We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 14 May 2013

DÂN CHÁN ĐẢNG - LÃNH ĐẠO TUỘT DỐC Ở VIỆT NAM


Hội nghị Trung ương 7 của Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN), từ 02 đến 11 tháng 05 (2013), đã lộ ra những bất ổn trong nội bộ ngày một nghiêm trọng và uy tín lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã xuống thấp trước giữa nhiệm kỳ 5 năm.
Bằng chứng  đã tập trung vào 4 lĩnh vực  trong Bài diễn văn khai mạc Hội nghị của ông Trọng:

-Thứ nhất, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở lỏng lẻo, chồng chéo, rườm rà, tự duy cán bộ, đảng viên chậm đổi mới, tiếp tục đùn đầy trách nhiệm và vô trách nhiệm. 

-Thứ hai, Đảng không nắm được dân, dân ngày một xa đảng, thù ghét cán bộ.

-Thứ ba, Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng đã thất bại, các tệ nạn tham nhũng, chạy chức chạy quyền tiếp tục lan rộng. Suy thoái tư tưởng và mất phẩm chất chưa có dấu hiệu suy giảm.

-Thứ 4, Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược gặp khó khăn, các phe nhóm lợi ích trong đảng, quân đội và công an tiếp tục lũng đọan, phá nhau để bảo vệ quyền lực, chống “đổi mới chính trị”.

Vế điểm một, ông Nguyễn Phú Trọng thừa nhận sau hai khoá đảng IX và X, tổng cộng 10 năm, hệ thống lãnh đạo đảng và nhà nước vẫn : “ Chưa được phát huy đầy đủ; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước chậm được nâng cao; việc đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa mạnh, tình trạng "hành chính hóa " chậm được khắc phục ? Vì sao c ải cách hành chính chưa đạt được kết quả mong muốn; bộ máy tổ chức và tổng biên chế vẫn tiếp tục phình to, nhất là ở cấp tổng cục, các đơn vị trực thuộc bộ và chính quyền cơ sở. Tình trạng "tách ra, nhập vào", "nhập vào, tách ra" vẫn lặp đi lặp lại.”

Nhưng tại sao lại có tình trạng này sau  12 năm Việt Nam bắt đầu thực hiện cuộc Cải cách Hành chính (CCHC) từ 2001 ?
Lý do chính và quan trọng nhất là “không ai muốn thay đổi vì thay đổi là thất thu cho bản thân và phe nhóm” nên người dân ở Việt Nam đã quen gọi “hành là chính” trong muôn vàn lọai giấy tờ và quyết định, nghị định dù Chính phủ biết không đem lại kết qủa  cũng cứ ban hành để vừa làm vừa sửa rồi không sửa gì cả, để mặc cho dân chịu những hậu qủa !

Vì vậy, sau 10 năm “cải cách hành chính” từ 2001 đến 2010 (nhiệm kỳ đảng IX và X thời Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh), Chính phủ thừa nhận : “Tuy vậy, 10 năm thực hiện CCHC vẫn còn có những hạn chế, yếu kém như tốc độ chậm, kết quả chưa được như mục tiêu đặt ra: Hệ thống thể chế còn thiếu đồng bộ, thống nhất, vẫn chồng chéo, nhiều về số lượng nhưng hạn chế về chất lượng; các đầu mối trực thuộc CP giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa giảm; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng; cải cách tài chính công mới chỉ là bước đầu, kết quả còn hạn chế...
Đặc biệt, cải cách tiền lương vẫn còn chậm, lương chưa chưa trở thành động lực cho cán bộ, công chức phấn đấu và cống hiến.” (Báo ViệtNamNet, 02/04/2011)

Báo cáo tổng kết CCHC 10 năm cũng nhìn nhận một bộ phận cán bộ, công chức còn "thiếu trách nhiệm, chưa thạo việc, hạn chế về năng lực” nhưng số nhân viên vẫn mỗi ngày một nhiều thêm, thay vì bớt đi như kế họach đã đề ra.Trong một bài nghiên cứu Giáo sư, Tiến sỹ Khoa học  Nguyễn Văn Thâm của Học Viện Hành chính Quốc gia viết : “Những tồn tại qua hơn 10 năm cải cách nền hành chính nhà nước vẫn còn nhiều. Có thể kể ra những tồn tại chính như sau:
Bộ máy hành chính vẫn mang nặng nhiều dấu ấn cũ trong quá trình điều hành (quan liêu , bao cấp), không theo kịp yêu cầu của giai đoạn mới, Cụ thể:
- Chức năng, nhiệm vụ, phân công, phân cấp chưa rõ ràng, chưa phù hợp với cơ chế thị trường;
- Hệ thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất. Thủ tục hành chính vẫn còn nhiều điều rườm rà, nặng nề. Kỷ cương quản lý không nghiêm. Nạn lãng phí, tham nhũng không bị đẩy lùi, thậm chí có xu hướng trầm trọng;
- Bộ máy vẫn còn cồng kềnh. Phương thức quản lý vừa quan liêu vừa phân tán. Không nắm hết được yêu cầu của dân.
- Cơ chế tài chính không thích hợp.

Công chức còn nhiều người yếu kém về năng lực chuyên môn, tinh thần trách
nhiệm, phẩm chất chưa tương xứng với yêu cầu của thời kỳ mới, xử lý tình huống phức tạp còn lúng túng.”

Ông Trọng thay ông Nông Đức Mạnh lãnh đạo đảng kể từ ngày 19/1/2011 nhưng những điều Giáo sư Nguyễn Văn Thâm nêu ra vẫn còn nguyên nên ông Trọng mới nói thêm trong Diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 7 rằng : “ Hoạt động của nhiều ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối vẫn lúng túng. Giữa các bộ, ngành vẫn còn một số nội dung quản lý nhà nước trùng lắp hoặc chưa được phân công cụ thể, rõ ràng. Việc phân cấp của Trung ương cho chính quyền địa phương, của cấp trên đối với cấp dưới nhìn chung chưa thật hợp lý; có lĩnh vực quá rộng, thiếu sự kiểm tra, giám sát, ảnh hưởng đến sự quản lý thống nhất cả nước; có lĩnh vực lại quá hẹp, không phát huy được quyền chủ động, tính năng động, sáng tạo của địa phương. Các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, cấp huyện sau khi sắp xếp lại tuy có giảm đầu mối trực thuộc ủy ban nhân dân nhưng lại tăng các đơn vị bên trong các sở, ngành. Vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về vị trí, vai trò, hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân huyện, quận, phường. Vấn đề biên chế, phụ cấp cho cán bộ cơ sở vẫn chưa có lời giải thấu đáo. Số các hội quần chúng được lập mới vẫn tăng nhanh, một số hội đề nghị có biên chế cán bộ, công chức và hưởng kinh phí từ ngân sách nhà nước...”

Như thế rõ ràng là cả hệ thống cầm quyền từ Trung ương xuống cơ sở đã chưa làm theo quyết định của Bộ Nội vụ khi tổng kết 10 thi hành CCHC và đề ra nhiệm vụ cho 5 năm (2011-2016).

Báo cáo do Tiến sỹ  Vũ Văn Thái, Vụ trưởng Vụ Tổ chức Biên chế, Bộ Nội vụ đề ra các nhiệm vụ này gồm :

- Nghiên cứu sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân đáp ứng tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng XI và tạo cơ sở pháp lý để cải cách cơ bản hơn hệ thống các cơ quan hành chính các cấp.
- Xây dựng đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ khoá XIII theo yêu cầu, nâng cao hàm lượng cải cách để tổ chức được tinh gọn, hợp lý hơn. Theo đó, điều chỉnh lại cơ cấu tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện thống nhất với cơ cấu tổ chức Chính phủ sau khi được điều chỉnh, sắp xếp lại.
- Xây dựng, hoàn thiện thể chế tổ chức bộ máy, đặc biệt là ban hành Nghị định quy định chung về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ; các Nghị định riêng quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng bộ, cơ quan ngang bộ, nhất là đối với những bộ được sắp xếp, kiện toàn lại tổ chức.
-Tiếp tục rà soát, điều chỉnh việc phân cấp quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực giữa Trung ương và địa phương theo yêu cầu giảm mạnh quan hệ “xin - cho” trong việc thực hiện thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
-Nghiên cứu hình thành một cơ quan ngang tầm để thực hiện chức năng chủ sở hữu, và giám sát hoạt động đối với các doanh nghiệp nhà nước, để thực hiện việc tách căn bản giữa chức năng quản lý hành chính nhà nước với chức năng quản lý của doanh nghiệp.
-Hoàn thiện cơ chế quản lý đối với khu vực sự nghiệp công, tạo điều kiện cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động cung ứng dịch vụ công.
-   Đẩy mạnh phân cấp quản lý gắn với giảm quan hệ “xin – cho” và kiểm soát thủ tục hành chính, trong việc thực hiện thẩm quyền của các cơ quan quản lý nhà nước.

Như vậy, liệu thời gian còn lại chỉ còn hơn 2 năm sẽ đến Đại hội đảng XII (nhiệm kỳ 2016-2021), đảng có đủ thời giờ để làm sạch mình và canh tân guồng máy cai trị không ?
Và nếu không (phần nhiều là không) thì hậu qủa của “hệ thống chính trị” sa lầy này sẽ đưa dân đi về đâu ?
Ngay trong trường hợp Hội nghị Trung ương 7 có “sáng kiến” cho đảng và luôn để giúp bản thân 200 Ủy viên thì cũng để nằm trên giấy, khó mà biến thành hiện thực như đã chứng minh từ bấy lâu nay.
DÂN VẬN HAY LÀM CHO DÂN GIẬN ?

Về công tác “Dân vận”  ông Trọng thắc mắc : “Vấn đề đặt ra là vì sao lúc này chúng ta lại phải bàn về đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận ? “
Không có gì khó hiểu cả. Nếu ông Trọng trả lời được tại sao cái gì đảng cũng nói là “của dân, do dân và vì dân” mà đảng và cán bộ, đảng viên nắm tất cả và có tất cả còn dân thì trắng tay ?
Đảng nói “nhân dân làm chủ” nhưng lại để cho Nhà nước “qủan lý cái dân làm chủ” như không cho dân được quyền tự do ứng cử, bầu cử, tự do lập hội, tự do biều tình, tự do ra báo và tự do thờ phượng và hành đạo, không cho dân có quyền làm chủ ruộng vườn do cha ông đã dầy công khai phá để lại thì làm sao mà đảng nói dân nghe lọt lỗ tai ?
Đảng và ngay cả Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang đã nhiều lần kêu gọi dân giúp đảng vạch mặt, chỉ tên những kẻ có chức, có quyền đã đục khoét công qũy, rút của mồ hôi nước mắt của dân để thanh toán “quốc nạn” tham nhũng, và truy tố những kẻ áp bức, đe dọa dân nhưng lại không dám bảo vệ dân để không bị kẻ ác trù dập thì có ai dám “đưa đầu ra cho chúng báng” ?
Lại nữa, khi người dân bị lấy đất, bị cưỡng chế bằng bạo lực thì nhà nước lại bênh vực kẻ có tiền, chủ đầu tư để mặc cho dân bị mất công bằng và bị bóc lột đến trắng tay bại sản thì nhân dân tin ai ?
Đấy cũng là nguyên do của các vụ người dân đã không ngại đường xa, nằm đường xó chợ về tận Trung ương, ăn vạ trước Nhà các Lãnh đạo để  khiếu kiện đông người, hoặc phải tấn công vào các Trụ sở Ủy ban Nhân dân để đòi công bằng đã diễn ra khắp nước chỉ vì các cấp chính quyền đã đùn đẩy cho nhau đến vô cảm trước đau khổ, đói nghèo của dân.
Ngay đến việc bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của dân chống mọi mưu toan chiếm đất, chiếm biển Việt Nam của Trung Cộng mà nhà nước cũng ra tay đàn áp, bắt dân bỏ tù để làm hài lòng “các đồng chí anh em” Bắc Kinh thì làm sao mà dân không nghi ngờ trong đảng đã có những kẻ “nối giáo cho giặc” hoặc “cõng rắn cắn gà nhà” như lời cảnh báo của Chủ tịch Nước Trương Tấn Sang ?

Vì vậy, ông Nguyễn Phú Trọng đã “bắt trúng mạch” bất mãn của dân khi ông nhìn nhận : “Phải chăng là do bối cảnh, tình hình đã và đang có nhiều thay đổi. Bên cạnh mặt thuận lợi cơ bản, cũng xuất hiện không ít khó khăn, thách thức mới, đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ mới và bản thân công tác dân vận hiện còn những hạn chế, yếu kém? ….Tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân cực, phân tầng xã hội; những biến đổi về quan hệ lợi ích, hệ giá trị xã hội; sự cách biệt về kinh tế, xã hội… làm nảy sinh tiền đề của sự phân hóa về nhận thức, tư tưởng…. Những hiện tượng tiêu cực, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... đang làm tổn thương đến uy tín của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút niềm tin của nhân dân.”

Ông Trọng nói đúng và trúng. Nhưng khi ông “chạy quanh” đổ vạ chuyện rối ren nội bộ, ruỗng rữa trong hàng ngũ là do “các thế lực thù đich” đã lợi dụng cơ hội để “nói xấu chế độ” và “bôi nhọ đội ngũ lãnh đạo” là ông không thành thật chịu trách nhiệm của một người lãnh đạo.
Ông nói : “Lợi dụng những khó khăn của nước ta trên con đường phát triển, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hòa bình", xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, nói xấu chế độ, bôi nhọ đội ngũ cán bộ lãnh đạo, tìm mọi thủ đoạn phân hóa nội bộ Đảng, kích động chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.”

Ông Trọng và các lãnh đạo Nhà nước hãy nghiêm chỉnh soi gương xem trên mặt mình có vết nhám nào không rồi hãy lên án những người chỉ trích mình thì có lẽ phải đạo hơn là cứ nhắm mắt che dấu những khuyết điểm của mình và của đồng chí để tạo  nghi ngờ trong dân, trong khi không lo sửa mình như Nghị quyết Trung ương 4 đã đòi hỏi.

CÁN BỘ CHIẾN LƯỢC VÀ LÁ PHIẾU TÍN NHIỆM
Điểm thứ ba, tuy ông Trọng nói dài về kết qủa 1 năm sau ngày thi hành Nghị quyết 4 về  "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" nhưng ông không “vớt vát” được những mất mát nghiêm trọng do chính ông gây ra tại Hội nghị Trung ương 6.

Tại Hội nghị 6,  ông Trọng đã để cho các phe phái thao túng Ủy ban Trung ương đảng để  đưa đến việc không kỷ luật Bộ Chính trị và cá nhân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dù ông Dũng và một số người khác đã có “có biểu hiện chưa gương mẫu về đạo đức, lối sống của bản thân và gia đình, nói không đi đôi với làm, đã làm ảnh hưởng đến uy tín của các cơ quan lãnh đạo Đảng, Nhà nước và bản thân các đồng chí đó, đến niềm tin của nhân dân đối với Đảng.”
Mặc dù tại Hội nghị 7 ông Trọng nhìn nhận “trong hơn một năm qua, dù thời gian còn ngắn, nhiều việc mới triển khai hoặc chưa đạt kết quả như mong muốn, chưa đáp ứng được kỳ vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân…”, nhưng ông không lấy lại được niềm tin trong dân mà ông và Ban Chấp hành Trung ương đã đánh mất  tại Hội nghị 6.
Ông Trọng đã thất bại và uy tín của ông cũng đã xuống dốc như chiếc xe mất  thắng sau hơn 2 năm lãnh đạo. Những điều ông “phân bua” trong Diễn văn khai mạc Hội nghị 7 về Nghị quyết 4 chỉ làm cho đảng viên và người dân đứng xa ông hơn.
Do đó, những gì ông nói về công tác được gọi là “xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược” cho niên khóa đảng XII (20016-2021) cũng không gây được ấn tượng gì trong nhân dân, nếu lấy kinh nghiệm “mánh mung, phe cánh, chạy chọt, đùn đầy, chia chác” đã diễn ra tại Đại hội đảng XI để soi gương.

Vì vậy, không ai ngạc nhiên khi thấy ông Trọng đã rào đón rằng : “Đây là lần đầu tiên Trung ương tiến hành xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, chắc là không tránh khỏi những mặt còn hạn chế, chúng ta sẽ vừa làm vừa rút kinh nghiệm.”

Nhưng Đảng đã có qúa nhiều kế họach, dự án kinh tế được gọi là “vừa làm vừa rút kinh nghiệm” để sau đó đổ vỡ, lãng phí không biết bao nhiêu triệu tỷ đồng tiền mồ hôi nước mắt của dân như  “phong trào mía đường”, “nhà máy xi-măng”, “bến cảng” đến “đánh bắt xa bờ”.

Ngay cả “dự án khai thác Bauxite” trên Tây Nguyên cũng đang lâm vào ngõ bí thì có hy vọng gì trong dự án “quy họach cán bộ cấp chiến lược” cho tương lai đảng sẽ bảo đảm không xẩy ra nạn bè phái, bênh che, nể nang, chạy chọt của các “nhóm lợi ích” đang lũng đọan trong Quân đội, Công an và bộ máy kinh tế-tài chính ở Việt Nam ?

Ấy là chưa kể đến kỳ họp thứ 5 của Quốc hội khai mạc ngày 20/5 (2013) sẽ có việc thảo luận việc “lấy phiếu tín nhiệm” 49 Chức danh do Quốc hội phê chuẩn.

Nhiều lời cảnh giác trong dân về dự phòng sẽ có tình rạng “chạy chức chạy quyền”, “bỏ phiếu cho có lệ”,  “chín bỏ làm mười”, “nay anh mai tôi”, “cùng đồng chí với nhau” ai nỡ làm khó nhau, “chạy cửa hậu”  v.v… đã đến ngưỡng cửa Quốc hội.

Các chức danh sẽ “bị” lấy phiếu  tín nhiệm tại Quốc hội gồm :  Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, các thành viên khác của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước.

Nhưng từ khi “lấy phiếu” đến giai đòan “bỏ phiếu tín nhiệm”  còn dài.
Theo dự kiến thì người có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức. Người có trên hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội đánh giá “tín nhiệm thấp” thì Ủy ban thường vụ Quốc hội trình Quốc hội “bỏ phiếu tín nhiệm”.

Đây sẽ là cuộc trắc nghiệm mới mà 500 Đại biểu Quốc hội phải chứng minh với nhân dân xem họ có thật lòng muốn “đổi mới bộ mặt chính trị” của Việt Nam hay sẽ lại  tiếp tục đi theo đường cũ “đảng bảo sao tôi làm vậy” như từng xẩy ra trước đây.
Vì vậy mọi con mắt ở Việt Nam đang tập trung vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xem cuộc bỏ phiếu tại Quốc hội có ảnh hưởng đến địa vị chính trị của ông hay ông sẽ thoát khỏi thêm lần nữa như đã xẩy ra tại Hội nghị Trung ương 6 ?


Phạm Trần
(05/013)

Cán Bộ Tuyên Truyền


80,000 Cán Bộ Tuyên Truyền

Phúc trình của hội nghị “Tổng kết công tác tuyên truyền miệng năm 2012” ở Hà Nội cho biết một cách công khai và minh thị rằng Đảng Nhà Nước CSVN mới tổ chức thêm một mạng lưới “tuyên truyền viên miệng” gồm 80.000 người có mặt  khắp nước, có hệ thống chĩ huy rõ ràng. Đảng Nhà Nước coi đó là “lực lượng” đông đảo nhất của “mặt trận tư tưởng” hiện nay.

Báo Lao Động của Đảng Nhà Nước CSVN liệt kê, cấp trung ương có 375, các tỉnh 65.000 người trung bình mỗi tỉnh 3.000 – tổng số trung ương và địa phương là 80.000 người. Đó là con số chánh thức công bố, con số thực tế ắt cao hơn.Trong năm 2012, tổ chức này đã có tổng cộng 146 cuộc họp “báo cáo chuyên đề,” trung bình, cứ hai ngày rưỡi thì có một cuộc hội nghị “báo cáo chuyên đề” như thế.

Tìm hiểu thêm, ngay ở cấp xã như của tỉnh Lào Cai, đại diện cũng khoe tỉnh đã tổ chức thử mô hình “ban tuyên vận” cấp xã - phường, và trả lương cho họ bằng mức căn bản.

Tất cả lương bổng, chi phí điều hành, vật dụng ngân sách quốc gia phải đài thọ -- tức người dân nai lưng ra đóng thuế để trả.

 Dĩ nhiên nhiệm vụ của những người này là tuyên truyền đen, trắng, xám, rỉ tai hay qua Internet nói tốt Đảng, nói xấu người dân yêu nước,thương dân.

Nhưng  theo báo Lao động, ông phó trưởng ban Tuyên giáo trung ương - cơ quan cao cấp nhất của tổ chức tuyên truyền của Đảng Nhà Nước CSVN, ông Bùi Thế Đức nói trong hội nghị,  “cần phải coi chừng hoạt động tự diễn biến” có thể làm sụp đổ đảng Cộng sản Việt Nam và sụp đổ chế độ. Ông yêu cầu phải “cân nhắc khi lựa chọn tuyên truyền viên, vì không khéo thì chính những người này cũng lại “phản tuyên truyền,” quay sang nói xấu chế độ.

Thực sự việc làm này của Đảng Nhà Nước CSVN không có gì mới lạ. Đây chỉ là kế hoạch và hành động phản tuyên truyền của, do, vì Đảng Nhà Nước, chống lại người dân đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền, chống áp bức, bóc lột, tham nhũng trong chế độ CSVN.

Lẽ ra  Đảng Nhà Nước phải làm, làm một cách qui mô từ khi người dân Việt đã hình thành phong trào dân làm báo, dân viết blog chánh trị. Phong trào này đã làm liệt bại “báo đài” công cụ cổ điển, truyền thống để tuyên truyền của Đảng Nhà Nước.

Việc hình thành và tung ra 80 ngàn tuyên truyền viên miệng nói lên Đảng Nhà Nước đang sợ phong trào người dân ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tin học, báo điện tử, trang mạng web, paltalk, blog để chống nhà cầm quyền CS độc tài đảng trị toàn diện.

CS Hà nội có hàng ngàn “báo đài” làm cái loa tuyên truyền cho Đảng Nhà Nước. Nhưng CS Hà nội thống trị thua người dân bị trị làm báo bình dân,viết blog chánh trị.

Vì dân báo, blogs chánh trị hữu hiệu, hấp dẫn, nóng hổi, nhiều người đọc khiến “báo đài” của Đảng Nhà Nước thành một thứ giấy lộn. Tờ báo Nhân Dân, tiếng nói chánh thức của Đảng trở thành tờ báo không có người dân nào đọc. Trong khi đó blog bản chất chỉ là một trang nhật ký cá nhân, mà người dân yêu nước thương dân, những nhà báo có đức nghiệp, có trách nhiệm với độc giả đồng bào và có lương tâm Việt với nước nhà VN đã biến phát minh khoa học của thời đại là blog thành blog chánh trị, thành khẩu thần công nã vào  chế độ độc tài CS.

Người Việt nào không căm hờn CS Hà nội khi đọc những hàng chữ này do các blog và web đăng trích trong bài «Tản mạn cho đảo xa» do Trung Bảo “viết lách” trên số xuân báo Du Lịch,  về các cuộc biểu tình của giới trẻ phản đối Trung Quốc xâm chiếm đảo Hoàng Sa, Trường  Sa : «Nếu có “kẻ xấu” nào đó “kích động” người ta đi biểu tình vì yêu nước, ta nên tôn trọng những “kẻ xấu” này. Ngược lại, khi “người tốt” tìm cách ngăn cản sự biểu lộ đầy phẫn uất một cách chính đáng của người dân vì chứng kiến đất mẹ bị xâm phạm, thì hẳn những kẻ vẫn mạo xưng “người tốt” này cần phải được xem lại. Khi mà kẻ tham lam ở phương Bắc không chỉ thể hiện sự bá quyền trên các văn bản tuyên bố mà chuyển qua hành động đầu tư, khai thác dầu khí ngay trong khu vực lãnh hải của chúng ta thì sự sát cánh của nhân dân và Nhà nước lại càng cần kíp hơn bao giờ».

Nên CS mở chiền dịch liên tục đánh phá blog khốc liệt. Cơ quan chuyên môn an ninh mạng SecureWorks, ở thành phố Atlanta, Hoa Kỳ, từng tìm ra vũ khì CS xài là virus tin học có tên là Vecebot. Nó đã phá hơn 10 ngàn máy tính kết nối vào các diễn đàn trên mạng phê bình, chỉ trích Đảng CSVN.

CS Hà nội sợ blog vì càng ngày càng nhiều người viết blog chánh trị. Nhiều tổ chức theo dõi báo chí toàn cầu như Phóng Viên Không Biên Giới bản doanh ở Pháp và Ủy ban Bảo vệ các Nhà báo CPJ ở New York và người Việt ở Bắc, ở Nam, ở Trung và ở hải ngoại nhận thấy càng ngày càng có nhiều những người Việt, nhà báo, trí thức, đấu tranh, trẻ già, suốt từ Bắc chí Nam viết blog chính trị và blog chánh trị tràn ra VN hải ngoại. Theo tìm hiểu mới đây của trang mạng xã hội Facebook, việc viết blog đã phát triển rất nhanh tại Việt Nam kể từ 2005. Hiện có tới 24 triệu người dùng internet.

Các cơ quan an ninh của CS Hà nội đã học, đã nhờ sự giúp đỡ của TC để đối phó với những đe dọa đến từ các nhà ly khai dùng internet. Trước đây, họ cố gắng ngăn chặn truy cập, giờ đây, họ tìm cách đánh sập các web site.

Nhưng CS Hà nội bắt một blogger thì mười người xông tới. CS Hà nội chận nẻo này thì blogger quay sang nẻo khác, mới hơn. Xu thế thời đại và khoa học kỹ thuật dứng về phía dân blog, giải toả con người khỏi vòng kềm toả và tuyên truyền giả dối  của độc tài./. 
Tác giả : Vi Anh

Chuyện Tiểu Tử : Nội

 Nội
- Nội xuống kìa !
- Nội xuống ! Ê ! Nội xuống !
- Nội xuống !
Bầy con tôi reo mừng, chạy ùa ra ngõ. Ngoài đó, tiếng xích lô máy cũng vừa tắt.
Trong buồng, vợ tôi gom vội mấy giấy tờ hồ sơ nhét vào xắc tay, nhìn tôi, im lặng.Tôi hiểu : bà già xuống như vậy, làm sao giấu được chuyện tôi và hai đứa lớn sẽ vượt biên ? Sáng sớm mai là đi rồi …
Tôi choàng tay ôm vai vợ tôi, siết nhẹ :
- Không sao đâu. Để anh lựa lúc nói chuyện đó với má.
Khi vợ chồng tôi bước ra hiên nhà thì bầy nhỏ cũng vừa vào tới sân. Đứa xách giỏ, đứa xách bao, đứa ôm gói, hí hửng vui mừng. Bởi vì mỗi lần bà nội chúng nó từ Gò Dầu xuống thăm đều có mang theo rất nhiều đồ ăn, bánh trái thịt thà… Những ngày sau đó, mâm cơm dưa muối thường ngày được thay thế bằng những món ăn do tay bà nội tụi nó nấu nướng nêm-nếm. Nhờ vậy, mấy bữa cơm có cái phong vị của ngày xưa thuở mà miền Nam chưa mất… Mấy con tôi thường gọi đùa bà Nội bằng « trưởng ban hậu cần » hoặc chị « nuôi » và lâu lâu hay trông có bà nội xuống. Và lúc nào câu chào mừng của chúng nó cũng đều giống như nhau : « Nội mạnh hả Nội ? Nội có đem gì xuống ăn không Nội ? ». Mới đầu, tôi nghe chướng tai, nhưng sống trong sự thiếu thốn triền miên của chế độ xã hội chủ nghĩa, lần hồi chính bản thân tôi cũng chỉ nghĩ đến miếng ăn thôi !
Con gái út tôi, mười một tuổi, một tay xách giỏ trầu của bà nội, một tay cặp-kè với bà nó đi vào như hai người bạn. Bà nó cưng nó nhứt nhà. Lúc nào xuống, cũng ngủ chung với nó để nghe nó kể chuyện. Nó thích bà nội ở điều đó và thường nói : « Ở nhà này chỉ có nội là thích nghe em kể chuyện thôi ! ».Thật ra, nó có lối kể chuyện không đầu không đuôi làm mấy anh mấy chị nó bực. Trái lại, bà nó cho đó là một thi vị của tuổi thơ, nên hay biểu nó kể chuyện cho bà nghe, để lâu lâu bà cười chảy nước mắt.
Tôi hỏi má tôi :
- Sao bữa nay xuống trưa vậy nội ?
Vợ chồng tôi hay gọi má tôi bằng « nội » như các con. Nói theo tụi nó, riết rồi quen miệng. Lâu lâu, chúng tôi cũng có gọi bằng « má » nhưng sao vẫn không nghe đầm-ấm nồng-nàn bằng tiếng « nội » của các con. Hồi cha tôi còn sống, tụi nhỏ còn gọi rõ ra « ông nội » hay « bà nội ». Cha tôi mất đi, ít lâu sau, chúng nó chỉ còn dùng có tiếng « nội » ngắn gọn để gọi bà của chúng nó, ngắn gọn nhưng âm thanh lại đầy trìu mến.
Má tôi bước vào nhà, vừa cởi áo bà ba vừa trả lời :
- Thôi đi mầy ơi !… Mấy thằng công an ở Trảng Bàng mắc dịch ! Tao lên xe hồi sáng chớ bộ. Tới trạm Trảng Bàng tụi nó xét thấy tao có đem một lon ghi-gô mỡ nước, vậy là bắt tao ở lại. Nói phải quấy bao nhiêu cũng không nghe. Cứ đề quyết là tao đi buôn lậu !
Rồi má tôi liệng cái áo lên thành ghế bàn ăn, nói mà tôi có cảm tưởng như bà đang phân trần ở Trảng Bàng :
- Đi buôn lậu cái gì mà chỉ có một lon mở nước ? Ai đó nghĩ coi ! Nội tiền xe đi xuống đi lên cũng hơn tiền lon mỡ rồi. Đi buôn kiểu gì mà ngu dại vậy hổng biết !
- Ủa ? Rồi làm sao nội đi được ? Bộ tụi nó giữ lại lon mỡ hả nội ? Con gái lớn tôi chen vào.
- Dễ hôn ! Nội đâu có để cho tụi nó « ăn » lon mỡ, con ! Mỡ heo nội thắng đem xuống cho tụi con chớ bộ.
Ngừng lại, hớp một hớp nước mát mà con út vừa đem ra, xong bà kể tiếp, trong lúc các con tôi quây quần lại nghe :
- Cái rồi … cứ dan ca riết làm nội phát ghét, nội đổ lì, ngồi lại đó đợi tụi nó muốn giải đi đâu thì giải.
Nghe đến đây, bầy con tôi cười thích thú. Bởi vì tụi nó từng nghe ông nội tụi nó kể những chuyện « gan cùng mình » của bà nội hồi xưa khi cùng chồng vào khu kháng chiến, nhứt là giai đoạn trở về hoạt động ngầm ở thành phố sau này, trước hiệp định Genève…
Con út nóng nảy giục :
- Rồi sao nữa nội ?
- Cái rồi… lối mười một mười hai giờ gì đó nội hổng biết nữa. Ờ… cở đứng bóng à. Có thằng cán bộ đạp xe đi ngang. Nó đi qua khỏi rồi chớ, nhưng chắc nó nhìn thấy nội nên hoành xe lại chào hỏi : « Ũa ? Bà Tám đi đâu mà ngồi đó vậy ? » Nội nhìn ra là thằng Kiểu con thầy giáo Chén ở Tha-La, tụi bây không biết đâu. Kế nội kể hết đầu đuôi câu chuyện cho nó nghe. Nó cười ngất. Rồi nhờ nó can thiệp nên nội mới đi được đó. Lên xe thì đã trưa trờ rồi… Ti ! Kiếm cây quạt cho nội, con !
Ti là tên con út. Cây quạt là miếng mo cau mà má tôi cắt, vanh thành hình rồi đem ép giữa hai tấm thớt dầy cho nó bớt cong .Má tôi đem từ Gò Dầu xuống bốn năm cây quạt mo phân phát cho mấy cháu, nói : « Nội thấy ba má tụi con gỡ bán hết quạt máy, nội mới làm thứ này đem xuống cho tụi con xài. Kệ nó, xấu xấu vậy chớ nó lâu rách ».
Con út cầm quạt ra đứng cạnh nội quạt nhè nhẹ mà mặt mày tươi rói : tối nay nó có « bạn » ngủ chung để kể chuyện ! Vợ tôi đem áo bà ba của má tôi vào buồng mấy đứa con gái, từ trong đó hỏi vọng ra :
- Nội ăn gì chưa nội ?
- Khỏi lo ! Tao ăn rồi. Để tao têm miếng trầu rồi tao với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã.
Rồi mấy bà cháu kéo nhau ra nhà sau. Tôi nhìn theo má tôi mà bỗng nghe lòng dào dạc. Từ bao nhiêu năm nay, trên người má tôi chẳng có gì thay đổi. Vẫn loại quần vải đen lưng rút, vẫn áo túi trắng ngắn tay có hai cái túi thật đặc biệt do má tôi tự cắt may : miệng túi cao lên tới ngực chớ không nằm dưới eo hông như những áo túi thường thấy. Mấy đứa nhỏ hay đùa : « Cha… bộ sợ chúng nó móc túi hay sao mà nội làm túi sâu vậy nội ? » Má tôi cười : « Ậy ! Vậy chớ túi này chứa nhiều thứ quí lắm à bây ». Những thứ gì không biết, chớ thấy má tôi còn cẩn thận ghim miệng túi lại bằng cây kim tây !
Tôi là con một của má tôi. Vậy mà sau khi cha tôi chết đem về chôn ở Gò Dầu, quê tôi, má tôi ở luôn trên đó. Nói là để châm sóc mồ mả và vườn tược cây trái. Thật ra, tại vì má tôi không thích ở Sài Gòn, mặc dù rất thương mấy đứa cháu. Hồi còn ở chung với vợ chồng tôi để tránh pháo kích - dạo đó, người ta hay bắn hỏa tiễn vào Gò Dầu về đêm – má tôi thường chắc lưỡi nói : « Thiệt… không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo ». Cái « xứ » Sàigòn, đối với má tôi, nó « tù chân tù tay » lắm, trong lúc ở Gò Dầu má tôi có nhà cửa đất đai rộng rãi, cây trái xum xuê, và dù đã cao niên, má tôi vẫn thường xuyên xách cuốt xách dao ra làm vườn, làm cỏ. Vả lại chung quanh đất má tôi, là nhà đất của các anh bà con bên ngoại của tôi, thành ra má tôi qua lại cũng gần. Các anh chị bà con tới lui thăm viếng giúp đỡ cũng dễ. Cho nên, dù ở một mình trên đó, má tôi vẫn không thấy cô đơn hiu quạnh. Lâu lâu nhớ bầy con tôi thì xuống chơi với chúng nó năm bảy bữa rồi về. Má tôi hay nói đùa là « đi đổi gió » !
Mấy năm sau ngày mất nước, cuộc sống của gia đình tôi càng ngày càng bẩn chật. Cũng như thiên hạ, vợ chồng tôi bán đồ đạc trong nhà lần lần để ăn. Má tôi biết như vậy nên xuống thăm mấy đứa nhỏ thường hơn, để mang « cái gì để ăn » cho chúng nó. Nhiều khi nằm đêm tôi ứa nước mắt mà nghĩ rằng lẽ ra tôi phải nuôi má tôi chớ, dù gì tôi cũng mới ngoài bốn mươi lăm còn má tôi thì tuổi đã về chiều. Vậy mà bây giờ, mặc dù là công nhân viên nhà nước xã hội chủ nghĩa với lương kỹ sư « bật hai trên sáu », tôi đã không nuôi nổi má tôi, mà trái lại chính má tôi phải cắt-ca cắt-củm mang đồ ăn xuống tiếp tế cho gia đình tôi, giống như má tôi mớm cơm đút cháo cho tôi thuở tôi còn thơ ấu ! Thật là một « cuộc đổi đời » ( Nhà Nước thường rêu rao : « Cách mạng là một cuộc đổi đời » ). Nhưng cuộc đổi đời của mẹ con tôi thì thật là vừa chua cay vừa hài hước !
Lắm khi tôi tự hỏi : « Rồi sẽ đi đến đâu ? ». Bấy giờ tôi đã trở thành « trưởng ban văn nghệ » của cơ quan, một lối đi « ngang » mà nhờ đó tôi còn được ở lại với sở cũ. Bởi vì mấy chục năm kinh nghiệm trong nghề nghiệp chánh của tôi, nhà nước cách mạng cho là vô dụng, không « đạt yêu cầu ». Thành ra, tối ngày tôi chỉ lo cho đoàn « nghiệp dư » của cơ quan tập dượt hát múa. Thật là hề. Còn về phần các con tôi, tương lai gần nhứt là đi đánh giặc Kampuchia, tương lai xa hơn thì thật là mù mịt !
Trong lúc tôi không có lối thoát thì một người bạn đề nghị giúp chúng tôi vượt biên, nhưng chỉ đi được có ba người. Vậy là chúng tôi lấy quyết định cho hai đứa lớn đi theo tôi. Chuyện này, chúng tôi giấu má tôi và mấy đứa nhỏ, kể cả hai đứa đã được chọn. Phần vì sợ đổ bể, phần vì sợ má tôi lo. Ai chẳng biết vượt biên là một sự liều lĩnh vô cùng. Rủi đi không thoát là bị tù đày chẳng biết ở đâu, may mà đi thoát cũng chưa chắt là sẽ đến bờ đến bến. Người ta nói trong số những người đi thoát, hai phần ba bị mất tích luôn. Thành ra, « vượt biên » là đi vào miền vô định…
Theo chương trình thì sáng sớm ngày rằm cha con tôi đi xe đò xuống Cần Thơ rồi từ đó có người rước qua sông ông Đốc để xuất hành ngay trong đêm đó. Tôi thắc mắc hỏi : « Tổ chức gì mà đi chui nhằm ngày rằm cha nội? ». Bạn tôi cười : « Ai cũng nghĩ như anh hết. Tụi công an cũng vậy. Cho nên hể có trăng sáng là tụi nó nằm nhà nhậu, không đi tuần đi rỏn gì hết. Hiểu chưa ? »
Bữa nay là mười bốn ta nhằm ngày thứ bảy, vợ chồng tôi định không nói gì hết, chờ sáng sớm mai gọi hai đứa lớn dậy đi với tôi xuống Cần Thơ. Như vậy là chúng nó sẽ hiểu. Và như vậy là kín đáo nhứt, an toàn nhứt. Rồi sau đó vợ tôi sẽ liệu cách nhắn tin về cho má tôi hay. Chừng đó thì « sự đã rồi »…
Bây giờ thì má tôi đã có mặt ở đây, giấu cũng không được .Đành phải nói cho má tôi biết. Nhưng nói lúc nào đây ? Và nói làm sao đây ? Liệu má tôi có biết cho rằng tôi không còn con đường nào khác ? Liệu má tôi có chấp nhận cho tôi không giữ tròn đạo hiếu chỉ vì lo tương lai cho các con ? Liệu má tôi… liệu má tôi… Tôi phân vân tự đặt nhiều câu hỏi để chẳng thấy ở đâu câu trả lời…
Tôi ngồi xuống thềm nhà, nhìn ra sân. Ở đó, bờ cỏ lá gừng xanh mướt ngày xưa đã bị chúng tôi đào lên đấp thành luống để trồng chút đỉnh khoai mì, một ít khoai lan, vài hàng bắp. Không có bao nhiêu nhưng vẫn phải có. Cho nó giống với người ta, bởi vì nhà nào cũng phải « tăng gia » cho đúng « đường lối của nhà nước » . Thật ra, trồng trọt bao nhiêu đó, nếu có… trúng mùa đi nữa, thì cũng không đủ cho bầy con tôi « nhét kẻ răng » ! Vậy mà tên công an phường, trong một dịp ghé thăm, đã tấm tắc khen : « Anh chị công tác tốt đấy chứ. Tăng gia khá nhất khu phố đấy ! Các cháu tha hồ mà ăn ». Anh ta không biết rằng mấy nhà hàng xóm của tôi, muốn « tăng gia », họ đã phải đào cả sân xi-măng hoặc sân lót gạch, thì lấy gì để « làm tốt » ?
Khi tôi trở vào nhà thì con út đang gãi lưng cho nội. Nó vén áo túi nội lên đến vai, để lộ cái lưng gầy nhom, cong cong và hai cái vú teo nhách. Tôi tự hỏi : « Lạ quá ! Chỉ có mình mình bú hồi đó mà sao làm teo vú nội đến như vậy được ? ». Rồi tôi bồi hồi cảm động khi nghĩ rằng chính hai cái núm đen đó đã nuôi tôi lớn lên với dòng sữa ấm, vậy mà chẳng bao giờ nghe má tôi kể lể công lao. Tôi cảm thấy thương má tôi vô cùng. Tôi len lén từ phía sau lòn tay măn vú má tôi một cái. Má tôi giựt mình, rút cổ lại :
- Đừng ! Nhột !Thằng chơi dại mậy !
Rồi má tôi cười văng cốt trầu. Con Ti la lên :
- Má ơi ! Coi ba măn vú nội nè !
Tôi cười hả hê thích thú. Trong khoảnh khắc thật ngắn ngủi đó, tôi bắt gặp lại những rung động nhẹ nhàng sung sướng khi tôi măn vú mẹ thuở tôi mới lên ba lên năm…Và cũng trong khoảnh khắc đó, tôi đã quên mất rằng má tôi đã gần tám mươi mà tôi thì trên đầu đã hai thứ tóc ! Và cũng quên mất rằng từ ngày mai trở đi, có thể tôi sẽ không bao giờ còn gặp lại má tôi nữa, để măn vú khi bất chợt thấy má tôi nhờ cháu nội gãi lưng như hôm nay…
Chiều hôm đó, khi ngồi vào bàn ăn, mắt bầy con tôi sáng rỡ. Bữa cơm thật tươm tất, đầy đủ món ăn như khi xưa. Có gà nấu canh chua lá giang, một loại giây leo có vị chua thật ngọt ngào mà hình như chỉ ở miệt quê tôi mới có. Món này, bà nội mấy đứa nhỏ nấu thật đậm đà. Bà thường nói : « Canh chua phải nêm cho cứng cứng nó mới ngon ». Mà thật vậy. Tô canh nóng hổi, bốc lên mùi thơm đặc biệt của thịt gà lẫn với mùi chua ngọt của lá giang, mùi mặn đằm thấm của nước mắm và mùi tiêu mùi hành… Húp vào một miếng canh chua, phải nghe đầu lưỡi ngây ngây cứng cứng và chân tóc trên đầu tăng tăng, như vậy mới đúng. Nằm cạnh tô canh chua là tộ cá kèo kho tiêu mà khi mang đặt lên bàn ăn nó hãy còn sôi kêu lụp-bụp, bốc mùi thơm phức vừa mặn vừa nồng cay lại vừa béo, bỡi vì trong cá kho có tóp mỡ và trước khi bắt xuống, bà nội có cho vào một muỗng mỡ nước gọi là « để cho nó dằn » ! Đặc biệt, khi làm cá kèo, bà không mổ bụng cá, thành ra khi cắn vào đó, mật cá bể ra đăng đắng nhẹ nhàng làm tăng vị bùi của miếng cá lên gấp bội. Ngoài hai món chánh ra, còn một dĩa măng luộc, tuy là một món phụ nhưng cũng không kém phần hấp dẫn nhờ ở chỗ sau khi luộc rồi măng được chiên lại với tỏi nên ngã màu vàng sậm thật là đậm đà…
Sau khi và vài miếng, vợ tôi nhìn tôi rồi rớt nước mắt. Nội hỏi :
- Bộ cay hả ?
Vợ tôi “dạ”, tiếng “dạ” nằm đâu trong cổ. Rồi buông đũa, mếu máo chạy ra nhà sau. Tôi hiểu. Bữa cơm này là bữa cơm cuối cùng, bữa cơm mà cả gia đình còn xum họp bên nhau. Rồi sẽ không còn bữa cơm nào như vầy nữa. Gia đình sẽ chia hai. Những người đi, rồi sẽ sống hay chết ? Còn những người ở lại, ai biết sẽ còn tan tác đến đâu ? Tôi làm thinh, cắm đầu ăn lia lịa như mình đang đói lắm. Thật ra, tôi đang cần nuốt thật nhanh thật nhiều, mỗi một miếng nuốt phải thật đầy cổ họng… để đè xuống, nén xuống một cái gì đang trạo trực từ dưới dâng lên. Mắt tôi nhìn đồ ăn, nhìn chén cơm, nhìn đôi đũa, để khỏi phải nhìn má tôi hay nhìn bầy con, ngần đó khuôn mặt thân yêu mà có thể tôi sẽ vĩnh viễn không còn thấy lại nữa. Trong đầu tôi chợt hiện ra hình ảnh người đang hấp hối, trong giây phút cuối cùng lưỡi đã cứng đơ mắt đã dại, vậy mà họ vẫn nhìn nuối những người thương để rồi chảy nước mắt trước khi tắt thở. Rồi tôi thấy tôi cũng giống như người đang hấp hối, không phải chết ở thể xác mà là chết ở tâm hồn, cũng một lần vĩnh biệt, và cũng sẽ bước vào một cõi u-minh nào đó, một cõi thật mơ hồ mà mình không hình dung được, không chủ động được !
Má tôi gắp cho tôi một cái bụng cá to bằng ngón tay cái :
- Nè ! Ngon lắm ! Ăn đi ! Để rồi mai mốt hổng chắc gì có mà ăn !
Ý má tôi muốn nói rằng ở với tình trạng đất nước này riết rồi đến loại cá kèo cũng sẽ khan hiếm như các loại cá khác. Nhưng trong trường hợp của tôi, lời má tôi nói lại có ý nghĩa của lời tống biệt. Nó giống như : ”Má cho con ăn lần này lần cuối. Ăn đi con ! Ăn cho ngon đi con !”. Tôi ngậm miếng cá mà nước mắt trào ra, không kềm lại được. Nếu không có mặt bầy con tôi, có lẽ tôi đã cầm lấy bàn tay của má tôi mà khóc, khóc thật tự do, khóc thật lớn, để vơi bớt nỗi thống khổ đã dằn vật tôi từ bao nhiêu lâu nay… Đằng này, tôi không làm như vậy được. Cho nên tôi trạo trực nuốt miếng cá mà cảm thấy như nó thật đầy xương xóc !
Má tôi nhìn tôi ngạc nhiên :
- Ủa ? Mày cũng bị cay nữa sao ?
Rồi bà chồm tới nhìn vào tộ cá. Các con tôi nhao nhao lên :
- Đâu có cay, nội.
- Con ăn đâu thấy cay. Hai có nghe cay hôn Hai ?
- Chắc ba má bị gì chớ cay đâu mà cay.
- Con ăn được mà nội. Có cay đâu ?
Các con tôi đâu có biết rằng cái cay của tôi không nằm trên đầu lưỡi, mà nó nằm trong đáy lòng. Cái cay đó cũng bắt trào nước mắt !
Tôi đặt chuyện, nói tránh đi :
- Hổm rày nóng trong mình, lưỡi của ba bị lở, nên ăn cái gì mặn nó rát.
Rồi tôi nhai thật chậm để có thời gian cho sự xúc động lắng xuống. Miếng cơm trong miệng nghe như là sạng sỏi, nuốt không trôi…
Sau bữa cơm, bà cháu kéo hết vào buồng tụi con gái để chuyện trò. Thỉnh thoảng nghe cười vang trong đó. Chen trong tiếng cười trong trẻo của các con, có tiếng cười khọt khọt của nội, tiếng cười mà miếng trầu đang nhai kềm lại trong cổ họng, vì sợ văng cốt trầu. Những thanh âm đó toát ra một sự vô tư, nhưng lại nghe đầy hạnh phúc. Lúc này, có nên nói chuyện vượt biên với má tôi hay không ? Tội nghiệp bầy con, tội nghiệp nội… Ngoài phòng khách, tôi đi tới đi lui suy nghĩ đắn đo. Vợ tôi còn lục đục sau bếp, và cho dù vợ tôi có mặt ở đây cũng không giúp gì tôi được với tâm sự rối bời như mớ bòng bong. Tôi bèn vào buồng ngủ, trải chiếu dưới gạch-từ lâu rồi, vợ chồng tôi không còn giường tủ gì hết- rồi tắt đèn nằm trong bóng tối, gác tay lên tráng mà thở dài…
Thời gian đi qua… Trăng đã lên nên tôi thấy cửa sổ được vẽ những lằn ngang song song trắng đục. Trong phòng bóng tối cũng lợt đi. Không còn nghe tiếng cười nói ở phòng bên và tôi nghĩ chắc đêm nay vợ tôi ngủ với hai đứa lớn ngoài phòng khách, để trằng trọc suốt đêm chờ sáng.
Bỗng cửa phòng tôi nhẹ mở, vừa đủ để tôi nhìn thấy bóng má tôi lom khom hướng vào trong hỏi nhỏ :
- Ba con Ti ngủ chưa vậy ?
Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng cũng trả lời nho nhỏ vừa đủ nghe :
- Dạ chưa, má.
Má tôi bước vào đóng cửa lại, rồi mò mẫm ngồi xuống cạnh tôi, tay cầm quạt mo quạt nhè nhẹ lên mình tôi, nói :
- Coi bộ nực hả mậy ?
- Dạ. Nhưng rồi riết cũng quen, má à.
Tôi nói như vậy mà trong đầu nhớ lại hình ảnh tôi và thằng con trai hè hụi tháo gỡ mấy cây quạt trần để mang đi bán. Im lặng một lúc. Tay má tôi vẫn quạt đều. Rồi má tôi hỏi:
- Tụi bây còn gì để bán nữa hông ?
- Dạ…
Tôi không biết trả lời làm sao nữa. Chiếc xe hơi bây giờ chỉ còn lại cái sườn, không ai chịu chở đi. Trong nhà bây giờ chỉ còn bộ bàn ăn, cái tủ thờ nhỏ và bộ xa-long mây “sứt căm gãy gọng”. Ngoài ra, trên tường có chân dung “Bác Hồ” dệt bằng lụa và nhiều “bằng khen”,”bằng lao động tiên tiến”… những thứ mà nhà nào cũng có hết, cho, chưa chắc gì có ai thèm lấy ! Bỗng tôi nhớ có một hôm tôi nói với bầy con tôi : ”Ba tự hào đã giữ tròn liêm sỉ từ mấy chục năm nay. Bây giờ, đổi lấy cái gì ăn cũng không được, đem ra chợ trời bán cũng chẳng có ai mua. Sao ba thấy thương các con và tội cho ba quá !”. Lúc đó, tôi tưởng tượng thấy tôi đứng ở chợ trời, dưới chân có tấm bảng đề “Bán cái liêm sỉ, loại chánh cống. Bảo đảm đã hai mươi năm chưa sứt mẻ”. Thật là khùng nhưng cũng thật là chua chát !
Nghe tôi “dạ” rồi nín luôn, má tôi hiểu, nên nói:
- Rồi mầy phải tính làm sao chớ chẳng lẽ cứ như vầy hoài à ? Tao thấy bầy tụi bây càng ngày càng trõm lơ, còn mầy thì cứ làm thinh tao rầu hết sức.
Má tôi ngừng một chút, có lẽ để lấy một quyết định :
- Tao xuống kỳ này, cốt ý là để nói hết cho mầy nghe. Tao già rồi, mai mốt cũng theo ông theo bà. Mày đừng lo cho tao. Lo cho bầy con mầy kìa. Chớ đừng vì tao mà bắt mấy đứa nhỏ phải hy sinh tương lai của tụi nó. Mầy liệu mà đi, đi ! Kiếm đường mà kéo bầy con mầy đi, đi ! Ở đây riết rồi chết cả chùm. Không chết trận trên Miên thì cũng chết khùng chết đói. Thà tụi bây đi để tao còn thấy chút đỉnh gì hy vọng mà sống thêm vài năm nữa. Mày hiểu hôn ?
Nghe má tôi nói, tôi rớt nước mắt. Chuyện mà bao lâu nay tôi không dám nói với má tôi thì bây giờ chính má tôi lại mở ngỏ khai nguồn. Và tôi thật xúc động với hình ảnh bà mẹ già phải đẩy đứa con duy nhứt đi vượt biên để vui mà sống với ít nhiều hy vọng ! Thật là ngược đời : có người mẹ nào lại muốn xa con ? Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện “đổi đời” như vậy !
Tôi nắm bàn tay không cầm quạt của má tôi, lắc nhẹ :
- Má à ! Lâu nay con giấu má. Bây giờ má nói, con mới nói. Sáng sớm mai này, con và hai đứa lớn sẽ xuống Cần Thơ để vượt biên.
Tôi nghe tiếng cây quạt mo rơi xuống gạch. Rồi yên lặng. Một lúc lâu sau, má tôi mới nói :
- Vậy hà…
Tôi nghe có cái gì nghẹn ngang trong cổ. Tôi nuốt xuống mấy lần, rồi cố gắng nói :
- Con đi không biết sống hay chết. Con gởi má vợ con và ba đứa nhỏ, có bề gì xin má thương tụi nó …
Nói tới đó, tôi nghẹn ngào rồi òa lên khóc ngất. Tôi nghe có tiếng quạt phe phẩy lại, nhanh nhanh, và bàn tay má tôi vuốt tóc tôi liên tục giống như hồi nhỏ má tôi dỗ về tôi để tôi nín khóc.
Một lúc sau, má tôi nói :
- Thôi ngủ đi, để mai còn dậy sớm.
Rồi bước ra đóng nhẹ cửa lại. Sau đó, có tiếng chẹt diêm quẹt rồi một ánh sáng vàng vọt rung rinh lòn vào khuôn cửa, tôi biết má tôi vừa thắp đèn cầy trên bàn thờ. Tiếp theo là mùi khói nhang, chắc bà nội mấy đứa nhỏ đang cầu nguyện ngoài đó.
Tôi thở dài, quay mặt vào vách, nhắm mắt mà nghe chơi vơi, giống như đang nằm trong một cơn mộng…
Năm giờ sáng hôm sau, má tôi kêu tôi dậy đi. Hai con tôi đã sẵn sàng, mỗi đứa một túi nhỏ quần áo. Chúng nó không có vẻ gì ngạc nhiên hay xúc động hết. Có lẽ mẹ tụi nó đã gọi dậy từ ba bốn giờ sáng để giảng giải và chuẩn bị tinh thần. Riêng tôi, thật là trầm tĩnh. Nước mắt đêm qua đã giúp tôi lấy lại quân bình. Thật là mầu nhiệm !
Tôi vào buồng hôn nhẹ mấy đứa nhỏ đang ngủ say, xong ôm vợ tôi, ôm má tôi. Hai người thật là can đảm, không mảy may bịn rịn.
Tôi chỉ nói có mấy tiếng :
- Con đi nghe má !
Rồi bước ra khỏi cổng.
-oOo-
Lần đó, tôi đi thoát.
Rồi phải ba bốn năm sau, tôi mới chạy chọt được cho vợ con tôi rời Việt Nam sang sum họp với tôi ở Pháp. Má tôi ở lại một mình.
Mấy ngày đầu gặp lại nhau, vợ con tôi kể chuyện “bên nhà” cho tôi nghe, hết chuyện này bắt qua chuyện nọ. Bà Nội được nhắc tới nhiều nhứt và những chuyện về bà nội được kể đi kể lại thường nhứt.
Tụi nó kể :
“Ba đi rồi, mấy bữa sau cơ quan chỗ ba làm việc cho người đến kiếm. Tụi con trốn trong buồng, để một mình nội ra. Nội nói rằng nội nhờ ba về Tây Ninh rước ông Tư xuống bởi vì trên đó đang bị Cao Miên pháo kích tơi bời, tới nay sao không thấy tin tức gì hết, không biết ba còn sống hay chết nữa. Nói rồi, nội khóc thật mùi-mẫn làm mấy cán bộ trong cơ quan tin thiệt, họ an ủi nội mấy câu rồi từ đó không thấy trở lại nữa”.
Rồi tụi nó kết câu chuyện với giọng đầy thán phục : “Nội hay thiệt !”.
Nghe kể chuyện, tôi bồi hồi xúc động. Tôi biết lúc đó má tôi khóc thiệt chớ không phải giả khóc như các con tôi nghĩ. Bởi vì, trong hai trường hợp dù sự việc xảy ra có khác nhau, nhưng hoàn cảnh sau đó vẫn giống nhau y hệt. “Ba con Ti đi không biết sống hay chết” vẫn là câu hỏi lớn đè nặng tâm tư của má tôi. Bề ngoài má tôi làm ra vẻ bình tĩnh để an lòng con dâu và cháu nội, nhưng là một cái vỏ mỏng manh mà trong khi kể chuyện cho các cán bộ, nó đã có dịp bể tung ra cho ưu tư dâng đầy nước mắt…
“Rồi sau đó -tụi con tôi kể tiếp- nội ở lại nhà mình để chờ tin tức và cũng để ra tiếp chuyện hàng xóm và chánh quyền địa phương, chớ má thì ngày nào cũng đi chùa, còn tụi con nội sợ nói hé ra là mang họa cả đám. Lâu lâu, nội về Gò Dầu bán đồ rồi mua thịt thà đem xuống tiếp tế cho tụi con. Thấy nội già mà lên lên xuống xuống xe cộ cực nhọc quá, tụi con có can ngăn nhưng nội nói nội còn mạnh lắm, nội còn sống tới ngày con Ti lấy chồng nội mới chịu theo ông theo bà !”.
Tôi biết : má tôi là cây cau già - quá già, quá cỗi - nhưng vẫn cố bám lấy đất chỉ vì trên thân cây còn mấy dây trầu… Hình ảnh đó bỗng làm tôi ứa nước mắt. Thương má tôi và nhớ cả quê hương. Cái quê hương tuyệt đẹp của tôi mà người ta đã cướp mất. Cái quê hương mà trên đó tôi không còn quyền sống như ý mình muốn, phát biểu những gì mình nghĩ, ca tụng những gì mình thích. Ở đó, ở quê hương tôi, tôi còn bà mẹ già, bà mẹ tám mươi đã cắt ruột đuổi con đi, bỏ quê hương mà đi, để bà còn chút gì hy vọng sống thêm vài ba năm nữa ! Bây giờ, vợ con tôi cũng đã đi hết. Má tôi còn lại một mình. Thân cây cau giờ đã nhẵn dây trầu, thêm tuổi đời một nắng hai mưa. Tôi biết ! Má ơi ! Con biết : cây cau già bây giờ đang nhớ thắt thẻo mấy dây trầu non …
Theo lời các con tôi kể lại, hôm tiếp được điện tín của bạn tôi ở Pháp đánh về báo tin tôi và hai đứa lớn đã tới Mã Lai bình yên, cả nhà tưng bừng như hội. Tụi nó nói : “Nội vội vàng vào mặc áo rồi quì trước bàn thờ Phật gõ chuông liên hồi. Đã giấu không cho ai biết mà nội gõ chuông giống như báo tin vui cho hàng xóm !”
“Mấy hôm sau, bỗng có công-an phường lại nhà. Công an đến nhà là lúc nào cũng có chuyện gì đó cho nên nội có hơi lo. Thấy dạng tên công an ngoài ngõ, trong này nội niệm Phật để tự trấn an. Sau đó, nội cũng kể chuyện ba về Tây Ninh rồi nội kết rằng ba đã chết ở trên đó. Rồi nội khóc…”
Mấy con tôi đâu biết rằng đối với má tôi, dù tôi còn sống, sống mà vĩnh viễn không bao giờ thấy lại nhau nữa thì cũng giống như là tôi đã chết.
“ Sau đó nội than không biết rồi sẽ ở với ai, rồi ai sẽ nuôi nội, bởi vì má buồn rầu đã bỏ nhà đi mất. Nghe vậy, tên công an vội vàng an ủi :
- Bà cụ đừng có lo ! Rồi chúng cháu sẽ đem bà cụ về ở với chúng cháu. Cứ yên chí !”. Sau khi tên công an ra về, nội vào buồng kể lại chuyện đó cho tụi con nghe, rồi nói : “Nội nghe thằng công an đòi đưa nội về nuôi mà nội muốn xỉu luôn ! Không phải vì cảm động mà vì sợ ! Ở với tụi nó, thà chết sướng hơn !”
Vợ con tôi được đi chánh thức nên hôm ra đi bạn bè thân quyến đến chia tay đầy nhà. Lúc mẹ con nó quì xuống lạy má tôi để giả biệt -hay đúng ra để vĩnh biệt- tất cả mọi người đều khóc. Đó là lần cuối cùng mà má tôi khóc với bầy cháu nội. Và tôi nghĩ rằng má tôi khóc mà không cần tìm hiểu tại sao mình khóc, chỉ thấy cần khóc cho nó hả, chỉ thấy càng khóc thân thể gầy còm càng nhẹ đi, làm như thịt da tan ra thành nước mắt, thứ nước thật nhiệm mầu mà Trời ban cho con người để nói lên tiếng nói đầy câm lặng.
Bầy bạn học của các con tôi đứng thành hai hàng dài, chuyền nước mắt cho nhau để tiễn đưa tụi nó ra xe ngoài ngõ. Tôi hình dung thấy những cặp mắt thơ ngây mọng đỏ nhìn các con tôi đi mà nửa hồn tê-dại, không biết thương cho bạn mình đi hay thương cho thân phận mình, người ở lại với đầy chua xót…
Mấy con tôi nói : ”Nội không theo ra phi trường. Nội ở nhà để gõ chuông cầu nguyện”.

-oOo-


Tôi làm việc ở Côte d'Ivoire ( Phi Châu ), cách xa vợ con bằng một lục địa, và cách xa mẹ tôi bằng nửa quả địa cầu. Những lúc buồn trống vắng, tôi hay ra một bãi hoang gần sở làm để ngồi nhìn biển cả. Mặt nước vuốt ve chân cát, tiếng sóng nhẹ nghe như thì thào… những thứ đó làm như chỉ dành cho riêng tôi. Tự nhiên tôi cảm thấy như được dỗ về an ủi. Những lúc đó, sao tôi nhớ má tôi vô cùng. Trên đời này má tôi là người duy nhứt an ủi tôi từ thuở tôi còn ấu thơ cho đến khi trên đầu tôi đã hai thứ tóc. Ngay đến đêm cuối cùng trên quê hương, cũng chính trong vòng tay khẳng khiu của má tôi mà tôi khóc, khi gởi vợ gởi con… Lúc nào tôi cũng tìm thấy ở má tôi một tình thương thật rộng rãi bao la, thật vô cùng sâu đậm, giống như đại dương mà tôi đang nhìn trước mặt.
Bây giờ tôi hiểu tại sao tôi hay ra ngồi đây để nhìn biển cả…

Tiểu Tử

http://catbuicarolineth.blogspot.co.uk/2013/05/noi-tieu-tu.html

Kẻ lười biếng: Các căn bệnh của giáo dục Việt Nam.

             

          Sự trăn trở của một kẻ lười biếng


Nền giáo dục xã hội chủ nghĩa




Nam sinh lớp 12 'bắt bệnh' nền giáo dục 1

Nhân vừa xem một đoạn trên Youtube của một em học sinh lớp 12 có tựa đề“Sự trăn trở của một kẻ lời biếng”, cảm xúc dâng trào nên vội mở máy viết vài lời chia sẻ cùng mọi người trên mạng, hy vọng được vơi đi phần nào tâm sự.
Trước tiên tôi cũng nói sơ qua về hoàn cảnh của mình, tôi có đứa cháu ngoại năm nay đang học lớp 9, gia đình chúng tôi đang trong giai đoạn khủng hoảng, không biết tính toán như thế nào cho việc học của đứa cháu này.
Cha nó một mực muốn cho nó nghỉ học phổ thông để chuyển qua học nghề, lập luận của cha nó cũng giống như cách nói của em học sinh trong clip Youtube mà tôi vừa xem. Cha nó cho rằng nếu cứ để cho con bé học xong cấp 3 sẽ mất 3 năm nữa, mà nếu có lấy được cái bằng cấp 3 cũng chẳng cải thiện được gì cho tương lai của con bé, vì ở Việt Nam hiện nay cái bằng cấp 3 cũng chỉ làm công nhân là cùng, nó có khác gì bằng cấp 2. Trong khi đó nếu dành 3 năm học cấp 3 đó để đi học nghề thì con bé nó sẽ có một nghề tương đối để có thể mưu sinh, và không chừng sẽ khá giả hơn khi gặp điều kiện tốt.
Cha nó còn nói, nếu nó có đậu lên học đại học đi nữa thì khả năng có một việc làm cũng rất là khó, vì gia đình thuộc loại ‘xấu’, thân nhân không có người làm quan chức để gởi gắm thì rất khó cho một sinh viên tìm việc làm ở Việt Nam lúc này. Chính phủ, hoặc đài phát thanh nói thì nghe rất là hay, là công bằng cho mọi người dân, nhưng thực tế thì khác. Còn nếu dành cả tuổi thanh xuân để lo cho việc học mà rốt cuộc không tìm được việc làm thì thà cho nó học phổ cập cấp 2 xong cho đi học nghề là thực tế hơn cả.
Cha nó còn đưa ra bằng chứng hàng đống đứa trong họ hàng bạn bè, hàng xóm xung quanh đây, có bằng cấp cao rốt lại thì cũng chẳng ra gì cả. Cha nó nói, ở Việt Nam này nhà nước họ không có cảm tình với những người ăn học cao mà ‘lý lịch xấu’, ‘không rõ ràng’…
Qua những lý luận của cha nó nói, tôi thấy cũng có lý, nhưng băn khoăn của tôi là cho con nhỏ nghỉ sớm như vậy thì thấy tội nghiệp cho con nó quá, vì gia đình của tôi rất coi trọng sự học vấn, dù gia đình chúng tôi chẳng có ai làm quan lớn hay giàu có vì nhờ ăn học cao cả, trong khi đó thì các dì của nó lại sống khá giả nhờ vào việc buôn bán.
Sau khi xem qua clip của chú học sinh trên Youtue, tôi lại không ngờ cái quan niệm của em học sinh trên lại rất giống với quan niệm của cha con bé. Cái bất cập của nền giáo dục này tôi nhớ không lầm người ta đã đưa ra thảo luận từ đời của ông TBT Nguyễn Văn Linh khi có cơ chế đổi mới cho tới nay, trải qua không biết bao nhiêu đời quốc hội, tôi đã nghe những chuyên gia tài giỏi, những nhà giáo ưu tú của quốc gia đã đệ trình, đã kiến nghị những biện pháp những kế hoạch rất là hay và hợp lý không biết bao nhiêu lần trước quốc hội, nhưng cho tới nay vẩn không thay đổi được là gì lý do gì? Cho nên đây không phải là vấn đề gì mới, những ai có quan tâm tới thời sự trong nước thì đều có thể biết rõ.
Nhưng điều đặc biệt hôm nay là những bất cập đó lại gây ra phản ứng quyết liệt ở một thanh niên trẻ, khi dám thẳng thắn đưa lên mạng nói ra những sự bất hợp lý đó, mà lớp cha chú chưa bao giờ dám nói ra.
Đối với lớp người lớn như chúng tôi sống dưới chế độ này hơn nửa đời người thì đều biết quá rõ cái cơ chế của chế độ này như thế nào nên chúng tôi im lặng một cách dễ dàng. Nhưng lớp trẻ hôm nay chúng lại không chịu như vậy, và đây có lẽ là một phát súng đầu tiên của lớp người trí thức trẻ muốn phá vỡ hệ thống giáo dục nhồi sọ có từ thời ông Hồ Chí Minh. Họ không thể chịu đựng nổi sự bất hợp lý khi người trí thức ăn học cao lại trở thành tôi mọi cho lớp thủ lãnh dốt nát của đảng, như vậy học để làm gì khi mà sự học không giúp ích gì được cho đất nước cho dân tộc, nhân dân và cả bản thân mình.
Cái cơ chế của chế độ này họ không muốn cho người dân giàu sang, họ không muốn cho người dân có sự hiểu biết cao. Nhìn xã hội khi thấy trường học xuống cấp, khi thấy trẻ em bỏ học đi bán vé số, khi thấy người dân phải bù đầu bù tóc lo cho cái ăn cái mặc hàng ngày, khi thấy tài sản của người dân không còn gì cả đó lại là điều mong muốn hài lòng của họ, mặc dầu bề ngoài ta nghe họ nói có vẻ họ lo cho dân hơn cả bản thân họ nữa, nhưng đó chỉ là đóng kịch để lừa dân, vì sao ta biết như vậy? Đơn giản vì xã hội có rơi vào tình trạng gọi là bần cùng hóa thì chế độ của họ mới an toàn, mới mạnh lên được, lời nói của họ mới được mọi người ngu dốt như họ ở dưới vỗ tay, đây là chính sách dùng thúng thóc để sai khiến bầy vịt đói có từ thời Hồ Chí Minh. Nếu không có chính sách bần cùng này thì làm sao vận động dân chúng thanh niên đi theo chiến dịch ‘sanh Bắc tử Nam’ được, đó là nguyên tắc của các chế độ xã hội độc tài.
Nhưng trong hoàn cảnh bắt buộc phải đổi mới này, chính sách ‘dùng thúng thóc để sai khiến bầy vịt đói’ đã bị biến chất, cải biến thành chính sách giả nhân giả nghĩa, bên ngoài làm như có vẻ hết lòng lo cho dân nhưng bên trong thì cố hết sức để vơ vét lợi ích cho bản thân. Cứ điểm sơ qua tài sản chìm nổi của các ông bí thư, chủ tịch, tỉnh, thành huyện, xã thì người dân có thể thấy ai là những người giàu nhất trong địa phương mình, thì sẽ biết họ nói và làm như thế nào.
Chúng ta có sống dưới chế độ này lâu dài chúng ta mới thấy được bản chất dối trá của họ. Trong giai đoạn mở cửa này, có những điều họ cố che dấu bản chất độc ác của họ bằng cách tạo ra những hội như hội Chữ Thập Đỏ, hội từ thiện, hội người cao tuổi, hội phụ nữ, hội người nghèo v.v… Họ dùng những người dân có tâm huyết làm xã hội để che mắt, hòng len vào từng gia đình để kiểm soát từng động thái tư tưởng của người dân đối với chế độ và để che lấp bản chất xấu xa độc tài của chế độ, như chứng tỏ chính quyền rất quan tâm đến đời sống của người dân, nhưng bên trong và đằng sau đó là chi bộ đảng, công an khu vực sẽ có một bảng xếp hạng phân loại từng cá nhân đặc biệt và từng gia đình đặc biêt, những đặc biệt này gọi là ‘những thành phần phản động’ không ưa chế độ, dám nói ra sự thật của chế độ.
Đài phát thanh thì cứ ra rả tuyên truyền, cái gì nhà nước làm cũng thành công cũng tốt cả, nhưng người dân thì cứ điêu đứng, người bán vé số, bán hàng rong, chạy Honda ôm thì đầy đường, gồm mọi thành phần ‘cặn bã’ trong xã hội như người già, thanh niên, phụ nử, trẻ em… Họ không còn con đường nào khác ngoài việc phải chọn một nghề tương đối nhẹ nhàng để sống qua ngày, một hạ tầng xã hội như vậy thì tương lai đất nước như thế nào? Đáng lý các em bé kia phải là một học sinh chăm chỉ bên bài vở, nhưng người già kia đáng lý họ phải được hưởng những ngày hạnh phúc nhàn nhã còn lại bên gia đình, con cháu, và những anh thanh niên phụ nữ kia phải là những công nhân trong nhà máy, nhưng vì sao họ phải rơi vào con đường không còn một lối thoát nào để tồn tại?
Tại sao không để người dân tự do làm ăn một cách bình thường và xã hội sẽ tự điều chỉnh? Ở các nước dân chủ, nhà nước chỉ việc thu thuế một cách công bằng minh bạch. Trái lại ở VN, nhà nước tìm cách quản lý người dân về mọi mặt, giành dựt tất cả mọi việc làm có lợi nhuận cao, người dân lương thiện bị chèn ép bắt buộc phải bỏ nghề vì sưu cao thuế nặng, buôn bán vỉa hè lề đường thì bị xua đuổi bắt hốt, không cho người dân một cơ hội nào để mưu sinh. Còn kinh tế nhà nước vì quá bao đồng nên rơi vào tình trạng quản lý không xuể, sanh ra tham nhũng tràn lan không thể kiểm soát nổi, nhà nước nói một đầu làm một ngã.
Nói chế độ xã hội chủ nghĩa là chế độ của người nghèo, nhưng thực chất bây giờ thì tất cả đều dành cho người giàu, giành giựt việc làm của người nghèo, cán bộ công chức chính quyền liên kết với thiểu số người cơ hội để tạo ra cái gọi là nhóm lợi ích, hoành hành người dân cô thế, đến nổi các cấp trên không hề hay biết hoặc có biết chăng họ cũng bất lực vì trên nói dưới không nghe, có ai ngờ họ nói chính quyền của họ là chính quyền của nhân dân, vì nhân dân mà bây giờ ngành an ninh lại đề nghị được dùng súng để bắn dân khi gặp trường hợp tự vệ.
Mới đây, ông bộ trưởng thanh tra Huỳnh Phong Tranh còn cho rằng những người khiếu kiện số đông là vì động cơ chính trị, theo tôi nhận định thì cái ông này văn hóa cao lắm là mới tốt nghiệp lớp 3 trường làng, ai đời một ông bộ trưởng thanh tra đáng lý là nghiệp vụ của ông là để thanh tra tham nhũng trong chính phủ, và thanh tra những vấn đề bất cập khác trong bộ máy nhà nước mà người dân phản ảnh lên, đằng này ông tuyên bố như vậy thì nên dẹp bỏ bộ thanh tra để đổi tên thành bộ mật vụ cho đúng với tư cách của ông ấy.
Rõ ràng những điều này chứng tỏ nhà nước công sản họ đã lòi cái đuôi ra, vì những mâu thuẫn và bất cập đang tràn lan ngoài xã hội, mà không thể nào giải quyết được, hết vấn đề này lại nảy sanh vấn đề khác, hết ngành này lại xảy ra ở ngành khác, hết nơi này lai xảy ra ở nơi khác, đó là dấu hiệu của những điềm không lành có thể xảy ra nay mai cho người dân Việt Nam trong nước.
Sở dĩ chúng tôi phải nói dông dài như vậy là gì tất cả đều do nền giáo dục gọi là xã hội chủ nghĩa này mà ra cả, nó đã sản sanh ra một tầng lớp cai trị dân, gọi là ‘làm việc và học tập theo tấm gương đạo đức của bác’.
Clip trăn trở của chú học sinh đối với bất cập trong nền giáo này rồi cũng sẽ trôi vào quên lãng như bao tâm huyết của các lớp cha chú của em cũng từng trăn trở như vậy, không hy vọng gì có sự thay đổi ở thể chế này vì đó là bản chất của chế độ. Mong rằng trời cao có mắt, người viết hy vọng một kịch bản thay đổi có hậu sẽ đến với dân tộc Việt Nam sớm nhất.

.
            ------------



news flash  animated.gif (4419 bytes)
Không sớm đoàn kết giải thể Cộng Sản VN, chúng sẽ tàn phá Văn Hóa dân tộc.


Bài Xem Nhiều