We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 7 May 2013

Chủ Đề Mùa Quốc Hận :Chuyện buồn người vợ tù







 

Chuyện buồn người vợ tù là một chuyện đã thực sự xẩy ra cho một người phụ nữ sau tháng tư năm 1975, Ý Cơ tin rằng hoàn cảnh ấy không xẩy ra riêng cho mình chị, mà câu chuyện thương tâm, phần nào phảng phất một nét đời đã qua nhưng khó quên của mỗi chị em chúng ta khi có chồng, có con bị tập trung trong trại cải tao. Ý Cơ đã viết lại theo lời kể của nhân vật chính. Vì thế, chữ tôi được dùng trong chuyện kể, không phải là tác giả  bài viết, rồi vẫn giữ nguyên danh tánh của hai nhân vật. (Nhân vật tên Chung trong chuyện kể này là Trung Úy Trương Kim Chung, giảng viên Tâm Lý Chiến và Xã Hội Học Trường Võ Bị Quốc Gia Dalat.)


Ngôi biệt thự nhỏ, khiêm tốn, cuối đường Hoàng Diệu, Dalạt. Phía sau là vườn hồng, từ đó, thấp thóang nhìn thấy những mầu áo xanh lam của nữ sinh nội trú trường Couvent des oiseaux. Đó là: “Ngôi nhà hạnh phúc!” của chúng tôi, cũng là tên do các bạn yêu thương đặt cho nó.

Chúng tôi sống êm đềm hạnh phúc, bên ba đứa con nhỏ dễ thương, và một em bé còn đang trong bụng mẹ. Căn nhà lúc nào cũng rộn rã vui tươi, nhất là khi Tết đến, nó lại có cơ hội tiếp đón những ‘Con bà phước’, đó là những Sĩ Quan huấn luyện viên của trường Võ Bị Quốc Gia Dalat, không được về thăm nhà khi Tết đến, tất cả đều quây quần vui chơi, như chính nhà của họ, bởi vì, vợ chồng tôi, luôn coi các anh như người ruột thịt.

Thời gian như thế chẳng bao lâu, và cuộc sống đầm ấm ấy đã bị đảo lộn khi tiếng súng bắt đầu nổ vang trên bầu trời Buôn Mê Thuột, để rồi dẫn đến ngày cuối tháng tư đau thương này.

Được lệnh thượng cấp rút khỏi Dalat vào cuối tháng 3/75, Chồng tôi cùng các chiến hữu, đã lặng lẽ lên đường, giữ an ninh lộ trình di tản cho dân chúng và các đơn vị bạn thuộc Tỉnh Tuyên Đức và Thị Xã Dalat, các anh là những người sau cùng rời xa Dalat.

Phải rời xa nơi chốn hạnh phúc của chúng tôi và bè bạn, anh đi mà vẫn quay đầu nhìn lại, anh muốn ở lại để bảo vệ mảnh đất thân yêu ấy, nhưng không thể cãi lệnh thượng cấp vì anh là một quân nhân, anh kể lại cho tôi như thế, về suy tư của anh trên đường rút quân.


Sàigon thất thủ, Anh cùng một số chiến hữu đã ra đi, sau lời tuyên bố của Tướng Dương Văn Minh. Nhưng.. .. đến chiều tối, Anh đã trở lại cùng mẹ con tôi. Anh đã rời chiến hạm của quân chủng Hải Quân để về cùng mẹ con tôi vì anh không muốn xa lìa hạnh phúc đời mình, để ra đi, chỉ một mình anh như thế! Nếu biết, trở lại để rồi phải vĩnh viễn xa lìa mẹ con tôi, chắc anh vẫn quyết định như thế, tôi tin như vậy ở tình yêu của anh dành cho mẹ con tôi.. .. .. Đó chính là niềm đau ray rứt, niềm ân hận khôn nguôi trong cuộc sống mẹ con tôi đến cuối đời.

Là một sĩ quan cấp uý, cuối tháng 6/75, Anh cũng như bao người khác đã trình diện để học tập cải tạo, với hy vọng sau vài mươi ngày sẽ trở về, nhưng.. .. .. ..

Vắng Anh, tôi ở lại, với bao hoang mang lo sợ, lo sợ cho sinh mệnh của anh nhiều hơn cho sự bơ vơ của mẹ con tôi. Thời gian cứ hun hút qua đi, không một tin tức nào về anh.


Tất cả chúng ta, các chị và mẹ con tôi, cũng như những người cha, ngưòi chồng yêu qúy của chúng ta, đều bị những kẻ ''chiến thắng'' lường gạt một cách một cách hèn hạ.

Anh đã cho tôi và các con anh một đời sống ổn định vững vàng. Nay, không có anh, tôi đã mất hết, mất cả những ước mơ, toan tính cho tương lai con cái về sau, tôi chẳng còn gì, ngay cả mạng sống cũng mong manh bên cháu nhỏ mới chào đời.

Nhưng thực tế, vẫn là thực tế, dù là thực tế phũ phàng, tôi và hầu hết chị em chúng ta phải gánh chịu, phải tự vực mình đứng lên, và tự nhủ, phải đứng thật thẳng để là nơi nương tựa vững chãi cho chồng con.

Tự nhủ như thế để lấy lại can đảm, tôi đã phải ngược xuôi trăm đường, bán buôn đủ thứ nơi đầu đường xó chợ, trong cảnh vạn người bán mà chỉ có vài người mua, để thay chồng nuôi con.

Dân chúng tại các thành phố và tỉnh thị, không có gạo mà ăn. Khoai lang, khoai mì, bo bo .. .. đã trở thành lương thực chính, phân phối theo sổ gia đình, khi nào được mua bột mì, đã là một hạnh phúc lớn cho dân chúng miền Nam vì có thể lấy bột làm bánh mì để ăn, hoặc để bán, đi bán bánh mì cũng là một trong muôn nghề, tôi đã nhờ đó nuôi con.


Ngày tháng cứ qua đi, với buồn lo nặng chĩu hai vai, không người chia sẻ, tôi vẫn nhủ thầm, lúc này, mình không được gục ngã, không thể gục ngã, khi mà các con tôi còn qúa nhỏ, khi mà sự sống chết của người chồng yêu qúy không một chút tăm hơi.

Với một chiếc xe đạp cũ kỹ, tôi chạy ngược xuôi kiếm sống, nuôi con. Khi những người cầm quyền CS biết rằng đa số chi em chúng ta đang chiếm lòng lề đường và những đầu con hẻm làm nơi kiếm sống, họ đã cho thi hành chiến dịch, dẹp lòng lề đường, để triệt hạ con đường sống của những vợ con ''ngụy''.

Tôi đành chuyển cách kiếm sống, khi thì chạy thuốc tây, đôi khi vài ba mảnh vải.. .. để chuyển từ tay người muốn bán, đến tay người muốn mua, ở giữa mình kiếm vài củ khoai nuôi con.. ..

Có những lúc đạp xe muốn kiệt sức, vì từ sáng chưa có chút gì vào bụng ngòai một ly nước lạnh. Trời Saigon nắng gắt, đạp xe mà không nhìn thấy gì phía trước, không biết vì mồ hôi từ trán chẩy xuống, hay những gọt nước mắt tuôn rơi.
Nhiều lúc đầu óc muốn vỡ tung vì những mưu toan sinh kế, trước những ách bức nặng nề do xã hội chủ nghĩa gây nên, ấy thế, những giây phút tưởng như cuồng điên  có lẽ còn dễ chịu hơn những khi màn đêm buông xuống.

Ngồi cạnh giường, nhìn đàn con ngủ, những khuôn mặt ngây thơ vô tội, nhưng chắc cũng đã một chút ấm lòng vì chiều nay mẹ đã mang về cho các con được hơn một ký gạo.

Nhưng còn chồng tôi đâu, đói-no, ấm-lạnh ra sao? Anh là người nặng tình vợ con, liệu có yên giấc ngủ, hay đang chong mắt nhớ về gia đình, với những lo lắng, mà không sao Anh gánh vác thay vợ lúc này.. Chỉ có lúc này tôi mới được tự do khóc, nức nở khóc, để vơi chút buồn lo.


Thời gian qua, gần một năm sau ngày chồng tôi bị đưa đi cải tạo, tôi mới được tin chồng, dù chẳng phải tin vui, nhưng có vẫn hơn.

Anh đang bị bệnh sốt rét ác tính, và thiếu dinh dưỡng trầm trọng, không biết Anh có còn chờ được thấy em lần cuối hay không! Một người bạn đưa tin về: mong ước của Anh là được tin vợ con, trước khi Anh nhắm mắt.

Trời đất như sụp đổ dưới chân tôi, không còn đủ sức đứng vững, hay tôi đã qùy xuống để xin người về, chỉ đường cho tôi, tìm đến với người chồng bất hạnh cho kịp lúc.

Ngay tờ mờ sáng hôm sau, tôi đã vội vã lên đường đi, tìm chồng. Băng rừng, vượt suối, muỗi, vắt, cắn bầm tím cả người, không màng tới, quần áo ướt rồi khô, khô lại ướt, gió lạnh căm căm nơi rừng sau, chẳng sờn.

Tìm được trại giam chồng, tôi chưa kịp mừng, một bọn đàn ông với đôi mắt cú vọ hạch hỏi đủ điều, chỉ với lý do, tại sao tôi biết địa  điểm của trại tù này.... Nhưng, cuối cùng, họ cũng cho tôi gặp Anh có lẽ vì: ”cảm phục lòng yêu chồng của phụ nữ miền Nam”. Tôi đọc được điều đó, qua ánh mắt của họ dành cho tôi lúc đó.

Chồng tôi bệnh nặng, anh em cùng láng, cho mắc võng chồng tôi chính giữa, còn võng của  Anh Em bao chung quanh để che gió lạnh cho chồng tôi, thật sự, có che được bao nhiêu vì, mỗi khi gió thổi tạt vào, tất cả đều phải đón nhận những làn gió lạnh và cát bụi bám đày mặt. Tôi đem lòng kính yêu những tấm lòng ấy, và ngỏ lời cảm ơn các anh.


Tôi chết sững, khi các anh chỉ cho tôi chiếc võng ở giữa, nơi chồng tôi đang nằm. Chồng tôi đó sao? Một người cao gần 1m80, nặng trên 70 ký, nay chỉ còn là một bộ xương sơn đen, hàm răng trắng nhô ra, làm cho đôi má đã hóp, lại càng thấy trũng sâu hơn, đôi mắt lõm sâu không thần sắc.. .. .. Nước mắt như cùng lúc với tôi, nhào lăn đến bên Anh, tôi ôm ghì bờ vai Anh, đôi bờ vai ấy, những năm tháng qua đã là nơi nương tưa qúy báu cho tôi, những khi tôi buồn. Còn Anh, Anh không đủ sức kéo đầu tôi ngả vào vai như ngày xưa nữa. Thời gian như ngừng lại, các bạn Anh đứng bên cũng yên lặng ngậm ngùi, yên lặng đến độ tôi đã nghe thấy âm thanh của nước mắt tôi rơi trên vai chồng.

Làm sao tôi có thể quyên được đêm ấy, bên đống lửa bập bùng, mấy chục khuôn mặt, mà tôi chắc, trước kia oai phong và đẹp trai lắm, trong bộ quân phục VNCH .. .. nhưng.. .. bây giờ.. .. quanh tôi.. .. chỉ còn là những bộ xương biết cử động. Hai mắt tôi đã đau nhức vì khô cạn nước mắt, tôi khóc cho tôi, tôi khóc vì các anh, và chắc các anh cũng đang cùng tôi khóc cho quê hương dân tộc.

Chồng tôi nằm đó, thoi thóp thở, miệng vẫn cố cười, nụ cười héo hắt, chắc Anh đã mãn nguyện khi biết rằng vợ con Anh còn sống?

Đứa con gái út của Anh mới được tám tháng, nên mẹ nó còn sữa, hai bầu sữa căng nhức đã kéo tôi ra khỏi cơn mê, tôi chợt tỉnh táo để xin lỗi các bạn Anh tránh ra xa môt chút, để tôi có thể san xẻ phần sữa của con tôi cho bố nó.
Bưng bát sưã, vừa bỏ thêm hai muỗng đường, xúc từng muỗng đưa lên miệng Anh, tôi hy vọng là không có giọt nuớc mắt nào của tôi, rơi vào bát sữa, để Anh không phải uống thêm những đắng cay của cuộc đời vào lúc này.

Không hiểu vì bát sữa, hay vì tôi đã đến, sáng ra Anh đã tỉnh lại nhiều, các bạn Anh bảo, nhờ có sữa tiên nên Anh mới khoẻ lại như vậy, tôi biết các bạn Anh nói đùa, vui, cho chồng tôi lên tinh thần. Xin cảm ơn các Anh.

Chiều đó tôi bắt buộc phải rời trại giam.


Trên đường về, đầu óc lại làm việc, mong sao tìm được cách kiếm tiền đi thăm nuôi chồng, càng sớm càng tốt, nếu không tôi sợ không kịp.. .. không kịp,.. .. không kịp?.. .. Tôi không dám nghĩ tiếp.

Sau lần thăm ấy, tôi bị mất liên lạc, vì chồng tôi bị chuyển qua nhiều trại khác.. Mãi đến giữa năm 1977, tôi mới nhận được giấy báo của trại cho phép đến thăm Anh, tại trại an dưỡng Biên Hòa. Sau lần đó, chồng tôi cùng các bạn bị chuyển ra Bắc.

Thời gian này thật khủng khiếp, vì Anh luôn bị chuyển trại, hết Lào Cai, rồi Yên Bái, rồi Lạng Sơn...!

Vừa được tin anh ở trại này, đến nơi, anh đã bị chuyển đi trại khác, tôi rượt đuổi theo anh nhiều ngày tháng, nhưng không sao bắt kịp bước đi của anh. Phải trở về, vì bốn đứa con nhỏ còn đang cần mẹ. Tôi phải hối lộ cho bọn cán bộ Bưu Điện để có những tấm phiếu gởi qùa, qua đường bưu điện, mỗi phiếu được ba ký. Phải tính tóan làm những món ăn để được lâu, một chút thịt mỡ cũng phải kho thật mặn.. .. .. trông thấy tôi làm những món ăn gởi cho Anh, các con Anh nói: ”Bố sướng quá, bố có nhiều đồ ăn ngon hơn tụi mình !”.. .. .. còn gì đau khổ và xót sa cho tôi trước những câu nói so sánh ngây thơ ấy, nhưng cũng có chút an ủi cho chúng, là còn được vét xoong.

Cuối cùng, tôi cũng tìm ra, họ đã chuyển Anh về Nghệ Tĩnh, tôi vội ra thăm Anh dù không có giấy phép, đủ mọi mưu kế, đủ mọi tính toán .. .. .. .. Tôi không biết mình đã trở thành người nhiều mưu kế như thế tự bao giờ, và cuối cùng tôi đã xin được giấy chứng nhận bị mất cắp tòan bộ giấy tờ và tiền bạc, trong đó có giấy phép được thăm nuôi, nhờ thế tôi đươc vào trại giam chồng tôi. Tôi đến được trại giam vào tối thứ bẩy, qua chủ nhật sẽ được gặp mặt chồng; nhưng, qua hôm sau, cán bộ ở trại họ cho biết đến thứ hai mới gặp được vì chồng tội bị đi lao động xa, và họ sẽ cho gọi Anh về.

Đêm chủ nhật trằn trọc mãi không ngủ được, phần vì lạ chỗ, phần thì mừng, mai được gặp mặt chồng sau nhiều năm xa cách, hơn nữa, xem Anh có mạnh khỏe hơn, sau lần được uống sữa tiên hay không! Nhiều ý nghĩ dồn dập tới.. .. ..
Nhưng mệt quá nên tôi cũng thiếp đi được một chút. Trong giấc ngủ, tôi nằm mơ thấy anh về báo tin cho tôi là anh đã chết.. .. .. .. Tôi choàng thức giấc, mà miệng còn ú ớ, như đang nói điều gì, tôi tỉnh dậy, lo buồn, khóc thành tiếng, làm thức giấc các chị cũng đến thăm chồng thăm con như tôi. Các chị biết chuyện, hùa vào an ủi: thôi, sinh dữ, tử lành, yên tâm ngủ đi, rồi mai thế nào cũng được gặp, tôi cũng tự an ủi mình như thế.

Hôm sau, mờ mờ sáng, tôi đã cùng chị em nấu cơm cho chồng, cho con một bữa, mong được ấm lòng cả hai. Trời sáng hẳn, qua màn sương mỏng, từ cao nhìn xuống, tôi thấy từng lớp người lũ lượt theo từng toán đi lao động. Như kẻ mộng du, như có ai xô đẩy sau lưng, tôi chạy ào xuống chân núi, nơi cấm những thân nhân tù cải tạo đến gần, tôi thấy, toán 1, rồi tóan 2, rồi tóan 3 .. .. Tôi chợt nghe tiếng gọi: ”Chị Chung.. .. à .. .. Chị Minh” và tiếp theo có tiếng người la to:
”Anh Chung chết rồi.” Tôi ngã xuống và không còn biết gì nữa.


Khi tỉnh lại, tôi thấy mình bị trói chặt tay chân vào một chiếc chõng tre, một người y tá đang chích thuốc cho tôi. Tôi nghe kể lại, tôi đã bị ngất xỉu hơn một giờ đồng hồ, họ phải khiêng tôi lên từ chân núi, họ phải trói tôi lại vì sợ tôi vật vã, làm gãy kim chích. Tôi nói, tôi không sao, cởi trói cho tôi.

Sau cơn choáng quá đau đến dại người, tôi trở nên bình tĩnh lạ thường. Bây giờ, nghĩ lại, tôi vẫn còn sợ cho sự bình tĩnh của tôi lúc đó, miệng tôi luôn lẩm bẩm: ”Anh linh thiêng đến thế sao?” Khi nhớ lại giấc mơ đêm qua.

Được gặp trại trưởng, tôi yêu cầu gì, họ cũng chấp thuận. Tôi xin được gặp bạn bè thân của chồng tôi, trao lại cho các anh hơn 120 kg qùa tôi mang đến cho chồng, tôi nói với các Anh rằng ai cần gì thì lấy thức đó, rồi thư về cho vợ con, trả tiền lại cho tôi sau, phải nói thế các Anh mới chịu nhận, thực trong lòng tôi thương các Anh như thương chồng mình vậy.
Sau đó, cán bộ trại mang đến cho tôi một xách tay, bên trong không có gì khác hơn ngoài một bộ bà ba đen đã bạc mầu.

Họ cho tôi một chén cơm hẩm, còn hôi mùi mốc, trên có một qủa trứng luộc, để mang ra mộ Anh, tôi đi như một xác không hồn, mắt mở căng như toát ra nỗi căm hờn, phẫn uất, nhưng nào nhìn thấy gì phiá trước, bước thấp, bước cao, theo hai người dìu tôi đi.

Tôi không thể chết bên mộ chồng, vì ở nơi xa kia, còn có bầy con thơ đang chờ mẹ về kể chuyện đi thăm bố.


Vài tháng sau, tôi nhận được hai gói qùa trả lại với hàng chữ: ”Người nhận đã chết, trại yêu cầu hoàn lại.” Ra bưu điện nhận lại hai gói qùa, tới bữa ăn, nhìn bốn đứa con ngồi ăn ngon lành, những món qùa trả lại, vì bố các cháu không còn cần nữa, mắt tôi lại một lần mờ lệ thương thân.

Vài năm sau, tôi dời mộ chồng về Saigon, trong ngày bốc mộ Anh, tôi được vài người bạn tù của Anh giúp đỡ, một trong các Anh lấy lên từ dưới mộ, đưa cho tôi một kỷ vật, do chính chồng tôi làm ở trong tù, nó được chồng tôi làm từ những sợi giây kẽm nhỏ, thành sợi giây chuyền, với chiếc mặt nhựa kính máy bay, có khắc hình hai đứa đứng cạnh nhau. Anh đã giấu diếm từng ngày để không bị cán bộ CS tịch thu, các bạn Anh đã tìm thấy trong khi liệm xác Anh, họ đã chôn nó cùng Anh trong huyệt lạnh.

Hơn một năm, sau ngày Anh mất, phường khóm đưa đến cho tôi một biên bản ”Phạm nhân chết”, trong đó ghi rõ tội ác của chồng tôi can tội: ”Giảng viên tâm lý chiến, xã hội học, Trường Võ Bi Quốc Gia Dalat. Án phạt: 3 năm tập trung cải tạo.” Nhưng, khi chồng tôi chết, Anh đã bị tù đúng 3 năm 7 tháng. Bẩy tháng oan nghiệt giết chết chồng tôi.


Đến năm 1994, tôi được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO vì có chồng chết trong khi bị tập trung cải tạo.
Nay, các con tôi đã khôn lớn, đã thành đạt, và các cháu rất hiếu thảo. Tôi đã và luôn tự nhủ phải đứng thẳng làm nơi nương tựa vững chắc cho chồng cho con, trách nhiệm phần nào đã nhẹ gánh.

Em đã sống vì Anh, thay Anh nuôi dậy con chúng ta, tôi vẫn thì thầm cùng Anh như thế. ”Hãy đợi em đến cùng Anh.” Vâng, tôi ước mong được sớm ra đi bình yên như thế để được sum họp với chồng tôi, để nối lại gánh hạnh phúc của chúng tôi bị gẫy sau 4 năm, 5 tháng chung sống. Tôi chắc Anh có nhiều nuối tiếc như tôi và đang chờ tôi đến cùng Anh.


Ý Cơ

 http://tdhctct.com/index.php?view=article&catid=70%3Achuyn-tu-ci-to&id=2035%3Achuyn-bun-ngi-v-tu-&tmpl=component&print=1&page=&option=com_content&Itemid=140

----------- 

Video: Tình Bất Diệt (Chuyện Buồn của Người Vợ Tù)


SỬA HIẾN PHÁP : TRÒ TRÁO BÀI 3 LÁ

SỬA HIẾN PHÁP : TRÒ TRÁO BÀI 3 LÁ
(Bài 1)


quyen tu do bao chi Tôi đọc trên internet thấy ông Nguyễn Doãn Tiên, một người đang sống ở trong nước, đưa ra lời phê bình việc VGCS sửa Hiến Pháp rất haỵ. Ông Tiên ví von hết sẩy như sau: “….. chiêu trò sửa đổi hiến pháp này chỉ là chiêu trò bài ba lá, tráo bài ba lá mà Đảng Cộng sản và một số người được trả lương để định hướng dư luận.” Đảng sửa HP mà ông bảo là trò tráo bài 3 lá thì thật tuyệt. Đẹp không gì bằng. Tôi không biết ông Nguyễn Doãn Tiên là ai, nhưng xin thành thật khen ngợi lời nhận định chính xác và rất có ý nghĩa của ông. Cả một chính sách quốc gia trọng đại của bè lũ Việt gian bán nước ông thâu tóm trong một câu thôi, ngắn gọn, đầy đủ, và hoàn toàn đạt ý.
Tráo bài 3 lá là một thứ cờ bạc bịp bọn lưu manh bầy sòng ở ngoài đường ngoài chợ để trấn lột tiền bạc của những người có máu mê đỏ đen. So sánh việc sửa HP với trò tráo bài 3 lá chí lý ở chỗ là, VGCS giống như bọn cờ bạc bịp, chúng chơi gian lận nên chỉ có thắng mà không bao giờ thua. Trái lại, người dân VN ví như dân máu mê, luôn chỉ có thua mà không bao giờ thắng. Mặc dầu biết thế nhưng dân chơi vẫn nhào vô chơi để được móc túi. Đó là điều lạ lùng không ai hiểu nổi. Trong bài viết “Xác nhận là bánh vẽ” gởi công khai trên nhiều diễn đàn cho một người bạn là bác sĩ NTC, chúng tôi nhận định rằng: đây là một trò bịp, một trò bịp vĩ đại. Bọn bán nước tại Hànội mưu mô thay đổi mặt ngoài cái thể chế hiện hành để giữ lại tất cả. Nói khác đi là chúng không để mất đi đâu cái gì mà chúng đang có được khi buộc phải thay đổi. Chúng tôi lặp lại nhận định này ở đây để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa lời phê bình của ông Nguyễn Doãn Tiên.
Bài viết này có mục đích chứng minh việc sửa đổi Hiến Pháp của VGCS là trò tráo bài 3 lá - theo cách nhìn của ông Nguyễn Doãn Tiên - Nó xẩy ra như thế nào và đưa đến hậu quả gì. Để biện lý cho những nhận định của mình, lập luận của người viết căn cứ trên những lời tuyên bố có giá trị thuyết phục của chính các nhân vật CS chóp bu nói về CS. Đó là các ông Boris Yeltsin và Mao Trạch Đông. Thiết tưởng chúng tôi khỏi cần phải giới thiệu hai nhân vật đặc biệt này, vì chắc chắn ai cũng biết cả rồi. Boris Yeltsin bộc bạch một cách thật thà về CS như sau: “Cộng sản không thể thay đổi được mà cần phải thay thế.” Trong khi Mao Trạch Đông nói năng huỵch toẹt về CS không cần khách sáo: “Chính quyền nhân dân khởi đầu từ họng súng.” Lời phát biểu của ông Yeltsin phải hiểu là, CS tự bản chất là một chế độ xấu xa, không thể lấy đạo đức để mà sửa đổi cho nó trở nên tốt được. Còn lời phát biểu của Mao Trạch Đông có ý nghĩa là, các đảng CS đều cướp đoạt chính quyền bằng súng đạn, bằng xương máu. Do đó, quan niệm giang sơn, đất nước của CS cũng giống như của các vua chúa thuở xưa: bất cứ cái gì - kể cả giang sơn đất nước - CS chiếm được bằng mồ hôi, xương máu là của riêng của đảng CS, là tư hữu, người khác không có quyền vô đấy để tranh dành. Hai câu trên nên được coi là hai định luật chính trị. Sự chính xác của nó đã được chứng minh qua lịch sử và bằng thực tế. Chúng tôi xin miễn dài dòng. Từ các định luật này, chúng ta rút ra được hai hệ quả:
- Một là, CS dứt khoát không bao giờ chịu từ bỏ quyền hành mà chúng chiếm hữu được bằng xương máu.
- Hai là, dùng các phương pháp ôn hòa như nêu kiến nghị, gởi thỉnh nguyện thư, góp ý kiến v.v. với CS để xin chúng thay đổi chế độ hoàn toàn là điều không tưởng.
Vì là một canh bạc lớn, mức ăn thua là tương lai của cả dòng giống nhà việt gian nên VGCS phải chuẩn bị thật chu đáo, không để cho xẩy ra bất cứ một sai sót nào. Cần chú ý và nhìn cho thật kỹ kế hoạch VGCS đang chuẩn bị cho việc sửa HP của chúng. Màn khởi đầu là công tác vẽ tranh.
BỨC TRANH VÂN CẨU
Việc chuẩn bị đầu tiên là chủ sòng bài (tức VGCS) dựng bức hậu cảnh cho chiếu bạc. Hậu cảnh là một bức tranh vân cẩu khá đẹp mắt, phô bầy quang cảnh hết sức sinh động của cái thế hòa hợp hòa giải của cả đôi bên trong cũng như ngoài nước.

Không phải là hiện nay chúng ta thấy nhan nhản tin tức xẩy ra liên quan đến tình hình của đất nước sao. Nếu chúng ta chú tâm vào từng sự kiện riêng lẻ, chẳng hạn vụ Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa, vụ Nghị Quyết SJ455 của Quốc Hội Virginia v.v., chúng ta sẽ chỉ cho đó là những hành vi phản bội hoặc đón gió. Sự phán đoán của chúng ta giới hạn trong phạm vi cá nhân. Nhưng nếu gom chung tất cả các sự kiện này lại để phân tích và đánh giá, chúng ta sẽ có suy nghĩ khác và thấy rằng, đàng sau cái bánh vẽ sửa đổi Hiến Pháp, chế độ hiện nay tại VN đang đi đến hình thành một thể chế chính trị mới gọi là đa đảng. Manh nha là bước đồng khởi hòa hợp giữa quốc gia và CS. Tập hợp các hiện tượng có tính cách cổ vũ cho hòa hợp hòa giải đang diễn ra hiện nay, chúng ta tưởng tượng ra ngay một bức tranh - người viết gọi là tranh vân cẩu - làm nền cho cái trò chơi dân chủ tráo bài 3 lá bịp. Tranh vân cẩu là những tụ mây trong một bầu trời nhiều mây có hình dáng đủ mọi loài thú: chó, beo, sư tử v.v., và có khi cả hình dạng người.
Xin điểm một số hình thù trên bức tranh vân cẩu trong bầu trời chính trị VN hiện nay:
* Hoàng Duy Hùng - Tên Hùng tạm gọi là lớp trẻ trong số dân tỵ nạn, có bằng cấp, rất năng động, lưu manh, và lật lọng. Hắn không đi theo con “đường mòn chống cộng” bị coi là thủ cựu và gặp toàn thất bại như thế hệ cha anh, mà tự vạch ra cho mình con đường gọi là “đấu tranh trực diện” với VGCS. Thực tế là nếu có đấu tranh thì hắn đấu tranh một mình, bởi vì hắn hoàn toàn không được một ai trong cộng đồng tin tưởng và hậu thuẫn, trái lại còn bị đồng hương tẩy chay và xa lánh. Một mình Hoàng Duy Hùng dám đấu tranh với đảng VGCS có gần 4 triệu đảng viên. Như thế có ngon không! Không phải hắn dại, cũng không phải hắn ngu, mà là hắn bịp. Làm thuê làm mướn bịp thiên hạ để kiếm ăn là “nghề của chàng.” Hoàng Duy Hùng tự cho rằng mình quan trọng ở chỗ thuộc dòng chính Hoa Kỳ, mặc dù dòng chính của hắn chỉ là đại diện ở cấp làng xã chứ chưa tới cấp tỉnh thành, càng xa lắc xa lơ cấp trung ương. Đi môi giới buôn bán làm ăn cho thành phố mà hắn dám khoe là đi thương lượng các vấn đề cấp quốc gia. Hắn mang ảo tưởng rằng hắn là con bò trong khi thực sự chỉ là con nhái bén. Các chủ nhân ông của Hùng không thấy rằng tên đầy tớ này càng trình diễn càng trở nên trơ trẽn và lố bịch. Màn kịch trong ngoài hòa hợp hòa giải của các ông chủ vì thế ngày càng trở nên mất khách. Hoàng Duy Hùng làm nghề khác kiếm ăn may ra còn giữ được nồi cơm hơn là đi làm tôi cho bè lũ bán nước và bọn nhà giầu đóng vai trò diễn viên tồi trên sân khấu chính trị như hiện nay.
* Nguyễn Đạc Thành - tiêu biểu trong giới HO. Việc làm của Thành được sự ủng hộ của một vài tướng tá võ biền. Có lẽ màn trình diễn Nghĩa Trang QĐ Biên Hòa quan trọng nên được cả hai chủ nhân Mỹ Việt cấp quốc gia quan tâm bỏ công sức tham gia chút đỉnh để khuyến khích. Tuy nhiên các ông chủ này quên rằng Thành đã bị lật tẩy vì Nghĩa Trang QĐVNCH đã bị VGCS đổi tên để xóa đi vết tích ăn cướp của chúng rồi. Việc tên thứ trưởng ngoại giao VGCS Nguyễn Thanh Sơn và TLS Mỹ Lê Thành Ân đến đốt nhang tại nghĩa trang QĐ Biên Hòa cố ý cho thấy việc làm của Thành được cả VGCS lẫn Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chính thức yểm trợ. Giới HO cựu quân nhân QLVNCH là thành phần chống cộng kiên cường nhất hiện nay tại hải ngoại. Vì thế, việc làm của Thành mang một ý nghĩa đặc biệt. Cả Mỹ lẫn VGCS đều đặt kỳ vọng vào Nguyễn Đạc Thành.
* Nguyễn Ngọc Bích - một chính khách tỵ nạn có máu mặt. Nhìn vào hoạt động chính trị gần đây của ông Bích trong cái gọi là Ủy Ban Lâm Thời VNCH gì đó mà ông là chủ tịch thì mới thấy tham vọng của Nguyễn Ngọc Bích. Ông ta tính nước đi đêm với lập pháp Mỹ (Quốc Hội Virginia) để thành lập một lực lượng mang tính cách đại diện cho nhân dân miền Nam (VN) đem về nước làm đối lập (cuội) với CS miền Bắc. Ông Bích gặp thất bại ngay từ đầu, đơn giản bởi vì ý tưởng của ông là sản phẩm của Việt Tân. Quả đúng như trước dây chúng tôi đưa ra nhận xét khi viết về Nguyễn Chánh Kết: Việt Tân là cái lò thiêu người. Bất cứ ai chui đầu vào cái lò đó chắc chắn sẽ bị cháy rụi. Ông Việt Tân Nguyễn Ngọc Bích làm chính trị rất hớ hênh. Ông bị cháy rụi là đương nhiên.
* Nguyễn Thị Thanh - một trong những người chống cộng to mồm và ồn ào nhất. Bà Thanh kêu gọi người tỵ nạn về hợp tác với VGCS để chống Trung cộng. Nghe đâu bà đã về trong nước và được VGCS o bế rất tận tình. Thực chất việc bà Thanh kêu gọi hải ngoại về hợp tác với VGCS là cái gì? Để đầu quân đi lính làm bộ đội “cụ hồ” đánh Trung cộng? Lớp trẻ có sức chiến đấu, ai về? Con số cầm chắc sẽ là zero. Đem chất xám về giúp nước chăng? Ai ôm ấp ảo tưởng đem trí tuệ về cho bọn VGCS ngu dốt sai khiến? Con số vẫn là zero. Vậy thì là cái gì? Là tiền, tôi nói không sai chứ. Ai có dư tiền muốn đem về nuôi các con hạm trong nước xin cứ tự do nghe theo lời bà bác sĩ Nguyễn Thị Thanh. Muốn thắng Trung cộng, nguyên lý căn bản là phải tiêu diệt VGCS trước. Giả sử hợp tác với VGCS may mà đánh thắng được Trung cộng thì sau đó chuyện gì xẩy ra ai cũng có thể thấy được. Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam là một kinh nghiệm đắt giá cho những ai nuôi ảo tưởng hợp tác với VGCS. Trung cộng xâm lăng VN bằng vũ lưc, đó là chuyện xui xẻo, nhưng nó đem đến cho cái may là dân tộc VN sẽ được cả thể giới đứng bên cạnh và ủng hộ. Theo ngu ý thì Trung cộng chẳng dại gì mà xâm lược VN bằng cách đó. Nó cứ âm thầm thôn tính đất nước ta không cần phải tốn một viên đạn như hiện nay, vừa chắc ăn hơn, vừa bịt miệng được thế giới. Các nước khác dù có nhìn thấy rõ bộ mặt ăn cướp của anh Ba đấy nhưng cũng không có lý do gì để xen vào được.
* Giới truyền thông và văn nghệ - Đặc biệt hai giới này tham gia màn trình diễn hòa hợp hòa giải rất đông. Dân anh chị của giới này là các ông Trúc Hồ truyền hình SPTN và tờ báo Người Việt. Cả hai có trụ sở tại Nam California. Chủ trương của Trúc Hồ rất rõ, anh ta không nhắm lật đổ chế độ VGCS vì “chế độ này đã được nhiều nước trên thế giới công nhận.” Ấy thế mà dân tỵ nạn vẫn tôn vinh Trúc Hồ là nhà chống cộng thành công ở hải ngoại. Tài của Trúc Hồ là ở chỗ đó. Ở hải ngoại này hầu như rất hiếm người làm truyền thông vì lý tưởng chống cộng. Ai cũng vì miếng cơm manh áo trước hết. Tại sao giới truyền thông và văn nghệ tỵ nạn lại ngả theo xu hướng hoạt động cho việc hòa hợp với VGCS? Chuyện này thì xin hỏi NQ36 để nó trả lời cho.
* Cành đào miền Bắc - Có ngưòi còn đăng lại bài báo của ông Minh Võ viết về cành đào Hồ Chí Minh gởi tặng cố TT Ngô Đình Diệm với ngụ ý rằng đến như cụ Diệm cũng còn muốn bắt tay hòa hợp hòa giải với Hồ Chí Minh thì tại sao những người suy tôn cụ lại chống đối?
Các nhân vật và sự việc kể trên không xẩy ra tình cờ, mà kỳ thực được bí mật dàn dựng cho vở tuồng sửa đổi HP của VGCS. Mục đích là để hướng người tỵ nạn đi đến hòa hợp với VGCS. Chủ ý của những kẻ vẽ bức tranh vân cẩu là để nói lên hai điểm quan trọng:
- Một là VGCS muốn chứng tỏ rằng đại đa số đồng bào tỵ nạn tại hải ngoai, đủ mọi thành phần, mọi tầng lớp, đã hưởng ứng việc hoà hợp hòa giải với chúng. Nói một cách khó nghe nhưng đúng với thực tế là dân tỵ nạn đã qui thuận VGCS cả rồi. Thành phần chống cộng còn lại chỉ là thiểu số không đáng kể, rất cực đoan và quá khích.
- Hai là, chuyện hòa hợp hòa giải được cả Mỹ lẫn VGCS đóng ấn “Approved.”
Không cần phải nhọc công điều tra nghiên cứu, người ta cũng thấy được thế lực nào đang với bàn tay lên trời vẽ mây thành những hình thù quái dị như thế.
(còn tiếp)
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
__._,_.___

Trung Quốc : Treo thịt cừu, bán thịt chuột chuyện cơm bữa

Treo thịt cừu, bán thịt chuột : Chuyện cơm bữa ở Trung Quốc

Một cửa hàng bán que thịt nướng tại Bắc Kinh 06/05/2013 (REUTERS)
Một cửa hàng bán que thịt nướng tại Bắc Kinh 06/05/2013 (REUTERS)

Trung Quốc nổi tiếng trên thế giới với hàng loạt các vụ bê bối thực phẩm. Bàn luận về vấn đề này, báo Le Monde hôm nay, 06/05/2013, lại cho biết cảnh sát đã bắt giữ 900 người tình nghi liên quan trong một đường dây buôn bán thịt cừu mà hoá ra là thịt chuột, thịt cáo hay là thịt ôi.

Tờ báo nhắc lại một số vụ là vào tháng 3 năm 2008, sữa bột nhiễm mélanine đã làm cho 6 trẻ em thiệt mạng và gần 300 000 trẻ khác lâm bệnh mãn tính. Năm 2011, cảnh sát đã bắt giữ 32 người vì tội bán lại dầu ăn pha trộn, lấy từ cống rãnh thải ra từ các nhà hàng. Sau đó là vụ báo chí đăng tin vào năm 2012 người trồng rau đã tẩm formol, một chất gây ung thư, lên bắp cải nhằm kéo dài việc bảo quản rau quả trong thời gian vận chuyển.
Bắt đầu ngày 25/01, chính quyền đang tiến hành một chiến dịch truy quét gian lận trong đường dây buôn bán thịt trong vòng 3 tháng. Hơn 200 tấn sản phẩm trái phép bị tịch thu trong 382 vụ khác nhau. Tại Ngô Tích, phía Bắc Thượng Hải, 63 nghi phạm bị bắt vì đã bán thịt chuột và thịt cáo dưới dạng thịt cừu. Họ còn tẩm cả keo động vật và chất nitrát vào thịt để bán ra trên thị trường.
Đối với anh Ngô Hằng, một sinh viên thành lập trang web để thống kê các vụ gian lận thực phẩm, thì sự việc này không có gì mới mẻ. Trang web này ra đời vào tháng 6 năm 2011. Anh Ngô Hằng vừa phát hiện ra một số nhà công nghiệp đã bán thịt heo khi pha thêm chất hoá học để làm đỏ thịt, rồi đem ra bán như là thịt bò. Anh lấy làm tiếc vì thiếu nguồn gốc thông tin đáng tin cậy và độc lập về hồ sơ này.
Anh còn cho biết vụ giả mạo thịt cừu có từ 7 năm nay. Năm 2006, báo chí địa phương tại đây đăng tin các quán ăn vỉa hè tại Phúc Châu đã bán những que thịt cừu với giá 5 nhân dân tệ (0,6 euro) nhưng thực chất đây là thịt mèo sau khi đã được tẩm formol. Anh chua chát lên án : « Hai năm qua, tôi chẳng thấy thay đổi gì mấy. Ngày mai, hiện tượng gian lận này sẽ vẫn tiếp diễn. »
Đầu năm 2013, dư luận Trung Quốc lại chú ý đến nhiều vụ xì căn đan có liên quan đến người tiêu dùng. Hồi tháng Tư là vụ 15 000 xác heo trôi trên sông Hoàng Phố. Sau đó, là dịch cúm gia cầm H7N9 hoành hành. Một số nhà sản xuất không ngần ngại kiếm tiền một cách vô ý thức. Một số còn tung ra thị trường thịt heo chết như thực phẩm ăn được, với giá rẻ mạt.
Hiện nay giá bất động sản, sự chênh lệch giàu nghèo, an toàn thực phẩm là những chủ đề mà người Trung Quốc luôn luôn trăn trở. Thủ tướng Lý Khắc Cường trong một cuộc họp báo ngày 17/03 đã hứa sẽ trừng phạt nặng các đường dây buôn bán thực phẩm gian lận và các nhà sản xuất sẽ phải trả giá đắt nếu không quan tâm đến sức khoẻ người tiêu dùng.
Luật hình sự Trung Quốc cấm buôn bán thức ăn độc hại. Toà án Tối cao khẳng định rằng sẽ kết án hình sự cho những hành vi buôn bán thực phẩm chứa chất hoá học và bán thịt động vật chết vì bệnh.
Trừng phạt Bắc Triều Tiên : hoạt động của các tổ chức nhân đạo thêm trở ngại
Sau một thời gian tin tức về Bắc Triều Tiên tạm lắng trên các trang báo Pháp, hôm nay, báo Le Monde vừa đưa tin ngày càng có nhiều ngân hàng phương Tây và Trung Quốc từ chối giao dịch với ngân hàng của Bình Nhưỡng.
Một trong bốn ngân hàng thương mại quốc doanh lớn nhất của Trung Quốc đã từ chối các giao dịch ngân hàng với Bình Nhưỡng. Đây chính là dấu hiệu cho thấy Trung Quốc đã quá mệt mỏi trước đồng Minh Bắc Triều Tiên. Trung Quốc không giải thích gì thêm về quyết định này nhưng theo lời một quan chức bộ Ngoại giao Trung Quốc, thì quyết định trên có liên quan đến thái độ ngoan cố gây hấn của Bình Nhưỡng.
Tờ báo đặt câu hỏi : phải chăng Trung Quốc làm như vậy là để buộc Bình Nhưỡng phải xuống nước, dịu giọng, hay là để bảo vệ các quan hệ giao dịch với quốc tế mà đặc biệt là với Hoa Kỳ.
Cục dự trữ Liên bang Mỹ đã thông báo vào ngày 11/03 vừa qua các biện pháp trừng phạt Ngân hàng Ngoại thương của Bắc Triều Tiên vì nghi ngờ ngân hàng này đã hỗ trợ tài chính cho chương trình tên lửa đạn đạo của Bình Nhưỡng. Từ đó, ngày càng có nhiều ngân hàng từ chối các giao dịch ngân hàng với Bắc Triều Tiên, đặc biệt là các ngân hàng châu Âu muốn tránh bị Hoa Kỳ lên án.
Trong bối cảnh đó, các tổ chức phi chính phủ hoạt động nhân đạo tại Bắc Triều Tiên, lại gặp thêm khó khăn, khi các ngân hàng quốc tế chối chuyển tiền cho ngân hàng Bắc Triều Tiên. Các tổ chức phi chính phủ tìm một cách chuyển tiền tài trợ khác qua ngõ của một ngân hàng Trung Quốc. Nhưng rốt cuộc, Ngân hàng Trung Quốc cũng từ chối và các tổ chức phi chính phủ không có cách nào để xoay sở.
Từ lâu, Hoa Kỳ và châu Âu luôn đề nghị Trung Quốc phải cứng giọng với Bắc Triều Tiên. Và dường như Bắc Kinh đã bắt đầu có thái độ không khoan nhượng đối với Bình Nhưỡng. Vấn đề ở đây là biện pháp tẩy chay ngân hàng Bắc Triều Tiên khiến cho các tổ chức nhân đạo bị vạ lây.
Một nhà ngoại giao châu Âu nhận định : « Không thể cho rằng hành động tẩy chay của Trung Quốc là tệ nhưng việc đó sẽ gây ra một tác động nhân đạo ». Các tổ chức phi chính phủ thì nói thẳng : trong trường hợp không có chuyển ngân thì rất khó thể nào mà duy trì các chương trình nhân đạo trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên
Nga tiếp tục đả kích phương Tây
Một năm sau khi đắc cử tổng thống, tổng thống Putin đã bịt miệng được những người đối lập ». Đó là nội dung bài viết đăng trên tờ báo Le Figaro hôm nay Tờ báo đăng ảnh chụp cuộc biểu tình vào ngày 06/05 năm ngoái, một ngày trước khi ông Putin tuyên thệ nhậm chức. Năm này, do thiếu giấy phép biểu tình, phe đối lập chỉ kêu gọi người dân tối nay tụ họp.
Đúng một năm sau ngày ông Putin đắc cử tổng thống « nhiệm kỳ thứ ba », tờ báo Le Figaro trích dẫn nhận định của tổ chức Human Right Watch : theo đó, về mặt nhân quyền, « đây là thời kỳ tệ nhất trong lịch sử Nga đương đại ». Điển hình như một số biện pháp cải cách do ông Medvedev khởi xướng, cũng bị xét lại. Đồng thời, chính quyền Putin phạt nặng các nhà tổ chức biểu tình.
Các tổ chức phi chính phủ bị tình nghi được tài trợ bằng các nguồn vốn ngoại quốc, trong đó có tổ chức Alliance Française, hiện đang là mục tiêu của chiến dịch thanh tra của ngành tư pháp. Về khuynh hướng bài phương Tây, hạ viện Douma đã cấm các cặp người Mỹ nhận con nuôi người Nga. Các biện pháp chống tham nhũng còn rất mờ nhạt trong khi những người dám lên tiếng phản đối thì lại bị truy tố.
Giữa hai lựa chọn là con đường tự do theo trường phái của Gorbatchev và khuynh hướng trấn áp đối lập, ông Putin đã lựa chọn khuynh hướng thứ hai.
Tờ báo cho biết theo kết quả một cuộc thăm dò thì có từ 48% đến 57% người Nga tin tưởng vào ông Putin. Tuy nhiên, những người ủng hộ ông ngày càng ít. Người dân đã quá mệt mỏi vì ông đã cầm quyền quá lâu : chỉ có 22% dân Nga muốn ông đắc cử nhiệm kỳ thứ 4 (2018-2024).
Pháp : Mặt trận cánh tả phẫn nộ trên đường phố
Trên các báo Pháp hôm nay đều xuất hiện ảnh của ông Mélenchon, lãnh đạo cực tả cùng nhóm biểu tình diễn ra hôm qua tại thủ đô Paris kêu gọi chuyển sang nền Đệ lục Cộng hòa. Báo Cộng sản l’Humanité thì in ngay trên trang nhất : « Cảnh tả đang diễu hành cho một nền chính trị khác ». Báo thiên hữu Le Figaro chạy tựa lớn : « Lời chỉ trích của ông Mélenchon và thành viên đảng xã hội bị xuống tinh thần ». Báo Libération thì đăng bài : « Cánh tả cực đoan lại đổ xuống quảng trường Bastille ».
Theo tin từ tờ Le Figaro, lãnh đạo cực tả, ông Mélenchon đánh giá « thời kỳ thử việc của tổng thống Hollande đã chấm dứt ». Hôm qua, một ngày trước khi kỷ niệm một năm nhậm chức của ông Hollande, phe mặt trận cánh tả đứng đầu là ông Mélenchon đã thành công khi kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống chính sách thắt lưng buột bụng hà khắc. Tờ báo còn cho biết, qua ngôn từ của ông Mélenchon như bóng gió tiến cử mình thay thế thủ tướng Jean-Marc Ayrault, đứng đầu chính phủ.
Trong cuộc biểu tình hôm qua còn có các gương mặt chính trị khác tham gia như ứng cử viên thuộc đảng Xanh, bà Eva Joly. Tờ báo còn miêu tả một số người dân cầm cây chổi xuống đường, xuất phát từ ý tưởng muốn thanh lọc đạo đức mà ông Mélenchon đã đưa ra. Theo một cuộc thăm dò dư luận thì nếu bầu cử tổng thống diễn ra cùng ngày vào năm nay thì ứng của viên tổng thống bà Marine Le Pen còn đứng trước cả tổng thống Hollande và được lọt vào vòng hai.
Bên cạnh đó, tờ báo Cộng sản l’Humanité dành cả 4 trang để phân tích đề tài này. Tờ báo khá hài lòng, đánh giá sự kiện hôm qua quả là một thành công của Đảng Mặt trận cánh tả bởi đã huy động được nhiều thanh niên tham gia. Thành phần biểu tình đến từ khắp các tỉnh thành như ở Orléans, số lượng tham gia tăng cao hơn dự kiến. Còn ở Perpignan thì có đến 1500 người xuống đường. Một người biểu tình tại đây cay cú với các cụ xì-căng-đan trốn thuế của ông Cahuzac, vụ tài khoản đáng nghi của ông Guéant và xem đây như một sự thối nát đến tận xương tủy của hệ thống.
Tại Paris, cờ xanh hòa cùng cờ đỏ trong dòng người biểu tình. Đây là cách mà Đảng xanh nhắc nhở tổng thống Hollande về những cam kết của ông đối với đảng này.
Tờ Libération trích lời nhận định của cựu ứng viên tổng thống Đảng Xanh Eva Joly. Theo bà thì cuộc biểu tình hôm qua, đối với họ, không phải là hành động chống chính phủ mà đây là một điểm tựa để chính phủ có một chính sách khác. Tờ báo còn nhận định con số 180 000 người tham gia mà Đảng của ông Mélenchon đưa ra là quá cao so với con số thực tế. Theo thẩm định của các phóng viên thì có khoảng 50 000 người còn cảnh sát Paris thì đưa ra con số 30 000 người.

NGƯỜI THAY ÁO


Cũng là một tình cờ mà tôi đến Los Angeles lần này. Ông anh tôi, một người suốt đời ăn ở hiền lành như một cục đất, vậy mà tới cái tuổi trên sáu chục lại vướng vào chứng bệnh ung thư bao tử. Cả nhà vẫn dấu không cho anh tôi biết là ông bị cái bệnh quái ác này. Thư viết cho tôi ông vẫn lạc quan cho là ông chỉ bị đau bao tử, căn bệnh mà ông đã khổ với nó từ ngày còn ở Việt Nam, và với tiến bộ của nền y khoa Hoa Kỳ trước sau gì cũng hết bệnh. Bà chị tôi điện thoại qua kể là bác sĩ đã mổ nhưng đành bó tay không chữa trị gì được và họ cho biết anh chỉ còn sống được một tháng nữa là cùng. Bà chị tôi nghẹn ngào nói là tự nhiên mấy hôm nay anh cứ mong mỏi được gặp tôi. Tôi mua vé máy bay ngay và trù tính sẽ đi vào hai tuần nghỉ Giáng Sinh.
Tôi tính trong bụng chuyến đi này sẽ là một công đôi ba chuyện. Tránh được hai tuần mùa đông của xứ Montréal lạnh lẽo này cũng là một cái hay. Tới thăm đất thánh điện ảnh Hollywood một đời ao ước được đặt chân tới là một cái hay khác. Tiện thể nếu gặp bà già Audrey Hepbum thì nói nhỏ với bà chẳng nên chường mặt trên TV nữa vì bà đã xói mòn trong tôi hình ảnh một Audrey mát rười rượi trong Vacances Romaines của thời mộng mơ cũ. Lại còn gặp đám bạn đông như kiến ở một nơi được mệnh danh là một quê hương ngoài quê hương nữa chứ. Trước kia gặp nhau ngày một bên những ly cà phê buổi sáng ở Pagode, những chai la ve lạnh buổi chiều ở Givral, vậy mà đã mười lăm năm rồi không trông thấy mặt nhau. Kể cũng lâu thật. Bằng cả một đời lưu lạc của tiểu thư Thúy Kiều chứ ít sao. Phải tới tận nơi xem cái đám công tử Saigon ngày xưa bây giờ râu tóc ra sao. Tôi không qua thăm thì chắc tới tết Congo tụi nó cũng chưa qua thăm tôi. Thói đời thì anh nghèo bao giờ cũng phải tới thăm anh giàu cũng như tôi ở cái xứ lạnh lẽo thì phải qua thăm cái xứ nắng ấm chứ ít khi có chuyện ngược đời lắm.
Mọi chuyện tính đâu ra đó chỉ còn vài hôm nữa là khăn gói lên máy bay thì nhận được điện thoại của bà chị. Anh chú mất rồi chủ ơi! Tiếng nức nở khi có khi mất lùng bùng bên tai. Dù sao chú cũng phải qua nhìn mặt anh ấy lần chót. Tiếng khóc nỉ non làm tôi nẫu gan nẫu ruột. Thật chẳng ra làm sao. Tính đi thăm người sống lại hóa ra đi đưa người chết. Lên máy bay mà người cứ bần thần như lỡ một cái hẹn quan trọng.
Mấy tên bạn đến đón tôi ở phi trường hét ầm lên khi thấy mặt tôi ló ra khỏi cửa. Vẫn đùa nghịch như xưa. Tránh ra! Tránh ra cho quan đi ! Quan quách gì nữa. Mỗi đứa chỉ đập vào vai tôi một cái mà hai vai như xệ xuống. Trông nó vẫn như vậy, chẳng khác gì cả. Tôi nhận ra từng tên bạn ngay tức thì. Chẳng khó khăn gì lắm. Nhưng vẫn như vậy sao được. Tóc tai đã xơ xác đổi màu, da dẻ đã từng vẩy xếp lớp, bộ điệu đã nặng nề chậm chạp. Dung nhan nào cũng đã tới cuối thu. Mười lăm năm chứ ít ỏi gì. Thịt da chứ có phải sắt đá đâu mà không hư hao. Cười nói huyên thuyên cho hả nỗi mừng tái ngộ mà có nghe được câu nào ra câu nào đâu. Mấy khi lại có dịp sống lại những ngày tươi tắn cũ.
Tôi thả người cho mấy tên bạn lôi xềnh xệch ra xe. Trời đất gì mà đã thiệt. Ấm áp như một làn da mềm mại. Mấy cái áo lạnh trên người trông ngớ ngẩn lạ. Nắng chiều thoi thóp cũng vẫn còn đẹp chán. Lại còn nhưng bóng cây xanh rậm xanh rì, hoa hoét lả lơi cười cợt. Chẳng bù với những cành cây gầy guộc khô khốc, những vạt tuyết lạnh lùng câm nín nơi tôi vừa rời xa. Phải đưa ông quan lạc loài này đi ăn phở “dân biểu” chứ tụi bay? Một giọng đề nghị vang lên. Một giọng khác hỏi. Mày còn nhớ thằng Hùng dân biểu không? Tôi chẳng cần lục soạn trí óc lâu. Một khuôn mặt rắn rỏi cùng cái miệng lúc nào cũng tía lia với hai cục nước miếng trắng đục luôn luôn đứng chầu hai bên mép hiện ra rõ rệt trong đầu. Nhớ chứ! Bây giờ nó là “bếp trưởng” của tiệm phở nổi tiếng nhất ở đây đấy. Hồi xưa nó nói bây giờ nó làm! Cả bọn cười ồn ào vì câu pha trò duyên dáng nhưng nghiệt ngã. Tôi nghĩ thầm trong đầu. Mấy cái trại cải tạo của Việt Cộng có những tác dụng bên lề thật tức cười. Khi không mà các quan đi vài năm về có cái nghề tay trái sang đây lại hữu dụng. Có quan nghiên cứu được nghề xem tử vi như thần kiếm mỗi lá số vài chục như không, có quan hớt tóc nhuyễn như từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ chỉ biết có hớt tóc cứ ngày ngày vít đầu đồng hương lấy tiền khỏe ru. Hùng dân biểu ở trong trại rất chăm chỉ pha pha chế chế “cải thiện” với thịt rắn thịt cóc thế mà thành tài nấu phở bò nổi tiếng ở xứ lạ quê người mới chết chứ!
Tiệm phở đã có khá đông thực khách. Mấy cái bàn kê lại với nhau mới đủ chỗ cho đám công tử già kề vai nhau hội ngộ. Một tên chạy vào bếp kéo Hùng lên. Chiếc tạp dề màu cháo lòng được giữ trên người bằng hai sợi dây đeo ngang vai và mái tóc bạc trắng của Hùng làm hắn lạ hoắc. Chỉ khi hắn nhảy xổ vào tôi vừa cười nói huyên thuyên nước bọt kéo ra hai bên mép vừa đưa hai tay nắm vai tôi lắc lắc như muốn biết chắc chắn có thật là tôi không thì tôi mới thấy đúng là ông dân biểu ngày xưa. Hùng rút vội xuống bếp sau khi đã đe dọa sẽ làm cho tôi một tô phở thịt cóc nấu bằng... lon guigoz! Đang vui là thế mà câu nói của Hùng làm đầu tôi nặng trĩu hình ảnh nhếch nhác của những ngày nhọc nhằn truyền nhau lon guigoz canh thịt cóc nấu với mấy cọng rau dại vớ vẩn trong trại cải tạo. Thấy tôi ngồi thừ mặt ra một tên lớn tiếng mắng là vừa mới bày đặt đi giang hồ đã lo... nhớ vợ. Mấy tên này chưa mất nước đã cao chạy xa bay đâu có hiểu được tình nghĩa bạn bè trong lúc bi cực. Nó như một chất keo tội nghiệp gắn bó những mảnh hồn vụn nát tiêu điều trong cảnh u uất của đời tù tội.
Mỗi tên có một tô phở nghi ngút khói thơm lừng trước mặt. Hùng trở ra với điếu thuốc trên môi hỏi tôi. Cậu còn nhớ mấy tên “đồng đớp” của tụi mình không? Chữ “đồng đớp” kéo tôi trở lại những tháng ngày mỏi mệt cũ. Mấy tên quản giáo gọi nhau là “đồng chí” thì mấy tên tù có “đồng đớp” ăn chung với nhau, “đồng sàng” nằm chung với nhau, và khi bị giải đi hai tên chung một cái còng khóa lại với nhau thì có “đồng khóa”. Tôi gật đầu. Nhớ chứ? Lạng “héo” này, Bình “tồ” này, Chí “ngỏng” này. Hùng nhìn tôi. Giờ chỉ còn cậu và tôi. Tôi giật mình hất đầu lên chờ đợi. Hùng hạ giọng như nói thầm. Lạng bỏ xác trong trại tù ngoài Bắc, Bình mất tích trên biển Đông, Chí chết vì bệnh phổi khi vừa được thả về với gia đình. Tôi lặng người nhìn Hùng. Trông hắn như một con cú chỉ biết báo những tin ai oán. Chưa để cho tôi rũ bỏ được nỗi thảng thốt. Hùng hỏi tôi. Cậu quen thân với Vĩnh phải không? Quen quá đi chứ, giờ hắn ở đâu? Vợ hắn ở đây này. Giọng nói của Hùng nghe bình thản, nét mặt phẳng lì, đôi mắt chớp tự nhiên nhưng sao tôi thấy trong ngực tôi cuồn cuộn từng hơi thở nhoi lên mệt ứ. Để tôi cho cậu địa chỉ. Gần đây thôi.
Chính chị Vĩnh ra mở cửa cho tôi. Gầy hơn, đen hơn và buồn hơn so với lần cuối tôi gặp ở Saigon bảy năm trước đây. Thấy tôi chị như hét lớn:
- Trời ơi, anh Nam!
Rồi chị òa khóc nức nở. Đôi vai mảnh mai rung lên cùng với tiếng nói nghẹn ngào như không muốn thoát ra khỏi cổ họng:
- Anh Vĩnh chết rồi anh Nam ơi?
Tôi đứng như trời trồng, đầu óc trống rỗng, ngơ ngẩn như vừa lạc vào một bãi sa mạc mênh mông chỉ có tôi với cát. Chiều hôm qua tôi cũng đã chôn chân lặng nhìn ông anh tôi nằm bất động giữa thảm hoa trắng đến lạnh người. Cái chết thật gần và thật tinh quái. Ông anh tôi, Lạng, Bình, Chí. Và bây giờ là Vĩnh. Chỉ trong vòng một ngày đặt chân tới thành phố xa lạ này tôi đã năm lần đụng đầu cái chết. Chết như ông anh tôi đã ra một lẽ. Gần tới tuổi “cổ lai hi” mà chết một cách có lớp có lang như vậy thì cái chết cũng nhẹ nhàng đi nhiều. Còn lũ bạn tôi đời chưa tắt nụ cười mà xác thân đã gục xuống. Chúng bị xô đẩy thô bạo tới cái chết một cách tức tưởi. Thảm cho người chết và hụt hẫng cho người sống.
Chị Vĩnh gục mặt xuống như một bức tượng thảm sầu. Tôi ngồi chịu trận cứng đơ như một tượng đá. Vĩnh đã chết. Tôi cố làm quen với cái sự thực khốn nạn này. Ngày tôi bỏ nước ra đi tôi có tới gặp Vĩnh để chào tạm biệt. Tôi nghĩ rằng tạm biệt vì tôi biết thể nào Vĩnh cũng ra khỏi nước được. Hắn đã chẳng đi tới cả chục lần rồi đấy sao. Số chưa tới thì chịu vậy. Hai lần bị bể nặng nề nhất đã đưa Vĩnh vào tù mỗi lần cũng ngót nghét một năm. Ấy là nhờ vợ hắn xông xáo chạy chọt mỗi lần tốn cả vài cây vàng chứ không thì cũng mọt gông. Mỗi lần đi hụt lại làm cho hắn cương quyết thêm. Vượt biên cũng như đánh bạc ấy ông ạ, càng thua càng cay cú muốn đánh thêm. Vẻ mặt hắn bình thản khi nói. Cái cay cú khi đã vượt một mức độ nào đó lại mang một bộ mặt hết sức hiền lành. Như nhìn mặt nước phẳng lặng đâu có ngờ tới những đợt sóng ngầm dữ dộì nằm ở bên dưới. Vượt biên đối với Vĩnh như một cái đạo. Chỉ có nhắm mắt đi theo chứ chẳng cần phải nghĩ ngợi lôi thô. Vài tháng trước khi tôi đi, Vĩnh đạp xe ghé qua nhà tôi, cởi mấy sợi dây thun cột chằng chịt trên “poóc-ba-ga” lôi xuống một cái bị cói nặng trình trịch. Hắn đã cho tôl coi mấy cục gang. Ông có biết cái gì đây không? Thấy bộ mặt ngẩn tò te của tôi coi bộ thiếu ánh sáng quá hắn trả lời luôn cho khỏi mất thời giở. Cối xay bột làm bánh phở. Nghề này ở bên đó bây giờ ăn chết. Tôi mang một cái qua làm mẫu cho chắc ăn. Tôi góp ý với hắn. Sao ông không vẽ mẫu ra giấy mang theo có tiện hơn không. Nặng như cái cùm thế này ông đi chui sao mà mang theo được? Lo chi! Lần này chủ tàu là chỗ bà con tôi có thể gửi xuống tàu trước được. Tôi không nói gì thêm nữa. Tính Vĩnh thì tôi quá biết. Muốn gì là làm cho bằng được. Có trời cản nổi hắn. Bữa tôi mới ở tù về chẳng biết làm nghề ngỗng gì nuôi vợ con thì Vĩnh bảo tôi hắn có một chiếc xe nước mía tôi lấy mà dùng cho qua cơn túng bấn. Lúc đó bụng dạ tôi rối mù như một nùi chỉ suốt chẳng biết quyết định ra sao. Từ nhỏ tới giờ chỉ biết đi học rồi đi làm có biết bán buôn gì đâu, lại là cái loại buôn bán cùn mằn đầu đường xó chợ thế này. Vĩnh chẳng nói chẳng rằng kéo tôi về nhà hắn. Thế rồi hắn cùng tôi lễ mễ đẩy chiếc xe nước mía từ Ngã Ba Ông Tạ về tới Thị Nghè. Mồ hôi mồ kê nhễ nhại mà mặt hắn vẫn tỉnh bơ trong khi tôi mắc cỡ muốn chết chỉ sợ gặp người quen. Chính hắn đi cất mía, chỉ dẫn và bán với tôi cả tuần lễ cho tôi tập quen dần. Chiếc xe nước mía giúp tôi sống qua ngày cả năm trời sau đó.
Tính Vĩnh cương quyết như vậy mà khi tôi tới chào hắn để ra đi hắn đã mềm nhũn như một sợi bún thiu. Mắt hắn chớm đỏ như chỉ chực ứa nước mắt ra. Giọng nói rạn nứt thốt ra từ đôi môi giật giật run rẩy. Hắn cứ luôn miệng dục tôi đi về và chúc tôi may mắn nơi xứ người. Tôi thì lại cứ nấn ná không đành lòng rời hắn ra về. Tôi biết hắn không mảy may tị nạnh với sự may mắn của tôi nhưng hắn cũng chẳng thể bình thản với sự không may mắn của hắn. Vĩnh không muốn kéo dài nỗi nhức nhối và tôi cũng chẳng thể đành đoạn mau chóng xa lìa một tên bạn thân nhất đời. Cuối cùng cũng tới lúc tôi phải ra về. Vĩnh đưa tôi ra cửa, đưa tay cho tôi bắt, và rụt phắt tay quay mặt đi vào trong nhà. Tôi như mường tượng ra giọt nước mắt mà Vĩnh không muốn tôi thấy.
Bây giờ tôi ngồi trước mặt chị Vĩnh thần trí bảng lảng, mắt vẫn ráo hoảnh. Tôi chưa làm quen được với cái chết của Vĩnh. Vĩnh đã cháy túi sau ván bài rủi ro cuối cùng. Một sự cháy túi rốt ráo chẳng còn cơ hội để gỡ lại. Tôi hỏi lại chị Vĩnh:
- Vĩnh mất trên đường vượt biên phải không?
Chị Vĩnh gật đầu, hai vai vẫn rung lên từng cơn. Tôi đan hai tay vào nhau loay hoay một cách tội nghiệp chẳng biết lựa lời hỏi thăm câu chuyện ra sao cho khỏi chạm tới mối thương đau của vợ bạn. Chị Vĩnh như nói một mình:
- Lầm lỡ một lần mà mất mạng. Nếu ngày đó anh ấy đừng về.
Một ngày sau khi Việt Cộng chiếm Saigon tôi tới sở trình diện theo lời kêu gọi hàm ý đe dọa của Ủy Ban Quân Quản lòng nặng trĩu những âu lo. Vừa bước chân qua cánh cổng lớn tôi hoảng hốt không tin ở mắt mình khi thấy Vĩnh đứng ngay giữa sân. Tôi kéo hắn ra chỗ vắng gằn giọng hỏi. Ông về làm chi vậy? Vĩnh cố lấy giọng bình tĩnh. Phải về chứ ông. Mình đâu cỏ bỏ được đất nước mình. Việt Cộng vào mà không có đổ máu thì mọi việc đâu sẽ vào đấy. Chẳng sao cả đâu! Tôi nhìn sâu vào mắt Vĩnh cố tìm những nét ẩn dấu sau những lời biện bạch tội nghiệp này. Tôi nghe giọng Vĩnh như có ý bào chữa cho bước sẩy chân đáng tiếc của hắn. Cả trăm ngàn người giẫm lên nhau chạy đi trong khi Vĩnh lù lù dẫn xác trở về.
Tôi và Vĩnh ở chung phòng với nhau khi cùng đi tu nghiệp tại Manila. Hai đứa cùng mới có con đầu lòng được sáu tháng nên hợp nhau ở chỗ nhớ con. Nhớ quay nhớ quắt, bồi hồi như mang lòng dạ ra phơi nắng. Mỗi lần đi phố là y như rằng thế nào cũng tìm vào tiệm bán quần áo hoặc đồ chơi trẻ con mua một thứ mang về vứt vào tủ. Riết rồi tủ đứa nào đứa nấy đầy nhóc. Có ai về Việt Nam lại gửi về một ít. Gửi xong ngồi thừ ra một đống chẳng muốn nhúc nhích tay chân. Đầu năm 1975 tôi về nước trước cũng mang về cho con Vĩnh cả nửa xách tay đồ của bố gửi. Theo chương trình thì Vĩnh còn phải ở lại tới tháng bảy mới mãn khóa tu nghiệp. Tôi cứ đinh ninh giờ này Vĩnh còn yên lành ở Manila. Vậy mà Vĩnh đã bỏ về sớm. Những ngày cuối tháng tư khi Saigon đang ở trong những giờ phút tuyệt vọng Vĩnh lên Tòa Đại Sứ Mỹ ở Manila đòi về. Họ hỏi Vĩnh có điên không mà quay về vào giờ phút này. Vĩnh cương quyết đòi về vì lý do gia đình còn ở Việt Nam. Tôi chắc đứa con mà Vĩnh nhớ quay quắt đã là một quả cân có trọng lượng làm lệch cán cân suy nghĩ của Vĩnh. Cơ quan USAID đã đưa Vĩnh đi tu nghiệp thì nếu Vĩnh đòi về họ phải đưa về. Nhưng người Mỹ cố thuyết phục Vĩnh lần chót nên chờ xem tình hình ra sao đã rồi sẽ quyết định sau. Vĩnh lớn tiếng phản đối và nhất định đòi về. Viên Lãnh Sự cũng lớn tiếng cho Vĩnh biết là muốn ra khỏi Việt Nam mới khó chứ về thì dễ lắm. Muốn một ngàn chỗ cũng có ngay. Và Vĩnh đã ngồi thênh thang một mình trên chiếc máy bay quân đội Mỹ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất ngày 28 tháng 4. Vừa bước chân ra khỏi máy bay Vĩnh đã ngất ngư trong trận pháo kích vào phi trường. Hắn phải chui vào quầy vé bỏ trống của các hãng hàng không để tránh đạn. Số Vĩnh còn may nên không lãnh thẹo trong ngày qui hồi cố hương.
Nhưng vết thẹo trong lòng Vĩnh thì chẳng có cách gì tẩy xóa được. Cuộc sống càng ngày càng tệ mạt cả tinh thần lẫn vật chất đã làm Vĩnh tê tái nuối tiếc. Trong đầu Vĩnh chỉ còn
nỗi ám ảnh duy nhất là toan tính vượt biên. Đó là cái “nghề” duy nhất của Vĩnh trong mười hai năm ở với Cộng Sản. Và Vĩnh đã tử vì nghiệp.
Nước mắt là phương tiện chuyên chở nỗi buồn ra khỏi con người khá hữu hiệu. Chị Vĩnh ngồi khóc một hồi rồi như chợt nhớ ra địa vị chủ nhà của mình:
-Tôi thật vô ý quá. Để bảo cháu rót nước mời anh. Anh vẫn còn thích nước trà đá như ngày xưa chứ?
Tôi cảm thấy ấm lòng khi nhớ lại những ngày lui tới nhà Vĩnh. Vậy mà đã âm dương đôi ngả. Tôi bước tới trước bàn thờ đơn sơ có khung hình của Vĩnh. Tấm hình Vĩnh chụp tại nhà một người Phi Luật Tân làm ở trong trường Đại Học. Công chức Phi thường cũng phải có thêm một nghề tay trái mới đủ ăn. Bữa chụp hình Vĩnh đã nói đùa là vừa giúp đỡ ông già tốt bụng vừa có cái để trên bàn thờ sau này. Câu nói gở của Vĩnh lúc đó tôi nghe ra như một câu vui đùa ngang tàng nên tôi cũng rỡn lại. Chân cẳng còn dơ hầy mà đòi leo lên bàn thờ. Còn lâu! Gần hai chục năm có phải là lâu không? Bây giờ Vĩnh đã chễm chệ cười mỉm trên bàn thờ. Tôi thắp một cây nhang. Làn khói vắt vẻo uốn lợn trước mặt Vĩnh. Khuôn mặt đầy đặn, trắng trẻo, đôi môi lúc nào cũng hé mở phô ra hàm răng thưa, hai hàng lông mày rậm rạp nằm thẳng trên đôi mắt nhanh nhẹn sắc lẻm.
Chính nhờ khuôn mặt bảnh trai này mà Vĩnh đã được anh em lựa đóng vai chú rể trên sân khấu lộng lẫy huy hoàng giữa thủ đô Manila. Trong Đại Hội Văn Nghệ sinh viên quốc tế theo học tại Phi năm đó, sinh viên Việt Nam chơi trội trình diễn một đám cưới cổ truyền Việt Nam. Chúng tôi xúm xít nhau may áo dài, làm khăn làm nón và còn làm luôn cả một chiếc lọng óng ánh rực rỡ. Một tên thổ công ở Manila còn đặt nguyên một con heo quay cho đám cưới gây được ấn tượng mạnh với người ngoại quốc. Cô dâu là vợ của một Việt kiều trẻ trung và vui tính. Lúc cô dâu chú rể áo quần tươm tất đứng cạnh nhan mọi người khen là rổ rá cạp lại mà cũng đẹp đôi ra phết. Đám cưới nhiều màu sắc và lễ nghi lạ lùng đã làm xôn xao cử tọa đông nghẹt hội trường rộng lớn và mang lại cho sinh viên Việt Nam giải thưởng danh dự một cách không khó khăn lắm. Sau giờ trình diễn chúng tôi kéo về học xá ngả thịt heo quay ăn với bánh mì. Không thấy Vĩnh đâu mọi người nhớn nhác tìm kiếm. Một lúc sau Vĩnh mới chui từ phòng tắm ra đầu tóc ớt sũng chải chuốt gọn gàng. Anh Việt kiều chồng của cô dâu nhìn Vĩnh nhẩn nha nói. Nhiêu đó đủ rồi ông bạn, làm chi mà tắm rửa sạch sẽ thế? Cứ tưởng bở! Mọi người lăn ra cười trong khi mặt Vĩnh đỏ bừng như một chú gà chọi hay mắc cỡ. Ngọn đèn đỏ trước khuôn hình Vĩnh làm tôi nắm bắt được vẻ mặt sượng trân của hắn một đêm xưa. Những kỷ niệm như làm cho người ta níu kéo được cuộc sống dù là một cuộc sống đã mất tăm mất hút trong cái biền biệt của thời gian. Cuộc tử sinh sao quá suồng sã!
Tôi đã đọc được đâu đó một ý tưởng như thế này. Cái chết là một cuộc chuyển đổi nhẹ nhàng sự sống của con người. Khi chết phần tâm linh rũ bỏ thể xác để đi tới một cuộc sống khác giống như người ta thay một chiếc áo cũ. Có sá chi cái phần vật chất vô dụng của người chết để lại như một miếng giẻ rách mà người sống gào thét tiếc nuối. Thác là thể phách còn là tinh anh. Mà cái tinh anh thì còn mãi trong cõi bất diệt. Nghĩ được như vậy thì cái chết nhẹ được nhiều phần lắm.
Tôi nói với chị Vĩnh ý tưởng này như một lời an ủi khi tới từ giã chị trở về Montréal. Chị tần ngần ngồi vân vê chéo áo, đôi mắt trĩu nặng như phải gánh chịu ngàn cân buồn phiền. Cái buồn phiền như được lên men trong giọng nói chầm chậm mỏi mệt:
- Không những tôi nghĩ mà tôi còn tin chắc là anh Vĩnh vẫn còn đâu đó quanh tôi . Nhưng cái mất mát từ một hiện diện sờ mó được tới một ý niệm thấp thoáng nét hư không phải cần có thời gian mới nuốt trôi được anh ạ. Nếu bây giờ tôi nói với anh là tôi đã nhìn thấy anh Vĩnh bên ngoài cõi sống này anh có tin không ?
Tôi gật đầu không nói, trong đầu nghĩ là sự khắng khít vợ chồng và nỗi tiếc thương khôn nguôi có thể đưa chị phiêu bồng qua thế giới trừu tượng giao hòa trong khoảnh khắc với
cái phần tinh anh của Vĩnh. Nhưng câu chuyện chị kể sau đó đã đi xa hơn ý nghĩ của tôi rất nhiều.
Lần này Vĩnh ra đi một mình để lỡ có bị bắt nữa thì có người ở ngoài xoay xở dễ dàng hơn. Vợ con Vĩnh sẽ đi sau nếu Vĩnh thoát. Canh bạc này Vĩnh đã hầu như nắm chắc phần thắng vì Vĩnh đã đổi cách đi. Thay vì nhào ra biển như những lần trước, Vĩnh theo đường bộ xuyên qua Kampuchia và đáp một chiếc ghe nhỏ vượt eo biển qua Thái Lan. Chơi xả láng với Hà Bá không xong thì chơi một tiếng bạc nhỏ với anh Hà Bá tép riu chắc khá hơn. Mà khá thật. Chị Vĩnh đã nhận được mật mã của chồng do người môi giới đưa tới nhà khoảng một tuần sau đó. Và chi đã trả tiền liền như đã thỏa thuận trước. Vả lại người môi giới cũng là chỗ quen biết nên chị thở phào nhẹ nhõm cả người khi trao tiền. Thế là cuối cùng Vĩnh đã thoát và đang phây phây trên đất Thái. Ba tháng sau hai mẹ con chị Vĩnh cũng khăn gói ra đi. Và cũng tới Thái Lan an toàn. Chị dò hỏi khắp nơi, liên lạc với tất cả thân nhân, bè bạn đang tị nạn tại Thái mà vẫn không một ai biết chút tin tức gì về Vĩnh. Nỗi lo lắng trong chị như thiêu như đốt. Cho tới ngày chị bắt liên lạc được với vài người đi cùng chuyến với Vĩnh. Họ cũng chẳng biết Vĩnh ở đâu. Chị Vĩnh thực sự hốt hoảng. Chị chẳng biết bấu víu vào đâu cho ra tung tích chồng. Chỉ còn một cách là đặt lòng tin vào các đấng thiêng liêng. Chị tìm vào ngôi nhà nguyện bằng cây nhỏ bé đơn sơ trong trại quì cả tiếng đồng hồ trước bàn thờ để cầu nguyện. Khuya hôm đó chị chập chờn trong giấc ngủ đang tới, nửa mê nửa tỉnh, thần trí nặng trĩu váng vất thì chị nghe thấy tiếng chồng. Giọng kể lể vang vọng từ một nơi chốn mù khơi nghe rõ mồn một. Vĩnh kể là cuộc hành trình đã đưa anh tới bờ biển Thái Lan vào lúc rạng sáng ngày cuối năm dương lịch. Tài công nương theo bóng tối đưa tàu vào bờ rồi còn phải quay tàu về trước khi mặt trời mọc nên thời gian đổ người xuống rất lụp chụp vội vàng. Khi tàu còn cách bờ một khoảng cách vừa đủ cho mọi người có thể bơi vào đất liền được thì họ dục hành khách gồm toàn đàn ông ghi mật mã và nhảy xuống biển bơi vào. Người nào người nấy vội vàng thi hành lệnh của chủ tàu. Vĩnh là người chót đứng ở boong tàu. Anh nhìn xuống mặt biển đen ngòm chẳng thấy gì hết nên ngập ngừng chưa dám nhảy xuống. Một bàn tay đẩy Vĩnh xuống biển. Đầu Vĩnh va vào một tảng đá ngầm, Vĩnh hôn mê và chết đuối.
Chị Vĩnh ngồi bất động khi kể tới đây. Chi liếc nhìn lên khung hình của Vĩnh trên bàn thờ. Ánh mắt Vĩnh thấp thoáng sau những vệt khói đang lững lờ kéo nhau lên cao. Chị khẽ thở dài như muốn trút tất cả muộn phiền ra khỏi lồng ngực:
- Khi nghe nhà tôi nói vậy tôi buột miệng than. Sao người ta ác với anh quá vậy! Nhà tôi trả lời là người ta không có ý giết vì họ chỉ xô nhẹ xuống biển cho nhà tôi bơi vào bờ nhưng chẳng may gặp tảng đá ngầm. Giọng nói nhà tôi đày vẻ nhân ái khoan hòa. Tôi hỏi tiếp sao người ta biết anh chết mà còn mang mật mã tới nhà để lấy tiền. Vẫn với giọng tha thứ, mềm mỏng, nhà tôi nói là con người ai chẳng có tính tham, chẳng nên trách người ta.
Cõi không gian mà Vĩnh đang có mặt chan hòa những ý niệm hồn nhiên trong lành. Như những phiến mây lờ lững êm ả dưới ánh mặt trời rạng rỡ chói chang. Vĩnh tả lại niềm hạnh phúc thanh thản của một nơi chốn toàn thiện toàn mỹ chỉ có những bậc thánh nhân ngự trị. Chị Vĩnh muốn được tận mắt nhìn thấy chồng trong chốn hoan lạc đó. Chị lại tới ngôi giáo đường nhỏ bé nài nỉ Đấng Toàn Năng cho ý nguyện của chị được viên mãn. Không hiểu là do cái tình quá khắng khít của chị với người chồng đã khuất bóng hay là do sự dễ dãi bất ngờ của Đấng Tối Cao mà chồng chị đã được phép tỏ hình hài với chị. Cũng vào một buổi tối tâm trí chị nửa mê nửa tỉnh, tâm linh chị như đang thoát khỏi xác phàm thì Vĩnh bỗng xuất hiện trong cõi phiêu bồng trắng xóa nét tinh tuyền. Chiếc áo choàng trắng trùm trên người làm Vĩnh như lơ lửng bập bềnh trong chốn huyễn mộng. Khuôn mặt Vĩnh ánh lên vẻ sáng láng thiêng liêng. Ánh sáng từ trong làn da mịn màng thấm ra làm như thể chính khuôn mặt là ánh sáng, một vẻ sáng kỳ diệu lóng lánh được kết bằng muôn triệu vì sao li ti xinh xắn. Nét mặt Vĩnh thanh thản một cách lạ kỳ, cái thanh thản không thể có nơi người trần thế. Chị Vĩnh chưa bao giờ nhìn được khuôn mặt chồng trút bỏ được mọi phiền toái của cuộc đời như vậy. Chị muốn bày tỏ nỗi thương nhớ với chồng thì Vĩnh biến đi như một giọt nước hối hả bốc hơi. Như chưa hề hiển hiện. Như chẳng có chẳng không. Mây trời khói núi muôn đời vẫn cứ lãng đãng phiêu diêu.
Trí óc tôi thuộc loại bướng bỉnh trì chậm. Nó chưa được điều chỉnh để làm quen với một Vĩnh thanh cao như vậy. Vĩnh trong tôi vẫn cứ là một Vĩnh loay hoay với những canh bạc trần thế, một Vĩnh buồn vui với bạn bè thân quen, một Vĩnh rất người, rất trần tục. Manila có một tiệm nhảy topless khá nổi tiếng mang một cái tên thoát tục là The Saint. Mặt tiền nhỏ bé của tiệm gợi lên tượng hình của một ông thánh kết bằng đèn huỳnh quang màu xanh có vòng tròn thánh màu đỏ bao quanh đầu đàng hoàng. Anh chủ tiệm chắc có máu mất dậy trong người nên mới trần tục hóa một hình ảnh thanh cao vào một nơi chốn ăn chơi khét tiếng như vậy. Hai nhà tiểu trong tiệm một dành cho đàn ông được mang bảng chữ Santo, một dành cho đàn bà mang bng chữ Santa. Các thánh bà ngực trần thỗn thện ra vào qua khung cửa hẹp và các thánh ông vừa giải thủy vừa được một anh bồi dí cái máy đấm bóp vào lưng cho khoan khoái cuộc đời. Có lần Vĩnh đã dí dỏm bảo tôi là làm thánh kiểu này sướng hơn là làm thánh thứ thiệt tối ngày chắp tay đọc kinh.
Tôi vội xóa bỏ trong đầu cái hồi ức phàm tục sỗ sàng đã làm tôi cơ hồ quên bẵng đi ranh giới của sống và chết. Những Vĩnh, Lạng, Bình, Chí và ông anh tôi sao vẫn cứ thanh thản đi lại trong đầu óc tôi dưới mảnh hình hài thân thiết của những ngày xưa cũ. Ngày hôm qua, trước khi đóng nắp quan tài để đưa ông anh vào lòng đất tôi đã nắm lấy tay ông, bàn tay lạnh ngắt như những thước không khí mùa đông nơi tôi sắp trở về, và tôi đã nói với ông anh tôi. Anh ngủ yên nhé, em về. Nhìn khuôn mặt an bình của ông anh, tôi đã thật sự thấy là ông đang nằm ngủ.
Song Thao

Bài Xem Nhiều