We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 18 May 2013

NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG CỦA MỘT ĐƠN VỊ CÔNG BINH




Thành Ông Năm, nơi đồn trú của 2 đơn vị Công Binh: Liên Đoàn 30 Công Binh Chiến Đấu (CBCĐ) và Liên Đoàn 5 Công Binh Kiến Tạo (CBKT), là vị trí yết hầu, phòng tuyến của Thủ Đô Sài Gòn từ hướng Củ Chi, cách quận lỵ Hốc Môn gần 2 cây số. Trong doanh trại của LĐ 5 CBKT gồm 5 tiểu đoàn, 1 đại đội Xe Trút (dump trucks) và 1 đại đội công sự nặng (heavy equipments).

Tôi là sĩ quan trực của tiểu đoàn 51 Công Binh Kiến Tạo trong đêm thứ hai ngày 28 tháng 4 năm 1975. Vào khoảng 22 giờ, nhìn về phía Củ Chi thấy ánh sáng của lửa cháy cao ngất trời, nghe âm thanh từ xa vọng lại của tiếng đạn đại bác nổ dồn, tôi đoán là Củ Chi, nơi Sư Đoàn 25 bộ binh trấn nhiệm, đang bi Việt cộng pháo kích hay tấn công gây nên những đám cháy đó. Mở máy vô tuyến PRC 25, liên lạc trên tần số hành quân với Chi Khu Hốc Môn, nghe nhiều báo cáo của các đồn Nghĩa Quân chung quanh quận lỵ, đang bị Việt cộng tấn công. Tôi gọi điện thoại cho Tiểu Đoàn Trưởng để báo cáo, thì được Ban Truyền Tin cho biết là Tiểu Đoàn Trưởng, và cả Tiểu đoàn Phó không có trong doanh trại, nên tôi quyết định ra lệnh báo động cho tất cả anh em quân nhân còn hiện diện trong đơn vị (khoảng 30 quân nhân), ra tăng cường các vọng gác quanh bờ thành phòng thủ và cổng chánh (hướng ra quốc lộ Sài Gòn Củ Chi), phải ẩn nấp trong các giao thông hào hoặc hố cá nhân, để tránh bị pháo kích và ở vị thế sẵn sàng khi bị Việt cộng tấn công.

Quả nhiên như dự đoán, vào khoảng 23 giờ 30 thì đạn pháo kích của Việt cộng bắt đầu rớt xuống doanh trại của Liên Đoàn 5 CBKT, khoảng 10 phút đầu tiên, có chừng 100 quả đạn đại bác 130 ly và hỏa tiễn 122 ly rớt xuống hàng loạt (pháo bầy) vào doanh trại, sau đó thì Việt cộng pháo kích từng 2 viên đạn 130 ly, cách khoảng chừng 10 giây đến 20 giây. Cùng thời gian nầy, tôi cũng nghe tiếng đạn pháo kích rớt vào doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ kế cạnh, chỉ cách doanh trại của tôi bằng một con đường nhỏ. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 29 thì ngưng pháo kích, rồi có tiếng xích của thiết giáp, và hằng loạt tiếng nổ của súng không giật (SKZ) 75 ly hoặc 105 ly trong doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ. Tôi không còn để ý đến đơn vị bạn nữa vì đơn vị tôi cũng đang trong tình trạng nguy hiểm. Tôi bảo anh Thượng Sĩ Thường Vụ cố gắng vào kho đạn lấy súng M72 chống tăng ra phân phát cho các vọng gác. Độ 20 phút sau thì anh ta cho tôi biết là chúng tôi chỉ có 4 súng M72 của Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ thôi, và đã phân phối cho tuyến phòng thủ mặt ngoài đường. Tôi thầm nghĩ, với 4 súng M72 được xử dụng bởi những quân nhân chưa được huấn luyện kỹ lưỡng, trong đơn vị yểm trợ kỹ thuật của chúng tôi, thì hiệu quả sẽ như thế nào? Tuy nhiên có còn hơn không.

Đến khoảng 5 giờ 30 sáng ngày 29 tháng 4 năm 1975, không còn nghe tiếng đạn pháo kích nữa. Ra khỏi hầm chỉ huy, tôi thấy kho của ban quân xa trúng đạn pháo kích đang bốc cháy. Hệ thống liên lạc nội bộ bằng điện thoại đã bị cắt đứt. Sợ bị cháy lan qua kho vũ khí đạn dược gần đó, tôi bảo anh Thượng sĩ thường vụ thay tôi chỉ huy anh em, và không được nổ súng nếu không bị tấn công, riêng tôi và anh tài xế của tôi lên xe tưới nước, chạy sang lầu chứa nước (water tower) trong khu vực của Tiểu Đoàn 53 CBKT (nằm chung doanh trại) cách xa chừng 200 thước, để lấy nước chữa cháy, nhân tiện xem tình hình của anh tôi, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 53 CBKT, anh tôi cho biết, quân số còn lại vào khoảng 1 trung đội (trên dưới 30 người), và sĩ quan thì chỉ có anh và tôi, 2 người thôi trong toàn thể Liên Đoàn 5 CBKT. Tất cả những người khác, kể cả đại tá Liên Đoàn Trưởng, đã dùng xe ủi đất (buldozer) ủi bờ thành phía sau doanh trại, thoát ra ngoài rồi. Biết thế, lòng tôi chán nản lắm, hy vọng thượng cấp hướng dẫn đơn vị trong lúc nguy nàn nầy đã thành ảo vọng. Vì thế, tôi tự nhủ rằng dù không thể kháng địch, nhưng phải cố gắng làm thế nào tránh bị địch tàn sát. Trở lại đơn vị, sau khi dập tắt lửa, tôi cho tất cả quân nhân lãnh 3 ngày lương khô (gồm gạo xấy và thịt hộp) và chờ đợi trong vị thế tác chiến. Tôi không có đủ thì giờ và nhân lực để đi vòng quanh doanh trại, xem xét coi có ai thuộc các tiểu đoàn khác bị thương hoặc tử thương vì pháo kích không?

Nhìn sang doanh trại của Liên Đoàn 30 CBCĐ, thấy đài quan sát trung ương đã bị cháy và sập xuống, không có hoạt động gì, chỉ thấy có 4 tên Việt cộng đội nón tai bèo đứng gác, vậy là LĐ 30 đã bị VC tràn ngập rồi. Lòng tôi rất lo lắng, không biết chừng nào chúng nó sẽ tấn công mình đây? Thôi thì áp dụng chiến thuật “địch bất động ta bất động” là tốt nhất. Tình trạng bất động nầy kéo dài đến khoảng 14 giờ thì bỗng nhiên có một người đàn bà từ trại gia binh bên ngoài cổng trại xin được vào trại, tôi cho gọi chị vào, chị là vợ của một quân nhân trong đơn vị của tôi, chị nói rằng mấy ổng (chỉ Việt cộng) đang chiếm giữ khu gia binh và Liên Đoàn 30 CBCĐ, bảo tôi vào nói với các anh là mấy ổng sẽ không tấn công, nếu các anh ra khỏi trại và đi về nhà, họ sẽ không làm khó dễ gì, xong rồi chị ấy trở về nhà.

Tấn thối lưỡng nan, quyết định thế nào đây? Nhìn lại các quân nhân dưới quyền, đa số có gia đình ngoài trại gia binh, họ đang lo lắng cho vợ con họ đang bị Việt cộng bắt làm con tin. Nếu chống cự, thì với quân số khoảng hơn 2 tiểu đội, không thể kiểm soát hết toàn thể một doanh trại quá rộng (chừng 10 mẫu đất), với hỏa lực yếu thế hơn chúng, chắc chắn sẽ bị tàn sát, hơn nữa chúng cũng sẽ tàn sát các gia đình binh sĩ bên ngoài. Cuối cùng tôi đành phải quyết định rời bỏ doanh trại, một quyết định hết sức đau đớn cho một cấp chỉ huy. Tập hợp tất cả anh em lại, tôi phân tích rõ tình hình và thực trang, và nói quyết định “tan hàng” cho mọi người hiểu. Câu nói cuối cùng cuả tôi với mọi người là; “ chúng ta tạm thời tan hàng, vũ khí cất vào kho và khóa lại, thay quần áo dân sự, ai về nhà nấy, tránh đi ra bằng cổng chánh, bờ thành phía sau đã được ủi xuống, có thể dùng ngã đó mà ra khỏi trai. Xin tạm biệt các anh, nếu còn sống, chúng ta sẽ gập lại nhau”. Tôi bắt tay từng người mà lòng đau nhói, nước mắt chảy dài hai bên má.

Sau khi tất cả anh em chuẩn bị cho chuyến ra đi không biết ngày trở lại xong xuôi, chúng tôi đi về phía bờ thành phía sau doanh trại. Nhìn anh em đã thoát ra khỏi doanh trại, lúc ấy vào khoảng 16 giờ 30, tôi quay trở lại, đi về hướng TĐ 53 CBKT, nơi anh tôi đang chờ. Gặp nhau, tôi hỏi ý kiến của anh như thế nào về hai chúng tôi. Anh tôi trả lời là phải tìm đường về nhà chúng tôi ở Hàng Xanh Gia Định, rồi mới tính tới được. Tôi đồng ý và đề nghị là nếu không thể về nhà được thì chúng tôi sẽ tìm đường về Vùng IV, vì ở đó là vùng đồng lúa sình lầy, xe tăng của Việt công khó có thể di chuyển, và có 2 con sông Tiền và Hậu Giang cản trở nên chắc là Vùng IV vẫn còn an toàn. Sau khi anh tôi ra lịnh cho các anh em còn lại của Tiểu Đoàn 53 CBKT tan hàng để ai về nhà nấy, hai anh em tôi thay thường phục, lấy theo mỗi đứa 2 ngày lương khô, và theo lối ngã bờ thành phía sau doanh trại thoát ra ngoài ruộng, đi về hướng chợ Hốc Môn, lúc đó là 17 giờ 05. Nhìn lại doanh trại, nơi mà tôi đã phục vụ đơn vị vỏn vẹn chỉ hơn 6 tháng, sau khi thuyên chuyển từ công trường làm cầu và đường xa lộ Sóc Trăng-Cà Mau, của Tiểu Đoàn 71 CBKT thuộc Vùng IV vào tháng 10 năm 1974, tuy ngắn ngủi nhưng đây là nơi mà tôi có một ấn tượng thật xót-xa: một quân nhân bị bắt buộc phải “giã từ vũ khí”, phải rời bỏ đơn vị mình không có giấy phép, như một kẻ đào ngũ.

Sau khi di chuyển trong chợ Hốc Môn để ra xa lộ Sài Gòn – Củ Chi thì gặp được hai vị Đại Tá Liên Đoàn Trưởng 30 CBCĐ và Liên Đoàn Trưởng LĐ5 CBKT, chúng tôi mời họ nhập bọn vì nghĩ đến tình nghĩa Huynh Đệ Chi Binh, nhưng trong lòng tôi có sự khinh bỉ, những cấp chỉ huy bất xứng. Gần đến xa lộ, lại gặp thêm một Trung Úy thuộc Sư Đoàn 25 Bộ Binh, đã chạy thoát được khỏi Củ Chi từ đêm qua. Nhóm chúng tôi 5 người băng qua xa lộ nhìn ngược về hướng Ngã Ba Hồng Châu, thấy có xác của 2 thiết giáp T54 của Việt cộng, nằm chông chênh nghiêng ngửa, tôi đoán là bị đạn M72 của các quân nhân thuộc LĐ 30 CBCĐ bắn cháy. Chúng tôi len lỏi vào xóm nhà bên kia bờ xa lộ đi dài xuống Xã Bùi Môn. Trên xa lộ rất đông người đủ mọi lứa tuổi, và rất nhiều loại xe chở đầy người chạy giặc, di chuyển từ Củ Chi về hướng Sài Gòn. Đến xã Bùi Môn thì đoàn người di tản dồn đống lại vì có người cho biết, phía trước, ở khoảng Ngã Tư Xa Lộ Đại Hàn vẫn còn đang đánh nhau giữa Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù và Việt cộng. Lúc đó là khoảng 18 giờ 40 ngày 29 tháng 4 năm 1975.

Biết rằng không thể đi xa hơn, tôi hỏi các vị kia có ai quen biết người nào ở khu nầy thì đến đó tạm trú, vì không thể ở ngoài đường quá lộ liễu. Đại tá Liên Đoàn Trưởng LĐ30CBCĐ nói ông có biết một Thượng sĩ quản gia của Chuẩn Tướng Lân, cựu Cục Trưởng Cục Công Binh, ở khu nầy, ông ta có thể cho chúng tôi tạm trú. Chúng tôi đến nhà ông Thượng sĩ kia, cách xa đường lộ khoảng chừng 400 thước, thấy không có người, cửa cái đã khóa bên ngoài, nhưng cửa sổ thì không có khóa. Tôi trèo cửa sổ vào nhà, ngó quanh quất không có ai, tôi mở cửa sau, kêu gọi mọi người vào. Lúc bấy giờ trời đã nhá nhem tối, nhưng không dám mở đèn, sợ rằng bọn Việt cộng đang ruồng trong xóm sẽ tìm đến, chúng tôi thì thào bàn bạc và quyết định trú ngụ qua đêm ở đây. Cả ngày không ăn uống gì, đã quá đói và khát, tôi lấy lương khô ra phân phát cho mọi người, ăn trong im lặng.

Đến khoảng 20 giờ, tôi và anh Trung Úy Sư Đoàn 25 BB ra ngoài hàng ba để nghe ngóng động tĩnh. Ngoài xa lộ có tiếng xích của thiết giáp Việt cộng di chuyển từ phía Hóc Môn về hướng Sài Gòn, thỉnh thoảng nghe tiếng loa của VC kêu gọi “nguỵ quân, ngụy quyền” ra đầu thú. Ngoài tiếng xe thiết giáp, còn có những tiếng xe khác, tôi đoán là xe vận tải của VC, đang chuyển quân và trọng pháo, vì tôi nghe có tiếng nổ về hướng Tân Sơn Nhất, tiếng trọng pháo nghe phát xuất rất gần, có lẽ từ phía trường huấn luyện tài xế của Trường Quân Vận. Tình trạng như vậy kéo dài suốt đêm. Tất cả 5 người chúng tôi không chợp mắt được vì lo sợ VC sẽ tìm được chúng tôi, và chắc là ai cũng lo lắng cho gia đình, không biết có sống sót được không với đạn pháo kích của Việt cộng vào Sài Gòn.

Thế rồi trời cũng sáng dần lên, mãi đến khoảng gần 8 giờ sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975, mới nghe có tiếng xe gắn máy và các loại xe dân sự khác chạy ngoài đường, và có tiếng người miền Nam nói vang trong xóm, chúng tôi mới dám ra ngoài, nhắm hướng nhà thờ Bùi Môn cách chúng tôi khoảng chừng non một cây số về hướng xa lộ Đại Hàn. Mày mò, dò dẫm băng đường ruộng chừng 30 phút rồi cũng đến được nhà thờ. Nơi đây có một vị Linh Mục, có lẽ biết chúng tôi là quân nhân, đã vội vã mời chúng tôi vào phòng riêng của ông và nói: “Các anh hãy tạm ở đây, chờ thuận tiện rồi mới đi, Việt cộng còn đang đánh nhau với quân mình ở xa lộ Đại Hàn”. Nói xong, ông gọi một người trong nhà thờ đi ra ngoài xem tình hình như thế nào, rồi trở về cho ông biết. Vị Linh Mục nầy, tôi không nhớ tên, đã đối xử với chúng tôi như người trong thân quyến, pha cà phê mời chúng tôi uống, và mở radio đài phát thanh Sài gòn để theo dõi tin tức. Trong khi chờ đợi, tôi suy nghĩ là nếu không về nhà được, thì đường tốt nhất để về vùng IV là dùng đường ruộng, men theo xa lộ Đại Hàn đi về Phú Lâm và sẽ đi theo quốc lộ 4 xuống Bến Lức, Long An, qua Mỹ Tho rồi đi thẳng về Vĩnh Long, Cần Thơ. Lương tháng 4 mới lãnh hôm thứ sáu tuần trước còn nguyên, chưa kịp xài, có thể mua thức ăn dọc đường. Còn đang miên man suy nghĩ, thì nghe xướng ngôn viên đài phát thanh lưu ý: sau đây là lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh. Chúng tôi lắng nghe, thì hỡi ôi, ông ta ra lệnh đầu hàng Việt cộng. Chúng tôi nhìn nhau mà mắt ai cũng đầy lệ. Thế là chúng ta đã mất nước rồi, mà mất nước là mất tất cả. Thảm thương thay cho Miền Nam Việt Nam!
Chúng tôi nói với nhau là “hồn ai nấy giữ”, mỗi người mạnh ai nấy đi đến nơi nào tùy ý, và chúc may mắn cho nhau. Sau khi ngỏ lời tạ ơn vị Linh Mục, chúng tôi thất thểu bước chân ra khỏi nhà thờ Bùi Môn, lúc đó là 10 giờ 30 sáng ngày 30 tháng 4 năm 1975. Anh tôi và tôi, mỗi người một túi xách tay đi ra đường lộ, lúc đó rất đông người và xe cộ, cùng hướng về phía Sài Gòn.

Ra đến ngả tư Trung Chánh, nửa muốn đi về phía Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung về nhà qua ngã Gò Vấp, nhưng nghĩ lại, đi tiếp về ngã tư Bảy Hiền vẫn hơn vì có nhiều người chạy nạn, lẫn lộn trong đám đông sẽ tránh được sự chú ý Việt cộng. Hai anh em nhắm hướng xa lộ Đại Hàn mà đi bên lề trái đường, vì phía bên kia, ở dưới ruộng khô, có hai xe thiết giáp T54 và 2 khẩu đại bác 130 ly cùng các xạ thủ Việt công đang nhìn các bộ hành trên đường, và trên lề đường là một đội quân Việt cộng đội nón tai bèo, mang dép râu, mặt còn rất trẻ chưa tới 20 tuổi, đang ngơ ngác nhìn quanh, đi hàng một cũng nhắm về hướng Sài Gòn. Đi đến ngang Trường Quân Vận và Trung Tâm 3 Tuyển mộ nhập ngũ, thấy như có một đội quân chừng 1 đại đội, xếp hàng 4 ngay ngắn trên lề đường, đầy đủ giày trận, nón sắt, túi đeo lưng, áo trận, nhưng không có người. Tôi đoán rằng đây là quân trang của anh em tân binh hoặc khoá sinh Quân vận, đã tan hàng trong vị thế hết sức trang trọng và kỷ luật cao, dù rằng các anh chỉ là binh sĩ. Mắt tôi cay xé, muốn bật khóc vì nghĩ đến thân phận của kẻ bị ép buộc phải bại trận.

Đến ngã tư Đại Hàn, trời đang mưa lâm râm, nhìn về phía trái bên kia đường là doanh trại của Liên Đoàn 81 Biệt Kích Dù, thấy không có bóng người, chỉ có 2 cái xác của Việt cộng, chân mang dép râu, nằm vắt thây trên rào kẽm gai, và phía bên phải là một xác xe thiết giáp T54 của Việt cộng vẫn còn đang nghi ngút cháy, trên mặt đường thì có vài xác chết Việt cộng còn nằm đó, máu đã chảy lan ra mặt đường, hòa tan với nước mưa dính vào đôi chân mang dép Nhựt Bổn của tôi, tự nhiên thấy một cảm giác hết sức tội nghiệp cho những người đã chết đó, vì họ không biết đã chết cho ai? Chết vì cái gì?
Đến ngang trại Hoàng Hoa Thám của Nhảy Dù, thấy tầng 2 của mặt tiền doanh trại bị sụp xuống, và trước mặt, phía bên kia đường cũng có xác của 2 xe thiết giáp T54 bị đứt xích và vẫn còn cháy cùng với vài tên VC chết cháy nám đen.

Đến Ngã Tư Bảy hiền, khoảng 16 giờ, định về nhà qua ngã Chi lăng về Bà Chiểu, bỗng thấy hướng Bộ Tổng Tham Mưu, một chiếc trực thăng vừa cất cánh bay lên thì bị một hỏa tiển bắn trúng, bốc cháy và rớt xuống khoảng sân golf phía sau Bộ TTM, lúc đó có 2 xa thiết giáp T54 chạy từ Lăng Cha Cả, hướng về ngã tư Bảy Hiền, chúng tôi vội băng qua đường đi vào ngõ hẻm xuyên qua xóm nhà bên kia đường ngang mặt Bộ TTM, định đi đến đường Võ di Nguy Phú Nhuận. Đi trong ngỏ hẻm được chừng 300 thước thì thấy 4 quân nhân thuộc binh chủng nhảy dù, vừa di chuyển ra, vừa bắn ngược lại với bọn Việt cộng đang đuổi theo các anh ấy, và nghe tiếng gọi “ngụy quân hãy buông súng đầu hàng”. Nghe thấy vậy, tôi mới biết là vẫn còn người đang chiến đấu dù đã có lệnh đầu hàng. Anh em tôi thối ngược lại ngã tư Bảy Hiền, rẽ vào đường Lê Văn Duyệt để đi. Lộ trình chúng tôi là Lê Văn Duyệt, Trần Quốc Toản, Hiền Vương, Đinh tiên Hoàng, Phan Thanh Giản, qua cầu xa lộ đi về Hàng Xanh. Trên đoạn đường nầy, chúng tôi gặp rất nhiều xe chở bọn “cách mạng 30” với cờ của “mặt trận giải phóng”. chúng dùng súng AK và M16 bắn tứ tung lên trời, giống như bọn thổ phỉ vừa chiếm được làng, bắn súng thị oai vậy. Và chúng còn phá cửa kho Quân Tiếp Vụ, để cướp hàng hóa trong kho như lũ quỷ đói.

Về đến đầu đường hẻm dẫn vô nhà, lúc đó vào khoảng 19 giờ ngày 30 tháng 4, chúng tôi thấy ba má, chị em, vợ con tôi đang đứng trông ngóng chúng tôi, vì đã mất liên lạc 3 ngày rồi, họ không biết chúng tôi còn sống hay đã chết, vì Việt cộng tấn công quá khốc liệt mấy ngày qua. Gặp lại nhau, không còn nỗi vui nào hơn, cả nhà ôm nhau mà khóc. Về đến nhà, tôi mới biết là còn một đứa em, hiện đang phục vụ tại Trung Tâm Hành Quân Tiểu Khu Vĩnh Bình (Trà Vinh) chưa về nhà được. Chúng tôi định chờ cho thằng em nầy về nhà rồi sẽ trốn về quê, vì ở đây, hàng xóm đều biết 4 anh em tôi đều là quân nhân.

Vào ngày 6 tháng 5 năm 1975, em tôi đã từ Trà vinh về đến, và có một người bà con ở dưới quê chở trái cây bằng ghe, đem bán ở chợ Cầu Ông Lãnh, còn kẹt lại Sài Gòn đến thăm chúng tôi, do vậy Ba tôi nhờ ông ấy chở đại gia đình chúng tôi về quê bằng đường sông. Chúng tôi về đến quê nhà vào ngày 12 tháng 5 an toàn. Chúng tôi chưa có một kế hoạch gì chắc chắn để tìm đường đi. Sau đó vào đầu tháng 6 năm 1975 thì cả 4 anh em tôi bị Việt cộng đến nhà bắt đi ở tù "cải tạo". Riêng tôi thì vượt ngục được sau hơn 4 năm bị tù, và sau đó vượt biên thành công, hiện taị đang sinh sống ở Canada, và lúc nào tôi cũng nghĩ rằng mình vẫn còn trách nhiệm của một quân nhân tại ngũ.

Tôi viết bài hồi tưởng nầy, sau 38 năm, chỉ với mục đích là thăm hỏi và chúc sức khỏe cho các anh em đã cùng ở với tôi đến phút cuối cùng của đơn vị chúng ta, và xin cầu nguyện Thượng Đế phù trợ cho chúng ta còn sống để nhìn lại quê hương mình khi không còn cộng sản nữa. Và sau hết, tôi muốn nói lại cho những chiến hữu cùng đơn vị Công Binh với tôi, những người đã không hiện diện trong những ngày cuối cùng đó, biết rằng vẫn còn những người trong đơn vị, chịu đựng những hiểm nguy cho đến phút sau cùng để khai tử cho đơn vị. Và cũng mong rằng đừng cho chúng tôi là hèn nhát, không dám chiến đấu với quân thù cho đến giọt máu cuối cùng!

Lão Ngoan Đồng
Tháng 4 Đen

Tiểu Sử Ngành Quân Nhạc QLVNCH


Icon_VNCH Flag_VN3
              
vnch quannhac

I-Tình trạng Quân Nhạc trước 1945.

Trước năm 1945, Việt Nam có 3 ban Quân Nhạc. Nhạc viên toàn người Việt dưới quyền điều khiển của Nhạc Trưởng người Pháp tại 3 nơi như sau:

- Hà nội: Ban Quân Nhạc khố xanh

- Huế: Ban Quân Nhạc khố vàng

- Sàigòn: Ban Quân Nhạc khố đỏ.

Ban Quân Nhạc khố vàng ở Huế nổi bật hơn cả vì tài nghệ các nhạc công giỏi hơn 2 ban kia.

Năm 1930, khi Hoàng Đế Bảo Đại sang thăm Pháp và dự Hội chợ quốc tế tại Paris, ban Quân Nhạc khố vàng được tháp tùng. Các buổi trình diễn được khán thính giả tại Paris hoan nghênh nhiệt liệt. Đến năm 1944, quân đội Nhật đảo chánh quân đội Pháp tại Đông Dương, 3 ban Quân Nhạc cũng bị tan rã.

II-Tình trạng Quân Nhạc từ 1947 đến 1954.
Khi Hoàng Đế Bảo Đại được Pháp đưa về làm Quốc Trưởng, Ngài nhờ người Pháp thành lập các ban Quân Nhạc cho Việt Nam.

Đầu tiên là Sàigòn, Nhạc trưởng Permentier liên lạc với Thượng sĩ Dương văn Huấn (cựu nhạc công ban Quân nhạc khố đỏ trước kia) tập họp lại các nhạc công trong ban Quân nhạc khố đỏ cũ, tuyển mộ thêm nhạc viên và huấn luyện để thành lập ban Quân nhạc Sàigòn. Nơi đồn trú là trại Lê văn Duyệt Gia Định. Ít lâu sau, nhạc trưởng Permentier về Pháp, trao quyền Nhạc trưởng lại cho Thượng sĩ Dương văn Huấn.

Tại Huế, Tổng Trấn Trần văn Lý mời Thượng sĩ I Trần như Tú đứng ra tập họp các anh em trong ban khố vàng khi xưa để thanh lập Ban Quân nhạc Bảo Vệ Quân tại Huế. Thượng sĩ I Tú được đề cử làm Nhạc Trưởng với cấp bậc Thiếu úy..

Sau cùng là Hànội. Vào thượng tuần 1947, Nhạc trưởng Messler, người Pháp được mời thành lập Ban Quân nhạc cho Hànội. Thông báo tuyển mộ được đăng trên các báo Việt, số người nộp đơn xin gia nhập rất đông. Ai nộp đơn trước sẽ được mang cấp bậc Thượng sĩ, các người sau cấp bậc thấp hơn. Những người sau cùng chỉ được mang cấp bậc Hạ sĩ hay Binh I mà thôi. Khi thành lập xong, ban nhạc đồn trú trong trại lính khố xanh cũ.

Thành phần các ban nhạc này đều rập khuôn ban Quân nhạc Pháp. Mỗi ban nhạc gồm 2 phần: phần chính là ban Hòa tấu, tiếng Pháp là Harmonie. Phần phụ là ban Chào kính đưọc đọc trại theo tiếng Pháp là "Lích"(Cliques) dưới quyền một Lích trưởng (Tambour Major) luôn luôn mang cây Huy côn (canne de Tambour Major). Hai thành phần này dưới quyền điều khiển của một Nhạc trưởng.

Khi được lệnh hồi hương, nhạc trưởng Messler trao quyền Nhạc trưởng lại cho Thượng sĩ Nguyễn Nhật điều khiển Ban Quân nhạc Hànội, cũng là một cựu nhạc viên ban nhạc khố xanh.

Ngoài 3 ban quân nhạc trên, còn có thêm ban nhạc Bảo Chính Đoàn dưới quyền điều khiển của Nhạc trưởng Vũ văn Tuynh và ban nhạc Thính Phòng Thăng Long trực thuộc Tổng trấn Bắc Việt về tài chánh và Nha Cảnh Sát Đô Thành về quản lý. Ban nhạc Thăng Long được thành lập bởi Nhạc Trưởng Lê hữu Mục, sau đó trao quyền điều khiển lại cho Nhạc Trưởng Lê như Khôi. Mỗi chiều Chủ Nhật, ban nhạc này thường trình diễn tại vườn hoa Ba Đình với những giọng ca nổi danh đương thời như Minh Đỗ, Quách Đàm, Hoàng Giác lôi cuốn một lượng khán giả khá đông và được hoan hô nhiệt liệt.

III-Cải tổ và chấn chỉnh các ban Quân nhạc.
Vì nhu cầu, các ban Quân nhạc được thành lập một cách vội vàng. Không bao lâu người Pháp về nước và trao lại cho người Việt Nam. Các nhạc trưởng được người Pháp trao lại lúc bấy giờ chỉ có kinh nghiệm chứ chưa được đào tạo qua trường lớp nào nên có người chưa đủ khả năng để chỉ huy một ban nhạc. Muốn nâng cao trình độ các ban quân nhạc, trước tiên, mỗi ban nhạc cần một nhạc trưởng có trình độ và khả năng để huấn luyện nhạc viên.

Thấy điều cần thiết trên, Bộ Quốc phòng liền giao cho Trung úy Nhạc trưởng Léon Cordier người Pháp, chịu trách nhiệm tổ chức cuộc thi tuyển. Thông báo được đăng trên các báo dân sự và quân đội trên toàn quốc. Địa điểm thi tuyển được tổ chức vào tháng 4 năm 1951 tại 2 địa diểm như sau:

Tại Hà Nội cho các thí sinh miền Bắc và Trung. Danh sách các thí sinh như sau:

1- Lê như Khôi (Bắc Việt)

2- Đỗ tiến Liệt (Bắc Việt)

3- Đỗ trung Anh (Bắc Việt)

4- Chuẩn úy Trần phát Tài (Bắc Việt)

5- Trần văn Tín (Trung Việt)

6- Thượng sĩ Nguyễn hữu Nhuận (Trung Việt)

Tại Sàigòn cho các thí sinh miền Nam.Danh sách gồm có:

1- Trung úy Dương văn Huấn

2- Đỗ trí Kế

3- Trần văn Lý.

Bài thi gồm các môn:

- Hoà âm 4 bè gồm: CD (chant donné-bè cao cho trước), BD (basse donné-bè trầm cho trước)

- Viết chính tả âm nhạc.

- Xướng âm một đoạn nhạc có 7 khóa pha trộn lẫn nhau, đúng theo tiết điệu của dương cầm phụ họa.

Kết quả: Chiếu theo nghị định số 53-QP/ND ngày 1-2-1952, có 5 thí sinh sau đây trúng tuyển Nhạc Trưởng:

1- Lê như Khôi (BV)

2- Trần văn Tín (TV)

3- Đỗ trí Kế (NV)

4- Đỗ tiên Liệt ( BV)

5- Dương văn Huấn (NV-thí sinh quân đội).

Cũng theo nghị trên, các thí sinh có tên sau đây được xếp Nhạc Trưởng hạng 2, mang cấp bậc Trung úỵ:

1- Trung úy Lê như Khôi.

2- Trung úy Trần văn Tín.

Cũng theo nghị định trên, các thí sinh sau đây được xếp Nhạc Trưởng hạng 3, mang cấp bậc Thiếu úy:

1- Thiếu úy Nhạc Trưởng Đỗ trí Kế.

2- Thiếu úy Nhạc Trưởng Đỗ tiên Liệt

3- Trung úy Nhạc Trưởng Dương văn Huấn. Trường hợp đặc biệt, vì đã là Trung úy Quân Đội Quốc Gia nên không bị xuống cấp.

Các thí sinh không đủ điểm đậu Nhạc Trưởng được bổ nhiệm làm Nhạc Phó, được mang cấp bậc Thượng sĩ I, danh sách gồm có:

1- Chuẩn úy Nhạc phó Trần phát Tài (đã mang cấp Chuẩn úy QĐQG, nên được giử nguyên)

2- Thượng sĩ 1 Nhạc phó Trần văn Lý.

3- Thượng sĩ 1 Nhạc phó Nguyễn hữu Nhuận

4- Thượng sĩ 1 Nhạc phó Đỗ trung Anh.

Ngày 12-4-1952, các tân Nhạc trưởng và Nhạc phó được bổ nhiệm như sau:

- Trung úy Nhạc trưởng Lê như Khôi về Ban Quân nhạc Quân khu 1 tại Sàigòn thay Trung úy Dương văn Huấn ra Hànội nhận Ban Quân nhạc Quân khu 2.

- Trung úy Nhạc trưởng Trần văn Tín nhận Nhạc đoàn Ngự Lâm Quân tại Đàlạt.

- Thiếu úy Nhạc trưởng Đỗ trí Kế về nhận Ban nhạc Quân Khu 3 ở Huế, nhưng gặp trở ngại vì Ông Trần như Tú không chịu bàn giao. Không biết có sự dàn xếp bên trong thế nào, sau cùng, Quân khu 3 trả Thiếu Úy Nhạc trưởng về Bộ Quốc Phòng. Ông đã xin ra khỏi Ngành Quân Nhạc.

- Riêng Thiếu úy Nhạc trưởng Đỗ tiên Liệt, giờ chót kết quả không được công nhận nhưng không biết lý do.

vnch quannhac1

IV-Quân Nhạc thời đệ 1 và đệ 2 VNCH.
Các tân Nhạc trưởng bắt đầu chỉnh đốn lại Nhạc đoàn của mình. Nhạc Đoàn Ngự lâm quân là đơn vị tân lập nên các Nhạc đoàn khác phải trích một số nhạc công gửi đến bổ xung. Các Nhạc trưởng phải cố gắng sáng tác, hoà âm nhạc quân hành Việt Nam thay thế dần nhạc quân hành Pháp.

Muốn nâng cao trình độ các nhạc công, 2 Nhạc trưởng Lê như Khôi và Trần văn Tín bàn với nhau là phải có một Trường Quân Nhạc để huấn luyện chung nhạc công. Ý kiến này được đệ trình lên Bộ quốc phòng, thời gian chờ đợi khá lâu nhưng không được trả lời. Sau này được biết vì ở thời điểm đó, ngân sách eo hẹp nên mọi ngân khoảng dành ưu tiên cho các đơn vị tác chiến.

Tình hình chiến sự thay đổi, các ban nhạc cũng bị ảnh hưởng theo: Điện Biên Phủ thất thủ, quân đội Pháp về nước, nước Việt Nam chia đôi, các ban quân nhạc cũng được sắp xếp lại.

- Quân khu 2 di chuyển về Nam dưới vĩ tuyến 17, ban quân nhạc phải rút theo nhưng bị chia đôi. Một nửa đóng tại Nha Trang với Thượng sĩ Nguyễn Nhật. Một nửa theo Trung úy Nhạc trưởng Dương văn Huấn lên Ban Mê Thuột.

- Ban quân nhạc Đệ 1 Quân khu được đổi tên thành Ban quân nhạc Liên khu 1 & 4. Phạm vi công tác của ban nhạc quá rộng. Trong phạm vi Quân khu 1 Sàigòn, đôi khi công tác hơn 300 lần trong năm, lại còn phải bao gồm luôn Quân khu 4, lên đến Buôn Mê thuột hoằc ra tận Bến Hải. Có lần phải sang công tác tại Hội chợ ở Thủ đô Vạn Tượng của Vương quốc Lào.

Sau khi Thủ Tướng Ngô đình Diệm đắc cử Tổng Thống nhiệm kỳ đầu, Nhạc Đoàn Ngự Lâm Quân được rút về Sàigòn và đổi tên thành Nhạc Đoàn Đặc Biệt Phủ Tổng Thống. Phạm vi công tác của Nhạc Đoàn này chỉ trong phạm vi Dinh Độc Lập mà thôi.

Năm 1966, vì công tác quá nhiều, Nhạc đoàn phải chia ra 2 hay 3 toán mới đáp ứng được nhu cầu, nhưng quân số chỉ có 75 nhạc công. Thiếu tá Nhạc trưởng Lê như Khôi đề nghị với Bộ Quốc Phòng xin nhập 2 ban nhạc Liên khu 1 & 4 và ban nhạc Bảo An Đoàn lại thành một. Đề nghị được chấp thuận, nhạc công tổng cộng là 150. Ban nhạc được đổi tên thành Đại Nhạc Đoàn Bộ Tổng Tham Mưu, dưới quyền xử dụng trực tiếp của Phòng 3/Khối Quân Lễ/BTTM.

Đồng thời, Nhạc đoàn của 2 binh chủng Không quân và Hải quân cũng được thành lập. Nhạc trưởng Vũ văn Tuynh ở Bảo An Đoàn được thuyên chuyển về làm Nhạc đoàn trưởng Nhạc đoàn Không quân.

Năm 1961, sau khi tốt nghiệp <Cours de haute composition musicale> tại Ecole Universelle Paris, Trung Úy Lê Phước Quang (Thiên Quang) được thuyên chuyển về phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Quân Nhạc(Lữ Đoàn Phòng Vệ Phủ Tổng Thống). Đại úy Nhạc Trưởng Trần văn Tín , Giám Đốc Trung Tâm Huấn Luyện đề cử Trung úy Lê phước Quang làm sĩ quan Phụ tá. Các cố vấn Mỹ Cwo Diffronso và Cwo Albert đã giúp rất nhiều trong việc thành lập Binh Chủng và Trường Quân Nhạc QLVNCH.

Theo cấp số của quân đội Mỹ, các Nhạc đoàn được thành lập như sau:

-Loại A: Nhạc Đoàn Đặc Biệt Phủ Tổng Thống và Đại Nhạc Đoàn Bộ TTM

-Loại B: Nhạc Đoàn Không Quân, Hải Quân, các Trung tâm huấn luyện

-Loại C: Các Sư Đoàn.

Đại úy Nhạc Trưởng Trần văn Tín được đề cử giử chức vụ Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Quân Nhạc.

Trung úy Nhạc Trưởng Lê phước Quang được đề cử giử chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Quân Nhạc.

Vì nhu cầu, một số sĩ quan Bộ Binh đuợc thuyên chuyển về thành lập các phòng, ban như:

-Trung úy Vũ đức Liễn: Sĩ quan phụ tá.

-Trung úy Lê văn Sự: Tiếp liệu

-Chuẩn úy Nguyễn công Thành: Nhân viên và quân số.

Phòng Huấn luyện, nghiên cứu và sưu tầm ráo riết dịch thuật các tài liệu học tập để chuẩn bị chương trình tuyển mộ và huấn luyện các tân khóa sinh, mãn khóa sẽ bổ sung cho các Nhạc Đoàn chưa đủ quân số hay các Nhạc Đoàn mới thành lập. Nhóm này gồm các sĩ quan, Hạ sĩ quan như: Hồ đăng Tín Nguyển Bữu Phuợng, Nguyên đức Lưu, Nguyễn hùng Chương, Lâm cao Khoa và Lê văn Nhơn.

Với nhu cầu phát triển và gia tăng quân số của QL/VNCH, Ngành Quân Nhạc cũng tăng theo. Năm 1966, Trường Quân Nhạc xin phép Bộ TTM và Tổng Cục Quân Huấn được mở khóa Sĩ Quan Nhạc Trưởng.

Đầu tiên, thi tuyển những khóa sinh dân sự, nhưng số thí sinh đạt được tiêu chuẩn do Trường Quân Nhạc đưa ra quá ít, không đủ túc số. Các thí sinh trúng tuyển đợt này gồm có: Nguyễn đình Ba, Lương an Cảnh, Lê văn Nhản, Trần văn Huyến, Nguyễn tấn Hiệp, Nguyễn hiễu Tiếng, Vũ nam Hải, Vũ tắc Toản, Nguyễn phi Hồng, Đoàn thể Hồng. Toán này được gửi qua Trường Bộ Binh nhập học quân sự giai đoạn I khóa 23/SQTB. Thời gian học 4 tháng.

Toán thứ 2 là những khóa sinh khóa 22SQTB/TĐ đang thụ huấn tại Trường Bộ Binh được Trường Quân Nhạc cho thi trắc nghiệm khả năng. Kết quả những thí sinh được chọn gồm có: Lê văn Nhường, Đoàn công Đài, Phạm sĩ Bảng, Nguyễn trí Hiếu, Trần song Tuấn, Hồ quang Hải, Nguyễn văn Quang.

Toán kế tiếp là những Hạ sĩ quan trong ngành Quân Nhạc có khả năng, làm đơn xin theo học và gửi đến Trường Quân Nhạc cứu xét. Kết quả được chấp thuận như sau:

-Nguyễn hùng Chương, Nguyễn văn Tuyên, Nguyễn Lộc, Nguyễn đình Đồng, Bùi tiến Bảo, Ngô văn Phốt, Ngô hằng Sản, Vũ văn Đỉnh, Mai văn Lang.

-Thành phần Ban giảng viên cho khóa Sĩ quan Nhạc Trưởng gồm có:

-Môn chỉ huy (Conducting): Nhạc Trưởng Trần văn Tín

-Môn Hòa âm: Nhạc Trưởng Nguyễn Phụng, Giám Đốc Trường QGÂN.

-Môn Phối khí, Cải soạn, Nhạc khí học: Nhạc Trưởng Lê như Khôi.

-Môn Sáng tác: Nhạc Trưởng Vũ văn Tuynh.

-Môn Lễ nghi quân cách: Nhạc Trưởng Nguyễn đức Tính

-Môn Nhạc nhẹ: Nhạc Trưởng Trần văn Lý, (làm ở Đài phát thanh Pháp Á, được đồng hóa vào Ngành Quân Nhạc với cấp bậc Thiếu úy.)

-Nhạc sử: Nguyễn năng Nhiêu, Giáo sư Trường QGÂN.

-Nhạc lý - Chính tả: Phạm Nghệ, Giáo sư Trường QGÂN.

-Môn Hành chánh & Quản trị nhân viên: Thượng sĩ Ngọ.

Thiên Quang được đề cử làm "Associate professor" cho các giảng viên trên đây vừa dạy thêm Hòa Âm trong cuốn "Kỹ Thuật Hòa Âm" cho các khóa sinh do chính ông biên soạn.

Khóa học được chia làm 2 giai đoạn, mỗi giai đoạn đều phải thi lấy kết quả, nếu không đủ điểm, không được tiếp tục học giai đoạn 2. Sau giai đoạn 2 các khóa sinh đều được phân tán đến các Nhạc Đoàn trên tòan quốc thực tập. Sau khi thực tập xong, tập trung về Trường Quân Nhạc thi tốt nghiệp.

Năm 1967, trong lúc khóa học đang tiến hành, cố vấn Mỹ cho biết trường Quân Nhạc Hoa Kỳ chấp thuận cho 4 khóa sinh theo học khóa Advanced Course trong thời gian 6 tháng. Cố vấn Mỹ trắc nghiệm khả năng Anh ngữ, quyết định cho khóa sinh đi học do Bộ chỉ huy và Trường Quân Nhạc quyết định. Cuối cùng những khóa sinh sau đây được chọn:

- Những SVSQ đang học khóa Nhạc Trưởng: Nguyễn đình Ba, Trần văn Huyến, Nguyễn hiễu Tiếng.

- Thượng sĩ 1 Nguyễn bữu Phượng đang làm việc tại Phòng Huấn Luyện.

Trong thời gian này, khóa Nhạc Trưởng chưa kết thúc, nên một số ban nhạc vẫn còn Hạ sĩ quan giử chức vụ Quyền Nhạc Đoàn Trưởng.

Sau khi tốt nghiệp, một số được bổ xung ra đơn vi. Số còn lại được gửi đi học Anh văn tại Trường Sinh Ngữ Quân Đội để chuẩn bị tu nghiệp tại Hoa Kỳ.

Các khóa sinh đi tu nghiệp Hoa Kỳ gồm có các Chuẩn úy: Nguyễn hùng Chương, Nguyễn tấn Hiệp, Nguyễn Lộc, Vũ nam Hải, Vũ tắc Toản, Nguyễn đình Đồng, Nguyễn phi Hồng, Lê văn Nhản.

Nhân dịp được mời tham quan Trường Quân Nhạc và các ban nhạc Hoa Kỳ, Thiếu Tá Lê phước Quang hướng dẫn toán khóa sinh tháp tùng. Khóa học của khóa sinh kéo dài 8 tháng. Riêng thời gian tham quan của ông trong vòng 4 tháng.

Sau đó, khóa 2 Sĩ Quan Nhạc Trưởng được tổ chức để những người trong Ngành lâu năm đã lên sĩ quan theo học. Danh sách khóa này gồn có: Trần văn Lý (Ban nhạc TTM), Nguyễn bữu Phượng, Hồ Sâm, Hồ Thịnh, Nguyễn văn Thiềng, Nguyễn Đệ, Nguyễn cữu Phát, Trần ngọc Phan, Nguyễn văn Giáp, Đỗ ngọc Phùng và Lê văn Nhơn.

Trong thời gian này, 2 binh chủng Tổng Trừ Bị nổi tiếng của QLVNCH được nâng lên cấp Sư Đoàn, vì thế phải thành lập 2 Nhạc Đoàn để bổ xung. Nhạc Trưởng Hồ Sâm được đề cử làm Nhạc Đoàn Trưởng Nhạc Đoàn Sư Đoàn Dù và Nhạc Trưởng Nguyễn văn Thiềng được đề cử về Nhạc Đoàn Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.

Cuối năm 1974, một số sĩ quan nồng cốt kỳ cựu của Ngành Quân Nhạc đến tuổi về hưu, các vị đó là Nhạc Trưởng Lê như Khôi, Nhạc Trưởng Vũ Thành, Nhạc Trưởng Vũ văn Tuynh và đến năm 1975, Nhạc Trưởng Trần văn Tín cũng đến Tuổi về hưu.

Sau đây chúng tôi xin nêu lên một số từ thường bị nhầm lẫn:

NHẠC TRƯỞNG là một tước vị (bằng cấp đang có)

NHẠC ĐOÀN TRƯỞNG là chức vụ (đang đảm nhận tại đơn vị)

Thí dụ: trong những ban nhạc lớn có 2 Sĩ quan đều có bằng Nhạc Trưởng (tước vị), Nhưng một người là Nhạc Đoàn Trưởng (chức vụ hiện đang đảm nhận) và một người là Nhạc Đoàn Phó (chức vụ hiện đang đảm nhận). Đôi khi những ban nhạc nhỏ không đủ quân số bổ xung, nên một ông Hạ sĩ quan có bằng Nhạc Phó (tước vị) được đề cử làm Nhạc Đoàn Trưởng (chức vụ).

Mục đích đào tạo một NHẠC TRƯỞNG của Trường Quân Nhạc

Nhạc Trưởng phải có trình độ, kiến thức vững vàng về âm nhạc. Thấu hiểu trình độ của từng nhạc viên. Biết cách huấn luyện, nhận ra ưu khuyết điểm của họ để giao nhiệm vụ khi họ ngồi vào ban nhạc. Phải biết Cải soạn, Phối khí để có thể sửa đổi hay viết lại những phần khó, quá trình độ của nhạc viên khiến họ không thực hiện được bè mình giao phó. Hòa âm những bản nhạc yêu thích hợp với trình độ của Ban nhạc và khai thác tối đa khả năng của những nhạc viên ưu tú. Điều khiển và Chi huy các loại dàn nhạc như Concert Band, Symphonic Band, Symphonic Orchestra, Dance Band. Ta có thể so sánh khả năng và nhiệm vụ của một người Nhạc Trưởng giống như một Huấn luyện viên một đội bóng tròn. Những sắc thái riêng biệt của người Nhạc Trưởng tạo ra cho ban nhạc của mình cũng giống như chiến thuật mà Huấn luyện viên áp dụng cho đội bóng do mình huấn luyện. Vì thế, Nhạc Trưởng được coi như linh hồn của Ban Nhạc.

Còn một điều xin nêu lên đây là khi xem một ban nhạc diễn hành, phần đông cho rằng người cầm gậy (có người gọi là côn) dẫn đầu là Nhạc Trưởng của ban nhạc. Người đó trong Ngành Quân Nhạc gọi là "Gậy Cổ Trưởng". Ông này thường là một Hạ sĩ quan, dùng các hiệu lệnh bằng gậy để điều khiển Ban Nhạc trong lúc đi như giử đều nhịp, quẹo trái, phải hay dừng lại.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà là một tập thể do nhiều đơn vị tập họp lại. Mỗì đơn vị đóng góp phần khả năng chuyên môn của mình. Quân Nhạc là một đơn vị nhỏ bé nhất trong tập thể đó, nhưng công lao đóng góp không thể coi là nhỏ. Trong khi các đơn bạn vị bạn lo ngăn chặn quân thù ngoài tiền tuyến thì ở hậu phương, Quân Nhạc dùng nhạc quân hành khích động tinh thần binh sĩ hay góp phần làm nổi bật các chiến công vang dội của các đơn vị bạn vừa đạt được. Điều này được thấy rõ trong các buổi choàng vòng hoa, gắn huy chương tưởng thưởng công lao cho những chiến sĩ hay đơn vị xuất sắc, hoặc phô trương lực lượng trong các buổi diễn hành trong Ngày Quân Lực.

Về bang giao quốc tế, Quân Nhạc giử một vai trò then chốt khi tiếp đón các yếu nhân đến thăm viếng Việt Nam. Một tràng 21 phát đại bác vang rền hòa lẫn với nhạc Thượng nghinh tạo thêm phần long trọng và uy nghi dành cho một vị nguyên thủ quốc gia khi đứng nghiêm trên bục chào kính tại phi trường.

Binh Chủng Quân Nhạc QLVNCH đã đi được một đoạn đường dài từ lúc sơ khởi cho đến khi kết thúc.Trên đơạn đường đó, quí vị tiền nhiệm cũng như những người tiếp nối chắc chắn đã gặp nhiều khó khăn, trở ngại mà đôi khi tưởng không thể vượt qua nhưng quí vị vẫn kiên nhẩn tiến bước để đạt được kết quả sau này. Vì thế tất cả mọi thành viên trong gia đình Quân Nhạc không bao giờ quên ơn những người như: Nhạc Trưởng Dương văn Huấn, Nhạc Trưởng Trần như Tú, Nhạc Trưởng Nguyễn Nhật và Nhạc Trưởng Nguyễn hữu Nhuận cùng tất cả các nhân viên các phòng, ban đã phục vụ đắc lực, tận tâm từ khi Bộ Chỉ Huy và Trường Quân Nhạc mới thành lập đến khi mất nước. Hình ảnh một tấm bảng phía trên với hàng chử <TRẠI YÊN THẾ> sừng sửng trên hai cánh cửa làm bằng tôn đơn sơ, không có vẻ gì kiên cố, uy nghi hay chi chít những hàng rào kẽm gai của một căn cứ quân sự. Phía trong là những căn nhà cũ kỹ xây dựng từ thời Pháp cộng thêm những dãy nhà mới cất cho khóa sinh.Một nhà bếp, một Câu lạc bộ, một giếng nước nhỏ. Nếu chúng ta đem các phương tiện trên nói với một người nào đó là dùng để phục vụ cho một Quân Trường hay Trung Tâm Huấn Luyện, chắc chắn họ cho rằng chúng ta nói đùa, nhưng đó là sự thật với một bóng mát to lớn của cây điệp từng che nắng cho khóa sinh ngồi học hòa tấu hằng ngày. Những hình ảnh kể trên không còn nữa trong hiện tại nhưng chắc chắn không phai mờ trong ký ức của từng người lính trong thời chiến nhưng có kèm theo hai chử <quân nhạc> đã từng có mặt nơi đây. Khi tiếp xúc với các binh chủng bạn thường gọi bằng một danh từ rất bình dân mộc mạc, vừa thân mật, vừa có vẽ khinh thường về khả năng quân sự là <LÍNH KÈN>.

Một điểm đặc biệt nữa là vì một binh chủng quá nhỏ, phần đông đều biết nhau nên tình cảm cũng gắn bó hơn. Một bằng chứng cụ thể mà không một binh chủng hay đơn vị nào có được là mặc dù đã tan hàng, nhưng từ năm 1975 đến nay, liên tục hằng năm, anh em vẫn tụ họp một nơi ấn định trước, làm lễ giổ Thánh Tổ Quân Nhạc là Thánh Nữ Cécilia. Mọi người thành khẩn quỳ trước bàn thờ và cầu nguyện Thánh Tổ phù hộ cho mọi thành viên trong gia đình Quân Nhạc được khỏe mạnh yên vui. Những người trong nước dù ở xa cũng cố gắng sắp xếp đến tham dự. Còn những người ở hải ngoại đôi khi có chuyện cần vê VN, cũng cố gắng đến họp mặt. Nếu không về,cũng đóng góp chút ít cho ban tổ chức trang trải chi phí buổi lể. Nếu có dịp tham dự, ta sẽ thấy anh em nhạc viên tham dự mỗi năm một ít đi vì bệnh hoạn hay qua đời và không biết bao lâu nữa, Lễ Giổ Tổ ngành Quân Nhạc của chúng ta sẽ đi vào dĩ vãng.

Biên soạn:

Chỉ huy phó Quân Nhạc QLVNCH, Nhạc Trưởng Lê Như Khôi - Paris

Chỉ huy trưởng Trường Quân Nhạc, Nhạc Trưởng Lê Phước Quang (Thiên Quang) – San Diego

Nhạc Trưởng Lương An Cảnh - Australia

Nhạc Trưởng Vũ Tắc Toản – tức QuốcToản: www.quoctoan.com - California

Bài Xem Nhiều