, được về phục vụ hậu phương xa chiến trường lửa đạn. Là thanh niên ân hận vì đã tìm cách chốn lính khi đến tuổi thi hành nghĩa vụ trai thời loạn.
  Chẳng hạn là những người gốc Việt cộng, hay ngưỡng vọng Việt cộng, hay “Nằm vùng”,ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản” sớm muộn nay đã “phản tỉnh” thì ân hận vì những nhận thúc, hành động sai lầm trong quá khứ làm lợi cho Việt cộng, hại cho Quốc gia ngày ấy….và di hại nghiệm trọng, toàn diện, lâu dài cho đất nước, dân tộc cho đến hôm nay, sau 37 năm Việt cộng thống trị cả nước. và cả sau này chưa biết bao giờ mới khắc phục được.
    2.- Đến đây, chúng ta mang mối “Hận” để làm gì?
         Theo suy luận của chúng tôi, đối với Việt cộng, chúng ta “căm hận” không phải nuôi chí phục thù rửa hận theo kiểu “Răng đền răng, mắt đền mắt” thời Trung Cổ ở Tây Phương; cũng không phải tìm cách diệt đến tên Việt cộng cuối cùng, vì không phù hợp với bản chất nhân đạo và lý tưởng chiến đấu của Việt quốc (mà dù ai đó  có muốn thế cũng không thể làm được).
        Nhưng điều chúng ta có thể, đã và đang làm và chắc chắn làm được để “phục thù” Việt cộng là kiên trì đấu tranh vương đạo như đã kiên trì đấu tranh 37 năm qua nhằm tiêu diệt toàn bộ chế độ độc tài toàn trị Việt cộng  để thiết lập chế độ dân chủ pháp trị đa nguyên tại Việt Nam. Thắng lợi sau cùng này của cuộc đấu tranh  sẽ khẳng định sự tất thắng của chính nghĩa quốc gia và như thế là chúng ta đã rửa được mối “Quốc hận 30-4-1975”
       Đối với người bạn đồng minh Hoa Kỳ năm xưa, nay lại là “Đối tác” làm ăn với Việt cộng, song cũng đang là đồng minh với chúng ta về mục tiêu hiện thực lý tưởng tự do, dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam, mối “oan hận” của chúng ta chỉ nên coi là bài học kinh nghiệm để có cách ứng xử thận trọng và khôn ngoan hơn trong tương lai sao cho có lợi cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam. Đó là bài học kinh nghiệm về tinh thần độc lập tự chủ, sức mạnh đoàn kết và luôn chủ động trong tổ chức, chiến lược, chiến thuật đấu tranh chính trị, ngoại giao, truyền thông, để huy động được sức mạnh nội lực (trong nước) cũng như ngoại lực (quốc tế), nhưng luôn dựa trên sức mình là chính để chống cộng và thắng cộng.
        Đối với những người lãnh đạo có trách nhiệm đã để chế độ Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ, mối hận của chúng ta đến nay sau 37 năm dường như đã được cảm thống và tha thứ phần nào đối với những người còn sống hay đã khuất. Nghĩ lại, trong bối cảnh Miền Nam vào những năm tháng cuối cùng trước khi rơi vào tay Việt cộng, Hoa kỳ với ý đồ bỏ cuộc và cố tình tạo tiền đề thuận lợi cho Việt cộng cưỡng tử Việt Nam Cộng Hòa càng nhanh càng tốt, để khỏi phải dính líu thêm nữa, rút ngắn thời gian đi vào thế chiến lược quốc tế mới, thì cá nhân cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tập đoàn lãnh đạo chính trị cũng như quân sự chính quyền Việt Nam Cộng Hòa lúc đó cũng chẳng làm được gì hơn là trốn chậy để bảo toàn tính mạng, trừ khi họ dám chọn cái chết hào hùng để trở thành anh hùng bất tử như các vị Tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ. Tiếc rằng phần đông họ đã không chọn con đường như vậy, mà đã chọn con đường thà “Sống nhục hơn chết vinh”.Thôi thì công tội của họ xin hãy đề lịch sử mai này phán định công minh.
     Riêng mối hận mình, mỗi người trong chúng ta hãy tự xét mình xem có điều gì “ân hận” về những gì nên làm đã không làm hay không nên làm mà đã làm có lợi hay có hại cho Việt quốc, có lợi cho Việt cộng trong cuộc chiến tranh Quốc- Cộng hôm qua. “Ân hận” để tự rút ra bài học kinh nghiệm vận dụng vào cuộc đấu tranh vì tự do dân chủ cho Quê Mẹ Việt Nam hôm nay, để chỉ nên làm những gì có lợi , tránh làm những gì có hại cho cho sự nghiệp chống cộng vì tự do dân chủ cho đất nước. Có như vậy chúng ta mới rửa được “Quốc hận 30-4-1975”, ngày cuối cùng của “Tháng Tư Đen”,để đưa cất những ngày, tháng, năm này đi vào những trang  lịch sử đen tối nhất của dân tộc, đất nước, mở ra những trang sử mới tươi sáng cho Tổ Quốc Việt Nam.
   Thế nhưng thực tế sau 37 năm mất nước (VNCH),qua các sinh hoạt nơi các cộng đồng Người Việt Quốc Gia nhiều nơi ở hải ngoại, đã có những dấu hiệu đáng buồn và đáng tiếc, là nhiều người vẫn chưa rút được bài học kinh nghiệm của quá khứ. Dường như họ vẫn coi lợi ích cá nhân, bè phái cao hơn lợi ích chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam. Vì lợi ích cá nhân và bè phái, họ đã chống nhau, căm thù nhau có lúc, có nơi cường độ mạnh mẽ hơn cường độ chống cộng rất nhiều.Họ là ai? Là những bạn bè, chiến hữu trong cuộc chiến chống cộng hôm qua, từng bị Việt cộng đầy ải xỉ nhục trong các trại tù “Cải tạo” sau cuộc chiến và từng kề vai sát cánh đấu tranh chống cộng hôm nay.Thế nhưng họ đã quên quá khứ, quên tình bè bạn chiến hữu để “bôi mặt đá nhau”. Miệng họ nói chống cộng, chống cộng mạnh miệng hơn ai hết, nhưng hành động của họ hoàn toàn phản tác dụng. Dường như họ chỉ dùng chống cộng như chiêu bài để có thế chống phá lẫn nhau để thủ thắng? Dường như họ căm thù Việt cộng nhưng không biết cách nào “Phục thù”, nên đã trút căm thù trên bạn bè chiến hữu của mình cho vơi bớt đi niềm hân thù bị dồn nén chất chứa trong lòng?- Đó là những điều nghịch lý, nhưng xem ra lại là một thực tế đã và đang xẩy ra khiến nhiều người Việt quốc nặng lòng với sự nghiệp chung không khỏi lo ngại công cuộc “Rửa hận” , “phục hận” Việt Cộng sau 37 năm, rồi đây sẽ ra sao?- Còn phải mất bao nhiều năm tháng nữa chúng ta mới thành đạt mục tiêu tối hậu này?
Thiện Ý
Houston, 30 tháng 4 năm 2012.



Hàn Giang Trần Lệ Tuyền : Suy tư ngày Quốc Hận lần thứ 38




Suy tư ngày Quốc Hận lần thứ 37


 


Ba mươi bảy năm dài đã trôi qua, ba mươi bảy lần người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đã tưởng niệm ngày Quốc Hận: 30 tháng Tư năm 1975.

Kể từ một ngày tang thương ấy, cho đến hôm nay, mỗi lần nhìn lại những hình ảnh, những đoạn phim chạy giặc, và vượt thoát ngục tù Cộng sản, trên những con đường đầy gian nguy, hàng triệu người đã đánh đổi cả sinh mạng của mình để mưu tìm lấy sự tự do. Những đau thương trùng trùng, chất ngất ấy, mà cho dẫu có gom hết nước của đại dương để pha thành mực viết, và có gom hết tất cả ngôn từ của nhân loại để viết, thì cũng không làm sao có thể diễn đạt cho vừa, với những đớn đau, những cực hình khôn tả, của những nạn nhân đã từng quằn quại dưới những bàn tay sắt máu của đảng Cộng sản Việt Nam. Những nạn nhân ấy, có người đã chết ở trong và ngoài các nhà tù “cải tạo”,  hoặc ở các “vùng kinh tế mới”, hay trên những hành trình trốn chạy Cộng sản.

Ba mươi bảy năm rồi, những hình ảnh đau thương ấy vẫn còn khắc ghi tận trong tâm khảm của những người là nạn nhân trực tiếp, hay đã từng chứng kiến. Do vậy, hằng năm, cứ đến ngày 30/4, thì cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại đều có những cuộc biểu tình và tưởng niệm ngày Quốc Hận, là mối Hận mất Nước: Hận vì đảng Cộng sản Việt Nam, là đảng cầm quyền của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã ngang nhiên vi phạm các hiệp định mà chính họ đã ký kết, như Hiệp định Paris, 1973, về Việt nam, đã dùng vũ lực xua quân cưỡng chiếm đất nước Việt Nam Cộng Hòa; để rồi sau đó, họ đã dùng bạo lực Cộng sản để bỏ tù, hành hạ, khiến cho một số người đã phải bị chết hoặc trở thành tàn phế; đồng thời đã áp đặt sự thống trị lên trên đầu của tất cả người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa.

Và cũng kể từ ngày Quốc Hận 30/4/1975. Ngày mà những đồng bào ở bên kia Vĩ Tuyến, trước khi tìm vào miền Nam để thăm những người thân đã trốn chạy Cộng sản từ sau hiệp định Genève 20/7/1954. Những người này, đã từng gói ghém những chiếc bát, chiếc áo cũ… để cho con, cháu, vì nghe “bác-đảng nói ở miền Nam đói khổ vô cùng”!

Và cũng từ đó, người dân của miền Bắc đã biết được đời sống tự do, no ấm của người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã hiểu được những trò tuyên truyền dối trá của đảng Cộng sản. Nhưng tiếc rằng, họ cũng chẳng biết làm gì hơn, mà chỉ biết phải cùng chung số phận!

Ba mươi bảy năm qua, người ta thường gọi là “chiến tranh đã chấm dứt”. Thế nhưng, tại sao trên quê hương Việt Nam vẫn có hàng ngàn công an, quân đội, mũ giáp, trang bị đầy đủ vũ khí trong lúc xông vào nhà cửa của người dân lương thiện tại Tiên Lãng, tại Văn Giang để đập phá, để đánh hội đồng những người dân hiền lành vô tội, khi trong tay của họ không hề có một vật gì khác ngoài tấm lòng tha thiết để bảo vệ miếng đất, thửa ruộng, mà đã do chính mồ hôi, nước mắt của họ đã đổ ra để khai phá?!

Những thảm cảnh, những oan khiên này đã xẩy ra, và sẽ con tiếp diễn ở bất cứ một nơi nào trên cả ba miền đất nước. Những nhà tù ở khắp nơi, khắp chốn luôn luôn sẵn sàng để nuốt trọn, có thể cho đến chết  những người yêu nước chân chính đã và đang đấu tranh CHỐNG CỘNG THỰC SỰ, để giành lại quê hương, và giải cứu đồng bào thoát vòng nô lệ.

Những hình ảnh hoàn toàn trung thực ấy, đã hiển nhiên, mọi người đều biết; đặc biệt là những người Việt tỵ nạn tại hải ngoài lại càng thấy, biết một cách rất rõ ràng hơn qua các trang mạng thông tin toàn cầu.

Thế nhưng, tại sao, mỗi năm đều có những người đã từng vỗ ngực, tự xưng mình là “chống cộng - đấu tranh”; song họ chẳng thiếu được những tháng ngày rong chơi, “du lịch”, để làm những “Việt kiều”, để sống vui chơi trên những mảnh đời đau khổ, nhục nhằn của đồng bào khốn khổ tại Việt Nam?!

Không một ai có thể phủ nhận rằng, trở về Quê Hương là những ước mơ luôn luôn ấp ủ trong mọi trái tim của những con dân nước Việt đang sống đời tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại. Ai cũng nhớ người thân, bằng hữu, cũng thương Quê Hương cả. Nhưng ngày trở về như thế nào, để thấy lòng mình thanh thản, để không bị người đời khinh rẻ, là những điều cần phải nghĩ tới, phải cân nhắc trước sau.

Riêng người viết bài này, kể từ phút giây nhìn thấy dãy Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng,  dần dần mờ xa theo những dòng nước mắt, rồi khuất hẳn khi con thuyền tách bến ra khơi, thì người viết đã đổ gục ngay xuống lòng thuyền, không thốt nổi nửa lời, vì biết mình đã thực sự rời xa đất nước thân yêu!!!

Kể từ giây phút ấy, cho đến tận bây giờ, trong tâm của mình không hề nguôi nỗi nhớ Quê Hương. Người viết đã thương và nhớ đến từng viên sỏi, từng ngọn cỏ của quê Hương. Có những đêm về trong những giấc mơ, người viết vẫn thấy từng khung góc ô kẻ của từng bậc tam cấp của con ngõ dài lát đá xanh của căn nhà xưa cũ; người viết luôn nhớ  đến khóm trúc ở góc nhà, nhớ cả cây Thiên Mộc Lan, mà ngày xưa còn bé, là nơi mình thường ngồi tựa vào để nhìn những đàn bướm đủ sắc mầu, thường  bay về tìm đậu trên các cành hoa Quy Điệp!!!

NHƯNG, tất cả những nỗi nhớ ấy, không làm sao khiến cho người viết có thể trở về khi những đồng bào ruột thịt của mình vẫn còn sống trong đau khổ; mà người viết đã tâm nguyện rằng, sẽ trở về khi trên Quê Hương Việt Nam đã không còn bóng cộng thù như một bài hát: Anh vẫn mơ một ngày về,  như sau đây:

Anh vẫn mơ một ngày nào
quê dấu yêu không còn cộng thù
Trên con đường mòn, sau cơn mưa chiều,
Anh ôm đàn dìu em đi dưới trăng.

Ta đứng yên nghe rừng thì thầm.
Ta ngước trông sao trời thật gần.
Anh ôm cây đàn,
Anh buông tơ trầm.
Em ca bài mừng Quê Hương Thanh Bình.

Rồi bình minh tới anh đưa em về làng
Này bà con đón kìa anh em chào mừng
Thôn quê tưng bừng,
Muôn chim reo hò hát mừng người
vừa về sau chiến chinh.

Rồi hoàng hôn xuống ta say men rượu nồng
Họ hàng trong xóm thay nhau nhen lửa hồng
Sương giăng mịt mùng
Đêm sâu chập chùng xóa ngục tù xiềng gông bao năm.

Anh vẫn mơ một ngày nào anh với em chung tình bạc đầu.
Trên quê hương nghèo. Trong khu rừng già.
Trước mái nhà Cờ Vàng bay phất phơ.

Bên mái hiên ta ngồi chuyện trò.
Khoai nướng thơm hương tình ruộng đồng.
Con thơ ngoan hiền ê a đánh vần
“Vê en-Nờ” là Việt Nam kiêu hùng.

Rồi ngày con lớn con ca vang tình người
Hòa bình no ấm con ca vang tình đời
Thay cho Cha già
Suốt cuộc đời hòa lời ca đấu tranh.

Rồi ngày con lớn con đi xây cuộc đời
Màu Cờ Tổ Quốc con tô thêm rạng ngời
Quê Hương Thanh Bình
Muôn dân yên lành sống cuộc đời tự do muôn năm!!!

Ước mơ là như vậy, nhưng đáng buồn thay! bởi vì, cho đến hôm nay, ba mươi bảy năm dài đã trôi qua, mà con đường quang phục quê hương xem chừng vẫn còn đang mịt mờ, vẫn chưa thấy được một giải pháp nào hầu có thể rút ngắn con đường cứu nước, cứu dân đang trong cơn hoạn nạn tại quê nhà.

Và đó, là những điều đã khiến cho không phải riêng ai, mà chắc của nhiều người, khi nhìn thấy từng ngày những cảnh của công an Cộng sản lại càng tăng thêm những cuộc đàn áp vô cùng bạo ngược đối với đồng bào ruột thịt của chúng ta, là những nạn nhân trực tiếp, hiện đang phải sống dưới ách thống trị của đảng Cộng sản Việt Nam.

Chính vì những lẽ ấy, mà người viết cứ thầm nghĩ rằng: Ba mươi bảy năm qua rồi, chúng ta “không thể ngồi yên, khi nước Việt đang ngả nghiêng, dân tộc ta sắp phải đắm chìm…”; chúng ta không thể chỉ có những bài viết, những vần thơ than mây khóc gió, kể lể những nỗi khổ đau, những nỗi nhung nhớ mãi, mà  “phải đứng lên tự cứu”. Vì chính ngày nào đảng Cộng sản Việt Nam còn cướp và nắm giữ quyền cai trị đất nước trong tay, thì mối Hận ngày càng thêm chồng chất!!!

Không! Chúng ta phải biến đau thương thành những hành động thực tiễn; chúng ta những người Việt Nam đang sống đời tỵ nạn Cộng sản tại hải ngoại, hãy cùng nhau hướng về Quê Hương, để hỗ trợ cho những cuộc đấu tranh của đồng bào tại quốc nội, là khối lực lượng đang đối đầu trực tiếp với bạo quyền cộng sản Hà Nội, để xóa sạch cho đến tận gốc rễ của những nguyên nhân gây nên những tội ác và bất công, đó là đảng Cộng sản Việt Nam.

Pháp quốc, 30/4/2012
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

 http://hon-viet.co.uk/HanGiangTranLeTuyen_SuyTuNgayQuocHanLanThu37.htm




Chủ Đề Mùa Quốc Hận : NHỚ NGƯỜI Ở LẠI NƠI "ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN"

NHÂN THÁNG TƯ ĐEN, NHỚ NGƯỜI Ở LẠI NƠI "ĐỊA NGỤC TRẦN GIAN"


Nhân mùa đau thương Quốc hận 2013, quí vị đã nghe "Đêm Chôn Dầu Vượt Biển" và "Mưa trên đảo Air Rayavới dòng lệ theo nỗi lòng người vượt biển rađi tìm tự do trong thân phận lưu vong vọng cố hương.
Vậy còn những người ở lại? Trước hết là nhớ lại những người tù  quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa sau 30 tháng 4 năm 1975 để trả lời tiếp đạo diễn phim được "Đặt hàng" Lê Phong Lan. 
 Lê Phong Lan và Trung ương đảng CSVN hãy đọc lại xem Lê Đức Thọ đã đặt bút ký gì trong Hiệp ước Paris? Có phải là  sau khi Mỹ rút quân đi, ngưng bắn, còn lại  hai bên chính phủ miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa và chính phủ Lâm thời Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ngồi lại thương lượng để có cuộc bầu cử tự do cho dân miền Nam tự chọn thể chế họ muốn? Bầu cử phải có Quốc Tế giám sát. Trong khi chờ đợi, hai bên không được trả thù trả oán nhau, không được xâm phạm tính mạng và tài sản nhau??

 Nhưng chỉ chưa tròn một tháng sau 30 tháng 4 năm 1975, tức chỉ trong tháng 5 năm 1975, Ủy Ban Quân Quản Saigon-Gia Định ra lệnh quân, cán, chính VNCH trình diện "Tập trung cải tạo" v.v. Sự thật cũng có thả về một số để Thủ tướng Phạm Văn Đồng sang Pháp tuyên bố thả hết tù rồi. Nhưng hãy nghe đây:

Một nhân chứng sống tả rằng ông bị lùa vào nhà tù Phan Đăng Lưu bên hông chợ Bà Chiểu, Gia Định năm 1976 --nơi mùa Giáng sinh năm 2011 Đảng cũng đã giam người nhạc sĩ trẻ Việt Khang vì anh là tác giả bài "Việt Nam Tôi Đâu?" và "Anh Là Ai?"--

Người tù năm 1976 bị bắt cũng với  hơn trăm người gồm đủ bộ môn văn nghệ Miền Nam (Văn, Thơ, Báo chí, Nhạc, Kịch, đạo diễn điện ảnh, đạo diễn Cải lương có đôi chút tên tuổi) bị  quy kết tội “có nợ máu nhân dân” và “chống cộng ở thượng tầng kiến trúc” bị giữ lại. Đây là những “tội” có thể đưa tới tử hình. Sau hai năm tra vấn hỏi cung xong, họ đưa lên trại Gia Trung (xứ sương mù Pleiku) nằm trong khu rừng già, nghe nói trước đây là mật khu của Việt cộng, để lao động khổ sai.

"Tội" của ông là "Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam",  vì ngoài Bắc chức vụ này “to” lắm, do đảng chỉ định và quyền hạn cũng như quyền lợi ngang bộ trưởng.

Tù nhân nầy tương đương với "Cai Văn Nghệ" Tố Hữu tuyệt đối trung thành với Hồ Chí Minh. Nên sau được làm ..Bộ trưởng Kinh Tế nên Cựu Đại tá Bùi Tín nói XHCN bổ nhiệm "Nhà thơ thì làm kinh tế,
Còn Thống Chế --Võ Nguyên Giáp--thì đi đặt vòng"!

Đó là chánh sách của thượng lưu trí tuệ loài vượn được cựu Đại tá Cộng Sản Bùi Tín kể.

Còn nhân chứng sống là ông Thanh Thương Hoàng,  bị tù trên 10 năm vì tội làm Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, sau còn thêm chức "Phó Chủ tịch Hội đồng Báo chí Việt Nam" mà VC coi "oai" tương đương với Tố Hữu cũng kể rằng trong thời gian “nằm” biệt giam  cũng có vài việc để nhớ về:

1. "Chính sách Nhà nước” để đời!

Thanh Thương Hoàng: Cứ mỗi tháng tù biệt giam được cho ra ngoài cắt tóc. Bọn “thế nhân” chúng tôi tất cả đều bị “gọt” trọc đầu, kể cả vị Linh mục, nhưng với hai vị Thượng Tọa Thích Huyền Quang và Thích Quảng Độ thì cai tù lại bắt để tóc. Hai cụ phản đối, cai tù thản nhiên:
“Đó là chính sách Nhà nước!”.

2. Đói đến phải ăn... phân

Phần đông trong trại tù Cộng sản, nhiều tù nhân kể rằng ai cũng ăn bất cứ con gì bắt được: bọ xít, chuột cống, kỳ nhông, rắn, rít, v.v. miễn có chút chất Protein cho đở đói. Nghe nguy hiểm, ghê gớm quá! Thanh Thương Hoàng có số may, vì phòng biệt giam hết chỗ nhưng cũng nghe bạn tù kể lại đầy đủ.

Thanh Thương Hoàng chứng kiến thêm chuyện chánh sách Đảng cho "ăn cứt" rất... dễ dàng, giản dị để ..sống!

Nguyên do thế này. Trong vườn ươm giống của đội trồng rau có một dàn dưa chuột. Khi dưa mới kết trái to hơn ngón tay đã bị tù (và cả cai tù) hái trộm ăn hết nên ban giám thị trại tù ra lệnh lấy phân tươi của người hòa với nước rồi hàng ngày quết vào những trái dưa chuột cho hết bị trộm. Nhưng tù vẫn hái trộm ăn sau khi rửa sơ qua. Thế là lần thứ nhất tôi ăn phân người.

Lần thứ hai thì chính do tôi (và mấy ông bạn) chủ động ăn phân người. Tôi và mấy “đồng sự” được “bố trí” dọn phân cầu tiêu các phòng giam. Một số anh em tù hình sự ra ngoài đồng làm việc đã hái và ăn tươi nuốt sống các trái bắp. Vì ăn trộm nên không kịp nhai (sợ cai tù thấy) các bạn tù hình sự cứ thế mà nuốt. Bắp già hạt cứng dạ dầy không tiêu nổi, hôm sau đi cầu ra nguyên cả hạt. Chúng tôi lúc đầu còn sợ bẩn sợ hôi và bệnh nhưng sau khi sôi nổi “bàn thảo”, chúng tôi đi tới việc lấy những hạt bắp này đem ra suối rửa, luộc hai ba lần cho hết mùi hôi rồi ăn một cách ngon lành thoải mái! Nhiều bạn tù biết chuyện cũng xin ăn ké.

3. Tù nhân 10 tuổi "Lon xon chẳng mặc quần"

Đây là bài thơ ngục sĩ 27 năm tù ở Bắc Việt của nhà thơ Nguyễn Chí Thiện diễn tả. Khi đất nước "Thống nhất" chính nhà tù miền Nam cũng dùng chung chính sách sau 1975

Thanh Thương Hoàng kể: Còn một chuyện nhỏ nữa mà tôi cũng khó quên. Tôi vốn bị quy kết “học tập cải tạo” xấu, tư tưởng không ổn định và trây lười lao động nên thường xuyên bị ăn 13 ký một tháng (5 ký gạo, 8 ký khoai mì – nhưng bọn cai tù và bọn nhà bếp đồng lõa ăn chặn mất 2 ký gạo nên chỉ còn 3 ký).

Trong 7 năm sống ở trại Gia Trung tôi được gia đình “thăm nuôi” có 3 lần.
Đáng nhớ nhất là lần 2 con tôi (còn vị thành niên: một trai 15 tuổi và một gái 13 tuổi) đi xe đò hơn ngàn cây số lên thăm Bố với gói quà khoảng 10 ký. Khi đến cây số 25 (quốc lộ 18) thì xuống xe, lúc đó là 2 giờ đêm. Trời rất lạnh lại ở chốn rừng thưa hoang vắng không biết đường vào trại, hai anh em phải ngồi dựa lưng vào nhau chờ sáng trong lòng vừa sợ vừa lo mọi thứ, nhất là với thú dữ và kẻ cướp. (Hết trích)

Những người may mắn ra đi sớm, chưa ngày nào sống với Cộng sán không thể nào hiểu nỗi những người ở lại trong nhà tù lớn XHCN khổ sở thế nào để ép mình trong xe hoặc đeo tòn teng ngoài xe đò miễn được một chuyến đi thăm nuôi người trong nhà tù nhỏ? Thường bị đổ xuống bìa rừng 2 giờ sáng. Những phụ nữ, trẻ em phải làm con sâu đo để mang được quà vào trại tù nuôi chồng, nuôi cha. nhiều nạn nhân đã bị thú dữ và cướp hiếp dâm trên đường tiếp tế giữa hai nhà tù Lớn, Nhỏ của “tầng chót địa ngục trần gian” Xã hội Chũ nghĩa Việt Nam!

4. Hết "được" ăn phân nhờ ánh sáng lóe lên từ cuối đường hầm mù mịt.

Là nhờ những người ra đi không quên người ở lại, họ họp thành những tổ chức Hội Phụ Nữ, Hội tù nhân Lương tâm và Chính trị, Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, tham gia Văn Bút Quốc Tế.. v.v.. Họ tận dụng truyền thông Mỹ như  đài VOA, can thiệp với chính phủ Hoa Kỳ như Jimmy Carter, Roanald Reagan.. v.v. để có chương trình H.O....

Thanh Thương Hoàng: Tôi được “ấm bụng” (nhờ ăn cứt) ít ngày thì bị “ngưng công tác” (vì tin đài VOA?). Đó là hai dấu ấn khủng khiếp trong trại tù cho tới ngày hôm nay, mỗi khi nghĩ tới tôi vẫn không khỏi rùng mình tự hỏi không hiểu sao mình lại có thể “ghê gớm” đến thế!.(Hết trích)

Quí vị sẽ tìm gặp những tên "Có nợ máu với nhân dân" quen thuộc thời ấy của miền Nam mà chắc đạo diễn "đặt hàng" Lê Phong Lan không hề biết như Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ, Nhà báo Hồ Văn Đồng, Nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, Nhà Văn Nhà báo (nguyên dân biểu) Hồ Hữu Tường, nhà văn Duyên Anh;  những tù nhân trong vụ nhà thờ Vinh Sơn, như “tướng phục quốc Nguyễn Việt Hưng”, Luật sư Nguyễn Khắc Chính;  Ngô Công Minh, ông Tống Đình Bắc; Tiến sĩ Mai Văn Lễ (cựu Khoa trưởng Khoa Luật đại học Huế), thạc sĩ Giáo sư trường Luật Sàigòn Vũ Quốc Thông, LM Hoàng Quỳnh khu Bùi Chu Phát Diệm  v.v

Cựu Chủ tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam Thanh Thương Hoàng: đi theo diện H.O, hiện ở miền Bắc California.

Đây là chuyện thật của những người đã “Chết trong cõi sống” có tên trên đây.

Mời quí vị, nhất là Lê Phong Lan và Trung ương đảng CSVN nghe nhân chứng sống Thanh Thương Hoàng kể chuyện lịch sử trung thực của "Địa ngục trần gian"  XHCNVN.

 Nguyễn Việt Nữ

(Mùa Quốc hận 2013)

BRISBANE 2013:TÔI THƯƠNG MÀU CỜ


TÔI THƯƠNG MÀU CỜ : DIỄN HÀNH ANZAC DAY BRISBANE 2013!

Người Tây phương thường có câu “And they keep the best to last”, có thể dịch ra là “Và họ đã để dành điều tốt đẹp nhứt đến lúc sau cùng”.
Tỉ dụ như trong một chương trình văn nghệ, tiết mục hấp dẫn nhứt được trình diễn sau chót. Khi thuật lại một mẩu chuyện, người ta để dành tình tiết ly kỳ nhứt, éo le nhứt cho câu kết.
Sáng hôm nay cũng vậy. Cuộc diễn hành ANZAC DAY ở Brisbane đã chấm dứt một cách ngoạn mục với phái đoàn của Hội Cựu Quân Nhân QLVNCH tiểu bang Qld.
Tôi không nhớ hết đã có bao nhiêu phái đoàn khác đã tham dự. Bắt đầu với 2 phản lực cơ chiến đấu xé tan không khí yên tĩnh của bầu trời mủa Thu thành phố nắng ấm này. Rồi sau đó là các đơn vị chiến đấu của Úc. Từ hiện tại. Tiểu đoàn 4. Tiểu đoàn 5. Đi trở lui về quá khứ. Các cựu chiến binh Úc đã tham chiến trong ở Mã Lai, Borneo. Đại Hàn, Việt Nam. Và dỉ nhiên không thể thiếu những “diggers” trở về sau Đệ Nhị Thế chiến, vài người bây giờ phải ngồi trên các chiếc xe jeep nhà binh.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Rồi các chiếc xe thiết giáp. Các đội kỵ mã. Các đơn vị của cảnh sát. Và các chiến bịnh đại diện cho các quân đội đồng minh như Anh quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Hy Lạp v.v… Và dỉ nhiên phải nói đến các đoàn nhạc diễn hành, quân sự cũng như dân sự, được xếp xen kẻ vào giữa để gia tăng phần rộn ràng cho cuộc diễn hành.
Nhưng với tôi. Có thể – không, chắc chắn thì đúng hơn – tôi đang rất thiên vị. Với tôi, phái đoàn Việt Nam, tuy đi sau cùng vì xếp theo thứ tự ABC, phải là đoàn rực rỡ nhứt và được nhiều tiếng vỗ tay hoan nghênh nhứt.
11 thiếu nữ xinh đẹp, tha thướt trong 11 chiếc áo dài với vương miện trên đầu.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Hai tà áo màu cam đi trước đã “bắt mắt” người xem ngay lập tức. Một phụ nữ đồng hương đứng bên cạnh đã nhận xét
Ai chọn màu cam này hay quá ! Nếu màu đỏ thì lại không hay. Phải màu cam như vậy mới hợp với cái sash quốc kỳ vàng ba sọc đỏ”.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Rồi đi sau 3 vị chỉ huy là 8 cô gái Việt Nam khác, 4 với áo dài quốc kỳ VNCH, 4 với áo dài quốc kỳ Úc, đi xen kẻ nhau thành hai hàng, người mặc áo có cờ VNCH thì tay mang quốc kỳ Úc, và ngược lại, người mặc áo cờ Úc thì tay cầm cờ VNCH.
Một điểm nữa đáng chú ý là 2 trong số 4 chiếc áo dài cờ VN, ba sọc đỏ được uốn cong thành hình chữ S.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Kỳ lạ lắm. Không giải thích được. Cứ mỗi lần nhìn thấy lá cờ vàng 3 sọc đò là một cảm giác ngất ngây lại dấy lên.
Em nhớ màu cờ. Ngày nào quấn xác thân anh… Em nhớ ngày nào. Màu cờ vàng như hồn xác anh linh. Lũ Cộng thay vào bằng ngọn cờ toàn màu máu tanh hôi…”. Một anh bạn lúc nảy vừa nhắc đền bản nhạc “Em Nhớ Màu Cờ” của Nguyệt Ánh.
Buộc mình phải nhớ đến bao nhiêu máu xương đã gởi vào đó. Như một lời nhắc nhở đừng bao giờ phụ ước với đất cũ, quê xưa. Da thịt lại gợn lên. Với niềm tự hào dân tộc.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Không hãnh diện sao được ! Không tự hào sao được ? Quê hương tôi là đây ! Dân tộc tôi là đây ! Các em đang giới thiệu nước Việt Nam, một nuớc Việt Nam của thời còn được độc lập, còn được tự do với người bản xứ.
Mà cũng phải khen ai khéo chọn 11 thiếu nữ này. Chẳng những đồng trang lứa mà còn có vóc dáng cân đồng nên khi cùng đi chung đã tạo nên một hình ảnh tươi mát, dễ thương.
Nói đến các thiếu nữ Việt Nam mà không nói đến 4 em gái hướng đạo Úc (Girls Guide) đi trong toán dẫn đầu với các quốc kỳ Úc Việt, cũng như bé Trúc bận đồ phi hành đi cùng với cha trong đoàn diễn hành thì quả là một điều thiếu sót. Tất cả đã tạo thành nét sinh động đặc biệt cho phái đoàn chúng ta trong buổi lễ hôm nay.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Nhưng dỉ nhiên, ngày hôm nay là ngày của các anh, những người đã một thời khoác áo chiến binh. Một năm hai ngày, ANZAC Day và Long Tân Day, các anh gặp nhau giữa lòng phố chính Brisbane, hàn huyên, tay bắt mặt mừng, cùng nhớ lại những giai đoạn hào hùng trong quá khứ.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Như những câu tâm sự:
“ Mày khỏe không ?”
“Còn ra đây được để đi chung với anh em là mày biết, tao cũng chưa đến nỗi nào !”.
Phải biết người trả lời là một cựu sĩ quan Không quân đã chia sẻ với người viết bài “Còn 2 năm nữa, anh 80 tuổi rồi chứ ít đâu Việt!” thì mới hiểu được sự mừng vui khi bạn bè cũ, chiến hữu ngày xưa nay thỉnh thoảng lại gặp được nhau.
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Trong ánh mắt của mỗi người. Trong tiếng cười của mỗi anh. Tôi thấy dường như vẫn còn vương vấn đôi chút ngậm ngùi. Về một dĩ vảng của gần 40 năm về trước.
Nhưng chỉ thoáng qua thôi. Rồi các anh lại vui vẻ chuyện trò với nhau. Có lẽ bởi vì các anh hiểu rằng chính nhờ những chiến tích, những hy sinh mà các anh đã dành cho tổ quốc, cho quê hương, mới có nên các thế hệ thứ hai, thế hệ thứ ba mà ngày hôm nay, đang cùng với các anh đi trên đường phố Brisbane, dưới màu cờ thân yêu, giữa sự cổ võ nồng nhiệt của dân chúng địa phương và trong niềm hãnh diện vô cùng của những người Việt quốc gia như chúng tôi….
VLUU L100, M100  / Samsung L100, M100
Gần 1 giờ trưa rồi. Nắng đẹp. Bầu trời xanh, chỉ có vài cụm mây cumulus lãng đãng. Người Úc đang mời các em áo dài đứng lên bực thềm của Sở Bưu Điện Trung Ưong dể chụp hình lưu niệm. Các anh em đang thu góp cờ và biểu ngữ để mang về. Cùng nhau trở lại bến xe bus để bắt xe về lại trụ sở,
Đúng lúc đó, một message của một người bạn Úc xuất hiện trên mobile phone của người viết bài: “ Beautiful day 4 the parade eh? Just watched the Vietvet group. Girls r so pretty. U guys r MAGINFICENT”.
Trong lòng tự dưng có một niềm vui !
HƯNG VIỆT (Brisbane)
25/04/2013

http://hungvietbrisbane.wordpress.com/2013/04/26/toi-thuong-mau-co-dien-hanh-anzac-day-brisbane-2013/

Tháng Tư Đen 2012 : Kính thưa người Cha già VNCH Thân Yêu

Những giờ phút cuối cùng tại Đơn Vị của con

Thưa quý vị,

http://www.trunghocnguyenbatong.com/tranghe_2011/background/3_2.jpgKính thưa người Cha già VNCH thân yêu & đáng kính, Ngô Đình Diệm,

Khi cha bị giết, con của cha mới 14 tuổi và đang học tại một trường Dòng ở Thủ Đức. Con lớn lên và trưởng thành, khi các người anh của con "thay cha" để lo việc nước ....

Xin tâm sự với Cha về "Những giờ phút cuối cùng tại Đơn Vị của con".  

Khi nghe một vài bạn đi phép hay "dù" về thăm gia đình không trở lại đơn vị thì con thương cảm cho bạn mình; vì sẽ bị cấp trên phạt "trọng cấm". (Sau này, con mới biết, họ có thân nhân làm cho cơ quan Mỹ và được Mỹ cho đi.) Những tin đồn, và nhìn người này người kia mang gia đình vợ con ... Có lẽ vì còn độc thân không vướng bận, con chẳng nghĩ xa xôi, hay soi mói tìm tòi, và chỉ làm nhiệm vụ hằng ngày. Sau khi rời Hải Đội 4 Duyên Phòng, con chuyển về Bộ Tư Lệnh Lực Lượng Trung Ương (BTL/LL/TƯ), Bộ Chỉ Huy đóng ở Cát Lái, Saigon. Vài tháng sau BTL/LL/TƯ di chuyển về Đồng Tâm, Mỹ Tho. Tại đơn vị mới, con nhận nhiệm vụ làm Phụ Tá Chánh Văn Phòng Tư Lệnh (TL), sau đó là Chánh Văn Phòng Tư Lệnh Phó, và chuyển qua làm sĩ quan Hành Quân của Lực Lượng Đặc Nhiệm 214 (LLĐN214), thay vì sĩ quan Tham Mưu. Vụ tham nhũng "còi hụ Long An" xảy ra, con nhận thủ bút của TL để đảm nhiệm "quyền" Trung Tâm Trưởng tức Trưởng Phòng Trung Tâm Hành Quân của LLĐN. Vài tháng sau con nhận công điện bổ nhiệm chính thức, Trung Tâm Trưởng Trung Tâm Hành Quân LLĐN 214, cấp số Thiếu Tá. Con vùi đầu làm việc trong Phòng Hành Quân của một đại đơn vị như một người con "cưng".... Và để đáp ứng lời kêu gọi từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân Saigon thành lập "Lực Lượng Đặc Biệt", đơn vị cũng lập một danh sách, và con đã ghi danh.

Ngày 21/4/1975, lãnh luơng xong, trả tiền cơm "ghi sổ"  khoảng 10,000 đồng, con về Saigon vài tiếng đồng hồ đưa số tiền còn lại cho mẹ, và trở lại đơn vị chiều ngày hôm đó. Thật là may mắn cho con! Ngày hôm sau Quốc Lộ 4 bị "cắt"....

Buổi chiều 29 tháng 4, Tùy Viên của Tư Lệnh (TL), người bạn cùng khóa, xuống gọi lên trình diện TL T. để nhận lệnh. Con mặc vội bộ quân phục và vào tư thất TL thì thấy TLPhó A., các Trưởng Phòng, Đơn Vị Trưởng .... TL T. nói với con là túc trực tại Trung Tâm Hành Quân theo dõi một chiến hạm sông đang trên đường từ Cần Thơ trên sông Tiền Giang đi ngang qua .... để "đón". Con rời Tư Thất TL, Tr/Úy H., Phòng Hai, chặn lại hỏi. Con không nói chỉ đi thẳng vào phòng Hành Quân.

Trung Tâm Hành Quân có điện thoại "Hot Line", và TL T. muốn tôi "connect" với TL Th. để hai vị TL nói chuyện trên "hotline". Con không về phòng ngủ sĩ quan kể từ lúc đó.  Người thủy thủ tập sự trẻ tên S. về phòng lấy quân trang cho con. Con nghĩ trong đầu, chắc đây là một sự di tản chiến thuật! Hơn nữa con sẽ đi đâu? Quốc gia nào lại đón những thằng lính như con kể cả Hoa Kỳ. Lúc đó con chỉ nghĩ, rời đi với cấp Chỉ Huy là một thượng sách.

Chiến hạm "sông" từ Tịnh Biên xuống không ghé Đồng Tâm như đã dự định. TL T. quyết định rời Đồng Tâm vào nửa đêm trên 1 Landing Craft Monitor (LCM) được hộ tống bởi một khinh tốc đĩnh đi đầu và một "monitor command" trên có trang bị trọng pháo 105 ly đi sau. Trên đường đi, con liên lạc với 5 Liên Đoàn Đặc Nhiệm (LĐĐN) dưới quyền và thông báo, "'mặt trời' trao quyền cho Chỉ Huy Trưởng tùy nghi quyết định". Chiếc LCM chở nhóm người trong đó có con qua Mỹ Tho, một PCR tuần tiễu của Căn Cứ Hải Quân Mỹ Tho, lướt tới và chạy song song, trên có Tr. Úy A.. Tôi và Tr. Úy A. trao đổi ít lời trên máy vô tuyến điện ... ra đến cửa biển thì hai chiến đĩnh hô tống được đánh chìm; chiếc LCM tiếp tục ra xa, và gặp đoàn tầu của Hải Quân VNCH đang ở ngoài khơi. Chiếc LCM cặp vào HQ500 thì lệnh của HQ500 là bỏ lại súng ống hay ném xuống biển ... Chiếc LCM bị đánh chìm khi người cuối cùng leo lên. 

Đoàn tầu của HQ/VNCH đang vận hành "thả trôi" ngoài khơi chờ lệnh từ Saigon. Tổng Thống (?) Dương Văn Minh, một trong những người anh "thay cha" lo việc nước sau ngày Cách Mạng 1/11, dưới áp lực của kẻ cướp nước, bị còng tay, áp giải đến đài phát thanh để đọc bản văn "đầu hàng" đã được kẻ "cướp nước" soạn sẵn. Người dân Miền Nam VN chẳng thấy TÔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH trước và sau đó vài ngày...Kẻ thì đào tẩu; người thì không còn chút khí phách, như cái máy đọc lệnh "đầu hàng" được kẻ cướp nước soạn sẵn.  Lá Cờ Vàng trên HQ500 được hạ xuống. Đoàn tầu "HQ/VNCH" hướng về cảng Subic Bay Phi Luật Tân. 

Tầu đến Subic Bay, đoàn người trên tầu xuống, xếp hàng, và mỗi người nhận được 2 bộ đồ dân sự, một cục xà bông ....từ Cơ Quan Thiện Nguyện American Red Cross. Con cố giữ lại bộ quân phục đã bạc mầu và chiếc lon đã ngả mầu đen để làm kỷ niệm. Trong bóp ví của con lúc đó là thẻ căn cước quân nhân, Quân Tiếp Vụ .... và 50 đồng tiền giấy VN. 

Thưa Cha Già VNCH đáng kính,

Con trở thành người lưu vong tỵ nạn nơi xứ người như đứa trẻ mồ côi không cha mẹ, không nhà cửa, và cuộc đời bắt đầu bằng con số KHÔNG! 

Cha ơi! Xin phù hộ đứa con yêu của cha sống với hùng khí của vị cha già VNCH (*).

Đặng Bảo
30-4-2012

---------
Bạn còn nhớ Z30D không.?



11. GHÉ THĂM MỘ TÙ CẢI TẠO
Đi lao động - qua đây
Tao ghé thăm mộ mầy                   
Mùa Xuân Tù đang đến                       
Cúng mầy chút gừng cay
                    
Bây giờ mầy thảnh thơi
Không còn tên Cải Tạo
Không còn tên bất mãn
Đời Tù mầy lên ngôi
Mầy nằm chốn nầy đây
Được nghe lời chim hót
Được nhìn tảng mây bay
Hương hoa rừng thơm ngát
Nếu mầy có linh thiêng
Báo cho vợ mầy biết:
Bằng mọi cách vượt biên
Ra đi - tìm sự Sống.!
Cúng mầy một chút gừng cay
Nước khe thay rượi cho mầy vui Xuân
Nếu mầy có chút linh năng
Hãy về vặn cổ mấy thằng ăng-tên
12. THỰC PHẨM PHỤ TRỘI
Bất cứ con gì - ta cũng xơi
Chỉ trừ duy nhất con Trùn thôi
Thằn lằn - Rắn rết - cùng Châu chấu
Bọ cọp - Kỳ nhông - lẫn Chuột hôi
Rể củ - Nấm rừng - ăn lót dạ
Nước ao, Khe suối - uống cầm hơi
Nếu ai có hỏi: - Sao ta sống.?
Ta vẫn lặng thinh - Ta mỉm cười.!
13. MIẾNG THỊT ĐẦU XUÂN
Một tin mừng phấn khởi
Anh em Tù hồ hỡi
Xuân nầy có thịt Heo
Gia tăng phần phụ trội
Hoan hơ miếng thịt luộc
Phân chia rất kỹ thuật.!?
Mỗi phần bằng lóng tay
Nhận lãnh theo quy luật
Tôi bốc thăm số Một
Được miếng Mỡ ngon nhất
Tôi sung sướng run người
Hơn cả thấy Chúa Phật
Tơi ngậm hoài miếng Mỡ
Tìm cảm giác hân hoan
Của người Tù cải tạo
Dưới chế độ dã man
Ôi miếng thịt đầu Xuân
Như miếng mồi - kẻ ác
Bố thí - đám Tù nhân
Để đề cao Đảng Bác
14. SỰ THẬT
Nghe đâu - Vợ cải tạo
Chung tiền mua con Heo
Mang lên cúng tụi nó
Để chúng mình hưởng theo
Cám ơn Vợ thủy chung
Thể hiện tình cao cả.!
Miếng thịt Xuân dù nhỏ
Nước mắt Tù rưng rưng
15. NẤM RỪNG
Trời mưa - Cải Tạo mừng
Nếu được đi vào rừng
(Dĩ nhiên đi lao động)
Lòng phấn khởi hân hoan
Tại sao mừng quá vậy?
Là thời cơ trốn trại
Vì Rừng và Trời mưa
Là mục tiêu khó thấy
                                                                                                                                  
Chỉ đúng một phần thôi
Phần sau mới quan trọng
Là làm sao để SỐNG
Tìm NẤM để mà xơi
Vì Nấm là chất thịt
Vì Nấm là chất rau
Anh em Tù dư biết
Nếu Rủi.. buồn chung đau
Một hôm - Anh bạn tôi
Rất hân hoan vì Nấm
Ăn xong - Anh tái nạm
Thoát tù - Anh đi thôi!
16. MẦY VÀ TAO
Mầy Tao cùng ước nguyện
Ra tù - sẽ vượt biên
Bây giờ - Mầy đã chết
Còn Tao - buồn cô miên.!?
VÔ TÌNH
Tù Z30D

Bài Xem Nhiều