We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 1 May 2013

Chết Để Con Được Học: Thiên đường của giai cấp vô sản

Chết Để Con Được Học!
 
Di ảnh chị Nhân cùng lá thư tuyệt mệnh.
Di ảnh chị Nhân cùng lá thư tuyệt mệnh.Cô Tư Sài GònChết để con được học. Tựa đề bi thảm này từ báo Pháp Luật TP, kể chuyện một bà mẹ ở Cà Mau đã thắt cổ quyên sinh, chỉ với mục đích cho con mình được học tiếp. Bản tin cũng đăng ở nhiều báo khác nhau.
Mình vừa đọc vừa khóc sướt mướt. Lòng mẹ thương con là như thế. Cõi này bi thương là như thế. Có thể trước giờ cũng đã có những chuyện bi thảm tương tự, nhưng đây là lần đầu tiên các báo tường thuật về một chuyện đau lòng như thế, mà trước kia có thể đã bị tránh nói tới, vì không còn gì là một xã hội xã hội chủ nghĩa vĩ đại cả.
Bản tin buồn này viết:
“Do bệnh tật và quá nghèo, chị đã chọn cái chết để giảm gánh nặng cho chồng con, để các con có điều kiện tiếp tục con đường học vấn.
Người mẹ ấy là chị Nguyễn Thị Mỹ Nhân, 48 tuổi, ở ấp 5, xã An Xuyên, TP Cà Mau (Cà Mau). Cái chết thương tâm của chị khiến nhiều người xung quanh phải giật mình thảng thốt. Đọc bức thư tuyệt mệnh của chị để lại cho chồng con ai cũng rơi nước mắt.
Chết để tiết kiệm cho chồng con!
Anh Đinh Hoài Bảo, chồng chị Nhân, cùng các con đau xót trước cái chết của chị. Ảnh: TRẦN VŨ
Anh Đinh Hoài Bảo, chồng chị Nhân, cùng các con đau xót trước cái chết của chịAnh Đinh Hoài Bảo, chồng chị Nhân, hướng mặt về phía bàn thờ, nhìn sâu vào di ảnh vợ mà nước mắt lưng tròng. Anh kể: “Tháng trước, vợ tôi nói sẽ chết đi để có tiền cho cha con tôi tiếp tục cuộc sống, tiếp tục việc học hành. Tôi đã hết lời khuyên ngăn nhưng bà ấy vẫn quyết tâm…”
Anh Bảo sụt sùi kể tiếp: “Vợ tôi đang bị bệnh viêm dây thần kinh số 7, giật méo miệng, thêm suy thận, suy tim, mỗi ngày tốn tiền thuốc 140.000 đồng. Vợ tôi nghĩ rằng chết đi sẽ tiết kiệm được khoản này và còn được mọi người đi phúng điếu sẽ kiếm thêm được chút ít tiền nữa cho chồng con…”.
Chị Nhân sinh ra và lớn lên rồi lập gia đình ngay ở xã An Xuyên, TP Cà Mau. Sau khi lấy nhau, anh chị được cha mẹ hai bên cho năm công đất ruộng. Việc trồng trọt thất bát, cộng thêm vài trận bệnh của chị, năm công đất phải bán đi để trả nợ nần và lo việc học cho các con. Cả hai vợ chồng anh chị cùng có chung hoài bão là sẽ nuôi ba đứa con trai ăn học đến nơi đến chốn để thay đổi tương lai chứ không để giống như cha mẹ. Với quyết tâm này, anh chị đã tảo tần mười mấy năm qua bằng đủ loại nghề, miễn là kiếm được tiền. Khi thì cả hai cùng đi phụ hồ, khi thì đi bán rau cải, bánh mì ngoài chợ…
Không đủ tiêu chuẩn hộ nghèo
Năm 2011, sức khỏe chị Nhân suy yếu, không còn làm phụ hồ được, cũng không thể bê xịa bánh đi bán, chị xin một chân giúp việc nhà cho một gia đình ở TP Cà Mau.
Thời điểm này, con trai lớn của chị là Đinh Công Bằng thi đậu vào CĐ và đi học ở Bà Rịa-Vũng Tàu, tiền nong gia đình vì vậy càng thêm bức bách. Nghe đến những chính sách hỗ trợ của Nhà nước, chị chạy đôn chạy đáo đi tìm hiểu và tìm cách làm đơn xin được hỗ trợ, cứu giúp. Chị làm đơn kể hoàn cảnh khó khăn để đi xin vay tiền cho con học CĐ. Ấp, xã cùng chứng thực hoàn cảnh khó khăn của chị nhưng khi đến Ngân hàng Chính sách của TP Cà Mau thì bị từ chối vì chị không có sổ hộ nghèo...
...Chị mới học tới lớp 4, văn từ lủng củng nhưng bức tuyệt thư chị viết ra bằng tâm sức cuối cùng đã gây động lòng biết bao bà con ở xã An Xuyên. Mở đầu chị viết: “Anh! Trong hoàn cảnh quá khổ sở, không lối thoát, em đành phải xa anh và các con…”. Theo đó, chị bảo rằng việc chọn cái chết là vì để cho chồng bớt gánh nặng tiền thuốc men cho vợ, dành phần tiền này lo cho các con ăn học; vì bản thân bệnh nặng, sức khỏe tinh thần đều suy sụp; vì muốn phù hộ cho chồng con khỏe mạnh, trúng số độc đắc; và cuối cùng là để chính quyền địa phương xót thương mà cấp cho chồng con chị cái sổ hộ nghèo hoặc cận nghèo...”
Báo Pháp Luật TP và nhiều báo khác đang kêu gọi “giúp đỡ từ bạn đọc để các con của chị Nhân có điều kiện học hành, để tương lai các em không còn lặp lại cuộc đời cay cực của cha mẹ, như ước nguyện của người mẹ nghèo ấy trước lúc qua đời.”
Cuộc đời bi thương là vậy.
Hình như không còn ai nhớ những lời hứa sẽ biến cõi này thành thiên đường của giai cấp vô sản nữa.

Chủ Đề Mùa Quốc Hận :Những hình ảnh đã đi vào lịch sử!

Ngày Quốc Hận 30 tháng Tư: Những hình ảnh đã đi vào lịch sử!

 
Những hình ấy, có lẽ, một số người đã không hề thấy, không hề biết; nhưng riêng người viết, thì đã chứng kiến tận mắt, vào những năm đầu của thập niên 1960. Đặc biệt, là sau ngày 01/11/1963, khi Ấp Chiến Lược đã bị phá bỏ, không còn gì để gây trở ngại nữa, nên Cộng quân đã tiến chiếm những vùng thôn quê một cách dễ dàng và nhanh chóng.
Ngày ấy, vào năm 1964, sau khi bọn du kích Việt cộng đã bắn chết Cha ruột của tôi, và bắt trói Bác của tôi, rồi đưa di biệt tích, thì cả gia đình tôi đều bị du kích bắt đem vào rừng, giam dưới hầm đất. Vì thế, gia đình tôi không được chôn cất Cha tôi, mà việc mai táng Cha tôi đã do anh Huỳnh Xanh và em ruột là anh Huỳnh Huy, là người thân của gia đình, đã cùng quận Tiên Phước lo việc chôn cất. Sau đó, lại cũng chính anh Huỳnh Xanh và quận Tiên Phước đã mở một cuộc hành quân để giải cứu gia đình tôi ra khỏi vùng chiếm đóng của Việt cộng, Và, mới đây, tôi được Thiếu tá Nguyễn Văn Độ, lúc ấy, là Quận trưởng quận Tiên Phước đã viết cho tôi được rõ qua một email như sau:
“Không ngăn được nước mắt… Đọc bản văn Lệ Tuyền gởi phúc đáp cho Anh Bs Phùng văn Hạnh, Anh đọc hết một lần qua và đọc lại đến phần đầu LT ghi phớt lại...Anh Huỳnh Xanh hành quân vào vùng địch dể giải cứu gia đình Em, Anh không quan tâm vụ nầy cuộc HQ đó có Anh và toán cố vấn, cuộc HQ cấp Quận. Nhưng lưu tâm và ghi nhớ trong đầu Anh là lúc đến thị sát tội ác của bọn du kích cs, anh lệnh cho Anh Xanh diều động Quân Dân Xã Phước Thạnh tu sửa lại hư hại của dân và lo an táng Anh Trần Tăng chu đáo, Quận trợ giúp phương tiện và tôi sẽ đến...Từ an táng đến HQ giải cứu gia đình Em lực chính và trực tiếp do Anh Xanh trách nhiệm...Mọi việc đã qua với thời gian...Nhưng nay đọc thư, Em nhắc lại sự vụ và nhất là các địa danh Tiên Phước gợi lại cho Anh thấy sự vụ như mới hôm qua...vì thế Anh không ngăn được nước mắt...vì cảm xúc hay lúc này mình già rồi NGỚ NGẨN chăng ? Tôi quay lại...
Có hay đọc bài của LT và mới nhất là bài nói về Huỳnh ngọc Chênh...mọi chuyện đều là thế sự, nhưng bài Em phúc đáp Anh Phùng Hạnh làm cho Anh cảm xúc. Anh Chị Hạnh năm kia qua Úc ra mắt Hồi ký Anh có tiếp xúc và mời đến nhà Anh thăm chơi tâm tình những ngày sống ở Đà Nẵng. Em Anh Hạnh là Phùng Hoàng Tuyết Th/Tá Dù, Anh thường gặp trong các lần sinh hoạt CD & CQN. Biết Anh Xanh ở HK anh có gởi thư 1 lần mà không thấy tin. Tháng 8/2012 Anh chị có đi HK dự Họp mặt sau 50 mản khóa 12 SQTB/TĐ . " ĐIỂM DANH LẦN CUỐI " chỉ còn lại 1/3. Nhưng sự vui mừng thắm thiết nó nguôi bớt sự NẰM XUỐNG của các Bạn đồng khóa. Anh và gia dình Cầu chúc Tuyền VÔ LƯỢNG AN KHANG . SỞ CẦU NHƯ NGUYỆN. Thân ái . Nguyễn văn Độ U.C”
Đọc những dòng của Thiếu tá Nguyễn Văn Độ, Quận trưởng quận Tiên Phước, người viết cũng giống như ông, không cầm được nước mắt. Tôi khóc cho Bác ruột của mình, đã chết trong nhà tù “cải tạo” Đá Trắng, là tiền thân của trại “cải tạo” Tiên Lãnh. Và khóc cho Cha ruột của mình, khi nhắm mắt lìa đời, mà không được nhìn thấy mặt vợ con, vì vợ con đang ở trong rừng, trong tay của bọn du kích Việt cộng!
Hôm nay, nhân ngày Quốc Hận: 30/4/2013. Người viết bài này, xin thành kính tri ân Thiếu tá Nguyễn Văn Độ, Quận trưởng quận Tiên Phước - Ông Phan Văn Diễn, Phó Quận trưởng Hành chánh Quận Tiên Phước - Anh Huỳnh Xanh, là cháu nội của Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Xã trưởng xã Phước Thạnh, (làng Thạnh Bình cũ) quận Tiên Phước và bào đệ, là anh chị Huỳnh Huy, đã hết lòng lo lắng cho gia đình tôi, từ việc an táng cho Cha tôi, khi gia đình tôi đang bị du kích bắt vào rừng, đến việc đã mở một cuộc hành quân cấp Quận, để giải cứu cả gia đình tôi.
Xin các vị hãy nhận nơi đây lòng tri ân thành kính nhất của gia đình tôi. Những nghĩa cử cao quý, mà suốt đời gia đình tôi, xin khắc cốt, ghi tâm!
Và, khi ngược thời gian, trở về với những năm tháng xa xưa ấy, vì vẫn không bao giờ quên được, những ngày cuối cùng của thành phố Đà Nẵng, nên người viết đã tường thuật lại qua bài: 30-4-1975: Máu và Nước Mắt!. Còn hôm nay, nhan ngày Quốc Hận lầ thứ 38, người viết xin trích lại một đoạn trong bài viết: “Giờ phút cuối cùng của thành phố Đà Nẵng” trong cuốn “Kỷ Yếu 2012, Cựu tù nhân Chính Trị Quảng Nam - Đà Nẵng, nơi trang số 318, của Thiếu tá Phạm Ngọc Nhiễm, Phó Ủy viên Chính phủ, Tòa án Quân sự Mặt Trận Quân Khu I, như sau:
“… Lúc này, thầy Thích Trí Quang “chuyên viên Tôn giáo vận” của Cộng sản Việt Nam từ năm 1946, là nhân vật quyền hành lớn lao, người dân miền Nam đa số đều biết vì ông lãnh đạo “Thành phần thứ ba”, ngoài hai lực lượng khác cao hơn: Cộng sản Bắc Việt và “Mặt trận Giải phóng miền Nam”, đứng đầu là “Chủ tịch” Nguyễn Hữu Thọ, rồi đến Huỳnh Tấn Phát; nhưng thực ra, tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo của “Ban cháp hành Bộ chính trị Trung ương Cộng sản Hà Nội.
Nhân vật Thích Trí Quang kêu gọi:
“… Quân nhân của miền Nam hãy đem súng, đạn đến nạp tại sân chùa trong thành phố, thị trấn, và ra trình diện Ủy ban Quân quản khi có lệnh…. Bà con nói: Sân chùa Tỉnh hội Đà Nẵng ở đường Ông Ích Khiêm, là một cái núi, chất đầy súng đạn, nhiều nhất là súng M-16….”
Trên đây, là những dòng của Thiếu tá Phạm Ngọc Nhiễm, mà người viết xin trích lại, để cho mọi người biết thêm về những sự kiện đã xảy ra vào thời điểm giao thời trước khi thành phố Đà Nẵng phải bị rơi vào tay của Cộng sản Bắc Việt, để những người đã và đang dấn thân vào con đường tranh đấu cho một nước Việt Nam dân chủ, tự do, cùng nhau ôn cố, để tri tân.
Còn bây giờ, người viết, xin trở về với những ngày tháng bị du kích Việt cộng bắt đưa vào rừng: Ngày ấy, cứ mỗi lần được du kích VC cho theo Mẹ lên khỏi miệng hầm để nấu ăn, thì người viết đã thấy những “bộ đội chính quy” của Cộng sản Bắc Việt, nói giọng Bắc, chân đi đôi dép râu, vai mang cái ruột tượng may bằng vải thô giống như một đoạn ruột voi, để chứa gạo ăn, đầu đội chiếc nón cối. Nhưng trong thời gian này, những cái nón cối của “bộ đội” Bắc Việt có hai loại, mặc dù đều được gọi là “nón cối” Tuy nhiên, không phải chỉ có một loại nón cối thông thường, như mọi người đã thấy, vì vẫn có một loại “nón cối” khác. Loại này, được đan, bện bằng những chiếc nan tre và mây rừng, cũng tương tự như chiếc “nón cối”; rồi sau đó, được bọc lại bằng nylon, để khỏi bị nước mưa thấm vào đầu, lại còn cắm thêm những “cành lá ngụy trang”, từ nón cối, xuống cả trên lưng nữa. Vì thế, nên trông nó rất giống những con khỉ đang làm trò. Đã vậy, mà người dân còn truyền tai với nhau là “Việt cộng chúng có đuôi”. Chẳng biết, ai là người đầu tiên “phát minh” ra câu nói như vậy. Nhưng sau này, người viết mới nghĩ ra, có lẽ ông tổ của chủ nghĩa Cộng sản đã nói “con người do loài khỉ đẻ ra”, nên người ta mới nói “Việt cộng có đuôi”. Và vì cứ tin như thế, nên hễ thấy Việt cộng ở đâu, thì bọn trẻ con cứ lén nhìn ở chỗ … “cái đuôi”, thử “cái đuôi nó dài hay ngắn”.
Ngoài ra, người viết cũng chứng kiến mỗi lần đánh chiếm được một vùng quê nào đó, thì tất cả “bộ đội cụ Hồ”, nón cối, dép râu, đều “phấn khởi hồ hởi” reo mừng, xúm nhau xông vào những nhà của người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ chạy trốn được ra vùng Quốc Gia, để lục tìm những gì của họ đã bỏ lại, và cùng lúc là thi đua gánh gạo, hốt trứng gà, trứng vịt, bắt gà, khiêng heo… của người dân, rồi tập trung lại ở ngôi nhà trống nào đó, để làm thịt, lấy mắm, muối, gạo… của dân, nấu nướng, rồi xúm nhau ăn, ăn lấy, ăn để, ăn say sưa, vục mồm vào bát, nhai, húp, và phát ra những tiếng kêu chóp chép, xì xụp.. Nhớ lại những ngày ấy, khi nhìn những nón cối, dép râu ăn… ăn như thể ngàn năm mới có một lần, mà người viết, vì còn nhỏ tuổi, nên không hiểu được tại sao có kẻ lại ăn một cách “kinh hoàng” như thế, bởi chưa từng nhìn thấy. Còn bây giờ, thì biết hết rồi!
Song chưa hết, vì còn một điều khác nữa. Ấy là, bởi ngày xưa, người dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, dù ở thôn quê, họ cũng đều có một cuộc sống tương đối đầy đủ, trong nhà họ nuôi nhiều bò, gà, vịt, heo… Vì thế, nên nón cối, dép râu, đã bắt những người dân đang bị bắt, bị kẹt lại ở vùng bị chiếm, phải làm “dân công” và phải đi theo phụ giúp bắt gà, khiêng heo nữa.
“Bộ đội cụ Hồ” đang giải phóng… heo

“Đôi dép râu, nón tai bèo đang tìm cách để “giải phóng...”
(Dép râu còng lưng, tay xách đầu “búp-bê biết nói” đang “khẩn trương” tiến nhanh tiến manh, tiến vững chắc... đem những thứ đã cướp đoạt được của người dân Việt Nam Cộng Hòa... tiến về đất Bắc).
Nhưng cho đến ngày 30/4/1975, là cái ngày mà đảng Cộng sản Hà Nội đã gọi là “ngày giải phóng miền Nam, nhưng những hành vi ăn cướp của người dân, đâu có dừng lại, mà mức độ ăn cướp còn gia tăng đến gấp triệu lần, qua những đợt đánh “tư sản, mại bản”, rồi đến cướp nhà cửa, tài sản của các vị cựu tù “cải tạo”, đuổi vợ con của họ phải ra khỏi nhà, phải đi “vùng kinh tế mới”… lừa bịp những người Việt gốc Hoa, để họ nộp vàng, để “ra đi bán chính thức”. Và, trong số ấy, đã có rất nhiều người Việt gốc Hoa đã phải chết tan xác, khi những con thuyền của họ mới vừa rời bến, bởi những chát nổ đã được gài sẵn…!
Hôm nay, cũng cùng một ngày 30/4. Tại quốc nội, trong khi đảng Cộng sản tổ chức những “Lễ mừng giải phóng miền Nam, lễ chiến thắng”, thì trên những con đường quê, nơi gầm cầu, xó chợ… vẫn có những cảnh đời lần than, đói rách, bệnh tật chờ chết. Còn trong các nhà tù vẫn có những tiếng khóc, những nỗi hờn đau như một gia đình của nông dân nạn nhân Đoàn Văn Vươn vậy!
Còn tại hải ngoại, ở đâu có người Việt Nam Tỵ Nạn Cộng Sản, ở nơi ấy, có những cuộc biểu tình ngày Quốc Hận: 30/4. Những lá Cờ Vàng Chính Nghĩa vẫn phất phới lộng bay trong gió, mà không có một quốc gia dân chủ, tự do nào ngăn cấm cả. Điều đó, đã chứng tỏ cho mọi người thấy rằng, các quốc gia ấy, họ đều biết đảng Cộng sản Hà Nội đã vi phạm Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam. Nhưng rất tiếc, là có một số người, khi trong tay cầm lá Cờ Vàng ba sọc đỏ, hô những khẩu hiệu: đả đảo đảng Cộng sản Việt Nam buôn dân, bán nước, mà không nhận thức được, mình là con dân của nước Việt Nam Cộng Hòa, và cần phải làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng đối với Quốc Gia và Dân Tộc. Cùng lúc ấy, đâu đó, trên quê hương yêu dấu, hoặc nơi hải ngoại, trong những gia đình của các vị Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân, và các gia đình của những nạn nhân của đảng Cộng sản Hà Nội, đã chết trong các nhà tù “cải tạo”, chết trên những con đường chạy trốn Cộng sản, để tìm tự do: Đứng trước bàn thờ của những người đã bỏ mình trước và sau ngày Quốc Hận 30/4, để đốt lên những nén hương tưởng niệm. Họ, là những nạn nhân còn sống sót, với những dòng nước mắt đớn đau, những vết thương không bao giờ nguyên lành được!
Ôi! Còn nỗi xót đau nào, có thể sánh bằng, vì sau 38 năm, kể từ ngày nước mất, nhà tan, những người Việt đã và đang thực sự tỵ nạn cộng sản tại hải ngoại, mỗi lần nhìn về quê hương, qua các hình ảnh, lại thấy bọn giặc Tầu đang có mặt ở khắp nơi, trên cả ba miền đất nước. Chính vì thế, nên trước và trên hết, là chúng ta cần phải đòi đảng Cộng sản Hà Nội phải thi hành Hiệp định Paris, 1973 về Việt Nam. Phải trả lại cả nước Việt Nam Cộng Hòa, đã bị đảng Cộng sản Hà Nội cưỡng đoạt, mà trong đó, có cả Hoàng Sa và Trường Sa. Bởi vì chỉ có Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa, mới đủ tư cách trước công pháp quốc tế, để giành lại cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đã và đang bị giặc Tầu, kẻ thù truyền kiếp của Dân Tộc ngang nhiên chiếm cứ, một cách phi pháp.
Cũng vì những lý lẽ ấy, nên tất cả những cuộc biểu tình tại quốc nội cũng như tại hải ngoại, với những câu khẩu hiệu: “Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam”, thì cũng không làm cho lũ giặc Tầu phải sợ, phải chịu buông bỏ Hoàng Sa và Trường Sa.
Những điều này, dù không nói ra, nhưng chính đảng Cộng sản Hà Nội cũng đều biết: Hoàng Sa - Trường Sa là của nước Việt Nam Cộng Hòa. Một Quốc Gia đã từng được quốc tế công nhận. Có Tổng Thống, có Hiến Pháp hẳn hoi, có cả một hệ thống quân đội hùng oai hùng, anh dũng, kể từ ngày 20/7/1954 cho đến ngày Quốc Hận 30/4/1975.
Con số 40, đã từng được ứng nghiệm trong quá khứ của lịch sử nhân loại.
Ngày Quốc Hận lần thứ 38 năm nay: 30/4/2013. Là cận kề với con số 40.
Và, biết đâu, bốn mươi năm. Bốn mươi năm. Toàn dân Việt Nam sẽ được đoàn viên, an hưởng thái bình, trên Quê Hương Việt Nam yêu dấu, không Cộng sản.
Những kẻ thủ ác, càng sống lâu, càng bị đày đọa trong những năm tháng cuối đời. Cũng vậy, những tập đoàn của những bạo chúa càng sống lâu, càng gieo rắc thêm những tội ác, thì bắt buộc phải trả giá do chính những hành vi tội ác của mình đã gây ra. Hoàng Thiên hữu mục. Đảng Cộng sản Hà Nội chắc chắn đã thừa biết những điều ấy!
Quốc Hận lần thứ 38 (30/4/2013)
Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Ca sĩ hồi hương :Tôi không thích cộng sản vn - Nhưmg tôi thích tiền cộng sản !


- hàng 1 từ trái sang phải : Tên hề Hoài Linh, Đức Huy , Chí Tài
- hàng 2: Chế Linh , Elvis Phương , Vũ Khanh , Ý Lan , Tuấn Vũ
- hàng 3: Tuấn Ngọc , Trường Vũ, Thanh Tuyền, Thái Thảo , Thái Hiền
- hàng 4 : Phi Nhung , Minh Tuyết , Mạnh Quỳnh, Lưu Bích , Quang Lê
- hàng 5 : Lệ Thu, Khánh Hà , Julie, Jimmy Nguyen, Họa Mi
- hàng 6 :Hương Lan , Giao Linh, Duy Quang , Duy Cường , Dương triệu Vũ
- hàng 7 :Đặng tuyết Mai, Mạnh Đình, Kỳ Duyên, Kim Anh , Nguyễn Hưng
Mời đọc bài của báo Công An phê bình ca sĩ hải ngoại.
Trong làn sóng hồi hương về nước biểu diễn, ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh...
Nhìn lại các chương trình ca nhạc trong vài năm qua, thấy nổi lên hình ảnh các ca sĩ hải ngoại ồ ạt về nước biểu diễn, với nhiều sô diễn lớn nhỏ, từ phòng trà đến sân khấu lớn ở Tp HCM tới các tỉnh xa. Khán giả không còn xa lạ gì với những cái tên như: Hương Lan, Tuấn Ngọc, Khánh Hà, Ý Lan, Chế Linh, Kim Anh, Lưu Bích, Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Trường Vũ, Mạnh Quỳnh, Minh Tuyết, Họa My... Nghĩa là gần như hầu hết các ngôi sao ca nhạc hải ngoại, chưa kể những người đã về trước đó và ở hẳn quê nhà như Duy Quang, Evis Phương, Giao Linh, Jimi Nguyễn...
Vậy, làn sóng hồi hương ấy nói lên điều gì? Thị trường ca nhạc hiện đang đổi mới hay tụt hậu; hoài cổ hay bế tắc? Căn nguyên mọi chuyện từ đâu?
imageCâu nói của các cụ "cũ người mới ta" quả đúng với hiện tượng này. Với cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đông nhất ở Mỹ cũng chỉ vài triệu người, tha phương hơn 35 năm nay cũng đã ngán các món ăn tinh thần của vài ba trung tâm ca nhạc như Thúy Nga, Vân Sơn, Asia. Loanh quanh vẫn chỉ từng ấy ca sĩ, vẫn một màu hoài hương, sầu muộn, chia ly qua những ca khúc quen thuộc từ ngày còn trong nước. Khán giả rất mệt mỏi vì lâu nay chẳng có mấy điểm mới. Một số gương mặt trẻ chạy theo dòng nhạc hiện đại thì lại không đến nơi đến chốn.
Mới đây, có tin trung tâm Thúy Nga có thể đóng cửa vì thua lỗ. Đó là một thực tế khó cưỡng. Tình trạng băng đĩa lậu ngày càng hoành hành làm cho trung tâm này luôn rơi vào khủng hoảng. Mỗi chương trình lỗ từ 300 đến 500.000 USD. Do đó nhiều show diễn đã không thể thực hiện được. Ngược hẳn cách đây dăm năm, cứ mỗi cuối tuần ca sĩ hạng sao đều kín lịch diễn, bây giờ thì họa hoằn lắm mới được mời. Có một bầu sô lý giải rằng, một phần vì kinh tế suy thoái và cũng một phần vì xu hướng âm nhạc trẻ đã đổi thay, tầng lớp khán giả theo dòng nhạc cũ không còn hồ hởi mua vé đến rạp.
Nỗi cám cảnh đó đồng thời cũng nói lên sự hụt hơi, "về chiều" của hàng loạt ca sĩ nổi danh bấy lâu nay. Họ không còn là sự mong mỏi của khán giả nữa. Dù có níu kéo đến đâu cũng không thể đánh đổ chân lý "thầy già con hát trẻ". Sự cạnh tranh đó đã đẩy bật họ ra khỏi guồng quay là điều tất yếu. Và nhiều ca sĩ đã quay về quê hương kiếm ăn với đúng nghĩa của nó.
Quả là họ đã gặp may khi thị trường ca nhạc trong nước cũng đang hết sức mệt mỏi với sự nhảy nhót, loăng quăng của nhạc trẻ và dòng teen. Trong khi đó, những khán giả hoài cổ lâu nay vẫn thường xuyên mua băng đĩa hải ngoại lại rất hồ hởi chào đón họ, với một tình cảm nồng ấm, mặc dù đều biết rằng những ca sĩ mà mình từng yêu thích giờ đây đã về già, kém cả thanh lẫn sắc. Không những thế, các ông bầu còn nhanh chóng đưa ca sĩ hải ngoại hướng ra Bắc, nhất là ở các thành phố lớn, lâu nay thị trường âm nhạc đang đóng băng để "thăm dò". Cách đây không lâu, thị trường âm nhạc ở Hà Nội bỗng lao đao vì hiện tượng Tuấn Vũ khi giá vé đội lên hàng triệu đồng, với mười đêm diễn. Sau đó ca sĩ này còn lang thang kiếm ăn ở các tỉnh phía Bắc, lịch trình cả thảy kéo dài tới ba tháng trời. Thật là vụ thắng lớn. Tuấn Vũ đã làm gương cho một số ca sĩ khác nhao ra khuấy đảo khán giả Thủ đô một phen.
Ngoại trừ trường hợp một số ca sĩ khi trở về quê hương biểu diễn - như tâm sự thực lòng của họ "được phục vụ khán giả quê nhà bao giờ cũng là ước vọng cả đời"; hoặc "cuộc trở về để giải tỏa nỗi nhớ mảnh đất chôn nhau cắt rốn"…thì cũng không thể phủ nhận một thực tế, có không ít ca sĩ trở về cố quốc vì mục đích mưu sinh. Bao nhiêu năm kiếm ăn ở nơi xa xứ, đã đến lúc họ gặp khó khăn trong cuộc mưu sinh bằng chính nghề của mình, thì việc chuyển hướng về lại quê hương biểu diễn kiếm tiền là một nhu cầu rất tự nhiên. Thậm chí có những ca sĩ còn được nhận cátxê cao hơn ở xứ người. Vậy thì dại gì mà họ không về.
Dù đã về già nhưng các ngôi sao loại một như Elvis Phương, Hương Lan, Lệ Thu…cũng còn được trả trên dưới 1000 USD một show hát; dù chỉ hai bài cho một liveshow, hoặc một đêm hát ở phòng trà. Chủ phòng trà Tiếng Xưa ở Sài Gòn phải kêu trời vì có ca sĩ hạng sao không chịu giảm mức cátxê ngất ngưởng, mặc cho đêm diễn bán vé được hay không. Bà còn kể có show diễn của Tuấn Ngọc, đành chấp nhận lấy công làm lãi vì mức cátxê ca sĩ đòi rất cao so với mặt bằng chung, mặc dù mấy năm nay, khán giả nghe Tuấn Ngọc cũng đã thấy nhàm. Ấy là chưa nói đến trường hợp có ca sĩ còn đòi ở khách sạn hạng sao và đi ôtô xịn trong suốt hành trình "trở về" quê mẹ của mình.
Điều này ngược với ý nghĩa "hát cho quê hương" mà họ từng phát biểu khi trở về. Mặc dù cũng có người đã kết hợp hát và trích tiền làm từ thiện, nhưng trên thực tế, chuyện đòi hỏi cátxê quá cao đã làm lũng đoạn thị trường ca nhạc, đồng thời gây rất nhiều khó khăn cho khán giả bình dân đã từng mến mộ họ. Vé ở nhà hát tới 1.200.000 đồng, hoặc giá vé đêm diễn của Chế Linh tại Nhà hát Hoà Bình (Tp HCM) lên tới 5.000.000 đồng thì ít người dám mơ. Và, ngay đến phòng trà ca nhạc, thí dụ có Lệ Thu hát, tiền phụ thu cũng đã đến 350.000 đồng một người, thì quả là khán giả bình dân phải lắc đầu ngán ngẩm. Thực chất phải nhận thấy trong số đó, không ít giọng hát đã chẳng còn sức thu hút thật sự nữa, mà đây chỉ là những câu chuyện vớt vát cuối đời.
Ngay lập tức, sau những cơn sốt nhạc hải ngoại, đã xuất hiện bao hệ luỵ mà các nhà quản lý văn hóa phải ngó mắt tới. Trước hết, đó là việc trốn thuế thu nhập của nhiều ca sĩ. Ai cũng nhớ cách đây không lâu, có tới 9 ca sĩ về hát bị cấm biểu diễn vì không kê khai thuế thu nhập cá nhân. Có lẽ việc ký hợp đồng "tay bo" giữa bầu sô và ca sĩ đã làm nên những rắc rối khó bề kiểm soát.
imageCâu chuyện thứ hai mà các nhà quản lý dường như vẫn bị che mắt: Đó là việc ca sĩ hát các ca khúc chưa được phép biểu diễn. Ở đây chủ yếu là các ca khúc một thời bị quy là nhạc vàng. Mặc dù có tới hàng trăm ca khúc đã được biểu diễn, nhưng vẫn có hiện tượng đăng ký một đằng, hát một nẻo. Hoặc, sau khi biểu diễn, các ca sĩ trao tặng hay bán CD, trong đó nội dung ra sao, có bài hát bị cấm hay không cũng khó biết. Sự mập mờ còn xảy ra khi có đoàn đã đi địa phương, nhất là các vùng sâu biểu diễn với giấy phép đã hết hạn.
Cùng với các hệ lụy trên, không ít khán giả còn thắc mắc về một sự "nhập nhằng" cần giải tỏa, ấy là việc không ít ca sĩ từ lâu đã về ở hẳn quê hương, vậy có nên "quảng cáo" họ là "ca sĩ hải ngoại" nữa hay không? Danh sách này khá dài như Elvis Phương, Giao Linh, Hương Lan, Đặng Tuyết Mai (!!!!!), Duy Quang, Thái Hiền, Duy Cường, Thái Thảo, Julie…Kể cả trường hợp mới đây là Dương Triệu Vũ đã trở về và hiện đang là giọng ca độc quyền của công ty "Tiếng hát Việt" của Đàm Vĩnh Hưng. Hơn nữa, các ca sĩ trên hầu hết đều có những hoạt động kinh doanh khác ở Tp HCM, ngoài việc đi hát. Vậy có thể nói họ đã trở thành ca sĩ nội chính hiệu, chẳng còn sự khác biệt để các ông bầu câu khách với cái nhãn "hải ngoại
imageTrong thời gian tới, chắc sự hồi hương của các ca sĩ hải ngoại sẽ còn sôi nổi hơn nữa. Thị trường ca nhạc rất sôi động tại quê nhà, với sự cởi mở của các cấp chính quyền sẽ là điểm tựa tinh thần cho nhiều ca sĩ có nguyện vọng trở về biểu diễn. Tuy nhiên, trong sự chuyển động khá rắc rối của thị trường ca nhạc hiện nay, sự quay lại ồ ạt của các ca sĩ hải ngoại thường nảy sinh những điều bất cập như trên đã nói. Đặc biệt là nội dung tác phẩm biểu diễn, đừng để các sàn diễn đã bị rối loạn những bài hát trẻ, đang có chiều hướng "hàng nhảm" như "Yêu bao nhiêu người mà ai cũng gian dối/ Yêu năm ba hôm rồi thôi...", giờ đây lại bị chết lụt bởi cái gọi là "hàng vàng" rên rỉ "Cay đắng bờ môi". Vẫn biết, để thị trường ca nhạc có loại "hàng sạch" thật không dễ dàng chút nào, song đó là đòi hỏi chính đáng của nhiều khán, thính giả phía sau những cuộc "trở về" này.

xin mời xem :.VietNamBoatPeople.

Chủ Đề Mùa Quốc Hận : Thương nhớ và Tri ân Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa

NenHuongQuocHan


Chuyện xảy ra đã 38 năm rồi, nhưng nó vẫn hiển hiện trước mắt tôi như mới ngày hôm qua. Tôi thức gần trắng đêm 30 tháng Tư năm 1975 để suy nghĩ và quyết định cho bản thân tôi và gia đình tôi một hướng đi mới. Qua các tài liệu tôi có, tôi biết sau khi chiếm miền Nam, Việt Cộng sẽ cai trị miền Nam không khác chi Trung Cộng khi chiếm được Hoa Lục, quân dân cán chính sẽ bị đày đọa nơi rừng thiêng nước độc, và thời gian có thể là vô hạn định hoặc ít nhất là 10 năm, 15 năm... nhứt l2 những ai phục vụ trong ngành an ninh, tình báo mà trong cuốn Hiến Pháp và Chính Trị Học của Giáo Sư Nguyễn Văn Bông đã trình bày cho sinh viên năm thứ nhứt luật khoa biết. Sau cùng, tôi đã quyết định dứt khoát không trình diện Việt Cộng để bị đày khổ sai. Sống bên vợ con ngày nào hay ngày ấy. Tôi đốt hết tất cả giấy tờ, tài liệu liên quan đến công việc của tôi làm.

Sáng ngày 1.5.1975, tôi lên đường đi ra khỏi Saigon vì đã quyết tâm trốn thì phải trốn từ đầu, tôi đi với 2 bàn tay không, vợ tôi sợ tôi bị bắt dọc đường nên đi theo trông chừng, đứa con trai thứ 2 của tôi chạy theo ba cho bằng được, 30 tháng Tư năm đó là sinh nhựt thứ 10 của cháu. Ba chúng tôi đi bộ ra đường Phan Thanh Giản rồi nhắm hướng Biên Hòa đi mãi. Dọc đường chúng tôi bắt gặp nào súng đạn, nào quân phục, quân trang ngổn ngang, một vài người đi chân đất trên mình chỉ có cái quần đùi và maillot, vợ tôi thì thầm: "lính mình đó anh" rồi đưa tay quẹt nước mắt.

Xe cộ chật đường, người người vội vả, trên mặt không có nụ cười. Trên xa lộ Saigon - Biên Hòa xe lại càng đông, du kích có, bộ đội có ngồi chật các chiếc xe nhà binh của Quân Lực Việt Nam Cọng Hòa, chúng bóp còi inh ỏi, la hét để những xe dân sự tránh cho chúng chạy, nhưng vô hiệu, đường chật không có chỗ tránh. Không có đường cho xe đi ra, vì mọi người đều hướng về Saigon , rất ít người đi ra, và họ cũng như chúng tôi đều đi bộ. Gần đến Hố Nai mới thấy một vài chiếc xe chạy ra. Những những xe chạy vào vẫn chiếm cả đường ngược chiều, do đó xe đi ra có lúc phải leo hẳn trên lề đường. Hôm qua trời mưa lớn, đường lầy lội, dơ bẩn, không còn trông thấy mặt đường nhựa, tất cả đều lấm bùn đất.

Chân bước đi mà lòng tôi tan nát, thẩn thờ như người mất hồn, đi không định hướng, không biết ngày mai mình, gia đình mình, dân miền Nam sẽ ra sao... Bỗng vợ tôi kéo tay tôi chỉ: "kìa anh". Trên một vũng bùn khá lớn, một thân xác người lính của VNCH nằm ngữa trên đó, tay còn ôm khẩu súng M.16, nón sắt trên đầu, không rõ binh chủng vì tất cả thân xác, áo quần đều bê bết bùn. Mỗi lần xe chạy qua mép vũng bùn, thân hình người lính lại dạt qua, dạt lại, có khi gần như lật úp trên bờ, nhưng rồi lại tràn xuống. Không biết anh bị đạn chỗ nào, nhưng máu anh nhuộm đỏ vũng bùn, hòa lẫn với bùn thành một hỗn hợp bùn máu. Tôi nhủ thầm làm sao kéo anh lên bờ, nếu không thì thân anh thế nào cũng bị xe cán. Nhưng tôi hèn nhát, tôi không dám làm điều phải làm, tuy nhiên, chân tôi không thể bước được. Ai đi qua cũng tỏ lòng thương tiếc, đều rơi lệ nhưng chẳng ai làm gì giúp anh ta. Họ cũng hèn nhát như tôi?

Bỗng một ông cụ già la lớn: "Trời ơi! Ai giúp một tay, đưa anh ta lên bờ không thì xe cán nát thây tội nghiệp". Tôi thấy ông nhảy xuống. Như có sức mạnh xô đẩy, tôi cũng nhảy xuống. Tôi luồn tay xuống nâng đầu anh ta lên, ông già ôm phía dưới, cố sức vực anh lên bờ. Rồi có nhiều người giúp một tay. Trong chốc lát, thân xác người tử sĩ đã được đặt ngay ngắn trên bờ đường. Bùn hòa máu chảy ròng ròng khi thân anh được nâng lên trông thật thảm thương. Ông già nhìn tôi lắc đầu trong khi trên đôi mắt nhăn nheo tràn đầy nước mắt, ông quẹt mấy ngón tay vào áo cho sạch bùn rồi vuốt mắt cho anh ta, miệng lâm râm cầu nguyện. Bất giác tôi cũng nguyện thầm: "Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho anh chiến sĩ này được lên chốn nghỉ ngơi... Anh yên nghỉ". Vợ tôi đưa cái khăn tay, nhưng tôi gạt đi, vì cả áo quần tôi cũng như ông già đều bê bết bùn hòa máu. Vợ tôi nói khẻ: "lau nước mắt đi". Trước khi lẫn vào đám đông, ông già nhìn tôi gật đầu, tôi cũng gật đầu lại và thầm cám ơn ông già đã giúp tôi làm được một cử chỉ nhỏ cho người lính đã chiến đấu đến giọt máu cuối cùng, đến giờ phút cuối cùng cho Quê Hương. Mẹ Việt Nam ơi! Xin cho người lính của chúng con có cơ duyên được vào lòng đất mẹ. Xe qua lại đã cán nát một phần chân anh rồi, mẹ ơi!

Nắng đã lên, không khí đã nóng hơn nhiều, bùn và máu trên áo quần tôi đã khô, tôi dùng tay gột chúng thành bụi bay đi! Tôi chợt nhớ:

"Và máu họ đã len vào mạch đất,

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông"

Anh nằm xuống, máu anh trộn bùn sẽ khô, sẽ thành bụi bay đi, sẽ đậu trên lá, trên cành, để rồi sẽ theo gió bay đi chung quanh anh, theo những người đã vực anh lên mà đi xa. Cuối cùng, máu anh sẽ tan biến vào đất mẹ.

Thân nhân anh ở đâu, có nóng ruột mà đi tìm, có ai nhận ra anh mà thông báo cho gia đình anh, hay anh sẽ bị người ta vùi dập đâu đó, không bao giờ thân nhân biết được, không biết anh sống hay chết hoặc đi về đâu mà tìm, không biết ngày anh mất mà kỵ giỗ. Anh nằm xuống vào giờ phút chót, không có truy điệu, không quan tài, không phủ cờ, không di ảnh, không có một đồng đội nào bên anh. Anh hy sinh cho Đất Nước trong cô đơn.

Anh chiến đấu cho đến NGÀY QUỐC HẬN. Tôi hy vọng anh sẽ không nghe lời đầu hàng của Dương Văn Minh để khi nằm xuống, anh vẫn hy vọng đồng đội của anh, đồng bào của anh vẫn tiếp tục chiến đấu cho Quê Hương yêu quí.

Tôi cầu nguyện để linh hồn anh sum họp với các đồng đội ngã xuống trước anh. Tôi xin anh hợp cùng tổ tiên dòng giống phù hộ chúng tôi và con cháu quyết chiến đến cùng cho đến khi quân thù không còn trên Quê Hương. Anh hãy an nghỉ.


Kiêm Ái 
-------


 
               Thương nhớ và Tri ân Quân Dân Cán Chính Việt Nam Cộng Hòa đã vì nước hy sinh.



                • Thương tiếc bao Chiến sĩ và đồng bào đã thác oan trong các ngục tù cộng sản.



                • Ngậm ngùi tưởng nhớ bao Chiến sĩ và đồng bào đã vĩnh viễn ra đi trên đường vượt

                   biên, vượt biển đi tìm Tự Do.


                • Chia xẻ nỗi đau thương, thống khổ của các Quân Cán ChínhVNCH,những Tù Nhân

                  Chính Trị đã sống sót sau những năm tháng dài đọa đày nơi chốn ngục tù cộng sản
                  và nay vẫn còn lưu lại tại quê nhà hay đang lưu lạc nơi xứ người .
                                                            Tháng Tư Tưởng Niệm

Vô cùng thương tiếc các Anh,
Những Anh hùng, Dũng sĩ
Đã vì miền Nam, dâng  nốt tấm thân
Bao gian lao, nguy hiểm, chí không sờn
Quyết trương cao ngọn cờ Vàng yêu dấu!
Những tháng ngày
trong Quân trường nắng cháy
Rồi tung hoành nơi đơn vị mịt mù xa
Đem Tình thương  gieo rắc khắp muôn nhà
Bảo vệ dân khỏi kẻ địch cuồng khấu…
Chúng biểu tượng
cho những gì tồi xấu
Là dối dân, gieo rắc những tai ương
Pháo  trại gia binh,
chợ búa, những ngôi trường
Thủ tiêu, bắt cóc làm những việc tàn ác… 
Đã ra trận
Cầm bằng là banh xác
Nhưng phần nhiều ta chiến thắng vẻ vang
Đồng minh kia chưa đánh đã vội hàng
Chiến sĩ ta thản nhiên không bối rối! 
Nhưng “Lệnh buông súng”
Như một lời thú tội!
Chiến sĩ ta nòng súng vẫn ghìm ngay
Rã binh đoàn, trời đất, khá thương thay!
Hăm mốt năm chưa bao giờ đau thế! 
Thương tiếc các Anh
vì cờ Vàng Chính nghĩa
Đã hi sinh cả mạng sống đời người
Chúng tôi thề theo gương sáng các Anh soi
Cứu Tổ quốc, giữ Danh thơm và Trách nhiệm!
30-4!  Hôm nay tưởng niệm
Những Anh Hùng đã vị quốc vong thân
Những chàng trai quả cảm chết vì Dân
Vì Chính Nghĩa muôn đời còn sáng tỏ! 
Nén hương thơm
Thắp lên lòng kính nhớ
Để muôn thu ghi lịch sử các Anh
Trước hồn thiêng sông núi
Với lòng thành…
Hồn chiến sĩ mau mau về
Thượng hưởng!!! 
Kính cẩn thay mặt Quốc Hội
và toàn dân Miền Nam Việt Nam Cộng Hòa. 
GS/ Nhà Văn Bút Xuân Trần Đình Ngọc
Cựu Dân Biểu Quốc Hội /Cựu Sĩ Quan QLVNCH
Chủ Tịch Ủy Ban Phát Triển Nông Thôn/Hạ Nghị Viện
~~~~~~~~~~~~~~~~~

Chủ Đề Mùa Quốc Hận : Người Quân Cảnh Cuối Cùng Chết Tại Bộ Tổng Tham Mưu


Hậu thế xin dùng chữ “hy sinh” để nói lên lòng tiếc thương với cố Hạ Sĩ Trần Văn Minh (họ Trần theo như lời thuật lại của cố Đại Úy QC Tổng Tham Mưu Trần Văn Hoàng) Dường như 1 tiếng đồng hồ trước đó, Thượng Sĩ QC Trần Chánh Tạo cũng đã tự sát tại phòng trực ban Bộ TTM chỉ cách ông Hoàng 2 thước.  Ông Tạo (người di cư từ Bắc) đã gởi lời trăn trối cuối trên bàn “Em chết, Đại Úy nhớ cúng rượu cho em trong ngày giổ” !!! 
“Khi trầm lặng nào phải tâm tư trống vắng” là câu hát của các sĩ quan QC khi trực chiến, khi về phép hay khi tuần tra.  Sự im lặng của hậu bối hôm nay không phải để lãng quên, nhút nhát.  Miền Nam không may đã có những lãnh đạo bạc nhược.  Cái giá phải trả là sự hy sinh máu xương của quân dân.  Trưa nay, con sẽ rót rượu thay cha cúng tế các vị, Ngũ Hổ Tướng và dân vô tội ở trận đánh Ngã Tư Bảy Hiền….Nguyện xin dân tộc VN thoát mê lầm, tối tăm để tìm con đường sáng giữ vững cơ đồ…

Người Quân Cảnh Cuối Cùng Chết Tại Bộ Tổng Tham Mưu

Lời giới thiệu: Giờ thứ 25 của ngày 30 tháng 4-1975, có một hạ sĩ quan Quân Cảnh của đại đội 1 tại Tổng Tham Mưu đã tự sát dưới chân cột cờ trước tòa lầu chính. Một Quân Cảnh còn sống đến hôm nay sẽ kể lại câu chuyện. Nhưng trước đó xin quý vị nghe qua về cuộc đời của chính tác giả: Anh Huỳnh Hồng Hiệp gốc Kiến Hòa, sinh sống tại Sài Gòn đã đầu quân vào binh chủng Quân Cảnh từ cấp binh nhì. Sau đó anh lên binh nhất rồi đi học lớp Hạ Sĩ Quan căn bản, trải qua lớp chuyên môn binh chủng rồi phục vụ tại Phú Quốc. Hàng ngày những hạ sĩ quan Quân Cảnh VNCH phải đối diện với 40,000 chiến binh cộng sản trong các trại giam. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp và hiểm nghèo. Sau khi hiệp định Paris ký kết, trại tù binh giải tán, các tiểu đoàn Quân Cảnh của Phú Quốc trở về đất liền tham dự các buổi hành quân tảo thanh và bình định. Chiến dịch chấm dứt. Một số tiểu đoàn giải tán, binh sĩ chuyển qua Biệt Động Quân. Các hạ sĩ quan Quân Cảnh trong đó có thanh niên Kiến Hòa Huỳnh Hồng Hiệp phải vào Dục Mỹ huấn nhục. Vừa vất vả, vừa bị các quân nhân đơn vị bạn ghét Quân Cảnh nên kỳ thị phá phách. Nhưng rồi mọi thứ cũng trôi qua và ở trong câu chuyện cuối tháng Tư sau đây, xin mời quý vị theo chân người hạ sĩ quan Quân Cảnh gian truân của chúng ta trên đường từ Dục Mỹ về Sài Gòn cho đến ngày cuối tại Bộ Tổng Tham Mưu.
Sau cơn hồng thủy 75, anh Huỳnh đã ở lại Sài Gòn rồi sau này mới vượt biên. Vì năm 75 chợt thấy mình yêu nước nên ở lại. Chuyến vượt biên những năm sau là thảm kịch gia đình. Nhưng đây lại là một câu chuyện khác. Hôm nay chúng ta chỉ nghe câu chuyện chấm dứt dưới chân cờ.
Riêng đối với các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã chạy được qua ngả Tân Sơn Nhất vào tuần lễ cuối cùng. Nếu đi ngang qua cổng trại Trần Hưng Đạo của Bộ Tổng Tham Mưu thì sẽ thấy Trung sĩ Huỳnh đứng giữ trật tự. Suốt tuần lễ dài như cả trăm năm, anh vẫn đứng gác cho đến giờ phút cuối để các cấp trên di tản theo hệ thống quân giai. Bởi vì người trai Hiến Hòa đã không biết tại sao trong những giờ phút đó, anh lại chợt thấy mình yêu nước, yêu quân đội. Mà quân đội đối xử với anh có đẹp đẽ gì đâu?
Giao Chỉ San Jose.
* * *
Vào khoảng 8 giờ sáng, ngày 29 tháng 3-1975, tôi với một vài người bạn ra chợ Dục Mỹ để uống cà phê và cũng để nghe ngóng tình hình chiến sự. Tin tức từ những quân nhân hướng Khánh Dương chạy về cho biết là phòng tuyến này do các chiến sĩ Nhảy Dù ngăn chận Cộng quân đã đổ vỡ. Chúng tôi lập tức trở về TTHL Dục Mỹ thì quang cảnh quân trường đã thay đổi hẳn. Các khóa sinh và cơ hữu của trung tâm ra các giao thông hào trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Biến động này làm cho nhóm 17 khóa sinh gốc Quân Cảnh chúng tôi lại thêm hoang mang. Số là nhóm chúng tôi đã thụ huấn xong khóa cuối Rừng Núi Sình Lầy và có danh sách được trở về binh chủng Quân Cảnh. Khóa học đã mãn hơn 10 ngày rồi mà chưa có Sự Vụ Lệnh để trình diện đơn vị. Chúng tôi cử một đại diện có cấp bậc cao nhất trong nhóm là Thượng Sĩ lên trình diện Đại Tá CHT/TTHL Dục Mỹ sau khi đã qua các văn phòng theo hệ thống quân giai. Đại tá Đại rất bận rộn nhưng ông vẫn cho gặp. Ông ngạc nhiên về trường hợp chậm trễ. Tuy nhiên sau cùng, ông lục ở ngăn kéo nơi làm việc tìm ra được Sự Vụ Lệnh mà ông đã ký rồi và đưa ra trao cho trưởng toán chúng tôi. Khi nhận được Sự Vụ Lệnh thì Quân Trường Dục Mỹ không thể cung cấp phương tiện đến Nha Trang. Chúng tôi đành tự túc mạnh ai nấy đi. Đến chiều khoảng 1 giờ, chúng tôi gặp nhau tại ở Nha Trang với hy vọng tìm được máy bay về Sài Gòn. Tôi và vài bạn nữa đi ngang qua Bộ Tư Lệnh QĐ II thì lá cờ tướng đã hạ xuống, Quân Cảnh gác cổng không còn. Đi quan Bộ Chỉ Huy BĐQ QK II thì cũng vườn hoang nhà trống. Súng M16 cả đống nên mỗi anh em nhặt một cây để phòng thân. Không có phương tiện của quân đội nên chúng tôi mạnh ai nấy đi bằng cách đổ ra ngả Ba Thành và leo xe nhà binh tìm đường xuôi Nam. Lúc bấy giờ có Quân Cảnh Hiệp, người lớn tuổi hơn tôi nên bạn bè gọi là Hiệp Già. Anh có một vợ 5 con, đơn vị gốc là Tiểu đoàn 8 Quân Cảnh, cùng học chung với tôi mấy khóa ở Trường Quân Cảnh và Trường HSQ Đồng Đế. Suốt đêm hôm đó và đến khoảng 3 giờ chiều hôm sau, đoàn xe di tản đến thị xã Phan Thiết. Khi xe ra khỏi Phan Thiết một đỗi chúng tôi gặp một số quân nhân chạy ngược lại, được biết Việt cộng phục kích và có giao tranh ở ngả ba Bình Tuy (Rừng Lá). Tin này làm chúng tôi chùn chân vì tôi biết chắc với đám quân không có chỉ huy nếu gặp Việt cộng thì chỉ có chết. Sở dĩ tôi nghĩ như thế là vì suốt từ nhiều ngày qua đã có lúc giành mấy củ khoai ở cổng Ba Làng Cam Ranh mà bắn nhau chết. Thị xã Phan Thiết đang yên lành thì bị cướp, bị phá cửa sắt lấy bia, nước đá, thực phẩm tạo ra sự giành giựt rồi giết nhau. Điều này ai có đi khoảng thời gian đó đều biết. Với máu Quân Cảnh trong người, tôi rất bất mãn nhưng không thể làm gì được. Sau cùng, tôi bàn với anh Hiệp già là nên trở lại Phan Thiết tìm ghe hoặc tàu bè về Vũng Tàu chắc ăn hơn. Anh Hiệp không đồng ý nên chúng tôi chia tay. Sau cùng tôi cũng tìm đường thủy về Sài Gòn qua ngả Vũng Tàu. Trình diện ở trại đường Tô Hiến Thành xong, được lệnh trả tôi về binh chủng. Tôi bắt thăm trúng được Tiểu đoàn 5 Quân Cảnh. Nỗi vui mừng thật lớn, coi như thoát được nạn trong mấy ngày vừa qua. Hơn sáu năm đi lính, lần đầu tiên bắt thăm được trúng đơn vị ở gần nhà. Biết bao là mừng vui. Tại Ban Nhân Viên Tiểu Đoàn tôi được lệnh tăng phái cho Đại đội 1 Quân Cảnh tại Bộ TTM. Thật tình mà nói, tôi chỉ được nghe tên vị Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu tá Hưng hay Trung tá Hưng (không rõ), còn các Đại Đội Trưởng và Trung Đội Trưởng của tôi tôi chưa kịp gặp mặt, hoàn toàn không biết là ai. Cứ nhận lệnh đi tăng phái đã. Tôi không nhớ chính xác bao nhiêu quân nhân từ Tiểu đoàn 5 Quân Cảnh tới tăng cường cho Đại Đội 1 Quân Cảnh, hình như khoảng 15 anh em gì đó. Nhiệm vụ chúng tôi đứng các nút chặn ngả ba Chú Ía, ngả tư Võ Duy Nguy Võ Tánh, Võ Tánh gần Bệnh Viện III Dã Chiến Hoa Kỳ, và Võ Tánh gần ngả ba Trương Quốc Dung. Có một ngày, vào khoảng 15 tháng 4-1975, tôi gặp lại một bạn Quân Cảnh cùng chạy ở Dục Mỹ hỏi thăm anh Hiệp Già và được biết anh bị một viên đạn bắn sẻ của Việt cộng trúng ngay giữa tam tinh gần ngả ba Rừng Lá. Tôi bần thần về tin này cả tuần. Trong thời gian tăng phái cho TTM, ngày đứng đường, đêm về các điểm phòng thủ trong Tổng Tham Mưu. Có một đêm tôi nằm dưới thềm Tổng Cục Tiếp Vận coi TV thấy Tổng thống Thiệu đọc diễn văn chửi Mỹ. Mắt coi TV, tai nghe đạn pháo kích lòng dạ sao xuyến tan nát. Cường độ pháo của cộng quân càng tăng. Trước 3 trái thì 2 trái vô Tân Sơn Nhất còn trái vô TTM. Sau 2 trái thì 1 trái vô Tân Sơn Nhất và 1 trái vô TTM. Nghe quen, tôi cũng bắt chước số anh em khác mà đoán tầm gần xa, lúc nào sắp nổ. Tôi vẫn ở TTM nhưng phạm vi hoạt động rút lại gần hơn và chịu pháo nhiều hơn. Trong thời gian này, bên gia đình vợ tôi có đường chạy ra ngoại quốc. Nếu muốn đi thì chắc chắn chúng tôi sẽ ra đi bình yên. Tôi là hạ sĩ quan với sắc phục Quân Cảnh. Đi đâu cũng gặp toàn bạn bè cùng binh chủng. Không những đi dễ dàng mà còn lo cho được cả gia đình họ hàng. Nhưng không biết tại sao vào những giây phút đó tôi lại thấy mình yêu nước. Bỏ đi không đành. Đó là tấm lòng thành thực, nghĩ sao thì nói vậy. Sau này vợ tôi cứ nói mãi về vụ di tản. Bây giờ bả không còn nữa nhưng tôi vẫn còn nghe như tiếng nói than thở bên tai.
Sáng ngày 30 tháng 4-1975: Tôi được lệnh tăng cường cho cổng 1 TTM. Lúc bấy giờ cộng quân gia tăng cường độ pháo kích dữ dội. Các Quân Cảnh cơ hữu của Đại Đội 1 Quân Cảnh rất bận rộn. Có tin cổng 4 có một số sĩ quan TTM phá rào chui ra đến nỗi Quân Cảnh Đại Đội 1 TTM phải dùng hàng rào người mà cản lại. Cũng có một số sĩ quan cấp Trung và Đại Tá tự ký Sự Vụ Lệnh ra cổng. Chưa đến nỗi hỗn loạn nhưng Quân Cảnh khá mệt nhọc vất vả mới giữa được trật tự. Lệnh Tướng Hạnh là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng tôi thì chỉ có nhiệm vụ yểm trợ cho Đại Đội 1 Quân Cảnh mà thôi. Tôi quan sát tại điếm canh cổng số 1 có anh Quân Cảnh làm việc thật tích cực và hiệu quả. Nhìn kỹ ra là anh Minh người cao lớn. Tôi thật tình quên mất họ của Minh là Trần hay Nguyễn. Nhưng có thể là Trần Văn Minh. Minh cùng chung một khóa với tôi ở Trường HSQ Đồng Đế. Đó là khóa 1/71 Đặc Biệt HSQ hiện dịch, lúc đó tướng Linh Quang Viên làm Chỉ Huy Trưởng. Sau đó chúng tôi gặp lại nhau tại Trường Quân Cảnh một hai lần nữa. Giờ đây, rõ ràng là Minh đang ở Đại Đội 1 Quân Cảnh TM. Giơ tay chào nhau, nói vài câu, rồi ai làm việc nấy. Lúc đó tôi ở cổng chánh khoảng 100 mét về hướng tòa nhà chánh.
11 giờ 30 ngày 30 tháng 4-1975: Lúc 11 giờ 30, từ cổng 1 TTM tôi nghe súng nổ dữ dội ở phía Bệnh Viện Dã Chiến Hoa Kỳ, thì ra các anh em LĐ 81 BCND đang bắn xe tăng Việt cộng. Khi chiếc xe T54 của Việt cộng có treo cờ GPMN hướng về cổng 1 TTM thì tất cả chúng tôi lái xe Jeep rút về văn phòng Đại Đội 1 Quân Cảnh vì xe cộ đồ đạc tất cả đều để đây. Khi xe ngừng, Minh bước xuống và nước mắt đã đầm đìa. Tôi nhìn Minh mà lo cho thân mình nên vội vàng cột ba lô mang súng ống, rồ xe Mobylette phóng chạy. Cái cảnh lúc đó thật là hoảng loạn, mạnh ai nấy lo, giành đường thoát ra.
11 giờ 40 ngày 30 tháng 4-1975: Sau lưng tôi, Minh khóc và nói một mình “Thôi rồi, mất nước rồi.” Nói xong anh Minh bước tới gần cột cờ, nghiêm chỉnh đưa tay lên, chào xong móc khẩu Colt 45 bên hông kê lên màng tang. Một tiếng nổ đơn độc vang lên. Tôi chắc tiếng nổ đó đã hòa tan trong tiếng máy của hàng trăm chiếc xe Honda, Vespa, Suzuki. Minh ngã xuống. Trung sĩ I Trần Văn Minh đã trả xong nợ nước vào giờ thứ hai mươi lăm. Tôi là một người sợ chết nên nhìn Minh một lần chót, nén xúc động và chạy thoát thân với hàng đoàn người kia. Giờ đây Minh họ Nguyễn hay Trần tôi không biết chắc. Anh đã chết thật hay chỉ bị thương cũng không biết chắc. Có điều Minh đã làm một việc thật là đáng để tôi quỳ xuống mà lạy anh. Tất cả các đoạn trên tôi viết dông dài chỉ nhằm mục đích kể lại đoạn cuối về cái chết của một Quân Cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi là binh chủng lo về quân kỷ của quân đội. Xin các anh em chiến hữu hiểu rằng chúng tôi cũng sống chết với quân đội như anh em. Và trong hàng ngũ hạ sĩ quan chúng tôi cũng có người tự vẫn dưới ngọn cờ Tổng Tham Mưu vào giờ thứ 25. Gần 30 năm qua, ngồi cố nhớ mà viết lại chắc có nhiều chi tiết thiếu sót, ước mong các chiến hữu bổ khuyết dùm cho.
Quân Cảnh Huỳnh Hồng Hiệp, San Jose

Bài Xem Nhiều