We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 4 July 2013

CHẾT OAN



linhon02806




Cảnh sát viên David Ruthfield đến hiện trường cùng một lúc với xe cứu thương. Một cảnh tượng thê thảm hiện ra trước mắt anh. Một người đàn bà Á đông nằm úp mặt trên một vũng máu. Các nhân viên cứu thương xác nhận nạn nhân đã chết tức thì ngay khi gặp tai nạn. Chỉ có một nhân chứng trong vụ đụng xe này. Ông ta khai rằng đây là một vụ “đụng rồi bỏ chạy”. Nhân chứng là một người đàn ông da trắng. Ông cho biết ông rất bất mãn về các tai nạn kiểu này, vì thế ông cố gắng chờ đợi gặp nhà chức trách khai một vài chi tiết quan trọng, với hy vọng giúp điều tra viên tìm được kẻ gây ra tai nạn càng sớm càng tốt. Nhân chứng cũng cho biết khi xảy ra tai nạn cả bãi đậu xe trong khu thương mại này chỉ có mình ông và nạn nhân. Nếu ông bỏ đi, nhà chức trách sẽ vô cùng khó khăn khi điều tra. Lúc đó, trời đã nhá nhem tối, xe gây tai nạn là một xe SUV, màu nâu hay đỏ xẫm. Tai nạn xảy ra quá nhanh mà người lái xe lại phóng đi ngay nên ông không kịp nhìn thấy bảng số xe.

    David ghi lại mọi chi tiết cần thiết kể cả số thẻ căn cước của nhân chứng, rồi để ông ta ra đi thong thả. Lúc đó đã có một số người hiếu kỳ đứng xa xa nhìn tới. David gọi điện thoại về trạm cảnh sát để báo cáo. Tức thì có hai xe cảnh sát khác tới ngay. Các nhân viên cứu thương đặt xác nạn nhân lên một chiếc băng-ca, rồi phủ kín từ đầu đến chân bằng một tấm vải trắng, đẩy băng-ca tới sau xe cứu thương. Khi cửa xe cứu thương vừa mở ra, David bỗng thấy xác chết ngồi nhỏm dậy. Anh thốt kêu :

    “Ồ, còn sống !”

    Một cảnh sát viên đứng cạnh hỏi lại :

    “Mày nói gi ? Ai còn sống ?”

    David chỉ tay về phía xe cứu thương, đáp :

    “Nạn nhân chưa chết !”

    Cả hai cảnh sát viên mới tới cùng nhìn về phía xe cứu thương, rồi lại nhìn David với vẻ mặt ngơ ngác, hỏi :

    “Mày nói gì lạ vậy ? Nạn nhân nào chưa chết ?”

    Vừa lúc đó, các nhân viên cứu thương đóng cửa xe, rồi sửa soạn cho xe chạy. David  chớp mắt mấy cái, nhìn kỹ lại, chỉ thấy xe cứu thương chớp đèn đỏ, từ từ rời khỏi bãi đậu xe. Một cảnh sát viên mới tới nhìn David đăm đăm hỏi :

    “Bộ mày mới uống rượu hả ?”

    David lắc đầu :

    “Không, tao chưa uống một giọt rượu nào. Rõ ràng tao thấy nạn nhân ngồi dậy…”

    Người bạn cảnh sát nói đùa :

    “Tao cũng rõ ràng thấy mày say. Cô ta chết thật rồi, đâu có sống lại được nữa. Mày say nên hoa mắt tưởng cô ta sống lại. Này, say rượu thì phải lái xe cẩn thận đấy.”

David cãi :

“Tao không say…Nhất đinh tao không say vì từ đêm qua tới bây giờ tao không uống một giọt rượu nào, kể cả bia”

David có một cuộc sống rất điều độ, chừng mực. Anh chỉ uống một lon bia

sau giờ làm việc, trong bữa ăn tối, rồi đi ngủ ngay. Chắc chắn anh không hoa mắt khi nhìn thấy nạn nhân ngồi nhỏm dậy, bước khỏi băng-ca. Bây giơ thì không thấy gì nữa. Chính anh cũng bắt đầu nghi ngờ đôi mắt mình. Hay tại anh mệt mỏi quá sau một ngày làm việc vât vả ? Anh đã từng phải đuổi theo kẻ gian len lỏi trong các con đường đông xe. Anh cũng đã phải đáp ứng lời kêu gọi của các bạn đồng nghiệp đến giúp họ bắt một tên cướp xe có súng…Nhưng so với nhiều ngày khác cũng có gì mệt nhọc hơn đâu. Anh vẫn cảm thấy khỏe mạnh và bình tĩnh.

    Khi xe cứu thương và hai cảnh sát bạn bỏ đi rồi, David còn phải đợi thêm một lát nữa mới thấy xe của sở vệ sinh đến quét dọn nơi vừa xảy ra tai nạn. Sau hết, anh vừa định lên xe về trạm cảnh sát làm báo cáo thì lại trông thấy nạn nhân lảng vảng trước mũi xe của anh. ..

    “Thế là thế nào ?” David lẩm bẩm tự hỏi. “Cô ta còn sống hay đã chết ?”

    Bỗng anh nghĩ đến chuyện ma quỷ hiện hình. Anh cũng thấy hơi rờn rợn. Bất giác, anh để tay vào báng súng. Nhưng anh lại thấy ngay sự vô lý của mình. Anh chưa thấy ai dùng súng bắn ma bao giờ. Thật ra, bóng ma chỉ lởn vởn xa xa, không hề có ý tấn công anh mà cũng không trêu chọc anh. Vì thế, anh lấy lại bình tĩnh ngay. Anh lên xe, sửa soạn rời khỏi bãi đậu xe. Anh mở đèn trước mũi xe sáng hơn, không thấy bóng ma đâu nữa.  Nhưng khi anh đã ra khỏi bãi đậu xe, định quẹo trái để về trạm cảnh sát, bóng ma lại xuất hiện. Nó ra hiệu cho anh đi về phía tay mặt. Anh ngạc nhiên và phân vân. Anh tự hỏi có nên đi theo bóng ma hay về trạm cảnh sát vì anh cũng sắp hết giờ làm việc, đã thấm mệt sau một ngày vất vả, muốn được nghỉ ngơi. Nhưng anh lại tò mò muốn biết bóng ma sẽ dẫn anh đi đâu ? Có một điều anh tin chắc rằng bóng ma không có ý hại anh. Nó chỉ có vẻ khẩn khoản muốn anh đi theo nó.

Suy nghĩ thêm một vài giây, David quyết định quẹo tay mặt vì một phần tò mò, một phần không muốn làm ma thất vọng. Con đường vắng vẻ, không có đèn, anh liền mở đèn pha để trông rõ bóng ma hơn. Nhưng trong vùng cực sáng của hai ngọn đèn, anh không còn trông rõ bóng ma nữa, chỉ thấp thoáng như ẩn như hiện. Anh nhấn ga cho xe chạy nhanh hơn xem có đụng phải nó không. Nhưng lúc nào nó cũng giữ một khoảng cách nhất định.

Bóng ma đưa David chạy quanh co qua mấy con đường vắng và tối om, rồi rẽ vào một khu có đèn hai bên đường. Anh giảm tốc độ và tắt bớt đèn.xe. Bóng ma vẫn ở phía trước. Anh nhìn nó chăm chú để xem nó chạy hay bay hay đi thong thả. Nhưng anh không xác định được. Nó không có một cử động nào, chỉ lơ lủng, cao hơn mặt đất một chút. Ðã nhiều lần anh tự hỏi anh có ảo giác không ? Rõ ràng có một cái bóng trước mặt, xa không xa mà gần cũng không gần. Anh đã thử chớp mắt nhiều lần mà không xóa nhòa cái bóng lờ mờ đó.

Rồi David rẽ vào một khu nhà cho thuê, bãi đậu xe có đèn sáng. Bóng ma ngừng lại bên cạnh một chiếc xe SUV đã cũ.màu đỏ xẫm, nước sơn đã bị tróc nhiều chỗ. Anh nhớ lại lời mô tả của nhân chứng duy nhất: “Ðó là một chiếc xe SUV màu nâu hay đỏ xẫm…” Bây giờ thì David hiểu rõ ý định của bóng ma. Anh ngừng xe và mở cửa, đi về phía bóng ma. Khi anh đến sát xe SUV thì không thấy bóng ma đâu nữa. Anh nhìn quanh, nhưng không tìm ra bóng dáng người đàn bà Á Ðông xấu số. Anh đi vòng quanh chiếc xe và nhận ra ngay cái cản phía trước, bên tay mặt, bị móp khá nặng. Anh chiếu đèn bấm để xem xét kỹ chỗ bị móp. Anh thấy có vết máu chưa khô. Rõ ràng xe mới gây tai nạn. Anh ghi bảng số xe, rồi gọi về trạm cảnh sát để hõi lý lịch của chiếc xe, đồng thời xin thêm người hỗ trợ. Chỉ trong vòng một phút, anh nhận được trả lời, cả tên chủ xe và sơ lược những chuyện xảy từ khi hắn có bằng lái xe. Hắn đã có thành tích hai lần chạy quá tốc độ và một lần lái xe trong khi say rượu. Nhà của hắn ở tầng lầu 3 trong khu nhà cho thuê này. Hắn mới ngoài 30 tuổi và làm công nhân cho một hãng thầu xây cất.

David vừa định đi vào khu nhà cho thuê, một cảnh sát viên khác đã đến hỗ trợ cho anh. Người bạn đồng nghiệp chưa kịp hỏi han gì, anh đã kể sơ qua tai nạn mới xảy ra trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán cách đây mấy dặm. Anh cũng cho biết anh nghi người chủ xe SUV này là thủ phạm gây ra tai nạn ấy. Người bạn đồng nghiệp liền hỏi :

“Làm sao mày tìm ra cái xe này và nghi chủ nó là người vừa gây ra tai nạn chết người ? Những dấu vết này chưa đủ chứng cớ để buộc tội nó.”

David hơi lúng túng vì anh biết rằng chẳng ai có thể tin anh đã được bóng ma hay chính  hồn ma của nạn nhân hướng dẫn đến đây. Anh đáp lững lờ :

“Tình cờ đến đây, cũng tình cờ thấy xe này. Mới chỉ nghi ngờ thôi…Mình cứ lên gặp chủ xe xem sao.”

Người bạn gật đầu :

“Lắm khi nghi mà lại đúng. Cũng nhờ may mắn.”

Trong thâm tâm, David đã tin chắc chủ xe là người vừa gây ra tai nạn rồi bỏ chạy. Không lẽ bóng ma lại chỉ bậy, oan cho người khác.

David gõ cửa nhà số 317. Anh và người bạn đồng nghiệp không phải đợi lâu. Cửa hé mở và một khuôn mặt đàn bà ló ra hỏi :”Muốn gì ?” David ôn tồn đáp :    “Chúng tôi là cảnh sát, muốn gặp ông Michael Wright để hỏi ông ấy mấy điều.”

Người đàn bà liền trả lời xẵng :“Ðang ngủ !”, rồi định đóng xập cửa lại ngay, nhưng David đã kịp thời để một chân vào bên trong ngưỡng cửa. Lần này anh ra lệnh :

“Mở cửa rồi đánh thức Mike dậy.”

Nghe giọng đanh thép và nghiêm nghị của David, người đàn bà lưỡng lự một vài giây, rồi đành mở rộng cửa. Hai cảnh sát viên bước vào nhà trước vẻ mặt cau có, bực mình của nữ chủ nhân. David giải thích :

“Chúng tôi đang điều tra một tai nạn “đụng rồi bỏ chạy” làm chết một người cách đây hơn một tiếng trong bãi đậu xe của một trung tâm buôn bán.”

David thoáng thấy vẻ hoảng sợ trong đôi mắt của người đàn bà. Nhưng mụ lấy lại được bình tĩnh ngay, cãi :

“Chồng tôi đi làm về sớm, ăn uống xong là đi ngủ ngay.”

Người bạn của David lên tiếng :

“Chúng tôi cũng chỉ muốn hỏi chồng bà mấy câu thôi. Không có gì quan trọng hết.”

Người đàn bà rụt rè :

“Nhưng anh ấy ngủ say lắm….”

David nghiêm nghị :

“Ngủ say cũng phải gọi dậy bằng được. Ðây là một chuyện rất cần, không thể trì hoãn được.”   .   

Trước khi bước vào nhà trong, người đàn bà nhìn David bằng đôi mắt tức giận, hậm hực. David theo bén gót mụ. Khi cửa phòng ngủ vừa mở, anh ngửi thấy ngay mùi rượu nồng nặc trước khi nhìn thấy một người đàn ông nằm ngủ trên giường với cả quần áo đi làm. Trong bụng, anh càng tin Mike là người vừa gây tai nạn. Người đàn bà nhìn chồng bằng đôi mắt nửa bực bội nửa lo lắng, giữ im lặng. David ra lệnh :

“Kêu nó dậy !”

Mụ đàn bà tỏ vẻ phân vân, vẫn đứng yên.

David chợt nghe tiếng nói lớn của người bạn đồng nghiệp ngay sau lưng  :    “Ðánh thức nó dậy !”

Có lẽ vì lệnh ra với một giọng hách dịch, nghiêm nghị, người đàn bà vội tuân theo. Mụ lay chân chồng :

“Dậy đi ! Dậy đi ! Có cảnh sát tới kìa.”

Người chồng chỉ ú ớ mấy tiếng, vẫn nhắm nghiền hai mắt, rồi trở mình ngủ tiếp. Người bạn của David bước ngay vào phòng, đến bên người đàn ông, đập thật mạnh lên vai hắn, quát lớn :

“Dậy ! Cảnh sát !”

Người đàn ông giật mình, tỉnh ngủ ngay, ngơ ngác nhìn quanh. Người vợ liền giải thích :

“Cảnh sát đến hỏi anh về một tai nạn xe hơi.”

Người đàn ông ngơ ngác hỏi :

“Tai nạn nào ? Tôi đâu có biết.”

David bước đến bên cạnh giường, ôn tồn đáp :

“Ông Wright, đó là một vụ đụng rồi bỏ chạy trong bãi đậu xe của một khu thương xá.”

Hắn lắc đầu :

“Tôi có đụng ai đâu.”

Cảnh sát viên thứ hai đề nghị với David :

“Mình nên thử nghiệm xem độ rượu trong máu hắn ngay lập tức….Tốt hơn hết là mình tạm thời đưa hắn về trạm cảnh sát.”

David đồng ý ngay nên ra lệnh cho Michael Wright sửa soạn đi theo anh. Lúc này, Michael đã tỉnh ngủ hẳn và bắt đầu hiểu ra sự rắc rối của cơn say rượu. Nhưng hắn vẫn nghĩ hắn không đụng ai hết.

David gọi về trạm cảnh sát để báo cáo sơ qua cuộc điều tra đang được anh và người bạn tiến hành. Cuối cùng, anh xin cho xe đến kéo chiếc xe SUV của Michael về đồn làm tang chứng.

Sau đó, mọi chuyện xảy ra êm thắm trước đôi mắt lo sợ và buồn bã của vợ Michael Wright. Mụ đi theo chồng xuống bãi đậu xe, nhìn thấy cái cản của xe chồng bị móp và có vết máu, mụ giật mình hoảng sợ, trố mắt nhìn chồng, không thốt nên lời. Người bạn của David đưa Michael về trạm cảnh sát trước, còn David phải đợi xe trục đến kéo chiếc xe SUV đi.

Khi còn lại một mình, anh vào xe ngồi. Bỗng anh lại thấy bóng người đàn bà Á Ðông thấp thoáng trước mũi xe. Anh liền bật đèn phía trước để nhìn cho rõ. Nhưng cái bóng vẫn chỉ lờ mờ, thấp thoáng. Trong vòng nửa phút bóng ma lại biến mất. Anh tắt đèn để xem nó có trở lại không, nhưng anh chờ hoài cho đến lúc xe trục tới cũng không thấy bóng ma hiện ra nữa.


                X X

                                            X


David chọn một bộ quần áo thật đẹp và chiếc cà vạt màu xẫm để đến nhà quàn. Lâu lắm anh mới có dịp “đóng bộ” như thế này. Có lẽ một năm chỉ có vài ba lần thôi. Hôm nay, anh đến nhà quàn để đưa tiễn nạn nhân của vụ đụng xe rồi bỏ chạy. Ðúng ra, anh đến cảm ơn cô ta đã giúp anh bắt ngay được thủ phạm. Chỉ trong vòng có mấy tiếng đồng hồ, nội vụ được giải quyết xong xuôi. Michael Wright thú nhận đã uống rượu trong một quán ăn của khu thương xá trước khi về nhà. Lượng rượu trong máu hắn quá gấp hai lần lượng rượu cho phép một người được lái xe. Vì say quá hắn không biết mình đã gây tai nạn chết người nên cứ chạy thẳng về nhà. Mới chiều hôm qua người ta đã có kết quả thử nghiệm vết máu trên cản xe của hắn. Ðúng là máu của nạn nhân, một người đàn bà Á Ðông. Mọi người đều tỏ vẻ ngạc nhiên không hiểu tại sao David lại đến đúng  khu nhà cho thuê, tìm đúng chiếc xe gây tai nạn. Anh nói thật là chính bóng ma của nạn nhân đã hướng dẫn anh tới đó. Nhưng đa số không tin lời anh, cho là anh nói giỡn, chỉ có mấy nữ đồng nghiệp tò mò hỏi thêm chi tiết. Anh không giấu diếm, kể lại mọi chuyện, từ đầu đến cuối.

Nhờ thành tích này, David được cấp trên khen ngợi. Anh dò hỏi nhân viên nhà xác của bệnh viện đã đưa nạn nhân vào xét nghiệm, nên được biết hôm nay là ngày cho thân nhân nhìn mặt người chết lần cuối cùng ở nhà quàn. Người ta cũng cho anh địa chỉ nhà quàn đó.

Những người trong gia đình nạn nhân tỏ vẻ rất ngạc nhiên khi David ngỏ ý muốn nhìn mặt người chết. Họ là những người Á Ðông, nhưng anh không biết họ là người Tàu, người Nhật hay người Triều Tiên…Họ mời anh ghi tên và ký vào một cuốn sổ. Có lẽ thấy tên anh lạ hoắc, họ tỏ vẻ phân vân như muốn hỏi một điều gì, nhưng lại rụt rè không dám. Họ lịch sự đưa anh đến bên quan tài. Ðó là một cô gái còn trẻ và khá xinh đẹp. Cô nằm nhắm mắt như đang ngủ, mặt có một lớp phấn hồng và đôi môi được tô son. David đặt một bông hồng lên ngực người chết, nói thật nhỏ như nói thầm với người chết:

“Cảm ơn cô. Nhờ cô, tôi đã bắt được thủ phạm gây tai nạn.”

Bỗng anh thấy người chết mỉm cười, nhưng nụ cười chỉ thoáng trong mấy  giây rồi biến đi ngay. Anh liếc nhìn người đàn ông đứng cạnh, nhưng dường như ông ta không nhìn thấy gì.

Khi anh cáo từ, người đàn ông đưa anh ra tận cửa, rồi rụt rè hỏi :

“Ông với cô ấy quen nhau như thế nào ?’

David đáp ngay :

“Tôi chỉ biết cô ấy sau tai nạn.”

Người đàn ông mở to đôi mắt nhìn anh, tỏ vẻ không hiểu anh nói gì,  đùa hay thật ? Không muốn mất thì giờ giải thích dông dài, anh lịch sự bắt tay ông ta, rồi thong thả bước đi.

Khi đứng giữa bãi đậu xe vắng vẻ, David nhớ lại nụ cười rất mơ hồ trên đôi môi đỏ thắm của nạn nhân nằm trong quan tài, rồi phân vân tự hỏI :”Cô ấy cườI thật hay mình trông lầm ? Hay chỉ là ảo giác? NgườI Á Ðông vẫn có cái thần bí riêng của họ, mình không sao hiểu nổi.”

Tạ Quang Khôi
4 tháng 9, 2005

Những Người Mỹ Bị Bỏ Quên



Fourth of July fireworks behind the Washington Monument, 1986.jpg        
Ngày lễ Độc lập của Mỹ, mồng 4 tháng 7, hay July 4 là  ngày nghỉ lễ được hưởng lương. Đây là ngày nghì thường rớt vào một cuối tuần dài. Và người Mỹ có dịp đốt pháo bông, đi chơi ngoài trời, bãi biển, mua hàng giá giảm. Nhưng cũng là cơ hội để người Mỹ suy ngẫm về ý nghĩa lịch sử của ngày 4 tháng 7. Đối với Người Mỹ gốc Việt, July 4, năm 2013 này là July 4 thứ 38 với một dân số khoảng 1 triệu 400 ngàn người công dân Hoa kỳ trong xã hội Mỹ. Trên một phương diện chánh trị, ngoại giao nào đó của chánh quyền Mỹ, có hàng triệu người Mỹ bị bỏ quên. Những người Mỹ bị bỏ quên đó không ai xa lạ. Đó là chúng ta, những ngưòi Mỹ gốc Việt. Những người Mỹ gốc Việt đến Mỹ trong cuộc di tản trước và sau khi Saigon bị cưỡng chiếm ngày 30 tháng 4 năm 1975. Đến trong phong trào di tản do Mỹ rước, tiếp theo là phong trào Thuyền Nhân dùng thuyền nan vượt đại dương đánh động lương tâm người Mỹ và cả Nhân Loại nữa. Và tiếp theo là các chương trình Nhân đạo sau đó như HO, ODP. Hầu như những người Việt tỵ nạn CS này, tất cả đã vào quốc tịch Mỹ và trở thành công dân Mỹ được Hiến Pháp, luật pháp Mỹ bảo vệ như bất cứ công dân Mỹ nào của đệ nhứt siêu cường Mỹ này.

Đó cũng là con cháu của chúng ta những công dân Mỹ sanh trên đất Mỹ, được giáo dục từ khi chào đời bằng văn hoá, lối sống Mỹ, trên phương diện pháp lý được quyền ứng cử tổng thống Mỹ như Ô. Bush, và Obama nếu muốn. Người bỏ quên người Mỹ gốc Việt cũng không ai xa lạ. Đó là những người trong chánh quyền nhứt là ngành ngoại giao Mỹ; đó chánh yếu là Tổng Thống Bill Clinton. Ông là người đã chủ trương ký kết Hiệp ước bình thường hoá bang giao với Cộng sản Hà nội. Ông Clinton cũng là vị Tổng Thống Mỹ đầu tiên trở lại Việt Nam, sau Chiến tranh VN, đến Hà nội kêu gọi để quá khứ phiá sau, hướng về tương lai phía trước, và vô Saigon ăn phở với vợ con. Và sau đó phát triễn giao thương với Thương Ước cứu nguy sự sụp đổ của CS Hà nội sau khi CS Hà nội mất trọn gói viện trợ hào phóng của CS Liên xô do Liên xô đột quị. Hành động quay 180 độ của chánh quyền Clinton Mỹ về bang giao cũng như về giao thương với cựu thù, được các nhà tài phiệt và chánh trị chuyên nghiệp, cực kỳ thực dụng Mỹ sơn lên một lớp sơn để ít xốn con mắt. Mỹ được trao trả hài cốt tử sĩ, được tìm kiếm quân nhân mất tích. CS Hà nội “chuyển hệ tư duy”, “đổi mới”  kinh tế “theo định hướng xã hội chủ nghĩa” để họ có lý do nói dùng kinh tế chuyển đổi cấu trúc, cơ cấu chánh trị của CS Hà nội.

Nhưng thử thách hơn thập niên cho thấy, lý luận của khuynh hướng hoà giải hoà hợp với CS Hà nội là không tưởng. CS Hà nội cần tiền Mỹ, khen thích xài đồ Mỹ tốt, cán bộ đảng viên trở thành lãnh chuá, tư bản đỏ ở thành thị, cường hào ác bá đỏ ở nông thôn. Còn nhân dân VN vẫn còn là lớp người nghèo khổ, đất nước VN trở thành một trong mười ba nước nghèo nhứt thế giới và tham nhũng nhứt Á Châu. Giai cấp trung lưu là lớp người Mỹ tin có thể làm thay đổi chế độ độc tài đảng trị CS, phát triễn ở đâu không thấy. Mà chỉ thấy nhóm quyền lợi đặc biệt đại gia ăn theo CS giàu lên. Còn các  tôn giáo, trí thức, đồng bào thường bị đàn áp nghiệt ngã hơn vì CS Hà nội sợ việc mở cửa “diễn biến hoà bình”. Tự do tôn giáo, tự do dân chủ, nhân quyền đâu không thấy, mà chỉ thấy bắt bớ, tù đày, đàn áp đến đồi sau cùng, TT Bush phải đặt chế độ CS Hà nội vào sổ bìa đen, là một trong 8 nước quan ngại đặc biệt vì vi phạm tự do tôn giáo (CPC) trên thế giới.

Và người Mỹ gốc Việt bị rơi vào một tình thế bất đắc dĩ, một cổ đôi tròng. Dù rất mực kính mến một vị tổng thống vi tiện xuất thân và thành đạt như TT Clinton, người Mỹ gốc Việt cũng không thể không qui trách TT Clinton đã vô tình hay cố ý xô người Mỹ gốc Việt vào thế kẹt lớn  khi có chuyện trở về VN. Ông bỏ quên người Mỹ gốc Việt sanh ngoài nước lẫn trong nước bằng cách không hành động. Trong Hiệp ước bình thường hoá bang giao giữa Washington và Hà nội do thời Ô. Clinton  làm Tổng thống Mỹ, Ông đã hoàn toàn không đề cập đến quyền lãnh sự là quyền mà chánh quyền Mỹ đòi hỏi nhà cầm quyền có hiệp uớc bang giao với Mỹ phải thông báo cho đại diện ngoại giao Mỹ trong thời hạn trễ nhứt là 72 tiếng đồng hồ khi bắt một công dân Mỹ. Quyền này xuất phát từ nhiệm vụ căn cơ nhứt của chánh quyền Mỹ -- vì dân, do dân, của dân --  từ đó có nhiệm vụ quan trọng, là  phải bảo vệ công dân mình ở nội địa cũng như ở ngoại quốc.

Nhưng TT Bill Clinton chính là vị Tổng Thống Mỹ tỏ ra bất động, im lặng một cách khó hiểu và đáng sợ. Khi bất động như vậy, TT Clinton đã mặc thị tước đoạt quyền công dân Mỹ của người Mỹ gốc Việt chúng ta và con cháu chúng ta. Ông và những nhà ngoại giao thay mặt cho Ông không đề cập, không đặt vấn đề, không đặt điều kiện việc bảo vệ công dân Mỹ đối với CS Hà nội tại VN khi chủ trương, thương thảo, ngoại giao ký kết và thực hiện Hiệp ước tái lập bang giao với CS Hà nội.

Cho rằng tỷ lệ sắc tộc Việt trong dân số hiệp chủng Mỹ không đến 2%, một vị tổng thống Mỹ cũng không thể hy sinh quyền lợi thiểu số ấy được. Tinh lý của dân chủ là đa số nắm quyền nhưng không hy sinh thiểu số.

Trái lại CS Hà nội thì khác. Họ triệt để giữ khư khư, không nhượng bộ một ly nào về quyền hạn đối với người Việt trong cũng như ngoài nước. Bộ luật quốc tịch VN Cộng sản vẫn khăng khăng qui định, người Việt nào chưa được giấy phép của Chủ tịch Nước từ bỏ quốc tịch VN, vẫn là công dân VN, dù đã vào quốc tịch bất cứ nước nào. Hà nội không chấp nhận song tịch, mà xác quyết người Việt có quốc tịch nước ngoài vẫn là người còn quốc tịch VN, do luật quốc tịch của Hà nội chi phối. Họ còn triệt để hơn nữa khi áp dụng luật này cho những người con trai, con gái sanh tại ngoại quốc, vẫn thuộc phạm vi chi phối của Bộ Luật Quốc tịch CS Hà nội. Tức là, những người trẻ sanh tại Mỹ, con cái của cha mẹ có quốc tịch Mỹ, Pháp, v.v... vẫn là “con dân” của CS Hà nội.

Phải chăng TT Bill Clinton vì muốn đi vào lịch sử, trở thành vị Tổng Thống Mỹ đầu tiên trở lại VN, khép lại trang sử Chiến tranh VN, nên đã không hành động – hành vi bất động -- mặc thị tước đoạt quyền được luật pháp Mỹ bảo vệ ở ngoại quốc.Trong nhiều trường hợp tội không hành động vẫn bị trừng trị bởi lương tâm, đạo đức, luật pháp như tội hành động.

Thế cho nên, hậu quả điển hình, khi người hùng Lý Tống dùng máy bay rải truyền đơn chống CS ở Saigon, ra toà, luật sư Mỹ, tham vụ ngoại giao Mỹ xin dự sự, Tòa CS không cho, viện thẩm quyền đối nhân dù, Lý Tống lúc bấy giờ là công dân Mỹ, đã tốt nghiệp đại học Mỹ, nhập tịch Mỹ, đã được cấp thông hành màu xanh, con ó trắng, cấp thẻ an sinh xã hội con ó xoè cánh.

Hành  vi bất hành động bảo vệ công dân Mỹ gốc Việt của TT Bill Clinton đưa đến nhiều hậu quả tai hại cho nhân thân, tài sản, quyền tự do căn bản ghi trong Tu Chánh Án số 1 của Mỹ, khi có chuyện phải về VN. Toà Đại sứ Mỹ không thể bảo vệ người Mỹ gốc Việt ở VN như ở Pháp, Trung Cộng, hay Á căn đình. Vì  Hiệp ước bình thưòng hoá bang giao với CS Hà nội không có đề cập đến quyền lãnh sự của  Mỹ -- đòi hỏi CS Hà nội thông báo cho Mỹ khi bắt người Mỹ gốc Việt ở VN, đòi hỏi CS Hà nội phải thông tri hồ sơ khi hỏi cung, chấp nhận luật sư Mỹ có mặt khi bị hỏi cung ngưòi Mỹ gốc Việt, như đối với hiệp ước bang giao Mỹ với các nước khác. Nói khác, ngưòi Mỹ gốc Việt vẩn còn là “con dân” của CS Hà nội, do luật pháp xã hội chủ nghĩa của CS Hà nội chi phối và Toà án Nhân dân của Đảng, Nhà nước CS Hà nội xử đoán. Tưởng khi về VN có quốc tịch Mỹ, có thông hành Mỹ khi bị CS bắt, Mỹ sẽ can thiệp được là, một sai lầm ./.


 Vi Anh 

---

Nước Mỹ ăn mừng Ngày Độc Lập 2013
– Ngày 4-7, hàng triệu người dân khắp 50 bang, tiểu bang nước Mỹ đã tổ chức lễ kỷ niệm 236 năm ngày Độc lập nước Mỹ.
Lá cờ nước Mỹ và những chú chim bồ câu bằng giấy xuất hiện nhiều trong ngày Độc Lập nước Mỹ 4-7
Lá cờ nước Mỹ và những chú chim bồ câu bằng giấy xuất hiện nhiều trong ngày Độc Lập nước Mỹ 4-7.
Khắp các tuyến đường, từng dòng người đã tham gia lễ diễu hành cùng với cờ, hoa trong suốt một ngày. Đến tối 4-7, tại các địa điểm lớn diễn ra những màn bắn pháo hoa.
Trong dịp lễ trọng đại này, một lá cờ Mỹ nặng 240kg, rộng 16,1m, dài 23,7 m đã xuất hiện tại bang New Jersey. Lá cờ đã được bay lên tại Viện Kỹ thuật Stevens tại Hoboken, New Jersey.
Những đoàn xe ngựa tham gia diễu hành tại bang Texas trong suốt ngày Độc lập nước Mỹ
Những đoàn xe ngựa tham gia diễu hành tại bang Texas trong suốt ngày Độc lập nước Mỹ.
Pháo hoa bắn lên từ đài tưởng niệm Arlington, bang Virginia ngày 4-7
Pháo hoa bắn lên từ đài tưởng niệm Arlington, bang Virginia ngày 4-7.
Lá cờ nước Mỹ bay giữa làn sóng pháo hoa đánh dấu Ngày Độc Lập
Lá cờ nước Mỹ bay giữa làn sóng pháo hoa đánh dấu Ngày Độc Lập .
Lá cờ lớn nhất nước Mỹ có mặt tại Viện Kỹ thuật Stevens tại Hoboken, New Jersey
Lá cờ lớn nhất nước Mỹ có mặt tại Viện Kỹ thuật Stevens tại Hoboken, New Jersey.
Các em thiếu nhi cũng tham gia cưỡi ngựa diễu hành
Các em thiếu nhi cũng tham gia cưỡi ngựa diễu hành.
Ông cụ đeo lá cờ tưng bừng chào mừng ngày Độc lập Mỹ
Ông cụ đeo lá cờ tưng bừng chào mừng ngày Độc lập Mỹ.
Trẻ em nước Mỹ tưng bừng ngày lễ Độc lập
Trẻ em nước Mỹ tưng bừng ngày lễ Độc lập.
Các đầu bếp chuẩn bị nấu nướng tại nhà hàng của Nhà Trắng trong ngày 4-7
Các đầu bếp chuẩn bị nấu nướng tại nhà hàng của Nhà Trắng trong ngày 4-7.
Người dân khắp 50 bang, tiểu bang nước Mỹ tưng bừng ngày lễ trọng đại của đất nước

Hình ảnh lá cờ Mỹ xuất hiện khắp nơi. Có cả những lá cờ khổng lồ
Hình ảnh lá cờ Mỹ xuất hiện khắp nơi. Có cả những lá cờ khổng lồ khiến bé gái này ngạc nhiên.

Cõi đời thiên hạ giấc u minh



      






Gần nửa thế kỷ không hẹn mà gặp, bạn cũ trường xưa bên kia biển nhẹ cánh phiêu bồng từ Úc ghé thăm. Nói cho ngay với bạn vào một thuở xa xưa cùng chung một mái trường, nhưng cách một vách lớp nên nét mặt, dáng người chỉ mờ nhân ảnh sau lớp bụi nhân gian. Và rồi hai thằng ngồi ngoài vườn nhìn những chiếc lá vàng lác đác, u hoài với bóng câu qua song cửa, thấy cũng nên khui chai rượu tương phùng, mong hòa nhập cùng đất trời trong một ngày cuối đông đầy thê lương và ảm đạm…
        Bất chợt trong cơn mê chiều với say người, say tình. Bạn búng tay một cái “tách” kéo tôi ra quán chợ để có những giây phút yên sĩ phi lý thuần trong một ngày trời đất vần vũ, đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu, làm dăm cái hồ trường để…xa vắng, vắng xa.
        Nón lá áo tơi ra quán chợ
        Trơ vơ trên bến nước sông đầy
        Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
        Chén rượu men lành, lạnh ngón tay

        Ôn lại những ngày mưa gió cũ

        (Nguyễn Bính)

       Ôn lại những ngàycùng âm hưởng của người xưa vọng về như gọi đò sang sông, qua men nồng kể lể của bạn thì chỉ nhăm phút là…hết chuyện, là mất hút đằng cuối phố. Nghe xong, một thóang như chuyện cũ của bạn thuộc trường phái cổ điển, tình bỏ ta đi, ta buồn trong hoang lạnh với mười năm tình cũ...Gợi nhớ, nếu có chút hơi hám của chữ nghĩa không ngòai như định mạng đã an bài, nay đã nổi trôi bồng bềnh vào quá vãng. Và tôi nhìn mái tóc rồi một ngày tóc trắng như vôi của bạn, để chợt cảm hoài cùng thế sự du du hề một cuộc bể dâu, nhân kiếp phù sinh hề một thóang bạch câu.
       Cũng trong bữa tiệc tẩy trần khác cuối tuần, đúng nghĩa đen là nhậu tới bến, nhậu mênh mông ở cái nơi chốn sì sọap cắm đầu…ăn, đỏ mặt tía tai ngửa cổ…uống rất trần tục ấy. Bỗng dưng không đâu tôi chợt có một ý nghĩ hay là hãy đốt lò hương cũ qua vài ba trang giấy, như một món quà tao ngộ với bạn?
       Bạn nhìn tôi, lắc đầu buông thõng một tiếng gọn lỏn: “Không”.

       Bạn về, thì cứ cho là…như một chuyện tình đi, cũng khăn gói gió đưa về theo bạn. Tôi trở lại một ngày như mọi ngày với cái nợ áo cơm, chẳng có gì để quên với nhớ…

       ***
       Năm sau, vào một buổi tối, một thằng bạn cũ trường xưa khác từ Sài Gòn điện đàm qua cho hay bạn mới về thăm quê nhà. Tôi hỏi bạn đâu mới hay bạn đã đâm đầu về Bắc Ninh…Rồi thằng này cũng nhấm nhẳng đeo đuổi quá khứ vị lai của bạn với tôi cùng thế sự du du hề một cuộc bể dâu với ngày nào năm đó: Rằng hai thằng cùng chung một lán ở trại cải tạo và bạn sống cũng như chết qua cơn bệnh ngặt nghèo, bò không nổi, lết chẳng xong. Ngỡ rằng chẳng chóng thì chầy bạn sẽ đi về cõi u minh, nên được tống tiễn về sớm. Bạn mò được về đến nhà thì nhân kiếp phù sinh hề một thóang bạch câu như Từ Thức về trần với phòng không cửa trống để chẳng thấy…vợ của bạn đâu.
       Và qua điện thoại, thằng bạn Sài Gòn cho tôi hay vợ bạn là…con gái Hòang Cầm.

       Chuyện đời thường trên tôi cũng đã được nghe kể qua bạn, qua cái buổi chiều sầu nghiêng mái quán mưa tong tả, chén rượu men sành lạnh ngón tay năm ngóai. Nhưng ngày ấy bạn chỉ đập bể kính ta tìm lấy bóng và không cho tôi hay vợ bạn là con gái của nhà thơ Hòang Cầm. Buông cái máy nói viễn liên xuống, tôi bật ra ý nghĩ hay là hãy đắp chữ vá câu một truyện ngắn khi không nó “…đâm đầu về Bắc Ninh” để…đi tìm vợ.
       Và rồi tôi đuỗn người phân vân: Ủa, vợ con ông Hòang Cằm là ai và vào Nam khi nào”. Đang rối mù, lục lọi trong kho chữ, tôi moi ra được một bài viết có tựa đề Đi tìm người con gái trong vở kịch thơ của Hòang Cầm của tác giả Ngữ Yên:

“...Ông có nhiều bài thơ hay như: Bên kia sông Đuống, Lá diêu bông… Ngoài ra người ta biết đến ông với vở kịch thơ Người Điên, ông là một trong những tác giả khởi sự nền kịch thơ Việt Nam những năm 1945. Thời kháng chiến ông cùng nhà biên kịch Hoàng Tích Linh lập ra đoàn kịch Đông Phương vào đầu thập niên 40 gồm Tuyết Khanh là vợ Hoàng Cầm, Trúc Lâm, Phạm Duy, Ngọc Bích… Vở kịch vì cuộc kháng chiến, chỉ diễn ba ngày. Nội dung với nhân vật chính là Kiều Loan, người khuyến khích chồng ra đi đánh đổ nhà Nguyễn để phục hồi nhà Tây Sơn, nhưng người chồng chạy theo Nguyễn Ánh, nàng giả điên vào thành Phú Xuân đi tìm chồng, sau đó tự vận chết trong tù…

Người đóng vai Kiều Loan không ai khác hơn chính là vợ nhà thơ: nữ kịch sỹ Tuyết Khanh. Bà đi theo ông ra vùng kháng chiến ông đổi tên vợ là Kiều Loan, do đó sau nầy có cái tên khác là vở kịch Kiều Loan. Lúc đó người vợ có thai, nên ở lại vùng trung du và ông lên đường đi lưu diễn. Trong bữa cơm đạm bạc chia tay ở phố Nỉ, Bắc Giang, nhà thơ không ngờ đây là lần cuối cùng ông không còn gặp lại vợ con. Suốt từ năm 1948-1954, bà nhiều lần viết thư cho Hoàng Cầm nhưng bặt tin và đứa bé ra đời bà đặt tên là Bùi Thị Kiều Loan, vì Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt sinh năm 1921.

Hiệp định Genève, Kiều Loan mẹ bế con di cư vào Nam sống, lúc ấy Kiều Loan con khoảng 6 tuổi. Đến năm 1968 cô  lấy chồng ở Sài Gòn. Năm 1975, Hoàng Cầm vào Nam tìm vợ con, nhưng người vợ đã di tản sang Mỹ. Và chỉ còn cô con gái ở lại, đến năm 1982 thì Kiều Loan con cũng sang Mỹ đoàn tụ cùng mẹ.

Năm 1983, trong một buổi đi chơi, tình cờ Phạm Duy gặp mẹ con Kiều Loan. Trong căn gác nhỏ chung cư nghèo nàn, Phạm Duy nghe lại những bài thơ của Hoàng Cầm và tận mắt nhìn lại hình bóng Kiều Loan ngày nào trong vở Người Điên.
Bà Tuyết Khanh đọc lại những bài thơ mà thi sỹ tặng bà năm 1945.
Anh đã về đây gặp lại mình
Cõi đời thiên hạ giấc u minh
Níu tay cười xuống hoàng hôn cũ
Vớt mắt em về bến hoá sinh…

Tiếp  đến là cô con gái Hoàng Cầm tên Kiều Loan ngâm tiếp:
Khanh ơi!
Thể xác hiu hiu bụi
Nắng dãi hoe vàng
Em ở đâu?

      ***
      Từ bài viết của tác giả Ngữ Yên trên, từ chi tiết “…Năm 1975 thống nhất, Hoàng Cầm có vào Nam tìm vợ con…”. Sau đó với nhiễu sự của đi tìm người, tôi túm tó được một bài viết khác có tên Câu Hát Tìm Nhau của một tác giả khuyết danh. Thế là của người phúc ta, tôi nhồi nhét vào truyện ngắn của tôi với…ẩn dụ “lão Tuất” là nhà thơ Hòang Cầm, “Hai Xuân” là bà Kiều Loan và nhân vật xưng “tôi” là tác giả của bài viết ấy:

       “…Tôi gặp lão lần đầu trong quán thịt chó của bà Tư béo, nơi tôi đến bỏ rượu gạo hàng chiều. Lão xuất hiện với bộ dạng một người lỡ đường, tay bị, tay mũ cối, gương mặt rỗ hoa lấm tấm bụi đường và mồ hôi. Tưởng lão là người ăn xin, bà Tư đuổi như đuổi tà:
- Đi ra! Để người ta bán, đừng có hãm tài.
- Tôi tận Hà Bắc vào đây tìm người quen. Bà cho tôi hỏi... bà có biết người này.

o chìa ra mảnh giấy bọc ép nylon như thẻ căn cước, ghi dòng chữ: Hai Xuân, người Bắc Ninh, có chồng tên Tuất. Sau 1975 có...
- Mơ hồ thế có trời biết! Không đường, không số nhà... Già rồi lẩm cẩm. Con cháu không sai đi tìm. Thôi đi chỗ khác…
Bà chủ quay ngoắt, dềnh ngang bộ mông núng nính đi vào bếp.
Thương hại lão, tôi gợi chuyện:

- Thế  bà Xuân người như thế nào?
- Cô ấy người dong dỏng. Trắng tươi. Hát hay. Xinh đẹp.
Bàn thịt chó bên cạnh nhao lên:
- Ồ ! Cháu lão hả? Bao nhiêu tuổi?
- Cô ấy thua một tuổi?
Quán ven đường bỗng òa vỡ tiếng cười.
- Thế thì "cố" chứ "cô" gì! Tụi này tưởng bở bố ạ! Cỡ ấy ra nghĩa địa tìm dễ hơn.
- Mà cố Xuân là gì của lão? - Gã để râu xồm xoàm vừa nhai vừa hỏi.
- Xưa cô ấy là bạn hát quan họ của tôi.
- Lão vượt đường dài ở tuổi này để tìm một bạn hát xưa già khú đế à?
- Vâng.
- Trời ơi... là trời... ở mô rớt xuống ông ngố đa tình như ri hở trời! - Gã giọng Huế cùng bàn cúi gập người rên giữa một tràng cười. Còn hỏi tiếp:

- Lão ơi, có khát  tợp ít ngụm... Kiếp sau yêu cho dài ngày rộng tháng.
Để thưởng câu nói mà gã tự cho là ý vị ấy, ngửa mặt lên trời, ném điệu nghệ một miếng dồi chó vào miệng, nhai nghiến ngấu, tợp một ngụm rượu, khà một tiếng khoái trá.
- Ngoài tôi, chỉ có món xào và rựa mận là để bát đĩa. Còn các món khác đựng trong lá tất... Ăn bốc mới đúng điệu. Đột ngột lão góp ý.
- Mở đầu được đấy ! Mần ly rượu nói tiếp đi!


Câu chuyện xoay quanh chó: cách chọn chó, nấu chó, ăn chó... Lão sành đến nỗi những cái mặt đỏ gay, những cái miệng bóng nhẫy đều quay về phía lão hóng chuyện. Bà chủ đang há hốc miệng nghe lão bày cách chế biến từ bảy món cầy cơ bản thành mười món hoặc hơn nữa. Bà Tư đích thân bưng đến đặt trước mặt lão để mong thụ giáo. Lão giải thích hễ lão cầm đũa là phải ăn no mới thôi. Cái thứ này hễ ăn là say, ăn mãi... ăn thì phải đúng điệu với bạn tri ân để say còn khóc cười cho hả...
Bà chủ lên tiếng: “Dò tìm một cố Xuân nói giọng Bắc, vấn khăn, biết hát quan họ không khó. Tui sẽ nhờ anh em... sẽ để lão ăn thịt chó thỏa thuê không lấy tiền... với điều kiện lão giúp tôi tiếp khí sắc cho quán, phải có ngón nghề đặc biệt mới kéo khách về mình...”


Quán thịt cầy của bà Tư béo từ độ có  lão bỗng đông khách hẳn. Thịt bao giờ cũng lớn bùi, bé mềm, cả tơ cả cứng cho đủ vị  cuộc đời. Lá sen, lá dong riềng, lá chuối được thay đĩa men, thơm điếc mũi. Buổi tối quán tắt đèn điện thắp đèn cầy ăn thịt cầy... âm âm u u thế mà gọi mời đáo để. Những câu chuyện về đời, về chó của lão dưới ánh nến bao giờ cũng khiến khách ăn cảm thấy bữa rượu thịt đậm đà. Bọn họ gọi lão là "lão Tầm Xuân". Đôi khi quán rôm rả hẳn lên khi lão nhếch nhác bước vào. Họ hát ong ỏng đón lão: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em đi lấy chồng anh tiếc lắm thay. Già rồi tiếc vẫn chưa nguôi. Xắn quần anh lội suối, khòm lưng anh vượt đèo...”.

Có hôm qua men rượu, họ lại đem lão ra giải buồn. Họ đổi những tin “dỏm” về cố Xuân bằng những câu chuyện khi thì cố Xuân ở tận bên làng biển An Hải, mù vì khóc lão. Khi thì ở trên Hòa Khánh, điếc đặc, suốt ngày ho sù sụ... Có lúc bọn trẻ kéo vào quán một bà già nghễnh ngãng, ré lên: "Lão Tầm Xuân ơi, cố Xuân đây nè!". Bà già chửi te tua còn bọn chúng cười hô hố. Chỉ có lão không nói một lời. Tôi có cảm tưởng có cái gì nặng hơn chiếc lá khô vỡ tan tành trong lòng lão. Ôi lão Tầm Xuân! Lão tìm trong cuộc đời nước chảy mây trôi như một hình bóng của ký ức thì tìm sao đặng? Những cuộc "gặp" ấy để lại trong lòng lão dư vị cay đắng. Lão ngồi uống rượu suông, mắt mờ đục như có khói và lão hát. Lão hát hay lắm. Hay đến nỗi có lần tôi phải chở vợ đến nghe. Nàng đứng ở ngưỡng cửa nghe lão hát bài ruột:
"Khi tương phùng, khi tương ngộ. Xuôi lên bộ, văng vẳng tơ tình. Em biết đến bao giờ gặp mặt, sau đền duyên ba sinh".


Khó tưởng tượng một giọng hát say đắm ngọt ngào dường kia lại thoát ra từ một lồng ngực hom hem phô  những giẻ sườn. Vợ tôi bảo không phải lão hát mà tình yêu lão hát. Nàng nhận xét: đằng sau vẻ ngù ngờ, xấu xí, già nua kia là một trái tim thực có một cô Xuân dong dỏng,, hát hay, xinh đẹp trên đời. Cô Xuân ấy không bao giờ già, không bao giờ xấu, không bao giờ chết trong lão! Sau lần nghe lão hát và những câu chuyện tôi kể về lão, vợ tôi bỗng trở nên “ái mộ” lão. Nàng bảo tôi chở lão đến nhà chơi và bị lão “mê hoặc” như cả quán cầy tơ của bà Tư béo qua những bài quan họ. “
Sớm đi chơi hội, tối về quay tơ. Dải yếm phất phơ. Miếng trầu, mồi mốc. Miếng ăn, miếng buộc. Miếng gối đầu giường. Muốn tìm người thương. Tìm đâu cho thấy?”...


Bếp nhà ấm áp khi có lão. Lão mơ màng kể cho chúng tôi nghe những ngày hội Lim, những liền anh áo the khăn xếp, liền chị thắt lưng hoa lý, yếm đào con nhạn, mắt lá răm lúng liến hát thâu đêm. Tôi ngồi nghe lão tả những làn điệu quan họ đắm say miên man dìu dặt và yêu cầu lão hát nhưng thường lão lắc đầu. Lão bảo hát quan họ phải có đôi, có bạn, có chỗ. Ký ức lão còn giữ nguyên vẹn những ngày hội quê lão: Hội làng, Hội Xuân, Hội mùa... Trai gái hát chèo, đánh đu, cờ người...
- Lão gặp cố Xuân ở những ngày hội đó à?
- Vâng. Đó cũng là ngày hội quan họ, cả vùng như ngấm men say, phát cuồng vì hội lễ. Năm ấy anh cu Rỗ là tôi tròn 18 tuổi, được cử vào bọn quan họ làng để luyện giọng thi hát với bọn quan họ làng bên kia sông. Nhà tôi ba đời hát quan họ. Tôi luyện trên dưới 200 giọng, thế mà khi hát đôi với cô ấy tôi run. Tâm hồn tôi lơ lửng không đặt hết vào lời. Cô ấy là tiên quan họ. Ngày xưa cô Tấm cũng đẹp thế là cùng! Giọng hát sóng sánh. Mắt đen lóng lánh. Môi cắn chỉ đỏ thắm. Cần cổ như cuống hoa huệ... Tôi say, say lời hát, say cô ấy, quên cả ngón ruột phải tung ra vào phút chót để thắng dứt điểm. Cuộc thi kéo dài đến ba ngày. Tiếng trống dứt mới giật mình ngơ ngẩn. Dĩ nhiên tôi thua..

        - Đa tình thế sao không lấy?
- Lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời hát. Kết nghĩa quan họ như kết nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời mình mà có khi còn đến đời sau. Làng tôi có nhiều cặp quan họ khi đầu bạc răng long, tình yêu trong câu hát xưa vẫn không tàn. Có dịp gặp nhau trên chiếu quan họ, họ lại sống lại thời xuân sắc. Anh em kết nghĩa quan họ gặp nhau, đến thăm nhau, ăn uống, vui chơi, ca hát với nhau. Mỗi bên có chuyện vui buồn đều tổ chức đi lại thăm viếng. Rồi cô ấy cũng phải đi lấy chồng. Tôi đau lòng hát miên man...


Mắt lão bỗng mơ màng xa vắng. Rồi một giọng hát trẻ trung đằm thắm da diết cất lên: "Ăn quả nhãn lồng. Ước sao người ấy tôi bồng trên tay...”. Không phải lão Tầm Xuân tóc bạc da mồi hát mà anh cu Rỗ tóc đen như mun, da mầu đồng, có giọng hát Trương Chi hát! “Cô ấy hiểu lòng tôi, chú ạ!” Lão lại ngưng hát, kể: Tôi hát bài "Khi tương phùng, khi tương ngộ" ngang nửa bài thì cô ấy xen ngang, hát tiếp: "Bạn tình ơi! Em biết đến bao giờ họp mặt sánh đôi...Trước không phải, sau đền duyên ba sinh". Chúng tôi cắt câu quan họ làm đôi, mỗi đứa giữ một nửa. Hẹn kiếp sau chắp lại. Sau đó là chiến tranh... Câu quan họ tan tác trăm phương. Tôi tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, khi hòa bình lập lại, tôi về làng thì nghe cô ấy đã theo chồng... nghe nói vào Nam .

 
Rồi tuổi già đến. Già buồn lắm chú ạ! Cô đơn và bất lực. Chết không đáng sợ bằng tuổi già. Sống đến đó, người ta mới nếm tận cùng chén đắng cay của đời... Luật đời chú ạ! Già thì lụi tàn, phải chết. Một lần tôi ốm thương hàn, thập tử nhất sinh. Trong những cơn mê, tôi cứ nghe một giọng hát lảnh lót níu tôi lại trần thế: "Người về bỏ bạn sao đành. Người về em vẫn đinh ninh tấm lòng...". Giọng cô ấy! Chỉ có cô ấy mới có cái giọng la đà sát ngọn cỏ, cao vút chạm mây xanh, thầm thì luồn lách trong da trong thịt.... Sau lần ốm ấy, tôi nghĩ đến chuyện đi tìm cô ấy. Chính cô ấy níu tôi lại cuộc đời này. Tôi phải đi tìm nửa câu quan họ cắt đôi. Trẻ không lấy nhau được, già ở bên nhau, hát với nhau cho đỡ côi cút. Trước sau vẫn là bạn có gì sai trái đâu? Lão im bặt. Đôi mắt già nua chìm trong cõi vắng. Thời gian với lão chỉ là lớp bụi mờ. Gió thổi, bụi bay, dĩ vãng lại hiện ra nguyên vẹn trước mắt lão. Đêm ấy, lão hát miên man bên bếp lửa tàn. Một mình hát, một mình nghe, một mình mở hội đồi Lim, lúng liến, đắm say, chân tình lai láng.


***
Thế mà sau một tuần đi công tác xa về thì ra lão đã bỏ đi... Tôi cũng vô tình quên lão nếu không có lần gặp lại ở Hàng Xanh. Con hẻm em gái tôi ở vang lên tiếng rao lạc lõng: “Ai hàn xoong hàn nồi, mài dao mài kéo không...? Tiếp liền sau một giọng hát cất lên
:"Khi tương phùng khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình... thương nhớ sầu oanh, lẻ loi chim nhạn. Bạn tình ơi...”. "Ôi!". Lão. Lão chứ còn ai nữa. Không kịp xỏ dép, tôi chạy nhào ra hẻm gọi ơi ới: “Lão mài dao... lão Tầm Xuân". Lão quay phắt lại rồi ôm chầm lấy tôi mừng rỡ. Mới hai năm mà lão già thêm nhiều! Gương mặt chằng chịt nếp nhăn lỗ chỗ nốt rỗ như tấm gỗ mọt. Đôi mắt mờ đục, giọng hát khào khào. Lão mang lỉnh kỉnh dụng cụ hàm mài. Câu quan họ lầm lũi lạc theo, lạc lõng trong thành phố…


Chúng tôi tấp vào quán nước bên đường, ở đó tôi được biết vì sao lão bỏ đi đột ngột. Bà chủ quán thịt cầy cùng dãy với bà Tư béo bảo có gặp một bà người Bắc đi xin ở Gia Định biết hát quan họ và y hệt cô Xuân của lão. Thế là lão đi tìm nhưng không thấy...

Tôi định bụng khuyên lão trở về quê. Không ngờ lão cũng nói:
- May gặp nhau lần cuối... Tuần sau tôi về chú ạ. Tôi về để mười ba tháng Giêng tới dự hội Lim lần cuối. Hội Lim giờ đâu như xưa nữa... Nhưng tôi vẫn nghe tiếng trống vào hội giục giã lòng tôi. Tôi yếu rồi! Tôi đã nghe đất gọi Quê gọi, hẹn kiếp sau vậy...
Tôi nhìn lão, chiều tà dần trong đôi mắt mầu hoàng hôn.


***
Khoảng mươi hôm sau, con dao chặt thịt bị mẻ, em tôi nhắc:
- Không thấy lão mài dao kéo vào xóm. cái lão thật lạ, không lo kiếm khách chỉ lo hát. Người già cũng lạ! Trại dưỡng lão em làm có một bà già nhập trại ba năm không nói một lời, tưởng câm, khi gần chết hóa ra biết hát. Cái giọng na ná như lão mài dao.
- Đâu? Bà ấy ở đâu? - Tôi chụp tay nó.
- Ở trong, sắp chết rồi. Mà anh hỏi làm gì?


Tôi kéo áo nó, bắt nó chở đi rồi tôi sẽ  giải thích. Dọc đường tôi kể vắn tắt chuyện lão Tầm Xuân đi tìm nửa câu quan họ. Tôi linh cảm đó là cố Xuân.
- Ba năm trước, gương mặt tràn trề nhân ái dẫn bà ấy vào trại. Ông ta bảo với Ban quản đốc ông ta thấy bà già cơ nhỡ, ngủ trước hiên nhà nên thương xót dẫn giúp vào đây. Ba năm ở đây, bà ấy sống lặng lẽ như bóng không hề nói, nằm quay mặt vào vách. Nhưng cách đây một tháng, dường như không nén được nỗi đau đớn, bà ta khóc rống lên: "Hắn là con tôi, cái thằng dẫn tôi vào đây chính là con tôi". Mấy hôm nay bà ta hát... không ăn, không uống... chỉ phều phào hát... Em tôi kể.


Bây giờ  nằm trước mặt tôi là bà cụ tóc trắng như  bông vấn vành khăn nhung đã sờn, mỏng như giấy, mặt vàng, hơi thở dốc... "Dong dỏng, trắng tươi, hát hay, xinh đẹp..." Hình hài ấy không còn nét nào giống lão Tầm Xuân tả. Thời gian cho, thời gian lấy hay tôi đã lầm? Tôi định lui ra nhưng chiếc lá khô ấy bỗng khẽ khàng động đậy. Rồi từ lồng ngực thoi thóp hơi tàn, phều phào những tiếng, lời rời rạc. "Bạn tình ơi! Duyên bén ngãi, trước không phải... sau đền... duyên... ba sinh".
- Đúng rồi! Cố Xuân đây rồi! Tôi reo to giữa những gương mặt già nua ngơ ngác - Lão Tầm Xuân ơi! Nửa câu quan họ đây rồi. Lão tìm ba năm, nay biết tìm lão ở đâu.


Bà cụ mấp máy môi hát, âm sắc yếu dần... yếu dần... Nhanh trí, tôi nắm lấy bàn tay còn xương với da ấy và tôi lập lại lời hát của lão Tầm Xuân: "Khi tương phùng, khi tương ngộ, xuôi lên bộ văng vẳng tơ tình..." Giọng hát vụng về thô ráp như đọc của tôi cất lên, và lạ lùng thay, nó tựa những giọt nước cành dương diệu kỳ... Mí mắt bà lão động đậy, ngực phập phồng rồi giọng hát yếu ớt cứ rõ dần hòa với cái giọng vịt đực ồ ồ của tôi. Những bà già trên nền nhà lập tức ngồi dậy. Những đôi mắt mờ mờ đục chất ngất nỗi buồn và bất hạnh bỗng háo hức như mắt trẻ con.


Tôi lập tức đạp xe đi quanh vùng Gia Định tìm lão Tầm Xuân nhưng bóng lão bặt tăm... Hình như lão đã về quê rồi. Em gái tôi góp ý nhắn lão trên tivi. Mẩu tin kỳ  quái được nhắc lại hai hôm: “Lão Tầm Xuân! Đã tìm ra nửa câu quan họ. Đến gấp trại dưỡng lão số 3, đường... Mau lên kẻo không kịp".


Không kịp thật. Cố Xuân hắt ra hơi thở cuối cùng, lão vẫn bặt tăm. Chiếc xe tang đưa cố đến lò thiêu. Không một vành khăn, không dòng nước mắt. Có lẽ giờ này lão Tầm Xuân đang lê bước trở về. Nửa câu quan họ lầm lũi theo lão... Chơi vơi... Chơi vơi...”
       (Hết)

        ***
        Đất khách quê người, buổi sáng ngồi ngòai vườn nhìn mây bay gió thổi, tôi chẳng thấy trời xanh, mây tím, nắng vàng đâu mà nhìn thấy…con chim cu đất quê nhà đơn côi trên sợi giây điện. Mà cái giống này cũng lạ, chỉ đậu trơ trọi một mình, cất tiếng  “..gù..gù.. “ gọi…bạn tình nghe đến buồn tênh, làm tôi cũng vương vấn lây, bồng bềnh lãng đãng với nhớ nhà trong điếu thuốc, khói huyền bay lên cây….      
        Như vung vãi ở trên, tôi đã lậm với tiếng hát quan họ qua thơ cụ Hòang Cầm để gần gũi với đất quê, gió quê vi vút gọi, man mác đồng chiều cuống rạ, ẩn hiện là một thóang hương xưa với những người con gái Bắc Ninh, để tôi đậm đà với mảnh áo tứ thân hoa gụ, giải yếm thắm mầu mạ non, tay cầm nón quai thao lặng lờ đứng trông nắng vãn ven sông. Ai chẳng có lúc thả hồn theo mây khói, vì vậy mặc dù chuyện đã dàn dựng từ lâu. Lúc này tôi bật ra cái ý tưởng là đẩy đưa hai vợ chồng bạn gặp nhau lại trong một chiều bên bến vắng, với tình ơi tình rằng:
Bắc Ninh cho đến Phủ Từ
Qua cầu sông Nhị, ngẩn ngơ tìm người
Tìm người chẳng biết mấy nơi
Tìm ba mươi sáu phố thấy người ở đây

       Rồi thì tôi dàn trải tàn cuộc binh đao, sau bao tháng năm xa xứ, thằng bạn tôi về lại quê nhà. Đất quê lành lắm, trồng gì lên nấy, hai vợ chồng nó rồi ra sẽ có mảnh vườn, bờ ao, chuồng lợn, đàn gà, lũ vịt và chẳng thể thiếu vắng bóng dáng thằng cu, cái hĩm.
        Và khúc cuối của bài viết của một chuyện tình có hậu. Tôi sẽ thu vén, chắt chiu:
        Người ơ! Người ở đừng về
        Người về em sẽ khóc thầm
        Em nắm vạt áo ướt dầm như mưa
        Người ơi! Người ở đừng về

        ***
        Mà tôi có biết Bắc Ninh với quan họ hồi nào đâu, có cho ăn gan giời tôi cũng chẳng dám lêu bêu xa hơn. Vì vậy tôi gửi bài viết đang dang dở sang bên Úc nhờ một thằng bạn đời gấm ghé nó: Một là dọ dẫm nó qua bài viết. Hai là gãi ngứa nó cho nhăm tình tiết Người ơi! Người ở đừng về…về quê vợ làng Lim nó. Thằng bạn đời điện đàm to nhỏ rằng: “Mày nhắc đến Kiều Loan, nó sụt sùi rơi nước mắt. Thế nào nó cũng…ới mày”. Tôi chột dạ: Bố khỉ sắp to chuyện đây! Sắp bị bắt cóc bỏ điã để mắng vốn là cái cẳng!.

        Một ngày giời đi vắng, nó ới tôi thật và kể chuyện về…phố Lý Quốc Sư thăm ông bố vợ Hòang Cầm mới chướng. Nó hí hửng khoe mẽ, ông cụ dạo này khỏe ru, sáng bắn ba-zô-ca ầm ầm, chiều chống ba-toong khơi khơi. Tôi nhủ thầm: Mẹ kiếp, thằng này vào Nam 54, cao tay lắm là mười tuổi…như tôi, thì xin lỗi: Cụ nhà nó chứ! Chứ nó biết khỉ gì về bậc tiền bối như cụ Hòang Cầm với…dạo này,…dạo nọ cùng nàng tiên nâu với cây gậy chống trời. Nó lại xuống giọng thầm thì, khi về ông cụ đưa nó cái phong bì có nhăm chữ “Tặng con rể yêu qúy của bố ”. Nó nói nó rất…”bức xúc” khi đọc đến dòng chữ này và nhắc tôi hai lần về câu viết…”ấn tượng” ấy. Nó ra ý rằng mặc dù vợ nó đã em ra đi mùa thu, mùa thu không trở lại, nhưng ông cụ vẫn xem nó như…rể hiền.
       Không lẽ trong phong bì lại có…tiền. Nhưng ấy là chuyện sau.

       Cụ nhà nó chứ! Chứ hiền thì nó chẳng hiền chó gì, vì ai chẳng biết nó cũng một thời là dân áo liền quần, lấy cái khu trục làm cái…quan tài bay. Thấy nó phấn chấn quá thể, tôi khều khều nó là muốn vặn vẹo với chuyện tình chết, tình buồn của nó năm nào nón lá áo tơi ra quán chợ. Nó ậm ừ…thôi cũng được. Nhưng đợi cái đã…
       Đợi tuần sau nó cho biết nó “điện” cho cụ Hoàng Cầm với ý đồ của tôi và cụ nói: “Cứ để cậu ấy viết xem sao”. Nó tiếp giọng yếu sìu rằng tôi ôn lại những ngày mưa gió cũ gì cũng xong tất. Rồi nó buông một câu chết người: “Mày cứ chôn hai đứa tao chung một lỗ với…mồ yên mả đẹp là xong tất ”. Tôi sững người, vặn óc nghĩ không ra và cho là…cái thằng hâm hâm, dở người. Nói cho ngay cũng nhờ câu nói gở của nó, tôi vay mượn câu thơ của cụ Hoàng Cầm: Cõi đời thiên hạ giấc u minh để đặt tên bài viết này.

       Là kẻ hậu sinh, được cụ ngỏ nhời như cởi tấm lòng, thế là tôi mặc sức cho nó theo chân cụ Hoàng Cầm đi tìm vợ con một dạo ở Sài Gòn qua bài viết Câu hát tìm nhau. Nhờ tiếng con chim cu gáy “gù..gù” tôi bật ra cái cốt truyện, dựa dẫm con chim cu trên giây điện vườn nhà là…con cu đực. Vậy là tôi đưa nó tìm em như thể tìm chim, chim bay biển bắc anh tìm biển đông và rồi cũng gặp một chiều bên bến vắng, để trông nước nước chẩy, trông bèo bèo trôi. Tôi dẫn nó về tìm người chẳng biết mấy nơi, tìm ba mươi sáu phố thấy người ở đây. Bố khỉ! Nó chẳng…thấy người ở đây: Vì nó đi lạc mới chuế!
       Cỏ hoa lạc lối trong cõi dương gian với u mê ám chướng thì mai này tôi sẽ đưa nó đi gặp người cõi âm qua “đồng cô bóng cậu”. Để cho nó mãn nhãn cậu bắn súng lục, cậu bơi thuyền rồng cho bài viết có chút hơi hám tâm linh, tâm thần, kỳ bí,…kỳ nhân:

        “…Đến thăm ông bố vợ chưa một lần gặp mặt, ông cụ ân cần tiếp nó như một đứa con đi xa trở về. Về chuyện vợ nó, bên bàn thuốc phiện, cụ nói, không hẳn là cụ muốn dấu diếm này kia mà nói cho cùng chẳng ai biết gì hơn là bấy lâu nay vợ nó biệt tăm ở mạn đồi Lim, chẳng bén hơi về đến Hà Nội…Hóa ra nó đi lạc cũng phải thôi.

       Cũng từ chuyện đi lạc ở ba mươi sáu phố phường tôi ngộ ra con lộ của chữ nghĩa: Rằng tình tiết phải đi với nhau như…đi bộ vậy. Ngoài ra, nhập thế tục bất khả văn tự thì theo Kinh xuân thu của cụ Khổng Khâu ở bên Tầu: “Thuật nhi bất tác”. Tạm hiểu nôm là truyện viết chỉ là chuyện kể chứ chẳng phải sáng tác quái gì. Có Tầu có Ta, đục câu đẽo chữ theo Nguyễn Công Hoan cùng thời với cụ Hoàng Cầm thì viết truyện là…”bịa”. Nhưng phải bịa qua chuyện có thật. Thật quá thì thô. Vì vậy phải…bịa như thật. Khó thế đấy! Lập thân tối hạ thị văn chương là thế đó! Nhưng nó đâu có hiểu vậy cho tôi nhờ .

        Thế nhưng chẳng hẳn là bịa tạc, vì trở về lại căn nhà 43 phố Lý Quốc Sư, cụ đang ngồi ở bàn với cái điếu bát. Bắn một bi thuốc lào ròn tanh tách xong, cụ lững lờ gần xa về cái lệ của 49 làng quan họ là “làng quan họ nghĩa”, họ coi cha mẹ của bạn như cha mẹ mình, những ngày vui buồn đều đi lại thăm hỏi nên trai gái chẳng được lấy nhau, lửa gần rơm cũng có ngày cũng bén, để rồi sinh lắm chuyện…”vạn sự bất như ý”. Cớ sự này tôi cho là nó cũng biết, vì tôi đã vay mượn qua bài viết của tác giả khuyết danh ở trên: Chuyện là lệ quan họ những đôi trai gái đã kết bạn quan họ không lấy nhau. Tình yêu có nảy sinh thì cũng gửi thương gửi nhớ qua lời hát. Kết nghĩa quan họ như kết nghĩa anh em, được cha mẹ hai bên, dân hai làng chấp nhận. Tình bạn ấy chân thành, thủy chung, thắm thiết không chỉ đời mình mà có khi còn đến đời sau.

       Qua khói tương tư thảo, cụ thở ra với thân phận con phù du mà quê cụ gọi là con vờ vờ, quạnh quẽ bên bờ ao sớm nở tối tàn, sống với nước ao tù rồi cũng chết trong váng ao tù. Bà vợ kế Lê Hoàng Yến vừa góp chuyện vừa quẹt mắt giọt ngắn giọt dài về chuyện cô đồng Bắc Ninh…Nghe hơi nồi chõ sau lần cô vồ ếch ngã lăn cù đập đầu vào cái chum cà pháo, tỉnh dậy, cô như người cõi trên, rằng có thể nhìn thấy hồn ma đi theo người ta và nếu khúc ruột nối dài nếu chịu…chi có tư cách, hiểu theo nghĩa nếu…củ chi thật khống, cô có thể phởn phơ…hầu chuyện với hồn ma ấy nữa.

        Nó ngờ ngợ có chuyện “bất như ý” đã sẩy ra, cụ lắc đầu, rít một hơi thuốc lào sòng sọc, chậm rãi nhắc lại chuyện một người con gái tên Vinh, hơn cụ tám tuổi, cô cũng là người dậy hát quan họ ở phố huyện. Một lần cụ rình cô khuất sau một bụi cây dại với cái thú thứ nhất quận công thứ nhì ị đồng. Cụ đang nhìn trộm bỗng cô ta ngẩng lên bắt gặp, cô lúi cúi ngắt cái lá…để làm cái chuyện…hậu sự của tha nhân. Rồi đứng lên, nhìn vào cụ và nói: “Chị tìm cái lá…”. Cụ không nhớ lá gì vì lúc ấy mới mười hai tuổi. Và chỉ biết là…lá cây dại. Vào một đêm năm 1959, cụ chợt tỉnh giấc, thao thức không ngủ được, trong im ắng, bỗng nghe bà hàng xóm văng vẳng ru con “Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng…”. Cụ bật dậy, lấy bút chì và tập giấy ra ghi chép, ký ức người con gái ngòai đồng mươi năm trước lại hiện ra. Và gần nửa mảnh đời người xưa…dại dột của cụ đã đi tìm hạnh phúc cho riêng mình…như không có thật.

         Nên cụ đặt tên bài thơ đầu đời là…là…Lá dại:
Từ  thuở ấy…
Em cầm chiếc lá
Đi đầu non cuối bể
Gió  quê vi vút gọi (?)

        Cụ thấy…Lá dại không có “cơ sở văm hóa” cho mấy. Từ “d” của “dại” cụ đổi qua “diêu”. Từ cụ Ngô Không trong Chữ nghĩa làng văn thi `”hoa” là chữ Việt mới. Chữ Việt cổ là “bông”. Thế là cụ lúi húi…gọi hai câu kết:
Diêu bông hời
Ới diêu bông…!

        ***
        Về đến khách sạn, mở phong bì nó thấy một tờ giấy có đoạn viết tay của cụ:

       “Bài thơ Lá diêu bông  sau này tôi viết tặng chị Vinh. Nếu biết tôi tặng, chắc chị cũng ngậm ngùi…Chị lấy chồng. Chị Vinh và chồng có một cô con gái, nhưng hai người đã chia tay. Anh chồng bắt mất cô con gái. Vì vậy chị vào Sài Gòn ở với mẹ, hai mẹ con bán hàng tạp hóa, cuộc sống cũng chẳng khá giả gì…”. 
       Tờ giấy gấp đôi, nó mở ra: Một bên là bài thơ. Một bên là…lá diêu bông.
       Hóa ra ông bố vợ nó vào Nam chẳng phải Kiều Loan mẹ, Kiều Loan con. Mà là “chị Vinh”…không có thật. Nhìn cái lá diêu bông khô. Nó tự hỏi thật hay giả đây?

        Hôm sau lên Bắc Ninh gặp “đồng cô bóng cậu” xin lễ. Nhìn thấy “cô” nó ớ ra vì chẳng phải là…”cậu”. Nếu là “cô” thì cô có cái gì ấy lạ lắm. Mà lạ thật, cô nhướng mắt nhìn qua vai nó như muốn tìm kiếm ai, vừa lẩm bẩm một mình không ra tiếng, như nói chuyện với âm hồn nào đó đang vất vưởng sau lưng nó. Nếu là “cậu”, thì sao cậu lại …đánh phấn môi son. Thế nên nó hỏi tên cô cho ra lẽ. Cô cười ròn tan. Quay đi. Và nhấm nhẳng nói một mình: Hồn chịu về gặp anh giai rồi đấy, nhưng hồn đòi cái…đàn gáo”. Xong, cô đồng tất bật chạy qua bên kia xóm.
       Vừa chạy vừa nói với lại: Na.

       Nó ngớ ra vì tên gọi chẳng nói lên “cậu” hay “cô”. Ấy là chưa kể nếu là cô, thì cô có kiểu cười “ròn cười tươi khóc”. Ngoài ra cô có cách nói chuyện nhấm nhẳng. Bằng vào quay mặt đi, làm như không có nó trong cõi ta bà này, làm như cô đang lạc nẻo đường trần khiến trong cõi u u minh minh làm nó chẳng biết đâu mà lần. Đúng là của khôn người khó và không…giống ai thật! Còn lại một mình trong nhà vì…không có ai ngoài nó. Nó rợn người ngó quanh quất, chỉ thấy lạnh tanh vắng ngắt. Một lát sau cô cun cút khuân về một nghệ nhân dân tộc khọm trông thấy và tay xách cái đàn gáo…trông giống như…cái đàn bầu. Nó láo ngáo trong đầu với gáo là bầu. Cậu chẳng phải là cô. Bầu là gáo. Cô chẳng phải là cậu khiến mắt mũi nó rối loạn tiền đình muốn…khóc luôn. Muốn khóc thì nó thò tay vào túi quần tìm…napkin. Thì…thì nó mò được một trăm đô và kín đáo bó và phong bì. Nhìn thấy cái lá diêu bông!
       Nó chợt hiểu ra thật giả, giả thật, giả thật…tù mù vậy thôi.

       Cả ba ngồi xuống chiếu, nó ngáo ệch nhìn trước mặt cô là cái đĩa có cái chân gà khô quắt queo và hai đồng trinh. Cô loáy nhoáy thắp hương, khấn lâm râm một hồi lâu…lâu lắm. Bác khọm vừa lên giây đàn “..tách..tách..” vừa lừng khừng hỏi: Quan họ hay ca trù đây, hở nỡm”. Mắt bác hấp háy như muốn nuốt chửng cô đồng: Này, mèo mả gà đồng vừa thôi, gieo quẻ xin âm dương đi chứ, sốt cả tiết…nỡm ạ”. Cô đồng mở mắt thao láo, chũm môi mắng: Cái nhà bác phải gió này, thì đã bảo hồn chịu về hầu bóng với quan bác đây rồi mà”. Qua cái mũi, giọng mắng mỏ, nhất là cái mũi. Qua nhang đèn hương khói với tâm linh, linh cảm với cái mũi này: Nếu là “cô” thì cô đây có tính ngang như cua của…một người đàn ông…khác thường. Còn nếu là “cậu" thì cậu này có tính bướng như bứa của…một người đàn bà…khác lạ.

       Mà lạ thật, vì vừa lúc cô nhúm miệng cười với bác khọm: Bữa nay nhà bác là…tình nhân của tớ ấy nhá, sướng bỏ cha đi ấy nhá”. Bác thợ đàn ngáo ra vi chả hiểu gì sất. Nó cũng…không hiểu chết luôn vì cái chũm môi, cái nhúm miệng của cô như lúc nào cũng như muốn…cắn nó. Nhưng may quá là may, vừa lúc cô đồng mím môi, nhắm mắt, sì sụp khấn, đầu lắc lư như…lên đồng. Thấy vậy bác khọm vào nhịp “tích tịch tình tang”. Cô đồng cúi mặt xuống chiếu, bác búng dây đến “tách” một cái, nhịp phách giòn giã đun đẩy. Cô ngửng lên nhìn nó…trừng trừng và cất tiếng…làm nó giật bắn người lên, vì…
       Vì nó nghe y trang giọng…vợ nó:
       - Thằng Lưu bớt ho chửa?
       Bị hỏi bất ngờ, nó ớ ra:
       - Chưa…
       Vợ nó nhăn mặt:
      - Nhớ cho con uống thuốc.
      Vợ nó nhìn thẻ nhang đang tỏa khói, giọng trầm hẳn xuống:
      - Người ta vẫn thường về nhà phù hộ cho con và…nhà nó.
      Rồi vợ nó hỏi dồn:
      - Sao nhà nó chẳng cúng giỗ cho…người ta.

      Nó ấp úng trả lời là nào có biết vợ nó…”đi” ngày nào mà cúng giỗ? Vợ nó nói ngày tháng. Nó vừa rút bút giấy ra hý hóay ghi chép. Vừa hứa năm nào cũng sẽ cúng giỗ với rau muống xào tỏi chấm nước mắm chanh ớt, với đậu phụng rán chấm tương gừng.

       Cô đồng vẫn hướng về nó, giọng ảo não bi ai:
       Hờ…i i i
       Hôm nay (..ư.. ư..) xum họp trúc mai (..i..a..có mấy).
       Tình chung (..ư.. ư..) một khắc nghĩa dài trăm năm (..i.a..có mấy).
       Hờ…
       Sao Khuê một giấc mông mênh…ơ…
       Người đi hay ở, ơi người. Chỉ có một đời.

       Tiếp, cúi mặt xuống chiếu, giọng như lạc hẳn đi:
       Tử sinh, tử sinh, cái trò rỉ sén…ơ son sẻ…rỉ sén
       Hờ…ơ…à…ơ…
       Một trời thánh thót sương tinh…ơ…
       Thuyền ra vạn giặm…à…ơ…
       Thuyền ra vạn dặm chút tình khai ân.

       Cô đồng ngẩng đầu lên, mặt mày ráo hỏanh giảng giải: Ấy hồn đang theo bạn hát đấy, anh giai ”. Ngu lâu đần dai cách mấy, nó cũng hiểu ra “bạn hát” đây là “người tình” dưới âm của vợ nó. Rồi cô nhướng mắt và gật gật với bác thợ đàn như ra dấu. Bác khọm lật đật, lật đáy cái đàn ngang đùi, gõ “thùm…thùm…thùm” như thúc giục:
       Hồn lạc giang đầu. Hự.
       Sông mê nước chảy đôi dòng.
       Tử ly ấy đổ vào sông mê cuồng. Hự.
       Sóng cả này. Hung tợn.
       Hỏi ai…ai biết…ư…Hự.

      Cô đờ đẫn nhìn nó, thở dài: Cả hai là làng quan họ nghĩa với nhau, họ đi thuyền hát với quan anh, quan chị rồi thuyền chìm và cả hai chết đuối, tội nghiệp”.
       Quay về “người tình” hình nhân thế mạng là bác khọm. Cô đằm thắm thiết tha:
       Hồn tìm hương duyên.
       Đa tình réo rắt..ư…Đánh bồng.
       Mà rằng ối a là tình.
       Tình bồng mát tay…ư, mấy kiếp.
       Ư tình này là mằn mặn…ư đa tình.

       Cô đồng nói với nó: “Họ đang hát hỏng với nhau ở dưới đấy, anh giai.
       Người tình khọm điểm nhẹ tang trống ra dấu, cô vào nhịp ứ hự:
      Tán tụ này, cung bậc. Ôi a, khi tỏ khi mờ này. Ma trơi í a…
      Cao cung lên này. Tình bằng này tình ở. Ối a…là ai mong tình
      Ối a là ai mong tình này. Ối a hỏa…hỏa đàn…

       Cô đồng tay bấu cuống chiếu, tay phe phẩy cái quạt nan và quay về bác khọm, miệng lầu bầu: Ối a hỏa…hỏa đànĐã bảo ở dướ âm mà, nóng lắm”. Bác khọm như thiếu thuốc lá nên không nghe thấy, còng lưng búng giây bắt nhịp tiếng hát trầm bổng đuổi bắt nhau “tích tịch tình tang”. Mắt cô nhíu lại: “Hát ca là cái nghiệp, chẳng bỏ được đâu” và mặt quay đi, miệng nói trống không, như không có nó: “Hồn sắp thăng”.
       Vợ nó xòe hai tay về phía chồng, “người tình” khọm, như mời trầu giã bạn:
      Tình rằng…í…i…đa tình…
       Lúng liếng…ơi là lúng liếng..ơi..
      Xét tấm tình si;
      Lả lơi bên nói bên cười…

      Lúng liếng…ơi là lúng liếng..ơi..

Phí Ngọc Hùng

Bài Xem Nhiều