We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 5 July 2013

Lời Khẩn Cầu: Xin Đừng Giết Những Thai Nhi Vô Tội

MẸ ƠI! XIN ĐỪNG GIẾT CON

Hôm nay là một ngày buồn, tôi về thăm lại nơi chốn tôi đã lìa đời hơn tám năm về trước. Kia rồi, toà nhà cổ kính tường sơn màu vàng, nằm ẩn dưới những hàng cây cổ thụ, cành lá xum xuê. Một bức rào sắt cao hơn đầu người vây quanh khu khuôn viên rộng lớn. Phía trước, hai cánh cổng gỗ nặng nề chỉ đóng lại sau 9 giờ đêm, ban ngày lúc nào cũng mở toang, thấp thoáng bóng người ra vào vội vã. Cổng được gắn vào hai cái cột hình vuông, mỗi bên khắc một dấu thập đỏ. Trên cổng là một tấm bảng lớn kẻ hàng chữ " bệnh viện sản phụ khoa " màu trắng nổi bật trên nền sơn màu xanh lá cây. Phải, nơi đây là bệnh viện dành cho phụ nữ. Những người đàn bà mang thai vào đây là để sanh con, hoặc để giết con. Có những em bé may mắn được ra chào đời, và cũng có những em bé bị giết ngay khi còn trong bụng mẹ, tôi là một trong những em bé xấu số đó.
Nơi đây tám năm về trước, tôi đã bị chết một cách thê thảm. Người ta tàn nhẫn kéo tôi ra khỏi bụng mẹ, vứt tọt vào trong một cái chậu. Dao kéo làm da tôi rách một vệt dài, cú ném mạnh làm xương tôi gãy dập, tôi đau đớn quằn quại vài phút rồi xuôi tay. Có nhiều tiếng nói lao xao:
- Thai nhi coi trộng đến, chắc phải trên một kí.
- Ừ, để trễ quá, lẽ ra phải hoá kiếp cho nó sớm hơn.
- Coi xem trai hay gái?
- Con gái… Ý da! nó chưa chết, xem kìa! tim còn đập…
- Kệ nó mấy bà ơi! đừng nhìn, người nào nhìn sẽ bị nó bắt hồn đó.
- A di đà phật, tụi mình không thù oán, đừng bắt các chị nghe bé?
Nhiều tiếng cười rúc rích, rồi tiếng một người khác gắt khẽ:
- Làm việc đi! trễ rồi...
Người ta thản nhiên cười đùa, như đã quá quen với những cảnh này. Nằm trong cái thau nhôm lạnh giá, tôi còn thoi thóp thêm một lúc nữa rồi mới ngưng thở, máu trong người tôi chảy ra hết qua cái cuống rốn bị đứt lìa. Tôi thấy người nhẹ tênh và tôi dập dềnh bay lên, người tôi như mọc cánh, một đôi cánh trong suốt, dần dần tôi cũng trở nên trong suốt. Khi chết, người ta trở nên vô hình, nhưng vẫn nhìn thấy cõi hữu hình. Tôi thấy mẹ tôi nằm trên băng ca đang được người ta đẩy tới phòng hồi sinh, tôi thấy thân xác tôi nhỏ xíu, tím bầm, nằm trong cái chậu nhầy nhụa máu cùng với lá nhau, vật thể nối liền giữa tôi và mẹ tôi, vừa được người ta lấy ra từ cơ thể của bà. Tôi cũng nhìn thấy các cô y tá đang làm vệ sinh, lau dọn, sửa soạn cho một ca mới, lại một em bé không may nữa…
Hàng ngày có bao nhiêu em bé không may phải lìa đời một cách tức tưởi? những thân xác bé bỏng đó sẽ bị thiêu hủy cùng với những đống thịt thối rữa được cắt lìa khỏi những cơ thể bệnh hoạn hay gặp tai nạn: những cánh tay, cẳng chân, những lá gan bầm tím, những khúc ruột xình thối, những cái bướu ung thư… Cái đống thịt người đó bốc lên một mùi khăn khẳn, ai đi ngang cũng phải bịt mũi. Không muốn chứng kiến thêm, tôi buồn rầu bay đi...
Thương ơi! những bé thơ chết không một nấm mồ, linh hồn bé sẽ về đâu?
Không biết đi về đâu, tôi lang thang chỗ này, chỗ kia. Đôi khi tôi len lỏi, trà trộn vào những người sống, tôi đứng ngay cạnh họ mà họ không biết, nên vô tình họ đã để lộ chân tướng. Lại có lần tình cờ nghe được câu chuyện của một nhóm người đang bàn tán, âm mưu một việc làm phi pháp, tôi biết được những điều bí mật mà người đời không biết...
Tôi cũng thích ngao du đó đây, ngắm nhìn những cảnh đẹp. Có lần bay ngang một bãi biển vắng, tôi dừng lại để nghe sóng vỗ, và tôi nhìn thấy một cặp tình nhân đang hôn nhau. Họ còn trẻ lắm, cô gái chỉ chừng mười sáu tuổi, còn chàng trai chưa tới hai mươi. Tôi đứng ngay sát bên họ, nhưng họ không nhìn thấy tôi, hai người đang say mê ngắm cảnh hoàng hôn trên biển vắng, mặt trời từ từ chìm xuống đáy nước, chàng trai thủ thỉ với cô bạn những lời tình tự âu yếm. Lắng nghe họ nói chuyện, tôi mỉm cười, tình yêu sao mà đẹp quá, thơ mộng quá. Trời tối hẳn, gió càng lúc càng mạnh, sóng vỗ vào ghềnh đá nghe ầm ầm, đôi tình nhân đứng lên, nắm tay nhau đi về phía khách sạn ở gần đó, tôi theo sau họ, cách một quãng ngắn. Dáng điệu ngây thơ, rụt dè của cô gái khiến tôi hiểu đây là lần đầu tiên cô dấn thân vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm. Bây giờ họ đang đứng trước một căn phòng ấm cúng, bên ngoài trăng tỏ, bên trong có ánh đèn mờ ảo, có nhạc dìu dặt quyến rũ. Cô gái bỗng dừng chân nơi ngưỡng cửa, ngập ngừng không muốn vào, tôi vội vã chen vào giữa hai người, ghé sát tai cô, khuyên nhủ:
- Phải đấy, đừng vào, vào đây sau này cô sẽ hối hận đó. Và tôi dục, về đi, về nhà ngay đi! cha mẹ cô đang chờ.
Nhưng cô ta vẫn đứng im, tôi bèn nói với cả hai:
- Hai người trẻ tuổi ơi! tình yêu của tuổi học trò chỉ đẹp khi biết giữ cho trong sạch. Nếu các người chưa sẵn sàng đi đến hôn nhân thì nên dừng lại đi! đừng tiến xa hơn, đừng dẫm lên những vết chân lầm lỡ của cha mẹ tôi.
Tiếng nói của tôi tan vào tiếng gió rì rào, chẳng ai nghe thấy gì hết, tôi cố gắng nói lớn hơn, nhưng vô ích. Sau nhiều lần cố gắng nhưng không có hiệu quả, tôi chán nản bỏ đi. Ký ức của tôi quay trở lại thời gian tám, chín năm về trước, dạo đó cha mẹ tôi đều là những sinh viên rất trẻ, vừa mới đặt chân vào ngưỡng cửa của trường đại học Y khoa, tương lai đầy hứa hẹn, nhưng con đường học vấn còn dài. Họ đến từ hai thành phố khác nhau, gặp nhau nơi sân trường, rồi yêu nhau. Họ yêu nhau ròng rã gần cả năm trời, tình yêu càng ngày càng khắng khít, thân mật. Một đêm mưa gió, cha tới thăm mẹ nơi gác trọ, và ở lại không về…
Tôi vào đời ngay đêm hôm đó, cả hai người đều không ai ngờ tới. Nằm trong bụng mẹ êm ấm lắm, tôi thở bằng hơi thở của mẹ, tim tôi đập theo nhịp tim của mẹ, tôi sung sướng lớn lên trong cái nôi êm ái đó. Tôi yêu mẹ, cảm thấy như có một sợi dây thiêng liêng vô hình ràng buộc hai mẹ con. Còn trong bụng mẹ, mà tôi biết hết, những lần cha mẹ tôi tắm biển, tôi như " ngửi " được mùi nồng mặn của nước biển qua hơi thở của mẹ, tôi nghe thấy tiếng chim hót, tiếng sóng rạt rào, và cảm nhận được những tia nắng ấm thấm qua làn da bụng mỏng manh của mẹ. Những lần hai người dạo chơi trên những cánh đồng, ngắm phong cảnh đẹp, cha âu yếm nói với mẹ:
- Em xem kìa…
Tôi cố tưởng tượng ra bầu trời cao thăm thẳm, những thung lũng bạt ngàn, những cánh đồng hoa dại, những con suối, ngọn đồi xinh tươi, từng đàn chim trời… Nhưng không thể, bởi vì tôi chỉ là một thai nhi, thị giác của tôi chưa phát triển, nhưng tôi biết thế giới này đẹp lắm, và tôi nôn nao mong đợi cái ngày được ra chào đời.
Tôi được ba tháng, mẹ mới báo tin cho cha, tôi hồi hộp chờ nghe xem ông nói gì, cha tôi không mừng như tôi tưởng, ông có vẻ lo lắng, hai người tranh luận sôi nổi, rồi họ cãi nhau, cha nói:
- Anh không muốn có con bây giờ, chưa phải lúc.
Im lặng một hồi, tôi nghe mẹ khóc thút thít, rồi tiếng cha tôi cất lên, thật nhỏ:
- Bao lâu rồi?
- Ba tháng.
- Ba tháng cơ à? sao không cho anh biết sớm hơn?
- Tại em muốn chắc chắn rồi mới báo cho anh. Mới có kết quả thử nghiệm hôm qua.
- Không sao, cũng chưa muộn, còn kịp.
- Kịp làm cái gì cơ? Mẹ hỏi giọng run run.
- Phải hủy nó đi chứ làm gì nữa?
- Phá thai à?
Mẹ kêu lên sợ hãi, tôi cũng đứng tim trong vài giây, cha định giết tôi ư?
- Tàn nhẫn quá! Mẹ nói.
- Bây giờ nó chưa phải là một đứa bé. Cha nói giọng thản nhiên, như ông vẫn thản nhiên đo đạc, mổ xẻ những xác chết ngâm formol trong cơ thể học viện, nó mới chỉ là một bọc nhầy dài chừng 5 phân, nặng 100 gram, to bằng và trông cũng giống như cái trứng vịt lộn…
- Im đi, thứ người không tim!
Những ngày sau đó, họ vẫn tiếp tục cãi nhau. Mẹ khóc lóc, còn cha thì hết năn nỉ đến giận dữ, rồi lại thuyết phục:
- Có con bây giờ, anh hoặc em sẽ phải nghỉ học. Chẳng lẽ bao nhiêu công khó của chúng ta trước đây để qua kỳ thi tuyển, bây giờ phải đổ sông, đổ biển hết chỉ vì một đứa bé? Còn nữa, lấy tiền đâu ra để nuôi nó? chúng ta đều là những sinh viên chưa ra trường, đâu có nghề nghiệp gì trong tay?
Mẹ cúi đầu thở dài, nét mặt buồn xo, tôi hoảng lên:
- Mẹ! nói gì đi chứ? chẳng lẽ mẹ cũng đồng ý giết con?
- Không! dù thế nào đi nữa em cũng nhất định sẽ giữ nó. Mẹ chống đỡ một cách yếu ớt, trời sinh voi, sinh cỏ, có ai chết đói bao giờ? gì chứ việc làm lương thấp, tìm đâu chẳng có?
- Tùy cô! Cha bắt đầu nổi nóng, nếu cô muốn tự ý quyết định thì cứ việc lo lấy.
Cha giận dữ bỏ đi, mẹ nhìn theo oán hận, bà khóc cạn cả nước mắt. Những ngày sau đó, mẹ sống trong lo sợ, phập phồng, đau khổ làm bà mất ăn mất ngủ, ốm nghén làm mẹ gầy sút đi. Qua ba tháng, tôi lớn nhanh lắm, bụng mẹ bắt đầu đội áo, mẹ xấu hổ, cố lánh mặt mọi người, tinh thần bà sa sút lắm rồi. Mấy tuần sau, cha trở lại, hạ một chiêu cuối cùng:
- Em muốn bỏ tương lai là một bác sĩ giàu sang, danh vọng để đổi lấy địa vị của một người lao động hạng bét thì tùy em. Nhưng còn danh giá gia đình nhà em, làm sao cha mẹ em chịu nổi tai tiếng khi có cô con gái không chồng mà chửa hoang?
- Sao chúng mình không làm đám cưới? Anh vẫn nói rằng anh yêu em, thề thốt sẽ cưới em làm vợ, và em đã tin anh… Đứa con này là kết quả tình yêu của chúng mình...
- Không, nó là kết quả của sự lầm lỡ thì đúng hơn. Chúng ta chưa đủ điều kiện để kết hôn. Thôi, bỏ đi đừng tiếc, một đứa con thì có khó gì? sau này, khi ra trường, chúng mình sẽ làm đám cưới, lúc đó em muốn mấy đứa mà chẳng được?
Mẹ có vẻ xiêu lòng, bà thôi không chống đối nữa. Thế là số phận của tôi đã được định đoạt: tôi phải chết! Tôi sắp bị giết, một việc giết người hợp pháp, không bị pháp luật kết án, nhưng còn lương tâm? Trời ơi! lương tâm người ta để đâu?
Người ta sửa soạn cho cái chết của tôi nhanh nhẹn lắm, vì tôi đã được hơn bốn tháng rồi, càng để lâu, việc giết người sẽ càng khó khăn hơn. Chỉ một tuần sau, nhà thương đã cho mẹ một cái hẹn… Tôi cố phản kháng bằng những cái đạp thật mạnh trong bụng mẹ, nhắc nhở cho bà biết rằng tôi đã là một sanh linh, một con người, và tôi đòi quyền được sống. Nhưng sức tôi yếu lắm, tôi chỉ là một thai nhi mới hơn bốn tháng, những cái đạp của tôi chỉ làm bụng mẹ hơi rung nhẹ, nhưng bà cũng cảm thấy. Mẹ thở dài, đưa tay xoa bụng, bà cúi xuống thì thầm với tôi:
- Mẹ xin lỗi con, mẹ không còn cách nào khác. Con hãy tha thứ cho mẹ.
- Không! Tôi hét lên, giết người thì không thể tha thứ, con sẽ không tha thứ cho cả cha lẫn mẹ.
Rồi tôi nức nở, và tôi lạy lục, kêu van:
- Con không muốn chết… lạy mẹ, xin đừng giết con!
Nhưng những lời van xin của tôi đều vô ích, người ta coi danh giá gia đình, địa vị sang giàu quí hơn mạng người. Mọi công việc đã được xếp đặt, nhà thương là đoạn đầu đài của tôi. Ngày hẹn, cha trốn biệt, mẹ tự đến nhà thương một mình, càng tới gần, bà càng đi chậm lại, còn tôi thì không ngừng kêu thét:
- Mẹ, quay lại đi! Đừng vào, van mẹ đừng vào…
Nhưng bà vẫn chệnh choạng bước tới, qua cái sân rộng là tới căn phòng nạo thai, căn phòng sát nhân kinh tởm, đoạn đường chỉ một quãng ngắn, nhưng sao mẹ thở dốc? Sợ hãi hay hối hận làm bà chùn bước? Mẹ lê từng bước một cách khó nhọc, cứ vài bước, bà lại ngập ngừng, và mỗi lần như vậy tôi lại hy vọng, để rồi thất vọng và sau cùng là tuyệt vọng khi tôi nhìn thấy căn phòng màu vàng: mẹ đã đưa tôi tới nơi, tới chỗ tôi sẽ bị giết!
Bất thình lình, hai cánh cửa mở toang, bên trong lố nhố những người áo trắng. Hai cô y tá chạy ra đón, nắm tay dẫn mẹ vào bên trong, bà đi theo họ như một người máy, mắt bà ráo hoảnh, giọt nước mắt đọng trên đó đã khô tự bao giờ, bà cúi gằm mặt không nhìn ai cả.  Bác sĩ bảo mẹ nằm lên bàn mổ, trong lúc ông sửa soạn đeo găng tay, tôi quẫy lộn trong bụng mẹ, thét lên kinh hoàng:
- Dừng lại! hãy dừng ngay công việc giết người lại! Van các người cho tôi được sống!
Nhưng bác sĩ đã chụp thuốc mê cho mẹ rồi. Mẹ mê, nhưng tôi vẫn tỉnh, tôi nhìn thấy dao kéo sáng loáng, và tôi sợ hãi co rúm người lại, thét lên kinh hoàng khi thấy những dụng cụ đó thò vào… Từ cái sống qua cái chết kinh khủng lắm, đau đớn lắm, tôi không muốn nhắc đến, nhưng không bao giờ tôi quên được tôi đã chết như thế nào.
Trong cõi siêu hình, tôi nhập bọn với những linh hồn vừa mới lìa đời, hoặc chưa siêu thoát như tôi, lang thang khắp đó đây. Tôi vào chùa, vào nhà thờ, trường học, tôi ngồi cạnh mấy đứa học trò, chẳng ai nhìn thấy tôi, tôi vào cả rạp hát, đi lẫn vào đám đông...
Một buổi xế chiều, tôi vào chơi nghĩa trang. Con đường đất đỏ ngoằn ngoèo tung bụi mờ mịt mỗi khi có cơn gió lớn, những đám lá khô đuổi nhau nghe xào xạc, hai hàng cây dương liễu đứng phơi mình, ủ rũ trong ráng chiều. Mặt trời đã ngả về tây, ánh nắng nhạt của một ngày sắp tắt chiếu phớt trên những mồ mả chập chùng, đổ bóng những hàng bia mộ thành những vệt dài song song trên mặt đất, nghĩa trang về chiều mang một vẻ buồn thê lương. Tôi nhìn thấy một đám người đứng xúm xít quanh một cái mả vừa mới đắp, đất vẫn chưa khô, những cây nhang cắm trên mả còn đang tỏa khói. Thân nhân đang sửa soạn ra về, mắt người nào cũng đỏ hoe và đầu thì chít khăn tang. A! thì ra đây là một đám ma vừa mới chôn. Phủ trên nấm mộ, cơ man nào là hoa, nhiều hoa quá, tôi tự hỏi người này lúc còn sống chắc được nhiều người yêu mến, nên lúc chết được nhiều vòng hoa tiếc thương? hay chỉ vì gia đình giàu có nên làm đám ma lớn? làm sao tôi biết? Người nhà có đám tang đã ra tới cổng, còn tôi thì đi ngược đường với họ, vào sâu bên trong. Lác đác đó đây vài nấm mộ cũng có hoa tươi, chứng tỏ vừa mới được người nhà thăm viếng. Tôi có thể phân biệt nấm mộ nào được chăm sóc kỹ lưỡng, nấm mộ nào bỏ hoang, cỏ dại mọc um tùm… Có những lăng mộ xây cất cầu kỳ, trái lại cũng có những cái đơn giản chỉ là một tấm xi măng hình chữ nhật, một đầu có dựng cây thánh giá. Tôi thở dài, đơn giản hay cầu kỳ, thì ngưòi nằm dưới đó cũng sẽ trở thành cát bụi, chẳng ai còn đó mãi để ngắm mộ của mình.
Trời đã tối hẳn, màn đêm đang buông xuống bao phủ cảnh vật, giờ này những người đi thăm mộ đã ra về hết, nghĩa trang vắng vẻ không một bóng người. Tôi đi len lỏi giữa những nấm mộ, ngước nhìn lên bầu trời tím đậm, những vì sao lấp lánh như kim cương, ông trăng mới nhô lên khỏi ngọn cây, mặt trăng xanh xao toả ánh sáng bàng bạc xuống trần gian. Rồi tôi cúi xuống, nhìn những xác chết ở sâu dưới đáy mộ. Cái xác mới chôn, da thịt xình thối nhưng chưa rữa, khăn liệm còn nguyên màu trắng toát. Những xác chết lâu năm trông đều từa tựa như nhau: cũng bộ xương màu xám, cái đầu lâu với hai hốc mắt sâu hoắm, hàm răng nhe ra nhăn nhở… tất cả ngập trong một thứ nước bùn đen, lúc nhúc ròi bọ. Tôi nhìn thấy một cái xác có chùm tóc dài dính bết thành từng nạm… cơ thể con người, xương và tóc là những thứ lâu tan rã nhất. Bộ tóc dài chứng tỏ xác người là một phụ nữ, người này xưa kia lúc còn sống là một mỹ nhân hay là một cô gái xấu xí? làm sao biết được? Tôi thử tìm xem xác nào là xác trí thức, xác nào là xác người ăn mày? không có gì khác biệt cả. Rồi tôi tìm xem xác nào giàu, xác nào nghèo? cũng chịu, không thể phân biệt. Khi chết, mọi người đều bình đẳng như nhau, mọi thứ: giàu sang, phú quí, danh vọng, bạc tiền lúc còn sống, chỉ là phù vân, khi chết không ai mang theo được gì. Thế mà lúc sống, người ta mưu mô tranh dành, xâu xé lẫn nhau, thậm chí đôi khi gây ra tội ác cũng chỉ vì những thứ phù vân đó.
Như cha tôi chẳng hạn, ông sẵn sàng đạp đổ mọi chướng ngại vật trên đường đi, để đạt tới mục tiêu tối thượng của ông là giàu sang, danh vọng. Và ông đã đạt được, bây giờ ông sống trong phú quí, bạc tiền, nhưng không thanh thản, vì lòng tham không dừng tại đó, cứ thúc đẩy bắt ông phải tiến tới mãi. Cả đời vất vả bon chen, tâm trí không lúc nào thảnh thơi cũng chỉ vì những của phù vân không đáng gì, thật tội nghiệp. Tôi quên nói, vợ của ông bây giờ không phải là mẹ tôi. Sau biến cố đó, hai người xa nhau, chỉ ít lâu sau, cha tôi cưới vợ là một cô gái con nhà giàu. Mẹ tôi hận người yêu bội bạc, bà ốm liệt giường, gần như điên loạn một thời gian dài. Khi bình phục, bà chẳng còn nhớ những gì trong quá khứ, cũng tốt thôi, để bà khỏi đau khổ vì dĩ vãng buồn. Rồi mẹ xuống tóc đi tu, mặc áo nâu xòng, mượn câu kinh, tiếng kệ tìm sự bình an cho tâm hồn, bà lánh xa cõi tục, quên đi những hệ lụy của cuộc sống…
Tôi thở dài, không muốn nghĩ ngợi thêm nữa. Đêm đã khuya lắm, giun dế, côn trùng đang cùng nhau trỗi giọng đồng ca. Trên cao trăng sáng vằng vặc, thoảng trong không gian có mùi hương của hoa nhài, hoa nguyệt quế… một đêm thật yên tĩnh, thật đẹp, nhưng cũng thật buồn cho những kẻ bơ vơ. Tôi bay là là trong ánh trăng, ngắm những quả cầu lửa bay lởn vởn trên những ngôi mộ, đó là những đốm lân tinh bốc lên từ xương người rữa mục, gặp lạnh thì phát sáng. Người ta gọi đó là ma trơi, không ai dám vào nghĩa trang lúc ban đêm cả, người ta sợ ma, sợ người chết. Nghĩ cũng lạ, những người nằm đây, lúc sanh tiền ai cũng có gia đình, có người thân yêu cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn, cùng ngủ, cùng mưu sự những việc riêng, thế mà khi chết đi, người nhà lại sợ? thật là khó hiểu…
Một chiếc lá rơi làm tôi cắt dòng suy nghĩ, tôi ngẩng lên, bất chợt trông thấy một cô bé tóc vàng có đôi cánh màu hồng rất đẹp, đang ngồi ca hát trên một nấm mộ, cô ngồi đây từ lúc nào, tôi không để ý. Cô còn bé lắm, chắc chưa được hai tuổi đâu, nhưng so với tôi, một thai nhi mới gần năm tháng, thì cô lớn hơn nhiều. Thấy tôi, cô mỉm cười, vẫy lại gần:
- Lại đây bé ơi! chị tên Emily, còn em tên gì?
- Em không có tên. Tôi nói.
- Tại sao thế? Cô tròn xoe đôi mắt xanh biếc nhìn tôi ngạc nhiên, ai cũng phải có một cái tên để gọi chứ?
- Nhưng em không có. Tôi buồn bã nói, vì em chưa được sanh ra.
Cô bé lúc lắc cái đầu tóc quăn, tỏ vẻ không hiểu, tôi hỏi:
- Chị từ đâu tới đây?
- Chị ở trên trời, hôm nay về thăm gia đình, vì là ngày giỗ của chị, rồi chị ra đây chơi…
- Ngày giỗ là ngày gì hả chị?
- Là ngày kỷ niệm một người thân đã qua đời. Gia đình tụ họp nhau lại, thắp nhang để tưởng nhớ và cầu nguyện cho người chết.
Thế ư? tôi chết đã tám năm rồi, mà sao chẳng ai nhớ và cầu nguyện cho tôi? cũng chưa bao giờ có ai thắp cho tôi một nén nhang, hoặc đốt cho tôi một ngọn nến. Người ta đã quên chuyện cũ, mà họ coi là một biến cố rất nhỏ.
Cuộc sống bận rộn, người ta mải lo cơm áo, mải lo hưởng thụ, có ai dư thì giờ nghĩ đến những đứa bé vô tội đã chết dưới tay họ khi chưa được ra chào đời? có lẽ họ cũng chẳng còn nhớ những gì họ đã làm. Thấy tôi đứng ngẩn ngơ, chị Emily hỏi:
- Bao giờ em mới về trời?
- Em cũng không biết nữa.
Nói xong, tôi từ giã chị, bay đi. Đã quá nửa khuya, ông trăng biến đâu mất, sương xuống ướt đẫm cỏ cây, một con chim vạc bay ngang cất tiếng kêu ảo não. Giờ này mọi người còn đang say giấc điệp, tôi bay lập lờ trong sương đêm, cũng chẳng biết về đâu. Đêm tàn dần, nơi chân trời phía đông vừa ló lên vài tia sáng yếu ớt, bầu trời từ từ hừng sáng, một ngày mới lại bắt đầu…
Những khi buồn, tôi thường hay đi tìm bạn, bạn bè của tôi đa số là những đứa bé đồng cảnh ngộ như tôi, chúng tôi họp thành từng đoàn vất vưởng, lang thang, tìm những nơi có nhang đèn, cúng kiến để hưởng chút hơi ấm. Đêm Giáng sinh, chúng tôi theo mọi người đi xem lễ. Nhà thờ đông và vui, tôi nhìn thấy tượng Chúa hài đồng nằm trong máng cỏ, vây quanh là Đức Mẹ đồng trinh và các Thánh, lại có cả những kẻ chăn cừu… Trên cao, bầu trời đầy sao lấp lánh, những thiên thần có đôi cánh trắng bay luợn, hát mừng Chúa giáng sinh ra đời. Trong nhà thờ, cha xứ mặc áo lễ, và ca đoàn nhà thờ đã sẵn sàng cho thánh lễ nửa đêm, con chiên quì chật kín trên những hàng ghế. Tiếng thánh ca và tiếng kinh cầu vang lên, không khí có vẻ thiêng liêng quá, chúng tôi cũng quì xuống cầu nguyện:
- Lạy chúa Jesus là đấng cứu thế, lạy mẹ Maria nhân từ, xin cứu rỗi linh hồn chúng con. Amen!
Tự dưng tôi bỗng thấy lòng dịu lại, thanh thản lạ thường, tiếng kinh cầu hay phép màu nào đã làm tan đi băng giá trong tim tôi? cho tôi cảm giác ấm áp như vừa được an ủi, vỗ về. Tôi ngước nhìn lên, tượng mẹ Maria sáng toả hào quang, tay Mẹ dang ra như đang ban phước lành cho chúng sinh, một niềm tin bỗng dâng lên, tôi xúc động, kính cẩn cúi đầu tạ ơn Mẹ.
Sau mùa Giáng sinh, người ta sửa soạn đón Tết. Đêm nay là đêm cuối năm, đêm xum họp của tất cả mọi người trong gia đình, nhà nào cũng đèn nến sáng choang, bàn thờ nghi ngút khói hương. Mọi người tề tựu đông đủ, chờ đón giao thừa, chắc không ai biết có những linh hồn trẻ thơ vất vưởng, lang thang không biết về đâu. Rồi tiếng pháo giao thừa nổ vang, đồng loạt với những tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ dồn dập đổ, tiễn năm cũ, đón mừng năm mới, người ta hân hoan chúc tụng lẫn nhau. Ngày đầu năm, thiên hạ đi nhà thờ, đi lễ chùa đông nườm nượp, cầu nguyện mọi sự tốt lành cho năm mới.
Xin mọi người hãy dành ít phút để cầu nguyện cho chúng tôi, những đứa bé xấu số, khát khao mong được ra chào đời, nhưng không được toại nguyện nên còn vương vấn mãi cõi trần. Xin cầu nguyện cho chúng tôi sớm được siêu thoát về cõi vĩnh hằng, và xin hãy dừng lại việc giết những thai nhi vô tội. Mong lắm thay!
Truyện của Phương Lan
* Mong có người giúp dịch ra nhiều ngoại ngữ và phổ biến đến khắp nơi trên thế giới, nhất là các cộng đồng tôn giáo, mục đích là để dừng lại những vụ phá thai.

Tôi cũng muốn làm "Dân Chủ" : GIỐNG NHƯ GS NGUYỄN CHÍNH KẾT


GIỐNG NHƯ GS NGUYỄN CHÍNH KẾT
 
 
Khi Gs Nguyễn Chính Kết trốn qua Cao Mên và vừa đặt chân trên đất Mỹ, chúng tôi không ngần ngại viết rằng “Gs Nguyễn Chính Kết ĐÃ CHẾT !”. Ngày nay, quý vị đã thấy cái hậu qua xấu không những cho cá nhân Gs Nguyễn Chính Kết, mà còn cho Phong Trào DÂN CHỦ và Khối 8406.
Luật sư DƯƠNG HÀ , sau thời gian lên tiếng nhiều trong thời kỳ chồng của Bà, LsTs CÙ HUY HÀ VŨ tuyệt thực đấu tranh, tất nhiên bị CSVN lưu ý và có thể ghép vào tội như chồng của Bà.
Việc Luật sư DƯƠNG HÀ đặt được chân trên đất Mỹ với lý do là đấu tranh cho Nhân Quyền và Dân Chủ cho chồng Bà nói riêng và cho Quê Hương Việt Nam nói chung khiến chúng tôi viết những nhận xét sau nay và mong rằng những Tổ chứ hỗ trợ Bà tại Mỹ đừng biến Bà trở thành trường hợp của Gs Nguyễn Chính Kết:
1.      Trường hợp Ls Dương Hà được CSVN cho xuất ngoại chính thức để đấu tranh.
         Đói với trường hợp này, Ls Dương Hà chỉ là con cò mồi của CSVN để Cộng sản tuyên truyền rằng họ có Tự do, có Nhân quyền, có Dân chủ bởi vì họ chính thức cho phép một người đấu tranh sang tận Mỹ để chống lại họ.
2.      Trường hợp Ls Dương Hà đi chui, không có giấy phép xuất ngoại chính thức.
         Đối với trường hợp này, Ls Dương Hà đã phạm lỗi với Nhà nước CSVN. Khi Bà từ Mỹ về Việt Nam, CSVN sẽ bắt tội và kết án Bà. Ls Dương Hà càng lên tiếng mạnh chống đối CSVN tại Mỹ, thì cái tội của Bà càng bị kết án nặng hơn. Vì cái tội đi chui và lên tiếng chống CSVN tại Mỹ, nên Ls Dương Hà có thể nại lý do đó để XIN TỴ NẠN tại Mỹ giống như trường hợp Gs Nguyễn Chính Kết.
3.      Giai đoạn đấu tranh cho đoàn tụ gia đình
Khi được tỵ nạn tại Mỹ rồi, thì đến hồi tranh đấu đợt hai là liệu cho LsTs Cù Huy Hà Vũ được giảm án hay tha bổng để được đoàn tụ Gia đình tại Mỹ. Trường hợp Gs Nguyễn Chính Kết cũng giống như vậy. CSVN giảm án hay tha bổng để LsTs Cù Huy Hà Vũ qua Mỹ cũng là cách tuyên truyền của CSVN rằng họ có Tự do, Nhân quyền và Dân chủ.
 
Chúng tôi chống lại việc những Nhà Tranh Đấu kiên quyết tại Quốc nội tìm cách đào thải ra nước ngoài. CSVN luôn đề nghị nhừng Nhà Đấu tranh chủ chốt bỏ Việt Nam để chúng đỡ phải phiền hà và còn chứng tỏ cho nước ngoài thấy rằng họ có nhân đạo. Quốc nội cần những người đấu tranh cương quyết nằm tại Quê Hương, chứ không cần những tiếng nói trên mây gió của những thành phần, dù trước đây đấu tranh kiên cường tại nhà, nay bị bơ sữa làm thoái hóa và chỉ ngồi xa lông  tuyên bố !
 
Nguyễn Phúc Liên
Ngày 05.07.2013
 

---

Ls Dương Hà đang từ Nhật bay sang Mỹ, các nhà đấu tranh đối kháng trong nước hoàn toàn chưa biết tin này

Nơi đến chưa được tiết lộ. Nhưng chắc chắn sáng mai, mùng 3 tháng 7 năm 2013, Luật sư Dương Hà sẽ đặt chân trên đất Hoa Kỳ. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi cuộc hành trình của LS Nguyễn Thị Dương Hà trong các bản tin tới.
Cali Today News - Vào lúc 7:30 tối (cách nay hơn  một  tiếng) giờ San Jose, California, ngày hôm nay 2 tháng 7 năm 2013, sau hơn 5 giờ đồng hồ chờ đợi tại phi trường quá cảnh Tokyo, Luật sư Nguyễn Thị  Dương Hà, vợ của luật sư Cù Huy Hà Vũ, đã chính thức lên máy bay của hãng hàng không United Airline tiếp tục cuộc hành trình từ phi trường Tokyo, Nhật Bản để bay tới Hoa Kỳ. 
Nơi đến chưa được tiết lộ. Nhưng chắc chắn sáng mai, mùng 3  tháng 7  năm 2013, Luật sư Dương Hà sẽ đặt chân trên đất Hoa Kỳ.  Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi cuộc hành trình của LS Nguyễn Thị Dương Hà trong các bản tin tới. 
 Trong lúc đó, ký giả Nghê Lữ cho biết anh đã phỏng vấn nhiều nhà đấu tranh trong nước, và ngay tại Hà Nội, nhưng không ai biết tin này, không ai biết bà đã lên đường và do sự sắp xếp nào và với mục đích gì.
Chuyến đi rất “bí mật” và rất gấp rút này đang thu hút sự chú ý của cả trong và ngoài nước.
Phạm Bằng Tường

Viết cho những người tù thường phạm.

 
Không có giáo dục hướng thiện, chỉ có cưỡng bức lao động.
Ảnh minh họa (DR)Tôi có cơ hội sống tại phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc (Đồng Nai) từ tháng 8/2007 đến tháng 4/2008. Trong thời gian này tôi ở khu nhà giam số 6 trong phân trại cùng với 150 tù nhân thường phạm.
Phân trại 1 có khoảng 10 khu nhà giam, khoảng gần 1.000 tù nhân, 01 hội trường, 01 canteen. Khi tôi ở đây thì dãy nhà giam riêng đang xây dựng ở phía cuối phân trại gần khu giam kỷ luật và trạm xá. Nghe tù “xây dựng” nói là khu này sẽ dành cho tù nhân chính trị. Cảm giác lúc đó thật bình thản, người ta có thể thấy kim tĩnh của mình trước lúc chết, còn tôi thì thấy phòng giam đang xây để giam mình trong tương lai.
Ngày 17/8/2008, tôi đến phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc với anh Huỳnh Nguyên Đạo, cùng vụ án và anh Trần Quốc Hiền của một vụ án chính trị khác. Phân trại 1 rộng khoảng 5 ha (50.000 m2) xây dựng rất kiên cố, tường bê tông cao 5 m bao quanh khu trại giam. Cảm nghĩ tôi lúc đó, phân trại 1 giống như một trại lính, cho tôi một cảm giác tốt hơn khi bị giam tại số 4 Phan Đăng Lưu (Sài Gòn) hay ở Chí Hòa và Bố Lá.
Khoảng nữa tháng học nội quy và xả hơi, màn lao động đầu tiên trại giam yêu cầu, ba anh em chúng tôi phải chuyển gạo vào kho cùng với đội bếp của trại giam. Dù cả ba không quen lao động nặng, nhưng chúng tôi vẫn có thể làm xong công việc. Những ngày tiếp theo, chúng tôi bị buộc làm việc trong xưởng tách vỏ hạt điều cùng với các tù nhân thường phạm khác. Tách vỏ hạt điều là một công việc rất cực và nguy hiểm, nhựa vỏ hạt điều văng trúng da là phỏng ngay, mức khoán lại rất cao. Điều A to như ngón chân cái thì gần 30 kg, điều B to như ngón tay cái 23 kg, điều C, D thì mức khoán thấp hơn. Đối với tù nhân, đây là mức khoán “khủng”, họ phải chuyên tâm làm việc từ 7 giờ đến 11 giờ và chiều từ 13 giờ 30 đến 17 giờ mới có thể hoàn tất chỉ tiêu, trong điều kiện hầu như không có một trang bị bảo hộ lao động nào cả. Chưa nói đến chủ xưởng điều còn đánh tráo điều B thành điều A để tăng mức khoán.
Thoát ra từ buồng giam chật hẹp của các trại tạm giam, đến phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc tôi thấy tốt hơn trong những ngày đầu, nhưng sau đó sự thật không như mình nghĩ. Quy định cho tù nhân về chỗ nằm, 2 m2 (ngang 1 m, dài 2 m) nhưng có bao giờ được vậy, nhiều lắm thì 0,5 m x 2 m, thậm chí có khi còn hẹp hơn khi số tù nhân tăng lên đột biến như đội xây dựng lâu nay đi phân trại khác lao động thì nay trở về, cả trăm con người tăng lên. Vì đây là đội “con cưng” của trại giam nên phải được đối xử khác với đám bóc vỏ điều, ai nằm chật chứ các anh xây dựng thì phải ưu tiên.
Án tù giam tôi 4 năm và 2 năm quản chế, tôi lên trại, phiên tòa xử phúc thẩm vắng mặt, tòa phúc thẩm tước mất 6 tháng. Tù nhân án nặng như cái núi Chứa Chan trước mặt trại giam thì nhìn án tù tôi mà phán chỉ bằng “giấc ngủ trưa” của họ. Tôi là tù con so, họ đều vài khóa trở lên, án 10 năm là nhẹ. Có người thân thể đầy hình xăm, đủ các con trông như một sở thú di động. Tội danh từ trộm cắp bình thường cho đến đại hình, giết người, gây thương tích, ngộ sát, hãm hiếp…lúc đó, thật sự tôi không thấy một sự sợ hãi hay xem thường họ. Họ là nạn nhân của chế độ.
Phân trại 1, trại giam Xuân Lộc thật sự là một địa ngục cho tù nhân thường phạm, lao động và chỉ có lao động mới cho họ cơ hội sớm trở về xã hội, còn trở về xã hội họ sẽ làm gì, bản thân họ cũng không biết. Các biện pháo giáo dục hướng thiện ư, đó là hàng xa xỉ. Ngoài những tù nhân liên quan đến án kinh tế, các tù nhân thường phạm khác được thăm nuôi là hàng hiếm. Gia đình, xã hội cũng không còn nhớ đến họ từ khi họ bước vào đây và dù cho rằng có nhớ đi chăng thì cũng không có điều kiện để thăm nuôi họ, họ vào tù ra khám như cơm bữa. Hầu hết các tù nhân đều trông đợi vào khẩu phần cơm, thức ăn…của trại. Một tuần được phát thức ăn hai ngày, các ngày khác tự mà lo. Bệnh đau xin nghỉ, hãy uống vài thuốc paracetamol rồi đi làm. Trại giam không tin là tù nhân bệnh thực sự nếu họ còn đi đứng, còn nói chuyện…
Trong tù có nhiều chuyện buồn nhưng phải phì cưới, hôm qua mới thấy tù nhân chia tay bạn bè thì ngày mai nghe nói họ đã bị bắt lại cách trại giam chưa đến 50 km vì phạm một tội nào đó. Tôi không nghĩ rằng, cái kiểm điểm 3 tháng một lần với dòng chữ:”…nhận rõ tội lỗi..” là sự thật. Một tù nhân mù chữ có thể nhờ anh đội trưởng hay bạn tù viết dùm theo bản kiểm điểm có sẵn. Giáo dục kiểu gì mà thư viện trại giam không có một quyển sách về luật pháp, tôn giáo cũng bị nghiêm cấm và cai tù thì đụng một cái là quất lên đầu tù nhân hay đưa vào biệt giam cùm chân.
Tôi gặp Trần Hoàng Giang, một tù nhân chính trị, bị bắt khi 20 tuổi, án 15 năm. Sau khi bị biệt giam 14 tháng vì câu nói “đả đảo cộng sản”, Giang được đưa lên buồng trên và sống cùng tôi. Cái may của Giang là không bị biệt giam cho đến chết như lời đại tá Nguyễn Trung Binh, giám thị trưởng tuyên bố trước khi Giang bị đưa vào phòng kỷ luật vì không rút lại lời nói.
Trong tình cảnh ăn đói, thiếu thốn và lao động nặng, nhiều tù nhân đã phải tự hủy hoại mình để né lao động. Họ sẽ bị kỷ luật, bị chuyển đi trại khác, nhưng đây là cơ hội cho họ nghỉ ngơi vài ngày, nếu ai may mắn hơn thì được biệt giam hai tuần. Họ chấp nhận như vậy chứ cái mức khoán lao động “khủng”, không sớm thì muộn cũng phải chọn một cách để giải quyết vấn đề “tồn tại hay không tồn tại”.
Một ngày tại xưởng điều, tôi chỉ làm 5 kg hạt điều loại B và tôi kiên quyết như vậy. Trại giam muốn làm gì tôi cũng được, đấu tố tập thể, biệt giam cùm chân, không cho gặp gia đình…tôi chống cưỡng bức lao động. Tôi nói với quản giáo của đội tôi: “tôi không quen lao động chân tay, nên tôi chỉ làm đúng với sức của tôi, tôi không có nhu cầu xin giảm án”. Gia đình lên thăm, tôi nói về tình trạng cưỡng bức lao động trong nhà tù. Mẹ tôi và các gia đình tù nhân chính trị khác đã trình bày vấn đề cưỡng bức lao động với Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Sài Gòn, phái đoàn Hạ viện Hoa Kỳ, đài RFA…Đến tháng 4/2008 các tù nhân chính trị tại phân trại 1 không còn bị buộc lao động. Tuy nhiên gần 1.000 tù nhân thường phạm tại đây vẫn còn bị cưỡng bức lao động cho đến ngày hôm nay.
Tôi không nói tất cả những cảnh sát trại giam đều cư xử ác độc với tù nhân, tuy nhiên cai ngục mà thông cảm cho tù nhân là điều tôi chưa từng chứng kiến khi trãi qua năm trại tù, tất cả được quy đổi ra vật chất. Cai tù đã trở thành một cái nghề “chăn dắt” với câu ngạn ngữ “nước sông công tù”. Nhiều giám thị, cán bộ trại giam, trở nên giàu có so với mức lương của nghề cảnh sát trại giam. Có người sẳn sàng chi hàng tỷ đồng để được ngồi vào chiếc ghế giám thị trưởng.
Tù nhân phân trại 1, sau giờ lao động hay những ngày nghỉ, chỉ được sinh hoạt trong khu nhà giam, không được qua thăm bạn bè ở các các khu khác. Đây là điều mà tôi nghe tù nhân phàn nàn nhiều về sự khắc nghiệt sau vấn đề lao động. Họ không có thân nhân đến thăm nên họ có nhu cầu chia sẽ với các bạn tù. Trại giam thì cho rằng họ liên hệ để cờ bạc…nên tốt nhất là cấm cửa.
Không vùng lên mới là chuyện lạ.
Ngày 30/6/2013, tôi đã nghe trực tiếp qua điện thoại các tù nhân phân trại 1 nói về sự khắc nghiệt mà tôi đã từng chứng kiến, sau 5 năm những điều đó vẫn còn. Tù nhân chính trị Huỳnh Anh Trí đã nói, “họ đối xử với chúng tôi không phải là con người mà như là con vật”. Câu nói đó, đã cho chúng ta thấy thế nào là hệ thống nhà tù xã hội chủ nghĩa. Trí đã ở chung với tôi tại phân trại 2 – trại giam Xuân Lộc, vì đấu tranh không khoan nhượng với trại giam nên thường xuyên bị chuyển đi nhiều nơi trong trại giam Xuân Lộc, cuối năm nay chúng ta sẽ có dịp nghe Trí kể câu chuyện này với tư cách là một chứng nhân.
Tiếp tục dối trá, một vài tờ báo quốc doanh đã cho rằng tù nhân đấu tranh đòi cải thiện chế độ lao tù tại phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc chỉ là “mâu thuẩn giữa các tù nhân khi đá bóng”. Nghe thật buồn cười, mâu thuẩn giữa các tù nhân mà đích thân tổng, phó cục trưởng Tổng cục Trại giam phải vào tận nơi giải quyết. Từ bao giờ các ông ấy quan tâm đến từng mâu thuẩn của người tù? Nếu các ông làm sớm hơn thì chắc sẽ không có sự kiện ngày 30/6/2013 tại phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc. Riêng các nhà báo chí nên vào tù ở một thời gian để có thể phân biệt đâu là đấu tranh cải thiện lao tù của tù nhân và đâu là mâu thuẩn giữa các tù nhân.
Giá cả thực phẩm của canteen là giá trên trời, tôi nghe rằng, làm gì thì làm 25% tổng số tiền gia đình gởi cho tù nhân phải vào quỹ của phân trại. Nếu không bán với giá trên trời thì làm sao hoàn thành chỉ tiêu đó. Còn quỹ 25% chia chát như thế nào thì tù nhân làm sao biết, phải hỏi giám thị phân trại.
Một tù nhân khác cho biết, “thực phẩm bán cho chúng tôi bị hư nhưng họ vẫn bán, chúng tôi phải mua và phải ăn vì không ăn thì sẽ đói”. Có thể đây là điều bất nhẫn nhất mà tôi nghe thấy, lúc tôi ở đó tôi chưa từng nghe tù nhân ca cẩm về việc này. Nay có lẽ kinh tế khó khăn khắp nơi, nên mạng sống của tù nhân cũng bị xem rẻ, có tiền nhưng cũng không được mua hàng còn tốt, phải chấp nhận hàng hư hỏng, có người bán nào thất nhân tâm như canteen trại giam không?
Và điều sau cùng có thể làm bùng lên ngọn lửa,”họ đánh đập chúng tôi, cùm tay nhốt trên hội trường và bị bỏ đói”. Tù nhân bị tước đi một số quyền công dân, nhưng nhiều quyền con người khác không thể bị tước đoạt, nhất là phẩm giá của họ. Họ biết nếu vùng lên, phản đối mạnh, chính bản thân họ sẽ đối mặt nguy hiểm, án tù cò thể dài hơn, mạng sống có thể bị đe dọa…nhưng họ không còn giải pháp nào khác khi bị dồn vào đường cùng.
Lãnh đạo tổng cục Trại giam tuyên bố sẽ khởi tố vụ án, hàng chục người sẽ bị tăng án. Trước mắt, trại giam Xuân Lộc đã đưa khoảng 40 tù nhân vào diện bị thẩm vấn. Tù nhân chinh trị bị chuyển đi trại giam khác ngay trong đêm. Đó là cái giá phải trả của các tù nhân khi họ muốn tồn tại. Tuy nhiên, cái đau lòng nhất từ lời nói cùa ông Cao Xuân Oánh, tổng cục trưởng tổng cục Trại giam khi cho rằng “những người đòi yêu sách là những kẻ lưu manh, lười lao động”. Phải chăng người đứng đầu ngành trại giam đã phủi bỏ trách nhiệm khi để xảy ra sự kiện tại phân trại 1 – trại giam Xuân Lộc. Họ là những tên lưu manh, lười lao động nhưng chính họ đã tự nuôi sống mình trong nhà tù bằng chính sách “mở nó rán nó” và làm giàu cho những cai ngục xem nghề “chăn dắt” tù là nghề hái ra tiền. Họ là những tên lưu manh, nhưng chế độ XHCN phải chịu trách nhiệm khi đẩy họ vào con đường lưu manh không lối thoát.
Không ai chọn con đường làm tên lưu manh để vào tù, nhưng họ không đáng sợ bằng những tên lưu manh đang giữ quyền lực, ngồi bàn giấy trong phòng máy lạnh, đi xe hơi, xài tiền đô… chúng còn đáng khinh bỉ hơn những tù nhân bị gọi là “lưu manh” trong nhà tù.
NGUYỄN BẮC TRUYỂN

Bài Xem Nhiều