We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 25 July 2013

Ảnh Hưởng Của Những Biến Chuyển Lịch Sử Đến Văn Học Việt Nam Thời Cận Đại





1.- GIỚI THIỆU VẤN ĐỀ

Bài nầy chỉ nhắm trình bày ảnh hưởng của những biến chuyển lịch sử đến văn học Việt Nam trong bối cảnh mở rộng bang giao quốc tế thời cận đại, chứ không đi vào giai đoạn toàn cầu hóa kinh tế chỉ mới diễn ra vào khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ vừa qua khi nhiều nước bãi bỏ hàng rào quan thuế để việc trao đổi kinh tế được rộng rãi, dễ dàng; và bài nầy cũng không đi vào phần văn chương của đề tài.

2.- VIỆT NAM MỞ RỘNG BANG GIAO QUỐC TẾ

Trước thế kỷ 19, Việt Nam chỉ giao thiệp với Trung Hoa và một số nước ĐNÁ. Từ các vua đầu nhà Nguyễn, tức từ năm 1802 trở đi, Việt Nam bắt đầu liên lạc thêm với vài nước phương Tây. Lúc đó, tại Âu Châu, do sự phát kiến máy chạy bằng hơi nước trong cuộc cách mạng kỹ nghệ, phương tiện giao thông phát triển, các nước Âu Châu bắt đầu mở cuộc tìm kiếm thuộc địa khắp thế giới.

Trong khi Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan tìm đến các nước Á Châu khác, Pháp đến đánh Việt Nam từ năm 1858, chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ năm 1862, ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ năm 1867, buộc Việt Nam phải nhượng toàn bộ Nam Kỳ cho Pháp làm thuộc địa năm 1874, rồi đặt nền bảo hộ trên toàn cõi Việt Nam năm 1884. Điều 1 hòa ước 1884 buộc Việt Nam phải lệ thuộc Pháp về ngoại giao. Lúc đó, Pháp là một cường quốc, bang giao rộng rãi với nhiều nước trên thế giới, nên qua nước Pháp, Việt Nam bắt đầu giao thiệp thêm với nhiều nước ngoài vùng Đông Nam Á.

Từ đó, nền bang giao quốc tế của Việt Nam càng ngày càng rộng mở cho đến ngày nay.

3.- THAY ĐỔI CHỮ VIẾT VÀ GIÁO DỤC

Sự bảo hộ của người Pháp đưa đến nhiều thay đổi quan trọng về tất cả các mặt trong đời sống của người Việt. Về văn hóa, quan trọng nhất là sự thay đổi chữ viết và hệ thống giáo dục. Người Việt nói tiếng Việt, nhưng từ thời Ngô Quyền lập quốc năm 939 cho đến thời nhà Nguyễn, các triều đại quân chủ dùng chữ Nho, tức chữ Hán và nói nôm na là chữ Tàu, làm chuyển ngữ trong hành chánh và giáo dục.

Khi Pháp bảo hộ, để đào tạo viên chức cho chế độ mới, nhà cầm quyền thực dân Pháp nghĩ ngay đến việc thay đổi hệ thống giáo dục và chữ viết của người Việt Nam.

a) Giai đoạn Pháp thăm dò (1861-1906):

Mẫu tự la-tinh và chữ quốc ngữ: Khi đến Đại Việt truyền đạo Thiên Chúa từ cuối thế kỷ 16, các giáo sĩ Tây phương cùng một số giáo dân Việt, dựa theo mẫu tự La-tinh, sáng chế ra một thứ chữ mới mà sau nầy được gọi là chữ quốc ngữ. Đầu năm 1861, Pháp chiếm ba tỉnh miền đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường). Phó đô đốc Léonard Charner, tổng tư lệnh quân đội Pháp tại Viễn đông, ra nghị định ngày 21-9-1861, thành lập Collège Annamite-Français de Monseigneur l'Évêque d'Adran tại Sài Gòn, là trường thông ngôn dạy người Việt học chữ Pháp đồng thời dạy người Pháp học tiếng Việt bằng thứ chữ mới theo mẫu tự la-tinh. (John DeFrancis, Colonialism and Language Policy in Vietnam, New York: Moulton Publishers, 1977, tr. 76.)

Chữ quốc ngữ ở Nam Kỳ: Sau hòa ước Giáp Tuất (18-3-1874), sáu tỉnh Nam Kỳ trở thành thuộc địa Pháp. Thống đốc Nam Kỳ là Louis Lafont, ban hành nghị định ngày 6-4-1878, theo đó kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định, quyết định, bản án, lệnh... đều viết bằng mẫu tự la-tinh, tức chữ Pháp hay quốc ngữ, chứ không còn viết bằng chữ Nho. Cũng từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ chỉ những người biết quốc ngữ mới được tuyển dụng vào các cơ quan hành chánh cấp phủ, huyện, tổng. (Alfred Schreiner, Abrégé de l'histoire d'Annam, Deuxième édition, Sai Gòn: 1906, tr. 340.) Điều nầy có nghĩa là bên cạnh chữ Pháp, quốc ngữ chính thức trở thành chuyển ngữ của dân chúng Nam Kỳ, và chữ Nho không còn được sử dụng ở Nam Kỳ.

Chữ quốc ngữ ở Trung và Bắc Kỳ: Pháp bảo hộ Trung và Bắc Kỳ bằng hòa ước Giáp Thân (6-6-1884). Lúc đầu Pháp duy trì nền giáo dục Nho học để tránh va chạm với quan lại triều đình Huế mà đại đa số xuất thân khoa bảng Nho học. Năm 1887, Pháp thành lập Liên bang Đông Dương, bắt đầu mở những trường dạy tiếng Pháp, trong khi vẫn để cho triều đình Việt Nam tiếp tục mở những khoa thi Nho học (thi Hương và thi Hội).

b) Tiến trình thay đổi giáo dục và thi cử (1906-1918):

Học chế 14-9-1906: Sau thời gian thăm dò, Pháp bắt đầu tổ chức giáo dục Pháp Việt. Quyền toàn quyền Đông Dương là Broni ban hành học chế ngày 14-9-1906 quy định các trường học Việt Nam gồm ba cấp ấu học, tiểu học và trung học, đều có dạy quốc ngữ. Ai đậu kỳ thi cuối khóa cấp trung học, được gọi là thí sinh và sẽ được dự kỳ thi hương. (Louis Cury, La société annamite, les lettrés - les mandarins - le peuple (Thèse pour le doctorat), Paris: Jouve et Cie, Éditeurs, 1910, tt. 24-33. (Nghị định do quyền toàn quyền Broni ký ngày 14-9-1906.)

Vận động cải cách của các nhà khoa bảng Việt: Trong khi đó, các nhà khoa bảng cựu học cấp tiến vào đầu thế kỷ 20 do Phan Châu Trinh khởi xướng, mở phong trào Duy tân, vận động cải cách văn hóa, chính trị trên toàn quốc, kêu gọi bãi bỏ Nho học, cổ xúy việc học quốc ngữ để nâng cao dân trí, vì một lý do đơn giản: quốc ngữ dễ học, dễ viết, dễ phổ cập hơn chữ Nho. Các ông vận động mở trường dạy quốc ngữ khắp nước, rầm rộ nhất là ở Quảng Nam (1905), Bình Thuận (trường Dục Thanh, 1907) và Hà Nội (Đông Kinh Nghĩa Thục, 1907).

Học chánh tổng quy, bãi bỏ các kỳ thi Nho học: Từ năm 1909, quốc ngữ được đưa vào chương trình thi hương trên toàn Trung và Bắc Kỳ. Khi đến Đông Dương làm toàn quyền lần thứ hai từ năm 1917, Albert Sarraut ra nghị định 21-12-1917 về “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương” (Règlement général de l'instruction publique en Indochine), thường được gọi là “Học chánh tổng quy”, áp dụng cho toàn cõi Đông Dương để thay thế cho học chế Broni. Đặc biệt, phần cuối tổng quy nầy định rằng các trường chữ Nho của tư nhân hay của triều đình Huế, kể cả quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp. (Dương Kinh Quốc, Việt Nam: Những sự kiện lịch sử (1858-1918), Hà Nội: Nxb Giáo Dục, 1999, tt. 375-378.)

Sau “Học chánh tổng quy” năm 1917, thi hương bị bãi bỏ ngay ở Bắc Kỳ.

Ở Trung Kỳ còn kỳ thi Hương năm 1918, rồi chấm dứt luôn. Như thế là nền giáo dục Nho học hoàn toàn bị dẹp bỏ. Ở đây xin ghi nhận công ơn của sử gia Trần Trọng Kim. Khi Pháp thay đổi chữ viết và hệ thống giáo dục Việt Nam, Pháp âm mưu cắt đứt truyền thống dân tộc Việt, đào tạo các thế hệ thanh thiếu niên mới không biết chữ Nho, nên không thể đọc và học lịch sử đất nước vốn viết bằng chữ Nho. Sử gia Trần Trọng Kim đã có công soạn ngay bộ Việt Nam sử lược bằng quốc ngữ và ấn hành lần đầu năm 1920 tại Hà Nội (tức là ngay sau khi học chánh tổng quy của Albert Sarraut bãi bỏ Nho học), giúp cho lớp thanh thiếu niên mới, chỉ biết chữ Pháp và quốc ngữ mà không biết chữ Nho, có thể tiếp tục học lịch sử Việt Nam.

3.- ẢNH HƯỞNG VỀ ĐỀ TÀI VĂN HỌC

Đề tài yêu nước, tranh đấu: Văn chương chữ Hán cũng như văn chương chữ Nôm dưới thời nhà Nguyễn khá thịnh hành, thường xoay quanh đề tài ngâm vịnh, tả cảnh, tả tình nhẹ nhàng nhằm mục đích giải trí. Khi Pháp đánh chiếm và bảo hộ Việt Nam, sĩ phu chuyển hướng qua đề tài yêu nước và tranh đấu chống Pháp, bắt đầu từ Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), qua thế hệ Phan Châu Trinh (1872-1926), Trần Quý Cáp (1870-1908), Huỳnh Thúc Kháng (1876-1947), các tác giả trong Đông Kinh Nghĩa Thục và kéo dài đến năm 1945.

Văn chương lãng mạn: Cùng với sự du nhập văn hóa Pháp, các nền triết học, chính trị, văn học, nghệ thuật tây phương cũng tràn vào Việt Nam, tạo thành nguồn cảm hứng cho những đề tài mới mẻ. Lúc đầu nổi bật nhất là khuynh hướng văn chương tình cảm, lãng mạn và xã hội, từ Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản do nhà xuất bản J. Linage ấn hành năm 1887 tại Sài Gòn, nghĩa là đúng 30 năm trước khi Nho học bị bãi bỏ theo học chế tổng quy của Albert Sarraut (1917).

Sau đó đến các tác giả Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách, các tác giả Tự Lực Văn Đoàn... Ngoài truyện ngắn, tiểu thuyết, phong trào thơ lãng mạn rất thịnh hành một thời, xuất hiện nhiều thi sĩ danh tiếng mà hầu như ai cũng biết.

Chủ nghĩa cộng sản, tranh đấu giai cấp: Đảng Cộng Sản Đông Dương được thành lập năm 1930. Từ đây, CS cổ xúy đề tài về chủ nghĩa CS, về tranh đấu giai cấp. Trong cuộc họp ban Thường vụ trung ương đảng CSĐD từ 25 đến 28-3-1943, tổng bí thư Trường Chinh đưa ra “Đề cương văn hóa Việt Nam”, đặt văn nghệ phục vụ chính trị.

Năm 1949, Mao Trạch Đông và đảng Cộng Sản Trung Quốc chiếm được lục địa Trung Hoa. Đầu năm 1950, Hồ Chí Minh qua Trung Quốc và Liên Xô xin viện trợ. Nhờ sự giúp đỡ của CSTQ, Việt Minh chiến thắng ở Đồng Khê ngày 16-9-1950, vừa củng cố thế lực Việt Minh, vừa mở cửa biên giới sang Trung Quốc. Tư đây, CSVN rập khuôn theo đường lối văn nghệ của CSTQ, mở cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân, thanh lọc hàng ngũ đảng CS.

Nếu trước đó, cho đến năm 1950, trong chiến khu Việt Minh, người ta còn nghe hát những bản nhạc lãng mạn như “Suối mơ”, “Thiên Thai”, thì sau đó trí thức văn nghệ sĩ phải dứt khoát theo chủ nghĩa cộng sản...

Từ đây, đề tài văn chương tại vùng CS hoàn toàn chuyển hướng qua đấu tranh giai cấp, ca tụng chủ nghĩa CS, lãnh tụ CS Việt Nam và thế giới... (Huy Đức, Bên thắng cuộc, tập 2, Quyền bính, bản điện tử, tiểu mục “Xiềng xích nhân văn”.)

Tiếp nối khuynh hướng lãng mạn: Cũng trong năm 1949, cựu hoàng Bảo Đại ký kết với tổng thống Pháp là Vincent Auriol hiệp định Élysée ngày 8-3-1949, thành lập chính thể Quốc Gia Việt Nam. Quốc Gia Việt Nam chuyển qua giai đoạn hậu thuộc địa, nền văn học lãng mạn thời Pháp thuộc tiếp tục kéo dài thêm một thời gian cho đến khi hiệp định Genève được ký kết ngày 20-7-1954.

4.- ẢNH HƯỞNG VỀ HÌNH THỨC VĂN HỌC

Chẳng những đề tài thay đổi theo những biến chuyển chính trị, mà hình thức văn chương Việt Nam cũng thay đổi theo thời cuộc.

Tiểu thuyết văn xuôi: Thời nhà Nguyễn, tiểu thuyết thường được viết bằng văn vần, thể lục bát hay song thất lục bát (Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc, Cung oán ngâm khúc…). Qua thời Pháp thuộc, tiểu thuyết được viết bằng văn xuôi như người Pháp, mở đầu bằng Truyện thầy Lazaro Phiền của P. J. B. Nguyễn Trọng Quản năm 1887 (đã viết ở trên).

Truyện ngắn và truyện dài càng ngày càng nhiều ở cả Hà Nội lẫn Sài Gòn. Nhiều nhà văn bắt đầu dịch các truyện Tàu, sau đến dịch các truyện Pháp và truyện của các nước khác qua bản Pháp ngữ như truyện Nga, Mỹ, Đức... Bên cạnh truyện dịch còn có các truyện phóng tác theo các truyện Tây phương nhưng dựa trên khung cảnh xã hội Việt Nam.

Thơ mới: Trước đây, các thi sĩ cổ điển làm thơ Đường theo thể 8 câu 7 chữ, thơ 5 chữ (ngũ phong) và phú. Thơ Đường luật (8 câu 7 chữ) phải tuân niêm luật đối câu, đối chữ, đối nghĩa rất khó khăn, càng ngày càng ít người sử dụng. Thơ lục bát và song thất lục bát là hai thể thơ gốc từ người Việt, vẫn còn được sử dụng. Vào đầu thập niên 30, xuất hiện thể thơ mới. Bài “Tình già” của Phan Khôi (1887-1959) trên báo Phong Hóa (Hà Nội) ngày 24 janvier 1933 có thể là bài mở đầu cho phong trào thơ mới và thơ tự do rất phóng khoáng, không theo khuôn khổ thơ nhất định.

Các sinh hoạt văn học khác: Một hình thức văn học hoàn toàn mới mẻ với người Việt Nam là ngành báo chí, hết sức phong phú. Tờ báo tiếng Việt đầu tiên bằng thứ chữ mới là tờ Gia Định Báo, ra số đầu ngày 15-4-1865. (Huỳnh Văn Tòng, Báo chí Việt Nam từ khởi thủy đến 1945 [tái bản, hiệu đính và bổ sung], Nxb. TpHCM, 2000, tt. 55-59.) Báo chí phát triển nhanh chóng nhờ kỹ nghệ in càng ngày càng tân tiến và phổ thông. Ngoài ra, còn có những bài tùy bút (ngày nay gọi là bút ký), phê bình văn học, bình luận chính trị, bút chiến rất sôi động.

5.- ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH GENÈVE: HAI DÒNG VĂN HỌC
Một biến cố biến cố lịch sử lớn ảnh hưởng đến văn học Việt Nam là hiệp định Genève ngày 20-7-1954, chia hai nước Việt Nam ở vĩ tuyến 17.

Văn học ở Bắc Việt Nam: Dưới chế độ mới của cộng sản ở phía bắc vĩ tuyến 17 sau năm 1954, các văn nghệ sĩ Bắc Việt Nam (BVN) bị bắt buộc phải theo sát giáo điều Mác xít và đường lối chính sách của nhà nước, đến nỗi có người đã phát biểu: "Hai năm hòa bình, chúng ta thấy nhiều nhà văn (trước kia) có tài, (ngày nay) bị buộc chặt vào địa vị, bằng những sợi lụa có tẩm độc. Tác phẩm của họ (ngày nay) chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo..." (Phát biểu của thi sĩ Hoàng Huế gởi Đại hội Văn nghệ Toàn quốc, đăng trên Giai Phẩm Mùa Xuân, Hà Nội, 1956. (Hoàng Văn Chí, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Sài Gòn: Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, 1959, tt. 11-12.)

Nhiệm vụ mới của giới văn nghệ sĩ được Trường Chinh, uỷ viên Bộ chính trị đảng Lao Động (hậu thân của đảng CSĐD), Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (từ ngày 7-7-1960), quy định trong bài "Tăng cường tính đảng, đi sâu vào cuộc sống mới để phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng tốt hơn nữa" đọc trước Đại hội Văn nghệ Bắc Việt năm 1962: " Văn nghệ sĩ phải thừa nhận rằng văn nghệ phục vụ chính trị, phục vụ đường lối chính sách của đảng. Văn nghệ sĩ phải trung thành với lý tưởng cộng sản và đấu tranh không mệt mỏi cho chủ nghĩa xã hội. Văn nghệ sĩ bằng hoạt động văn nghệ và hoạt động xã hội của mình cần luôn luôn phấn đấu để tăng cường sự lãnh đạo của đảng, củng cố lòng tin của quần chúng đối với đảng, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin..." (Thân Trọng Mẫn: "Từ phong trào Nhân Văn Giai Phẩm đến Cao trào văn nghệ phản kháng 1986-1989",trong tuyển tập nhiều tác giả Trăm hoa vẫn nở trên quê hương, California: Nxb. Lê Trần, 1990, tr. 24.)

Vì vậy văn học BVN từ 1954 đến 1975 chỉ sôi động giai đoạn từ 1954 đến 1956 khi các văn nghệ sĩ vận động đòi quyền tự do sáng tác và yêu cầu đảng CS, lúc đó có tên là đảng Lao Động (LĐ) đừng can thiệp công việc sáng tác của họ. Đảng LĐ liền thanh trừng, đàn áp, bắt bớ, tù đày những văn nghệ sĩ nầy, tạo ra vụ án “Nhân văn và Giai phẩm”. Văn nghệ sĩ BVN trở thành những văn công của đảng, phục vụ công cuộc cai trị độc tài và nhất là cuộc xâm lăng miền Nam từ năm 1 BVN “chỉ là chỉ thị, kế hoạch, công văn, thông cáo...” đúng như thi sĩ Hoàng Huế đã phát biểu.

Văn học Nam Việt Nam: Nếu BVN hoàn toàn bưng bít, thì ngược lại, Nam Việt Nam (NVN) chủ trương tự do tư tưởng, tự do sáng tác, mở cửa đón nhận tất cả các luồng văn hóa mới từ nhiều nước khác nhau. Ngoài văn hóa Pháp và Âu Châu, nền văn hóa Hoa Kỳ tràn vào NVN khi người Mỹ càng ngày càng đông đảo ở NVN và sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ du học. Chẳng những văn học mà cả âm nhạc và điện ảnh Hoa Kỳ ảnh hưởng mạnh đến giới trẻ Việt Nam.

Điểm đặc biệt là dù NVN phải chống trả cuộc xâm lăng của BVN, văn nghệ sĩ NVN được tự do sáng tác nên nền văn học nghệ thuật NVN rất phong phú, đa dạng. Bên cạnh những tác phẩm chiến đấu, lại xuất hiện nhiều văn thơ và nhất là ca nhạc thở than uỷ mỵ. Từ sự uỷ mỵ nầy, nhiều tác phẩm phản chiến xuất hiện, làm xói mòn và sa sút rất nhiều tinh thần chiến đấu của chiến sĩ ngoài tiền tuyến.

Tự do sáng tác tạo nên một khác biệt lớn lao giữa chế độ miền Nam tự do dân chủ với chế độ miền Bắc cộng sản độc tài. Đây là một ưu điểm của NVN, nhưng đồng thời cũng là một nhược điểm của NVN vì BVN không bỏ qua cơ hội lợi dụng quyền tự do sáng tác để gây suy nhược tinh thần chiến sĩ, làm rối loạn và băng hoại xã hội miền Nam.

6.- ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH PARIS: VĂN HỌC HẢI NGOẠI
Sau hiệp định Paris ngày 27-1-1973, Hoa Kỳ rút quân khỏi NVN và ngưng viện trợ cho NVN. Nam Việt Nam một mình tiếp tục chiến đấu chống cuộc xâm lăng của BVN. Trong khi đó, BVN vẫn được Liên Xô và Trung Cộng viện trợ đầy đủ, và còn viện trợ gấp 4 lần so với trước hiệp định Paris. Cuối cùng NVN thất bại ngày 30-4-1975. Cộng sản BVN chiếm được toàn thể lãnh thổ Việt Nam.

Ở trong nước sau năm 1975, văn nghệ sĩ bị gò bó theo giáo điều CS, chỉ được ca tụng thành quả của đảng CS, ca tụng những gương anh hùng xã hội chủ nghĩa, đả kích những người vượt biên là những người phản quốc... Đảng CSVN kiểm soát rất chặt chẽ các sinh hoạt văn hóa, sáng tác.

Sau ngày 30-4-1975, nhiều người bỏ nước ra đi tìm tự do và định cử ở nước ngoài. Người Việt nước ngoài càng ngày càng đông, hoàn toàn tự do sáng tác đủ loại đề tài. Càng ngày đề tài của văn nghệ sĩ hải ngoại càng mở rộng, đa dạng. Nhờ tự do dân chủ, nhờ điều kiện học hành thoải mái, người Việt ở hải ngoại có thể sáng tác, nghiên cứu tất cả các đề tài văn hóa, tôn giáo, chính trị, kinh tế, xã hội mà không bị cấm đoán. Có nhiều người viết tiếng Anh hay tiếng Pháp tùy theo địa phương cư trú. Tính theo tỷ lệ dân số, số lượng tác phẩm xuất hiện ở hải ngoại rất dồi dào so với tác phẩm ở trong nước.

Nhà nước CS cho rằng nền văn học hải ngoại là nền văn học phản động, lưu vong, mất gốc, nhưng thực tế cho thấy nền văn học Việt Nam hải ngoại tiếp nối nền văn học NVN hay Việt Nam Cộng Hòa, dựa trên căn bản truyền thống dân tộc cổ truyền, trong khi người Việt tiếp thu thêm những tinh hoa văn hóa nước ngoài khi đến định cư tại các nước trên thế giới. Trong tương lai, một khi chế độ cộng sản bị giải thể, chắc chắn nền văn học nghệ thuật hải ngoại sẽ hồi hương và sẽ là nền tảng thúc đẩy nền văn học nghệ thuật trong nước phát triển trở lại.

7.- ẢNH HƯỞNG CỦA COMPUTER VÀ INTERNET

Khoảng đầu thập niên 90 thế kỷ vừa qua, sự phát triển của computer và Internet là một biến cố lịch sử trọng đại, có thể xem là cuộc cách mạng kỹ nghệ thế giới lần thứ hai, làm thay đổi toàn bộ xã hội các nước trên thế giới, kể cả Việt Nam cộng sản.

Computer giúp việc học hỏi, nghiên cứu, sáng tác dễ dàng, nhanh chóng.

Ngành computer hải ngoại phát triển mạnh và sớm hơn trong nước là một trong những lý do mà người Việt ở hải ngoại sáng tác nhiều hơn ở trong nước.

Sự bộc phát của computer đi kèm với sự bùng nổ của Internet, nhất là những trang web xuất hiện vào đầu thập niên 90. Tuy cố gắng ngăn cản, nhưng CS không thể chận đứng hoàn toàn Internet. Qua computer và internet, dân chúng trong nước có thể truy cập được những thông tin, sách báo ở hải ngoại mà lâu nay CSVN bưng bít, che đậy, giấu diếm. Nhờ đó, dân trí trong nước dần dần lên cao trở lại.

Trước đây, CSVN kiểm soát việc in ấn sách báo trên giấy rất chặt chẽ. Ngày nay, các văn nghệ sĩ trong nước chỉ cần phóng lên mạng thông tin toàn cầu sáng tác của mình, thì người Việt trong nước và trên khắp toàn cầu đọc ngay được dễ dàng. Điều nầy kích thích văn nghệ sĩ trong nước sáng tác mạnh mẽ hơn, và đề tài tự do đa dạng hơn, chứ không còn bị gò bó trong giáo điều CS.

Thên mữa, các blog xuất hiện càng ngày càng nhiều, vừa giải trí, vừa thông tin, vừa giải bày tâm sự, vừa tranh đấu đòi hỏi tự do dân chủ một cách bất bạo động. Ai cũng có thể viết blog, ai cũng có thể mở facebook.

Một mặt CS xây dựng bức tường lửa, ngăn chận thông tin trên Internet, một mặt công an CS truy lùng, bắt giam, tù đày những người viết mà CS kết tội là phản động, nhưng sự xuất hiện của computer và Internet tạo hoàn cảnh thuận tiện cho “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” ở trong nước, và thúc đẩy nền văn học trong nước nhảy vọt đáng kể trong thời gian gần đây.

Ngoài ra, khi nền kinh tế chỉ huy của CS suy sụp, đảng CS bắt buộc phải mở cửa, chuyển qua kinh tế thị trường tức kinh tế tự do để cứu nguy cho đảng CS. Từ đó Việt Nam dần dần tiến vào thị trường thế giới, dầu nhà nước CS vẫn “định hướng xã hội chủ nghĩa”. Khi Việt Nam mở cửa, các nước trên thế giới, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, đã can thiệp, giúp đỡ cho văn nghệ sĩ trong nước mạnh dạn đề cập đến nhiều đề tài mà lâu nay bị CS cấm kỵ.

KẾT LUẬN

Lịch sử là quá khứ của con người. Văn học là sàn phẩm của con người.

Lịch sử luôn luôn tác động đến văn học và ngược lại văn học phản ảnh những biến chuyển lịch sử. Những thay đổi lớn lao trong lịch sử Việt Nam từ 1884 cho đến nay làm cho văn học thay đổi mạnh mẽ đồng thời cũng được các tác phẩm văn học ghi lại dấu ấn khá rõ ràng.

Khi bị Pháp bảo hộ năm 1884, nền văn học bị ảnh hưởng tận gốc rễ do việc thay đổi chữ viết, hệ thống giáo dục và văn hóa. Người Pháp muốn cắt đứt truyền thống quá khứ để đào tạo một thế hệ trí thức mới, phục vụ chế độ Pháp thuộc. Nền văn học từ thời Pháp thuộc hoàn toàn khác biệt với nền văn học cổ điển, từ hình thức đến nội dung.

Sau thời Pháp thuộc, từ năm 1945 cho đến nay, lịch sử Việt Nam trải qua những thay đổi chính trị lớn lao nên văn học cũng trải qua những biến thái lớn lao về nội dung lẫn hình thức. Tuy nhiên, có thể do hoàn cảnh gò bó về chính trị ở trong nước, hoàn cảnh khó khăn khi mới lập nghiệp ở nước ngoài, nên chưa xuất hiện những tác phẩm văn chương khai thác hết những góc cạnh lịch sử Việt Nam vừa qua, tạo ra những tác phẩm vĩ đại như Cuốn theo chiều gió của Magaret Mitchell (Hoa Kỳ) hay Chiến tranh và hòa bình của Leon Tolstoi (Nga). Hy vọng, một khi đất nước thực sự tự do dân chủ, thanh bình thịnh trị, người Việt trong và ngoài nước bình tâm sáng tác, sẽ xuất hiện những tác phẩm văn chương lớn, phản chiếu lại toàn cảnh lịch sử đầy giông bão của đất nước chúng ta từ thế kỷ 19 cho đến ngày nay.


TRẦN GIA PHỤNG

Người thời xưa, thơ nay mới thấy


Viên Linh

Kỳ trước trong mục Văn Học Nghệ Thuật của Người Việt, bài “Tài liệu văn học quí hiếm” nói về những bài thơ và tấm ảnh của thi hào Vũ Hoàng Chương (1915-1976) mới tìm thấy đã được bạn đọc từ Montréal Canada, Úc Châu, và California hồi âm sớm nhất. Tấm ảnh úa vàng vì ẩm thấp chụp thi hào hồi ở Hà Nội, lúc 24 tuổi, mái tóc rẽ hai đường ngôi, đã được bốn trong số các bạn đọc phục chế gửi lại cho chúng tôi, và vui thay, một nhịp cầu tự nhiên hiển hiện.
Ảnh mới nhất của Quang Dũng. (Hình: Tài liệu riêng của Viên Linh)

Từ Úc Châu có hai bạn, trong đó một họa sĩ muốn có tấm hình chính, vì anh tốt nghiệp visual art ở xứ người, anh muốn phục chế để có được một tấm ảnh thật chính xác. Từ bài viết ấy, mấy câu chuyện văn nghệ thành hình.
“Kính chú Viên Linh, chú có biết hoặc nghe nói tới ông Trương G. trước đây là chánh sự vụ Nghiên cứu Kế hoạch và Pháp chế Phủ Quốc vụ Khanh đặc trách Văn hóa do cụ Mai Thọ Truyền phụ trách không? Nhà ông có nhiều thơ của cố thi sĩ Vũ Hồng Chương, hồi nhỏ (1974, 9 tuổi) cháu có đọc nhưng không hiểu lắm. Chỉ thích và nhớ một đoạn:
... Cắm thuyền sông lạ một đêm thơ,
Trăng thượng tuần cao, sáng ngập bờ,
Ðâu đấy Tầm Dương, sầu lắng đọng,
Nghe hồn ly phụ khóc trên tơ...

“Nhưng cháu lại rất thích thơ của người em vợ của cố thi sĩ VHC là cố thi sĩ Ðinh Hùng mà cháu cảm nhất là đoạn sau:

... Hồn phiêu lưu thôi mộng đường sông núi,
Lữ khách buồn dừng gót trước thành xưa,
Và dòng sông tư lự dưới sương mờ
Ngày tàn hết, người về trên đất bạn...

“Gia đình cháu mới qua định cư tại Mỹ được gần bốn năm. Nghề digital art này bà xã cháu học tại Mỹ (chứ ở Việt Nam bả làm bên ngành Y) hy vọng năm sau lấy được A.A degree.

“Nếu chú thấy tấm hình bà xã cháu phục chế đạt tiêu chuẩn thì cho cháu biết để cháu khen bà xã cháu.” (Trương K.)
Còn bạn đọc Trần H. ở Westminster cho biết tự học Photoshop qua sách vở, và cho biết: “Thi sĩ Vũ Hoàng Chương là một bậc danh nhân [mà tên tuổi] đã ghi vào lịch sử. Kẻ hậu sinh có bỏ ra một giờ để làm cho tấm hình của ngài đỡ bị thời gian làm hoen ố thì đâu có đáng gì.”
Từ Úc, bạn đọc Vĩnh L. viết qua email cho biết, bạn đọc bài Vũ Hoàng Chương trên bán tuần báo Việt Luận, thư bạn có hai điều khiến một nhà văn nghèo phải ngậm ngùi, đoạn mở đầu thì mới đọc đã vui, đọc đến đoạn sau thì niềm vui thấy mặn chát. Giá đoạn sau cũng tốt như đoạn trước thì hay biết mấy. Bạn Vĩnh L. viết: “Thời còn trẻ ở miền Trung tôi rất thích thơ văn của ông, hay thuê và mượn truyện của ông viết về đọc.” Câu sau đó: “Khi định cư ở Úc, tôi cũng hay xem những bài viết của ông trong bán tuần báo Việt Luận...”

Tôi cho ông Vĩnh L. hay tôi không gửi bài Vũ Hoàng Chương, cũng như “những bài” ký tên tôi mà ông đọc trên Việt Luận, vì tôi không hề được báo Việt Luận mời viết bao giờ. Mà tôi thì chưa bao giờ viết văn bố thí. Nghe nói, trong giới báo chí Việt ngữ ở hải ngoại, giới làm báo Việt ngữ dư ăn dư mặc nhất là anh em làm báo ở Úc, vì chính quyền Úc yểm trợ báo chí của người tị nạn, chứ không khổ cực như anh em làm báo ở Mỹ. Khi còn trẻ ở Việt Nam, nhà văn nghèo chỉ vì tác phẩm vừa in ra, các nhà cho thuê truyện đã mua ngay một cuốn đem bọc bao nylon cẩn thận, không phải vì họ quí sách, mà vì họ đem sách ấy cho thuê, không bọc bao nylon, thì sờn bìa, ai đền cho? Không lẽ đến bắt đền các nhà văn khi in sách không bọc bao nylon sẵn? Rồi nếu không thuê thì đi mượn về đọc, như đọc thấy trong thư. Ðọc giả Vĩnh L. không có ý mỉa mai người viết, vì ông đi tìm tôi từ lâu, ông có làm thơ, muốn xin ý kiến tôi về thơ ông: “Lâu nay tôi cứ mong ước có được địa chỉ của ông là tôi liên lạc với ông liền, hôm nay mừng quá tôi vừa xem tờ báo thứ ba (?) của Việt Luận (số 2765) ngày 23 tháng 7, 2013 đọc bài ông viết về thi hào VHC có địa chỉ email của ông tôi vội vàng gởi thơ đến ông... Thơ tôi thì nhiều lắm, tôi viết được trường ca về hết các địa danh Quảng Nam, mới được 240 câu chỉ còn vòng quanh thành phố Ðà Nẵng nữa là xong. Thưa ông như vậy có tốt không?”
Thư của Phương Thảo, cô con gái út của Quang Dũng. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Bài này không có mục đích viết về sự việc đi thuê truyện hay mượn truyện về đọc là tốt hay không tốt, mục đích là viết về vài mẩu chuyện tác giả nhận được sau khi bài “Tài liệu văn học quí hiếm” về Vũ Hoàng Chương đăng trên Người Việt Thứ Năm, 18 tháng 7, 2013. Kỳ này là bài thứ hai: “Tài liệu văn học quí hiếm” viết về nhà thơ Quang Dũng.

“Thưa chú Viên Linh, 
...
“Một trong những bài thơ Quang Dũng cho tới giờ 2013, chưa thấy in ra ở trong nước cũng như ở hải ngoại là bài Trưa Hè vì mấy bài có nhan đề Trưa Hè in trong sách Quang Dũng Tuyển Tập do Trần Lê Văn chủ biên, sách Thế Giới Văn Học Quang Dũng, Người và Thơ do Lại Nguyên Ân chủ biên, và Thơ Quang Dũng do Ðặng Tiến đề tựa Lê Hữu Khóa chủ biên ở hải ngoại, cả ba cuốn đó in bài thơ đề Trưa Hè, mà thực ra là bài Mây Làng. Bài ấy chỉ có hai chữ ‘trưa hè’ ở câu đầu, còn nguyên bài không nói gì về một buổi trưa mùa hè hết; đây là nguyên văn:
Trưa hè bỗng nhớ sông quê
Nước xa không bóng thuyền đi đôi dòng
Thóc nhà ai có phơi không?
Chói chang lửa thóc sân trông bóng người
Vại mưa in dáng mây trời
Em soi bóng có nhớ người xa em?
Bờ tre gió đánh lả mềm
Thoảng say mùi nái bên thềm ai giăng
Xa quê dầu chẳng võ vàng
Trông mây núi nhớ mây làng về trưa.
(Mây Làng, Quang Dũng) 1947-50”
Nó thực sự là bài Mây Làng, trong sưu tập Viên Linh mà con gái nhà thơ gửi cho. Dưới đây mới là bài Trưa Hè nguyên tác, chưa từng đăng báo in sách bao giờ, chỉ xuất hiện trên Tác Phẩm Khởi Hành chủ đề Quang Dũng và báo Người Việt hôm nay:
Trưa Hè
Nằng nặng đè lên phổi ép ran
Gió Lào hun nắng đốt không gian
Hồn trưa tịch mịch im trong cỏ
Ðường bốc hơi xa thẳm núi ngàn
Ðôi quán nằm im trong bóng lá
Bộ hành thiêm thiếp nhớ trung châu
Kẽo kẹt võng đưa người xứ Bắc
Oán than Kiều lẩy một vài câu
Người thấy tâm tư nặng trĩu buồn
Trưa hè hiu quạnh gọi cô đơn
Cảnh vật đắm chìm trong trống rỗng
Gió Lào hun nắng đốt ran ran.
Quang Dũng
(Trưa Hè, 1947-50. Khởi Hành số 201, 7.2013)
Chúng ta thấy thật rõ, như thế mới là trưa hè: sức ép đè nặng khiến phổi nóng ran, gió như hun nắng, trưa tịch mịch, đường bốc hơi, quán nằm im, bộ hành thiêm thiếp, võng đưa kẽo kẹt, cảnh vật đắm chìm trong trống rỗng nặng trĩu. Như thế mới thật sự là Trưa Hè.

Xin liên lạc với tác giả:
phạmcongkh@yahoo.com

Nói Rất Đúng: Đấu tranh để con tôi có cuộc sống tốt hơn


Blogger Người Buôn Gió ( Bùi Thanh Hiếu ) trong studio của RFI ngày 18/07/2013.
Blogger Người Buôn Gió ( Bùi Thanh Hiếu ) trong studio của RFI ngày 18/07/2013.
Đức Tâm/RFI
Người ta thường nói « Thời thế tạo anh hùng ». Từ những hoàn cảnh đặc biệt nào đó sẽ sản sinh ra một nhân vật đặc biệt. Có thể xem blogger Người Buôn Gió, tức Bùi Thanh Hiếu, là một trong những nhân vật đặc biệt đó. Từ một đứa con của ngõ Phất Lộc, Hà Nội, một khu phố bình dân, nơi tập trung những thành phần « tiền án, tiền sự », Bùi Thanh Hiếu nay lại được trọng vọng đến mức chính quyền của Weimar, một thành phố được coi như là biểu tượng văn hóa của nước Đức và của châu Âu, đã cấp cho anh một học bổng để sang đây sáng tác.
Do tại Việt Nam vẫn không có báo chí tư nhân, cho nên gần như toàn bộ những nhà đấu tranh dân chủ, những nhà hoạt động nhân quyền đều phải sử dụng mạng Internet làm vũ khí đấu tranh, làm phương tiện vừa để thông tin, vừa để trình bày quan điểm.
Nhưng trường hợp blogger Người Buôn Gió đặc biệt ở chỗ anh không phải là một nhà trí thức, một nhà lý luận cao siêu, mà chỉ là một người có suy nghĩ rất thực tế. Con đường đi đến đấu tranh của anh rất đơn giản, bình bị như chính cuộc đời của một người dân khu phố nghèo. Từ chổ cọ sát với những bất công xã hội, máu giang hồ của anh đã chuyển biến thành ý thức đấu tranh dân chủ.
Ngày 17/04 vừa qua, sau một thời gian bị phía Việt Nam dùng đủ mọi cách để cản trở, blogger Người Buôn Gió cuối cùng đã đến được thành phố Weimar của Đức trong khuôn khổ chương trình học bổng do thị trưởng thành phố này cấp cho những văn nghệ sĩ từ các nước được mời đến tham quan và lấy cảm hứng sáng tác, tại thành phố được coi là biểu tượng của văn hóa châu Âu này.
Sau 3 tháng viết liên tục mỗi ngày, blogger Người Buôn Gió đã hoàn tất khoản phân nữa cuốn sách và anh đã tự thưởng cho mình một chuyến đi thăm vài nước châu Âu, trong đó có Pháp, trước khi trở lại Đức hôm nay 24/07 để tiếp tục sáng tác.
« Từ Phất Lộc đến Weiwar », đó là tựa cuốn sánh mà blogger Bùi Thanh Hiếu dự định sẽ hoàn tất vào tháng 9 tới, kể lại quảng đời của anh từ thời niên thiếu cho đến hiện nay. Trên con đường từ Phất Lộc đến Weimar đó, blogger Người Buôn Gió đã trải qua rất nhiều thử thách cam go, đã bị nhiều trấn áp và đã chịu cảnh tù đày.
Nhưng đối với anh, những hy sinh đó là tất yếu đối với những người đã dấn thân đấu tranh, nhất là đấu tranh với một chế độ độc đoán như Việt Nam. Đó là điều mà blogger Người Buôn Gió/Bùi Thanh Hiếu đã nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn được thực hiện tại phòng thâu của RFI Việt ngữ ngày 18/07 vừa qua. 

Blogger Người Buôn Gió
23/07/2013
More



RFI : Không chỉ « Từ Phất Lộc đến Weimar », mà blogger Người Buôn Gió còn đi đến một số nước châu Âu khác trong đó có Pháp. Vậy thì cảm tưởng của anh khi lần đầu tiên đặt chân đến Paris là như thế nào ?
Blogger Người Buôn Gió : Cái đầu tiên làm tôi ngỡ ngàng là những kiến trúc rất là đồ sộ, nguy nga của Paris. Và một điều rất đặc biệt là trên các cửa sổ, ban công của các ngôi nhà này, người ta trồng hoa, chứ không phơi quần áo, treo biển quảng cáo, hoặc đưa ra những vật dụng : nồi niêu, soong chảo, như ở Việt Nam.
RFI : Tức là mỗi khi nhìn thấy những hình ảnh ở nước ngoài thì anh liên tưởng ngay đến đời sống ở Việt Nam. Vậy thì khi rời Việt Nam sang Đức để sáng tác, sự thay đổi môi trường đã có tác động như thế nào đến suy nghĩ của anh ?
Blogger Người Buôn Gió : Sự thay đổi lớn nhất đó là cảm giác yên tâm, không bị ai quấy rầy, không bị ai triệu tập, không bị ai đến làm phiền. Tôi có thể ngồi nhà tập trung viết một cách thoải mái.
RFI : Cuốn sách của anh được viết đến đâu rồi ?
Blogger Người Buôn Gió : Cuốn sách đã hoàn thành được 50% rồi, tương ứng với thời gian tôi sẽ ở đây. Trong sáu tháng, thì ba tháng tôi đã hoàn thành được 50% và tôi tự thưởng cho mình một chuyến đi chơi trong một tuần, sau đó lại về viết tiếp.
RFI : Hầu như ngày nào anh cũng viết ?
Blogger Người Buôn Gió : Vâng, có ngày tôi viết 1000 từ, hoặc 7000 từ và có ngày viết tới 10.000 từ. Song song đó, tôi tiếp tục viết trên blog những vấn đề trong nước mà tôi quan tâm.
RFI : Anh có thể « bật mí » sơ sơ về nội dung cuốn sách mà anh đang viết ?
Blogger Người Buôn Gió : Như tựa của cuốn sách « Từ Phất Lộc đến Weimar » ( Phất Lộc là nơi tôi sinh ra và Weimar là nơi mà tôi được mời đến để nhận học bổng viết sách), tôi viết về cuộc đời của mình, từ tuổi thanh thiếu niên cho đến lúc tôi đặt chân đến Weimar.
RFI : Từ thời thiếu niên của đến nay, đã có nhiều thay đổi, biến động trong thời cuộc của Việt Nam, vậy thì những sự kiện gì để lại dấu ấn mạnh nhất trong quảng đời đó ?
Blogger Người Buôn Gió : Trong cuốn sách đó có rất nhiều biến động. Từ đứa con của một khu phố bụi đời như kiểu Harlem của Mỹ mà tôi đọc trong sách, khu phố mà chỉ có những người mang « tiền án, tiền sự », như bản thân tôi, mà nay lại được đến thành phố Weimar, được mệnh danh là trung tâm văn hóa của Đức, nơi có những thi hào nổi tiếng, thì đó là cả một sự khác biệt rất lớn.
Sư thay đổi đó chính là do những biến động của xã hội Việt Nam và của số phận cá nhân con người. Đầu tiên, tôi không quan tâm đến các vấn đề xã hội, chỉ lo kiếm tiền, vun vén cho gia đình mình. Nhưng khi con tôi sinh ra trong bệnh viện, tôi phải hối lộ cho các bác sĩ. Rất may là con tôi bảo toàn được tính mạng.
Sau đó, tôi nghĩ rằng nếu mình chỉ lo kiếm tiền cho con mình, nhưng với những cẩu thả, tắc trách, quan liêu, vì những chủ quan của xã hội, liệu con mình có thể sống được, vậy thì kiếm tiền nhiều để làm gì ? Từ suy nghĩ đó, tôi băt đầu đưa những bài viết lên với mong muốn cải cách đạo đức, cải cách thói làm việc trong đất nước.
RFI : Từ việc tham gia đấu tranh đem tới một xã hội tốt đẹp hơn, anh đã được sự chú ý của quốc tế và đã được phía Đức mời sang đây để viết sách...
Blogger Người Buôn Gió : Tôi xin cắt lời anh ở đây. Khi tôi tham gia việc đấu tranh đòi hỏi công bằng bác ái cho xã hội, thì trước khi được người Đức chú ý, trước đó rất là lâu, tôi đã được chính quyền Việt Nam « chú ý » rất là nhiều, bằng những lần bắt bớ, triệu tập, khám xét nhà cửa.
Khi tôi thấy xã hội này có nhiều bất công,tôi phản ánh những bất công ấy và việc này là hoàn toàn đúng theo lương tâm và pháp luật. Khi tôi bị chính quyền trấn áp, không cho tôi viết, thì tôi lại càng tin những việc mình làm là đúng và tôi phải tiếp tục làm như thế. Chừng nào mà một người lên tiếng cho nhân quyền, tự do, công bằng không bị chính quyền làm khó dễ thì lúc đó mới là sự tiến bộ.
RFI : Cuốn sách mà anh viết cũng phản ánh con đường đấu tranh mà anh đã trải qua?
Blogger Người Buôn Gió : Cuốn sách của tôi chỉ kể lại cuộc đời của tôi một cách khách quan, trung thực, chứ tôi không dùng các thủ thuật, ẩn dụ, hướng người đọc đến ý này ý kia như những nhà văn khác. Còn cuốn sách đó phản ánh như thế nào thì tùy theo độc giả.
RFI : Như vậy đây là một cuốn tự truyện hơn là tiểu thuyết. Vậy thì dự tính khi nào anh hoàn thành cuốn sách này ?
Blogger Người Buôn Gió : Theo kế hoạch thì khoảng 10/09 thì tôi sẽ hoàn thành.
RFI : Khi hoàn thành thì phía Đức họ sẽ sử dụng cuốn sách này như thế nào ?
Blogger Người Buôn Gió : Họ sẽ tìm người dịch và cho in cuốn sách này. Họ đã đặt vấn đề với nhà xuất bản rồi.
RFI : Thành phố Weimar này có truyền thống mời các nhà văn bị truy bức từ các nước để có một không gia tự do sáng tác. Như vậy anh đã thụ hưởng không gian tự do sáng tác này như thế nào ?
Blogger Người Buôn Gió : Trong thời gian ở Đức, tôi được họ đối xử tốt. Họ cấp cho tôi một căn hộ với đầy đủ vật dụng. Chi phí cho căn hộ : tiền thuê, tiền Internet, tiền điện... họ chi trả hết. Ngoài ra họ mua cho tôi những bảo hiểm như bảo hiểm về sức khoẻ. Mỗi tháng họ cho tôi 700 euro để mua thức ăn. Tôi sống khá thoải mái với số tiền ấy.
RFI : Chắc là nhờ không khí yên bình ở đây mà anh sáng tác nhanh hơn so với ở Việt Nam ?
Blogger Người Buôn Gió : Vâng, ở bên đây, tôi cảm thấy yên tâm, không lo lắng gì, nên tôi có thể tập trung viết rất là nhanh, chứ còn ở trong nước, tôi sẽ bị chi phối, không bao giờ viết được như thế.
RFI : Song song với việc viết sách, anh vẫn tiếp tục viết trên các trang blog, trang Facebook, tức là anh vẫn tiếp theo dõi tình hình Việt Nam, vẫn viết những bài phản ánh, phê bình, chỉ trích. Có thể nói là nếu không Internet thì sẽ không có Người Buôn Gió. Anh có nhận định thế nào về tác động của Internet đối với cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam ?
Blogger Người Buôn Gió : Với việc Internet thâm nhập vào Việt Nam, những người đấu tranh dân chủ có điều kiện để phát biểu những ý kiến ngày càng nhiều hơn, về số lượng lẫn chất lượng. Nhưng số người bị bắt cũng ngày càng nhiều hơn. Hồi Internet mới được phổ cập ở Việt Nam thì người ta chỉ biết đến Lê Chí Quang là người viết trên mạng và bị bắt. Nhưng đến năm 2012, số người bị bắt lên tới 30 người trong vòng một năm.
RFI : Trong số những người bị bắt gần đây có luật sư Lê Quốc Quân, người mà theo nguyên tắc đã ra toà, nhưng phiên xử đã bịdời lại, có lẽ là do chuyến viếng thăm Hoa Kỳ của chủ tịch Trương Tấn Sang. Còn tình trạng sức khoẻ của Điếu Cày đang rất nguy kịch do tuyệt thực. Là một người từng trải qua lao tù ở Việt Nam và nay đang sống ở một đất nước tự do, anh có suy nghĩ như thế nào ?
Blogger Người Buôn Gió : Tất nhiên suy nghĩ đầu tiên là tôi rất thương những người như anh Quân và anh Điếu Cày, vì trước kia tôi cũng có quan hệ, nói chuyện, thậm chí cùng ăn cùng ngủ với những anh ấy. Thấy các anh trong cảnh tù tội như thế tôi cũng rất đau lòng và rất muốn làm một điều gì đó để giúp các anh ấy thoát ra cảnh này.
Nhưng trên con đường đi đến dân chủ thì tất yếu phải có những hy sinh, nhất là đấu tranh với một chế độ độc tài như thế. Tất nhiên là trong lòng thì mình mong muốn là điều đó không xảy ra, nhưng quy luật là thế.
RFI : Sau khi hoàn tất cuốn sách trở về nước chắc là anh sẽ tiếp tục con đường đấu tranh mà anh đã chọn ?
Blogger Người Buôn Gió : Vâng, tôi sẽ vẫn làm những gì mà tôi đã làm. Trước đây, tôi đang viết như thế này thì bị bắt vào tù, thì sau khi ra tù tôi vẫn tiếp tục viết như thế. Còn bây giờ đi nước ngoài trở về, thì tôi cũng sẽ tiếp tục viết như thế, bởi vì tôi xác định rằng việc mình làm là cho tương lai của con tôi.
Một người trình độ hạn hẹp như tôi thì không dám nói xa vời là đấu tranh cho dân tộc, cho đất nước. Tôi chỉ suy nghĩ đơn giản như một người cha, tức là làm sao cho thế hệ con mình có một cuộc sống tốt đẹp hơn.
RFI : Xin cám ơn blogger Người Buôn Gió.

---


Philippines: Biểu Tình Chống Trung Quốc - Lũ cộng sản Câm Miệng Bán Nước Mẹ Hết Rồi!

Người Philippines khắp nơi biểu tình chống Trung Quốc

Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Makati, Manila 24/07/2013, nhiều cuộc biểu tình khác cũng diễn ra ở Mỹ, Canada, Anh, châu Âu REUTERS /R. Ranoco
Một cuộc biểu tình chống Trung Quốc tại Makati, Manila 24/07/2013, nhiều cuộc biểu tình khác cũng diễn ra ở Mỹ, Canada, Anh, châu Âu REUTERS /R. Ranoco

Cách nay đúng một năm, Trung Quốc chính thức thành lập đơn vị hành chánh cấp thành phố đặt tên là Tam Sa, có nhiệm vụ cai quản hầu như toàn bộ vùng Biển Đông mà Bắc Kinh cho là thuộc chủ quyền của họ, mặc nhiên lấn chiếm vùng biển đảo của các láng giềng, từ Việt Nam cho đến Philippines.



Hành động này đã bị nhiều nước Đông Nam Á phản đối, và hôm nay, 24/07/2013, người Philippines khắp nơi đã động viên nhau biểu tình để phản đối hành động xâm lấn và gây hấn của Trung Quốc.

Căn cứ vào múi giờ, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc đầu tiên đã xẩy ra tại Philippines, theo lời kêu gọi của nhiều tổ chức, tập hợp trong Liên minh Biển Tây Philippines (WPS) vừa mới thành lập, lấy tên từ cách gọi Biển Đông của chính quyền Manila.

Tại thủ đô Manila chẳng hạn, hàng trăm người đã tuần hành trên một đại lộ náo nhiệt tại khu phố tài chính, với các khẩu hiệu như « Trung Quốc, hãy chấm dứt hành vi bắt nạt », và hộ to : « Cút đi, cút đi ». Một người biểu tình còn đốt cháy một lá cờ Trung Quốc. Lãnh sự quán Trung Quốc tại Manila vào hôm nay đã đóng cửa để dự phòng sự cố.

Liên minh Biển Tây Philippines, bao gồm các tổ chức nhân quyền, các nhân vật lãnh đạo xã hội dân sự, các tổ chức sinh viên, và các nhóm tôn giáo, mong muốn nâng cao nhận thức về chủ quyền lãnh thổ Philippines không chỉ ở trong nước mà ở mọi nơi trên thế giới.

Một trong những người lãnh đạo phong trào biểu tình hôm nay, cựu Bộ trưởng Nội vụ Rafael Alunan, cho biết là họ muốn các đồng hương của mình có hành động cụ thể nhằm bảo vệ chủ quyền đất nước.

Ông nói : « Chúng tôi muốn nâng cao nhận thức của người Philippines, không chỉ ở trong nước, mà còn trên toàn thế giới, về những vấn đề mà chúng tôi đang phải đối phó vì Trung Quốc, để chính người dân vùng lên đông đảo và nói với Trung Quốc là hãy rút đi và lựa chọn con đường hòa bình ».

Các nhà lãnh đạo liên minh nhấn mạnh rằng họ không chống lại người dân Trung Quốc, nhưng chống lại các hành vi của Bắc Kinh bị họ gọi là « chính sách vô luật pháp nhằm xâm lấn, chiếm cứ, trộm cắp tài nguyên thiên nhiên và hù dọa. »

Không chỉ tại Philippines, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của cộng đồng người Philippines cũng diễn ra ở Mỹ, Canada, Vương quốc Anh, và trên khắp châu Âu.

Tại Hoa Kỳ, trên trang web của mình, tổ chức người Philippines tại Mỹ US Pinoys for Good Governance, xác định là phong trào biểu tình hôm nay nhằm đánh dấu một năm ngày Trung Quốc đặt Biển Đông dưới quyền kiểm soát của thành phố Tam Sa.

Ở Mỹ, có ba nơi biểu tình chính : Tại New York, trước trụ sở Liên Hiệp Quốc, tại San Francisco, trước lãnh sự quán Trung Quốc, và tại Washington trước đại sứ quán Trung Quốc.

Riêng chính phủ Philippines đã giữ khoảng cách với phong trào biểu tình hôm nay, cho biết là hiện nay Manila đang tập trung vào vụ kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Liên Hiệp Quốc về luật biển mà đơn khiếu nại đã được đưa lên vào tháng Giêng.

---------

Trần Khải Thanh Thủy: Thơ viết gửi Điếu Cày


Thơ viết  gửi  Điếu Cày

Tự do không sắc màu
Mà bao người đổ máu
Cũng bao người vật vã
Trong lao tù thẳm sâu

Anh  tượng  thần không đổ
Một  tấm lòng  không vơi
Nhánh  sông đời không lở
Điếu Cày! Điếu Cày ơi

Bên anh là bạn hữu
Quanh anh triệu bà con
Con trai cùng vợ... ngóng
Bao lo lắng khôn cùng

Ba hai ngày khắc khoải
Không một thìa cơm canh
Anh kiên gan bền tánh
Anh quyết cháy đến cùng
Tro tàn đẻ ra lửa
Ngọn lửa của  tự do
Của niềm tin, độc lập
Thiêu cộng sản thành tro

Lũ cộng sản nhầm to
Khi xử anh trốn thuế
Càng sai lầm hơn thế
Khi kết anh “tuyên truyền...”

Càng xử lý bất công
Càng gieo rắc bất bình
Cộng sản đang chuốc lấy
Nỗi sợ hãi cho mình

Xã hội  không niềm tin
Cuộc đời không  nhân tính
Chế độ này tự dẫm
Lên thân xác chính mình

Bây giờ dẫm tới cổ
Vẫn chưa tỉnh  ngộ ư?
Nếu không thả Điếu Cày
                        Đầu chúng  mày xuống hố

Điếu Cày! Điếu Cày ơi
Ngọn lửa anh sáng chói
Gọi bao người tìm tới
Phá ngục tù, đêm đen ...

 Sacramento ngày thứ 32 Điếu Cày tuyệt thực
TKTT

http://2.bp.blogspot.com/-OpNhvJkLw2k/T3g4waN3h6I/AAAAAAAAFZQ/zC4ORuYq5WI/s1600/blogger+dieu+cay.jpg

Houston: HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN VIỆT TUYỆT THỰC


---
Hòa thượng Thích Huyền Việt
Hòa thượng Thích Huyền Việt


LỜI TUYÊN BỐ TUYỆT THỰC
CỦA HÒA THƯỢNG THÍCH HUYỀN VIỆT


Houston, Texas, ngày 25 tháng 7 năm 2013



Tôi là Tỳ kheo Thích Huyền Việt, trú trì tại Chùa Liên Hoa, thành phố Houston, tiểu bang Texas, xin nguyện tuyệt thực trong ba ngày, kể từ ngày 25 đến ngày 27 tháng 7, là thời gian ông Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước CHXHCNVN đến Hoa Thịnh Đốn.



Tôi mong rằng cuộc tuyệt thực của tôi sẽ được Tổng Thống Obama, nhân dận Hoa Kỳ và nhân dân toàn thế giới lưu tâm tới tình trạng đàn áp nhân quyền, đàn áp tôn giáo, đàn áp tự do ngôn luận ngày càng ác liệt tại Việt Nam.

Điều thúc đẩy tôi tuyệt thực, là hình ảnh của blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang tuyệt thực 32 ngày qua tại trại số 6 ở nhà tù Thanh Chương tỉnh Nghệ An. Ông bị kết án 12 năm tù giam vì đã viết những bài kêu gọi ôn hòa cho dân chủ và nhân quyền. Do ông không chịu áp lực của quản giáo bắt ông phải thú tội mà ông không hề phạm, nên ông bị biệt giam trong phòng tối không có lỗ thông hơi và ánh sáng. Ông tuyệt thực để phản đối tình trạng đối xử khắc nghiệt và vô nhân đạo đối với toàn thể tù nhân chính trị tại trại giam.

Nên tôi tuyệt thực hôm nay để cầu nguyện cho sức khỏe của Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và hậu thuẫn cuộc tranh đấu bất bạo động của ông;

Tôi cũng tuyệt thực để hậu thuẫn Lời Kêu Gọi cho tiến trình Dân chủ hóa Việt Nam của Đức Đệ ngũ Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, biểu tỏ qua bức Tâm thư gửi Tổng Thống Obama ngày 14 tháng 7 vừa qua;

Đồng thời tôi cũng tuyệt thực để cầu nguyện cho Cộng đồng các Tôn giáo tại Việt Nam sớm được tự do sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng, cũng như sự phục hồi quyền sinh hoạt pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất .


Làm tại Houston, ngày 25 tháng 7 năm2013
Tỳ Kheo Thích Huyền Việt
----



Kêu gọi Tuyệt Thực Hổ Trợ Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải

Video :
  
Bản Tin Tù Nhân Điếu Cày Tuyệt Thực đến Ngày Thứ 25.


Kính thưa Quý Liệt Vị Tôn Trưởng Đồng Hương,
Chúng tôi nhiệt liệt hổ trợ tất cả Hội Đoàn Tổ Chức đấu tranh biểu tình toàn diện chống Cộng sản bán nước Trương Tấn Sang trong dịp viếng thăm Hoa Ky.
Hiện nay, Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải vẫn còn tiếp tục tuyệt thực, thân
nhân của blogger Điếu Cày kêu gọi sự quan tâm của Đồng Bào và Cộng Đồng Quốc Tế về tình trạng của Điếu Cày cùng tất cả tù nhân Chính Trị và Lương Tâm trước chuyến đi thăm Tòa Bạch Ốc của Chủ tịch CS Việt Nam Trương Tấn Sang.
Hiện nay, Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải đang trong tình trạng suy yếu đe dọa sinh mạng, sau một tháng tuyệt thực để phản đối bị biệt giam và bị đối xử ngược đãi trong nhà tù Cs.
Kính thưa Quý Liệt Vị Tôn Trưởng, trong một thông báo nhân Ngày Tự Do Báo chí Quốc Tế vào tháng 05 năm 2012, Tổng Thống Obama đã nêu tên Điếu Cày và ca ngợi sự dũng cảm của Anh trong bối cảnh “một chiến dịch đàn áp quy mô chống các Nhà Báo Công Dân ở Việt Nam.”
Đây là cơ hội hiếm quý một móc ngoặt lịch sử để chúng ta đưa ra hình ảnh Blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải và thực trạng Việt Nam trước óng kín Quốc Tế.
Rất mong Quý nhân sĩ Hội đoàn Người Việt Quốc gia ở Hoa Ky tổ chức Tuyệt Thực biểu tình trước Nhà Trắng ‘ nơi mà Ts Nguyễn Quốc Quân đã tuyệt thực đồng hành hổ trợ Ts Cù Huy Hà Vũ.’
Kính thưa Quý liệt vị đã từng đồng hành tuyệt thực với Ts Cù Huy Hà Vũ.
Có khác biệt gì giữa Cù Huy Hà Vũ và Điếu Cày?
Trong khi Ls Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực được hàng chục đồng hương trong và ngoài nước hưởng ứng đồng tuyệt thực ủng hộ và sau đó là cuộc đón tiếp long trọng bà Ls Nguyễn Thị Dương Hà vợ của Ts Luật Cù Huy Hà Vũ đến Hoa Ky, tưng bừng trong ngày lễ Độc Lập của nước My, còn Điếu Cày nay đã tuyệt thực đến ngày thứ 30.
XIN HÃY CỨU ĐIẾU CÀY
Kính thưa Quý Liệt Vị Tôn Trưởng Đồng Hương,
Cá nhân chúng tôi Nguyễn Thị Ngọc Hạnh hiện cộng tác xa nên sự tuyệt thực của tôi không có cơ hội được sự giám sát của đồng bào.
Nhưng với tinh thần,
‘Một Con Ngựa Đau Cả Tầu Không Ăn Cỏ’
Chúng tôi Nguyễn Thị Ngọc Hạnh xin phát tâm tuyệt thực hổ trợ Điếu Cày và Đồng Bào biểu tình chống Trương Tấn Sang bán nước, kể từ ngày 23 tháng 07/2013.
Chúng tôi kêu gọi sự Hổ trợ của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia dành cho Điếu Cày, Nguyễn Hữu Cầu, Linh Mục Tadeo Nguyễn Văn Lý và tất cả những Nhà Dân Chủ trong Quốc Nội gởi một Thông Điệp đến Tổng Thống, Nhân Dân Hoa Ky cùng Cộng Đồng Thế Giới về vấn đề tệ hại Nhân Quyền của người dân Việt Nam trong Nước.
Khẩn thiết gửi lá thư kêu cứu này đến đồng bào, đến các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước,
DIEU CAY
XIN HÃY CỨU LẤY ĐIẾU CÀY TRƯỚC KHI QUÁ MUỘN!
Nguyễn Thị Ngọc Hạnh
Ngay 24 / 07/2013

 http://ptpnvnhdcnblog.wordpress.com

Bài Xem Nhiều