We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 17 August 2013

Hai chuyến đi một cuộc tình : Từ Nguyễn Minh Triết đến Trương Tấn Sang và Từ Lảo Đảo đến Lao Chao

Tư Sang đã sẵn sàng Năm 2007, Ông Nguyễn Minh Triết đến Mỹ cùng phái đoàn 200 doanh nhân Việt Nam và vài người khuyết tật đại diện cho những nạn nhân của chất độc màu da cam.
   Năm 2013, Ông Trương Tấn Sang cũng đến Mỹ, cũng với một phái đoàn doanh nhơn nhưng không có những người khuyến tật hay những người gọi là nạn nhơn chiến tranh do Mỹ gây ra.

   Năm 2007,  vì là lần đầu ra quân đến đất kẻ cựu thù, nên Ông Nguyễn Minh Triết, tay đầu sỏ của nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, đã chuẩn bị thật chu đáo, nào học thuộc lòng chỉ thị của bộ chánh trị, nào mang theo mấy “thầy rùa chánh trị chuyên nghiệp” của Đảng Cộng sản Ba Đình “đã từng lãnh đạo” nhơn dân Việt Nam anh hùng chống Pháp chống Mỹ, đánh đuổi ba tên ngoại xâm “ác ôn” Phát xít Nhựt, Thực dân Tây và Đế quốc Mỹ ”, nào là những tay được gọi là doanh nhân của thời phát triển đất nước, nào là những “nạn nhân của sự tàn bạo của tập đoàn tư bản đã dùng chất hóa học tàn phá đất nước Việt Nam”.

  Năm 2013, lần nầy, Ông Trương Tấn Sang, cũng trong vai trò tay đầu sỏ nước Việt Nam Xã hôi Chủ nghĩa đến thăm đất nước cựu thù, nhưng trái lại với Ông Nguyễn Minh Triết, là …đã không sửa soạn chu đáo việc đi nầy, quá gấp gáp, vì - hoặc bị « hố » với ông Thầy Tàu, phải đi Mỹ để « chữa lữa » ? - hoặc vì - đi để  « dụ khị » Nhơn dân Việt Nam rằng , sau khi đi Tàu về phải tìm cân bằng và đối trọng ?, nên phải đi tìm đồng mình chống Tàu ? , hay « tố phé anh Mỹ khù khờ lúc nào cũng thèm vào Việt Nam (sic) » ? ( người viết chúng tôi xin tóm tắt sơ lược những lời bàn của các Mao tôn Cương trước ngày đi hay trong những ngày Ông Chủ tịt Tư Sang Mỹ du).
Vì vậy - giả đò đi Mỹ ?  hay - phải đi Mỹ ? nhưng dù sao đi nữa , thì cũng hại ai vì « trước để  tham quan cho biết đó biết đây, sau để tỏ cho Mỹ biết ta nhờ đến Mỹ - nên nếu may ra Mỹ cho tý tiền còm - được đồng nào hay đồng ấy ! ». Đó là theo thiển ý quan niệm Việt Nam.

 Còn về phía Mỹ ? tại sao trong cái gấp gáp ấy, trong cái giờ chót ấy, Mỹ trong vai trò « bánh secours » cũng nhận Trương Tấn Sang đến thăm mình ?
Cũng dễ hiểu thôi !  Thái Bình Dương từ đệ nhị thế chiến đến nay đã là « Ao Nhà » của Mỹ rồi. Nếu biển Điạ trung Hải là Mare Nostrum đối với Đế quốc La mã ngày xưa, thi ngày nay Thái Binh Dương là Mare Nostrum của USA vậy đúng là Mare Americanae ! Và để đàng hoàng, để không ai có bàn tán, xấu mồm, xấu miệng nhứt là mấy thằng báo chí Pháp và Âu châu, và cũng để có tý Chánh Danh, có tý Chánh Nghĩa, Huê Kỳ cần « dán » vài cái phù hiệu, hay « treo » vài cái quốc kỳ các quốc gia khối Asean vào các tàu chiến của Mỹ có mặt ở Thái bình Dương, để « hù Tàu ». Tàu Mỹ đã mang cờ Philippino rồi. Tàu Mỹ đã mang cờ Đài Loan rồi, sẽ mang cờ Singapore, Mã lai, Indonêsia.. Úc châu, Tân tây Lan, Đông Timor,… nói tóm lại, nếu mang thêm một lá cờ Việt Nam, cũng là tốt thôi.
Vấn đề Biển  Đông ư ? Nếu Biển Đông có được một thỏa thuật, một « modus vivaldi », một « Thỏa thuận chung sống - Hòa Bình » của mọi quốc gia chung quanh Biển Đông, thì … sẽ giúp cho những giàn khoan dầu, giàn khoan khí đốt,  của những Exxon, những Caltex, những Shell, những Total, … hay những Caterpillar, những Hyster…làm ăn khai thác, mặc dù những  khoan dầu ấy mang cờ Tàu, cờ Việt Nam hay cờ Mã lai hay cờ Philippino.… Vì vậy Mỹ mời Việt Nam vào thăm xứ Mỹ cũng chả chết thằng Tây, thằng Mỹ, thằng Chệt nào ?
Chỉ tội nghiệp thằng dân Việt Nam trong nước tưởng thiệt, tưởng rằng thằng Mỹ to đầu, tư bản « thương » thằng dân Việt Nam thiệt, và lo giúp xứ sở Việt Nam tiến lên dân chủ, và sẽ « qua những đòi hỏi nhơn quyền » buộc anh Cộng sản Việt Nam đương quyền phải đi vào con đường tử tế,dân chủ …và văn minh … là cho tự do ngôn luận, tư tưởng, tín ngưởng và quan trọng hơn cả là thả tất cả các nhà đấu tranh, thả các bloggers, thả tất cả những tù nhơn chánh trị hay bất đồng chánh kiếnhay lương tâm - toàn những định nghĩa do phe ta tùy trường hợp dựng ra - nhưng thực sự đối với Cộng sản hoàn toàn không có trong tự điển, với Cộng sản Tù là Tù – đơn giản – that’s it !  ( cũng nhưng thời thế hệ người viết, chúng tôi « đi học tập » chứ nào có đi tù, chúng tôi bị « tạm giữ » nên khi « ra về » chúng tôi nhận cái giấy « tạm tha » ( vì tạm giữ nên tạm tha) - giấy ấy nay tôi còn giữ - vì Việt Nam không có luật habeas corpus nên tôi bị tạm giữ để điều tra  gần 4 năm.

 Đến đây xin phép mở một dấu ngoặc lớn nói về cái trường hợp hi hữu có một không hai, là Việt Nam vẫn được cái may mắn là không ai ( dư luận quốc tế) tìn rằng Cộng sản Việt Nam nó kinh khủng hơn cả Cộng sản Bắc Hàn hay cả Cộng sản Cu Ba…)
 Dư luận thiên hạ thế giới rùng mình, kinh hãi khi nghe đến Mật Vụ Gestapo Đức, mật vụ KGB Liên Sô, Stasi Đông Đức, Securitat Roumania, hay ớn lạnh, buồn nôn, khi nghe đến những trại tập trung Nazi Đức và cà thế giới ngàh nay kinh hoàng với những Goulag Sô Viết. Nhưng thế giới, dững dưng, thế giới chẳng biết gì cả về những Laogai Tàu hay những trại Lao Cải hay trại Cải Tạo Việt Nam. Chúng ta ngày nay đang cần một văn hào việt nam đủ tài nghệ diển tả những ngày kinh hoàng ấy ! (Vì muốn làm sáng tỏ vấn đề cho các thế hệ sau, vi muốn cắt nghĩa rò với bạn bè, chúng ta thường chuyển dịch từ Cải tạo sang chử . Đối với người ngoại quốc, đối với văn hóa ngoại quốc, chữ Tù nó bình thường lắm. Ta có tội, ta đi tù. Tù có trăm thứ tù. Lái xe uống rượu, tù một đêm cho tỉnh rượu mai về. Án nhẹ tù nhẹ, án nặng tù nặng.Tù có chế độ tù, cơ chế tù.. ; nhơn phẩm người tù phải được  tôn trọng …vân vân …Có người ở tù đi học khi ra tù trỏ thành luật sư… Vì vậy chỉ vì người Việt miền Nam chúng ta bị lường gạt ( hay tự lường gạt) lầm lẫn với chữ Cải tạo nên phải đính chánh cho thiên hạ biết là Công Sản không đưa chúng tôi đi cải tạo mà đưa chúng tôi đi tù. Vì vậy ngày nay ai cũng nói tụi Cộng sản nhốt tù chúng tôi.
Nhưng chúng ta lúc bấy giờ bị đi cải tạo là một sự kinh khủng hơn đi tù. Nhốt tù, bình yên,ngủ khám, ngày cơm hai bửa, tắm rửa, mỗi người một giường một chiếc thoải mái, có giờ ra ngoài hóng mát, tập thể dục…nếu phải vào xưởng lao động thì có lương, không nhiều lắm nhưng đủ vốn khi ra về lằm ăn sống tạm. Đằng nầy, đi cải tạo là đi đày, lên rừng đốn củi, xuống núi đào nương.  Tối ngủ lán, thiếu ăn, ngủ chung, ở T20, chúng tôi ba người hai chiếu, ở Đại lợi thay phiên, người nằm người ngồi. Nắng rôm sảy, ghẻ hờm, Mưa lạnh, cảm sốt…Ngày xưa bên Âu châu Ravenbruck, Dachau … của Nazi cũng không phải nhà tù, mà được gọi là những trại tập trung, nhưng người chết như rạ. Các cổng vào của các trại tập trung Nazi đều được treo biểu ngữ « Abeit macht frei » Lao động là Tự do. Ngày nay, các cổng của các trại tập trung cải tạo Việt Nam thời hậu 75 đều treo biểu ngữ với hàng chữ « Lao động là Vinh quang ». (Nazi Đức hứa hẹn Tự do vì phần đông được tự do biến thành khói, thành than. Việt Cộng hướng hẹn Vinh quang vì vinh quang đổ mồ hôi lao động cho xã hôi chủ nghĩa trong khi ở trại hay cả khi về nhà. Ít ra với Nazi Đức khốn nạn nhưng mau giải thoát. Với Việt Nam nô lệ suốt đời )
Cái khốn nạn cho Việt Nam, là khi cả văn minh nhơn loại chống phát xít và nazi Đức, thì văn minh nhơn loại không nhìn thấy cái dã man của Cộng sản Việt Nam. Ngay cả những nạn nhơn là người Việt Nam chúng ta cũng tha thứ, xuống tội, « họ chỉ bỏ tù tụi tui » - đáng lý là phải nói « đi đày, đi hành hạ ». Tôi thường dùng chữ déporté – đi đày, để so sánh với déporté của các tù nhơn nazi của người Pháp. Chữ tù prisonnier, quá nhẹ. Cải tạo đưa ra Bắc thì đâu phải đi tù, mà là đi đày. Nous n’étions  pas des prisonniers, nous étions des déportés ! ». Xin đóng dấu ngoặc. Trở về với cuộc đi của xếp lớn đảng maffia Việt Nam

Cũng đồng thời  đi tìm đồng minh, hồi ấy Ông Nguyễn Minh Triết còn dám “quảng cáo công nhân rẻ tiền nhứt thế giới” trong âm mưu moi tiền giới tư bản Hoa kỳ, còn dám « úm ba la mở hồ lô phép » thả vài tù nhơn bất đồng chánh kiến, đặc biệt tạo điển hình qua một người nổi tiếng là ông Nguyễn Vũ Bình, mong dẹp bớt gai góc cho chuyến Mỹ du, và đó cũng được xem là món quà mọn (petit cadeau) của Đảng Cộng sản Ba Đình gởi cho những ai quan tâm đến Nhơn quyền trong chánh giới Mỹ.
Trái lại Trương Tấn Sang, vì không sửa soạn kỹ, nên đi tay không. Ý quên, đem theo một bản sao lá thư của Hồ Chí Minh viết năn nĩ Tổng Thống Mỹ thời bấy giờ là Tổng Thống Truman đem quân giúp Việt Nam, gọi là nhắc nhở ÔngMỹ ngày nay đừng làm như ông Mỹ ngày xưa mà lỡ dịp, hay ông đừng bỏ tui như ông kia mà mang tội, gieo chiến tranh ?. Nhưng Trương Tấn Sang láu cá hơn Nguyễn Minh Triết : Ông chơi trò « xí mứn » đánh lận con đen cám ơn Nhơn dân Mỹ đã cưu mang người tỵ nạn Việt Nam.
Dám ôm đám dân Việt Nam Tỵ Nạn hải ngoại vào lòng,  « làm như » của mình. Mà cũng đáng tội cho dân Hải ngoại thật ! Cũng vi cái vùng vằng nửa ở nửa đi, thương không xong mà bỏ cũng không xong nên dân hải ngoại có bao giờ đính chánh chữ Việt Kiều đâu. Báo chí hải ngoại vẫn gọi những người Mỹ gốc Việt, người Tây gốc Việt … là Việt Kiều. Mình nhận mình Việt Kiều thì chẳng trách được nó ôm mình vào lòng, nó tự nhận nó làm « cha người Việt tỵ nạn, cám ơn những người Mỹ đã cưu mang bà con, con cháu Việt Nam Tỵ nạn ( nhưng nạn nào thì không nói !).
Sẳn đây chúng tôi xin thách Ông Trương Tấn Sang có ngon nói nguyên câu « tỵ nạn Cộng sản ».
Còn bây giờ phe ta có tức, có giận  thì cứ tiếp tục biểu tình, và nếu thật sự có tức nữa, thì có dám tẩy chay không về Việt Nam không ?, không gởi tiền về Việt nam không ?, không dùng hàng Việt Nam không ?.... Mình không phải Việt kiều thì không nên liên hệ Việt Nam làm gì. Nhưng đó là một ý thức chánh trị, là một việc khó làm !

Lúc xưa Nguyễn Minh TriếT chơi màn khác, cũng loại  ôm dân tỵ nạn, Ổng đến New York để gặp đồng bào Việt Nam. Ông giả vờ thân thiện và tỏ vẻ ngạc nhiên thấy một cụ già người Việt nói tiếng Việt rõ ràng (hay đây cũng chỉ là một màn dàn dựng với diễn viên của Nhà Hát Nhân dân ?).

Nhưng cả hai ông Chủ tịch một nước bị Đảng các ông cướp quyền, hai ông quên rằng dân tỵ nạn, ở Mỹ, hay ở rải rác khắp năm châu, vẫn không quên Việt Nam, và càng vì không quên Việt Nam nên các ông Cộng sản độc tài cầm quyền đã và đang nhức đầu nhức óc vì những người Việt Nam tuy xa nhà lâu năm nhưng vẫn thiết tha yêu nước, yêu tiếng mẹ Việt Nam, không ngừng đấu tranh đòi các ông trả đất nước Việt Nam cho Dân tộc Việt Nam thực sự yêu nước Việt Nam.

Hồi xưa, năm 2007, trả lời câu hỏi về cái dân chủ đa nguyên đa đảng, ông Nguyễn Minh Triết, Chủ tịch môt Nhà nước Việt Nam với gần 90 triệu dân, dám uốn lưỡi dùng một luận điệu rất lảo đảo và độc đáo: chế đô Mỹ có hai đảng, Pháp có chế độ nhiều đảng, nhưng Pháp đâu có chê Mỹ vì Mỹ chỉ có hai đảng đâu ?

Vì hai Đảng của Mỹ, theo ông Nguyễn Minh Triết, nó cũng như Việt Nam có một Đảng, là  nó cũng ít Đảng, một Đảng cũng như  hai Đảng, không phải là đa nguyên đa đảng mà cũng là đa nguyên đa đảng. Ở  Việt Nam, trong Đảng Cộng sản cũng có cãi nhau, cũng tranh luận lung tung, đó là đa nguyên đấy, là  đa đảng đấy ! Đúng là “Vợ Cả Vợ hai đều là Vợ Cả ” thì cũng có nghĩa là “Đảng Cả, Đảng Con, đều là Đảng Cả ” !!!

Rồi ông thao thao luôn một bài “Luật Hiến Pháp”  vanh vách kể về các thế chế: nữ Hoàng Anh với chức vụ Thủ tướng; Pháp với Tổng Thống và Thủ Tướng,… Kinh thật. Hãi thật !
 Tư Sang đi Mỹ coi bói cho BCT
Kỳ nầy năm 2013, Ông Trương Tấn Sang, cũng bày cái trò khi ra tuyên bố chung lại kết luận một câu xanh dờn «  là hai đảng nhất trí … » Trời ơi ! khổ quá, ông Trương Tấn Sang ơi, Mỹ không phải là Tàu. Tổng Thống Obama là Tổng Thống cả tất cả người Mỹ !  Đảng của ông thắng cử, phải, ông đại diện Đảng ông cầm quyền quản trị nước Mỹ, chứ Đảng ông không có cấm quyền.

Cả hai ông Chủ tịch nước nên về nhà ôn lại môn Luật Hiến Pháp để biết các thể chế các quốc gia khi các ông ra thăm người ta. « Cu ba ngủ Cu ba thức » đã làm trò cười thiên hạ rồi. Ông Nguyễn Minh Triết gỉảng Luật nghe đã mệt rồi bây giờ đến phiên Ông Trương Tấn Sang ra tuyên bố chung còn nói « hai đảng » nữa thì e rằng càng ngày Tầy càng cười thúi đầu.

Năm 2007 chúng tôi kết luận bài viết bằng câu than :
Nhục quá ! Ông Nguyễn Minh Triết ơi ! Sao Ông và Đảng của các ông đành lòng bày hàng những người tàn tật như vậy ? Mà lại còn bày hàng ở nước ngoài ?!. Trong nước các ông bày hàng các “cô gái lỏa thể ”vì quá nghèo khổ phải nuốt nhục chịu “bày hàng” để mong tìm tấm chồng Đại Hàn, Đài Loan, … chưa đủ hay sao ? 

Vậy, thử hỏi ông Nguyễn Minh Triết đi Mỹ  với mục đích gì ?

- Nối lại tình thân thiện với Mỹ ? 
- Tìm việc làm cho Việt Nam ? 
- Hành khất bằng cách bày hàng những người tàn tật ?

Thật là một chuyến đi vô cùng lảo  đảo và không chút tự trọng .

Năm nay 2013, chúng tôi cũng kết luận:
Nhục quá ! Ông Trương Tấn Sang ơi ! Sao Ông và Đảng của các Ông không sửa soạn cuộc đi nầy cho nó tử tế. Đây là một dịp, một cơ hội, qua TPP, qua trục xoay của Mỹ, giúp Việt Nam phần nào, thoát qua nanh vuốt của Tàu Cộng. Đây cũng là một dịp, thừa cơ hội bắt tay với Mỹ, thả tất cả những người bất đồng chánh kiến, các bloggers, tất cả những ai mà Đảng các ông bắt nhốt .... để đặt Mỹ trước một trách nhiệm rằng, các ông đã đòi hỏi nhơn quyền, chúng tôi thực hiện nhơn quyền được, thì các ông (Mỹ) phải viện trợ chúng tôi chống Tàu.
Mỹ dám tố đòi Cộng sản Việt Nam thả tủ chánh trị. Mỹ và người Việt Hải ngoại dám tố Việt Nam làm dân chủ. Ông Trương Tấn Sang và Đảng của các ông dám “bắt cái tố” nầy không ? Nếu dám ! Nước Việt Nam sẽ thay đổi lớn và các ông sẽ thành công. Các ông sẽ trở về với nhơn dân và chứng mình rằng các ông là những người thật sự yêu nước, và làm nên lịch sử.

Nhưng đằng nầy, đến ngày nay, ông chỉ ra một tuyên bố chung rổng ruột, trống không, đầy sáo ngữ. Và không có một hành động nào chứng tỏ các ông yêu nước cả.

Thất là chuyến trước ông Triết đi lảo đảo ! thì kỳ nầy Ông Sang quá lao chao ! 

Hối Nhơn Sơn 
2 tháng 7  năm 2013
Phan Văn Song
 

*Nguyễn Minh Triết và Chuyến đi Lảo đảo ! Phan Văn Song ngày 21th áng 06 2007

Nổi Buồn "Sư giả" khất thực

"Sư giả" đi ăn xin (khất thực)




image

Hay xem..tất cã những người nầy đều mạnh khõe, tại sao không đi làm đễ nuôi thân mà phãi đi ăn xin !!

Hàng chục năm nay, hình ảnh nhà sư cầm chiếc bát đồng đi khất thực trên đường đã trở nên quen thuộc với người dân Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, Thành hội Phật giáo Việt Nam khuyến cáo đa phần sư đi khất thực là sư giả.
image

Một người dân quỳ xuống giữa đường sụp lạy và
 cho tiền sư khất thực trên đường Sư Vạn Hạnh (quận 10, TP HCM)
Buổi sáng trên đường Sư Vạn Hạnh (quận 10, TP HCM), một sư cô mặc áo cà sa vàng nâu, tay cầm bát đồng, chuỗi hạt và cây gậy nâu, chân đi dép lào, khoan thai chậm rãi bước đi. Cứ đi được một đoạn, sư cô lại quỳ xuống giữa đường cúi đầu chạm đất. Khi người dân cho tiền vào chiếc bát đồng, sư lại tiếp tục bước đi.
Ni cô tự xưng pháp danh là Thích Nữ Liên Nghiêm, khoảng 29 tuổi. Tay chỉ lên trời và bảo: "Ở chùa trên núi Cấm, tỉnh An Giang, mới xuống đây hôm qua".
Tuy nhiên khi được hỏi về giấy giới thiệu của Hội Phật giáo và mục đích của việc khất thực thì sư cô chỉ ậm ừ ngạc nhiên:
"Giấy nào? Mình làm mọi thứ là từ tâm, có Phật biết, không cần ai biết...".
Thấy sư mồ hôi nhễ nhại, bước đi khoan thai, mặt cúi xuống đất, từ các em học sinh, bác xe ôm, bà bán vé số cũng đứng lại cho tiền. Theo quan sát của VnExpress.net, cứ khoảng 5 phút lại có người lại gần bố thí, ít thì 5.000 đến 10.000, nhiều thì 20.000 đến 50.000 đồng. Sư cô đứng dậy, ngước mắt lên trời thở, miệng "Nam mô ai đà Phật" rồi lại gom tiền bỏ vào tay nải và đi
Đến 11 giờ trưa, ở ngã tư Sư Vạn Hạnh - Lý Thái Tổ có một thanh niên đi xe máy đến đợi sẵn và sư cô trèo tót lên xe rồi lao đi mất dạng.
image

        Khất thực vốn là truyền thống KHÔNG tốt đẹp của nhà Phật,
nên hiện nay đang bị nhiều kẻ lười lao động lợi dụng.
Quan sát cảnh này, ông Tư Thắng, làm nghề chở xe ôm 10 năm ở đây cho biết, cứ vài ngày lại thấy một hòa thượng khất thực như vậy xuất hiện. "Cũng nghe nói là bây giờ sư giả nhiều, tụi tôi đâu có cho tiền, nhưng người dân mình tốt bụng lắm, thấy động lòng là cho thôi. Mà lạ lắm nha, sư gì mà cho bánh mì hay thức ăn là không lấy đâu", ông kể.
image
Trao đổi với VnExpress.net, Đại Đức Thích Phước Nguyên, Phó Thư ký kiêm Chánh văn phòng Ban Hoằng Pháp trung ương, Ủy viên hội đồng trị sự trung ương Hội Phật Giáo Việt Nam cho biết, khất thực hay xin ăn là truyền thống từ ngàn đời của các tu sĩ Phật giáo. Trong giáo lý dạy rằng, tu sĩ không được ở yên một chỗ mà phải hàng ngày dậy sớm đi vào xóm làng để xin đồ ăn nhưng cũng phãi lao động.
"Mục đích của việc này vừa để khơi dậy lòng từ thiện bố thí nơi mỗi con người vừa là để truyền giảng đạo giáo cho chúng sinh. Và quy định chỉ xin thức ăn đủ dùng trong ngày để các tu sĩ tránh tính tư hữu tư lợi", Đại Đức nói.
image

Chỉ nên cho thức ăn, không nên cho tiền khi gặp sư khất thực.
Đồng thời Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP HCM cũng khẳng định, từ sau năm 1975 việc khất thực của nhà sư gần như không còn và không được cấp phép. Song vài năm trở lại đây, truyền thống  không tốt đẹp nầy của đạo Phật đang bị một số kẻ lười lao động lợi dụng để "hành nghề" mưu cầu tư lợi. Thậm chí một số nơi còn có cả một "lò" đào tạo sư giả.
Vì thế các giáo sĩ khuyến cáo người dân, để tránh bị kẻ gian lợi dụng lòng từ thiện, tốt nhất không cho gì hết.
Bên cạnh đó, các tăng ni Phật tử còn cung cấp những đặc điểm của tu sĩ thật để phân biệt với sư giả như: mặc quấn y màu vàng nâu, bước đi chậm rãi, mắt nhìn xuống đất, không chú ý đến xung quanh, hai tay ôm bát đồng, không nhận tiền mà chỉ nhận đồ ăn người ta cho... Tuy nhiên theo Đại Đức Phước Nguyên thì càng ngày những thủ đoạn của kẻ lợi dụng càng tinh vi nên dễ qua mặt người dân Việt vốn tốt bụng và yêu kính các vị tu sĩ.
"Mặc dù việc bà con bố thí là tích đức và những người mạo danh kia làm tội thì bản thân họ phải gánh tội. Nhưng trong tình hình hiện nay, để tránh kẻ gian lợi dụng, người dân có lòng tốt chỉ nên cho thức ăn chứ không cho tiền khi gặp sư khất thực (dù là thật hay giả). Điều này là phù hợp với đạo lý Đức Phật đã dạy", ông khuyên.
Thi Ngoan
Sư Gỉả Đi Xin Tiền
Thứ Tư, ngày 13/07/2011, 09:07

Hòa thượng Thích Thiện Tánh, Phó Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TPHCM, khẳng định: Tất cả những “sư” đi khất thực, xin tiền đều là giả.

Vì theo quy định, sư nào khất thực hoặc quyên góp ngoài phạm vi chùa phải có giấy giới thiệu của Ban Thường trực Phật giáo tỉnh, thành. Tuy nhiên, đến nay, trên cả nước chưa có tỉnh, thành nào cấp giấy giới thiệu cho sư đi khất thực, quyên góp tiền. Ngày 12-7, phóng viên đã theo chân 2 sư giả và mục kích những kiểu kiếm tiền của họ ở TPHCM.
image
image
Trong ngày, sư giả này xin được không dưới 500.000 đồng
image
Vị sư giả ăn bún thịt nướng !!!
Mập, khõe như thế nầy, nên đi lao động
Một sư giả đến đường Lê Văn Việt, phường Tăng Nhơn Phú A, quận 9 để “khất thực” trái phép. Khi người vắng dần trên phố, sư giả này đón xe ôm về nhà ở đường Tân Lập, phường Hiệp Phú, quận 9.
Về đến nhà, sau khi trút bỏ lớp áo tu ngụy trang, vị sư giả đếm tiền thu được rồi ăn bún thịt nướng. Theo ước tính của chúng tôi, trong ngày, sư giả này xin được không dưới 500.000 đồng. 
image
Nữ “sư” đưa tiền cho một người đàn ông khác
Một phụ nữ ngụy trang thành “sư” đang hành nghề trên đường Trần Phú, phường 7, quận 5 thì bị một người dân chặn lại phản ứng: “Sư giả hay sư thật, ở đây cấm khất thực”.
Về đến nhà ở khu nhà trọ trên đường Hải Thượng Lãn Ông, phường 4, quận 5, nữ “sư” đưa tiền cho một người đàn ông khoảng 40 tuổi. Ngoài nữ “sư” này, chúng tôi còn chứng kiến nhiều “sư” khác cũng đến đây nộp tiền cho người đàn ông nói trên.
 
Sư "giả" không coi ai ra gì

Những người bán hàng nước ở ngã tư thị trấn phố Mới (Quế Võ) từ lâu đã không lạ gì cảnh, cứ chiều thứ bảy, chủ nhật các "sư" lại tụ tập rất đông ở đây. 

Chẳng là một số "sư" đi làm cả tuần đến cuối tuần thì bắt xe ô tô, xách va li như những cán bộ đi xa về thăm nhà. Họ dừng chân ở ngã tư, rồi rút điện thoại di động gọi người nhà ra đón.
Thủ phủ của sư giả ở Bắc Ninh là làng Vũ Dương, xã Bồng Lai, huyện Quế Võ. Không ai biết cái “nghề” này có ở đây từ bao giờ.
“Phường lừa đảo, bọn thất đức”
Ngay khi bước chân vào làng, ấn tượng đầu tiên là Vũ Dương rất giàu có, nhà cao tầng mọc lên san sát chẳng khác gì ở một thị trấn. Vẫn biết người dân nơi đây năng động bởi từ xa xưa làng này vốn có nghề buôn thúng bán mẹt ngoài chợ.
Thế nhưng, khi tôi ghé vào một cửa hàng tạp hoá bên đường gặp đúng bà chủ quán hay chuyện đã thẳng thắn: "Nhờ cái nghề "đi sư" mới giàu thế đấy. Nhà này cũng chạy chợ bạc mặt nhưng nghèo vẫn hoàn nghèo".
 
image
"Sư giả" trên đường về nhà
Ném ánh mắt đầy nghi hoặc về phía chúng tôi bà chủ quán tiếp tục: "Anh chị về xem bói hay nhờ các sư cúng đấy? Ở làng này đầy, sư trẻ, sư già, nam, nữ có hết. Sáng đến họ đi làm đông như đi hội".
“Chúng cháu đến nhờ cúng giải hạn, cô xem có "thầy" nào giỏi chỉ giúp chúng cháu”.
"Có cả trăm sư tôi biết đường nào mà chỉ, ông Đ. bà H. chị K... đều là "sư" tuốt. Nói thật nhá, chẳng có ai là sư thật đâu, giả hết đấy.
Phường lừa đảo, bọn thất đức ấy mà. Họ trước cũng chân lấm tay bùn như tôi nhưng giờ thành sư hết".
Nhà bà chủ quán ở cạnh đường chính, nên bà nắm rất rõ lịch trình hoạt động của các "sư". Bà cho biết những nhà "sư" ở Vũ Dương vào "nghề" rất chuyên nghiệp. Họ tự làm cho mình một chiếc thẻ giả đeo trước ngực, do một ngôi chùa có tiếng nào đó cấp.
Cũng áo quần nhà chùa, trai cũng cạo đầu trọc, nữ chít khăn... thế là vào vai nhà sư một cách đàng hoàng. Họ chủ yếu đi bán hương với giá cao, xin tiền ủng hộ xây dựng chùa để lừa đảo. Ngoài ra, họ cũng "học thêm" ít kiến thức về Phật pháp hoặc bói toán.
Hằng ngày, họ đi khắp các miền quê như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hà Nội... Hiện ở làng Vũ Dương có một đội quân xe ôm chuyên đi phục vụ các "sư" giả này. Sáng họ đến nhà đón từ rất sớm, đường đi nước bước do thân chủ quyết định, chiều đưa về.
image
Hiện ở làng Vũ Dương có một đội quân xe ôm chuyên đi phục vụ các "sư" giả này.
 
Các bác tài này cứ nhìn đồng hồ đếm kilômét rồi tính tiền. Chẳng biết các "sư" kiếm tiền ra sao, chứ mỗi ngày cánh xe ôm bỏ túi cả trăm nghìn. Một số làm ăn lớn hơn thì đi từ đầu tuần đến cuối tuần mới về một lần.
Một chị hàng nước ở Phố Mới kể, có "ông sư" cứ mỗi lần về đến đây là vào ngân hàng cạnh đó gửi tiền. Nghe đâu ông này có tiền tỷ, xây cả biệt thự chứ chẳng ít.
 
Không coi ai ra gì
  
Người dân cho biết, một số phụ nữ trong làng lấy chồng ở miền Nam khi về thăm quê mang theo cả nghề này "du nhập" về Vũ Dương. Lúc đầu những người "đi sư" còn biết xẩu hổ. Trước khi đi làm họ vẫn ăn mặc bình thường, chỉ khi đến điểm hành nghề họ mới "lột xác" để khoác lên mình áo quần nhà chùa bắt đầu quá trình "khất thực".
Lâu dần họ chẳng còn biết ngại ngần gì. Ngay từ nhà họ đã ăn mặc chỉnh tề, ung dung mang túi rồi rồng rắn nhau đi hành nghề công khai.
Ông Nguyễn Quang Cát, người trông coi đình làng của làng Vũ Dương mỗi khi nhắc đến chuyện người làng mình "đi sư", bao nỗi buồn trong ông lại ùa về.
Ông buồn rầu nói: "Ở đây, những gia đình nào có lương tâm thì chẳng ai để con cháu mình đi làm cái nghề thất đức ấy. Nhìn cái cách họ công khai mặc áo nhà chùa tung hoành khắp làng tôi vừa xấu hổ vừa chua xót. Cánh thanh niên trai tráng khoẻ mạnh lêu lổng cũng tự khoe cái đầu trọc lốc của mình ra đường mà mặt vênh lên, chẳng coi ai ra gì".
Ông Cát kể cho tôi nghe về trường hợp của người cháu họ mình, ở xóm Chùa. Vốn là một anh nông dân thuần chất, bố mẹ bỏ nhau nên người cháu này lớn lên trong sự nghèo khó, một chữ bẻ đôi không biết.
Ông Cát là người đã cưu mang nuôi đứa cháu này khôn lớn. Lấy vợ anh ta lăn lộn đủ nghề cũng chẳng kiếm đủ ba bữa cơm. Từ ngày học "đi sư" thì cuộc sống khác hẳn. Sau 6 năm hành "nghề", anh ta mua được đất, xây nhà cao tầng, sắm tiện ghi sinh hoạt đắt tiền...
Giờ người dân đã gọi anh ta là "triệu phú". Anh ta cũng luôn tự đắc với dân làng chẳng có ai bằng mình.
 
Vòng lao lý
 
Thế nhưng, không phải cứ "đi sư" là lừa được tiền thiên hạ. Từ khi cái nghề này nở rộ cho đến nay cũng đã có một vài công dân của thôn rơi vào vòng lao lý.
]
Bà con làng Vũ Dương vẫn kể câu chuyện về bà Hương bị lật tẩy khi đến một làng ở Thái Bình "khất thực". Phát hiện bà Hương là "sư" giả, người dân đã cởi hết quần áo, cắt tóc rồi ném xuống ao.
Những tưởng sau bài học nhớ đời đó, bà sẽ bỏ "nghề". Nào ngờ, về làng bà vẫn mạnh mồm tuyên bố "không có tóc thì thành sư dễ hơn". Thế là từ bữa đó, bà không cần phải bịt khăn như mọi khi nữa, chỉ diện bộ quần áo của nhà chùa lên đường kiếm ăn.
 
image
Hai "sư" giả Nguyễn Thị Vững (bên trái) và Nguyễn Thị Sơn ở Quế Võ bị bắt vì tội lừa đảo.
  
Gần đây nhất 2 "sư" giả là Phan Thanh Chương và Nguyễn Thị Hường ở làng Vũ Dương đã bị bà con ở chợ Ninh Hiệp (Hà Nội) bắt và giao cho chính quyền vì tội lừa đảo. Rất may cho 2 "vị tăng ni" này là được hưởng án treo.
Theo ông Phan Bá Đố, trưởng Công an xã Bồng Lai, đến nay có khoảng gần 20 người của xã (chủ yếu ở làng Vũ Dương) bị các cơ quan công quyền các nơi bắt và xử phạt hành chính, phạt tù. Cũng theo ông Đố, không chỉ ở xã Bồng Lai mới có người hành nghề sư giả, nhiều địa phương khác quanh vùng của huyện Quế Võ cũng có người làm "nghề" này.
Đột kích xóm... "sư giả"
- Cả xóm có khoảng 10 “sư”, họ là những người từ nơi khác tới đây trọ và hành nghề. Khi đi “làm ăn” khuôn mặt của các sư trông thật khổ hạnh và nghiêm trang, song khi về xóm trọ nhiều người không khác gì đàn anh, đàn chị với đủ món ăn chơi trên đời.

9 năm về trước, phong trào giả sư đi khất thực xin tiền, bán nhang hay quyên góp rộ lên. Tại khu phố 3 phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức nhanh chóng hình thành nên xóm sư giả và tồn tại đến giờ.
 
Giang hồ và cờ bạc
 
Người được xem là “ông tổ” sáng lập ra xóm giả sư đi khất thực là Tư Trầu. Theo như lời kể, Tư Trầu là người tu hành ở chùa dưới Đồng Nai. Năm 1992, ông rời bỏ nhà chùa về ngụ tại tổ 19, khu phố 3 hành nghề và thu nạp “đệ tử” gây dựng nên phong trào giả sư đi khất thực và bán nhang. Công việc làm ăn của Tư Trầu cùng các “đệ tử” ngày càng khấm khá, thấy vậy nhiều người xin gia nhập, tạo thành xóm giả sư đông đảo.
Năm 2000, Tư Trầu bị cơ quan công an bắt và khởi tố 3 năm tù về tội giả danh nhà chùa đi lừa đảo chiếm đoạt tài sản người khác. Sau khi ông bị bắt, hoạt động của xóm sư giả kín kẽ và ngày càng tinh vi hơn.
Chiều về, người dân quanh quán nhậu ông Hải trên con đường 16, khu phố 3 phường Hiệp Bình Chánh, ai cũng quá quen thuộc với hình ảnh ba vị sư (Huề, Thuận, Thắng) với cái đầu trọc vô tư ngồi chéo chân và cụng ly leng keng “giải mỏi” sau một ngày khất thực. Trong câu chuyện trên bàn nhậu của ba “sư”, mọi người có thể nghe các vị chia sẻ kinh nghiệm khi đi hành nghề. Làm thế nào để lấy lòng người nhanh nhất, cách đối phó với công an, cũng như kế hoạch tăng hai, tăng ba tiếp theo của các sư.
 
image
“Sư” cầm gạch tấn công, khi biết mình bị theo dõi
 
Căn nhà 12/21 đường 16, khu phố 3, là địa điểm các sư trong xóm giả sư tập trung vào mỗi đêm để so tiền, đánh bài và nhậu nhẹt sau một ngày làm việc. Căn nhà này là của ông Nghĩa cũng hành nghề giả sư. Ngôi nhà được ông Nghĩa mướn lại của một người dân cách đây 10 năm, là nơi sinh sống của vợ cùng hai đứa con ông cho tới nay. Ông Nghĩa được mệnh danh là người ăn nên làm ra với nghề giả sư. Theo lời nhiều người dân sinh sống tại đây thì hiện tại ông Nghĩa đã mua được đất và chuẩn bị cất nhà tại Bình Dương.
Chúng tôi trong vai những người làm công quả từ quận 5 xuống kêu người lên làm việc cho nhà chùa có trả lương, chỗ ăn, chỗ ở đều miễn phí. Chị T. người bán quán nước đầu đường số 2 nói: "Ở đây nhiều “sư” lắm, nhưng đều là sư giả để đi lừa tiền không à, em mà kêu họ về coi chừng họ khiêng cả nhà chùa đi đó".
 
image
Khuôn mặt hoảng hốt của sư khi bị công an sờ gáy
Khi phát hiện chúng tôi đang theo dõi và chụp ảnh hoạt động của các sư, người phụ nữ mặc bộ đồ màu xám, mặt hung hăng vừa chửi bằng những lời lẽ vô văn hóa vừa lăm le trên tay viên gạch để tấn công. Lối sống giang hồ, ăn nói thô tục khiến người dân nơi gọi "các thầy" là “dân bảy búa”. Mới nghe hỏi về các “sư”, chị L. can ngăn: "Nhắc làm gì với những người này, coi chừng họ mang gạch, và những thứ bẩn thỉu quăng vô trong nhà lúc đêm khuya đó".
Vợ chồng ông Huề, bà Lan là những người nghiện đánh đề số một tại “xóm sư giả” này. Để có tiền chơi đề, hằng ngày cứ tờ mờ sáng hai vợ chồng dắt nhau đi khất thực xin tiền, được bao nhiêu về đốt hết vô những con đề may rủi. Chị K., hàng xóm ông Huề, nói: “Vợ chồng ổng có làm gì đâu, cứ đi xin tiền về đánh đề. Bà Lan thì mất rồi, còn ông Huề, nhưng ổng đang mắc bệnh HIV đó".
Cánh xe ôm, người bán nước tại khu phố 3 ai cũng biết đến danh Hùng (tức Hùng Đại Dương) một tay đánh bạc nổi tiếng tại đây. Sẵn có máu cờ bạc trong người, nhưng lười lao động, Hùng làm mọi cách để có tiền phục vụ các ván bài đỏ đen của mình, từ vay mượn cho đến giả làm sư đi khất thực xin tiền.
“Sư” giả hoành hành, xấu mặt sư thật
Chúng tôi theo chân công an phường Hiệp Chánh, quận Thủ Đức, TP.HCM bất ngờ kiểm tra và đưa về trụ sở làm việc hai đối tượng bị tình nghi là sư giả đang chờ xe buýt dưới chân cầu Bình Triệu. Khi vừa được yêu cầu về phường làm việc, các “sư” đều xưng là “sư cô” đi lên chùa làm công đức nên đi sớm.
Kiểm tra túi xách, phát hiện bộ quần áo cà sa, bát, điện thoại di động sang trọng và ví tiền đầy căng. Qua đấu tranh, hai đối tượng khai nhận tên là Tô Thị Nhân, SN 1963, ngụ tại thôn 2, xã Quảng Thái, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa và Lưu Thị An, SN 1941, tạm trú tại 21B đường Kha Vạn Cân, Khu Phố 1, phường Hiệp Bình Chánh. Cả hai đều khai nhận hành nghề giả sư đi khất thực xin tiền.
 
image
Sư giả bị bắt lúc tờ mờ sáng
 
Thiếu tá Huỳnh Văn Dư – Trưởng Công an phường Hiệp Bình Chánh, quận Thủ Đức nói: "Từ khi phát hiện nạn giả sư đang tồn tại trên địa bàn phường, chúng tôi đã ra quân xử lý để răn đe bằng các hình thức cảnh cáo đem ra kiểm điểm trước dân, tịch thu đồ nghề. Năm 2008 qua báo chí phản ánh chúng tôi đã phát hiện và đưa về trụ sở làm việc đối với 4 đối tượng giả sư trên địa bàn. Tuy nhiên cho đến nay, một số đối tượng vẫn còn lén lút hành nghề với hình thức ngày một tinh vi, cho nên rất khó để nhận biết.
Phần lớn những đối tượng này tạm trú ở phường và có giấy tờ hợp pháp. Tuy nhiên các đối tượng lại đi khất thực ở địa bàn khác nên việc phát hiện và xử lý là rất khó. Đối với những trường hợp này phải bắt tận tay mới có cơ sở xử phạt, do đó rất cần sự hợp tác thông tin từ phía người dân, cơ quan báo về hành tung hoạt động của sư giả. Người dân cần nâng cáo cảnh giác với nạn giả sư, không cho tiền, mua nhang từ thiện với những đối tượng này. Khi phát hiện sư giả đi khất thực trên địa bàn thành phố, người dân cần báo cho cơ quan công an nơi gần nhất để có biện pháp xử lý.”
 
image
Đồ nghề của sư giả
 
Hòa thượng Thích Thiện Tánh, Phó Ban Trị sự Thành hội Phật giáo TP.HCM cho biết thêm: “Hội phật giáo TP.HCM cực kỳ phản đối nạn giả sư đi khất thực làm ảnh hưởng đến uy tín của nhà chùa cũng như hội phật giáo. Hội cũng đề ra những biện pháp để hạn chế nạn giả sư đang hoạt động mạnh trở lại: Nói cho người phật tử biết đâu là sư thật và đâu là sư giả.
Phật tử muốn làm từ thiện thì nên tới chùa, hoặc tham gia quyên góp vào các tổ chức từ thiện, các chương trình vì người nghèo…. Tuyệt đối không cho tiền những người khất thực ngoài đường, làm như vậy là tạo cơ hội cho những kẻ lười lao động mượn danh nghĩa nhà chùa đi làm những chuyện trái với đạo lý nhà chùa. Hội giao cho 24 ban đại diện có trách nhiệm, nếu phát hiện những người mặc đồ tu hành đi khất thực trên đường thì báo cho công an nơi gần nhất xử lý”.
Web Một Thời Phan Châu Trinh Ðà Nẵng
Bốn kẻ giả nhà sư đi xin tiền bị bắt
image
Bà Ánh bị công an bắt giữ khi đang giả sư. Trong chiếc thau nhôm quấn vải vàng của bà này chứa gần 800.000 đồng.
Đầu cạo trọc, tay bưng bình bát rồi khoác áo cà sa lên người, bốn người ở nhiều địa phương cùng nhau đến Cà Mau giả sư đi xin tiền khắp các chợ.
Ngày 4/8/2011, Công an tỉnh Cà Mau đã bắt giữ 4 nghi can giả nhà sư đi khất thực ở các chợ trên địa bàn TP Cà Mau.
Tại chợ phường 7, bà Trần Thị Hồng (48 tuổi ngụ quận Thủ Đức, TP HCM) bị lực lượng chức năng "hỏi thăm" khi trên tay đang cầm bình bát chứa gần 400.000 đồng được những người hảo tâm cho trong khoảng 3 tiếng “khất thực” quanh chợ.
Với giọng nói hiền lành, mang túi nải, đầu cạo trọc, khoác lên người chiếc áo nhà sư, sáng cùng ngày, đồng bọn của Hồng là bà Trần Thị Ánh (66 tuổi) cũng bị bắt tại chợ phường 8 với gần 800.000 đồng trong thau nhôm quấn vải vàng. Vài ngày trước, nghi phạm này được Công an thị trấn Sông Đốc (Trần Văn Thời, Cà Mau) thả ra sau khi tạm giữ trên 700.000 đồng cùng bộ đồ nghề giả sư.
Đến trưa cùng ngày hai đồng phạm khác trong nhóm sư giả là Hoàng Thị Tiết (68 tuổi) và Nguyễn Ngọc Hiếu (27 tuổi, cùng ngụ huyện Châu Phú, An Giang) cũng bị nhà chức trách bắt giữ khi đang chuẩn bị tẩu thoát khỏi chợ phường 2, TP Cà Mau. Khám xét hai người này, công an tạm giữ trên 2 triệu đồng.
Làm việc với công an sở tại, bước đầu 4 nghi can này khẳng định là nhà sư thật. Tuy nhiên, đến chiều 4/8/2011, tất cả thú nhận đã cạo đầu giả sư để lừa gạt dân lành.
Hiện Công an Cà Mau đang tiến hành thẩm vấn, cũng cố hồ sơ để xử lý nghiêm nhóm sư giả về hành vi lừa đảo.
http://baomai.blogspot.com/

Phố xưa


Phố xưa


Ngộ Không Phí Ngọc Hùng
 


      
Ghé thị trấn ven sông, ven biển với giấy một túi, bút một túi, ngày nào gã cũng tạt vào quán Phố xưa ngồi một chỗ quen thuộc gậm nhấm nỗi sầu viễn xứ nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhân sầu. Mấy hôm nay có chuyện không đâu để thành chuyện là ở một thành phố nhỏ như mắt muỗi này, thảng như sẩy ra chuyện gì nhỏ nhặt, chỉ một lát sau thượng Chùa Cầu, hạ Ông Bôn nơi hai đầu của thị xã đều biết. Như mới đây có một bà đi chợ rêu rao: “Có dị nhân xuất hiện dưới mé sông”. Thế là mọi người kháo nhau xuống bến bãi mé nước để xem.
      Chuyện là trong cái khoảng thời gian trống rỗng cùng những ngày tháng phiêu lãng quên mình lãng du, trên đường tới quán gã đều gặp gỡ “dị nhân”. Gã không biết ông ta là người xứ Ả Rập nào đấy lạc vào phố thị, thấy mọi người xúm quanh ông, gã cũng len chân vào nhòm chừng. Ông ta râu ria xồm xoam, mặc bộ quần áo vàng nhầu nát, người ta mời ông ăn cơm với cá, thịt, ông lắc đầu. Ông ta chỉ đòi ăn bánh mì với củ cải trắng và…uống bia. Ông ta không nói được tiếng Việt, lại thêm cái khoản ăn uống không giống ai, người ta đồn nhau đến xem chẳng có gì là lạ.

     ***
     Trong cái khỏang trống vắng ấy, gã thả rong qua những con ngõ sâu hun hút với những viên đá xanh nằm rời rạc trên mặt đường hoang phế. Riêng hôm nay, tới quán hơi sớm hơn mọi ngày…Và cũng như mọi ngày, gã len lỏi qua mấy cái chum, cái vại của lò gốm Thổ Hà bầy ở trên sàn quán xá. Gã mò mẫm tới cái kệ trưng bộ đồ sứ Hizen, đồ gốm Seito của Nhật mô phỏng theo đồ gốm Chu Đậu. Thêm dăm đồng tiền Nhật đóng khung treo trên tường thuộc niên đại XVII, trùng với thời kỳ phát triển khu phố Nhật trước đây. Ngay bên cạnh là bức tranh Nhìn xuống Phố Cổ của Akimi Ishimoto với những mái âm dương chồng lên nhau. Những bức tường dọc theo con phố ngắn nhưng trông dài hun hút qua một mầu xám u tịch, mầu nâu phẳng lặng đủ để diễn tả những nét thăng trầm của một thành phố có chiều dài cả trăm năm lịch sử qua bao lớp sóng phế hưng và cũng chỉ riêng cái tên, tự nó đã nói lên tất cả: Phố Cổ.
      Quán vắng, lữ khách bên đường, gã ngồi giữa lòng phố cổ Hội An, trở về phố xưa cùng những âm hưởng mang mang vọng về với một phố thị có chùa Cầu khuất nẻo, nằm ngay trên bờ sông Hoài nhạt nhoà theo năm tháng. Sông Hoài cứ mãi mãi tĩnh mịch nỗi hoài xưa, nối vào dòng sông Thu Bồn mênh mông như muốn kể lại câu chuyện mấy trăm năm của biển cả…
       Để rồi gã lãng đãng phiêu bồng có buổi ta mơ về phố cũ, nghe khúc cầm ca bỗng hổ ngươi, thà cứ theo dòng trôi miết miết, biết một đời sông mấy lở bồi. (thơ Tô Thùy Yên)

      ***
      Gã ngồi giữa phố vắng đìu hiu, thả hồn đi hoang tìm về những nẻo đường xưa lối cũ của một thành phố đang ẩn khuất trong gã. Đường mưa ướt đất, gã như dòng sông kia, muốn kể lại câu chuyện tự trăm năm của Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Với thiên cổ chi mê, gã đang muốn dị mộng hoài thư với cổ sử qua sử thi tam sao thất bản và gã đặt bút xuống trang trải trên giấy thô mực đọng trong một ngày ít nắng nhiều mây…
      “…Lê Đại Hành, Lý Thánh Tông, Trần Anh Tông mở mang bờ cõi xuống đất Chiêm Thành phương nam. Thời gian này Chế Bồng Nga đem quân sang đánh phá Đại Việt vào năm 1371. Lê Thánh Tông xuống đến Quảng Ngải. Nhà Trần bị nhà Hồ chiếm ngôi, Hồ Hán Thương đem quân xuống tới Quảng Nam (1)…”.

       Gã đang lẵng nhẵng với tưởng tượng ta về nơi bản Trạch, áo phơi xanh phới nhánh đào hồng, mùa xuân bay múa bên trời biếc, ta búng văng tàn thuốc xuống sông (thơ Tô Thùy Yên) thì không hiểu mắc chứng gì khựng lại. Gã…búng văng tàn thuốc xuống dòng sông Hoài và nghĩ…hoài không ra và ngồi cắn bút ngó lơ. Gã ngó bên bức tranh Nhìn xuống Phố Cổ có bài thơ viết qua nét
thanh thoát của thư pháp:
       Có buổi ta ngồi trong quán vắng
Tưởng níu thời gian để đợi ai
Thảng hoặc đôi ba người khách lạ
Như nhắc thầm ta nỗi lẻ loi
       (Khuyết danh)
                                                                    
       Nhìn quanh quất: Quán vắng bên sông, chẳng có người khách nào ngoài cái ghế đơn độc trước mặt. Gã lúi húi với phố thị vào thưở ban sơ cả mấy trăm năm trước:
      “…Hội An với những trầm uất của lịch sử, hoang vắng để rồi phồn thịnh theo năm tháng như những lớp thủy triều. Khởi đi từ thế kỷ thứ 5 của người Chàm cổ, những thuyền buôn của người Ba Tư đã ghé đây để tránh bão, định phương hướng để ngược lên hướng bắc Trung Hoa. Người Chàm đã đào những giếng nước ngọt để trao đổi hàng hóa với nhóm thương thuyền này. Nay những giếng nước bờ gạch hình “vuông”, với đồ gốm như vại, bình và gươm cong, kiếm ngắn, tiền cổ của người Ả Rập được tìm thấy dọc theo con sông Thu Bồn. Gần đây, trong sử liệu của người Ba Tư có viết dăm ba dòng về bến thuyền với cái tên Địa Trung Hải Phương Đông
       Đời nhà Nguyên thế kỷ 13, ông Châu Đạt Quang với 30 năm ngược xuôi trên biển cả và để lại tập Chiêm Thành Phong Thổ Ký, cẩm nang hải hành cho những người đi sau. Cũng chẳng bao lâu đến đời nhà Minh với “Con đường gốm sứ và tơ lụa trên biến” cùng 7 chuyến đi về của Trịnh Hòa qua tận Mecca đông Châu Phi. Trên đường đi họ ghé nước ta, để tránh sự nhòm ngó người quan ngoại, nhà Lý tập họp họ ở một nơi nhất định được gọi là “Bạch Địch Trường”, đó là bến Vân Đồn ở vịnh Hạ Long.
      Tiếp đến là nhà Lê, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài lập ra Phố Hiến, thương thuyền của người Bồ Đào Nha đã có mặt từ trước, sau kéo theo người Hòa Lan từ thuộc địa Nam Dương lên. Theo Lịch Sử Vương Quốc Đàng Ngoài của Alexandre de Rhoded, vua Lê Thần Tông có bà thứ phi hàng thứ sáu là người Hòa Lan. Tượng bà nay vẫn được còn thờ ở chùa Mật Sơn, Thanh Hóa. Vì thế nên người Hòa Lan có nhiều đặc quyền hơn người Bồ Đào Nha, ngoài ở phố Hiến còn được được độc quyền buôn bán cùng với người Hoa ở phường Giang Khẩu (Hàng Buồm) bên sông Tô tại Thăng Long.
     Riêng ở Đàng Trong, đoàn thương thuyền của Trịnh Hòa ghé cù lao Chàm và tìm ra Hội An. Ngày nay ở bãi Hương cù lao Chàm có miếu cổ tên Thái Giám thờ thái giám Trịnh Hòa vẫn còn đấy. Nhưng theo ông Yomeiganu qua An Nam Cung Dịch Ký Sự thì có thể vì bà thứ phi của vua Lê (?) khác là người Nhật. Vì thế người Nhật đến đây lập nghiệp sớm nhất, khoảng năm 1560 và họ có nhiều đặc ân và quyền lợi hơn người Hoa ở Hội An…”

      ***
      Đột nhiên gã giật mình thấy “dị nhân” ngoài phố chợ lù lù đứng ngay cạnh bàn lúc nào không hay. Gã buông bút và ngẩng đầu lên ngơ ngác nhìn ông Ả Rập như gặp lại “người về tự trăm năm”. Ông bạn Ả Rập râu xồm lẳng lạng ngồi xuống cái ghế ngay trước mặt gã, bình thản nhồi thuốc vào ống vố. Xong, ông nhòm đăm đăm bài thơ viết chữ thư pháp sau lưng gã và bâng quơ:  
      - Tiên sinh không lẻ loi vì bản chức là người…khách lạ đây.
      Gã muốn nhẩy nhổm lên khi nghe “người khách lạ” này đọc và nói tiếng Việt mới quái. Gã chưa kịp há mồm hỏi han, làm như quen biết nhau tự thưở tám kiếp nào. Ông Râu xồm thản nhiên lấy cái hộp quẹt của gã bật một cái tách nhàn nhã mồi lửa, và ngẩng đầu lên nhẹ nhàng thở ra khói... Tiếp, ông cúi đầu xuống liếc mắt ngó lơ qua khúc dẫn nhập bản thảo của gã, chỉ tay vào khúc gã vừa viết xong và ông Râu xồm từ tốn ậm ừ chao chát:
       - Xin vô phép vô tắc mạn phép thưa với tiên sinh rằng: Chế Bồng Nga sinh năm 1360, đem quân đánh phá Đại Việt năm 1371 thì năm ấy Chế Bồng Nga…bao nhiêu tuổi nhẩy? Thưa tiên sinh.

       Thêm một lần gã muốn…”nhẩy” dựng đứng lên vì “dị nhân” nói giọng Bắc kỳ đặc, lại nho phong sĩ khí gọi gã là…“tiên sinh”. Lại còn chỉ trỏ cho gã thấy những “khuyết sử” cần phải “cẩn án” nữa mới đau cái đầu. Gã đang lắp bắp định biện giải là bấy lâu nay gã lạc vào mê hồn trận với những sử gia, sử quan, chẳng khác gì khói lửa kinh thành, nhất tướng công thành vạn cốt khô, cùng mỗi người mỗi niên đại, niên hiệu khác nhau. Hết cuộc binh đao, nỗi buồn chạm mặt là gặp mấy nhà học giả, hành giả cùng địa danh bắc giáp địa dư, tây giáp địa chí mù mịt như bát quái trận đồ. Gã chưa kịp biện bạch thì ông Ả Rập lẳng lặng tiếp:
      - Tiên sinh dậy Thái giám Trịnh Hòa tìm ra Hội An theo bản chức nhẽ ra chẳng hẳn là như vậy. Vì theo như hải hành ký của Mã Huân thì đoàn Đại Bảo thuyền này chỉ ghé đế đô Cri Bannoy (2) của Chiêm Thành vào năm 1451. Trong hải ký Mã Huân ghi “Đồ Bàn có rất nhiều thổ sản và mít lớn trái rất ngon ngọt…”. Theo tư liệu riêng bản chức hay biết thì đám buôn lậu ven biển người Trung Hoa theo chân đoàn thuyền của Trịnh Hòa và họ ghé Bát Tràng, Chu Đậu để mua đồ gốm. Lại nữa họ dựa vào ông Châu Đạt Quang với tập “Chiêm Thành Phong Thổ Ký” nên chính đám buôn lậu trên tìm ra Hội An, là thuyền buôn nhỏ họ không dám đi xa nên ngừng chân ở Đồ Bàn. Trong hải hành ký có ghi “Chuyện ngạc nhiên là khi thủy thủ nhìn thấy người Hoa buôn bán ở vùng đất Chàm này”. Vào năm 1997 mới đây, người quý quốc hợp tác với người Nhật trục vớt một thuyền đắm ở cù lao Chàm và phát hiện 240.000 đồ gốm Bát Tràng, Chu Đậu ở niên đại thế kỷ thứ 15 đã minh chứng điều ấy, thưa tiên sinh.
      Ngay cả thương thuyền Hòa Lan bị đắm thuyền ở cù lao Chàm vào năm 1633 và được người Chàm ra tiếp tế nước, người Hòa Lan mới biết đến Hội An và mở thương điếm ở đấy. Riêng với cù lao Chàm, xin tiên sinh hiệu đính là năm 1804, đặc sứ người Anh Sir Robert Macarthay thương thuyết với Vua Gia Long để thuê cù lao Chàm làm trạm ngừng chân trước khi đến Quảng Châu và các nước lân cận nhưng thất bại. Sau Sir John Crawfurd tiếp xúc với vua Minh Mạng cũng không thành. Đến khi chiến tranh nha phiến, qua hiệp ước Nam Kinh, người Anh thuê được Hồng Kông thay vì cù lao Chàm của quý quốc.

       Gã đang tối tăm mắt mũi lại với “Sir” này, “Sir” kia thì ông Ả Rập râu xòm tự giới thiệu:
       - Bản chức là…John Barrow.
       Và không nói nữa. Thêm một phen gã bị chao đảo, hóa ra ông râu xồm này chẳng phải là người Ả Rập. Nghe đến cái tên “John” gã bụng bảo dạ “ông Tây” này ắt hẳn là người Ăng-lê chi đây nên gã cứ đờ ra và ngọng trông thấy. Làm gã không có mặt ở đấy, ông Tây lại ghé mắt…xuôi dòng sử Việt theo gã:
      “…Nhà Minh bãi bỏ bế quan tỏa cảng, nên các thương thuyền Trung Hoa tấp nập đi lại theo ven biển nước ta. Dựa theo gió bắc vào mùa xuân, họ đến bằng thuyền buồm, trao đổi hàng hóa và đợi đến gió nam vào mùa hạ, họ dương buồm trở về. Nhưng cũng có một số thương hồ ở lại lập gia đình với người bản địa, họ hành nghề địa lý và đông y. Qua các văn bia ở đền chùa, gia phả của bộ tộc, sổ địa bộ từ thời Tây Sơn, Gia Long và các triều vua kế tiếp, người Triết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông, Triều Châu, Hải Nam lập nghiệp ở Phú Xuân và Thăng Bình. Họ là những người Tàu đầu tiên đến nước ta bằng đường biển vào thời chúa Tiên. Vì vậy làng Minh Hương thứ nhất ở Phú Xuân đã có tên trên bản đồ nhà Nguyễn vào năm 1602.
      Khởi thủy từ Chúa Nguyễn Hòang vào Thuận Hóa, nhà chúa dùng cửa Việt để thông thương với người nước ngoài. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên thấy cửa Việt gần Phú  Xuân, sợ ảnh hưởng đến sinh họat triều chính, nên tìm một “bạch định trường” khác sâu xuống phía nam một chút, nhưng không xa quá tầm tay nhà chúa. Sau Chúa Nguyễn Phúc Lan cho người Tàu nhập quốc tịch Đại Việt và đưa mười gia đình của sáu họ Ngụy, Ngô, Hứa, Ngũ, Thiệu và Hoàng từ Phú Xuân, Thăng Bình về cuối sông Thu Bồn đầu cửa biển. Họ dựng làng Minh Hương thứ hai ở đây.
      Quan lại nhà Minh chống nhà Thanh bị thất bại, họ sang nước ta tị nạn. Chúa Hiền Vương cho một số đến cửa sông Thu Bồn nhập vào làng Minh Hương thứ hai. Số còn lại vào Nam lập hương xã Minh Hương thứ ba Cù Lao Phố (3).

      Bỗng khi không ông Tây hỏi gã khơi khơi, cứ như đùa vậy:
      - Bản chức xin mạo muội hỏi tôn ý tiên sinh rằng cớ sự gì người quý quốc gọi người Hoa khi là “Minh Hương”, lúc là “khách trú”, nọ là “người Tàu”, thưa tiên sinh.
     Gã đang óc ách, ông Tây đã sần sùi với gã:
     - Theo thiển ý bản chức thì hai chữ Minh Hương với “hương” ban đầu là “nhà thờ cúng” vọng tộc nhà Minh. Sau có nghĩa là “xã” tức xã người Minh Hương. Còn “khách trú” là tiếng gọi Đàng Ngoài có từ thời chúa Trịnh khi người Hoa lập ra Phố Khách (4) đầu tiên ở Phố Hiến. Còn “người Tàu”, theo ngu ý bản chức thì qua sách “Hành Trình và Truyền Giáo Ký Sự” của Alexandre de Rhodes viết: “Ở Hội An có người Tàu, Tây…”. Người Tàu (5), có tên gọi từ đấy có thể là đi bằng “thuyền” xuống mà Alexandre de Rhodes kêu là…”tàu”. Còn “Tây” đây là người Tây Ban Nha…”.

     Thấy ông Tây dài dòng quá thể, gã nhướng mắt nhìn kỹ hơn. Ông đeo kính trắng tròn vo nên trông có vẻ hóm hỉnh. Ông đội nón cối thuộc địa bọc vải có cái núm ở trên đỉnh nón, vai đeo cái túi dết, tay cầm cây “ba-toong”. Quần áo không nhầu nát như gã đã gặp, mà ông mặc bộ quần áo ka-ki mầu vàng có bốn túi, có cầu vai như đi săn ở rừng rậm Phi Châu. Gã đang trơ mắt ếch, ông Tây cười khủng khỉnh:
      - Bản chức là người Hòa Lan lai Bắc kỳ. Mẹ bản chức người Kẻ Chợ. Bản chức sinh ra ở Thăng Long. Vì cha đại diện cho công ty Ấn Độ ở Hòa Lan ở Phố Hiến nên lớn lên bản chức nối nghiệp cha, là làm cho công ty Ấn của Anh, rồi nhập tịch Anh.
      Xong, ông nheo mắt…dùi mài kinh sử tiếp theo gã:
      “…Theo nhật ký hải hành, tầu buôn Groll của Karl Hartsink người Hòa Lan có mặt ở Phố Hiến dựng lên thương điếm. Thương điếm dựng lên như thành lính, có hào bao quanh với lính bảo vệ ngay sát bến thuyền. Chúa Trịnh quy định những người Hoa tới đây làm ăn phải tập trung thương khách tại nơi “khách trú(4) là Lai Triều, cấm không cho lai vãng đến Thăng Long. Cùng lúc, người Hòa Lan đưa một số thương buôn từ Anh, Pháp và Nhật tới trong thời kỳ này. Từ Lai Triều đời nhà Lý được đổi tên thành Hiến Nam, năm 1717, Chúa Trịnh Cương đặt tên là Phố Hiến. Năm 1831, Vua Minh Mạng 12 đổi tên là Hưng Yên…”.
       
      Ông thưởng lãm đến đoạn…người Hòa Lan có mặt ở Phố Hiến dựng lên thương điếm, gật gù ra vẻ tâm đắc lắm, ông ngửa cổ lên trần nhà thở một hơi khói dài. Tiếp, ông móc trong cái túi dết bằng vải “ka-ki” mầu cứt ngựa một cuốn sách đã ố vàng có cái tựa đề A Voyage to Cochinchina in the year 1792 and 1793 in từ London và gã ngây người ra vì tác giả là… John Barrow. Ông đưa cho gã xem đoạn chuyến tầu của người Hòa Lan ghé Phố Hiến, gã nhìn bức tranh minh họa bằng mầu vẽ năm 1793 và lướt qua phần ghi chú phía dưới: Một người lính ở Cochinchina”: Người lính đội nón chóp, mặc áo dài đen viền ngắn tới đầu gối, chân bó xà-cạp vải. Cạnh chân người lính là cái bu gà, một tay cầm giáo, một tay cầm một bức tượng Phật…hay Fo (?).

      Gã thầm hỏi “Fo” là gì? Vì “Phô” là một từ địa phương có nhiều ở Hội An. Như nhà từ đường dòng họ Nguyễn Tường Tam là đình “Cẩm Phô” ở ngã ba Khổng Miếu. Nhưng gã chẳng dại hỏi vì sợ…lạc đường vào lịch sử. Thế nên gã lẳng lặng viết tiếp:
       “…Từ thời chúa Nguyễn, trước là vì nhu cầu gỗ củi và nước ngọt cho Đàng Trong nên lấy Trà Nhiêu thuộc Quảng Nam làm bến củi. Với chiến tranh Nam Bắc, vì nhu cầu súng ống, ống nhòm của người Âu Châu và nhất là gươm kiếm, giáo mác với thép tốt của người Nhật. Chúa Nguyễn Hoàng và Nguyễn Phúc Nguyên từ năm 1558 đến năm 1635 đã trao đổi hơn 30 văn bản với tướng quân Tokugawa Leyasu về giao thương. Năm 1602 ở trên, nhà chúa chọn cửa sông Thu Bồn mà trên bản đồ nhà Nguyễn gọi là cửa Đại Chiêm làm thì điểm cho tầu buôn của họ cập bến (Vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân và đặt tên là Đại Chiêm). Theo thư tịch cổ của người Bồ Đào Nha thì thời kỳ này họ gọi cửa Đại Chiêm là Cacciam…”.

      Lâu nay gã ngỡ bến bãi nào của người mình chẳng hiu hắt giống nhau. Thấy ông này trên thông thiên văn dưới thuộc lòng địa lý quá lắm nên gã đành bấm bụng hỏi rằng người Việt ta đến đây từ thưở tám kiếp nào. Như đợi dịp này từ…kiếp trước, ông rút tờ giấy trong túi dết đưa cho gã. Gã lóng chóng rị mọ:
     “Người An Nam dọc theo bờ biển từ Hải Phòng xuống Quảng Nam có hàng chục làng Cổ Trai, có tên mà không có đất, những làng này lênh đênh trên thuyền, trên sông biển, khi tan khi hợp. Tên chữ là “Kẻ Chài”, chữ Hán gọi là Cổ Trai. Từ những làng có tên chung là Cổ Trai, họ theo thuyền người Hoa vào sâu đất liền của người Chàm, dọc theo bến sông từ cực nam đến cực bắc, họ mua năm sào đất lập đền Quan Thánh, thờ hai vị quan nhà Minh. Họ mua một mẫu hai sào lập Tổ Đình. Họ lập làng xã theo khuôn mẫu của người Hoa, mỗi ranh giới thôn, ấp dựng chùa, đền để làm mốc, chạy dài xuống cửa biển và lập lên làng Cổ Trai. Từ làng Cổ Trai trên đất liền họ phát triển dần dần theo thời gian để thành “phố An Nam”, gần “phố Nhật”, “phố người Hoa”.

      Có tư liệu “chính sử” phố Nhật, gã tầm chương trích cú thêm:
      “…Thương gia Nhật từ Nagasaki tới Hội An gồm các đại tộc Chaya Shiroku, Yashishiro, Sotaro họ làm ăn phồn thịnh nên được nhiều chức phẩm. Giống người Pháp làm quan cho nhà Nguyễn thời ấy. Sau thêm người Nhật làm “thị trưởng” Hội An là Simonosera, là chủ nhân con tầu Furamoto. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên nhận một người Nhật tên Di Thất Lang làm con nuôi. Đồng thời nhiều người Việt lập gia đình với những người Nhật trên như bà Ngụy Cửu Sửu, Võ Thị Nghị và theo họ vê nước.
      Thêm Hòang thân Nhật Araki Shutaro với 9 thương thuyền đến cửa Đại Chiêm mà họ gọi là Đông Phố. Ông mang theo quà của vua Nhật gửi tặng nhà Chúa như gươm dài và dao lớn. Chúa Nguyễn Phúc Nguyên phong ông tước hầu, đổi tên là Nguyễn Toro, hiệu Hiển Hùng và gả trưởng nữ là quận chúa Ngọc Liên cho Araki Shutaro để giữ giao hảo với Thiên Hòang đương thời...”

     Khi không gã ngồi cắn bút và chợt u hoài về quận chúa với ông hoàng thân Nhật. Bà theo ông về Trường Kỳ, sau ông Araki Shutaro một mình trở lại phát triển thương điếm và mất ở đây. Quận chúa Ngọc Liên mang tên Nhật là Anio và rất được người Nhật mến mộ. Khi mất, quận chúa được thờ cúng trong đền Daiongi. Đất khách quê người, bà cũng lặng lẽ nằm xuống để rồi hai mộ chí, một nằm đơn độc bên này bãi vắng, một u tịch bên kia biển đông. Một người cố quận Hội An, cảm hòai xa vắng về quê ta xa mãi bên kia biển và có câu thơ: Hiên chùa cỏ mộ ban sơ, vọng âm vô lượng chia bờ cõi em, con đường “Phải Phố” Hội An, ta ra biển ngóng ngày tang bồng về.
      Với “Ngày tang bồng về…”, gã định mượn bốn câu này thay cho phần kết. Nhưng vẫn thấy có gì trống vắng và lạc lõng, vì qua chuyện gả bán với đất đai. Bấy lâu nay tha nhân chỉ hòai cảm đến Công chúa Huyền Trân cùng cuộc tình với tướng quân họ Trần. Và hững hờ quên đi chuyện củi lửa sài giang, sài thị của quận chúa Ngọc Khoa ở Đại Chiêm, quận chúa Ngọc Vạn  tại Mỏ Xòai.
      Nhưng là chuyện sau, vì gã vật vã những gì đang dở dang:
     “…Chẳng bao lâu sau, Nhật bế quan tỏa cảng, đạo thiên chúa bị Mạc phủ Tokugawa ngược đãi, nên họ kéo về đây càng ngày càng nhiều. Bà thứ phi của chúa Tiên là người đầu tiên trong dòng họ Nguyễn theo đạo Ki-tô. Vì vậy, chúa Sãi đặc ân cho những thừa sai công giáo người Nhật được lánh nạn ở đây. Họ lập Dòng Tên rất lớn, là nơi gặp gỡ của các tu sĩ công giáo người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp trước khi vào Phú Xuân gặp nhà Chúa. Họ kéo thêm thuyền buôn của người Nam Dương, Anh, Ý và ngay cả Hoa Kỳ, có lúc lên tới 6.000 người. Sách Đại Nam Thực Lục Tân Biên viết: Bấy giờ nhà Chúa trấn trên 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm minh, nhân dân đều an cư lạc nghiệp, chợ không hoi giá, không trộm cướp. Thuyền buôn nước ngoài đến nhiều. Trấn Hội An trở nên đô hội lớn….”

      Gã mồi điếu thuốc và cân, đo, đong, đếm:
       “…Hội An buôn bán tấp nập với thổ sản cau khô, quế, hồ tiêu, yến sào cù lao Chàm, các loại tơ sống, lụa. Ngươi Nhật thường mua nhựa chương não, xạ hương. Người Bồ Đào Nha mua hắc đàn, trầm hương. Người Hòa Lan mua tơ lụa, vàng. Người Trung Hoa mua kỳ nam, ngà voi và…thuốc phiện.
       Giáo sĩ Christojoro cư trú ở Hội An và mô tả thành phố này như sau: “Thành phố rộng rãi, nên có thể nhận ra hai khu vực, một ở phía tây người Tàu lập phố đầu tiên đặt tên là phố Đường (6) được gọi phố Trung Hoa. Khu vực phía đông được gọi là phố Nhật Bản với bốn phố là Mania, Phnonpenh, Ayuthya, …(?).

      Nhà Thanh chiếm Trung Hoa vào thời chúa Nguyễn Phúc Lan, công thần nhà Minh kéo về vùng này càng ngày càng đông, trong đó có “Tam Công” là Tầy Quốc Công, Ngô Đình Công, Trương Hoành Công mua mười bốn mẫu rưỡi đất ở giữa Cấm Phô và Thanh Hà, dựng Cấm Hà Cung. Người Nhật mua 20 mẫu ruộng của làng Hoài Phô và An Mỹ lập nên khoảng 60 căn nhà với 300 Nhật kiều gọi là “Tùng Bản Dinh” (7). Theo thời gian, hai khu phố Hoa, Nhật trở thành Hội An, Hội từ chữ tụ hội, An ở chữ an bình. Nhưng không an bình được lâu, Hội An có những bước thăng trầm qua cuộc chiến với gió thổi chiều nào theo chiều ấy, có lúc Hội An ngả về phía nhà Tây Sơn, có khi nghiêng về phía nhà Nguyễn và sau bị nhà Tây Sơn tàn phá.
       Ngay chính với cái tên cũng lên xuống như nước thủy triều, lúc đầu có tên là Lâm Ấp Phố. Dựa theo bản đồ của Alexandre de Rhodes, ghi chú là Hai Phố. Người Hoa phát âm là “Hải Phố”. Thêm giai thoại có ông Tây tới phố Hội An hỏi: Faifo? Nghĩa phải phố không? (8). Gần đây qua chữ nghĩa trên văn đàn còn có những tên tình tự như Hoài Phố, Phố Hoài, Hội Phố…”

      Đọc đến đây, ông John Barrow  nhấm nhẳng:
      - Chẳng dám võ đoán chứ tiên sinh bộc bạch cứ như…thật vậy. Cứ theo sách “Hành Trình và Truyền Giáo Ký Sự” của Alexandre de Rhodes có viết: Thành phố đang phát triển này người Nhật gọi là Faifo. Rõ ra Faifo là tiếng Nhật là Đông Phố, hiểu theo nghĩa thành phố ở hướng đông, thưa tiên sinh.
       Gã nhủ thầm: Ông này đúng là rỗi hơi, mà chắc gi tư liệu của ông đã…”khả tín”, họ gọi sao gã viết vậy. Vậy thôi. Thấy ông là người Hòa Lan, gã bèn…”gọi” cho ông một chai bia Heinerken để gã rảnh rang…”đánh vật” với những cái tên khác:
       “…Như đã đề cập vì nhu cầu củi và nước ngọt cho thương thuyền ngọai quốc và cho chính mình. Chúa Nguyễn lập ra “chợ củi” ở Trà Nhiêu, nhưng vì nhỏ hẹp, trong khi dưới có một giải nước lớn và sâu hơn, đó chính là cửa Đại Chiêm. Từ đó, nhà Nguyễn lập chợ củi ở cửa biển này và được gọi là Sài Thị và con sông Thu Bồn là Sài Giang. Nhưng cả hai tên này chỉ tồn tại một khỏang thời gian ngắn, tuy nhiên bản đồ của nhà Nguyễn, ngay cả nhà Lê, vẫn còn tên và dấu tích của hai địa danh trên. Tiếng Hán, “sài” là một vùng tiếp tế củi và nước cho ghe thuyền.

      Trở lại chuyện Chúa Sãi gả quận chúa Ngọc Vạn cho Miên Vương Chey Chetta II. Miên vương tặng chúa Nguyễn Phúc Nguyên đất Mỏ Xòai (9) để làm quà cưới. Theo sử của người Miên quận chúa được phong là Hòang Thái Hậu, sinh một hòang tử tên Chei Chetta III. Miên vương băng hà, vì Miên triều sợ một người Miên gốc Việt lên làm vua, ít lâu sau thái tử Chey Chetta III bị ám hại trong một chuyến đi săn của hòang gia. Buồn phiền vì con mất, bà Ngọc Vạn về Mỏ Xòai xuống tóc quy y một thời gian, bà mất ở đâu, khi nào sử nhà Nguyễn không nói tới(10)”.

       Thấy ông Tây đang ma/I mê  “vật lộn” với chai bia, gã bèo dạt nổi trôi theo dòng sử Việt:
       “…Tiếp đến năm 1631, chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả quận chúa Ngọc Khoa cho Chiêm vương Po Romé (Người Chàm gọi quận chúa là Po Bia Út và tước hiệu là hoàng hậu Akaran) để đổi lấy tỉnh Phú Yên và cho mở rộng cửa Đại Chiêm. Sau này hải quân nhà Nguyễn vào đến Cù Lao Phố, họ cũng dựa theo mô hình Hội An lập chợ củi rất lớn tên Sài Thị để đáp ứng nhu cầu cho chính mình, vừa cung cấp gỗ củi cho kinh đô, việc buôn bán giao cho người Hoa để thâu thuế. Bằng vào chợ củi của hải quân nhà Nguyễn, thời kỳ hoàng kim của Cù Lao Phố là đô thị cổ xưa, một thương cảng sầm uất của phương Nam.
      
      Đột nhiên nhiên ông Tây ngoắc tay gọi hai chai Heinerken nữa. Gã chắc mẩm ông ta muốn đối ẩm với mình chi đây thì khi không ông lẳng lặng tu một chai. Còn chai kia ông buồn tình bỏ vào ….cái túi dết. Thế mới quái…
      Vẫn ung dung nhàn hạ, ông Tây chỉ gã bức tranh thứ ba tên “Một nhóm người Cochinchina” nhưng không ghi chú gì. Gã thấy một nhóm người Chàm đứng chung quanh một người đàn bà quý phái. Ngồi xa gần đấy là một ông quan người Chàm đầu quấn khăn, đeo gươm cong. Đứng cạnh người đàn bà là một ông quan An Nam cầm lọng, ngực đeo thẻ ngà, đầu đội nón chóp. Riêng bà quý phái đầu đội nón quai thao trấn Kinh Bắc, tay cầm quạt và mặc áo choàng dài ba lớp mầu sắc khác nhau. Gã định hỏi xem có phải là Hoàng hậu Akaran-Ngọc Khoa không?.

       









      Ông mải mê ực bia không trả lời, gã đành “sưu khảo” tiếp:
      “…Nói đến Hội An thì phải nói đến cầu Nhật Bản (11) là một biểu tượng của Hội An, chùa được xây khoảng năm 1617 thuộc kiểu “thượng gia hạ kiều”. Cầu rộng 3 thước, dài 18 thước, trên có mái âm dương thường vẫn thấy ở đồng quê bên Nhật, dưới có lối đi cho khách qua cầu. Trong thờ tượng Bắc Đế Trấn Võ cưỡi long câu. Hai đầu cầu có tượng hai con chó ở phía đông, hai con khỉ ở phía tây bằng gỗ đầu đội bát nhang. Theo truyền thuyết người Nhật đặt 2 linh vật ở đầu cầu để thờ “Linh phù thủy khấu” là vị thần biển phù hộ cho người đi biển tránh bị…cướp biển tức con Câu Long theo tiếng Hoa hay