We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 31 July 2013

Cuộc Di Cư Vĩ Đại Chạy Giặc Cộng Sản 1954-1955


Trong những năm đầu tiên của chế độ, khi toàn dân cùng với chính quyền bắt tay vào việc xây dựng đất nước, thì đã gặt hái được những thành quả ngoạn mục như sau:
Trước hết là việc chuyên chở và định cư cho hơn 900.000 người di cư, trong đó có gần 700.000 người Công giáo. Việc chuyên chở người di cư từ Bắc vào Nam được kế hoạch và sử dụng phương tiện chuyên chở của Pháp và Mỹ. Còn việc định cư thì hoàn toàn chỉ do tiền viện trợ của Mỹ đài thọ. Công cuộc định cư sở dĩ hoàn thành mau chóng và tốt đẹp là một phần nhờ ông Diệm đã chọn được, những vùng đất phì nhiêu rộng lớn cho dân di cư. Ví dụ như ông Diệm đã:
- Lấy đất Cái Sắn màu mỡ cấp phát cho 45.000 nông dân.
- Lấy bờ biển Bình Tuy và đảo Phú Quốc, nổi tiếng nhiều hải sản cho dân chài  lưới.
- Lấy Long Khánh, Định Quán, Gia Kiệm, Hố Nai cho dân khai thác lâm sản và làm đồ mộc.
- Lấy Ban Mê Thuột và Cao Nguyên đất đỏ phì nhiêu cho dân trồng trọt hoa mầu xuất cảng.
- Lấy vùng Ngã Ba Ông Tạ, Tân Bình, Gò Vấp chung quanh Sài Gòn cho dân thương mãi và kỹ nghệ …
Nhờ tiền bạc dồi dào của Mỹ, nhờ chính quyền dành cho mọi sự dễ dàng, nhờ Tổng Thống Diệm chú tâm nâng đỡ, chẳng bao lâu người dân di cư miền Bắc đã hội nhập dễ dàng vào cuộc sống của dân miền Nam, mà trước đó họ coi là vùng đất xa lạ.
Và cũng chẳng bao lâu, đời sống dân di cư đã đi từ ổn định, đến trù phú còn hơn cả dân địa phương. Công cuộc định cư mau chóng và tốt đẹp cho hơn 900.000 người di cư, đã làm cho các quốc gia trên thế giới, nhất là Hoa Kỳ phải khâm phục. Một bác sĩ trẻ của Hải Quân Mỹ, ông Tom Dooley, một nhân vật rất mộ đạo Thiên Chúa, từng tham gia vào việc chuyên chở người Bắc di cư vào Nam, Ông nhận thấy tinh thần chống Cộng cao độ của người Thiên Chúa giáo Việt Nam, nên ông đã tình nguyện ở lại miền Nam để thực hiện nhiều công cuộc nhân đạo, viết sách ca ngợi công trình di cư và định cư, làm cho nhân dân Mỹ càng thêm kính phục Tổng Thống Ngô Đình Diệm.
Đây là một thành công lớn về mặt xã hội của chính quyền VNCH.
Trong những năm 1955–5196. Ngoài công cuộc định cư cho dân miền Bắc, nhiều cải cách xã hội, cũng như những biến cố chính trị tốt đẹp khác, càng làm tăng thêm uy tín của ông Diệm:
- Ngày 4 tháng 4 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Ưng Bảo Toàn, Tổng Giám Đốc thương mãi ở Bộ Kinh tế vì tội bán gạo chợ đen cho VC.
- Ngày 28 tháng 4 năm 1956, quân đội viễn chinh Pháp xuống tàu về nước.
- Ngày 13 tháng 7 năm 1956, xử tử tướng Ba Cụt, một vị lãnh tụ nghĩa quân Hòa Hảo, chấm dứt tình trạng mất ổn định tại miền Tây Nam phần.
- Ngày 21 tháng 8 năm 1956, Chính Phủ bắt ông Vũ Đình Đa và đồng bọn về tội biển thủ mấy triệu bạc của Ngân Hàng Quốc Gia.
Ngày 26 tháng 10 năm 1956, ông Diệm tuyên bố thành lập nền Cộng Hòa.
Sau trận Điện Biên Phủ, Hiệp Định Genève được ký kết giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Pháp, tạm thời chia đôi Việt Nam tại vĩ tuyến 17. Hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của nhà cầm quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được tập trung ở miền Bắc, và hệ thống bộ máy dân sự và lực lượng quân sự của chính quyền Liên Hiệp Pháp được tập trung ở miền Nam, chờ ngày tổng tuyển cử tự do, dự kiến sẽ xảy ra vào ngày 20 tháng 7 năm 1956. Điều 14 phần (d) của Hiệp định cho phép người dân ở mỗi phía di cư đến phía kia, và yêu cầu phía quản lý tạo điều kiện cho họ di cư trong vòng 300 ngày sau thoả hiệp đình chiến (Điều 2), tức chấm dứt vào ngày 19 tháng 5 năm 1955.
Để giám sát thực thi hiệp định, Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến được thành lập theo điều 34 của Hiệp Định với đại diện của ba nước Ấn Độ, Ba Lan, và Canada.
Theo tuần báo Time, những người di cư vào miền Nam, đặc biệt những người Công giáo Việt Nam, cho rằng họ đã bị đàn áp tôn giáo dưới nhà cầm quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Cộng Sản). Nhiều người lại vì lý do chính trị : họ là những người làm việc cho Pháp, hay giới tư sản, tiểu tư sản không có cảm tình với Chính Phủ Cộng sản. Một số người là nạn nhân của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam, bị lấy mất tài sản nên phải bỏ ra đi. Vào lúc này, các Linh Mục miền Bắc cũng đã giục giã các con chiên di cư vào Nam.
Bên phe Cộng Sản luôn tìm cách phá hoại cuộc di cư của đồng bào. Cho công an Những tờ bích chương và bươm bướm do Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến in và trao cho hai bên phổ biến cho dân chúng, biết về quyền tự do di tản thì không được nhà cầm quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (Cộng Sản) phân phát.  Hơn nữa chính Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến đã mở cuộc điều tra đơn khiếu nại của Việt Nam Dân chủ Cộng Hoà về hành động "cưỡng bách di cư".  Trong số 25.000 người Uỷ Hội tiếp xúc, không có ai nhận là họ bị "cưỡng bách di cư" hay muốn trở về Bắc cả, như lời tố cáo láo của phe Cộng Sản.
Ngoài những người di cư vào Nam vì lý do tôn giáo (chiếm 2/3 tổng số), số còn lại là những người thuộc khuynh hướng chính trị chống Cộng Sản. Những người có liên hệ với chính quyền Pháp hay Chính Phủ Quốc Gia. Thành phần tư sản thành thị và những gia đình nông thôn lo ngại vì chính sách cải cách ruộng đất. Thêm vào đó là những người thuộc dân tộc thiểu số, đã từng theo quân đội Pháp chống Việt Minh. Trong đó có khoảng 45.000 người Nùng vùng Móng Cái và 2.000 người Thái và Mèo từ Sơn La và Điện Biên.
Tiến trình
Hàng loạt tàu há mồm (landing ship) đã đón người di cư rời miền Bắc. Ngày 9 tháng 8 năm 1954. Chính phủ Quốc gia Việt Nam của tân Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, lập Phủ Tổng Uỷ Di Cư Tỵ Nạn, ở cấp một Bộ trong Nội Các với ba Nha đại diện: một ở miền Bắc, một ở miền Trung và một ở miền Nam để xúc tiến định cư.
Thêm vào đó là Uỷ Ban Hỗ Trợ Định Cư, một tổ chức cứu trợ tư nhân giúp sức. Vì không có đủ phương tiện cho những người di cư vào Nam, nên chính quyền Pháp và Bảo Đại phải kêu gọi các nước khác giúp chuyên chở và định cư.  Các Chính Phủ Anh, Ba Lan, Tây Đức, Nam Hàn, Hoa Kỳ, Nhật, Phi Luật Tân, Tân Tây Lan, Trung Hoa Dân quốc, Úc và Ý hưởng ứng cùng các tổ chức Unicef, Hồng Thập Tự, Catholic Relief Services (CRS), Church World Services (CWS), Mennonite Central Committee (MCC), International Rescue Committee (IRC), Care và Thanh Thương Hội Quốc tế.
Ngày 4 tháng 8 năm 1954, cầu hàng không được nối phi trường Tân Sơn Nhứt, Sài Gòn trong Nam với các sân bay Gia Lâm, Bạch Mai, Hà Nội và Cát Bi, Hải Phòng ngoài Bắc được thiết lập.  Nỗ lực đó được coi là cầu không vận dài nhất thế giới lúc bấy giờ (khoảng 1200 km đường chim bay). Phi cảng Tân Sơn Nhứt trở nên đông nghẹt; tính trung bình mỗi 6 phút một là một máy bay hạ cánh và mỗi ngày có từ 2000 đến 4200 người di cư tới. Tổng kết là 4280 lượt hạ cánh, đưa vào 213.635 người.
Ngoài ra, một hình ảnh quen thuộc với người dân tỵ nạn là "tàu há mồm" (landing ship), đón người ở gần bờ rồi chuyển ra tàu lớn neo ngoài hải phận miền Bắc. Các tàu thủy vừa hạ xuống, hàng trăm người đã giành lên. Các tàu của Việt Nam, Pháp, Anh, Hoa Kỳ, Trung Hoa, Ba Lan... giúp được 655.037 người "vô Nam". "Nam" được hiểu là cả dải duyên hải miền Nam Việt Nam, từ Đà Nẵng tới Vũng Tàu. Vì số người di cư quá đông, Cao Uỷ Pháp đã xin gia hạn thêm ba tháng và phía Hà Nội đã thoả thuận, nên ngày cuối cùng thay vì là ngày 19 tháng 5 được đổi thành ngày 19 tháng 8. Trong thời gian gia hạn, thêm 3.945 người đã vượt tuyến vào Nam.  Chuyến tàu thuỷ cuối cùng của cuộc di cư cập bến Sài Gòn vào ngày 16 tháng 8 năm 1955.
Thêm vào đó, còn tới 102.861 người tự tìm đường bộ hoặc ghe thuyền và phương tiện riêng. Tính đến giữa năm 1954 và 1956, khoảng trên 900.000 – 1.000.000 người đã di cư từ Bắc vào Nam, trong đó có khoảng 700.000 người Công Giáo, tức khoảng 2/3 số người Công Giáo ở miền Bắc đã bỏ vào Nam.
Tất cả những thành công trong hai năm đầu của chế độ được xem như là kết quả của những nỗ lực, của một chính quyền tuy còn yếu kém về mặt quản trị, nhưng lại được một sự quyết tâm cộng tác của toàn dân. Tuy nhiên những nỗ lực này, tự nó và nếu chỉ riêng nó, cũng chưa đủ để hoàn thành việc củng cố miền Nam, nếu không có sự yểm trợ tối đa và vô điều kiện của Hoa Kỳ.  Mà đặc biệt là của ba người Mỹ đã từng liên hệ chặt chẽ với ông Diệm từ trước. Đó là Hồng Y Spellman, Giáo Sư Buttinger và một nhân vật cao cấp CIA, ba nhân vật (từ đầu) đã hoán cải được quan niệm của Tổng Thống Eisenhower, vốn đã muốn bỏ rơi Việt Nam.
Trong ba nhân vật đó thì Đại tá Lansdale đóng vai trò cố vấn trực tiếp bên cạnh Tổng thống Diệm. Ông ta nổi tiếng đến độ không một nhà viết sử nào, khi nói đến sự nghiệp của ông Diệm mà không nhắc đến thân thế và hoạt động của ông ta. Đại tá Lansdale đến Đông Dương từ năm 1954, làm cố vấn phản du kích cho quân đội viễn chinh Pháp.

Ngô Đình Châu

Các thanh niên -Bộ đội tại Việt Nam : Hãy nhìn tấm gương của cựu “bộ đội” Đoàn Văn Vươn!

Thụy My :Vào cuối giờ chiều ngày 30/07/2013 trong phiên xử phúc thẩm tại Hải Phòng, Tòa án Nhân dân Tối cao đã tuyên y án 5 năm tù về tội danh « giết người »....





Các bị cáo Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý và Đoàn Văn Sinh, tại tòa án Hải Phòng. Ảnh chụp tháng 4/2013

Trích:Các thanh niên -Bộ đội tại Việt Nam : Hãy nhìn tấm gương của cựu “bộ đội” Đoàn Văn Vươn!
Như mọi người đã biết, nông dân Đoàn Văn Vươn, là một người từng đứng trong hàng ngũ của “quân đội nhân dân” của Việt Nam Cộng sản; nhưng sau khi hết thời gian “thi hành nghĩa vụ quân sự” trở về, vì để có miếng cơm, manh áo, nuôi sống bản thân và gia đình, nên cả gia đình họ Đoàn đã đem hết công sức của mình, để có được một khu đầm đất, thì đã bị đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó, có Nguyễn Tấn Dũng, với cái chức “Thủ tướng” kiêm “đại biểu quốc hội” tại Hải Phòng, đã chỉ thị cho cả một đội quân và chó đến tận nhà của anh em Đoàn Văn Vươn, tấn công, đập phá và ăn cướp, rồi khi nạn nhân phải tự vệ, thì lại bỏ tù, còn kẻ cướp  như Đỗ Hữu Ca, thì lại được thăng lên cấp “tướng” cướp.

Chính vì những gì đã xảy ra đối với cả gia đình của nạn nhân Đoàn Văn Vươn, thì thiết nghĩ, tất cả các thanh niên cũng như những người đã và đang cầm súng trong hàng ngũ “quân đội nhân dân” dưới sự  chỉ huy của “các cấp quân đội” Cộng sản tại Việt Nam, cần phải nhìn “tấm gương” của cựu “bộ đội” Đoàn Văn Vươn, để rồi phải tự biết số phận của chính mình, sau khi đã xuất ngũ, nếu muốn có miếng ruộng, khu vườn như Đoàn Văn Vươn, thì sẽ ra sao, có phải bị bỏ tù như Đoàn Văn Vươn hay không ?!

Dưới chế độ của đảng Cộng sản Việt Nam, thì không có điều gì là không thể xảy ra, vì biết đâu, hôm qua, hôm nay, là Đoàn Văn Vươn, còn ngày mai, hay một ngày nào đó, những thanh niên, những “bộ đội” đang cầm súng đứng trong hàng ngũ của “quân đội nhân dân” sẽ là những Đoàn Văn Vươn, và vợ con cũng như cả gia đình cũng sẽ lâm vào cảnh tù đày, khốn khổ!

Trong một chế độ độc đảng, độc quyền. Đảng Cộng sản Việt Nam đã dùng bạo lực sắt máu, để nắm quyền cai trị cả đất nước, chứ không phải do người dân cầm lá phiếu tự do để bầu lên, thì bất cứ lúc nào, những người dân lương thiện cũng có thể bị bỏ tù, bị giết chết. Hôm nay, là cựu “bộ đội” Đoàn Văn Vươn, còn ngày mai, có thể sẽ có hàng trăm, hàng ngàn, hay hàng triệu “Đoàn Văn Vươn” nữa.

Các thanh niên và “bộ đội” tại Việt Nam hãy nhớ lấy. Đừng quên!

29/7/2013
Vũ Đức Toàn
--
Người đi vào lịch sử !


Người nông dân Đoàn Văn Vươn sẽ không ngờ có ngày bước vào lịch sử như một người anh hùng áo vải trong mắt người dân, và là kẻ phạm tội với chính quyền.

Đoàn Văn Vươn thời báo chí coi như anh hùng lao động

Có một điều chắc chắn, Đoàn Văn Vươn không có ý định bước vào lịch sử để làm anh hùng. Anh đã không chọn là một công chức mẫn cán ăn lương, có thể sáng cắp ô đi, tối cắp ô về. Cũng có thể quan lộ của anh sẽ sáng láng, kiếm được một cái ghế, trở thành kẻ tham quyền, tham nhũng như hầu hết gương mặt nhem nhuốc của quan chức thời nay…Các ngả đường đều có thể đến với quyền lực và tiền tài nếu người ta chịu ra nhập vào hàng ngũ đảng viên của đảng cộng sản, trung thành tuyệt đối với lí tưởng XHCN, hoặc ít ra giả vờ trung thành ngoài mặt, thêm chút mánh khóe vây cánh, lo lót, nịnh hót, giả dối…

Đoàn văn Vươn chọn làm người nông dân theo đúng nghĩa, và là một nông dân có chữ nghĩa. Lớn lên ở làng quê, đi học, rồi nhập ngũ. Sau khi làm xong nghĩa vụ người lính anh quay lại học đại học, cũng chọn đại học Nông nghiệp. Và đó là sự lựa chọn được xác quyết không đắn đo: sẽ cả đời gắn bó với đất đai, đồng ruộng.

Anh đã sống theo đúng con đường đã chọn. Dành cả chục năm để làm một việc mà người ta gọi là “dã trang xe cát”, ngăn đê lấn biển, biến một vùng đất hoang thành trang trại trù phú. Nếu không có tình yêu và niềm tin vào đất đai, một nông dân tay trắng khó làm được một thành quả mà một tập thể người chưa chắc đã làm được. Mồ hôi, tiền bạc và cả nỗi đau đớn anh đổ xuống vùng đất ngập mặn đó.

Cuộc sống làm nông dân của anh có thể nói như cách nói thông thường ngày nay, là không dính dáng đến chính trị, xa lánh chính trị. Nhưng chính trị vẫn chọn anh để làm tấm gương cho tất cả người Việt Nam hôm nay soi vào: chính trị không chừa một ai, kể cả khi ta xa lánh nó. Vì chính trị không có gì khác là đời sống thiết thực của mỗi con người.

Chính trị là chính sách về đất đai có tên gọi “sở hữu toàn dân”. Nhưng không có người dân nào được quyền sở hữu ngoài nhóm người có quyền lực.

Chính trị là các nghị quyết từ trung ương đến cơ sở về quyền cho thuê, khoán đất đai nằm trong tay một nhóm người có tên gọi là chính quyền “của dân, do dân và vì dân” nên anh Vươn dù có kiện chính quyền thì kẻ thua cuộc luôn là anh, nông dân không quyền lực, dù theo lý thuyết vẫn thường nói, anh thuộc về lực lượng nòng cốt của chuyên chính vô sản.
Cưỡng chế tài sản "sở hữu toàn dân"

Chính trị là lệnh cưỡng chế áp đặt lên mảnh đất anh đã khai phá, tốn bao nhiêu công sức, tiền bạc, mạng sống của người thân mà anh đáng lẽ phải ngoan ngoãn chấp hành.

Chính trị là anh phải ra tòa với tội danh giết người, trong khi những kẻ gây nên sự tang thương, tan nát cả gia đình, sự nghiệp mà anh đã nhọc công gây dựng thì ngồi ở ghế quan tòa xét xử anh.

Chưa bao giờ đời sống của cá nhân bị đặt trong thử thách trực diện với bạo lực chính quyền như lúc này – một đời sống với những cá tính bị đè nén, đến lúc nó phải thể hiện bằng cách khác. Tiếng súng hoa cà hoa cải của anh Vươn là một ví dụ.

Cuộc sống của hầu hết các cá nhân đầy những lo toan thường nhật, không có tương lai. Những lo toan hàng ngày ấy luôn bị đặt trước nguy cơ đụng độ với cả hệ thống chính quyền được luật pháp bảo hộ. Điều đó có nghĩa, hệ thống pháp luật này luôn sẵn sàng tước bỏ, đè bẹp mọi đường sống, mọi giá trị cá nhân của người dân. Phẩm giá, cuộc sống của người dân chưa bao giờ được bảo vệ, tôn trọng khi xã hội thủ tiêu quyền sở hữu tư nhân. Vì ai cũng hiểu, khi sở hữu tư nhân được thừa nhận, cũng có nghĩa mở đường cho tự do và dân chủ.

Giả sử, nếu anh Vươn không chống trả những kẻ đến cưỡng chế thì bây giờ anh không phải là kẻ tội phạm trong mắt chính quyền, nhưng có lẽ anh sẽ bị buộc tội khi mất khả năng trả món nợ 10 tỷ cho ngân hàng vì cuộc chinh phục biển – một cuộc chinh phục như một “canh bạc” anh cá cược hết cuộc mình và người thân. Bất luận ở vị thế nào thì anh cũng bị dồn vào “bước đường cùng” như anh Pha, chị Dậu thời xưa. Nhưng anh Pha, chị Dậu chưa bị bão táp của cuộc cách mạng vô sản làm cho lóa mắt với nhiều ảo tưởng về sự công bằng, ấm no, hạnh phúc…Cái máng lợn của người nông dân bao đời vẫn chưa hề thay đổi với “tiền đồ tối đen như mực” của anh Pha, chị Dậu.

Nhà nước XHCN tự hào là đã xóa bỏ giai cấp bóc lột, đem lại sự bình đẳng của con người. Nhưng ảo tưởng về một xã hội không giai cấp là mơ ước hão huyền của cuộc cách mạng vô sản. Chính khi cố xóa bỏ giai cấp bóc lột cũ thì nhà nước chuyên chính vô sản đã tạo dựng một nên một “giai cấp mới” như Milovan Djilas, phó tổng thống Nam Tư dưới thời Joseph Tito đã chỉ ra: “đặc trưng cơ bản của giai cấp mới chính là quyền sở hữu tập thể”. Và ông nói thêm: “Quyền sở hữu mới không phải là quyền lực chính trị, nhưng nhờ quyền lực chính trị mà đảng và bộ phận đầu não của đảng có toàn quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền quản lý khối tài sản đó”. Và: “Quan hệ sở hữu tư nhân không những không phù hợp với việc thiết lập quyền thống trị của gai cấp mới, mà việc bãi bỏ quan hệ sở hữu này còn là điều kiện cần thiết về mặt kinh tế để cải tạo toàn bộ dân tộc. Giai cấp mới khai thác sức mạnh, đặc quyền, tư tưởng và thói quen hình thức sở hữu đặc thù. Đấy là sở hữu tập thể, nghĩa là cái sở hữu mà nó có quyền quản lý và phân phối “nhân danh” dân tộc, “nhân danh” xã hội”.

Trước sức mạnh vô biên của “giai cấp mới” như nói trên thì phận người dân chỉ là phận con sâu cái kiến như Đoàn Văn Vươn. Quyền lợi của người dân hoàn toàn bị vô hiệu hóa trước cơn bão sở hữu tập thể, lợi ích tập thể nhưng chính họ lại bị đẩy ra ngoài.

Chỉ vì miếng cơm manh áo cho gia đình, người nông dân hiền lành, chăm chỉ, kiên cường, dũng cảm Đoàn Văn Vươn bỗng bị đẩy vào cơn lốc xoáy mang tên “sở hữu toàn dân” với sự yểm trợ của chuyên chính vô sản.

Lịch sử lựa chọn anh cùng với tấn bi kịch gia đình để lột tả tận cùng sự bất công của cá nhân với tính tập thể mang danh hiệu XHCN này. Anh đã gánh một trọng trách mà anh không hề mong muốn bằng một cái án tù đầy phi lý. Nhưng nếu không có phi lý thì không có bi kịch. Và những bi kịch là kết quả tất yếu trong quá trình hình thành và phát triển “giai cấp mới” đang ngự trị trong xã hội Việt Nam hôm nay…

Nhưng không có lịch sử đất nước nào chỉ được viết bằng những tấn bi kịch. Bi kịch có sức phản lực mạnh hơn rất nhiều những anh hùng ca, nhất là khi anh hùng ca được viết bằng sự giả dối, bất công…

Đoàn Văn Vươn đã bước vào lịch sử như một người anh hùng áo vải, có sức lay động đến tâm can của rất nhiều các giai tầng xã hội.

Những kẻ đã buộc anh đi vào lịch sử, thì cũng không dễ gì đưa anh ra khỏi lịch sử đất nước những năm tháng này mà không trả một cái giá đắt nào...?

Nước mắt người nông dân !

Vụ án anh Đoàn Văn Vươn đã khép lại với mức án mà những người có lương tri và có tấm lòng thương yêu người nông dân hiền lành, chất phác bị dồn đến bước đường cùng cảm thấy bất bình và phẫn nộ. Trong tuần sắp đến sẽ là phiên tòa xét xử những tên cầm đầu vụ cưỡng chế trái phép, thực chất là đi ăn cướp sẽ diễn ra như thế nào và kết quả ra làm sao? Chúng ta hãy chờ xem.

Trong xã hội và trong mọi thời đạ, người nông dân Việt Nam là những người bị thiệt thòi nhiều nhất. Nhìn vào thời đại phong kiến và thực dân, người nông dân Việt Nam đã bị những cường hào ác bá chèn ép, bóc lột mà những tiểu thuyết tả chân ngày xưa của các tác giả như Ngô Tất Tố và Nguyễn Công Hoan đã nói lên những bức tranh ảm đạm của nông thôn Việt Nam. Những tác phẩm này chỉ nói lên được khía cạnh nhỏ mà chưa lột tả hết sự đau khổ tột cùng của người nông dân.

Sau năm 1954, nước Việt Nam bị cắt chia làm hai. Miền Bắc Việt Nam dưới sự cai trị của đảng Cộng Sản Việt Nam và miền Nam là nước Việt Nam Cộng Hòa. Hồ Chí Minh đã theo lệnh của Quốc Tế Cộng Sản bằng mọi cách phải chiến miền Nam - Việt Nam Cộng Hòa, để Cộng Sản hóa cả nước, cho nên đã phát động cuộc chiến tranh “giải phóng miền Nam”. Người nông dân miền Bắc lúc này vừa phải đi lính vào đánh miền Nam vừa phải nhịn đói nhịn khát “hạt gạo xẻ làm tư” để phục vụ cho mưu đồ Cộng Sản hóa Việt Nam của Hồ Chí Minh, cho nên đời sống người nông dân miền Bắc trong giai đoạn này vô cùng khốn khổ.

Trong khi đó, tại miền Nam, sau năm 1954 thời Đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà, với chính sách dinh điền, người nông dân miền Nam đã càng ngày làm ăn càng trở nên khấm khá hơn. Đến thời đệ nhị Cộng Hoà, với chính sách “người cày có ruộng”, người nông dân miền Nam ai cũng có mảnh đất và ruộng để làm ăn sinh sống. Nông thôn miền Nam trước năm 1975 đã đổi khác hoàn toàn.

Sau năm 1975, khi Cộng Sản đã hoàn toàn cưỡng chiếm miền Nam- Việt Nam Cộng Hòa, thì tất cả những chính sách của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa làm cho người nông dân làm chủ thật sự đất ruộng của mình đã bị Cộng Sản bãi bỏ. Thay vào đó, đất đai thuộc quyền sở hữu của nhà nước, người nông dân không phải là người chủ của mảnh đất của mình. Chúng đã gom đất ruộng của người nông dân miền Nam vào tập đoàn, hợp tác xã nông nghiệp. Đời sống người nông dân miền Nam đang khấm khá bỗng chốc trở nên nghèo đói. Đến bây giờ thì chúng đã cưỡng chiếm đất đai của người nông dân không phải là từng gia đình bị hại mà cả vùng đất rộng cho nên số người nông dân trong cả nước bị mất đất đai nhà cửa rộng vườn nhiều vô số kể, trở nên trắng tay và trở thành “dân oan”. Chỉ có dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam tàn ác mới có “dân oan” và đây là danh từ mới được khai sinh.

Tóm lại, dướị chế độ Cộng Sản Việt Nam bất nhân, nước mắt người nông dân sẽ mãi mãi chảy mà không bao giờ ngưng. Thật là đau đớn xót xa !

Phi Vũ

Bài Xem Nhiều