We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 8 May 2013

Chủ Đề Mùa Quốc Hận: "ÐỊNH MỆNH" Tù cải tạo

CÂU THƠ ÐỊNH MỆNH

Thanh Cẩm nóng ruột đợi chờ tin tức chồng suốt cả tháng trời. Nàng hy vọng Thắng đã được tàu hải quân di tản vào Sài Gòn. Nhưng sau ngày 30 tháng Tư, năm 75, bất ngờ Cẩm nhận được thư của Thắng báo tin hiện giờ chàng đang ở trại tập trung F7A. Nàng vừa mừng vừa lo. Mừng là chồng còn sống, lo là không biết Thắng có chịu đựng nổi những tháng ngày trong lao lý của cộng sản không.


Ngày mới cưới nhau, Thanh Cẩm là giáo viên trường trung học đệ nhất cấp, Thắng còn mang lon thiếu úy, phục vụ trong đơn vị Trinh-sát thuộc sư đoàn 2BB. Căn nhà trong khu cư xá sĩ quan sư đoàn là tổ ấm của đôi vợ chồng son. Ngày ngày Thanh Cẩm đi dạy tại một ngôi trường ngoài thị trấn. Trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt tại miền đất đầy sôi động nầy, Cẩm không lúc nào khỏi phập phồng lo sợ trong mỗi đợt chồng cùng toán viễn thám nhảy trực thăng trên các mật khu của VC tận rừng sâu.


Những phút giây êm đềm hạnh phúc bên nhau vẫn chen vào niềm khắc khoải của bất trắc, chia ly. Sinh mạng của người chiến sĩ trong ngành viễn thám mong manh trên đường tơ kẽ tóc. Không chết vì đạn quân thù, cũng có thể mất mạng vì bom và pháo của phe ta thả xuống nơi trốn quân của địch bị lệch tọa độ, và rất dễ bỏ xác trên rừng vì đói khát lâu ngày do trực thăng cứu vớt không tìm ra điểm đứng.


Tình yêu của hai người đến với nhau như một tiếng sét định mệnh. Họ quen nhau trong ngày Quân lực 19 tháng 6. Thắng là Chiến sĩ Xuất sắc, Thanh Cẩm là cô giáo hướng dẫn toán nữ sinh choàng vòng hoa. Ở đó, họ gặp nhau, cảm nhau rồi yêu nhau. Tình yêu ào ạt như con nước vỡ bờ. Cứ thế mà buông theo dòng. Dẫu ghềnh thác hiểm nghèo hay gió dập sóng dồi giữa đại dương mênh mông, họ sẵn sàng đón nhận.


Cẩm nhớ có lần, trước giờ lên đường đi công tác, Thắng biết vợ đang lo âu, chàng ôm nàng trong vòng tay, rồi nhắc lại câu nói của Victor Hugo : “Khi tình yêu hòa tan hai hữu thể thành nhất thể thần thánh và thiêng liêng thì bí quyết của cuộc sống đã được bày tỏ cho họ. Khi ấy họ chỉ còn là hai số hạng của cùng một số kiếp, hai cánh của một thiên thần. Yêu đương là bay vút lên cao.”

Qua mấy ngày chờ đợi, Thắng vẫn chưa về. Nàng nôn nóng liên lạc với hậu cứ đại đội. Ðược biết toán viễn thám bị địch tấn công, phải sơ tán thất lạc giữa đỉnh Trường Sơn. Suốt mười ngày mất ăn mất ngủ trong lúc nàng đang mang thai đứa con đầu lòng. Cẩm chưa phải là con chiên nhưng nàng đã đến Thánh đường cầu nguyện xin Chúa Thánh Linh quan phòng đến chồng nàng. Mười ngày đó thật hãi hùng, nỗi ám ảnh của mất mát và góa bụa như đè nặng trên từng phân da thịt nàng. Và đúng ngày thứ mười một, Thắng đã được trực thăng bốc về cùng với cả toán quân.


* * *


Khi bốn quận miền núi của tỉnh QN hoàn toàn triệt thoái, các sĩ quan được khuyến khích cho gia đình di tản trước vào Sài Gòn. Vợ Thắng nhất quyết không đi, dẫu thế nào nàng cũng không rời xa chồng. Tuy nhiên, để cho Thắng an tâm chiến đấu, Cẩm tạm thời mang hai con về ở với gia đình cha mẹ ruột tại thị trấn Bàu Giang.


Tài sản cuối cùng của mẹ con Thanh Cẩm là lương tháng Ba của chồng cộng với lương giáo viên của nàng và một két sữa đặc quân tiếp vụ doThắng mang về cho đứa con trai út mới sinh được 4 tháng.


Nhận được thư của Thắng, Cẩm cấp tốc mang một ít thực phẩm đi thăm chồng. Lần gặp mặt chồng đầu tiên trong cảnh tù đày, tim nàng quặn thắt. Thân thể Thắng tiều tụy, xanh xao trong bộ áo quần tù nhàu nát, theo sau là tên lính VC chĩa nòng AK vào lưng người tù với nét mặt đằng đằng sát khí. Thanh Cẩm nhào đến định ôm chồng, chợt hắn quát : “Ðứng lại, cách ly ra”. Nàng khựng lại rồi ôm mặt khóc tức tưởi. Mười lăm phút đối diện với chồng là mười lăm phút ngăn cách đau lòng ! Vợ chồng không nói được gì với nhau trước thái độ đầy hận thù cuả tên bộ đội.


Sau ngày 30 tháng 4 /75, các giáo viên được lênh tập trung học tập chính trị và cải tạo tư tưởng cho thích hợp với tinh thần cách mạng. Thanh Cẩm giao con cho mẹ nàng chăm sóc hộ, cùng với bạn dạy chung trường lên đường tham gia khóa học do Ty Thanh Niên và Giáo dục của chính quyền mới tổ chức. Hai tháng ròng rã trôi qua, Cẩm dồn nỗ lực cho bài thu hoạch cuối khóa, hy vọng sau khóa học nầy nàng sẽ được bổ nhiệm về trường cũ, may ra có đồng lương ổn định và gần nhà để chăm sóc hai con còn nhỏ dại.


Sau phần nghi lễ mãn khóa, mọi người hồi họp đợi chờ nhiệm sở mới của mình. Tên cán bộ đại diện Bộ Thanh niên và Giáo dục thay vì đọc lệnh phân bổ giáo viên đến dạy tại các trường trong tỉnh lại công bố danh sách những giáo viên thuộc chế độ cũ bị sa thải khỏi ngành với lý do chồng là ngụy quân, ngụy quyền. Thanh Cẩm là người đứng đầu trong danh sách nầy. Thoạt tiên, nàng cảm thấy chới với, nhưng rồi nàng điềm tĩnh trở lại, bởi còn biết bao người cùng chịu chung hoàn cảnh như mình.


Cẩm ra về mang theo nỗi chán chường, chua xót. Lần đầu tiên, nàng tiếp cận với nhóm người mang danh “trí thức cách mạng” mà hành xử như bọn vô lại bần tiện, nhẫn tâm và dối trá. Lời nói, khẩu hiệu, chính sách đều là ngọt ngào, hoa mỹ nhưng thực hiện thì sắt máu, phi nhân tính. Trong những ngày đầu “giải phóng”, giới giáo chức miền Nam tin vào mười hai điểm của VC. Dần dà họ mới thấy đắng cay khi cộng sản thẳng tay đối xử cực kỳ ti tiện. Thanh Cẩm đã phấn khởi trước lời hứa : “Thực tâm học tập sửa sai, đảng và nhà nước cách mạng sẽ lưu dụng không phân biệt, không kỳ thị, không loại bỏ một người nào”. Nàng tự trách mình nhẹ dạ, u mê tin theo những lời đường mạt của bọn điếm cách mạng đã moi ruột, moi gan phơi bày hết thảy trong tờ thu hoạch, trong tờ tự kiểm. Nàng tiếc rẻ đã bỏ phí thời gian ngồi nghe những điều vô bổ, còn phải chịu đựng bao thử thách và căn thẳng tinh thần suốt sáu mươi ngày tẩy não.


Thế là hết, niềm hy vọng cuối cùng tan biến. Thanh Cẩm chuẩn bị bước vào ngả rẽ cuộc đời mới, một cuộc đời mà con người bị lột trần trụi từ vật chất đến tinh thần. Số tiền dành dụm được dù nàng ăn tiêu rất tằn tiện, chỉ dành phần lớn mua thức ăn thăm nuôi chồng, đến nay đã cạn. Nàng đành phải bán chiếc xe Honda của vợ chồng sắm được, để có tiền xoay xở nuôi con qua ngày đoạn tháng.


Thanh Cẩm nghe lời khuyên của bạn học cũ bỏ ra nửa số tiền bán xe theo chân bạn vào Sài gòn mua thuốc hút ngoại nhập về bỏ mối cho đám con buôn cánh miền Bắc. Ði trót lọt được vài chuyến. Tiền lời kiếm được đủ mua thức ăn cho con, sắm thức ăn khô và thuốc men cho chồng. Qua chuyến thứ ba nàng bị thuế vụ hốt sạch, đi đứt nửa số tiền vốn. Cùng trong chuyến xe đó cũng có mấy người buôn thuốc hút, thuốc tây nhưng được tài xế, tài phụ cất giấu nên thuế vụ không phát giác được.


Như chạy theo một canh bạc, nàng đâm liều, dùng số tiền vốn còn lại đi tiếp, may ra gỡ gạc được phần nào chăng !


Sắc đẹp của người thiếu phụ hai con, lẫn tính nết đoan trang của một cô giáo, Thanh Cẩm là điểm sáng trong đám con buôn. Người tài xế của chuyến xe tải đã ngất ngây trước hấp lực nhan sắc nõn nà của một phu nhân quý phái, ông ta tình nguyện cất giấu hàng hóa của nàng vào một nơi an toàn nhất. Không lạ gì những thủ đoạn chài mồi tán gái, Cẩm từ khước thẳng thừng đề nghị của tài xế.


Ðã có bao người phụ nữ đầy nhân cách cũng lâm vào hoàn cảnh như nàng, nhưng vì nhẹ dạ, thiếu cảnh giác nên đã vô tình phá đổ hạnh phúc gia đình và gây tai tiếng trong giới con buôn của giai đoạn cực kỳ bạo hành của lực lượng công an, thuế vụ, kiểm lâm. Một chuyến hàng cất giấu được trót lọt là phải mang ơn nghĩa, khi ơn nghĩa mỗi ngày mỗi nặng nợ, người phụ nữ lấy gì để đền đáp ? Và tình cảm sẽ bắt đầu nảy nở từ món nợ ơn nghĩa đó. Cái lưới tình đã được bủa vây và đối tượng dễ dàng sa lưới.


Lần từ chối sự giúp đỡ của tài xế, Cẩm không ngờ đó là chuyến đi buôn cuối cùng trong đời nàng. Thuế vụ đã tóm gọn thùng hàng của nàng tại trạm kiểm soát Gò Dầu Hạ, thế là trắng tay ! Về nhà, Cẩm ôm hai con vào lòng, khóc suốt đêm trường.


Ðã thế, chính quyền sở tại còn không để yên, họ cưỡng bức nàng phải đi Kinh tế mới, với lý do mẹ con nàng không có hộ khẩu chính thức tại địa phương và gia đình nàng thuộc diện tham gia chế độ cũ, chồng đang học tập cải tạo.


Bối rối và lo âu trước lệnh đi Kinh tế mới, Cẩm là phận nữ nhi, chân yếu tay mềm lại thêm hai con còn bé bỏng, một gia đình không có lao động chính làm sao đủ sức khai phá vùng đất mới đầy hiểm nguy và bất trắc. Thanh Cẩm dự tính ở lỳ, muốn ra sao thì ra. Nhưng trước tình huống khó xử nầy, nàng phải gặp chồng để lấy ý kiến hầu có chung một quyết định hợp lý hơn. Bởi hành động ù lỳ, không tuân theo luật pháp, chúng sẽ ghép tội gia đình chống đảng và nhà nước sẽ có ảnh hưởng đến thời gian cải tạo của Thắng.


Thắng bị giam ở trại tù Sườn Giữa ở tận vùng Thượng Ðức nằm sâu giữa rừng già. Mỗi lần đi thăm nuôi chồng con, các bà các cô phải chịu biết bao là vất vả gian nan. Ðơn xin ra ngoài tỉnh phải được cấp huyện cứu xét. Kẻ may mắn phải mất vài ba ngày, người xui xẻo, lắm khi phải chờ cả tuần lễ mới được cấp giấy phép.


Dự định đi thăm chồng vào ngày chúa nhật, Thanh Cẩm phải viết sẵn lá đơn ngay trong đêm thứ Tư. Sáng sớm thứ Năm đến nhà ông tổ trưởng dân phố xin chữ ký, nếu đến trễ, gặp cử cà-phê buổi sáng nàng phải chạy đến quán ăn Hợp tác xã thương nghiệp. Khi đã có chữ ký của tổ trưởng dân phố rồi phải xăn quần lội bộ theo đường tắt băng qua mấy con lạch. Bên kia cánh đồng là nhà ông chủ tịch Hợp Tác Xã. Cẩm cố xin cho được chữ ký, con dấu và lời đề nghị không trở ngại của phần hành nông nghiệp. Qua cái truông đó dù phải lội nước, lội bùn nhưng ít khi nào gặp khó khăn.


Tiếp theo là giai đoạn nhức nhối nhất đối với Thanh Cẩm là phải đối mặt tên Ðỗ Ngạnh, công an trưởng thị trấn.


Cha cuả Ðỗ Ngạnh là tá điền từ thời cụ Tổng, ông nội của Thanh Cẩm. Ngạnh lên mười tuổi vào giúp việc cho gia đình ông Nội của Cẩm. Lúc nhỏ, hắn lo cắt cỏ chăn bò, giữ ngựa. Lớn lên cùng với đám trai tráng trong nhà cụ Tổng chăm nom mấy chục mẫu mía. Ðến mùa đạp mía, hắn đánh bò chạy che. Rồi phụ vào công việc rút mật đường, phơi và chà đường, vào bao để chở đi Hà Nội.


Giai đoạn kháng chiến chống Pháp, hắn xung phong vào bộ đội Việt Minh. Ngày ký hiệp định Ba-lê 1954 chia đôi đất nước, hắn theo đoàn quân tập kết ra Bắc.


Mấy tháng sau, ngày miền Nam mất 1975 hắn từ Hà Nội trở về quê, mặc quần áo vàng chễm chệ ngồi trên ghế công an trưởng Thị trấn Bàu Giang. Có lẽ vì cái lý lịch làm thuê ba đời của hắn liên tiếp cho dòng họ nhà Thanh Cẩm mà nàng trở thành nạn nhân của lòng thù hận. Mỗi lần nàng đến xin giấy phép thăm nuôi chồng là hắn lên mặt ta đây bây giờ là chủ, lũ bay phải biết quỵ lụy thì chúng ông mới nới tay cho.


Ý kiến trong tờ đơn, không lúc nào hắn quên ghi nén nót dòng chữ : “Chồng y thị là một sĩ quan ngụy đã từng gây nợ máu. Gia đình y thị thuộc loại cường hào ác bá, đề nghị cấp trên nghiên cứu”. Ðối với những tờ đơn khác của những người có kèm theo bao thuốc cán hoặc nụ cười đưa tình cùng lời tâng bốc thì hắn chỉ ghi vỏn vẹn câu : “Ðề nghị cấp trên giải quyết”.


Lời phê trong đơn của hắn đã gây khó khăn cho Thanh Cẩm không ít. Thông thường nàng nhận được giấy phép trễ hơn những người khác, bởi ban điều hành phòng công an bảo vệ chính trị huyện không dám đơn phương quyết định cấp giấy phép cho nàng mà phải trình qua trưởng công an huyện cứu xét. Ðối với Thanh Cẩm, thời gian cho đi và về cũng được ghi rõ ràng chi ly đến giờ, ngày trong hạn định.


Vào giờ làm việc buổi chiều, Thanh Cẩm ăn mặc tươm tất đến phòng công an thị trấn. Nàng, lúc nào cũng thể hiện tư chất “giấy rách phải giữ lấy lề”. Trước mặt Ðỗ Ngạnh, Thanh Cẩm luôn luôn tỏ ra phong thái uy nghi của con cháu dòng họ Nguyễn đã tiếng tăm mấy đời trên miền đất tả ngạn sông Giang nầy. Từ ngoài cổng cơ quan, Cẩm thấy hắn nhe hàm răng đầy nhựa thuốc cợt nhả với người con gái buôn hàng chuyến, chợt trông thấy nàng, hắn vội nghiêm nét mặt lại. Cô gái cáo từ ra về. Thanh Cẩm đặt lá đơn trên bàn nói:


- Tôi làm đơn xin phép thứ Bảy nầy đến trại cải tạo thăm chồng tôi.


Hắn nhìn Cẩm với ánh mắt xoi mói, hỏi:


- Ðúng thời hạn ấn định ba tháng chưa ?


- Vâng, đủ rồi. Ðợt trước tôi đi vào ngày mồng một tháng mười hai.


Hắn cúi nhìn vào tờ đơn, rồi nhìn vào cuốn lịch đặt trên bàn làm việc đưa tay lật qua lật lại mấy tờ lịch. Hắn vừa cười khẩy vừa cầm cây bút khoanh vào phần ngày tháng của Cẩm ghi trong tờ đơn:


- Chị quên rằng tháng hai chỉ có 28 ngày. Chẳng lẽ cô giáo của chế độ cũ lại không biết đến điều tối thiểu nầy sao. Ðơn xin đi vào ngày 1 tháng 3 như vậy chưa đủ 90 ngày làm sao tôi dám chứng đơn chuyển lên trên cứu xét.


Nghe lời mỉa mai của hắn, cơn giận bốc lên khiến Thanh Cẩm nghẹn ứ cổ, nhưng nàng cố kìm chế, trấn tĩnh nói:


- Trại ấn định cứ 3 tháng một lần, thân nhân được phép đến trại thăm nuôi tù. Tôi chưa bao giờ nghe cái thời gian hạn định 90 ngày quái đản đó.


- Chưa nghe, bây giờ tôi nói cho nghe. Ðảng đã nói là trước sau như một. Chị mang đơn về chữa lại ngày tháng cho đúng quy định.


Nếu không thương chồng, vì con, nàng dám xé lá đơn ném vào mặt hắn rồi ra về cho hả cơn bực tức.


Thế là chuyến đi thăm nuôi chồng của Thanh Cẩm phải chậm lại một tuần lễ.


* * *


Trời vào Ðông, thời tiết chuyển mùa bắt đầu mang khí lạnh cắt da đến với khu rừng già ma thiêng nước độc nầy. Buổi sáng mây phủ đen kịt bầu trời. Cơn mưa bắt đầu đổ xuống. Nước từ mấy ngọn đồi chung quanh chảy như thác, chẳng mấy chốc ngập trắng xóa dãy ruộng mạ nằm bên vòng rào của trại tù. Gió thốc làm nghiêng ngã cây cối, hú lên từng cơn nghe buồn não nuột. Chợt một hồi ba tiếng kẻng vang lên báo hiệu giờ tù nhân xuất trại đi lao động. Trong nỗi chán chường khởi đầu một ngày làm việc khổ sai, Trần Ðình Thắng đọc hai câu thơ của Cao Bá Quát:


“Ba hồi trống giục mồ cha kiếp, Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời !”.


Thế rồi, hai câu thơ ấy “bay” đến tai cán bộ quản giáo đội. Thắng bị tra vấn trong giờ lao động ngay nơi đang làm việc. Chiều về phải viết tờ tự kiểm. Tối hôm sau cả đội họp để phê bình xây dựng Thắng. Chúng gán ghép anh đọc thơ phản động. Thắng cương quyết bác bỏ luận điệu ấy. Anh lý luận rằng :


“Văn học xã hội chủ nghĩa đã ca ngợi Cao Bá Quát như một nhà cách mạng chống cường hào ác bá trong thời phong kiến. Ông có tư tưởng giải phóng giai cấp vô sản... Hai câu thơ ấy đã thể hiện tính khí khái của bậc nho học trước khi lên đoạn đầu đài. Chẳng lẽ cải tạo viên không được đọc thơ của những người mà Cách mạng đã chọn lọc, đánh giá và xếp họ vào thành phần yêu nước?! Ví dụ bốn câu thơ sau đây:


“... Nước mắt máu mồ hôi

Ðong hàng bát hàng bát

Bán đổi lấy cơm ôi

Nhặt từng hạt từng hạt... !”


Có lẽ nào cán bộ ghép tội phản động cho bốn câu thơ đó khi người tù cải tạo đọc lên?”


Quản giáo hỏi :


- Bốn câu thơ đó của ai ?


- Trong bài “Bài ca Tháng Mười” đăng trong tập thơ Việt Bắc của ông Tố Hữu, thần tượng trong thi ca cách mạng đấy.


Thắng mạnh dạn trả lời.


Tên quản giáo vặn hỏi:

- Tài liệu đó anh lấy ở đâu ?


- Tôi đọc trong sách báo của trại cho mượn.


- Ðược, tôi sẽ cho người truy tìm bài đó. Tên Quản giáo ậm ừ rồi cho qua mục khác.


Cán bộ thay phiên nhau mổ xẻ, phân tích vấn đề suốt ba đêm liền mà Thắng vẫn không nhận lỗi. Một số đồng tù ngầm khuyến khích Thắng giữ vững lập trường. Số khác bất mãn vì quá mệt mỏi. Làm việc suốt ngày, tối còn phải ngồi nghe những bài giáo dục “xưa như trái đất” cứ nhai đi nhai lại của mấy tay cán bộ.


Ngày cuối tuần, vợ Thắng đến trại thăm chồng, ban giám thị không cho gặp. Chúng còn hăm dọa và khủng bố tinh thần của Thanh Cẩm:


“Chồng chị đọc thơ có mang tư tưởng phản động, có ý đồ nổi loạn chống chính quyền cách mạng, kể từ nay, cấm thân nhân tiếp tế cho tù phạm Trần Ðình Thắng. Thời gian cải tạo sẽ kéo dài. Chị đừng mong có ngày đoàn tụ”.


Cẩm quay về lòng rối như tơ vò, không biết tình trạng thực hư của Thắng như thế nào. Từ ngày chồng vào tù, cứ ba tháng một lần, nàng lẽo đẽo đạp xe vượt qua hơn hai mươi cây số đường rừng sau khi phải mất một ngày ngồi trên xe hơi rồi chuyển qua xe Lam mới đến khu trại nhốt tù để thăm nuôi chồng. Nàng lận đận nuôi con, nuôi chồng, hy vọng một ngày nào đó gia đình sẽ được đoàn tụ. Ðọc thơ Cao Bá Quát mà bị ghép tội nặng đến thế sao ? Hiện tại thì đen tối, còn tương lai lại mờ mịt ! Càng nghĩ đến chồng, đến con, Thanh Cẩm càng đau xót cho thân phận. Cuộc sống của mẹ con nàng rồi sẽ trôi nổi về đâu ?



Trước cảnh núi rừng cheo leo hiểm trở, một thân đơn độc đi trên con đường vắng vẻ, chỉ nghe tiếng vượn hú, gió gào, bỗng dưng một cơn lạnh chạy dọc theo xương sống của nàng rồi lan nhanh đến mặt mày tay chân trong lúc xe nàng đang đổ dốc. Thanh Cẩm hoàn toàn mất tự chủ, cả xe và người bị rớt xuống hố sâu.


Qua ngày hôm sau, người ta mới phát giác xác nàng nằm sóng soài trên chiếc xe đạp gãy đôi. Mắt mũi, các ngón tay và ngón chân đã bị loài chuột rừng rúc rỉa, kiến bu đen ngòm trên thân thể tím bầm.


Phần Thắng trong những buổi tra vấn, nhất định không nhận lỗi và quyết bảo vệ lý lẽ của mình :


- “Không ai có quyền nâng hàng quan điểm để kết tội một người tù đọc thơ đã được Bộ Giáo dục tuyển chọn đưa vào nền Văn học Cách Mạng của chính quyền Xã Hội Chủ Nghĩa”.


Ðể đánh gục tánh gan lỳ của Thắng, ban giám thị tập trung mũi dùi trừng trị. Trước tiên, chúng đưa Thắng vào phòng kỷ luật, bắt viết kiểm điểm hết tờ này qua tờ khác, hết ngày nầy qua ngày khác. Tiêu chuẩn phần ăn bị cắt giảm. Cấm mọi sự tiếp xúc của bạn tù. Ai liên hệ với anh là đồng lõa, âm mưu chống phá. Sự áp đảo tinh thần cực kỳ tàn độc cùng với cơn đói dày vò triền miên đã khiến cho Thắng đành cam chịu có khuyết điểm.


Một cuộc họp toàn trại công bố tội trạng của Thắng như sau : “Có tư tưởng chống đối cách mạng. Mượn thơ Cao bá Quát để xúc phạm Ðảng và nhà nước, ngoan cố ù lỳ không chịu nhận tội lỗi”, lĩnh phạt mười lăm ngày cùm hai chân trong phòng kiên giam. Cắt bớt nửa tiêu chuẩn phần ăn hàng ngày.”


Sau thời gian thi hành kỷ luật, Thắng được thả ra thì nghe tin vợ chết vì tai nạn rớt xuống đèo trong chuyến thăm nuôi vừa qua. Anh nằm liệt giường không ăn uống suốt ba ngày liền. Nửa đêm, mọi người đang yên giấc bỗng nghe tiếng gào “ta là vua” liên tục vang lên. Ðó là tiếng la của Thắng. Anh thực sự nổi cơn điên từ đêm thứ ba. Sau hôm đó Thắng bị nhốt trong khu cách ly.


Ngày cũng như đêm anh ngồi trên sạp, mắt nhìn thao láo lên trần nhà, miệng lẩm bẩm như đang đối thoại với một kẻ vô hình. Ðêm đêm, tiếng khóc rợn người cất lên từng chặp một. Có lúc Thắng thét lên hãi hùng : Cáo, cáo giết người, cứu tôi với ! Có lúc nghe tiếng cười sằng sặc với giọng ngâm: Ba hồi trống giục mồ cha kiếp, Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời !. Rồi đang đêm nhiều người nghe được giọng ngâm ti tỉ: Nước mắt máu mồ hôi, Ðong hàng bát hàng bát. Tiếp theo là tiếng khóc nỉ non, ai oán của một phụ nữ vang lên trong màn đêm u tịch. Tù nhân ngơ ngác trước hiện tượng lạ lùng. Chẳng lẽ hồn ma của Thanh Cẩm, vợ Thắng từ cõi âm hiện về nhập vào anh ?


Ban giám thị quyết định đưa Thắng đến nhà thương trị bệnh. Từ đó, tù nhân không còn nghe tin tức gì về anh.


Bẵng đi thời gian, một hôm có tin loan truyền Trần Ðình Thắng đã treo cổ tự vẫn tại bệnh viện tâm thần !?
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích

Chống Cộng bằng mồm của Người lính già Oregon

Tôi cũng “chống cộng bằng mồm”!
Từ lâu nay, Phan Nhân tui đã từng “Chống cộng bằng mồm”. Nhưng gần đây, khi đọc bài: Chống Cộng bằng mồm của Người lính già Oregon, thì tui càng thêm đắc ý với tác giả; bởi vì cái chiêu này, nghe qua, có thể có một số người sẽ cho là không có hiệu quả. Tuy nhiên, nếu chịu khó đọc và suy nghĩ những điều mà Người lính già Oregon đã viết, thì mới thấy quả là độc chiêu. Vì nếu không độc chiêu, thì bọn răng đen mã tấu, nón cối, dép râu Hà Nội đâu có cần phải che giấu những gì “căn cốt” liên quan tới chúng trong quá khứ. Mặc kệ chúng, ta cứ lôi những hành vi và những hình ảnh cũ của chúng ra, kèm theo những bài viết, rồi đưa lên các diễn đàn Internet, để cho mọi người đều thấy, cho dù bây giờ chúng có thay lông, nhuộm mầu, quét lên bằng bất kẻ những thứ nước sơn nào đi nữa. Nhưng những hình ảnh cũ, mà chúng muốn quên đi; muốn tẩy rửa, xóa bỏ cũng chẳng được. Vào ngày 30/4/1975 và sau đó, người dân của miền Nam - Việt Nam Cộng Hòa đã từng chứng kiến bọn chúng, với nón cối, dép râu, mặt mày bặm trợn, xông vào nhà của họ, để vào vơ vét về. Nghĩa là vơ vét, tất cả những thứ gì gọi là của cải, vật chất của dân và nước Việt Nam Cộng Hòa, để đem về Bắc. Có những thứ, mà đối với người dân miền Nam, thì quá bình thường, nhưng đối với nón cối, dép râu, mà trước đây, qua bài viết: Nhìn những mùa… thua đi, tui đã trưng bằng chứng bằng hai tấm hình, trong đó, có một nón cối, dép râu, lưng mang một cái rương chắc chắn đã chất đầy những vật dụng cướp được của người dân miền Nam, tay xách con “búp bê biết nói”, dép râu đang hối hả, vui mừng, tiến nhanh, tiến mạnh, đem về đất Bắc, và một tấm hình khác, nón cối, dép râu đang tìm cách để… giải phóng một số hàng ở chợ trời của miền Nam. Đó là những hình ảnh vô cùng trung thực của đảng Cộng sản Hà Nội.
Ngoài những chuyện đó, tất cả những tên chóp bu của đảng Cộng sản, kể cả những tên cộng sản gốc miền nam, nhưng sau đó, đã “tập kết” ra Bắc, hay thoát ly nhảy núi, lên rừng, theo Việt cộng, chúng đều có những cái tên thật hay, mang những ý nghĩa “cao đẹp”, mà có lẽ vì noi theo “gương” của boác Hồ. Do vậy, nên chúng đã và đang có những cái tên nghe rất văn chương, chữ nghĩa, hoặc có ý nghĩa “cao siêu” như đầu tiên là Hồ Chí Minh, nhưng không hề có một chút gì để được gọi là Chí Minh nào cả.
Ngoài Hồ Chí Minh, ngày nay còn có những cái tên như Nguyễn Minh Triết, mà không hề có chút Minh Triết, và chắc chắn cũng không hiểu Minh Triết là cái gì đâu.
Còn ở miền Nam, ai mà không biết đến cái tên ngu ngốc, ác độc Dương Văn Minh, vì hắn không hề có một chút Văn Minh chi hết.
Những điều này, thật ra, không có gì là lạ. Vì ngoài những tên đảng viên cộng sản đã tự ý đổi cái tên của mình, để ra vẻ ta đây là Chí Minh, Chí Công, Văn Minh, Minh Triết… thì cũng có những người đã được chính cha mẹ của mình đã đặt cho những cái tên thật ý nghĩa với kỳ vọng vào đứa con yêu quý của mình. Nhưng cha mẹ kỳ vọng là do lòng thành và thương con của cha mẹ; còn đứa con khi lớn lên, có làm được những điều như cha mẹ đã kỳ vọng, hay sẽ làm cho cha mẹ phải tủi hổ, lại là chuyện khác.
Có những bậc cha mẹ, khi sanh ra con gái, thì lấy tên những loài hoa quý, đẹp và có hương thơm, để đặt cho con gái của mình như bác sĩ Việt cộng Quỳnh Hoa, “cán bộ” Việt cộng Phạm Thị Thanh Vân túc vợ của Ngô Bá Thành, lãnh tụ của cái gọi là “Phong trào Phụ nữ đòi quyền sống”, hoặc như những cái tên khác, để con gái của mình sẽ thơm và đẹp. Nhưng cũng có những cái tên, lại có tác dụng ngược.
Chẳng hạn như một cô gái mà có lẽ khi mới danh ra, cha mẹ không biết sau này con mình sẽ như thế nào, nên mới đặt những cái tên rất “phản động” như mặt mày đen thui, mà lại mang cái tên là Bạch Tuyết, hay một cô có cái tấm thân Bồ Tượng, giọng nói như sấm, khàn như vịt đực mà lại có cái tên là Thanh Liễu…
Còn có những đứa bé trai, đã được cha mẹ đặt cho những cái tên Trí, Dũng, Thanh, Liêm, Trung; Chính… Nhưng khi lớn lên, lại không hề có một chút gì như cái tên gọi ấy. Ngược lại, có những kẻ khi đến già đầu rồi, mà vẫn không hề có một chút gì Trung Thực, Thanh, Liêm, Trí, Dũng…
Riêng các ông bà có máu nghệ sĩ, thì lại thích chọn cho con những cái tên ra vẻ nổi bật trên lãnh vực Thi Văn, sẽ có những bài Văn, bài Thơ tuyệt tác. Trong số người này, có những người đã không phụ lòng cha mẹ, nên đã thành công trong lãnh vực này như nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Nhưng đa số đã không làm được như những kỳ vọng của cha mẹ. Chẳng hạn khi mang tên là Văn Thơ, nhưng không hề viết được một bài văn, bài thơ nào ra hồn hết. Lại có người, khi viết một cái thư mời Họp mặt đồng hương vào dịp ngày Tết Nguyên Đán… mà cũng chỉ làm trò cười cho thiên hạ, nhưng không ai thèm nói đến làm chi. Ở gần nhà tôi, có Đại tá Hồ Chung, và Trung Tá Không Quân Nguyễn Văn Quý, hai vị này là một bồ chữ, có lòng tốt với mọi người, nhưng các “ngài” không chịu đến để nhờ hai ông hướng dẫn cho cách đặt câu, cách viết, để không sai văn phạm, cũng như sửa lỗi chính tả giúp cho, mặc dầu hai ông lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ. Tuy nhiên, cũng có một số ít đã đến nhờ hai ông, và hai vị này không bao giờ từ chối.
Do đó, tại đây, đã có những “bài viết”, những “Thư mời”, hoặc “Tường thuật” mà khi đọc, có nhiều vị trong cộng đồng đã không hiểu được “tác giả” muốn nói gì. Họ không biết rằng: dù chỉ một chữ nhưng lại viết sai văn phạm, (không đúng ngữ pháp), thì nó đã trở thành vô nghĩa, hay phản nghĩa.
Những cách viết này, chúng ta nếu muốn biết, thì cứ vào mạng Google, rồi đánh vào mấy chữ: “chuyện chỉ có ở Việt Nam” để tìm, thì sẽ thấy ở trong nước vì đã học ở những trường của cộng sản, nên mới tồi tệ như vậy. Nhưng lạ thay, có một số người đã lớn tuổi, đã già ở hải ngoại, đã được cắp sách đến những mái trường của Việt Nam Cộng Hòa, mà theo tôi biết, ngày xưa, chỉ cần học hết bậc Tiểu Học, thì khó có thể viết sai đến như vậy. Ấy thế, nhưng vẫn có những trường hợp rất giống như “chuyện chỉ có ở Việt Nam”.
Những gì tui đã nói lên ở đây, là chỉ mong cho quý vị, nên biết phục thiện một chút, chứ đừng nên ngoan cố, vì như vậy, chỉ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi.
Sau cùng, tôi muốn nhắc nhở với giới thanh niên, vì còn trẻ tuổi, nên cần phải học hỏi ở các vị cao niên, có kiến thức, để đừng vấp phạm những sai lầm không nên có. Chẳng hạn, tại Việt Nam, đừng thấy những ngôi chùa to lớn, được mang những cái tên rất có ý nghĩa, mà lầm tưởng là nơi các vị chân tu đang tu hành, thanh tịnh, như “chùa” Ấn Quang - Thanh Minh Thiền Viện…”. Bởi vì ngay tại Ấn Quang và Thanh Minh Thiền Viện, chính là nơi ở và điều hành của những đảng viên Cộng sản “cao cấp”, đã và đang đội lốt “nhà sư” dưới sự chỉ đạo của đảng Cộng sản Việt Nam.
Colorado, 07/05/2013
Phan Nhân

CHỦ ĐỀ BOAT PEOPLE : Trở Lại Bidong Lần Thứ Hai




Như vậy là chưa đầy một năm tôi đã trở lại Bidong lần thứ hai. Lần đầu là tháng 5 năm 2012 chuyến VBTD 10 và lần này tháng 4 năm 2013, chuyến VBTD 11. Trở lại Bidong như trở lại một nơi chốn mà bất cứ một người tỵ nạn nào đặt chân tới đó sẽ suốt đời không thể quên, hay suốt đời không thể tìm được một nơi nào khác như Bidong.

Không biết có phải vì cùng cảm nghỉ đó không mà rất nhiều anh chị em trong chuyến VBTD10 đã có mặt trong chuyến này. Dù là một chuyến đi tình nguyện –(không giống như những chuyến VBTD khác) và phải làm việc trong điều kiện không thoải mái, đồi núi âm u mưa rừng bất chợt muỗi kêu như sáo thổi, ăn bờ ngủ bụi, nẳm võng ngủ lều vậy mà số người ghi danh cũng quá đông, đến nổi VKTNVN phải thông báo khóa sổ. Dường như có một ma lực vô hình nào đó thôi thúc, cho nên đã về thăm Bidong một chuyến là lại muốn đi thêm chuyến khác. Ba mươi năm, cũng đủ cho một thế hệ mới trưởng thành. Cũng vậy 3o năm quá đủ cho cây rừng nẩy mầm vươn cao xanh ngát che kín những con đường quen thuộc trên Bidong ngày nào. Trở lại đây các bạn sẽ không còn nhận ra những gì gọi là Bidong ngày xưa. Bởi nó chỉ còn là một hòn đảo xanh hoang vắng nếu chính phủ Mãlai không xây lại cầu Jetty thì chúng ta cũng khó mà hình dung được, đây là Bidong, một Bidong ngày nào của những thập niên 70-80 cho tới ngày đóng cửa đảo, ngày 14-3-1989.

Cũng cần nói thêm là tình nguyện viên của chuyến VBTD 11 phải tự lo vé máy bay quốc tế tới Mã lai và cả trong nội địa. VKTNVN, sẽ cung cấp chuyện ăn uống trên đảo trong 5 ngày làm việc. Và mục đích chuyến đi này là phải “clean up” làm sạch sẽ những khu nghĩa trang trên các ngọn đồi Bidong mà bây giờ cây rừng đã mọc đầy trên các nấm mộ.

Trước khi đi vào chuyện làm việc ở Bidong, mời các bạn đi một vòng vài con đường ở Kuala Lumpur mà trong trí nhớ và hiểu biết rất hạn chế của tôi, nó như thế nào. Bởi dù sao thì bạn cũng ngủ lại Kuala Lumpur một vài đêm trước và sau chuyến đi.

Con đường Bukit Bintang (Jalan Bukit Bintang) coi vậy mà cũng trở nên quen thuộc với chúng tôi dù năm trước ở tại Taiichi Hotel nằm trên đường này có mấy hôm. Dù chỉ mấy hôm nhưng cứ “đi lên đi xuống “nhiều lần nên trở nên quen thuộc. Nếu bạn hỏi một người tài xế taxi nào đó ở Kuala Lumpur (KL) là con đường nào nhộn nhịp nhất KL họ sẽ trả lời ngay:đường Bukit Bintang. Mà đúng như vậy các bạn ạ Bukit Bintang dường như thức suốt đêm. Nó như là con đường của những bước chân không yên nghỉ dù những viên gạch lát trên vỉa hè trông không đẹp mắt và cũng không êm đềm bằng phẳng, nhiều nơi lồi lõm đáng ghét. Nếu bạn vừa đi vừa ngắm những nàng áo vàng, áo đỏ mời mọc massage thì có nhiều cơ hội bạn sẽ vấp té ở những vỉa hè này. Nghề massage và tiệm massage là hình ảnh tiêu biểu của Bukit Bintang. Ngoài ở đó còn có nhiều khách sạn, quán ăn, các quày đổi tiền. KL là nơi pha trộn nhiều sắc dân của các nền văn hoá Hồi giáo, Phật giáo và một số ít Thiên chúa giáo. Đa số người Mã theo đạo Hồi, người con gái ra đường còn bịt một cái khăn, nhưng tôi thấy ở họ những nụ cười rạng rỡ duyên dáng và sẵn sàng trả lời những câu hỏi thăm của bạn về những nơi bạn cần tới trong thành phố. Điều này làm tôi nhớ lại những cô con gái quấn khăn người Trung Đông ở Úc, họ có vẻ gì lạnh lùng như người từ một hành tinh khác tới. Với tôi KL như người con gái đang tiếp nhận làn sóng văn hoá Tây phương tràn vào từ nhiều thập niên qua, tuy vẫn còn e ấp giữ gìn nề nếp cũ, như chiếc khăn quàng còn thắt lại dưới 2 gò má duyên dáng xinh tươi.

Một tấm bảng quảng cáo lớn vẻ hình một người tàu thắt bím đuôi sam đang massage chân cho một người khách đã trở nên quen thuộc với những người lữ khách lần đầu tới KL và lạc bước trên con đường Bukit Bintang này. Tôi lại nhớ năm ngoái trong chuyế VBTD 10 chị Sơn Ca là một trong những chị hay đi làm massage chân vì suốt ngày mấy chị lội shopping. Giá massage chân khoảng 50MYR cho một giờ. Khách đi đường có thể nhìn thấy những cái ghế nệm massage này. Những khu shopping nằm trên con đường này rất nhiều.


Hình khu mộ khu F (có bảng lưu niệm sơn trắng chữ đỏ, hoàn chỉnh).
Từ buổi chiều khi trời dịu mát dòng người bắt đầu đổ ra đường ngập trên vỉa hè Bukit Bintang, dòng người đưa đẩy kéo dài tới khu shop gần Tháp Đôi (Twin-Tower) và không kém phần náo nhiệt là ở khu ăn uống mang tên là Food Republic. Nơi đây bạn có thể ăn uống bình dân nhưng tương đối sạch sẽ. Khoảng 8 tới 12 MYR cho một bửa ăn tức khoảng 3 tới 4 đô la Úc. Nên nhớ ở thời điểm này (tháng 3/2013)100 đô la Úc đổi được 106 đô la Mỹ, và 100 đô la Úc đổi 300 tiền Mã –(đơn vị là MYR) mà không phải mất tiền cò nào cả. Chuyện đổi tiền dể hơn là ăn cháo. Các tiệm ăn ở Food Republic thì rất đa dạng: từ tiệm tàu, Đàiloan, Đạihàn, shushi Nhựtbổn cho tới món cari Ấn, cari Mã và cả sandwiches kiểu Tây phương. Rất tiếc là chưa thấy tiệm Phở Việt Nam nào ở đây như ở Palawan mà dân Phi hay gọi là Cháo lòng (?). Cũng nơi này năm ngoái mấy chị trong đoàn VBTD10 đã khám phá trong một quán ăn có món bún Mã lai mà nước soup y chang như “bún nắm” miệt SócTrăng-Bạc liêu của Việt Nam. Có lẽ “cũng” chị SC là người mở hàng món bún này. Lần này tôi và người bạn từ Sydney, anh Đức đã thử món “bún nước lèo” Mã lai coi nó ra sao?Nói thật ra thì nó có mùi nắm, nhưng không đậm đà thơm tho như tô bún mắm miền Tây, ăn cho đở thèm vậy thôi.

Phía sau con đường Bukit Bintang là một con đường nhỏ, dường như là Jalan Alor cứ trời vừa tắt nắng thì hàng quán dọn ra chật cả hai bên đường, hàng quán thì cũng giống như những tiệm tàu ở VN ngày xưa, bởi đa số người bán là người Mã gốc Hoa. Bia Tiger rất là phổ biến. Cũng không thiếu gì những xe bán trái cây như khóm, mít, đu đủ, mặng cụt, xoài;những loại trái cây này được gọt sẵn đựng trong bọc nylon. Anh bạn tôi gặp một chị mà nghe giọng nói biết là dân miền tây đang đứng bán trái cây, ghé lại hỏi thăm:”Chị hồi trước tới đảo nào?” Trả lời. ”Nếu vượt biên thì người ta đi Mỹ đi Úc chớ ai đi Mãlai ông nội!”Nghe câu trả lời bạn tôi im re. Thì ra chồng chị ấy là ông tàu hom hem ngồi kế bên xe bán trái cây.

Phương tiện giao thông ở KL phổ biến nhứt là taxi nhưng nếu bạn chịu khó hỏi thăm thì có thể dùng xe bus hay sky train rất rẻ. Skytrain ở KL cũng giống như ở Vancouver -Canada, có điều dể dàng đi hơn vì các trạm đều nằm kế đường đi dể thấy, giá thì rẻ. Thí dụ hôm chúng tôi ở Concord Hotel, nếu dùng taxi, đi tới khu phố chính ở Bukit bintang tốn 15 MYR nhưng nếu dùng skytrain, chỉ có vài trạm, và giá chỉ 2, 5 MYR. Cũng nhờ biết skytrain mà tôi và ông bạn -Đức đã lần mò tìm lại vị trí trại chuyển tiếp Sungai Besi.

Món sầu riêng chắc chắn là ai cũng thích, sầu riêng Mã lai trái nhỏ rất ngon, bạn cứ mua, giá tiền tính bằng kg, người bán chẻ ra cho bạn ăn tại bàn, taxi không chở sầu riêng và khách sạn cấm mang vô. Cho nên có thèm thì cứ ra chợ ăn. Nếu có giờ bạn nên đi thăm Twin-Tower, niềm hãnh diện của người Mã, Cung Điện vua, Đài chiến sĩ, toà nhà Quốc hội mới, Viện Bảo Tàng Quốc gia, động Batu của người Hindu, hoặc thăm những nơi dệt các loại vải batik, một đặc sản được bảo tồn của người Mã…

Sáng hôm sau lên đường sớm, cả đoàn ra phi trường LCCT, là tên phi trường nhỏ, giá rẻ của hãng Air Asia. Đêm ngủ lại ở một khách sạn mới xây ở Terengganu. Khách sạn ngó ra bờ biển, buổi chiều anh em ra ngồi trên bờ cao nhìn biển Terengganu mênh mông, lại nhắc chuyện những ngày lênh đênh trên biển.


Hình khu mộ G (chụp 4-5 người tôi mặc áo mưa, ở bảng lưu niệm).
Đặc biệt lần này phái đoàn được vị đại diện của Bộ Du Lịch Mã lai, ông đã bay từ KL tới khách san ở Terengganu để gặp đòan và khoảng đãi anh chị em một bửa cơm tại khách sạn. Sau đó ông lại bay về KL trong đêm. Người chief cook cho bửa cơm này lại là một người Việt Nam ở Châu giang, Châu Đốc anh là người đạo Hồi và là chief cook cho khách sạn. Gặp người đồng hương nói chuyện đôi câu cũng đủ ấm lòng người xa xứ.

Trong chuyến đi Bidong kỳ này tôi còn có một việc cần thực hiện: đó là trở lại thăm khu nghĩa trang Phúc kiến ở Terengganu. Số là trong lần họp mặt CHS Hoàng Diệu Baxuyên ở Sydney có người nhắc tới thầy Trần kiều Sanh, trước 1975 thầy Sanh dạy ở Hoàng Diệu, nghe nói đi vượt biện mất tích. Sẵn tôi có mua được cuốn sách của ông Alcoh Wong, tựa là The Guidebook of the Graveyards of The Vietnamese Boat People along The East coast of Malaysia Peninsula. Cuốn sách tôi mua trong chuyến đi năm 2012 do chính tay bà vợ ông Alcoh Wong mang tới khi gặp đoàn VKTNVN ở Kuala Lumpur.

Tôi tìm thấy tên thầy Trần kiều Sanh ở trang 41, kế đó là tên Hà ái Loan vợ thầy Sanh. Do vậy trong ngày ở Terengganu, khi xe bus vừa đổ xuống khu nghĩa trang Phúc kiến, nhìn bia lưu niệm ở zone A, đã thấy tên thầy Sanh và vợ thầy. Mộ thầy Sanh và vợ nằm phía cuối, gần ngôi nhà của một cư dân sát nghĩa trang bên hè nhà còn có một cây soài. Theo như tấm bia thì thầy Sanh được chôn cất ngày 14/1/1978. Và cô Hà ái Loan, chôn ngày 15/1/1978. Việc vớt xác và chôn cất là do những người Mã lai tốt bụng đứng ra tự nguyện làm, xác vớt ngày nào thì chôn vào ngày đó. Hôm đó cả đoàn đã quên mang theo nhang đèn, nên cũng không thắp được nén nhang nào cho thầy Sanh và vợ thầy. Thực ra thì năm trước chúng tôi đã tới viếng, thắp hương đèn, và thấy Thích Phước Tấn đã làm lễ đọc nhiều hồi kinh ở các nghĩa trang vùng Terengganu, kể cả nghĩa trang này. Trong khu này còn rất nhiều mộ của người Phúc kiến nên thường có người thân họ tới lui nhang khói quanh năm.

Sau một đêm ở Terengganu đoàn xuống bến phà đi Bidong. Bà con lại có dịp mua ít hàng lưu niệm tại bến phà. T-shirt là chính, nhưng tìm không có cái nào mang tên Bidong, mà chỉ mang tên Redang Island. Bởi Bidong chỉ là hòn đảo nhỏ, còn Redang lớn đẹp hơn, nơi đó hiện nay có nhiều khách sạn, resort đẹp cho du khách. Bến phà khá tấp nập du khách, phần lớn họ đi các resort ở Redang.

Biển xanh, gió mát nước biển phà vào người nghe mằn mặn. Ai nấy cũng im lặng dường như mỗi người ai cũng đang sống lại những hình ảnh cũ năm nào. Hoặc lục lọi lại trong ký ức những hình ảnh thân quen. Hơn nữa giờ sau, Bidong hiện ra rồi đó, một hòn đảo xanh ngát cây rừng, ai biết được nơi đã từng cưu mang hàng trăm ngàn người tỵ nạn Việt Nam. Đảo Cá Mập nhỏ nằm kế bên. Cầu Jetty được chính phủ Mãlai ưu ái xây dựng lại bằng bê tông mái ngói đỏ, vị trí cũng kế bên cầu Jetty cũ.

Đã qua một lần tim đập mạnh vì xúc động từ chuyến VBTD10 năm 2012, lần nầy tôi cảm thấy bình tỉnh hơn, dù cái nôn nao vẫn còn y nguyên. Tôi vẫn muốn nhìn thấy Bidong muốn đặt chân lên bãi cát mềm êm ái của vùng trời vùng biển tự do dầu tiên mà tôi tới được.

Tàu cặp lại ở cầu Jetty, chuyển hành lý lên xong, nhìn những người bạn Mã phụ khiêng những vật dụng cho chuyến công tác mới thấy nó nhiêu khê tới cở nào.

Sáu mươi bao xi măng, mấy mươi cột bê tông để làm hàng rào, máy cắt tỉa nhánh cây, máy bơm nước để rửa những tấm bia, máy cưa tay, máy thổi lá cây bụi bậm, dao kéo chổi cào lá… bao nhiêu là thùng nước sơn loại 20L, bao nhiêu là bình nước uống cho cả đoàn. Nhìn những thứ này tôi mới thấy công lao của anh em trong VKTNVN, họ phải đi tới lui nhiều lần qua Terengganu, qua Bidong ăn dầm nằm dề ở đó để ướt tính những nhu cầu cho chuyện mua sắm sao cho “vừa túi tiền” mà bà con đóng góp vào chuyện này. Những lần đi tới lui dỉ nhiên là anh em tự xuất tiền túi mà lo. Trần lão gia (nick name của ông Trần Đông) và Lưu Dân (Nguyễn văn Sơn) là 2 người đứng mũi chịu sào, sau này có thêm 2 người ở Houston là anh Bằng và Bảng tiếp tay. Bảng là người lo café cho anh em trong chuyến này, (hắn là tay chuyện trị café đen), kể cả thuốc men trị bịnh, nghề của chàng.

Lều cá nhân được dựng lên dọc theo bãi cát ở bờ biển bên trái cầu Jetty, tôi và Đức cắm lều gần cầu Jetty nhứt. Lều chỉ huy của Trần lão gia nằm dưới mấy cây dương gần khu nhà bếp của mấy chị nấu bếp Mã, họ là người của công ty du lịch Mã đưa qua lo chuyện cơm nước cho cả đoàn. Họ là những người phụ nữ Mã hiền lành cần mẫn không khác gì những người đàn bà Việt Nam chơn chất và chúng tôi đã biết họ từ chuyến đi năm ngoái. Nhà bếp được dựng trên nên xi măng cũ không biết khi xưa là cái gì? Công ty du lịch còn gởi theo cô tour guide, cô Mee Ann. Cô đã đi theo những đoàn VBTD tới Bidong rất nhiều lần, một cô gái Mã gốc Tàu vui tính dể mến. Nhìn tấm bảng to màu xanh dương căng hướng ra biển ai cũng muốn tới để chụp hình. Tấm banner ghi: Chào mừng các bạn tình nguyện viên từ Mỹ -Úc, trong công tác làm sạch Bidong. Hàng chữ Selamat Datang, nghe rất quen thuộc. Sau bửa ăn chiều ở nhà bếp, mỗi người ngồi trên một khúc gỗ vừa được mấy người công nhân Mã cưa xong. Dưới ánh đèn điện được phát ra từ cái máy Honda nhỏ, nhưng cũng đủ cho mọi sinh hoạt của đoàn. Bữa ăn đầu tiên trên đảo thật là ngon. Cũng cá bạc má chiên nhưng dòn và thơm ngon, không như “con cá ngày xưa” ở trại Sungai Besi, mà sau khi lãnh phần bà con lén đốt lửa để chiên lại. Thức ăn ở đây luôn có 3 món và thêm trái cây. Những chị nấu bếp Mã rất vui tính lần nào tới giờ ăn cũng lăng xăng mời chúng tôi tới ăn. Họ hay đùa bằng tiếng Mã “macăng, macăng”, (tôi nhớ mài mại không biết trúng không) tức ăn cơm, ăn cơm.

Lần này chùa ở Melbourne có cử vị Đại Đức đi theo đoàn, và 2 vị Phật tử đi theo thầy. Do đó cơm chay cũng được nhà bếp lo liệu cho Thầy và 2 vị Phật tử này. Vì hai anh cũng ăn chay trường.

Vài anh em ngồi đốt thuốc đuổi muỗi, có chút hơi cay cho ấm lòng chiến sĩ. An ở Sydney, đây là chuyến thứ 3 của An tới Bidong;không biết uống rượu mà lần nào cũng ghé mua duty free ở phi trường vài chai cho mấy anh nhâm nhi trên đảo, sau một ngày làm việc. Trần lão gia bắt đầu phân công cho công tác ngày mai. Tất cả đoàn được chia thành những toán nhỏ, ngày mai dồn lên hết trên nghĩa trang khu F, gồm 18 người cộng thêm mười mấy người bạn Mã. Trong 18 người này chỉ có 2 người từ Houston còn lại từ Sydney và Melbourne Úc châu. Phân công tác xong, anh em lại nhâm nhi, phì phà đuổi muỗi. Tiếng đàn ghita xập xình, những liên khúc bolero vì ai cũng có thể nhớ một bài hát quen thuộc nào đó.

Đêm sau thầy Đại Đức có làm lễ đọc kinh, dâng hương cầu siêu cho các vong linh của những người kém may mắn còn lẩn khuất đâu đây quanh các ngọn đồi Bidong. Anh em thắp nhang đèn dọc theo bờ biển cạnh cầu Jetty. Những ngọn nến lung linh trên cát phản chiếu xuống biển cộng với mùi nhang khói tạo nên một khung cảnh trang nghiêm vừa ấm cúng vừa u buồn. Tiếng kinh trầm ấm rền vang nhè nhẹ trên biển rồi lẩn vào đồi núi Bidong. Hình ảnh những con tàu lênh đênh vô định, những hải tặc hoành hành, những xác người trôi tấp ở những bãi bờ xa lạ lại hiện ra rờn rợn.

Đường lên khu F có những đoạn dốc trơn nếu gặp mưa. Công việc nặng nhọc do người Mã đảm trách nhứt là vận chuyển xi măng từ cầu Jetty lên tới khu F. Lần này sau khi làm sạch cỏ, những bậc tam cấp bề ngang chừng ba bốn mét nằm im lìm nhẩn nhục mấy mươi năm lần đâu tiên hiện ra để đón những bước chân quen từ 30 năm cũ trở lại. Anh Bằng đề nghị mang xi măng lên, trộn với cát biển phủ lên bậc tam cấp cho cỏ dại chậm phát triển, ý kiến này được anh em đồng ý. Anh Bảng, anh Đức và cháu Đang là những tay cao thủ dọn dẹp cắt tỉa cành cây. Tiếng máy đủ loại nổ vang động cả một ngọn đồi. Cái khó nhứt là bơm nước lên để cho máy compressor xịt nước rửa sạch tấm Bia Tưởng Niệm và các nấm mộ xi măng. Xế chiều nhìn lại đã thấy nghĩa trang quang đãng hơn nhiều. Đứng trên cao có thể thấy bãi biển bên dưới. Một số anh em tìm dấu vết các ngôi mộ không bia, chỉ một núm đất và vài viên đá xoay vòng tròn làm dấu. Đi nhặt lại đá chất vòng cho những nấm mộ này. Rồi đọc những tấm bia mờ tên ngày tới đảo, ngày sanh ngày mất mới thấy nhiều người còn quá trẻ. Vài nắm mộ người công giáo, thập tự giá ngã nghiêng đã được dựng lại ngay ngắn. Cámơn những người bạn Mã đã giúp đưa những bao xi măng 40kg lên tới đỉnh đồi này. Đọc lại tấm bia lưu niệm dựng trên khu F mới biết hơn 150 người nằm lại trên đó. Có 4-5 ngôi mộ được người thân bốc đi. Chị Tâm chị Hà và chị Kim Anh ngoài công việc lo sơn mộ còn lo chuyện nước uống cho bà con. Trời trưa nắng bốc khói làm nhớ lại những buổi trưa nằm trong long-house mồ hôi ướt cả lưng. Chỉ còn một chỗ mát là chạy vô thư viện. Bây giờ ngồi đây bên những nấm mồ vừa dọn sạch cỏ, dưới bóng mát của những cây bàng mà nhớ lại một thời chân thấp chân cao ở khu F hồi mới lên đảo năm 82. Tôi có ở đây mấy tuần, hàng ngày cũng đi ngang khu nghĩa trang này nhiều bận, nhưng có lẽ hôm nay tôi mới nhìn tận mặt những nấm mộ này.

Sau một ngày mệt đừ, tôi rủ Đức, Bảng sau này có anh Chính và cháu Đang chạy xuống khu C tắm biển. Bãi khu C ngó qua đảo Cá Mập. Đảo Cá Mập một thời là nơi cấm tới, nhắc tới tên ai cũng sợ, kèm theo nó là cả những câu chuyện huyền bí đến thần thoại còn lưu truyền trong những người từng ở Bidong. Nhưng tôi có nghe nói nhiều tay gan lì dám đến đó để câu cá vào đêm tối. Từ Bidong qua đó chắc có hơn 2 km(?). Biển khu C là một bãi biển đẹp vô cùng, cát mịn, nước êm và ấm.

Trên bờ dưới gốc cây bàng mát rượi, những công nhân Mã, dựng lều tạm, họ trải đệm để ngủ, căng giây phơi áo quần. Mỗi ngày họ cầu nguyện 2-3 lần. Sau mỗi buổi làm họ trở về lều để cầu nguyện chung. Họ cũng ăn chung cùng một nhà bếp với chúng tôi.

Mới chạy xuống tắm Bảng thấy một chú thanh niên Mã cầm một bọc con đồm độp, tức hải sâm có người gọi là đĩa tàu, món ăn mắc tiền. Bảng và Đức đi tìm được chục con ném lên bờ, nhưng sau đó một anh Mã trong lều ra nói, không ăn được, chỉ dùng làm thuốc, nên bọn tôi đành trả lại cho biển. Bảng còn tiếu : “Hay là họ sợ mình bắt hết nên nói vậy ?!”

Ngày thứ 3 nghĩa trang khu F đã hiện ra vóc dáng xưa của nó gần như nguyên vẹn. Tức nhìn chung sẽ thấy toàn những nấm mồ mà không còn cây cối hay cỏ dại um tùm như trước. Một nhóm gồm tôi, Đức, Bảng, và nhiều anh em khác di chuyển qua Đồi Tôn Giáo và chỗ Cánh Buồm tỵ nạn để dọn dẹp tiếp, phần còn lại của khu F do toán sơn, anh Lưu Dân, anh Nhuận, Trần Nhân, anh Tâm, anh Chính và những người khác tiếp tục đảm nhận. Theo anh Trần Đông cho biết người Mã rất là cảm kích công việc làm của VKTHVN, đã nhiều năm nay vẫn âm thầm sửa sang mộ cho người kém may mắn, nên họ đã cho người tới phát quang dọn dẹp trước một phần, trước khi đoàn chúng ta tới. Có lẽ họ làm tới nơi đúng nghĩa chử “clean up “cho nên chùa chiềng, nhà thờ hôm nay rất là quang đãng. Những mái tôn cũ, những cột kèo mục gẩy mục mà năm ngoái chúng tôi thấy còn ngổn ngang, đã được dọn sạch. Tuy nhiên cần nhiều công sức để làm cho tươm tất hơn. Đi theo các bậc tam cấp từ chánh điện chùa Từ Bi xuống dưới, tôi thấy nhiều tấm bảng Tạ Ơn do các Phật tử đúc bằng xi măng, khắc tên tuổi –quê quán, ngày rời VN, ngày tới đảo, có khoảng vài trăm tấm, nhiều tấm đã tróc ra nằm chồng lên nhau. Chùa Từ Bi có 3 tượng. Chánh điện là tượng Phât Thích Ca, trước sân là tượng Phật Quan Âm và phía dưới phải xuống nhiều bậc tam cấp là tượng Phật Di Lạc.

Tiếp tục chúng tôi qua dọn dẹp bên Cánh Buồm Tỵ Nạn, nằm kế bên nhà thờ Công giáo. Cánh buồm còn vững chắc, chỉ cần rửa sạch, sơn lại là xong. Cạnh nhà thờ có một chiếc tàu tỵ nạn đúc xi măng cốt sắc, còn chắc chắn tôi đọc dường như chữ NT 20582 ở mũi tàu. Xung quanh được gắn hàng trăm tấm “Tạ Ơn”như Tạ ơn Đức Mẹ, Tạ ơn Chúa, cùng với tên người khấn, hình thức những tấm Tạ Ơn cũng giống như ở bên chùa Từ Bi. Có những tấm khắc chữ nổi bằng xi măng rất đẹp, có tấm viết tay, dù hơn 30 năm nhưng vẫn còn đọc được họ tên người trên đó. Nếu có thì giờ tôi muốn chụp hết những tấm Tạ Ơn này đưa lên net, biết đâu những người chủ của chúng sẽ đọc được. Nhưng tiếc là không có giờ. Dọn dẹp xong thì mệt đừ, chỉ chờ để được nghỉ ngơi lấy sức cho hôm sau làm tiếp. Lần này ở Bidong 5 ngày mà chúng tôi trãi qua 3 cơn mưa. Mỗi lần mưa lại làm gián đoạn công việc. Nhớ ngày chót 12-4-2013, chúng tôi một nhóm 6-7 đi lên khu G, khu G được coi là hiểm trở nhứt trong các khu mộ ở Bidong. Đường đi dốc đứng, trơn trợt nếu trời mưa. Và sau gần mười chuyến VBTD, lần rồi năm 2012, anh em trong VBTD10 mới lên tới đỉnh khuG lần đầu-theo lời anh Trần Đông. ”Khu G ai dám mò lên đỉnh-sợ dẫm xương người dưới đá trơn”. Trên 90% mộ trên khu G là không tên tuổi, có khoảng trên 50 ngôi mộ. Đặc biệt gần 20 mộ chôn thẳng hàng nằm dưới bồn chứa nước, nay đã rỉ sét có thể xụp xuống bất cứ lúc nào. Có lẽ đây là mộ những thuyền nhân mà xác tấp vào Bidong(?) được chôn sau này. Trên đây còn nguyên tấm Bia Tưởng Niệm cũng do những thuyền nhân tới sau ngày “cut off “-ngày đóng cửa trại dựng(14-3-1989). Nhưng bia được dựng năm 1991. Hôm lên khu G, anh Trần Nhân vừa sơn xong tấm Bia, thì trận mưa đổ xuống, nước sơn trôi hết. Anh em chui đại dưới bồn nước rỉ sét và ngồi trên các hòn đá quanh các ngôi mộ để trú mưa. Chỉ có 2 chàng Đức và Bảng là tiếp tục dùng máy cắt cây quanh các mộ ở một góc xa. Hỏi lại có lẽ 2 chàng sợ cái bồn nước sập nên cứ lang thang bên ngoài!Trần lão gia vì tình nguyện trở xuống lấy xăng, nên cùng chung số phận. Hôm đó có một việc làm anh em hết hồn. Đó là chuyện cô Mee Ann của công ty du lịch, cô theo đoàn nhà bếp mang thức ăn lên khu G. Có lẽ sợ anh em đói, cô ráng đi nhanh, mà đường đi thì quá khó khăn, lên tới nơi cô ngồi thở không ra, mặt mày xanh mét, trời lại âm u vần vủ như sắp đổ trận tiếp. Cũng may nửa giờ sau cô tỉnh lại. Trời gần xụp tối chúng tôi trở xuống.

Vừa xuống tới, anh Đông lại lăng xăng tiếp cho khu E, tới đó thấy anh Bằng đang cùng mấy người bạn Mã đang dựng nhiều trụ xi măng đúc sẵn. Ai cũng muốn làm cho xong trước khi ngày mai nhổ trại. Nghĩa trang khu E nằm dưới trũng, có khoảng mười mấy ngôi mộ, lần này được phát quang, trồng trụ bao quanh và chất cát đá xi măng để ngăn cát lấn vào, vì phần lớn các ngôi mộ đã bị chìm trong cát. Hy vọng từ nay khu E sẽ được khá hơn.

Đêm chót trước khi rời Bidong, đứng nhìn lên đã thấy đồi Tôn Giáo, thấy Cánh Buồm Tỵ nạn, thấy Ông già Bidong và cô gái nằm dựa lưng vô những tảng đá. Tượng bị gẫy tuột từ trên đỉnh xuống, nhưng còn nguyên vẹn. Gương mặt ông già trông rất uy dũng. Dưới chân ông còn rất nhiều tấm bảng tạ ơn. Một ngày nào đó sẽ dựng lại tượng Ông Già Bidong, một biểu tượng mà ai từng ở đó không thể không biết đến.

Ngày nhổ trại anh em còn cố gắng dậy sớm leo lên khu F để chụp vài tấm hình vì hôm trước trời mưa. Khu F bây giờ giống như khu mộ ở một nghĩa trang nào đó vừa qua tiết thanh minh, sạch sẽ, gọn gàng. Những ngôi mộ xi măng được sơn màu trắng, vài ngôi mộ có thập tự giá trông khá đẹp. Có bạn còn đùa, từ dưới bãi khu C nhìn lên những ngôi mộ sơn trắng, cứ tưởng là một khu nhà ở một hòn đảo nào đó ở Hylạp. Khu F là một trong những điểm chính của chuyến công tác kỳ này.

“Em dẩn tôi về bên khu F. Chỉ mộ người thân nằm mé kia đồi. Lượm đá rừng làm bia khắc vội. Tên người ở lại Bidong”. Tạm biệt khu F.

Trước khi rời trại một buổi Lễ được Đại Đức chủ trì, thắp hương, đọc kinh, cầu siêu cho các vong linh được siêu thoát. Cám ơn trời đất phù hộ cho cả đoàn suốt 5 ngày công tác trên Bidong được an toàn dù trãi qua mấy cơn mưa lớn làm xập ướt cả lều trại và vật dụng.

Cám ơn các bạn người Mã đã làm việc tận tình sát vai sát cánh với đoàn. Cám ơn VKTNVN cho tôi có dịp tới thăm lại Bidong. Những người phụ nữ trong nhà bếp cũng vui vẻ chụp hình chia tay chúng tôi và tiễn đưa ở tận cầu Jetty. Ở họ vẫn là những nụ cười hiền thục và đầm ấm như những cô gái quê mùa ở đâu đó Việt Nam. Biển vẫn mênh mông quanh đây mà sao nghe lòng biển nhớ. Một vẫy tay mà xa cách nghìn trùng.

Cầu Jetty mờ nhạt dần, Bidong mờ dần, có chăng chỉ là nghe sóng hát mênh mang như thầm nhắc những người đi về một ngày trở lại.

Bidong tháng 4/2013

Lâm Hảo Khôi

Tin Đồn VN: Một Quốc Gia Hai Chế Độ” tư bản đỏ chuẩn bị cuốn gói?

Thông tin nầy chính xác nếu có ai theo dõi chương trình Truyền Hình Hoa Kỳ của Đài CCTV News (San Jose, bang California) trong mấy ngày qua đã thấy Quốc Hội Trung Cộng họp về vấn đề nầy.

---------

TRUNG CỘNG thương lượng với Mỹ và Nga giao VN cho Tàu coi như phần đất thuộc Trung Hoa như HONGKONG và MACAU

Von: BACH VU [mailto: ]
TRUNG QUỐC KHAI MẠC KỲ HỌP QUỐC HỘI CHUẨN BỊ CÔNG BỐ:
VIỆT NAM là “Đặc Khu Hành Chính” của Trung Quốc!
VIỆT NAM SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP, TÁI TỔ CHỨC CHÍNH PHỦ THEO ĐIỀU KIỆN DO TRUNG CỘNG CHỈ ĐẠO!

Trong lúc cả nước đang thờ ơ chủ quan rằng Cộng sản Việt Nam còn gìn giữ độc lập cho đất nước…?

VIỆT PRESS INTERNATIONAL Thứ Ba, 05/03/2013, 12:05 (GMT+7)

Thực chất, việc đưa ra chiêu bài sửa đổi hiến pháp là do Trung Cộng chỉ đạo trong kế họach chuẩn bị tổ chức lại hoàn toàn guồng máy chính trị CSVN để biến Việt Nam thành “Đặc Khu Hành Chính” (Special Administrative Region – SAR) của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, như qui chế “Một Quốc Gia Hai Chế Độ” đã thực hiện tại Hồng Kông và Macau.

Trong kế họach này có những việc nhất thiết phải xảy ra:
1-Qua cuộc họp Quốc Hội kỳ này, Trung Cộng sẽ công bố tập đoàn lãnh đạo mới của họ.
2-Trung Quốc sẽ tái phối trí các thành phần lãnh đạo cho Việt Nam, Nguyễn Sinh Hùng, Chủ Tịch Quốc Hội sẽ thay thế Nguyễn Tấn Dũng trong một cuộc bầu cử phi-dân-chủ.
3-Việt Nam sẽ ngưng tất cả các hợp tác quân sự với Hoa Kỳ và giới hạn quan hệ quốc tế.
4-Sự đặt mua vũ khí từ Nga và trở lại của Nga ở Vịnh Cam Ranh là để ngăn chặn Hoa Kỳ.
5-Quân Đội Nhân Dân Việt Nam đã mất khả năng chiến đấu và hoàn toàn lệ thuộc Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc.
6-Những thành phần thân Mỹ sẽ bị lọai khỏi chính quyền CSVN, Nguyễn Tấn Dũng và lâu la sẽ ra nước ngoài xin tị nạn, những số tiền tham nhũng kếch sù lên hàng trăm tỉ đô la bị các ngân hàng do Trung Cộng kiểm soát đóng băng và giam giữ không cho xuất ngân.
7-Chế độ công an trị sẽ ngự trị trên nhân dân Việt Nam, tất cả các dân quyền, nhân quyền đều bị chà đạp.
8-Trung Cộng tiếp tục chính sách bành trướng ở Biển Đông, cấp visa di dân tự do cho người Trung Hoa đến Việt Nam chiếm đóng, lập nghiệp, và cấm ngư dân Việt Nam ra khơi đánh cá để nắm bao tử của cả nước Việt Nam.
9-Hoa Kỳ mặc cả với Trung Quốc, không trở lại chiến trường Việt Nam, nếu cần thiết sẽ có biện pháp chia đôi Việt Nam, Hoa Kỳ thành lập một quốc gia mới từ Đà Nẳng trở vô. _

Bài Xem Nhiều