We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 17 May 2013

Việt Nam: Suy vong đẻ ra cáo hồ 19.5 (hcm)

NGÀY 19 THÁNG 5?

Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), Hồ Chí Minh (HCM) sinh ngày 19-5-1890. Tuy nhiên, trong đơn xin vào học Trường Thuộc Địa Paris (Pháp) năm 1911, lúc đó HCM có tên là Nguyễn Tất Thành, đã tự viết tay là ông sinh năm 1892.  Trong đơn gia nhập hội Tam Điểm Paris năm 1922, do một người thợ chạm tên là Boulanger giới thiệu, HCM lúc đó lấy tên Nguyễn Ái Quấc (Quốc), tự đề là sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie colonial”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105.)  Những ngày nầy đều do HCM tự ghi theo từng giai đoạn trong cuộc đời ông.  Vậy thật sự khó biết HCM sinh ngày nào?  Một câu hỏi được đặt ra là tại sao cuối cùng HCM chọn ngày 19-5-1890 là ngày sinh của HCM?
1.-   NGÀY RA MẮT CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH
Trước hết, ngày 19-5 là ngày HCM và đảng Cộng Sản (CS) ra mắt công khai mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (VNĐLĐMH), gọi tắt là Việt Minh (VM) tại Cao Bằng.  Nguyên thủy, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội không do HCM thành lập mà do Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1936 tại Nam Kinh do nhu cầu liên kết những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Nam Kinh (Nanjing/Nan-ching, Trung Hoa) với sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ).  Ngoài Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, các hội viên nòng cốt khác là Nguyễn Thức Canh, Đặng Nguyên Hùng, Hoàng Văn Hoan [bí danh là Lý Quang Hoa, thuộc chi bộ Vân Quý tức Vân Nam (Yunnan) và Quý Châu (Guizhou) của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).]
Năm 1937, Hồ Học Lãm đến hoạt động ở tỉnh Hồ Nam (Hunan, Trung Hoa), và lấy tên là Hồ Chí Minh.  (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 68.)  Cũng trong năm nầy, trước hiểm họa xâm lăng của Nhật Bản, hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa liên minh lần thứ hai ngày 22-9-1937.  Trong khi đó, những hoạt động của VNĐLĐMH mờ lạt dần.  Hồ Học Lãm lại già yếu, di tản theo các đoàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa chống Nhật, nên VNĐLĐMH chỉ còn trên danh xưng chứ không hoạt động gì nhiều.
Nhờ sự giới thiệu của Hồ Học Lãm, vào gần cuối năm 1940, một số đảng viên CSVN dưới lớp vỏ VNĐLĐMH đến Quế Lâm (Guilin/Kweilin) tỉnh Quảng Tây tiếp xúc với Lý Tế Thâm, một nhân vật cao cấp trong THQDĐ, thân cận với Tưởng Giới Thạch.  Theo lời một đảng viên CS có mặt trong cuộc tiếp xúc nầy là Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), thì “Qua cuộc nói chuyện với Lý Tế Thâm như vậy, cái danh nghĩa Việt Minh thực tế đã được thừa nhận, và cái danh nghĩa Biện sự xứ Việt Minh cũng mặc nhiên thành ra hợp pháp.” (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký. Portland, Oregon: Nhóm tìm hiểu lịch sử, 1991, tr. 135.) Các đảng viên nầy thuộc cơ sở hải ngoại của đảng CSĐD, liên lạc và hoạt động với Hồ Quang, một gián điệp mới được Đệ tam Quốc tế Cộng sản gởi trở lại Trung Hoa năm 1938.  Hồ Quang chính là HCM.
Sau đó, HCM về Việt Nam, tổ chức hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng CSĐD lần thứ 8  từ ngày 10-5-1941 tại lán Khuổi Nậm thuộc vùng Pắc Bó (Cao Bằng).  Ngoài HCM, hội nghị chỉ có bốn uỷ viên Trung ương đảng CSVN tham dự là Đặng Xuân Khu, Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang), Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, và một số đại diện các xứ ủy Bắc Kỳ và
Trung Kỳ.  Không có đại diện Nam Kỳ.  Hội nghị kết thúc ngày 19-5-1941 với các quyết định sau đây:  1) Ra mắt công khai mặt trận VNĐLĐMH (tức VM), bao gồm các hội Cứu quốc, như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội văn hóa cứu quốc… 2) Đưa Đặng Xuân Khu, sau có bí danh là Trường Chinh lên làm tổng bí thư đảng CSĐD. 3) Đề ra chủ trương chuẩn bị võ trang khởi nghĩa. (Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, Lịch sử Việt Nam tập II, Hà Nội: Nxb. Uỷ ban Khoa học Xã hội, 1985, tt. 320-323.)
Qua diễn tiến trên đây, rõ ràng Nguyễn Ái Quốc lấy tên HCM của Hồ Học Lãm làm tên của mình và lấy tên tổ chức VNĐLĐMH (tứcVM) làm tên mặt trận của đảng CSĐD và công khai hóa hoạt động của mặt trận nầy tại Cao Bằng ngày 19-5-1941.
2.-   TÌNH HÌNH DIỄN TIẾN
Tại Âu Châu, sau khi Đức thất trận và đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945.  Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, chung quanh việc phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận.
Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945.  Lúc đó, Nhật Bản còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu.  Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật Bản.  Tối hậu thư Potsdam buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc… Riêng về Đông Dương, tối hậu thư quyết định rằng quân Nhật sẽ
bị giải giới do quân Trung Hoa ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16. (Spencer C. Tucker, Editor, Encyclopedia of the Vietnam War, Volume Two, Santa Barbara, California: ABC-CLIO, 1998, tr. 583.)
Tối hậu thư không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương, ngầm mở đường cho Pháp trở lại Đông Dương.  Lúc đó, Truman (Hoa Kỳ) chủ trương tôn trọng chủ quyền của Pháp tại Đông Dương để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu. (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31. Spencer C. Tucker, sđd. tr. 888.)  Lợi dụng việc nầy, khi Trung Hoa và Anh đưa quân vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật Bản, Pháp thương thuyết với Trung Hoa và Anh để trở lại Đông Dương.
Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, HCM và mặt trận VM cướp chính quyền và thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945. Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam, ngày 13-9-1945, tướng Douglas Gracey chỉ huy lực lượng Anh giải giới quân đội Nhật, có mặt ở Sài Gòn.  Ngày 14-9-1945, tướng Lư Hán dẫn quân Trung Hoa đến Hà Nội.
Ngày 8-10-1945, tại London, đại diện hai chính phủ Anh và Pháp ký Tạm ước hành chánh và tư pháp phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam, theo đó, Anh quyết định: 1) Yểm trợ Pháp tái chiếm Việt Nam. 2) Chấp nhận chính quyền Pháp ở Sài Gòn. 3) Giao quyền cai trị Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996,
tt. 275-276.)
Ngày 28-2-1946 tại Trùng Khánh (Chongqing, Trung Hoa), ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16 tại Đông Dương, theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm
nhất là ngày 31-3-1946.  Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Kỳ sẽ khỏi phải chịu thuế. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn 1970, tr. 300.)
Sau khi ký kết tạm ước London với Anh, Pháp tái chiếm Nam Kỳ rồi đổ  quân ra Bắc Kỳ.  Ký kết xong hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa, hạm đội Pháp đưa quân đến Hải Phòng ngày 6-3-1946.  Quân Trung Hoa rút về nước, giao lại Bắc Kỳ cho quân Pháp.
Tại Hà Nội, được tin hạm đội Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng vào chiều ngày 5-3-1946 và chuẩn bị đổ bộ vào sáng ngày hôm sau (6-3-1946), HCM báo cho Jean Sainteny, đại diện Pháp tại Hà Nội, biết là ông ta đồng ý ký hiệp ước với Pháp, mà Pháp đã bí mật giao bản dự
thảo ngày 7-12-1945.  Vào chiều ngày 6-3-1946, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, HCM, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, ký thỏa ước Sơ bộ với Jean Sainteny.
Theo thỏa ước nầy:  Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp;  Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp
quân đội Nhật.    Bên cạnh đó, cũng trong ngày 6-3-1946, hai bên ký một phụ ước quân sự, minh định hoạt động quân đội mỗi bên.   Theo điều 1 của phụ ước nầy, VM đồng ý để quân đội Pháp thay quân đội Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16, nghĩa là quân đội Trung Hoa sẽ rời khỏi Việt Nam, dầu Việt Nam không ký kết thỏa ước với Trung Hoa.  Lực lượng Pháp
tại Bắc Kỳ lên đến 15,000 quân. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 313-318.)
Như thế VM không chống Pháp mà lại chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam.  Điều nầy hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của HCM khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945, gây sự bất bình trong các giới chính trị và trong đại đa số
quần chúng.  Dân chúng tố cáo rằng HCM và VM đã rước thực dân Pháp trở lại Việt Nam.  Nguyên văn lời thề cuối cùng trong ba lời thề ngày 2-9 như sau: “Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp.” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam [sách song ngữ Việt-Anh], Hà Nội: Nxb.Thông Tấn,2005, tr. 26.).
3.-   TẠI SAO SINH NHẬT NGÀY 19-5?
Sau khi tái chiếm Nam Kỳ, Pháp lần lượt tiến quân qua Cao Miên, Lào, lên phía trên vĩ tuyến 16 và Bắc Kỳ.  Ổn định xong tình hình các nơi, đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, cao ủy Pháp tại Đông Dương, quyết định mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, rồi đến Hà
Nội chiều ngày 18-5-1946.
Lúc đó, nhà cầm quyền VM ra lệnh treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày , từ ngày 18-5 đến hết ngày 20-5 nói là để mừng sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh là ngày 19-5.  Ngày nầy khác với ngày tháng năm sinh trong các đơn HCM xin vào học trường Thuộc Địa Paris và đơn gia nhập Hội Tam Điểm Pháp.  Từ khi bước vào hoạt động chính trị, HCM hoàn toàn không đề cập đến sinh nhật của ông ta, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật HCM ngày 19-5?
Vì vậy, dư luận dân chúng cho rằng HCM ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu theo nghi thức ngoại giao.  D’Argenlieu là cao uỷ Pháp tại Đông Dương.  Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), đặt Việt Nam nằm trong Liên Bang Đông Dương, thuộc Liên Hiệp Pháp.  D’Argenlieu là đại diện của chính phủ Pháp tại Đông Dương, đứng đầu Liên bang Đông Dương, nên HCM phải treo cờ đón tiếp D’Argenlieu.
Nếu treo cờ để đón đại diện chính phủ Pháp thì HCM và nhà cầm quyền VM sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội, nên HCM mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật của mình, để tránh sự bất bình của dân chúng vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao.  Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng.
(Đã viết ở trên.)
Như thế, ngày 19-5 không phải là ngày sinh của HCM mà vì lý do chính trị, HCM và nhà cầm quyền VM công bố ngày nầy để treo cờ, đón tiếp cao ủy Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu.  Tư đó, CSVN chọn luôn ngày nầy làm lễ kỷ niệm sinh nhật HCM.  Xin để ý thêm là CSVN chỉ kỷ niệm sinh nhật HCM, nhưng không kỷ niệm sinh nhật của những lãnh tụ
khác, kể cả Lê Duẫn, bí thư thứ nhất Trung ương đảng Lao Động từ 1960 đến 1976 và tổng bí thư đảng CSVN từ 1976 đến 1986, nghĩa là 26 năm cầm đầu đảng LĐ rồi đảng CSVN, hoặc Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN từ 1955 đến 1987. (thủ tướng 32 năm.)
Ngày sinh HCM không rõ, mà HCM sinh năm nào cũng không rõ.  Trong đơn xin vào học trường Thuộc địa Paris, HCM tự viết tay ông sinh năm 1892.  Khi gia nhập hội Tam Điểm Pháp, phiếu của ông đề sinh năm 1895.  Nay nhân dịp phải đưa ra ngày sinh để treo cờ, thì HCM lại cho biết ông ta sinh năm 1890?  Trong ba năm nầy, thì năm nào đúng, hay cũng không năm nào đúng cả?
Chỉ có một điều rõ ràng là HCM chết ngày 2-9-1969, trùng với ngày quốc hánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nên đảng Lao Động do Lê Duẫn đứngđầu, sợ xui xẻo, phải đổi ngày chết của HCM qua thành ngày 3-9-1969. Cho đến năm 1989, ba năm sau khi Lê Duẫn chết, bộ Chính trị đảng CSVN do Nguyễn Văn Linh lãnh đạo mới cải chính lại HCM chết ngày 2-9-1969. Cũng nhân dịp cải chính nầy, bộ Chính trị đảng CSVN công bố nguyên văn bản gốc di chúc của HCM, thay thế bản di chúc của HCM đã bị Lê Duẫn sửa sau khi HCM chết ngày 2-9-1969. (Nhà xuất bản Thanh Niên, Toàn văn di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, không đề năm xuất bản.)
KẾT LUẬN
Lối giải thích thông thường của CSVN là vì HCM hoạt động chính trị nên phải nhiều lần thay đổi tên họ, thay đổi ngày tháng năm sinh.  Điều đó không có gì đáng nói.  Điều đáng nói là HCM thay đổi tên họ, ngày tháng năm sinh, để hoạt động gián điệp cho Đệ tam quốc tế cộng sản, phục vụ quyền lợi ngoại bang.
Con đường nầy đã đưa HCM trở thành nhà độc tài thứ 11 trong 13 nhà độc tài tàn ác nhất trên thế giới trong thế kỷ 20, gây ra cái chết của 1,700,000 người Việt, theo bảng sắp hạng của Polska Times tức Thời Báo Ba Lan ngày 5-3-2013. (Đàn Chim Việt Online Edition ngày 20-3-2013). Cũng chính con đường nầy đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam càng ngày
càng suy vong, và nguy hiểm nhất hiện nay là hiểm họa xâm lăng và đồng hóa của kẻ thù truyền kiếp là bá quyền Trung Quốc
.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, Canada)

----
 
SINH NHẬT THÁNG 5
 
Khi tôi chào đời vào ngày 15 tháng 5
Mẹ nói con phải sống xứng đáng làm người!
Tôi cứ tưởng Việt Nam chỉ có một mình tôi
sinh trong tháng 5 tuyệt vời muôn thủa!
 
Nhưng rồi lúc tôi lớn lên đi đến trường ê a học chữ
Mới biết rằng tôi còn một thằng em nữa
cũng sinh vào tháng 5 chỉ sau tôi 4 ngày
Nó đi làm bồi Tây nấu ăn giặt rữa!
 
Rồi chiến tranh Việt Nam quê hương tôi máu lửa
Mẹ chết rồi tôi không biết mặt thằng em
Chỉ nghe người ta nói nó là một tên hèn
Đem dân tộc lấy búa liềm cắt cổ!
 
Kỷ niệm sinh nhật tháng 5 tôi thật tình xấu hổ
Ngày 15 giữa tháng rực rỡ một bầu trời
Thế mà sao còn sinh ra thằng em sát sau tôi..
Làm điều tàn ác khiến mọi người nguyền rũa?!
 
H ẠNH DƯƠNG
Kỷ niệm Sinh Nhật 15-5-2013.
San Jose, California.

Người lính già oregon: Bình luận phim Katyń

Xin chuyển đến Qúy Vị, Qúy NT và CH....

Một bài viết mới của một Sĩ quan QLVNCH, một "cựu tù nhận chính trị"

tỵ nạn cộng sản, với 7 năm tù cải tạo cộng sản...


Tiến sĩ Kim Thanh Nguyễn Kim Quý.. 
Xin mời Qúy Vđọc để biết hoặc để biết thêm về sự tàn ác của bọn

c
ộng sản Nga Xô - quan thầy của bọn vẹm Việt Nam -

đối với quân, dân Ba Lan sau khi bị quân Nga chiếm đóng...

Và những tội ác của cộng sản Việt Nam đối với tòan dân Việt Nam....

Đã là cộng sản thì dù ở nơi nào đi nửa, thì chúng cũng có một mức độ

tàn ác, vô nhân như nhau...



BMH
Washington, D.C







okładka węgierskiego wydania książki Leopolda Jerzewskiego pt. Katyń      1. Katyń (tiếng Ba Lan đọc là ka-tin, có dấu sắc trên chữ ń) là tên một ngôi làng và khu rừng, phía tây thành phố Smolensk thuộc Liên Xô, trên dòng sông Dniepr. Từ tháng 9, 1939, Ba Lan bị Liên Xô tiến chiếm, thua trận, quân đội tan rã, tất cả sĩ quan bị bắt giữ, lính tráng được thả về nhà. Sau đó, tại khu rừng này, vào năm 1940, Staline đã ra lệnh bắn chết, trong vòng ba ngày, 22 ngàn người Ba Lan, gồm 8 ngàn sĩ quan và 14 ngàn thường dân bị cáo buộc là tình báo, do thám, phá hoại, địa chủ, chủ nhân xí nghiệp, luật sư, linh mục, viên chức chính quyền và cảnh sát. Staline sợ những thành phần này sẽ chống đối Cộng sản lúc ấy và sau này, một khi Ba Lan hoàn toàn thuộc về Liên Xô. Vụ thủ tiêu bị phát giác, giữa năm 1941, bởi Đức Quốc Xã sau khi chiếm Ba Lan và chia nhau vùng cai trị với Liên Xô. Để tranh thủ nhân tâm, và buộc tội lẫn nhau, Đức tuyên truyền cho Liên Xô là thủ phạm, và ngược lại, Liên Xô kết tội Đức quốc xã. Năm 1943, các sĩ quan Đức trình bày bằng cớ tội ác của Liên Xô cho các sĩ quan tù binh Đồng minh. Năm 1945, chiến tranh chấm dứt, Ba Lan hoàn toàn bị đặt dưới quyền thống trị của Liên Xô, và sự thật bị bưng bít, ém nhẹm, triệt tiêu.
      Gần nửa thế kỷ sau, năm 1989, Khối Liên Xô sụp đổ, và Ba Lan được giải phóng, và tân chính quyền không Cộng sản đưa vụ này ra công luận. Năm 1990, Mikhail Gorbachev công nhận rằng chính Liên Xô đã thủ tiêu những quân dân Ba Lan. Người ta dựa trên tài liệu cho thấy tội ác đã xảy ra năm 1940 trước khi Đức quốc xã chiếm đóng và sự kiện tất cả những tử thi bị trói và bắn từ sau ót là một đặc điểm của sát thủ Bolcheviks. Năm 1991, Boris Yeltsin phổ biến tài liệu cho rằng tội ác này, tại rừng Katyń và những trại tù khác, là do lệnh của Staline. Ngày 2/4/2010, thủ tướng Ba Lan Donald Tusk đã tưởng niệm những nạn nhân cùng với thủ tướng Nga Vladimir Putin. Một tuần sau, tổng thống Ba Lan Lech Kaczyński và các viên chức cao cấp tháp tùng bị rớt máy bay gần Katyń, địa điểm họ dự trù đến để cử hành long trọng lễ tưởng niệm.
      2. Chuyện thảm sát tại rừng Katyń đã được quay thành phim, Katyń, từ 3 tháng 10, 2006 đến 9 tháng giêng năm 2007, và trình chiếu tại Ba Lan vào ngày 17 tháng 9, 2007 để kỷ niệm 68 năm ngày Liên Xô chiếm đóng Ba Lan lần đầu (1939). Phim dài 115 phút, do đạo diễn Andrzej Wajda, lúc ấy đã 82 tuổi, hoàn thành, dựa trên nội dung quyển tiểu thuyết Post Mortem: The story of Katyń của nhà văn Andrzej Mularczyk, 288 trang, xb năm 2007 tại Ba Lan. Đạo diễn Wajda đã dành hết cả cuộc đời để ước mơ thực hiện phim này, mà ông xem như một ám ảnh, vì chính thân phụ ông cũng là nạn nhân trong vụ thảm sát lúc đạo diễn được 14 tuổi. Phim nói tiếng Ba Lan, phụ đề Anh ngữ (có chỗ nói tiếng Đức và tiếng Nga phụ đề tiếng Ba Lan và tiếng Anh).    
      Phim trình bày những sự kiện dưới nhãn quan của những nữ nhân vật: vợ, mẹ, chị, em gái và con gái của những nạn nhân –đều khuất mặt, hoặc thỉnh thoảng xuất hiện nhanh chóng như những vì sao băng. Và nhất là qua những trang nhật ký dở dang của nhân vật chính, Andrzej, một đại úy trẻ thuộc trung đoàn 8 Uhlan (light cavalry, khinh kỵ).
     Mở đầu là cảnh chạy loạn, vào tháng 9 năm 1939, của dân chúng tại một thành phố Ba Lan khi có tin quân Liên Xô tiến vào chiêm đóng. Trong số có Róza, người vợ dáng dấp sang trọng, quý phái của một viên tướng (không có tên trong phim), và Anna, trẻ đẹp, vợ của đại úy Andrzej, và Nika, con gái của họ, khoảng 7 tuổi. Róza di tản trên xe hơi, cùng với Ewa, con gái, và Stasia, cô người hầu. Gặp Anna, bà tướng nói tình hình không đến nỗi nào và khuyên nàng đi Kraków, thuộc Đức quốc xã. Anna vẫn không tin, cố đi tìm chồng, bằng xe đạp. Người ta mách cho nàng cứ đến bệnh xá Nhà thờ sẽ gặp Trung đoàn 8 Uhlan. Nơi đây thương binh nằm la liệt, đang được bác sĩ và y tá chăm sóc. Tại sân ga gần đó, một đám đông sĩ quan tù binh đang trò chuyện, chờ xe lửa đến mang đi Smolensk, và Anna được gặp lại chồng. Hai người ôm hôn nhau, mừng rỡ và đau khổ. Anna khóc, năn nỉ chồng trốn đi, về với gia đình. Andrzej lắc đầu nói:
      - Em là vợ của một sĩ quan Ba Lan, đừng bao giờ có ý nghĩ đó. Vì danh dự của một sĩ quan Ba Lan, anh không thể đào ngũ trốn đi.
      Rồi từ biệt vợ con, chàng trở lại với đồng đội. Chàng tiếp tục viết nhật ký, kể những sinh hoạt hàng ngày của các trại tù và về những bạn bè, đồng đội.
     Đêm 24 tháng 12 năm 1939. Ai nấy mừng lễ Chúa ra đời. Ông tướng xuất hiện, hiệu triệu đám sĩ quan chuyên nghiệp cũng như chuyên viên thường dân bị quân đội trưng tập. Ông nói, với vẻ chậm rãi, điềm tĩnh, giọng buồn bã, chịu đựng, nhưng cương quyết và với những lời tuyệt đẹp, nguyên văn như sau:
     - […] Bại trận cũng là một phần trong định mệnh của người lính … và sự giam cầm nữa, nhưng còn là một sự trở về để tiếp tục chiến đấu […]. Các bạn không buông súng trước một địch quân, nhưng trước bản thân các bạn. Vì vậy, chỉ tùy thuộc vào chính các bạn mà thôi để các bạn còn là những người lính hay là những kẻ thua cuộc […] Các bạn phải nhẫn nhục chịu đựng, bởi vì sẽ không có một Ba Lan Tự Do mà không có các bạn… (Defeat is also part of the soldier’s destiny… and captivity, but also a return home to resume fighting […] You don’t lay down your arms before an enemy but before yourselves. So it’s only up to you if you remain soldiers or losers. […] You must endure, because there won’t be a free Poland without you)”.
       Sau nhật lệnh của ông tướng, tất cả quân nhân hiện diện đồng hát những bài ca Giáng Sinh.
       Hai mẹ con Anna về tá túc tại nhà bà chị Elzbieta, mà chồng cũng là một đại úy Ba Lan bị bắt. Trong khi đó, tại Kraków (thành phố Nam Ba Lan), khu vực Đức quốc xã, cha của Andrzej, tên Jan, một giáo sư đại học, có lệnh đi họp, do tên quân ủy Muller chủ tọa. Bà vợ cản, khuyên đừng đi. Ông nói, không thể bỏ rơi viện trưởng và đồng nghiệp. Muller lên bục giảng, hung hăng quát tháo, kết tội trường đã mở cửa khi chưa được phép, và vì vậy, sẽ bị đóng vĩnh viễn và toàn thể giáo sư sẽ phải đi vào trại tập trung khổ sai. Một năm sau, vợ ông được giấy báo rằng ông đã chết trong tù vì bệnh truỵ tim nặng.
      Nhà bà chị Elzbieta trong khu vực chiếm đóng của Liên Xô bị trưng dụng cho một sĩ quan Hồng quân ở. Viên đại úy người Nga này, tên Popov, tuổi trung niên, say mê Anna, và một hôm yêu cầu nàng lấy y. Nàng khước từ quyết liệt, nhưng lịch sự: “Tôi có chồng, và tôi không thể lấy ông được”. Popov vẫn trầm tĩnh, từ tốn, cố thuyết phục, bảo rằng y sắp ra mật trận ở Phần Lan và có thể chết, và nếu lấy y nàng sẽ là góa phụ của một sĩ quan Hồng quân, để có thể sống còn trong xã hội mới, bởi vì chồng nàng, y cả quyết, một khi bị bắt sẽ không bao giờ trở lại đâu. Vừa lúc ấy, lính Liên Xô đậu xe trước nhà, gõ cửa, ập vào phòng, vì có lệnh bắt hai bà vợ sĩ quan. Popov chỉ kịp đem giấu Anna và Nika vào một phòng riêng. Lính bắt Elzbieta và con gái trạc tuổi Nika dẫn đi. Elzbieta còn có một người con trai tên Tadeusz, tức cháu gọi Anna bằng dì, đã trốn vào rừng, sẽ xuất hiện trong phim sau này.
      Sau đó, nhờ sự giúp đỡ của Popov, Anna được đến Kraków đoàn tụ với mẹ chồng. Tại Kraków, Róza, vợ của ông tướng tù binh, được nhân viên Đức quốc xã, vì nhu cầu truyên truyền, gửi giấy mời đến nhận tin chồng bị giết và cần bà tuyên bố có thu băng, trước mặt con gái Ewa, rằng chính Liên Xô mới là kẻ gây ra tội ác tại Katyń. Róza từ chối, vì chưa biết thực hư như thế nào. Liền đó, bọn Đức dẫn bà vào một phòng riêng cho xem một đoạn phim về cuộc quật mộ những sĩ quan bị sát hại tại Katyń, tội ác mà bọn chúng tuyên truyền rằng do Liên Xô gây ra. Trong cuộc quật mộ ấy, có một linh mục, một bác sĩ và một toán trong Hội Hồng Thập Tự Ba Lan. Những người này, năm năm sau, bị Liên Xô bắt đi biệt tích.
     Rồi cuốn phim đưa khán giả trở lại thời gian trước vụ thảm sát. Hàng ngày, dân chúng nghe ngóng tin tức từ đài phát thanh hay tìm đọc trên báo chí danh sách của thân nhân, tức sĩ quan tù binh, bị chuyển trại. Chuyển trại có nghĩa là bị án tử. Anna đọc báo, không thấy tên chông, nên vẫn nuôi hy vọng. Từng ngày.
     Năm năm trôi qua trong chờ đợi mỏi mòn. Chiến tranh rồi cũng kết thúc vào năm 1945. Đức bỏ chạy, Ba Lan và Kraków hoàn toàn bị Liên Xô chiếm đóng, theo hiệp ước Yalta. Róza được Stasia, người đầy tớ cũ, đến thăm. Stasia đổi đời, ăn mặc sang trọng, được chế độ mới trọng dụng, có xe đưa rước, vì anh chồng (chắc nằm vùng trước kia) có chân trong một ủy ban nhân dân nào đó. Nhưng khác với những đứa Cách mạng 30/4 đeo băng đỏ chạy rong tại Việt Nam, Stasia rất lịch sự, vẫn kính nể bà tướng, trao lại cho bà thanh kiếm của ông và một rương đồ đạc quý giá bà đã nhờ cô giữ hộ. Có nghĩa là ông đã bị giết thật rồi. Róza cố giữ vẻ bình tĩnh cho đến lúc Stasia từ biệt ra về, bà mới gục đầu trên vai con gái, khóc nức nở, nước mắt đầm đìa.
    Còn Anna? Tại nhà mẹ chồng, một hôm, trong lúc nàng đi vắng, có tiếng gõ cửa, Nika chạy ra, thấy xuất hiện một sĩ quan Ba Lan và tưởng đó là cha mình, bèn nhảy lên ôm hôn rối rít. Nhưng không phải. Đó chỉ là Terzy, viên cựu trung úy dưới quyền của Andrzej trong trung đoàn 8 Uhlan năm xưa, một sĩ quan nổi tiếng tốt với đồng đội và yêu đất nước Ba Lan. Nay Terzy đeo lon thiếu tá và mang phù hiệu Liên Xô. Được mẹ Andrzej hỏi tin tức về chàng, Terzy nói chỉ gặp chàng lần cuối tại một trại tù, sau đó chàng bị chuyển trại, và rồi anh không biết gì thêm nữa. Bà mẹ thắc mắc tại sao anh không có tên trong danh sách, Terzy tiết lộ một điều quan trọng: tại trại giam, một hôm Andrzej than lạnh, và sẵn có hai áo len ấm, do mẹ anh chuyển tới có thêu tên Terzy, anh cho chàng một cái, và như vậy lính Liên Xô tưởng Andrzej là Terzy và gạch bỏ tên của Terzy (thật) đi. Terzy (thật) thoát chết, và được Liên Xô tuyển dụng vào Quân đội Nhân dân Ba Lan với nhiệm vụ duy nhất: làm chứng (gian) rằng Liên Xô không phải là thủ phạm trong vụ thảm sát Katyń. Terzy tặng cho gia đình Andrzej một thùng thịt hộp. Khi Anna về nhà, Terzy đối diện với nàng và sự thật phũ phàng. Trước cái nhìn thông minh, xuyên thấu tâm can, của nàng, anh phải nói thật rằng Andrzej đã bị giết. Nàng ngất xỉu.
     Trong khi ấy, tại một quảng trường, xe radiocar của Hồng quân cho chiếu cảnh quật mộ tại Katyń và luôn miệng kết tội Đức quốc xã. Bà tướng Róza, bất chợt đi ngang qua, bực tức, đã đấm liên tục vào cửa xe, hét bên tai tên sĩ quan phụ trách rằng: “Đó là một điều dối trá”. Họ tính bắt bà. Kịp thời, thiếu tá quân đội nhân dân Ba Lan Terzy xuất hiện, và trong tư cách thuộc cấp cũ của ông tướng, kéo bà thoát đi qua một đoạn đường vắng, dưới vòm cây. Rồi hai người nghỉ chân trên ghế đá. Luôn luôn Terzy bênh đỡ Liên Xô, cho đó là tội ác của Đức. Róza khuyên anh ta hãy đứng về phía sự thật và nhân dân Ba Lan. Đột nhiên, Terzy đứng bật dậy chào hai sĩ quan Hồng quân đi ngang qua. Róza mỉa mai bảo: “Anh chào bọn sát nhân làm như thể chúng là những kẻ chiến thắng. (You salute murderers as if they were the winners)” Terzy trả lời: “Chúng ta phải sống còn, tha thứ, chúng ta phải sống… (We have to survive, forgive, we must live…)”. Róza liếc mắt nhìn anh, vẻ khinh bỉ: “Thưa thiếu tá, bọn Đức đã cố thử với tôi điều ấy trong năm năm, còn thiếu tá, trong năm phút. (Major, the Germans tried that with me for five years and you in five minutes)”
      Sau đó, trong một quán bar gồm toàn sĩ quan Hồng quân và sĩ quan Ba Lan trở cờ, Terzy bước vào, nốc rượu say mèm, và từ trong tiềm thức buông ra những lời gần như tự tố cáo mình, tố cáo Liên Xô, có lúc như hét lên, khiến ai cũng hoảng hồn, ngăn cản, đẩy anh ra cửa. Lảo đảo bước đi, miệng vẫn lảm nhảm, anh kê súng tự bắn vào đầu. Một chiếc jeep chạy vội lại và gấp rút chở xác anh đi mất.
      Ngoài Terzy, có một số dân Ba Lan cũng cộng tác với chế độ mới, như một người em gái (không có tên trong truyện) của một trung úy phi công tên Piotr, để được yên thân và tiến thân, lấy lý do rằng Ba Lan sẽ không bao giờ được tự do nữa. Trong khi một người em gái khác của Piotr, Agnieszka, nhất quyết chống lại, ngay cả khi bị Hồng quân bắt giam về tội khước từ không chịu nói rắng tội ác là do Đức quốc xã và không sửa năm chết 1940 của Piotr thành 1941 là năm quân Đức có mặt tại Ba Lan. Trước đó, Agnieszka đã bỏ tiền đặt làm một bia mộ có ảnh của người anh bị giết, đem tới xin cha xứ cho dựng bên trong nhà thờ. Cha xứ sợ quá, từ chối, bảo mang đi. Cô thuê người chở ra nghĩa địa. Trên đường ra nghĩa địa, hai chị em cãi nhau dữ dội về quan điểm và thái độ trái ngược đối với chế độ mới. Người chị nói:"Em chọn người chết, điều đó là bệnh hoạn (You choose the dead which is morbid)". Agnieszka khẳng khái trả lời: "Không. Em chọn người bị sát hại, không phải kẻ sát nhân (No. I choose the murdered, not the murderers)".
      Một người khác là Tadeusz, cháu ruột của Anna. Lúc này nàng mở một tiệm rửa ảnh trên một con phố nhỏ. Một hôm nàng bất ngờ gặp lại đứa cháu đến tiệm của nàng chụp hình để dán vào đơn xin học về mỹ nghệ. Trong đơn, Tadeusz khai cha là sĩ quan bị Liên Xô giết tại Katyń. Người ta bắt anh sửa lại chi tiết này. Anh không chịu, tức giận giật lại đơn xin học, và trước khi bỏ đi, trả lời: "Mỗi người chỉ có một lý lịch (CV) thôi". Ra ngoài đường, anh xé tấm quảng cáo của chính quyền mới. Bị lính rượt đuổi, anh được Ewa, con gái của Róza và ông tướng, bất ngờ cứu thoát bằng cách cùng với anh trốn trên một mái nhà. Thoát hiểm, và cảm mến nhau, anh hôn lên môi Ewa và hai người hẹn sẽ gặp lại nhau hôm sau để cùng đi xem xi-nê. Ewa vừa khuất dạng, Tadeusz bị hai tên lính khác nhận diện, và anh bị bắn chết trong lúc chạy trốn.
     Trong thời gian đó, có một nhóm gồm một bác sĩ và vài nhân viên y tế tình nguyện thu thập tất cả những di vật của những sĩ quan bị giết bỏ vào những hộp riêng và chuyển đến cho gia đình. Trước khi tự sát, Terzy cũng đã đến gặp viên giám đốc và yêu cầu gửi tất cả thư từ, vật dụng mang tên Terzy về địa chỉ của Anna, vợ đại úy Andrzej.
     Một hôm, Anna nhận được một phong bì lớn. Đó là quyển nhật ký của Andrzej, loại có từng trang in sẵn ngày tháng, được tìm thấy với những vết máu khô loang lổ. Những dòng chữ cuối cùng dừng ở ngày 10 tháng 4 năm 1940. Bàn tay Anna (dạo diễn không cho thấy mặt nàng nữa) mân mê lần giở những trang kế tiếp, để hy vọng chàng còn viết thêm gì nữa. Trống trơn.
     Rồi từ quyển nhật ký ấy, đạo diễn dựng toàn cảnh ghê rợn của vụ thảm sát dã man: tất cả sĩ quan Ba Lan bị giết ngay tại khu rừng Katyń hoặc trong những xà lim trước đó và được chở đến khu rừng vứt xuống một hố chôn tập thể do xe ủi đất đào xới liên tục. Tất cả nạn nhân, đầu tiên là ông tướng, bị lính đẩy xuống xe cam nhông, tròng dây vào cổ, từ phía trước kéo về phía sau, để trói luôn hai cánh tay bị bẻ quặt sau lưng. Hai tên lính Liên Xô thay nhau, lạnh lùng cầm súng lục bắn vào ót từng người, máu vọt tung toé, vương vãi khắp nơi, trên tường và sàn xà lim hoặc tại miệng hố tập thể. Từng người, kể cả Andrzej,  trước khi bị bắn, đã đọc một câu trong Kinh Lạy Cha một câu thôi vì giữa cái sống và cái chết chỉ cách không tới hai giây được tiếp nối bởi người sau cho đến hết bài kinh, và cứ thế, cứ thế, cho đến lúc không còn ai nữa...
     Chuyện phim kết thúc đột ngột, sau khi người cuối cùng bị bắn, bằng một màn ảnh đen tuyến. Như màu tang chế, trong tiếng nhạc trầm buồn thê thiết, kéo dài chừng ba phút, trước khi phim tiếp tục với những dòng giới thiệu tên các diễn viên (cast). Không có cả chữ The End.
     3. Các diễn viên trong phim thật xuất sắc, từ vai chánh đến vai phụ, từ Róza đến Anna đến con bé Nika đến bà mẹ của Andrzej đến Terzy đến Tardeusz đến Agnieszka… mặc dù chúng ta, những khán giả xa lạ, không biết danh tiếng và tài năng của những tài tử ấy như thế nào trong nền điện ảnh Ba Lan –kể cả cách phát âm tên của họ. Tất cả, nhất là hai tài tử đóng vai Anna và Róza, đã diễn xuất một cách tuyệt vời: cử chỉ, lời nói, vẻ mặt, dung nhan biểu lộ trung thực, tự nhiên những cảm xúc –vui, buồn, uất giận, khổ đau, chua xót– ẩn hiện bên trong. Sắc đẹp của họ không lộng lẫy, đầy vẻ nhục thể như Marilyn Monroe hay Kate Winslet (Titanic), nhưng nhìn họ, người ta thấy say mê, nếu không nói là tương tư, vì lúc nào họ cũng giữ được nét giản dị, quyến rũ, yêu kiều trước nghịch cảnh, và bất hạnh, không than van, không oán trách mệnh số, giống như những nữ nhân vật trong các vở bi kịch Hy Lạp, luôn kiêu hãnh với giá trị và sức mạnh tinh thần của mình, luôn ngẩng cao đầu, thách đố Sự Ác. Và giống như, gần hơn, trong cùng một cảnh ngộ bi thương, dân chúng, nhất là phụ nữ, Miền Nam, ngày 30/4/1975, trước họng súng của Việt Cộng, những “kẻ thắng cuộc” không ngờ.
      Còn Andrzej Wajda? Viên đạo diễn tài ba ấy đã để hết tâm tình và, như đã nói trên, gần cuộc đời cho giấc mơ thực hiện truyện phim thật hấp dẫn vừa có tính lịch sử vừa mang chất hư cấu này. Nếu hoàn toàn chỉ là những thước phim tài liệu khách quan, lạnh lùng, Katyń chắc sẽ không được ngợi ca, yêu chuộng như thế. Ông đã được giải Oscar Danh Dự (Academy Honorary Award), và Katyń được đề nghị giải Oscar cho phim ngoại quốc hay nhất (Best Foreign Language Film) trong Đại hội Liên hoan Phim lần thứ 80, năm 2008. Ngày 2/4/2010, phim Katyń được chiếu lần đầu tại Nga, rồi từ đó thường xuyên tại các rạp và trên truyền hình Nga. Wajda được chính phủ Nga trao tặng Huân Chương Hữu Nghị (Order of Friendship) giữa hai dân tộc Nga-Ba Lan về mặt văn hóa. Trong phim, quả vậy, cái nhìn của ông rất dung hòa về Liên Xô, cựu thù sát nách phía đông. Ông xem chính quyền Liên Xô của Staline như một thể chế và một bạo lực chính trị, đáng nguyền rủa, hóa thân qua những viên chức cai trị và những hung thủ Katyń có máu lạnh. Nhưng người Nga, đối với ông, là một dân tộc hiền hòa, dễ mến, mà tiêu biểu là viên đại úy Hồng quân Popov cao thượng, mặc dù bị Anna từ chối tình yêu, vẫn giúp đỡ hai mẹ con nàng thoát bao nguy khốn gây ra bởi sự khủng bố và đàn áp của binh sĩ Liên Xô và ngụy quyền tay sai Ba Lan. Trái lại, về chế độ Đức quốc xã, tuy không phải là thủ phạm trực tiếp vụ thảm sát tại rừng Katyń, Wajda tỏ ra rất tiêu cực qua cách trình bày không khoan nhượng những hành động và chân dung hắc ám và hung hãn của những tên sĩ quan Nazi trong thời gian chiếm đóng.
       Vì là phim ngoại quốc, các tiệm Mỹ không bày bán cũng như sách Post Mortem của Mularczyk. Phải lên Amazon để đặt mua. Tháng 4 năm 2009, Tàu Cộng tuyên bố cấm nhập và chiếu phim Katyń vì nội dung chống chủ thuyết Cộng sản của nó, nhưng phim lậu tràn ngập. Đối với những người quốc gia tỵ nạn Việt Nam, kể cả đồng bào trong nước, Katyń là một cuốn phim vô cùng quý giá đã nói lên, nói giùm, nói hết Sự Thật, nghĩa là những tội ác dã man, bạo tàn của Cộng sản, bất cứ nơi đâu.
      4. Bất cứ nơi đâu. Đặc biệt tại Việt Nam. Bao nhiêu người dân vô tội đã bị giết bởi Hồ Chí Minh, tên tội đồ đầu sỏ vô cùng ác độc, lưu manh của dân tộc, và bè lũ trong cái Đảng Cộng sản quái thai của hắn.
      a) Vụ Cải Cách Ruộng Đất từ năm 1953:
      Từ 1953-56, theo lệnh quan thầy Tàu Cộng, chúng đã công khai sát hại, tùy theo tài liệu, ước lượng từ 100 ngàn đến 200 ngàn người bị gọi (đa số oan uổng) là địa chủ. Tại nông thôn Việt Nam, chúng gây ra phong trào con tố cha, vợ tố chồng, em tố anh, đầy tớ tố chủ nhà, kẻ chịu ơn tố ân nhân, gọi nạn nhân là mày, xưng tao. Địa chủ bị tòa án nhân dân, gồm bần cố nông vô học xét xử, buộc tội, xử bắn tại chỗ, hoặc bỏ đói cho tới chết, và con cháu bị cô lập, chửi bới.
      Sách báo, tiểu thuyết (Những thiên đường mù của Dương Thu Hương), tài liệu Việt Nam cũng như ngoại quốc, đều nói đến tội ác kinh hoàng này. Nhưng chưa cuốn phim nào có kích thước và tầm vóc của Katyń, có sức hấp dẫn của một truyện phim hư cấu dành cho sự thành công thương mại như Katyń. Cuối thập niên 50, chúng ta có phim Chúng tôi muốn sống của đạo diễn Vĩnh Noãn, với những tài tử Mai Trâm, Lê Quỳnh. Đánh giá về mặt tuyên truyền cho phong trào tố Cộng phát động bởi nền Đệ I Cộng Hòa, đó là một công trình có giá trị cao, mà cho tới bây giờ chưa có một truyện phim Việt Nam nào thay thế.
      b) Vụ Tết Mậu Thân Tại Huế năm 1968:    
      Rất nhiều nhân chứng sống, tiểu thuyết (của Nhã Ca), tài liệu (của Liên Thành) đã viết về tội ác Mậu Thân 1968 tại Huế của Việt Cộng và tay sai  –như hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, và Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm và đồng bọn nằm vùng.
      Các thống kê cho biết có trung bình khoảng 5 ngàn hoặc hơn thường dân Huế bị thủ tiêu bằng súng, hoặc chôn sống, trong những hố tập thể, hoặc dẫn đi mất tích. Mới đây, Việt Cộng chạy tội bằng cách cho phát hành 12 tập phim tài liệu (30’ mỗi tập), tuyên truyền láo khoét do Lê Phong Lan đạo diễn. Cũng vậy, có lẽ vì ước muốn gián tiếp biện minh cho tội ác của Staline, chúng cậy tên đạo diễn nổi tiếng phản chiến Oliver Stone thực hiện một cuốn phim về “tội ác của đế quốc Mỹ” tại Mỹ Lai, chưa biết đã xong chưa, mặc dầu bối cảnh vụ Mỹ Lai (xảy ra trong lúc chiến tranh) và vụ Katyń (xảy ra sau chiến tranh) khác nhau rất xa.
    Về Mậu Thân, lên Mạng hải ngoại, người ta bắt gặp một, hai phim tài liệu không ghi tên đạo diễn và xuất xứ. Vì không phải là phim truyện nên không mấy hấp dẫn.
      c) Vụ sĩ quan tù nhân cải tạo từ năm 1975:
      Trong số hàng trăm ngàn sĩ quan QLVNCH bị giam cầm trong những trại tù cải tạo từ Nam chí Băc đã có hàng ngàn người đã chết vì bị kiên giam trong điều kiện tồi tệ nhất, bị hành hạ, thủ tiêu, chết vì đói, ngộ độc, lao động quá mức, chết vì bệnh, thiếu thuốc men, bị bắn chết khi trốn trại, bị xử tử do một lá thư, một câu nói vu vơ? Tại hải ngoại, có nhiếu sách báo, hồi ký viết rất đầy đủ về những trại tù cải tạo và nỗi thống khổ của tù nhân. Nhưng chưa có một cuốn phim nào được thực hiện, kể cả tài liệu. Ngay một bức hình chụp trong trại tù cũng không có. (Có, và một bức thôi, được luân lưu cùng khắp, nhưng không chắc là hình thật, vì không bao giờ Việt Cộng cho phép ký giả, phóng viên ngoại quốc hoặc các ông bà trong Tổ Chức Nhân Quyền Thế Giới bén mảng đến các trại tù, nói chi chụp hình, quay phim).
      5. Với tổng số ba triệu người Việt quốc gia tỵ nạn hải ngoại có tài năng xuất chúng (toàn người trẻ tốt nghiệp tại ngoại quốc), có tiền bạc dồi dào (mỗi năm Việt kiều gửi về VN 6 tỷ đô, trong khi kinh phí cho phim Katyń chỉ tôn 4 triệu euros), có mối hận thù cao độ (trừ một số đứa trở cờ, phản bội) đối với Việt Cộng cướp nước, bạo tàn, vô luân, tại sao chúng ta không thể thực hiện một truyện phim hấp dẫn tầm cỡ Katyń về một trong ba tội ác tày trời khủng khiếp mà thủ phạm, công khai rõ ràng, là Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam và bè lũ?
      Tại sao người làm được, mình lại không? Hận thù đã quên chăng? Hay thờ ơ chẳng biết? Hay bị lừa phỉnh bởi chiêu bài hòa hợp hòa giải dân tộc của Việt Cộng? Hay hận thù và dĩ vãng chỉ dành cho thế hệ già nua, như đạo diễn Wadja cũng đã thở than trong buổi phỏng vấn sau khi hoàn thành phim Katyń?
       Dầu sao, trong khi chờ đợi một truyện phim được thành hình, cho riêng đồng bào ta, về tội ác của Việt Cộng, hàng năm vào ngày Quốc Hận 30/4, ta nên xem lại Katyń, để chia sẻ nỗi bất hạnh của quân dân Ba Lan, cùng một lứa bên trời lận đận như dân tộc chúng ta, nhưng được may mắn hơn, vì đã thoát khỏi xích xiềng của Ác Quỷ, của Bạo Ngược, của Độc Tài, của Tội Ác.
       Riêng đối với những chiến hữu QLVNCH đồng đội của tôi đã buộc phải buông súng, đầu hàng, vào tù, được thả ra, đến ngoại quốc theo diện tỵ nạn HO hoặc thuyền nhân, xin các bạn mỗi năm hãy “nghe” lại nhật lệnh của ông tướng tù binh Ba Lan trước những sĩ quan dưới quyền cùng chung cảnh ngộ:
     […] Bại trận cũng là một phần trong định mệnh của người lính … và sự giam cầm nữa, nhưng còn là một sự trở về để tiếp tục chiến đấu […]. Các bạn không buông súng trước một địch quân, nhưng trước bản thân các bạn. Vì vậy, chỉ tùy thuộc vào chính các bạn mà thôi để các bạn còn là những người lính hay là những kẻ thua cuộc […] Các bạn phải nhẫn nhục chịu đựng, bởi vì sẽ không có một Ba Lan Tự Do mà không có các bạn… 
     Sẽ không có một Việt Nam Tự Do mà không có các bạn.
     Mà không có tất cả chúng ta, những người quốc gia Việt Nam chân chính, còn mang nặng mối hờn thiên thu.
                               
                                                                            THE END
Portland, 10 May 2013
Người Lính Già Oregon

Bài Xem Nhiều